Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại và diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung, quy mô trên nhiều lĩnh vực.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại và diễn ra ngàycàng sâu rộng về nội dung, quy mô trên nhiều lĩnh vực Trong xu thế đó, quátrình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã diễn ra từ lâu, kể từ khi ViệtNam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986 ViệtNam đã gia nhập khối ASEAN năm 1995; tham gia vào khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA) năm 1996; ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam -Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tưsong và đa phương khác Đặc biệt từ năm 2007, Việt Nam chính thức trở thànhthành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), là mốc son quantrọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đánh dấu cho việchội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường quốc tế nói chung và trong lĩnh vựctài chính ngân hàng nói riêng Để nắm bắt được những cơ hội cũng như chủđộng đối phó với các thách thức trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã và đangtiến hành cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Trong đó việc xây dựng thànhcông một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng khó khănphức tạp nhưng đó là một vấn đề này là một đề tài mang tính cấp thiết trong thờigian gần đây vì Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tớinhiều mặt hoạt động của nền kinh tế Nó ra đời từ hoạt động ngoại thương vàquay trở lại tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại cáncân thanh toán của mỗi quốc gia
Để có thêm kiến thức về vấn đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu đề tài “Thực
trạng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam và chính sách tỷ giá”
Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận chúng ta sẽ nghiên cứu 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về cán vân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái: Chương II: Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam Chương III: Các biện pháp thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế ở Việt Nam.
Trang 2CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ, TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1 Khái niệm và ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế:
1.1 Khái niệm:
Cán cân thanh toán quốc tế (balance of payment) được hiểu là bảng kếtoán tổng hợp các luồng vận động về hàng hoá dịch vụ , tư bản… của một quốcgia với phần còn lại của thế giới trong từng thời kỳ nhất định Những giao dịchnày có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nướchay chính phủ của quốc gia đó Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa,dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản Thời kỳ xem xét
có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm
Theo Nghị định số 164/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ vềquản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, Cán cân thanh toán quốc tếcủa Việt Nam được quy định là bảng tổng hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu
về giao dịch kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư trú trong một thời kỳnhất định Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao là cơ quan chịutrách nhiệm chủ trì lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán
1.2 Ý nghĩa kinh tế của cán cân thanh toán quốc tế:
Thực chất của cán cân thanh toán quốc tế là một tài liệu thống kê, có mụcđích cung cấp sự kê khai đầy đủ dưới hình thức phù hợp với yêu cầu phân tíchnhững quan hệ kinh tế tài chính của một nước với nước ngoài trong một thờigian xác định Do đó, CCTTQT là một trong những công cụ quan trọng trongquản lý kinh tế vĩ mô Thông qua, cán cân thanh toán trong một thời kỳ, Chínhphủ của mỗi quốc gia có thể đối chiếu giữa những khoản tiền thực tế thu được từnước ngoài với những khoản tiền mà thực tế nước đó chi ra cho nước ngoàitrong một thời kỳ nhất định Từ đó, đưa ra các quyết sách về điều hành kinh tế vĩ
mô như chính sách tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu
Ngoài ra, CCTT là công cụ đánh giá tiềm năng kinh tế của một quốc gia,giúp các nhà hoạch định kinh tế có định hướng đúng đắn Cán cân thanh toán bộc
lộ rõ ràng khả năng bền vững, điểm mạnh và khả năng về kinh tế bằng việc đolường chính xác kết quả xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của đất nước đó
CCTT còn được sử dụng như một chỉ số về kinh tế và tính ổn định chính trị
Ví dụ, nếu một nước có thặng dư cán cân thanh toán có nghĩa là có nhiều đầu tư từnước ngoài đáng kể vào nước đó hoặc cũng có thể là nước đấy không xuất khẩunhiều tiền tệ ra nước ngoài dẫn đến sự tăng giá của giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ
Trang 32 Kết cấu và các cán cân bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế:
2.1 Các thành phần của cán cân thanh toán:
Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm
1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:
Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hànghóa, dịch vụ và một số chuyển khoản
Tài khoản vốn : Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực vàtài sản tài chính
Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước
Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương Dotổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gầnnhư tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên
Mục sai số
Do ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghichép được và thực tế có thể có những khoảng cách Khoảng cách này được ghitrong cán cân thanh toán như là mục sai số
2.2 Các bộ phận của cán cân thanh toán:
2.2.1 Cán cân vãng lai:
Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán
của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người
cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước Những giao dịch dẫn tới sự thanhtoán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên
"nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ) Còn những giao dịchdẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nướcđược ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen) Thặng dư tài khoản vãng lai xảy rakhi bên có lớn hơn bên nợ
Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia do
IMF soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm:
● Cán cân thương mại hàng hóa:
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cânthanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu
và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặcnăm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng Khimức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khimức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh
Trang 4lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại:
về tài sản nước ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sảntrong nước của người sống ở nước ngoài, thì quốc gia có thặng dư tài khoản vốn(hay dòng vốn vào ròng) Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt
tài khoản vãng lai
Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoảnvốn ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính
khi lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện
2.2.3 Cán cân cơ bản:
Như đã phân tích ở trên, cán cân vãng lai ghi chép các hạng mục về thunhập, mà đặc trưng của chúng là phản ánh mối quan hệ sở hữu về tài sản giữangười cư trú với người không cư trú Chính vì vậy tình trạng của cán cân vãnglai có ảnh hưởng lâu dài đến sự ổn định của nền kinh tế mà đặc biệt là lên tỉ giáhối đoái của nền kinh tế
Tổng của cán cân vãng lai và cán cân dài hạn gọi là cán cân cơ bản Tínhchất ổn định của cán cân cơ bản ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế và tỉ giá hốiđoái Chính vì vậy cán cân cơ bản được các nhà phân tích và hoạch định chínhsách kinh tế quan tâm
Cán cân cơ bản = các cân vãng lai +cán cân vốn dài hạn
Những hạng mục hay thay đổi như vốn ngắn hạn và thay đổi dự trữ ngoại
2.2.4 Cán cân tổng thể (overall balance):
Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tuyệt đối (tức nhầm lẫn và saisót bằng không ) thì cán cân tổng thể bằng tổng của cán cân vãng lai và cán cânvốn Trong thực tế do có rất nhiều vấn đề phức tạp về thống kê trong quá trìnhthu nhập số liệu và lập CCTTQT do đó thường phát sinh những nhầm lẫn và saisót Do đó cán cân tổng thể được điều chỉnh lại bằng tổng của cán cân vãng lai
Trang 5và cán cân vốn và hạng mục sai sót trong thống kê Ta có :
Cán cân tổng thể = cán cân vãng lai +cán cân vốn + nhầm lẫn và sai sót
2.2.5 Cán cân bù đắp chính thức(official finacing balance):
Cán cân bù đắp chính thức (OFB) bao gồm các hạng mục :
- Thay đổi dự trữ ngoại hối quốc gia (ΔR)R)
- Tín dụng với IMF và các ngân hàng trung ương khác (L)
- Thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác bằng đồng tiền củaquốc gia lập cán cân thanh toán (≠)
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ:
1 Khái niệm về tỷ giả hối đoái:
Trang 61.1 Khái niệm:
1.1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa :
Là giá cả của một đồng tiền nước này tính theo đơn vị tiền tệ nước khác Hiện nay trên thế giới có hai phương pháp niêm yết tỷ giá là phương pháptrực tiếp và phương pháp gián tiếp
* Phương pháp gián tiếp : ký hiệu e , là phương pháp biểu hiện một đơn vịnội tệ bằng các đơn vị ngoại tệ
Ví dụ: Tại thị trường hối đoái London yết giá 1bảng Anh=1,6191 đôla Mỹ
* Phương pháp trực tiếp : ký hiệu E , là phương pháp tỷ giá hối đoái củađồng ngoại tệ Nó chính là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo số đơn vị nội tệ
Ví dụ : giá của đôla Mỹ(USD) tính theo đồng Việt Nam(VND) là17.958VND/USD.Điều này nói lên rằng 1USD có giá trị bằng 17.858 VND
1.1.2 Tỷ giá hối đoái thực tế:
Là giá tương đối của hàng hoá ở hai nước
Công thức tính tỷ giá hối đoái thực tế
e’=e*P/P’
e’: Tỷ giá hối đoái thực tế
e : Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
P : Mức giá trong nước
P’: Mức giá nước ngoài
Nếu xét cho một hàng hoá cụ thể thì P chính là giá hàng nội tính bằng nội tệ (giánội địa) còn P’ chính là giá mặt hàng cùng loại ở nước ngoài tính theo giá ngoại tệ
Ví dụ: giả sử có một chiếc áo sơ mi ở Việt Nam với giá P=70000VND/chiếccũng chiếc áo đó sản suất tại Mỹ P’=20USD, giả sử e=1/14000
Khi đó tỷ giá hối đoái thực tế bằng e’=e*P/P’=1/14000*(70000/20)=1/4 Điều này nói lên rằng một chiếc áo sơ mi Việt Nam có thể bằng 1/4 chiếc
áo sơ mi bên Mỹ Do chất lượng mẫu mã như nhau nên hàng Việt Nam rẻ hơn1/4 hàng Mỹ Do đó hàng Việt Nam có sức cạnh tranh hơn hàng Mỹ , hàng ViệtNam có thể xuất khẩu sang Mỹ
Nếu tỷ giá hối đoái thực tế cao, hàng ngoại tương đối rẻ và hàng nội tương đối đắt và ngược lại.
1.1.3 Cơ chế xác định tỷ giá:
- Cơ chế thị trường: Tỷ giá cũng là một loại giá cả, nó được xác định dựatrên các lực lượng cung cầu nội ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
Trang 7- Cơ chế hành chính: ở những nước theo đuổi chính sách kiềm chế tàichính và kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn thường đưa ra một mức tỷ giá neo cốđịnh Tỷ giá này có thể được thay đổi điều chỉnh song không phải do các lựclượng thị trường quyết định Nó được ấn định lại khi các nhà quản lý cần thấyphải thay đổi nó để phục vụ cho một mục đích nào đó
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá:
1.2.1 Các nhân tố thuộc về dài hạn :
* Mức giá cả tương đối :
Về lâu dài một sự tăng lên mức giá của một nước (tương đối so với mứcgiá nước khác) làm cho đồng tiền nước đó giảm giá và một sự giảm giá xuốngcủa mức giá tương đối làm cho đồng tiền nước đó tăng giá
* Thuế và Cô-ta:
Đây là hàng rào đối với hàng nhập khẩu và bảo hộ hnàg sản xuất trongnước Điều này làm tăng cầu hàng nội và dẫn đến việc tăng giá của đồng nội tệ.Thuế quan và cô-ta về lâu dài làm cho đồng tiền của một nước lên giá Tuy vậymột quốc gia thực hiện chính sách “bế quan toả cảng” thì vấn đề tỷ giá đối với
họ không có nhiều ý nghĩa lắm
* Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại:
Một sự ưa thích hàng ngoại làm tăng cầu về ngoại tệ khiến cho cung nội
tệ tăng dịch chuyển và giá đồng nội tệ giảm xuống Về lâu dài cầu về hàng xuấtkhẩu của một nước làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá trong khi câù vềhàng nhập tăng lên làm cho đồng tiền nước đó tăng giá
* Năng suất lao động:
Năng suất lao động cao làm giá hàng của một nước rẻ tương đối so vớicác nước khác Cầu hàng xuất nước đó cao lên kéo theo sự tăng giá của đồngtiền nước đó Về lâu dài, do năng suát lao động của một nước cao hơn tương đối
so với nước khác , nên đồng tiền của nước đó tăng giá
* Yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến tỷ giá:
Phần lớn các nước đang phát triển đều phải đối mặt với tình trạng “Đôlahoá” trong nền kinh tế.Đó là sự mất niềm tin vào đồng bản tệ , người dân và các
tổ chức kinh tế găm giữ đôla và chỉ tín nhiệm đòng tiền này trong thanh toántrao đổi Do vậy cầu USD rất lớn và giá các đồng bản tệ xuống thấp các nướcluôn trong tình trạng căng thẳng về dự trữ ngoại hối đảm bảo khả năng thanhtoán nợ đến hạn
* Tỷ lệ lạm phát:
Trang 8Nếu tỷ lệ lạm phát nước A cao hơn tỷ lệ lạm phát nước B,nước A cầnnhiều tiền hơn để đổi lấy một lượng tiền nhất định của nước B Giá đồng tiềnnước A giảm xuống
* Cán cân thương mại:
Nó liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, xuất khẩu lớn tỷ giá lên giá
1.2.2 Các nhân tố thuộc về ngắn hạn:
* Lãi suất: Lãi suất là một biến số kinh tế tổng hợp tác động đến nhiều chỉtiêu khác nhau trong đó tỷ giá và lãi suất có mối quan hệ hết sức chặt chẽ vớinhau Trong một nước nếu lãi suất nội tệ tăng trong khi lãi suất thế giới ổn định
sẽ làm cho các luồng vốn quốc tế đổ vào nhiều vì mức lãi suất quá hấp dẫn Dovậy cầu tiền nước này tăng lên và tỷ giá tăng theo
* Cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh mức cầu về ngoại tệ trên thị trường ,do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hốiđoái Bội thu cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá giảm và bội chi cán cânthanhtoán sẽ làm cho tỷ giá tăng
cung-1.3 Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế:
Tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cânthương mại quốc tế theo mục tiêu đã định trước của nhà nước Nó ra đời từ hoạtđộng thương mại quốc tế và quay trở lại tác động thúc đẩy hoạt động ngoạithương phát triển Bởi vì tỷ giá hối đoái có tác động rất lớn đến xuất nhập khẩuhàng hoá và tư bản (vốn), giá cả hàng hoá trong nước , do đó nó có tác độngkhông nhỏ đến nền kinh tế quốc dân của một nước Khi tỷ giá giảm , tức giá trịđồng nội tệ giảm nên giá cả hàng hoá xuất khẩu tính bằng tiền nước ngoài giảm ,sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường thế giới sẽ tăng lên có tác dụngđẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá
Đồng thời với việc tỷ giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tăng lêndẫn đến hạn chế nhập khẩu Ngược lại khi tỷ giá tăng, nghĩa là giá trị đồng nội
tệ tăng thì có tác động giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu hàng hoá
Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản (vốn) từquốc gia này sang quốc gia khác Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mụcđích kiếm lời nhuận và tránh rủi ro Do đó, nếu tỷ giá giảm trong trường hợpngười ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ gia tăng
và tư bản xuất khẩu sẽ giảm
Ngoài các nhân tố khác ,vật giá trong một quốc gia còn chịu sự tác độngcủa tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá giảm ,giá tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
Trang 9nhập khẩu tăng lên kéo theo giá cả các mặt hàng trong nước có liên quan cũngtăng theo Đồng thời do tác động giảm nhập khẩu nên cầu về các hàng hoá nhậpkhẩu cũng sẽ gia tăng,tất điều đó làm cho giá cả chung trong nền kinh tế cũnggia tăng Ngược lại , khi tỷ giá tăng sẽ có tác động làm cho mức giá chung giảm.
2 Chính sách tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá như phân tích trên có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và
ổn định của nền kinh tế Do vậy, chính sách hối đoái của bất kỳ một quốc gianào cũng đều được coi như một trong những bộ phận cấu thành quan trọng củachính sách tiền tệ quốc gia Duy trì, giữ vững sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô
là yêu cầu cấp thiết để tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và tập trung củacác chính sách kinh tế của Chính phủ, trong đó có chính sách tỷ giá Một quốcgia tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh và thời điểm sẽ xác định cho mình một chínhsách tỷ giá thích hợp
Trên thế giới hiện nay các nước theo đuổi các cách điều hành tỷ giá khácnhau song rút lại đều đi theo các xu hướng hoặc là chế độ tỷ giá cố định hoặc làchế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc thả nổi có kiểm soát
Hệ thống tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Do cung cầu trên thị trường ngoại hối
quyết định tỷ giá Không có sự can thiệp của chính phủ
Hệ thống tỷ giá cố định: đó là tỷ giá do ngân hàng trung ương ấn định ở một
mức nào đấy Tỷ giá có cố định thể cao hơn hay thấp hơn tỷ giá cân bằng trên thịtrường ngoại hối Để giữ được tỷ giá ở mức cố định ngân hàng trung ương phải muabán ngoai tệ trênthị trường ngoại hối Và như vậy, cung tiền tuột khỏi tay sự kiểmsoát của ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ương chỉ có thể đạt được mộttrong hai mục tiêu hoặc giữ cho tỷ giá cố định hoặc là kiểm soát được mức cungtiền chứ không thể đồng thời thực hiện được hai mục tiêu đó
Hệ thống tỷ giá thả nổi có kiểm soát: Nằm giữa hai thái cực trên quan
điểm của các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại coi trọng cả vai trò kinh tếcủa Chính phủ và quy luật “bàn tay vô hình” Tỷ giá được hình thành trên cơ sởthị trường theoquy luật cung cầu, cơ quan điều hành chính sách tiền tệ chỉ tácđộng lên tỷ giá bằng các công cụ mang tính thị trường tác động lên thị trườngngoại hối Nhưng vấn đề dặt ra là cần phải xác định chế độ tỷ giá hối đoái nào:
cố định, thả nổi hoàn toàn hay thả nổi có kiểm soát Một cuộc tranh luận vềnhững chế độ tỷ giá hối đoái đã nổ ra, Thế giới đã chuyển từ chế độ tỷ giá cốđịnh , đươc thực hiện từ sau Chiến tranh thế giới II đến đầu năm 1973 , sang chế
độ tỷ giá thả nổi , linh hoạt thay đổi hàng ngày Nhưng vào cuối những năm 80
Trang 10chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn bộc lộ tác động tiêu cực đến các nền kinh tế vàngười ta bắt đầu nghĩ đến một chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, nhằm hạn chếnhững tác động của chế độ tỷ giá linh hoạt Hiện nay, các chính phủ đều muốncan thiệp để hạn chế những biến động mạnh mẽ lên xuống của tỷ giá ,một mặt làcần thiết để cân bằng cung cầu trong thời gian ngắn, nhưng mặt khác lại.
Trang 11CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM:
1 Thực trạng cán cân vãng lai:
1.1 Cán cân thương mại:
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, xuất khẩu cả năm 2008 đạt 62,9 tỷUSD, tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài(kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăngchung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%,đóng góp 50,3% Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhómhàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sảnchiếm 16,3% Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng sovới năm 2007, chủ yếu do sự tăng giá trên thị trường thế giới
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008 ước tính 80,4 tỷ USD, tăng28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD,tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%
Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuấtchiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ trọngcủa 03 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%) Nếu loại trừ yếu tốtăng giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng 21,4%
so với năm 2007 Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứngnhu cầu phát triển sản xuất trong nước đều tăng so với năm 2007
Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm có
xu hướng giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu của sự chững lại trongđầu tư và sản xuất Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng đang có
xu hướng tăng vào các tháng cuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước ngoài đangtạo sức ép lớn lên hàng tiêu dùng của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước.Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tônguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5nghìn chiếc, tương đương 380 triệu USD)
Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2007,bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu Tuy nhập siêu đã giảm nhiều so với dựbáo những tháng trước đây nhưng mức nhập siêu năm nay vẫn khá cao, trong đóchâu Á có mức nhập siêu lớn nhất, đứng đầu là thị trường Trung Quốc với 10,8
tỷ USD, cao hơn 1,7 tỷ USD so với năm 2007
Trang 12Trong năm 2009, ước tính xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 52 tỷUSD, giảm khoảng 10,9 tỷ USD so với năm 2008 tương đương mức giảm 18%.Nhập khẩu cùng trong hướng suy giảm do cầu đầu tư trong nước giảm mạnh Và
dự tính nhập khẩu cả năm 2009 khoảng 65 tỷ USD, giảm khoảng 18% so vớinăm 2008, đưa mức thâm hụt thương mại năm 2009 xuống còn 13 tỷ USD
Thâm hụt thương mại năm 2008 là 17,5 tỷ USD, dự báo năm 2009 thâmhụt 13 tỷ USD
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại 7tháng từ năm 2004 – 2009
1.2 Cán cân dịch vụ:
Theo thống kê từ Tổng cục thống kê, tổng trị giá xuất khẩu dịch vụ năm
2008 ước tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm 2007, trong đó dịch vụ dulịch đạt 4 tỷ USD, tăng 7,2%; dịch vụ vận tải hàng không đạt 1,3 tỷ USD, tăng23,7%; dịch vụ vận tải biển đạt 1 tỷ USD, tăng 27,7%
Tổng trị giá nhập khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng10,3% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch 1,3 tỷ USD, tăng 6,6%; dịch
vụ vận tải hàng không 800 triệu USD, giảm 2,4%; dịch vụ hàng hải 300 triệuUSD, tăng 20% Nhập siêu dịch vụ năm 2008 là 0,8 tỷ USD
Năm 2009 sẽ chứng kiến sự khó khăn của hầu hết các ngành nghề màtrong đó du lịch dịch vụ bị ảnh hưởng khá nặng Theo ước tính, xuất khẩu dịch
vụ năm 2009 chỉ đạt 5,6 tỷ USD, giảm 20% so với năm 2008 Nhập khẩu dịch
vụ giảm 22% so với năm 2008 và đạt 6,2 tỷ USD Dự báo cả năm 2009 cán cândịch vụ thâm hụt 0,6 tỷ USD