1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên

149 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 17,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làng nghề truyền thống là làng nghề đã hình hình từ lâu đời thường là trên 50 năm tính từ thời điểm 1954 sản phẩm có tỉnh chất riêng biệt mang đặc thù, giá trị văn hóa lịch sử của địa ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

NGUYỄN HÙNG CƯỜNG

GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

TRUYÊN THỐNG HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã ngành: 60 62 01 15

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN TẤT THẮNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Hùng Cường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân

và tập thể Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:

- TS Nguyễn Tất Thắng, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

- Các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình truyền đạt kiến thức chuyên môn và giúp

đỡ tôi hoàn thiện luận văn

- UBND, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các phòng ban trực thuộc huyện Ân Thi; các phòng ban và cán bộ các xã, huyện thuộc huyện Ân Thi; các hộ thuộc địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, thông tin để tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài

- Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn tới những bạn bè và đồng nghiệp người thân yêu trong gia đình, luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện

cả về vật chất và tinh thần để tôi học tập và hoàn thành tốt luận văn

Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi mong được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa trong thực tiễn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả khóa luận

Nguyễn Hùng Cường

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC ĐỒ THỊ viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 4

2.1.1 Một số khái niệm 4

2.1.2 Vai trò của bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống 11

2.1.3 Đặc điểm của bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống 15

2.1.4 Nội dung bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống 21

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các làng nghề truyền thống 32

2.2 Cơ sở thực tiễn 40

2.2.1 Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống trên thế giới 40

2.2.2 Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam 45

2.2.3 Chính sách của nhà nước trong việc phát triển các nghề truyền thống 47

Trang 5

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 50

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 50

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 54

3.1.3 Thuận lơi và khó khăn 60

3.2 Phương pháp nghiên cứu 62

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 62

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 62

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 64

3.2.4 Phương pháp thống kê mô tả 64

3.2.5 Phương pháp so sánh 64

3.2.6 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 65

3.2.7 Phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA) 65

3.2.8 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 65

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67

4.1 Khái quát chung về làng nghề truyền thống ở huyện Ân Thi 67

4.1.1 Quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề ở huyện Ân Thi 67

4.1.2 Tình hình chung về làng nghề ở huyện Ân Thi 69

4.2 Thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên 71

4.2.1 Thực trạng bảo tồn làng nghề truyền thống 71

4.2.2 Thực trạng về phát triển làng nghề truyền thống ở huyện Ân Thi 81

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống 107

4.3.1 Cơ chế chính sách 107

4.3.2 Năng lực của làng nghề 108

4.3.3 Yếu tố thị trường 113

Trang 6

4.3.4 Đánh giá bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở huyện

Ân Thi 115

4.4 Giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống 119 4.4.1 Đinh hướng và căn cứ để đưa ra giải pháp 123

4.4.2 Giải pháp cụ thể 125

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 136

5.1 Kết luận 136

5.2 Kiến nghị 138

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình biến động đất đai của huyện trong những 3 năm qua

2011- 2013 53

Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động trong 3 năm qua 2011-2013 55

Bảng 3.3 Tình hình biến động về kinh tế xã hội trong 3 năm qua

2011 – 2013 57

Bảng 4.1 Sự phân bố một số làng nghề trên địa bàn huyện Ân Thi 69

Bảng 4.2 Tình hình kinh tế làng nghề huyện Ân Thi qua 3 năm 70

Bảng 4.3 Số lượng lao động trình độ cao của các làng nghề ở huyện qua 3 năm 74

Bảng 4.4 Số hộ tham gia sản xuất làng nghề của huyện trong 3 năm qua 82 Bảng 4.5 Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra qua 3 năm 84

Bảng 4.6 Cơ sở vật chất của các hộ trong làng nghề 86

Bảng 4.7 Quy mô vốn của các hộ sản xuất kinh doanh 88

Bảng 4.8 Số lượng sản phẩm sản xuất bình quân của 1 hộ/năm qua

3 năm 89

Bảng 4.9 Giá trị sản xuất của hộ làm nghề/năm qua 3 năm 91

Bảng 4.10 Hình thức tổ chức sản xuất của các làng nghề truyền thống qua

3 năm 93

Bảng 4.11 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ qua 3 năm 95

Bảng 4.12 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ trong trong làng nghề qua 3 năm 97

Bảng 4.13 Kết quả sản xuất bình quân của 1 hộ/năm qua 3 năm 98

Bảng 4.14 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ/năm qua 3 năm 100

Bảng 4.15 Số lượng lao động cho các làng nghề qua 3 năm 101

Bảng 4.16 Tình hình lao động của hộ sản xuất trong các làng nghề qua

3 năm 102

Trang 8

Bảng 4.17 Hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm của các làng nghề 108Bảng 4.18 Khả năng huy động về lao động 109Bảng 4.19 Khó khăn về vốn của các hộ sản xuất trong các làng nghề 113Bảng 4.20 Khả năng tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề 114

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH, SƠ ĐỒ VÀ HỘP

Đồ thị 4.1 Thực trạng về đào tạo nghề 108

Đồ thị 4.2 Đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất của làng nghề 110

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Ân Thi 50

Hình 4.1 Hình ảnh sản phẩm chạm bạc đặc sắc 76

Hình 4.2 Cơ sở của hộ ở làng nghề chạm bạc 87

Hình 4.3 Cửa hàng bán sản phẩm của làng nghề chạm bạc 94

Hình 4.4 Lao động làng nghề bánh đa 103

Hình 4.5 Lao động làng nghề nón lá 104

Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất bánh đa ở huyện Ân Thi 80

Hộp 4.1 Ý kiến của cán bộ về bảo tồn văn hóa của làng nghề 72

Hộp 4.2 Ý kiến của chủ HTX về bảo tồn sản phẩm và bí quyết 76

Hộp 4.3 Ý kiến của hộ về bảo tồn lao động trình độ cao 77

Hộp 4.4 Ý kiến của hộ về phát triển lao động trình độ cao 103

Trang 11

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ở nước ta khu vực nông thôn chiếm tới 69,6% (năm 2010) dân số

cả nước, đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá Làng nghề truyền thống giữ một vai trò quan trọng trong nông thôn, trước hết nhằm giải quyết mục tiêu kinh tế sử dụng đầu vào có sẵn, tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động, thu hút lao động ở địa phương và lân cận, thu hút vốn cho sản xuất ở làng nghề, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nâng cao thu nhập dân cư, thu hẹp khoảng cách đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nông nghiệp và công nghiệp, hạn chế di dân thúc đẩy phát triển hạ tầng nông thôn giữ gìn văn hoá bản sắc dân tộc Sản xuất ra các sản phẩm không những đáp ứng thị trường trong nước mà còn xuất khẩu thu ngoại tệ góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác và tạo điều kiện thực hiện cơ giới hoá trong nông thôn tuy nhiên vẫn còn khiêm tốn, phát triển làng nghề là nguồn tài sản quí giá của đất nước cần bảo tồn và phát triển Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống không chỉ có ý nghĩa kinh

tế, mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn trong công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống không chỉ tăng thêm sức mạnh cội nguồn gieo vào lòng mỗi người dân Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quý, trân trọng giữ gìn di sản và bản sắc văn hoá Việt Nam đặc biệt trong chiến lược phát triển xã hội là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình CNH, HĐH Tài sản đó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế xã hội mà còn

có ý nghĩa về mặt văn hoá mỹ thuật làm đẹp và nâng cao giá trị cuộc sống giá trị kinh tế gắn liền với giá trị văn hoá mĩ thuật các làng nghề tô đậm thêm truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam đó là tài sản quí cần được bảo tồn và phát triển

Trang 12

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự tất bật trong mỗi gia đình cũng vì thế mà tăng lên, thời gian đã dần làm thay đổi sinh hoạt của người dân Song chính sự phát triển kinh tế đã làm thay đổi, tạo ra bước ngoặt cho

mô hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm từ các làng nghề truyền thống của Việt Nam nói chung và làng nghề truyền thống huyện Ân Thi nói riêng Kinh

tế thị trường phát triển mạnh mẽ, các đối thủ cạnh tranh của sản phẩm của các làng nghề truyền thống ngày càng nhiều, thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt đang là những thách thức to lớn đối với các làng nghề truyền thống Nhiều người biết đến những sản phẩm của các làng nghề truyền thống nhưng dần dần mọi thứ đều mai một và chìm vào quên lãng trong tâm thức của giới trẻ hôm nay Cho đến hiện nay chưa có nghiên cứ nào về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở Ân Thi Vấn đề đặt ra là làm sao để duy trì, bảo tồn phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống? Giải pháp nào thúc đẩy mục tiêu đó? Từ việc nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống trong tình hình hiện nay, xét tới tầm quan trọng của những vấn đề nêu trên nên tôi đã quyết định

chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền

thống huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hoá lí luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

Trang 13

Phân tích và đánh giá thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên những năm qua

Đề xuất các giải pháp để bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở địa bàn huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

Các hộ làm làng nghề trong địa bàn huyện Ân Thi và các cán bộ thuốc các phòng ban có liên quan

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tập trung vào bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

- Về không gian: Làng nghề truyền thống trên địa bàn nghiên cứu

- Về thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2011-2013

và số liệu điều tra năm 2014

Trang 14

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm vê bảo tồn

Theo định nghĩa của IUCN (1991): “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai”

Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó

Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo

tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một

cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế

hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại

Trang 15

Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn

Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến

di sản Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương

tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Hoặc các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không

đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa Ngoài ra, các tác giả như Moore và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới Nhìn chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản

ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy

Hiện nay, có nhiều quan niệm về bảo tồn, là cụm từ dùng để chỉ sự duy trì những sản phẩm hữu hình hoặc vô hình có giá trị lịch sử, mang trong mình

Trang 16

yếu tố văn hóa sâu sắc Theo từ điển tiếng Việt (1999), Nhà xuất bản Thanh Hóa, Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi

2.1.1.2 Khái niệm về phát triển

Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”

Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với Nhà nước, với cộng đồng ” , Lưu Đức Hải (2002)

Cho rằng: Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hoá vv Bùi Ngọc Quyết (2004)

Phát triển (development) hay nói một cách đầy đủ hơn là phát triển kinh tế xã hội (socio- economic development) của con người là một quá trình nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triển sản xuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hoá

Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về số lượng của một sự vật nhất định Trong kinh tế tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về sản phẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động Tăng trưởng kinh

tế có thể hiểu là kết quả của mọi quá trình hoạt động kinh tế trong lĩnh vực sản xuất cũng như trong lĩnh vực dịch vụ được tạo ra trong một kỳ nhất định Nếu sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong một quốc gia tăng lên, nó được coi

là tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng cũng được áp dụng để đánh giá cụ thể đối với từng ngành sản xuất, từng vùng của một quốc gia

Trang 17

Phát triển bao hàm nghĩa rộng hơn, phát triển bên cạnh bình quân thu nhâp trên đầu người còn bao gồm nhiều khía cạch khác Sư tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hoá, sự tham gia của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là một nội dung của sự phát triển Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững về các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dung, vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường

2.1.1.3 Khái niệm về làng nghề

Làng, xã của nước ta xuất hiện từ rất lâu đời, nó gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp của nhóm dân cư Theo các nhà nghiên cứu sử học: Làng, xã Việt Nam xuất hiện từ thời Vua Hùng dựng nước, những xóm làng được hình thành, dựa trên cơ sở những công xã nông thôn Mỗi công xã nông thôn gồm một số gia đình sống quây quần bên nhau trên một phạm vi địa giới nhất định cùng nhau sản xuất, cùng nhau chống đỡ với thiên nhiên, nhưng sinh hoạt của họ độc lập với nhau Cuộc sống của người dân trong làng được gắn kết với nhau bởi những khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tín ngưỡng, lễ hội, tập tục, luật lệ riêng của làng Buổi ban đầu, hầu hết người dân trong làng đều sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp Nhưng do yêu cầu của đời sống sinh hoạt, một số người dân trong làng đã nảy sinh làm nghề đan lát, nghề rèn, nghề dệt, để tạo ra những sản phục vụ đời sống và sản xuất; do đó đã hình thành những nghề phụ thủ công Trong quá trình phát triển sản xuất, một bộ phận người dân trong làng đã đi sâu phát triển ngành nghề, độc lập với sản xuất nông nghiệp, họ liên kết với

Trang 18

phường mộc, Về sau do nhu cầu trao đổi hàng hoá và phân công lao động

xã hội thì các nghề được phát triển mang tính chất chuyên sâu, số lượng người chuyển sang làm nghề thủ công tăng dần và sinh sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề thủ công Từ đó nghề thủ công được lan truyền và phát triển thành làng nghề, nghề được truyền từ đời này qua đời khác nên đã tạo ra làng nghề truyền thống Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang nặng dấu ấn tinh hoa, bản sắc văn hoá, văn minh của dân tộc Quá trình phát triển của làng nghề gắn liền với quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Lúc ban đầu là

sự phát triển của một vài gia đình, một vài dòng họ rồi lan truyền cả làng, từ đời này qua đời khác, họ thề ước với nhau thông qua luật lệ của làng, không truyền nghề cho người làng khác, con gái lấy chồng làng khác không được mang nghề đi theo, phải giữ bí quyết nghề của làng Đây chính là điểm khác biệt giữa làng nghề truyền thống với làng nghề mới Trải qua thời gian dài của lịch sử, làng nghề phát triển lúc thịnh, lúc suy, có nghề giữ được, có nghề mất đi, nghề mới xuất hiện Gắn liền với quá trình phát triển của làng nghề, quan niệm về làng nghề cũng được xuất hiện và phát triển thành nhiều quan điểm khác nhau

Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về “Làng nghề” Trong cuốn “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa”- TS Mai Thế Hởn có viết: Xung quanh vấn đề về cách quan điểm như thế nào là một làng nghề có rất nhiều cách khác nhau Tuy nhiên tựu chung lại có 3 quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất:

Làng nghề là nơi hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề

ấy và nó là nghề sống chủ yếu

Trang 19

Quan điểm thứ hai:

Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, nhưng không nhất thiết toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công Người thợ thủ công nhiều khi cũng làm nghề nông nhưng do chuyên môn họ chuyển sang sản xuất thủ công ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác

Quan điểm thứ ba:

Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên môn làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết

hỗ trợ trong sản xuất bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng có tổ nghề

Tuy nhiên, quan điểm như vậy xét trong điều kiện ngày nay là chưa đầy

đủ tính chất của làng nghề, nó không chỉ tồn tại và phát triển như một thực thể sản xuất kinh doanh một cách lâu đời trong lịch sử mà nó có tác dụng to lớn đối với đời sống văn hóa tinh thần đối với người dân

Mới đây, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã đưa

ra ý kiến đóng góp của mình vào bản Dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định số 66/NĐ- CP về phát triển ngành nghề nông thôn Trong bản đóng góp ý kiến VCCI đã đề cập và đưa ra khái niệm về làng nghề như sau:

“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phun sóc, hoặc các điểm dân cư tương tự trên một xã, thị trấn (được gọi chung là làng), có hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”

2.1.1.4 Làng nghề truyền thống

Trang 20

triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc Trần Minh Yến 2004, Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội

So với khái niệm làng nghề thì khái niệm làng nghề truyền thống tương đối phổ biến vễ thống nhất hơn không chỉ nước ta mà còn nhiều nơi khác trên thế giới, nhất là ác nước ở trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc

Làng nghề truyền thống là làng nghề đã hình hình từ lâu đời (thường là trên 50 năm tính từ thời điểm 1954) sản phẩm có tỉnh chất riêng biệt mang đặc thù, giá trị văn hóa lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề cha truyền con nối hoặc gia đình dòng tộc

The định nghĩa này thì một nghề được xếp vào các nghề thủ công truyền thống cần hội tụ đủ các yếu tố sau:

+ Đã hình thành và phát triển lâu đời

+ Sản xuất tập trung và tạo thành làng nghề

+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề

+ Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định

+ Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất + Sản phẩm tiêu biểu độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa của dân tộc, mang bản sắc văn hóa Việt Nam, với những giá trị văn hóa phi vật thể rất cao

Trang 21

+ Làng nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể vào ngân sách của nhà nước

Từ những quan niệm như vậy ta co thể hiểu rằng: Làng nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất hiện từ lâu trong lịch

sử phát triển kinh tế của nước ta, còn tồn tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất, nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống

2.1.2 Vai trò của bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

2.1.2.1 Bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc

Một số sản phẩm của làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống, mang tính nghệ thuật cao, mang đặc tính riêng có của làng nghề và những sản phẩm

đó trở thành sản phẩm văn hoá, được coi là biểu tượng của cái đẹp mang truyền thống dân tộc Sản phẩm truyền thống của làng nghề là nét đặc sắc, biểu trưng cho nền văn hoá cộng đồng làng xã Việt Nam Nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam qua những mặt hàng thủ công truyền thống Nghề truyền thống chính là di sản quý giá mà cha ông ta đã tạo lập và để lại cho đời sau nên phát triển làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống, chính là giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là rất cần thiết vì suy cho đến cùng nền văn hoá của mỗi dân tộc sẽ có

tính chất quyết định sự tồn tại của dân tộc đó Nhưng việc phát triển làng nghề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc cần gắn với việc hiện đại hoá để tăng cạnh tranh của sản phẩm Việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc đòi hỏi quá trình hiện đại hoá sản xuất làng nghề đi liền với bảo tồn văn hoá dân tộc, phong tục tập quán tốt đẹp của làng nghề

Việc phát triển làng nghề còn góp phần nâng cao đời sống văn hoá và

Trang 22

tinh thần cho cư dân nông thôn Ở làng nghề truyền thống, nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến văn hoá tinh thần, tác động đến tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán, lề lối làm việc của làng làm cho đặc trưng văn hoá nghề nghiệp cũng mang đậm nét ở những nơi đó Các sản phẩm làng nghề do các nghệ nhân làm ra thường mang tính nghệ thuật nhất định Họ làm ra nhiều loại sản phẩm khác nhau mang đậm nét văn hoá đã làm phong phú thêm đời sống văn hoá cho xã hội và người sử dụng Trong tất cả các làng nghề truyền thống đều

có tục lệ thờ tổ nghề và ngày giỗ tổ được xem như là ngày hội làng Đây là nét đẹp văn hoá truyền thống của người Việt Nam

Qua làng nghề có thể hiểu thêm văn hoá của nghề, hiểu thêm một phương diện của con người, một sắc thái văn hoá của con người và quê hương đất nước Tuy quy mô nhỏ công nghệ còn lạc hậu nhưng so với hoạt động nông nghiệp, hoạt động tiểu thủ công nghiệp, làng nghề nông thôn là bước tiến trong trình độ sản xuất của nông thôn như trình độ trang bị, yêu cầu gắn kết với thị trường Do đó, bảo tồn và phát triển làng nghề góp phần không nhỏ trong việc cải biến những hạn chế tiểu nông của nông dân

2.1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của phát triển làng nghề truyền thống

Vịêc phát triển nghề truyền thống ở nông thôn có vai trò rất to lớn đó là:

◊ Nghề truyền thống ở nông thôn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên một bước mới về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp.Với mục tiêu như vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

Trang 23

thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển, các nghề truyền thống có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trong nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.Thực tế trong lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nghề truyền thống ngay từ đầu đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội nông thôn Ở nông thôn, khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn thôn không chỉ còn ngành nông nghiệp thuần nhất, mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển

◊ Phát triển nghề truyền thống góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn:

Các nghề truyền thống góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay Khi đất đai canh tác ngày càng bị thu hẹp, lao động ngày càng dư thừa thì vấn đề đặt

ra là phải làm sao giải quyết được công ăn việc làm cho lực lượng dư thừa này, đồng thời tăng thu nhập cho các hộ gia đình trong điều kiện sản xuất còn hết sức hạn chế Theo tình toán của cac chuyên gia thì hiện nay thời gian lao động dư thừa ở nông thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng Do vậy vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho số la động này là rất khó khăn.Phát triển các nghề truyền thống ở nông thôn là một trong những cách giải cho bài toán này

Sự phát triển của các nghề truyền thống đã kéo theo sự phát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất

Trang 24

hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động Nghề chế biến lương thực, thực phẩm không chỉ có tác dụng

Hơn nữa, sản phẩm của các nghề truyền thống ở Việt Nam ngày càng được du khách nước ngoài chú ý, do vậy kim ngạch xuất khẩu cho các sản phẩm này ngày càng tăng, góp phần cải thiện đời sống, cơ sở vật chất cho người dân nông thôn

◊ Góp phần thu hút vốn nhà rỗi, tận dụng thời gian lao động dư thừa, hạn chế di dân tự do: Đặc điểm sản xuất của các nghề truyền thống là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và nguồn lực vật chất của các hộ gia đình.Với mức vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để có thể huy động vốn nhàn nhãn rỗi trong dân cho hoạt động sản xuất của các nghề Mặt khác, do đặc điểm sản xuất của các nghề truyền thống là sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có thể tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi Trẻ em tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc Lực lượng lao động này chiềm một tỷ lệ rất đáng kể trong tổng số lao động ở các nghề

Cùng với việc tận dụng thời gian và lực lượng lao động, sự phát triển của cac nghề truyền thống đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự do ở nông thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác Sức ép

về việc làm và thu nhập đã thúc đẩy người nông dân di dân để tìm nơi mới có việc làm và thu nhập khá hơn Khi nghề truyền thống ở nông thôn phát triển sẽ là một động lực lớn để cản trở vấn đề di dân tự do này

Trang 25

◊ Đa dạng hoá kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hoá: Đa dạng hoá kinh tế nông thôn là một biện pháp thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông thôn phát triển, tạo ra một sự chuyển biến mới về chất, góp phần phát triển kinh tế, xã hội nông thôn.Vì vậy trong kinh tế nông thôn phát triển nghề truyền thống được coi là cơ sở và là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện quá trình này.Trong thực tế nó đã thể hiện

rõ vai trò thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, kích thích sự ra đời

và phát triển của các nghề khác như dịch vụ, thương mại

◊ Góp phần cải thiện đời sống nhân dân và góp phần xây dựng nông thôn mới: Việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở ổn định việc làm và nâng cao thu nhập, Ở những vùng có nghề truyền thống phát triển đều thể hiện sự văn minh, giàu có, dân trí cao hơn hẳn những vùng chỉ có thuần tuý san xuất nông nghiệp.Ở những nơi có nghề thì tỉ lệ hộ khá và giàu thường rất cao, tỉ lệ hộ nghèo thường rất thấp và hầu như không có hộ đói Thu nhập từ nghề thủ công chiểm tỉ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho người dân một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần

Ở những nơi có nghề thủ công thì người nông dân cùng với sự đổi mới trong đời sống kinh tế , văn hoá của người dân là quá trình xây dựng và đổi mới nông thôn theo hướng hiện đại hoá

2.1.3 Đặc điểm của bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

Khi nói đến làng nghề, thường có sự so sánh đặc điểm của nó với làng thuần nông hoặc phố nghề (tiểu thủ công nghiệp ở đô thị) Trong lịch sử phát triển, do xuất phát điểm từ nền nông nghiệp tự túc và nông thôn phát triển ở trình độ thấp, có thể thấy những đặc điểm nổi bật của làng nghề hiện nay là:

ra đời, phát triển ở nông thôn và có mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp;

Trang 26

lao động mang nặng tính chất thủ công; hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu; đa số sản phẩm được sản xuất có tính chất đơn chiếc và nhiều sản phẩm mang bản sắc văn hoá của vùng, từng dân tộc

Cùng với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và quá trình phát triển đô thị, làng nghề cũng không ngừng biến đổi Có thể thấy những đặc điểm sau đây của làng nghề:

2.1.3.1 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm

Đặc điểm về sản phẩm

Đặc điểm riêng nhất, đặc sắc nhất của sản phẩm truyền thống là độc đáo và có tính nghệ thuật cao Đặc điểm này được quy định bởi `kỹ thuật công nghệ sản xuất thủ công đã có hàng trăm năm và hàng ngàn năm còn tồn tại cho đến ngày nay Sản phẩm của mỗi làng, mỗi vùng có đặc trưng riêng, trình độ kỹ thuật riêng Các sản phẩm đều có sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Ở mỗi sản phẩm là sự diễn tả các hoạt động của con người đang lao động sản xuất,

là phong tục, truyền thống, là tín ngưỡng, tôn giáo, là ước muốn của con người trong chinh phục thiên nhiên

Sản phẩm truyền thống có tính riêng lẻ, đơn chiếc vì sản phẩm được sản xuất ra do từng cá nhân thực hiện bằng một công cụ thủ công nên không thể sản xuất hàng loạt mà sản xuất từng chiếc một Điều đó tạo nên sự hấp dẫm riêng, một sắc thái riêng

Sản phẩm truyền thống rất đa dạng, phong phú do phải đáp ứng các nhu cầu của đời sống kinh tế và văn hoá của người lao động Nó bao gồm nhiều chủng loại như sản phẩm là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt

Trang 27

và sản phẩm nghệ thuật Sản phẩm không chỉ đáp ứng các nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu

Đặc điểm kỹ thuật và công nghệ

Đặc điểm đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuật thủ công mang tính truyền thống, dòng họ Công cụ sản xuất la công cụ thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra Công nghệ của nghề thủ công hầu như phụ thuộc vào tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của người thợ Sản phẩm đòi hỏi khéo léo và kinh nghiệm tích luỹ được

Một đặc tính quan trọng của công nghệ truyền thống là không thể thay thê hoàn toàn bằng một công nghệ hiện đại, mà chỉ có thể thay thế ở một số khâu sản xuất nhất định Đây là một trong những yếu tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm

Một đặc điểm khác cần được xem xét là kỹ thuật công nghệ trong các nghề truyền thống hầu hết kà thô sơ, lạc hậu Xuất phát từ nhiều lý

do như vốn ít, mặt bằng sản xuất chật hẹp, cộng thêm với thói quen sản xuất của người tiểu nông nên công nghệ chậm được cải tiến và thay thê Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo nên một sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Sự kết hợp này đã đem lại những ưu thế đặc biệt quan trọng: Tạo ra năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm cao hơn, giảm bớt được sự nặng nhọc và độc hại cho người lao động Do vậy nhiều nghề truyền thống đã được đầu tư máy móc, thiết bị

2.1.3.2 Đặc điểm về kinh tê, xã hội

Đặc điểm về sự gắn bó với sản xuất nông nghiệp và nông thôn

Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp nhưng

Trang 28

không rời khỏi nông thôn Sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công nghiệp trong làng nghề đan xen lẫn nhau Người thợ thủ công trước hết

và đồng thời là người nông dân Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừa làm nghề sản xuất thủ công nghiệp Sự ra đời của làng nghề đầu tiên là do nhu cầu giải quyết lao động phụ, lao động dư thừa nhàn rỗi giữa các mùa vụ

và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình và từng làng xã Trong làng nghề, người nông dân thường tự sản xuất đáp ứng phần lớn nhu cầu ít ỏi về hàng tiêu dùng của mình Về sau, khi xuất hiện những hộ chuyên sản xuất làm cơ cấu ngành nghề thủ công nghiệp thì sản phẩm của họ chủ yếu cũng phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của những người nông dân trước hết ở trong làng - xã mình và ở các làng - xã lân cận trong vùng Mặt khác trong làng nghề, đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề sản xuất thủ công nghiệp vẫn còn tham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định và đặc biệt là hầu hết là các hộ đều giữ đất nông nghiệp để tự mình trồng trọt hoặc thuê mướn người làm nông nghiệp cho mình

Lao động trong làng nghề là lao động thủ công

Lao động trong làng nghề đặc biệt là làng nghề truyền thống, chủ yếu

là lao động thủ công nhờ vào kỹ thuật khéo léo Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là lao động thủ công, giản đơn Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất làng nghề, đã giảm bớt lực lượng lao động thủ công giản đơn Tuy nhiên, một số công đoạn trong quá trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo Hầu hết các làng nghề dù hình thành bằng con đường nào đi chăng nữa thì chúng đều có các nghệ nhân làm nòng cốt và là người thầy hướng dẫn đến phát triển làng nghề

Trang 29

Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại từng làng Các kinhnghiệm sản xuất thường được bảo tồn trong từng gia đình, ít được phổ biến ra bên ngoài Trong những năm đổi mới với việc phát triển mạnh kinh tế

tư nhân và hộ gia đình cá thể trong làng nghề đã phục hồi phương thức dạy nghề theo lối truyền nghề đã có nhiều thay đổi mang tính đa dạng và phong phú hơn và các bí quyết nghề nghiệp không còn giữ được bí mật như trước Phương thức dạy nghề, kèm nghề theo lối truyền nghề kèm cặp của người thợ

cả đối với thợ phụ và thợ học việc

Sản phẩm làng nghề mang đậm bản sắc dân tộc

Sản phẩm thủ công của làng nghề được hình thành là do sự kết hợp giữa lao động khéo léo của thợ thủ công với kinh nghiệm được tích luỹ qua nhiều thế hệ và trải qua thời gian, tích luỹ thành bí quyết nghề nghiệp - điều kiện tạo nên sắc thái riêng của sản phẩm Công nghệ sản xuất sản phẩm thủ công trong làng nghề khó có thể thay thế bằng công nghệ hiện đại ở một số khâu, nên người thợ vẫn dùng kỹ thuật thủ công để tạo nên tính truyền thống cho sản phẩm Nếu không có hoạt động sản xuất thủ công của các nghệ nhân thì sản phẩm của làng nghề không còn mang tính đặc trưng

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề còn hạn chế

Sự ra đời của làng nghề, đặc biệt đối với làng nghề sản xuất tương, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của địa phương Thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh Vì vậy, khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường thì làng nghề sản xuất tương Bần đã đứng trước những khó khăn không nhỏ và nhiều hộ sản xuất trong làng nghề đã lâm vào tình trạng điêu đứng

Trang 30

Hình thức tổ chức sản xuất trong làng nghề truyền thống

Trong thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp, làng nghề truyền thống được gọi là “đội ngành nghề” của hợp tác xã như: đội gốm, đội mộc, đội nề, đội làm sơn mài Nơi có đông thợ thủ công thì thành lập hợp tác xã thủ công nghiệp Nhưng dần “đội ngành nghề” hay “hợp tác xã thủ công nghiệp” hoạt động kém hiệu quả và không tồn tại được nữa

Từ khi bước vào cơ chế mới, quy mô sản xuất trở về với mô hình truyền thống là hộ gia đình, đồng thời xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, các hình thức hợp tác xã và hợp tác xã kiểu mới Trên cơ

sở các hình thức sở hữu này, các doanh nghiệp các hợp tác xã có bước phát triển và được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, trong những năm qua, hình thức tổ chức kinh doanh theo hộ gia đình vẫn chiếm ưu thế ở các làng nghề truyền thống

Hầu như tất cả các thành viên trong hộ đều được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh Người chủ gia đình thường đồng thời là người thợ cả, người quản lý mà trong số họ có không ít nghệ nhân Tổ chức sản xuất - kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng

có khả năng lao động tham gia sản xuất - kinh doanh, tận dụng được thời gian

và nhu cầu đầu tư thấp (sử dụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất) Đây là hình thức tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ Từ khi thực hiện phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư về mọi mặt để thành lập doanh nghiệp nhằm đáp ứng yếu tố sản xuất, thị trường cho các sản phẩm của làng nghề

Trang 31

2.1.4 Nội dung bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống

2.1.4.1 Nội dung bảo tồn làng nghề truyền thống

ra và truyền lại cho các thế hệ sau

Cùng với việc thống kê, nghiên cứu, quy hoạch bảo tồn và phát triển làng nghề, các khu tiểu thủ công nghiệp, cần thiết phải bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề Đó là kho tàng các kinh nghiệm, kỹ thuật, bí quyết truyền nghề từ việc sử dụng nguyên vật liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo cho từng sản phẩm của mỗi làng nghề Bởi vì quá trình lao động tức là quá trình sáng tạo; trong mỗi sản phẩm đơn chiếc ấy là kinh nghiệm, là kỹ thuật,

là bí quyết của nghệ nhân, người thợ thủ công, và họ còn thổi vào sản phẩm

ấy cả tâm hồn và ý niệm Ví dụ, từ những tảng đất vô tri vô giác, bằng sức lao động sáng tạo, những người thợ thủ công đã tạo ra hàng vạn sản phẩm tuyệt vời, mà ở đó là tư duy, là kinh nghiệm được đúc rút qua bao thế hệ Mỗi sản phẩm còn là khúc tuỳ hứng, khát vọng của con người và của cả cộng đồng

Đó chính là phần tồn tại vô hình cần được bảo tồn của làng nghề và sản phẩm của làng nghề

Trang 32

Bảo tồn về văn hóa

Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá dân tộc: Các làng nghề và ngành nghề TTCN gắn liền với lịch sử phát triển nền văn hoá Việt Nam Các sản phẩm làng nghề chứa đựng các phong tục, tập quán, tín ngưỡng mang sắc thái riêng có của dân tộc Việt Nam Nhiều sản phẩm làng nghề

có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những thành tựu, phát minh mà con người đạt được

Phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là yếu tố quan trọng để duy trì

và phát triển bền vững làng nghề Từ xa xưa, lịch sử Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển làng nghề ‘Mỗi làng nghè có một địa chỉ văn hóa, nó phản ánh nét văn hóa đặc trưng của từng địa phương, của từng vùng” Làng nghề luôn thể hiện nét văn hóa độc đáo, mỗi sản phẩm mang đặc trưng riêng của từng làng nghề, theo thời gian một số sản phẩm đã vượt qua giá trị văn hóa đơn thuần góp phần làm nên văn hóa dân tộc Có được thành quả như vậy nhờ sự kết tinh, hội tụ qua lao động của các thế hệ cha truyền con nối, cứ mỗi thế hệ lại sinh ra một nét độc đáo

Thêm vào đó, làng nghề còn là nơi tổ chức lễ hội thường niên để tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn các vị tổ nghề, nhắc nhở thế hệ sau tôn kính và tự hòa với những giá trị nghề nghiệp mà ông cha để lại và khuyến khích tục nghề sang các thế hệ sau Chẳng hạn làng nghề Gốm Bát Tràng lễ hội thường diễn ra từ 14 dến 22 tháng 2 âm lịch hàng năm với việc tế tự ở đình ở căn chỉ, rước lễ trên sông và quanh làng, các cuộc thi văn, thơ và đặc biệt thi tay nghề, thử tài Đẩy là nét sinh hoạt văn hóa rất sôi động, điều đó thể hiện giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt dấu ấn văn hóa dân gian

Làng nghề không chỉ đơn thuần làm ra các sản phẩm hàng hóa, mà còn là nơi bảo tồn giữ gìn giá trị văn hóa tinh thần: phản ánh sinh động lối sống và nếp sống giàu tính nhân văn Trong điều kiện mở của hội nhập các sản phẩm làng

Trang 33

nghề còn góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam với du khách nước ngoài Ngược lại đây cũng là cơ hội để khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống nhất là các sản phẩm có tính đặc trưng cho bản sắc văn hóa Việt Nam

Bảo tồn về nghệ nhân, công nghệ và bí quyết

Việc tôn vinh các nghệ nhân, những người thợ thủ công của các làng nghề cũng là một yêu cầu đặt ra đối với việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Cần thẳng thắn thừa nhận rằng, việc này còn là một thiếu sót Nguyên nhân ban đầu có thể do nhận thức chưa đúng rằng làng nghề chỉ đơn thuần là hoạt động kinh tế phụ Do đó, các giá trị vô hình và đặc biệt là bàn tay khối óc và tâm hồn của những người thợ tài ba làm ra sản phẩm, những nghệ nhân lại dễ

bị lãng quên Nghệ nhân không phải là người lao động bình thường, ở họ ngoài tài ba khéo léo của đôi bàn tay, họ còn giữ trong mình những bí quyết,

kỹ thuật cha truyền con nối và cả những tài hoa, có khi xuất thần, khó giải thích bằng lời Ngoài sự sáng tạo, nghệ nhân còn có sứ mệnh truyền nghề cho các thế hệ sau Vì vậy việc tôn vinh nghệ nhân không đơn thuần chỉ là đánh giá công lao và tỏ lòng kính trọng, mà hơn thế, đây là một hoạt động, một phương pháp, mộtnội dung nhằm bảo tồn được các giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề truyền thống

Mỗi ngành nghề đều có đặc trưng riêng của nó, vê phương thúc sản xuất Đặc biệt đối với những nghề truyền thống như nghề gốm sứ Bát Tràng, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề làm nón, ngề chạm khắc gỗ Những nghề này yêu cầu các sản phẩm phải có sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sang tạo nghệ thuật để tạo ra sản phẩn hàng thủ công mỹ nghệ Mỗi nghề có cách làm khác nhau, có những bí quyết riêng để tạo ra được sản phẩm đặc săc Chúng ta cần gìn giữ những bí quyết công nghệ này, không để mai một và mất đi Đời trước truyền đạt lại cho đời sau, kết hợp với hiện đại để ngày càng tạo ra sản phẩm đặc sắc hơn

Trang 34

Cần tiến hành nghiên cứu để bảo tồn tục thờ tổ nghề và các lễ hội gắn liền với sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tinh thần của các làng nghề Tục thờ tổ nghề và lễ hội làng nghề được cư dân làng nghề và xã hội coi trọng Thờ tổ nghề là một nét văn hóa truyền thống chứa đựng ý nghĩa lịch sử xã hội, đời sống và con người Từ đặc trưng văn hóa này cho phép chúng ta mở rộng sự nghiên cứu về “nghề”, về “nghiệp”, về yếu tố “bản địa”, “sự thiên di” hay khả năng lan tỏa của mỗi nghề hay mỗi làng nghề Cùng với tục thờ tổ nghề là các

lễ hội dân gian là những sinh hoạt cộng đồng Lễ hội sẽ phản ánh đặc trưng của nghề, của cơ cấu làng nghề và những quy lệ Ở đây ngoài yếu tố tâm linh còn chứa đựng sự ghi nhận những kinh nghiệm, quá trình phát triển, sự biến động và quá trình giao thoa của “nghề” và làng nghề đó Như vậy, việc thờ tổ nghề và lễ hội làng nghề là một hoạt động, một bộ phận văn hóa tạo nên bức tranh đầy đủ về làng nghề, do vậy việc bảo tồn nó cũng như các giá trị khác là hết sức cần thiết

Như vậy: Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc bảo tồn các giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước đang là một vấn đề thời sự, trong đó vấn đề bảo tồn và phát huy làng nghề thủ công truyền thống đang trở thành vấn đề quan tâm của ngành văn hóa mà còn là của toàn xã hội và đặc biệt là cộng đồng cư dân, nơi hiện có các làng nghề truyền thống Vì vậy, công tác bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề truyền thống là không thể thiếu khi tiến hành thành lập các khu tiểu thủ công nghiệp, cũng như trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn.

2.1.4.2 Nội dung về phát triển làng nghề truyền thống

Huy động nguồn lực

Diện tích đất ngày càng bị thu hẹp nên tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm có nguy cơ gia tăng, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn việc bảo

Trang 35

tồn và phát triển làng nghề phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm cho người lao động đang ngày càng dư thừa một cách nhanh chóng ở địa phương nơi đây và lân cận Sự phát triển làng nghề không chỉ thu hút lao động dư thừa ở gia đình mình, làng - xã mình, mà còn có thể thu hút được nhiều người lao động từ các địa phương khác đến làm thuê Không chỉ vậy, sự phát triển của làng nghề còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề dịch vụ khác, tạo được nhiều việc làm cho người lao động

Thực tế ở một số làng nghề cho thấy phát triển làng nghề góp phần đáng kể trong giải quyết việc làm ổn định, nâng cao đời sống cho người dân nơi đây Thực tế cho thấy năm 1997, các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh đã giải quyết cho 34.120 lao động; trong đó lao động ở trong các làng nghề là 31.050 lao động và lao động thuê ngoài là 3.070 lao động Năm 1998, các làng nghề

ở Hưng Yên đã giải quyết cho 12.391 lao động Năm 1997, các làng nghề ở

Hà Tây đã giải quyết việc làm cho 113.956 lao động Năm 1998, lao động trong các ngành nghề TTCN ở Vĩnh Phúc khoảng 22.000 lao động…

Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2.430 lao động của xã còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5.500 – 6.000 lao động của các khu vực lân cận đến làm thuê hàng năm Nghề sản xuất da và giả da ở làng Kiêu Kỵ ( Hà Nội) thu hút tới 1.400 lao động của làng vào làm việc

Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động ở nông thôn

Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, làng nghề truyền thống không đòi hỏi số vốn đầu tư quá lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công

cụ thủ công, thô sơ mà những người thợ trong làng nghề đều có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được Hơn nữa, đặc điểm của sản xuất ở làng nghề truyền

Trang 36

khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia đình Với mức vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Chẳng hạn, theo kết quả điều tra của Cục Chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), thì bình quân vốn của một doanh nghiệp ở nông thôn ĐBSH khoảng trên 1 tỷ đồng; trong khi đó vốn bình quân của một hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp khoảng 20,5 triệu đồng và của một hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề chỉ có khoảng 9,2 triệu đồng Trong đó các hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp thì đại bộ phận có quy mô vốn từ 10 - 30 triệu đồng (chiếm 49,5%), tiếp đến

là loại có quy mô từ 5 - 10 triệu đồng (20,6%), dưới 5 triệu đồng cũng chiếm tới 16,4%, số trên 30 triệu đồng chỉ chiếm có 13,5% Ngoài vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động chính hàng năm, kinh tế làng nghề còn tận dụng thu hút lực lượng lao động mùa vụ nông nhàn và lực lượng lao động phụ (người già, trẻ em và học sinh) Chẳng hạn, số lao động dưới độ tuổi lao động tham gia làm nghề chạm khắc gỗ ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) chiếm tới 25% tổng số lao động làm nghề; tỷ lệ đó ở làng chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình)

là 20%

Do đặc điểm sản xuất của làng nghề là sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi Trẻ em tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc Lực lượng này chiếm một tỷ lệ rất đáng kể trong số lao động làm nghề

Việc làm đầy đủ, thu nhập đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao làm cho người lao động nói riêng, người dân nói chung ở làng

Trang 37

nghề sẽ yên tâm bám chặt lấy nghề, lấy quê hương Họ sẽ tích cực, hăng hái lao động, sản xuất, kinh doanh để làm giàu cho bản thân, gia đình mình và xây dựng quê hương, làng xã họ ngày một khang trang, giàu đẹp, văn minh

Họ sẽ không phải đi “tha hương cầu thực”, đi tìm việc làm ở những nơi thị thành hoặc ở địa phương khác Điều đó sẽ hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng di dân tự do, một trong những vấn đề nan giải hiện nay ở nước ta Đồng thời nó cho phép thực hiện được phương châm “rời ruộng mà không rời làng”

và thực hiện được quá trình đô thị hoá phi tập trung

Tổ chức thực hiện

Sự phát triển làng nghề đã góp phần làm cho tỉ trọng của ngành nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Đồng thời, nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ, độc canh mang tính tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá, hoặc tiếp nhận công nghệ mới có liên quan đến nghề sẽ không mấy khó khăn so với nông dân ở các ngành thuần nông

Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong làng nghề cũng thuận lợi hơn và gia tăng nhanh chóng hơn Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong làng nghề dễ dàng tiếp cận với kinh doanh lớn, công nghiệp lớn - hiện đại làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp lớn hiện đại, là bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn - hiện đại và đô thị hoá Sự chuyển dịch của làng nghề là một trong những hướng rất quan trọng để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH

Ở những địa phương có nhiều làng nghề và ở các làng nghề phát triển, thường tỷ trọng GDP và lao động trong công nghiệp, T- TCN, dịch vụ tăng

Trang 38

lên nhanh trong tổng GDP và lao động ở nông thôn Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập từ các hoạt động kinh tế của nông dân Bình quân, giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn chiếm khoảng 60% - 80% tổng giá trị sản lượng công nghiệp của các tỉnh

Chẳng hạn, giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn Thái Bình chiếm khoảng xấp xỉ 75% tổng giá trị công nghiệp địa phương toàn tỉnh Tỷ lệtương ứng đó ở Bắc Ninh là 73,7%, ở Hà Nam và Nam Định là 69,9% Làng Trai Trang (Hưng Yên) thu nhập từ ngành nghề phi nông nghiệp chiếm tới gần 80% thu nhập của xã Làng Bát Tràng (Hà Nội) thu nhập từ ngành nghề phi nông nghiệp chiếm 99% tổng thu nhập toàn xã (riêng nghề gốm sứ chiếm tới 86%) Tỷ trọng doanh thu của làng Đa Hội (Bắc Ninh) chiếm tới 90% tổng giá trị sản xuất – kinh doanh cả xã Thu nhập của khảm trai Chuyên Mỹ (Hà Tây) chiếm 85% tổng thu nhập của cả xã

Sản xuất

* Về lao động và sử dụng lao động

Lao động ở LNTT được sử dụng trên địa bàn nông thôn và làm việc chủ yếu tại các hộ gia đình Quy mô lao động nhỏ, bình quân một hộ hoặc tổ sản xuất có khoảng 3-4 lao động thường xuyên và 2-3 lao động thời vụ, ở các

cơ sở có 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ Số hộ và cơ sở

sử dụng nhiều lao động rất ít Người lao động có trình độ văn hóa khá nhưng

ít được đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật chủ yếu làm việc theo hường dẫn và truyền nghề trực tiếp Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở các cơ sở khoảng 35%, ở hộ từ 54-78%

Tuy nhiên , thực tế cho thấy là quy mô lao đọng tại các hộ chuyên môn luôn lớn hơn các hộ khác, thu nhập và doanh thu cũng cao hơn Qua đó cần

Trang 39

đẩy mạnh phát triển ngành nghề theo hướng tăng quy mô lao động tại các hộ chuyên là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút lao động dư thừa trong nông thôn, đồng thời tạo điều kiện để các hộ chuyên phát triển thành các doanh nghiệp, HTX có quy mô sản xuất và khả năng cạnh tranh cao Lao động hoạt động trong LNTT gồm lao động chuyên với trình độ tay nghề cao và cả lao động phổ biến và lao động tận dụng Song trình độ tay nghề của từng loại lao động lại phù hợp với yêu cầu kỹ thuật trong từng khâu công việc khác nhau, từ đó tạo ra sự phân công, phối hợp lao động mang tính chuyên môn hóa cao, đa dạng trong sử dụng lao động và nâng cao được hiệu quả sử dụng lao động

* Về nhà xưởng, trang thiết bị và công nghệ

Đầu tư về nhà xưởng, trang thiết bị cho sản xuất LNTT còn nhỏ bé theo hướng tận dụng thậm chí nơi sản xuất cũng chính là nơi ở, nghỉ ngơi dẫn đến

vệ sinh môi trường sống bị ảnh hưởng

Công cụ phần lớn là thủ công, trang thiết bị lạc hậu, trình độ cơ khí hóa còn thấp, mới sử dụng được 37-40% những chỉ là thiết bị lạc hậu, thải loại từ công nghiệp thành thị

Công nghệ LNTT trong nông thôn được tích lũy từ người dân là chính,

nó gắn liền với tính truyền thống bởi vì không dễ bắt trước mà nó là công nghệ bí truyền chứ không phải là công nghệ phổ biến, Đây cũng chính là đặc điểm rất khác so với các hoạt động sản xuát khác khi chúng ta muốn cải tiến công nghệ

* Về nguyên liệu và sản phẩm

Nguyên liệu dùng cho sản xuất trong LNTT chủ yếu được lấy từ tự nhiên, các sản phẩm nông lâm sản khai thác tại địa phương và trong nước như đất sét, cao lanh, gỗ, mây, tre, nứa, lá cây, gạo, sắn, sợi

Trang 40

Song việc tổ chức khai thác nguyên liệu chưa tốt, quá trình khai thác cho sản xuất ngày càng nhiều nên nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, nơi sản xuất ngày càng xa nơi cung cấp nguyên liệu là cho giá thành sản xuất tăng Nguyên liệu phụ thuộc nhiều từ bên ngoài, việc sơ chế còn thủ công, chất lượng giảm làm cho chất lượng sản phẩm thấp

Sản phẩm của nông nghiệp nông thôn có chu kỳ sản xuất ngắn Vì vậy, khi sản xuất ra không tiêu thụ dược sẽ tác động tới sản xuất và đời sống của người lao động Do đó, sản phẩm rất dễ bị phân loại, ép gá của tư thương gây thiệt hại cho người sản xuất

Thị trường tiêu thụ

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của LNTT chủ yếu là trong nước, chiếm 80% sản phẩm của các ngành nghề Sản phẩm tham gia xuất khẩu chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ và hàng mang đặc tính bản địa như: các sản phẩm vòng cổ, lắc, nhẫn, dây chuyền, nón lá

Ở trong nước thị trường du lịch cũng là một thị trường tiềm năng của sản phẩm của LNTT Tuy nhiên sản phẩm của ngành còn đơn điệu, chất lượng thấp, mẫu mã, bao bì chưa hấp dẫn, không theo kịp tốc độ phát triển của đời sống xã hội trong nước cũng như thị hiếu của người nước ngoài

Kết quả và hiệu quả kinh tế

Sự phục hồi và phát triển các làng nghề có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương Với quy mô nhỏ bé, hàng năm làng nghề cũng đã sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho địa phương nói riêng Sản phẩm của làng nghề là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn

Chẳng hạn, tổng giá trị sản phẩm hàng hoá của các làng nghề tỉnh Nam Định đạt khoảng 224 tỷ đồng/năm, riêng 3 làng Vân Chàng, Đồng Côi, Thôn

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Ân Thi - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Ân Thi (Trang 60)
Bảng 3.1 Tình hình biến động đất đai của huyện trong những 3 năm qua 2011- 2013 - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 3.1 Tình hình biến động đất đai của huyện trong những 3 năm qua 2011- 2013 (Trang 63)
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động trong 3 năm qua 2011-2013 - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động trong 3 năm qua 2011-2013 (Trang 65)
Bảng 3.3 Tình hình biến động về kinh tế xã hội trong 3 năm qua 2011 – 2013 - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 3.3 Tình hình biến động về kinh tế xã hội trong 3 năm qua 2011 – 2013 (Trang 67)
Bảng 4.2. Tình hình kinh tế làng nghề huyện Ân Thi qua 3 năm - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 4.2. Tình hình kinh tế làng nghề huyện Ân Thi qua 3 năm (Trang 80)
Hình 4.1. Hình ảnh sản phẩm chạm bạc đặc sắc - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Hình 4.1. Hình ảnh sản phẩm chạm bạc đặc sắc (Trang 86)
Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất bánh đa ở huyện Ân Thi - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất bánh đa ở huyện Ân Thi (Trang 90)
Hình 4.2. Cơ sở của hộ ở làng nghề chạm bạc  Tình hình vốn của các làng nghề truyền thống - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Hình 4.2. Cơ sở của hộ ở làng nghề chạm bạc Tình hình vốn của các làng nghề truyền thống (Trang 97)
Bảng 4.8  Số lượng sản phẩm sản xuất bình quân của 1 hộ/năm qua - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 4.8 Số lượng sản phẩm sản xuất bình quân của 1 hộ/năm qua (Trang 99)
Hình 4.3. Cửa hàng bán sản phẩm của làng nghề chạm bạc - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Hình 4.3. Cửa hàng bán sản phẩm của làng nghề chạm bạc (Trang 104)
Bảng 4.13. Kết quả sản xuất bình quân của 1 hộ/năm qua 3 năm - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 4.13. Kết quả sản xuất bình quân của 1 hộ/năm qua 3 năm (Trang 108)
Bảng 4.14. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ/năm qua 3 năm - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 4.14. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ/năm qua 3 năm (Trang 110)
Bảng 4.16. Tình hình lao động của hộ sản xuất trong các làng nghề qua - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Bảng 4.16. Tình hình lao động của hộ sản xuất trong các làng nghề qua (Trang 112)
Hình 4.4. Lao động làng nghề bánh đa - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
Hình 4.4. Lao động làng nghề bánh đa (Trang 113)
Đồ thị 4.2 Đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất của làng nghề - Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống huyện ân thi, tỉnh hưng yên
th ị 4.2 Đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất của làng nghề (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w