4.1 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Giang 4.2 Kết quả hoạt động tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật 4.3 Tình hình chung về điều tra hộ huyện Văn Giang năm 201
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
KHƯƠNG THỊ LAN
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NÔNG DÂN
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TẠI
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
KHƯƠNG THỊ LAN
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NÔNG DÂN
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TẠI
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào
khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn Khương Thị Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và phát triển nông thôn; Ban quản
lý Đào tạo – Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ
dẫn tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Tất Thắng đã trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cá nhân trong các tổ chức kinh tế, các ban ngành, đoàn thể, Hội Nông dân các cấp tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Khương Thị Lan
Trang 5
2.1.3 Vai trò của HND đối với phát triển kinh tế hộ 13 2.1.4 Nội dung hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ 13 2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của HND đối với phát triển
2.2.1 Sơ lược tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở Việt Nam 22 2.2.2 Tình hình hoạt động của Hội Nông dân ở Việt Nam 24 2.2.3 Kinh nghiệm hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ ở
Trang 62.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho hoạt động của HND đối với phát
triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Văn Giang 31
3.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội đến hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ 43
4.1 Khái quát chung về tình hình sản xuất kinh doanh nông nghiệp,
nông dân và Hội Nông dân trên địa bàn huyện Văn Giang 50 4.1.1 Tình hình chung về sản xuất kinh doanh nông nghiệp 50 4.1.2 Tình hình chung về hộ nông dân trên địa bàn huyện Văn Giang 56 4.1.3 Tình hình chung về HND huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên 58 4.2 Thực trạng hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ tại
4.2.1 Tuyên truyền vận động nông dân phát triển kinh tế hộ 64 4.2.2 Hoạt động hỗ trợ vay vốn để phát triển kinh tế hộ 69 4.2.3 Tập huấn chuyển giao khoa học - kỹ thuật và dạy nghề nhằm
nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cho các hộ 74
Trang 74.2.4 Cung ứng dịch vụ yếu tố đầu vào và xây dựng CSHT theo
chương trình xây dựng nông thôn mới phục vụ sản xuất, tiêu thụ
4.3.1 Bối cảnh kinh tế và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước 88
4.3.5 Nội dung chất lượng hoạt động của Hội Nông dân 91 4.3.6 Hoạt động phối hợp với các tổ chức, đoàn thể 94 4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Hội Nông
dân đối với phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang 95
Trang 84.1 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Văn Giang
4.2 Kết quả hoạt động tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật
4.3 Tình hình chung về điều tra hộ huyện Văn Giang năm 2014 56 4.4 Tình hình đất đai và vốn vay của các hộ điều tra 57 4.5 Tình hình tổ chức các cấp Hội Nông dân huyện Văn Giang từ
4.6 Tình hình chung về cán bộ được điều tra năm 2014 63 4.7 Kết quả hoạt động tuyên truyền vận động của HND đối với phát
4.8 Tổng hợp đánh giá các lớp tuyên truyền của HND huyện Văn
Trang 94.12 Kết quả thực hiện xây dựng mô hình điểm phát triển kinh tế hộ
4.13 Cán bộ UBND huyện, xã và cán bộ HND đánh giá nội dung hoạt động
của HND đối với phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Văn Giang 84 4.14 Hộ dân đánh giá nội dung hoạt động của HND đối với phát triển
4.15 Trình độ cán bộ Hội Nông dân các cấp tại Hưng Yên 89 4.16 Đánh giá về kỹ năng công tác của cán bộ HND đối với phát triển
4.17 Đánh giá kết quả hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế
4.18 Đánh giá mức độ ảnh hưởng, tác động của một số yếu tố tới kết
quả hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ Văn Giang 93 4.19 Các giải pháp được đề xuất để nâng cao vai trò hoạt động của
Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang 101 4.20 Dự kiến hoạt động hỗ trợ đẩy mạnh công tác tuyên truyền gắn
với phát triển kinh tế hộ của Hội Nông dân huyện Văn Giang
4.21 Dự kiến hoạt động tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật
4.22 Tiêu chuẩn cần có của cán bộ HND qua ý kiến điều tra 112
Trang 10DANH MỤC HÌNH,HỘP SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hộp 4.1 Ý kiến của ban lãnh đạo HND huyện Văn Giang về hoạt động
liên kết giữa Hội và các tổ chức, đoàn thể trong phát triển
Hộp 4.2 Phỏng vấn hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 87 Hộp 4.3 Phỏng vấn hộ nông dân thành công trong chuyển dịch cơ cấu
Hộp 4.4 Ý kiến của cán bộ về giải pháp nâng cao trình độ cán bộ Hội 110
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên 36
Sơ đồ 4.1 Bộ máy hoạt động của HND các cấp tại Văn Giang, Hưng Yên 58
Sơ đồ 4.2 Hoạt động của HND Văn Giang đối với phát triển kinh tế hộ 61
Biểu đồ 4.1 Tình hình cung ứng phân bón trả chậm cho hộ qua HND 77 Biểu đồ 4.2 Số lượng hội viên được cung ứng phân bón trả chậm qua HND 78 Biểu đồ 4.3 Đánh giá vai trò của HND đối với phát triển kinh tế hộ 83
Trang 11TK & VV Tiết kiệm và vay vốn
Trang 121 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân tỉnh Hưng Yên lần thứ VII, VIII; Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân huyện Văn Giang lần thứ XI, XII, từ năm 2011 Hội Nông dân các cấp huyện Văn Giang đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế hộ Từ việc tuyên truyền vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; tham gia hoàn thiện các chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế hộ; phối hợp với các ngành hỗ trợ nông dân vay vốn để phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; chuyển giao tiến bộ Khoa học kỹ thuật; thành lập các Câu lạc bộ, Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp Thực hiện “Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi (SXKDG), đoàn kết giúp nhau làm giàu
và giảm nghèo bền vững” do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động Hội Nông dân Văn Giang đã tổ chức nhiều phong trào thu hút, tập hợp, vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng, từng địa phương; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản xuất, phát triển kinh tế hộ Hội Nông dân (HND) các cấp trong toàn huyện đã chủ động liên kết, phối hợp với các ngành, chính quyền, các đoàn thể địa phương, các nhà khoa học, các doanh nghiệp hỗ trợ, giúp đỡ các hộ nông dân
về giống, vốn, vật tư, máy móc, tiến bộ KHKT… nhằm phát triển kinh tế hộ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên, nông dân Có thể khẳng định rằng trong những năm vừa qua việc phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực của HND các cấp và đạt được những thành tựu quan trọng và thật đáng tự hào
Tuy nhiên, vai trò của các cấp Hội đối với phát triển kinh tế hộ còn hạn chế; việc phối hợp hoạt động giữa HND với hộ còn nhiều bất cập, đặc biệt là những vấn đề đã và đang tồn tại phát sinh, cản trở hiệu quả hoạt động phối
Trang 13hợp như: cơ chế chính sách; trình độ của cán bộ Hội; nhận thức của hội viên; đầu tư kinh phí; tiếp cận tiến bộ KHKT… rất cần quan tâm nghiên cứu Vấn đề đặt ra là phải làm rõ cơ sở lý luận hoạt động của HND? Thực trạng hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ tại địa bàn Văn Giang đã đạt được gì, vấn đề gì còn tồn tại, hạn chế cần giải quyết? Cần thực hiện giải pháp nào để nâng cao vai trò hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Văn Giang trong thời gian tới?
Để làm rõ những vấn đề trên cần có nghiên cứu toàn diện về vai trò hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng Yên Xuất phát từ những lý do đó tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá thực trạng của Hội Nông dân đối với phát triển kinh
tế hộ tại huyện Văn Giang, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ tại địa bàn trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của Hội Nông dân, chỉ ra yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ tại địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên thời gian tới
Trang 141.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động của Hội Nông dân huyện Văn Giang đối với phát triển kinh tế hộ tại địa bàn nghiên cứu
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Khảo sát thực trạng phát triển kinh tế hộ tại 3 xã (chọn điểm xã Vĩnh Khúc, xã Xuân Quan và xã Long Hưng)
* Phạm vi thời gian
Đề tài lấy số liệu thứ cấp từ năm 2011 – 2013, số liệu điều tra năm
2014 Nêu ra định hướng và giải pháp cho các năm tiếp theo
* Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
1.4 Nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ
Thực trạng hoạt động của Hội Nông dân đối với phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hoạt động của Hội Nông dân, góp phần phát triển kinh tế hộ tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Trang 15
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về phát triển kinh tế hộ
2.1.1.1 Khái niệm về phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế bao hàm ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng kinh tế - nó không chỉ bao gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm
cả những thay đổi về chất lượng cuộc sống Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu
là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn (Trần Văn
Dư, 2003)
“Phát triển kinh tế theo chiều sâu”: phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào
nguồn nhân lực chất lượng cao và đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có (Nguyễn Sinh Cúc, 2000)
“Phát triển kinh tế theo chiều rộng”: là tăng trưởng dựa vào sự gia tăng
vốn tương ứng với sự gia tăng của lao động (Trần Văn Dư, 2003)
2.1.1.2 Khái niệm về hộ
Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ hai về quản lý trang trại tổ chức ở Hà Lan năm
1980, các đại biểu thống nhất: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng, và các hoạt động xã hội khác” (Nguyễn Văn Huân, 1993)
Tchayanov - nhà khoa học kinh tế nông nghiệp nổi tiếng hàng đầu của Nga có một quan điểm mang tính chất bao trùm: “Về khái niệm hộ, đặc biệt trong đời sống nông thôn, không bao giờ cũng tương đương với khái niệm sinh học làm
Trang 16chỗ dựa cho nó, mà nội dung đó còn có cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình” (Nguyễn Đức Truyền, 2003)
Theo Giáo sư T.G.Mc.Gee (1989) - Giám đốc Viện Nghiên cứu châu Á thuộc Đại học Tổng hợp British Columbia - khi khảo sát “Kinh tế hộ trong quá trình phát triển” ở một số nước châu Á đã nêu lên rằng: “Ở các nước châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ (Nguyễn Văn Huân, 1995)
Theo GS Raul Iturna, hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng ( Nguyễn Văn Huân, 1995)
Trên đây là những khái niệm tiêu biểu, từ những quan niệm này có thể thấy rằng:
1 Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc
2 Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công lao động chung; có vốn và kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể
3 Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống, bởi
vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau…)
4 Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, hay như chúng ta thường nói gia đình là tế bào của xã hội
Trang 172.1.1.3 Khái niệm hộ nông dân
Là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn
vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của CNH, HĐH, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp
và phát triển nông thôn Các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân
Theo Frank Ellis (1993): “Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống
từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong
hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao
Tchayanov cho rằng: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” Luận điểm của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển (Đào Thế Tuấn, 1997)
Đồng tình với quan điểm trên của Tchayanov, Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản” (Nguyễn Đức Truyền, 2003) Chính vì vậy, các cải cách kinh tế ở một số nước trong những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 18Ở nước ta, cũng đã có nhiểu tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân, Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng:
“Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”
* Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng
Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến cho khó giới hạn thế nào là một hộ nông dân
Từ các khái niệm, đặc điểm nêu trên cho thấy hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có hoạt động sản xuất nông nghiệp; ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp ở các mức
độ khác nhau; hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa
là đơn vị tiêu dùng
2.1.1.4 Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Tchayanov cho rằng “kinh tế hộ nông dân” được hiểu là một hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và nhằm thoả mãn những nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công theo lao động đối với mỗi thành viên của nó (Nguyễn Đức Truyền, 2003)
Có quan điểm cho rằng, kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế phức tạp xét từ góc độ các quan hệ kinh tế - tổ chức, là sự kết hợp những
Trang 19ngành, những công việc khác nhau trong quy mô gia đình nông dân
Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế hộ nông dân bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh tế
hộ thể hiện được các loại hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp…
Theo Frank Ellis (1998), “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn
và tham gia ở mức độ không hoàn hảo và hoạt động của thị trường”
Từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng: Kinh tế hộ nông dân là loại
hình kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, hình thành, tồn tại một cách khách quan, sử dụng lao động gia đình là chính; Kinh tế hộ nông dân
là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ xã hội; Kinh tế hộ nông dân không giống các loại hình kinh tế khác
2.1.1.5 Vai trò của kinh tế nông hộ
Quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế xã hội là sự gia tăng tổng hợp của các ngành, các thành phần kinh tế, kinh tế nông hộ cũng là yếu
tố đặc trưng thúc đẩy xã hội phát triển Bởi vì kinh tế nông hộ được coi là tế bào của kinh tế xã hội trong nông thôn, nó có sắc thái riêng về kinh tế, văn hoá, xã hội Do đó sự tồn tại và phát triển kinh tế nông hộ quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế xã hội nông thôn Hơn nữa một đất nước có nền kinh
tế phát triển trước hết phải có sự phát triển của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội như lương thực, thực phẩm, sản phẩm công nghiệp, nông sản phẩm xuất khẩu Đối với nước ta, tuy kinh tế nông hộ quy mô còn nhỏ và phân tán, lượng vốn còn ít nhưng đã cung cấp cho xã hội 95% sản lượng lương thực,
Trang 20rau quả Sản xuất nông nghiệp của kinh tế hộ chiếm tới 48% giá trị của ngành nông nghiệp
Kinh tế nông hộ góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn, tư liệu sản xuất
Kinh tế nông hộ làm tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn Đây là vai trò hết sức quan trọng của kinh tế nông hộ,
họ tận dụng triệt để các điều kiện kinh tế - xã hội để tạo việc làm và thu nhập cho lao động Mỗi quá trình sản xuất trôi qua họ lại rút ra được những kinh nghiệm sản xuất để từ đó tạo tiền đề cho quá trình sản xuất về sau
Kinh tế nông hộ phát triển nâng cao thu nhập và đời sống vật chất cũng như tinh thần của người nông dân Từ đó thúc đẩy nông nghiệp phát triển, từng bước đổi mới bộ mặt nông nghiệp, nông thôn nước ta
2.1.1.6 Đặc trưng của kinh tế hộ trong điều kiện hiện nay
Kinh tế hộ là hình thức kinh tế rất đa dạng ở mỗi quốc gia, mỗi vùng và mỗi địa phương Vì vậy, chúng ta thấy kinh tế hộ có những đặc trưng chủ yếu sau:
Có sự thống nhất lợi ích trong nông hộ, lợi ích của người sản xuất gắn liền với lợi ích của người lao động Đây là đặc trưng bao trùm nhất về đặc
trưng của kinh tế hộ, bởi vì mọi thành viên trong nông hộ đều làm việc với tính tự giác cao, tự nguyện và tự phấn đấu hết mình cho lợi ích kinh tế của bản thân, của gia đình và của xã hội Song lợi ích kinh tế không những phụ thuộc vào sự thống nhất và hành động của các thành viên trong gia đình mà còn phụ thuộc vào môi trường kinh tế ở mỗi quốc gia và vấn đề huy động các nguồn lực và tư liệu sản xuất và lao động ra sao, hơn nữa sở hữu trong nông
hộ là sở hữu chung
Lao động quản lý và lao động trực tiếp sản xuất có sự gắn bó chặt chẽ Đặc
trưng này thể hiện khá rõ, kinh tế nông hộ là một đơn vị kinh tế mang tính chất huyết thống tổ chức sản xuất kinh tế nông hộ với quy mô nhỏ nên việc quản lý đơn
Trang 21giản, gọn nhẹ Chủ hộ thường vừa là người điều hành quản lý sản xuất vừa là người trực tiếp tham gia lao động nên có tính thống nhất cao
Kinh tế nông hộ có khả năng tự điều chỉnh cao Đây cũng là do ảnh
hưởng của quy mô sản xuất nhỏ, do vậy kinh tế hộ rất dễ điều chỉnh, họ có thể dồn tất cả nguồn lực, lao động, vốn vào đầu tư sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó khi họ thấy có lợi nhưng khi thấy phương thức sản xuất của mình bất lợi họ sẽ tự thu hẹp sản xuất kinh doanh lại và tiến hành sản xuất kinh doanh phân tán nhằm tránh rủi ro
Đối tượng sản xuất của hộ nông dân là các sinh vật vì vậy sản xuất kinh tế nông hộ phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên nên tính rủi ro trong sản xuất, kinh doanh cao
Nông hộ vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng Trong nông hộ
có sự thống nhất giữa đơn vị kinh tế và đơn vị xã hội, do vậy hộ nông dân đồng thời thực hiện hài hoà các chức năng mà đơn vị kinh tế khác không thể
có được
Một đặc trưng nữa là kinh tế nông hộ sử dụng vốn và lao động gia đình
là chủ yếu Một đặc trưng rất cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của kinh
tế nông hộ
Ngoài những đặc trưng trên thì Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, hơn nữa lại đang trong giai đoạn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, cũng như CNH, HĐH đất nước Do vậy mà tồn tại một số đặc trưng riêng của kinh tế hộ Việt Nam cụ thể là:
Trong kinh tế nông thôn, đất đai vẫn được coi là tư liệu sản xuất chính của hộ Kinh tế nông hộ gắn liền với ruộng đất, chính vì vậy giải quyết tốt được vấn đề đất đai trong nông nghiệp là đã giải quyết được vấn đề cơ bản của kinh tế hộ
Trang 22Ở Việt Nam đa số các nông hộ sử dụng lao động gia đình mà ít thuê lao động ngoài, lao động chỉ mang tính thời vụ không thường xuyên Sản xuất mang tính tự cung tự cấp nhiều hơn là sản xuất hàng hoá
Mục đích sản xuất kinh tế nông hộ vẫn mang tính chất riêng của gia đình, sản xuất cái mà mình có nhiều hơn là sản xuất cái mà thị trường cần Kinh tế nông hộ Việt Nam tách khỏi kinh tế thị trường vẫn có thể tồn tại độc lập bởi nó mang tính chất thuần nông
Tóm lại, kinh tế nông hộ là thực thể tồn tại bền vững trong xã hội, việc
sản xuất của nó khác hẳn với các đơn vị kinh tế trong các ngành kinh tế khác, phát triển và gia tăng thành phần kinh tế này chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng Vì vậy, cần tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông hộ phát triển đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
2.1.2 Lý luận về Hội Nông dân
2.1.2.1 Khái niệm về Hội Nông dân
Tại Việt Nam, Hội Nông dân là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp
nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Trang 23* Nhiệm vụ
Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu biết đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân
Vận động, tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân
Các cấp Hội là thành viên tích cực trong hệ thống chính trị thực hiện các chính sách, pháp luật, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ở nông thôn Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường
Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ CNH-HĐH đất nước
Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế Kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân Thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội
Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăng cường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ KHKT, quảng bá hàng hóa nông sản, văn hóa Việt Nam với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính chủ trong khu vực và trên thế giới
Trang 242.1.3 Vai trò của HND đối với phát triển kinh tế hộ
Hiện nay kinh tế nông thôn đã chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ thương mại và nông nghiệp HND là tổ chức đại diện cho giai cấp nông dân, không chỉ đại diện về mặt chính trị mà còn đại diện cả về lĩnh vực kinh tế - xã hội Vai trò của HND các cấp được thể hiện qua các nội dung sau: Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên nông dân; đại diện cho giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Hội đối với phát triển kinh tế hộ
HND hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế nhằm xóa đói giảm nghèo; nâng cao quy mô sản xuất
và sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các hình thức kinh tế tập thể ở nông thôn
HND tạo việc làm ổn định, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng để tạo ra các loại nông sản hàng hóa, dịch vụ đạt chất lượng, hiệu qủa cao, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
2.1.4 Nội dung hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ
2.1.4.1 Tuyên truyền vận động nông dân phát triển kinh tế hộ
Công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân có vị trí hết sức quan trọng xuyên suốt trong mọi hoạt động của các cấp Hội Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng mới, các cấp Hội luôn tích cực nâng cao năng lực truyền thông, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên nông dân nắm vững và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần nâng cao vai trò của Hội trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam
Trang 25Nông dân là một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình Cơ chế thị trường đã làm cho nông dân có những thay đổi trong tư duy, sinh hoạt, nếp sống và việc làm hàng ngày Hiện nay nông dân coi trọng giá trị lao động, giá trị đồng tiền do chính họ làm ra, là thước đo năng lực và địa vị xã hội của họ Người nông dân cũng dần dần nhận thức và đã làm quen dần với việc lấy các tiêu chí như pháp luật, chính sách kết hợp với phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp để đánh giá con người
Để phát triển kinh tế hộ đạt kết quả, trong những năm qua các cấp Hội
đã vận động, tuyên truyền cán bộ, hội viên, nông dân tích cực phát triển kinh
tế hộ bằng nhiều nội dung, hình thức phong phú như: Tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương và nhiệm vụ của Hội; tuyên truyền cổ vũ hội viên, nông dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ dân trí, KHKT, công nghệ và kiến thức quản lý kinh tế cho hội viên, nông dân
Hình thức Tổ vay vốn: Tổ vay vốn do HND lập, thành viên là hội viên HND Tổ vay vốn do các hộ gia đình, cá nhân cùng cư trú tại thôn, xóm, làng: thành viên là các hộ gia đình cá nhân Số lượng thành viên của tổ vay vốn:
Trang 26Tùy theo khả năng quản lý, điều kiện xã hội – tự nhiên tại địa bàn; số lượng của tổ viên tối đa là 50 hộ (cá nhân)/tổ
Cơ chế đảm bảo tiền vay: Mức vay không có đảm bảo bằng tài sản: Tối đa đến 50 triệu đồng đối với các cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; Tối đa là 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; Tối đa là
500 triệu đồng đối với các Hợp tác xã, chủ trang trại trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Các mức vay này phải sử dụng cho mục đích phát triển nông nghiệp, nông thôn Có danh sách các thành viên của tổ vay vốn và biên bản họp tổ, bầu tổ trưởng, tổ phó, thư ký được HND cùng UBND xã, thị trấn xác nhận
Có quy ước hoạt động của tổ vay vốn theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống, cùng nhau chia sẻ rủi ro,
hỗ trợ nhau trả nợ ngân hàng đúng thời hạn Trong quá trình hoạt động của tổ vay vốn phải cam kết tuân thủ theo các nguyên tắc và điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kiến thức, phổ biến các kinh nghiệm sản xuất kinh doanh cho hội viên, đảm bảo đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Phối hợp cùng UBND xã, thị trấn, NHNo &PTNT xử lý những trường hợp vi phạm quy định của Ngân hàng trong quá trình vay, trả nợ Ngân hàng của các thành viên trong tổ vay vốn
(Thỏa thuận liên ngành số 799/TTLN ngày 19/10/2010)
* Nguồn vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH)
Thực hiện Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ
về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, HND Việt Nam đã ký văn bản liên tịch số 235/VBLT ngày 15/4/2003, văn bản thỏa thuận số 2976/VBTT ngày 04/12/2006 với NHCSXH về việc tổ chức thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
Trang 27HND các cấp tích cực tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và quy định của Ngân hàng trong việc cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác để sản xuất - kinh doanh, cải thiện đời sống Phối hợp chỉ đạo thành lập tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) để lập kênh dẫn vốn trực tiếp đến hộ nghèo, giúp hộ nghèo vay vốn tiếp cận với dịch vụ tài chính ngân hàng, phát huy truyền thống đoàn kết tương trợ trong cộng đồng, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, sử dụng vốn vay đúng mục đích, đôn đốc nhau trong trả nợ tiền lãi, gốc đúng kỳ hạn cam kết Cung cấp đúng, đầy
đủ các thông tin, tài liệu liên quan đến vốn nhận ủy thác cho ngân hàng CSXH và chịu trách nhiệm về tính chính xác các thông tin, tài liệu đã cung cấp Triển khai thực hiện nghiêm túc việc cho vay theo hợp đồng ủy thác cho vay Việc cho vay, thu nợ, thu lãi, xử lý rủi ro … phải tuân theo các văn bản pháp quy, các quy định nghiệp vụ và văn bản liên quan khác của ngân hàng CSXH Sử dụng vốn nhận ủy thác đúng mục đích, đúng nội dung đã quy định
và cam kết trong hợp đồng ủy thác cho vay Hoàn trả vốn ủy thác và lãi thu được đúng hạn theo thỏa thuận và cam kết trong hợp đồng ủy thác cho vay Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của hộ nghèo và thực hiện báo cáo, thống kê theo quy định của NHCSXH Tham gia xây dựng các tài liệu tập huấn, tổ chức tập huấn và tham dự lớp tập huấn nghiệp vụ do NHCSXH tổ chức Tổ chức các hoạt động nâng cao kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh cho hộ nghèo, đảm bảo đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Cung cấp cho NHCSXH về nguyện vọng của hội viên nông dân liên quan đến việc vay vốn NHCSXH
* Xây dựng và phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân (Quỹ HTND)
Các cấp Hội vận động thu hút hàng triệu tập thể, cá nhân và các tổ chức ủng hộ, cho vay không thu lãi nhưng thu phí Vận động nông dân, các hộ phi nông nghiệp, các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước ủng
Trang 28hộ, cho mượn (không lãi) hoặc cho vay lãi suất thấp Tiếp cận các nguồn vốn tài trợ hoặc ủy thác của Nhà nước, của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước giúp đỡ nông dân phát triển kinh tế Các nguồn vốn trên dùng để hỗ trợ, giúp đỡ hội viên nông dân xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh
tế nhằm xóa đói giảm nghèo; nâng cao quy mô sản xuất và sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các hình thức kinh tế tập thể ở nông thôn; tạo việc làm, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng để tạo ra các loại nông sản hàng hóa, dịch vụ đạt chất lượng, hiệu quả cao Hoạt động Quỹ HTND không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải bảo toàn, phát triển vốn bù đắp chi phí quản lý Tự chịu trách nhiệm về hoạt động của Quỹ trước pháp luật; tuân thủ các quy định về nghiệp vụ tài chính, tín dụng theo quy định hiện hành của Nhà nước
2.1.4.3 Chuyển giao tiến bộ KHKT và dạy nghề cho hộ
Với hệ thống sâu rộng, từ Trung ương tới cơ sở, thôn, làng, Hội đã trở thành cầu nối quan trọng giữa các nhà khoa học, các cơ quan, các doanh nghiệp tới các hộ và ngược lại Hội chủ động trong công tác tuyên truyền, tổ chức tập huấn hướng dẫn hội viên nông dân áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất; tổ chức xây dựng các mô hình trình diễn, mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đạt năng suất, chất lượng cao Cụ thể các cấp Hội đã tổ chức các lớp tập huấn, dạy nghề tại các trung tâm dạy nghề của Hội, đồng thời tổ chức thăm quan các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi ở các địa phương trong cả nước
2.1.4.4 Cung ứng dịch vụ yếu các tố đầu vào cho sản xuất và CSHT theo chương trình Nông thôn mới cũng như tiêu thụ sản phẩm của hộ
Bằng các việc ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp mua vật tư theo phương thức trả chậm, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý Các cấp Hội đã trở thành cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp với các hộ nông dân
Bên cạnh đó, thực hiện quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002
Trang 29của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng” Hội đã đứng ra làm đầu mối phối hợp với các doanh nghiệp, siêu thị, chợ đầu mối giúp tiêu thụ nông sản
Cụ thể HND cần triển khai một số nhiệm vụ: Phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức các lớp tập huấn đến nông dân, mỗi vụ tổ chức một số lớp để hội viên nông dân được hướng dẫn kỹ thuật Động viên nông dân tích cực học tập và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và đưa vật tư của các doanh nghiệp chuyên dùng vào sản xuất đạt hiệu quả cao Hướng dẫn nông dân sử dụng đúng kỹ thuật Trước khi HND cơ sở mua vật tư của doanh nghiệp thì phải có bảo tín bằng văn bản của HND huyện và HND tỉnh cho cơ sở có đủ điều kiện Đôn đốc các đơn vị được mua chịu thanh toán đúng hạn Nếu có đơn vị đến hạn nhưng không thanh toán thì sẽ có biện pháp tích cực để thu nợ nhanh, đảm bảo an toàn vốn cho doanh nghiệp Nắm thông tin thị trường, tâm tư nguyện vọng của nông dân, thông tin cho doanh nghiệp biết để kịp thời điều chỉnh phục vụ tốt hơn
2.1.4.5 Xây dựng mô hình điểm phát triển kinh tế hộ
HND các cấp đã lựa chọn xây dựng các mô hình điểm phát triển kinh tế
hộ ở các địa phương, căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, tiềm lực kinh tế từng vùng, từng điều kiện sẵn có để phát triển
Các cấp Hội thống nhất chọn mô hình là chủ hộ có tâm huyết, có ý chí
và có hiểu biết nhất định về khoa học kỹ thuật Đã có thời gian sản xuất kinh doanh từ 3 năm trở lên và tích cực tham gia các hoạt động của Hội Sau đó các cấp Hội hướng dẫn vào việc đầu tư cơ sở vật chất hỗ trợ vốn, tập huấn KHKT, tổ chức thăm quan mô hình; phối hợp cho vay trả chậm, tư vấn thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ phát triển
Sau khi phối hợp tập huấn kỹ thuật, các cấp Hội đã chỉ đạo và cùng chủ
Trang 30hộ tổ chức thực hiện trong thực tế Hàng tháng, quý tổ chức kiểm tra giám sát, đồng thời có định hướng để các hộ sản xuất đạt hiệu quả Đặc biệt là HND cần phải phối hợp với các tổ chức, đoàn thể và nhân dân để thực hiện tốt phong trào nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay
Phối hợp với các doanh nghiệp hỗ trợ vật tư trả chậm, hỗ trợ giống, vốn… có định hướng tiêu thụ sản phẩm cho các trang trại Sau những vụ sản xuất, các cấp Hội đều sơ kết đánh giá mô hình và rút kinh nghiệm để nhân rộng mô hình
2.1.4.6 Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể trong việc giúp đỡ hộ phát triển kinh tế
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, phát huy tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau trong nông dân HND các cấp trong huyện phối hợp với các phòng, ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp… tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất và đời sống, cụ thể: phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác; thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Chính phủ về tạo điều kiện trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện Chương trình đề án phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội nông thôn giai đoạn
2011 – 2020; ngoài ra các cấp Hội cần phối hợp với các phòng, ban, trường, doanh nghiệp… tổ chức chuyển giao KHKT cho hội viên nông dân
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của HND đối với phát triển kinh
Trang 31chế liên kết hộ sản xuất … là một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo điều kiện cho phát triển kinh tế hộ Đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.5.2 Nguồn lực cho phát triển kinh tế hộ (Vốn, lao động, KHKT…)
Thiếu vốn cùng với trình độ lao động thấp sẽ cản trở sự phát triển của
hộ trên cả 3 phương diện: sự cung ứng các yếu tố đầu vào bị hạn chế, quá trình sản xuất bị gián đoạn; việc mua bán, tiêu thụ sản phẩm khó khăn
Trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu sẽ là lực cản lớn đối với sự phát triển của kinh tế hộ Việc áp dụng các tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao, giá thành hạ Nhờ có tiến bộ kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào quá trình sản xuất đã tạo ra những thay đổi lớn theo hướng hiệu quả hơn về trình độ sản xuất, tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của các hộ
Vốn, lao động, khoa học - kỹ thuật và công nghệ… là yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển của kinh tế hộ Sự phát triển của kinh tế hộ cũng tác động mạnh đến hoạt động của HND
2.1.5.3 Trình độ cán bộ Hội Nông dân các cấp
Các cán bộ HND không hiểu biết về các chủ trương, chính sách về hoạt động phối hợp, không có năng lực chuyên môn sẽ không đảm nhiệm được vai trò cầu nối khoa học, kỹ thuật tới người dân, không đảm bảo việc bảo vệ quyền lợi cho người dân như Điều Lệ Hội đã đề cập Phát triển kinh tế hộ còn gặp nhiều khó khăn do trình độ nhận biết của các hội viên không đồng đều Cán bộ HND càng có năng lực, trình độ và hiểu biết cũng như các kỹ năng càng tốt bao nhiêu thì công tác tuyên truyền, vận động và phối hợp với người
dân để thực hiện các mục tiêu sẽ được dễ dàng
2.1.5.4 Nhận thức của hội viên nông dân
Trình độ nhận thức của các hội viên nông dân là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của HND Người dân không có kiến thức, tư duy,
Trang 32do đó sẽ khó thực hiện tốt vai trò của mình trong phát triển kinh tế hộ gia đình mình Bản thân các hội viên không biết về tầm quan trọng liên kết với HND, không biết về các chính sách ưu đãi sẽ không tích cực tham gia Trình độ và
tư duy về liên kết tốt với HND sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp (SXNN)
2.1.5.5 Tổ chức lập kế hoạch về nội dung hoạt động của HND
Việc tổ chức hoạt động của HND như thế nào? và quy định, quy trình thực hiện ra sao? sẽ quyết định sự thành công hay thất bại trong quá trình triển khai tới cơ sở Đây là yếu tố kết hợp tổng hợp các điều kiện thuận lợi về
nhiều mặt để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật về công tác Hội
2.1.5.6 Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể
Sự thành công các hoạt động của Hội Nông dân trong phát triển kinh tế
hộ không thể đứng độc lập với các tổ chức đoàn thể khác được Bản thân Hội Nông dân đã là một tổ chức đoàn thể nằm trong quản lý của khối đoàn thể và
có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị trong khối để nắm bắt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để tuyên truyền tới người dân Thực hiện tốt các cuộc vận động xây dựng kinh tế, trong đó kinh tế hộ là nòng cốt của các huyện còn tỷ lệ cơ cấu nông nghiệp cao
Hoạt động của người nông dân luôn xoay quanh sản xuất nông nghiệp, luôn cần kiến thức về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, làm kinh tế liên quan tới các cán bộ kỹ thuật của các khối chuyên môn Không phải cán bộ Hội Nông dân nào cũng đủ chuyên môn và kiến thức để tập huấn lại cho người dân Do
đó, để kinh tế hộ thực sự phát triển, việc duy trì mối liên hệ mật thiết với khối chuyên môn của các phòng ban nông nghiệp, khuyến nông, thú y – chăn nuôi, thủy sản là một việc làm đúng đắn và cần thiết
Bên cạnh đó, các tổ chức, đoàn thể khác cũng có nhiều mối liên hệ với
hộ nông dân Các dự án của tổ chức phi chính phủ hay các doanh nghiệp kinh
Trang 33doanh vật tư nông nghiệp cũng cần phối hợp để triển khai hoạt động, xây dựng các mô hình thông qua Hội Nông dân, nhằm mục đích phát triển kinh tế
hộ Đặc biệt là các vùng miền núi còn nghèo Các tỉnh đồng bằng, mối liên hệ giữa doanh nghiệp kinh doanh thông qua Hội Nông dân để liên kết với Người dân trong phát triển kinh tế hộ đang ngày càng được chú trọng Các doanh nghiệp đang hướng đầu tư mạnh thông qua đầu mối trung gian này để cung ứng sản phẩm đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp và có thể bao tiêu một phần sản phẩm làm ra của người nông dân
Nói tóm lại, Hội Nông dân hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên kết và hỗ trợ từ nhiều tổ chức, đoàn thể và doanh nghiệp khác cùng đứng trên địa bàn hoặc làm việc liên quan tới địa bàn quản lý về chuyên môn của Hội Nông dân Điều này sẽ giúp kinh tế hộ phát triển theo hướng bền vững
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Sơ lược tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở Việt Nam
Từ khi có Chỉ thị 100/CT - TW (1981) của Ban Bí thư Trung ương, đặc biệt
là từ sau Nghị quyết số 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị (1988), hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, có đầy đủ tư cách pháp nhân và quyền bình đẳng như mọi chủ thể kinh tế khác thì mô hình kinh tế hộ mới được chú
ý, từng bước được khởi sắc và phát triển
Nghị quyết 10 đã nêu lên những chủ trương, giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ, đó là: giao khoán ruộng đất đến hộ và nhóm hộ xã viên ổn định lâu dài, khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, kinh tế cá thể và tư nhân trong nông nghiệp
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương, chính sách lớn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá Nghị quyết số 06/NQ/TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ
Trang 34Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ
“…Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1998) Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh
tế trang trại đã khẳng định “…Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm
mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” (Chính Phủ, 2000) Nghị quyết đã đề ra các biện pháp về kinh tế và tổ chức nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ở nước ta trong những năm tới
Thành tựu nổi bật phát triển kinh tế hộ nông dân và kinh tế nông nghiệp
ở Việt Nam của những năm đổi mới vừa qua là đã giải quyết vững chắc vấn
đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực triền miên thành nước xuất khẩu gạo lớn của thế giới kể từ năm 1988, theo hướng năm sau cao hơn năm trước
Bình quân 10 năm 1990 - 2000 so với bình quân 5 năm trước đó, sản lượng lạc tăng 34%, mía tăng 74%, cà phê nhân tăng 2,8 lần, cao su tăng 87%, hồ tiêu tăng 68%, chè tăng 27,3%, bông tăng 2,38 lần (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2000) Các loại cây ăn quả đặc sản chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn, mận hậu, cam… đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét ở nhiều vùng trong cả nước
Chăn nuôi tăng trưởng cao và ổn định, bình quân 10 năm 1990 - 2000 so với bình quân 5 năm trước đó: đàn trâu tăng 5%, đàn bò tăng 10%, đàn lợn tăng 20%, đàn gia cầm tăng 25%, sản lượng trứng tăng 33% Đặc biệt, đàn bò sữa
Trang 35tăng khá, năm 1999 đạt gần 34 ngàn con, tăng gấp 3 lần so với năm 1990 (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2000)
Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, hàng năm kinh tế hộ nông dân
đã sản xuất khoảng 98% sản lượng lương thực, 99% sản lượng rau các loại, 95% sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày và 97% sản lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm của cả nước Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2000)
2.2.2 Tình hình hoạt động của Hội Nông dân ở Việt Nam
Theo đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ V, nhiệm kỳ 2008 – 2013
2.2.2.1 Công tác xây dựng Hội đã đạt được những kết quả quan trọng
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, hội viên nông dân có nhiều đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động, thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội Nông dân, các Câu lạc bộ nông dân, nêu gương “ người tốt, việc tốt”, các mô hình điển hình tiên tiến; phát hành bản tin, ra chuyên trang chuyên mục trên Báo Nông thôn ngày nay, Tạp chí Nông thôn mới, Website Hội Nông dân và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi ở
cơ sở, các hoạt động xã hội qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị,
tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; cổ vũ khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí
tự lực, tự cường vươn lên của nông dân, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng và Nhà nước
Công tác củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở Hội, nâng cao chất lượng hội viên luôn được các cấp Hội thường xuyên quan tâm; cả nước đã có 10.536 cơ
sở Hội; 92.246 thôn, ấp, bản, làng có chi Hội, đạt 100%; số cơ sở Hội đạt vững mạnh tăng, vượt chỉ tiêu Đại hội V đề ra Trong nhiệm kỳ qua cả nước kết nạp được trên 2 triệu hội viên mới, nâng tổng số hội viên lên 10.442.278, tăng 4,4% so với nhiệm kỳ trước
Trang 36Công tác kiểm tra, giám sát của Hội được tăng cường và đi vào nền nếp; chất lượng, hiệu quả được nâng lên Trung ương Hội đã ban hành Quy định về công tác kiểm tra và kỷ luật của Hội Hệ thống cơ quan kiểm tra và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được kiện toàn Qua kiểm tra, giám sát
đã phát hiện và xử lý 53 vụ vi phạm, trong đó có một tập thể và 52 cá nhân Qua đó, góp phần khắc phục thiếu sót, ngăn chặn và hạn chế tiêu cực, sai phạm; chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả công tác
Các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác xây dựng tài chính và cơ sở vật chất của Hội Kết quả đã có 95.246 chi Hội xây dựng được Quỹ Hội, đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội V đề ra Cơ sở vật chất của Hội ngày càng được tăng cường Các trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân khu vực và các tỉnh, thành phố tiếp tục được đầu tư nâng cấp
Công tác đối ngoại của Hội Nông dân Việt Nam có bước phát triển mới Hội đã có quan hệ hữu nghị và hợp tác với trên 40 tổ chức nông dân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới Hoạt động đối ngoại đã góp phần hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực cán bộ Hội
2.2.2.2 Các phong trào nông dân thi đua yêu nước do Hội Nông dân Việt Nam phát động và tổ chức thực hiện có bước phát triển mới
Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp
nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững (từ năm 2013 trở về trước, Đại hội V gọi là Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng) tiếp tục phát triển cả bề
rộng và chiều sâu có sức lan tỏa trong nhiều lĩnh vực: nông lâm, ngư nghiệp, thủy sản Hằng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp Các cấp Hội tổ chức tổng kết phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2007-2011) đã biểu dương hàng nghìn nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp
Trang 37tỉnh, huyện và cơ sở; Hội nghị đại biểu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi toàn quốc lần thứ IV, biểu dương 309 nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tiêu biểu xuất sắc
Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân hưởng ứng Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn bằng những việc làm thiết thực như: hiến đất và đóng góp hàng nghìn tỷ đồng, hàng chục triệu ngày công lao động để làm đường giao thông, thủy lợi nội đồng, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng đường điện hạ thế, phòng học, nhà văn hóa xã, thôn, bản, đắp bờ bao chống lũ Tích cực xây dựng gia đình văn hóa; tham gia xây dựng thôn, ấp, bản, làng, xã văn hóa; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội; phòng chống các tệ nạn xã hội; giữ gìn vệ sinh, an toàn thực phẩm, cảnh quan môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp; tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tổ chức các cuộc thi “Nhà nông đua tài”, “Tiếng hát đồng quê”, “Giải Bóng chuyền bông lúa vàng”, “Bóng đá nông dân” …góp phần nâng cao đời sống tinh thần, mở rộng giao lưu học hỏi, hiểu biết giữa các dân tộc, các vùng miền trong cả nước Bình quân mỗi năm có 9 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá
Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng an ninh được các cấp Hội quan tâm Các cấp Hội đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; luôn cảnh giác với diễn biến hòa bình và chia rẽ dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng đại đoàn kết; thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự và chính sách hậu phương quân đội, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng bằng những việc làm cụ thể, thiết thực
Chủ động phối hợp với lực lượng Quân đội, Công an triển khai thực
Trang 38hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh Tham gia xây dựng các tổ tự quản, tổ an ninh nhân dân, tổ hòa giải ở thôn xóm; phát động phong trào nông dân tham gia bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên biển, đảo và đường biên, mốc giới, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn
2.2.2.3 Các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cho hội viên, nông dân phát triển mạnh mẽ
Các cấp Hội đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện thuận lợi giúp cho 2,4 triệu lượt hộ vay, với tổng dư nợ 37.990 tỷ đồng; 664.900 lượt hộ vay 16.000 tỷ đồng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; có trên 100 ngàn lượt hộ nông dân được vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân, cùng với nguồn vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm do Hội quản
lý đã góp phần quan trọng giúp đỡ hội viên nông dân có vốn đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Trong đó nhiều hộ đã thoát nghèo một số hộ trở thành hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi
Các cấp Hội phối hợp tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân thông qua mô hình “Vận động nông dân chấp hành pháp luật về sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch”; phát hành Cẩm nang tư vấn pháp luật;
mở các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho cán bộ, hội viên, nông dân
Trung ương Hội và nhiều tỉnh, thành Hội đã phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông sản tại các khu vực; xây dựng hệ thống “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp thực phẩm”; chương trình tăng cường công nghệ thông tin cho nông dân trồng lúa 13 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và cung cấp vật tư, máy công cụ, phân bón theo phương thức trả chậm; tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học- kỹ thuật, xây dựng mô hình trình diễn giúp cho nông dân có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh
Các cấp Hội trực tiếp và phối hợp dạy nghề ngắn hạn cho 1.096.000
Trang 39nông dân, vượt 9,6% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Các cấp Hội đã tích cực triển khai hướng dẫn hội viên, nông dân phát triển các loại hình kinh tế tập thể phù hợp với từng địa bàn, từng ngành nghề
và trình độ phát triển ở từng khu vực để giải quyết những khâu, những việc
mà từng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành Hội đã xây dựng được mô hình kinh tế tập thể mang lại hiệu quả bước đầu
2.2.2.4 Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh
Cấp Hội đã tổ chức để cán bộ, hội viên nông dân tham gia ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tham gia đóng góp ý kiến phê bình cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Năm 2011, các cấp Hội đã tích cực vận động nông dân tham gia các hội nghị lấy ý kiến nhận xét đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, hội viên nông dân hăng hái đi bầu cử đạt tỷ lệ cao Giới thiệu các hội viên ưu tú để Đảng xem xét kết nạp
Phát huy dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, các cấp Hội đã tích cực triển khai, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Phối hợp với các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hòa giải thành công hàng vạn vụ mâu thuẫn ngay từ cơ sở, tiếp nhận và tham gia giải quyết hàng nghìn đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của hội viên nông dân
Các cấp Hội đã tổ chức lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên đóng góp đối với tập thể, cá nhân cấp ủy cùng cấp theo chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Ban Chấp hành các cấp của Hội đã đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành Đi sâu, đi sát cơ sở, nắm chắc tình hình, nhất là những bức
Trang 40xúc trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kịp thời phản ánh với Đảng, Nhà nước
Với những kết quả trên, trong nhiệm kỳ qua, công tác Hội và phong trào nông dân cả nước đã được Chủ tịch nước tặng thưởng 88 Huân chương các loại; Chính phủ đã tặng 13 Cờ thi đua, Thủ tướng Chính phủ đã tặng 224 Bằng khen cho tập thể và cá nhân đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tặng 194 Cờ, 10.357 Bằng khen, 42.444 Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”; các tỉnh, thành Hội đã tặng hàng nghìn Bằng khen, Giấy khen cho tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho công tác xây dựng Hội và phong trào nông dân Đặc biệt năm 2010, nhân dịp kỷ niệm
80 năm ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam, giai cấp nông dân Việt Nam
đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng (lần 2) phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước trao tặng
2.2.3 Kinh nghiệm hoạt động của HND đối với phát triển kinh tế hộ ở một
số địa phương ở Việt Nam
* Hoạt động của HND tỉnh Quảng Ninh:
Trong những năm qua HND tỉnh Quảng Ninh luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có việc thực hiện Nghị quyết TW7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
HND tỉnh đã tập trung xây dựng, củng cố tổ chức Hội các cấp; đẩy mạnh các phong trào thi đua trong nông dân là nhiệm vụ trọng tâm Trong công tác xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, các cấp HND trong tỉnh đã tập trung đổi mới công tác chỉ đạo, nâng cao chất lượng hoạt động, tích cực phát triển hội viên mới, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của
tổ chức Hội, thường xuyên rà soát, kiện toàn Ban Chấp hành Hội các cấp; xây dựng quy chế hoạt động, quy định tiêu chuẩn xếp loại cơ sở, chi hội … từ