1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Báo cáo tham vấn cộng đồng đóng góp ý kiến cho dự thảo luật đầu tư công

70 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI GIỚI THIỆU Báo cáo Tổng hợp kết quả tham vấn cộng đồng và góp ý cho Dự thảo Luật đầu tư công được xây dựng từ việc tổng hợp và phân tích thông tin thu thập từ tiến trình tham vấn cộn

Trang 2

xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định; xã Triệu Nguyên và thị trấn Kroong –Klang huyện Đakrông, thành phố Đông Hà tỉnh Quảng trị; xã Láng Dài huyện Đất Đỏ, xã Xuyên Mộc và Phước Bửu huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; đã tham gia nhiệt tình trong các buổi tham vấn, chia sẻ những câu chuyện thực tế và đóng góp những ý kiến quan trọng cho Dự thảo Luật Đầu tư công

Chúng tôi xin chân thành cám ơn các chuyên gia và các tổ chức đã hỗ trợ tiến trình tham vấn từ bước thiết kế mục tiêu, nội dung, phương pháp và kế hoạch triển khai tham vấn và tổng hợp kết quả tham vấn, phân tích và xây dựng các khuyến nghị Luật Chúng tôi đặc biệt cám ơn Ủy ban tài chính ngân sách của Quốc hội đã hỗ trợ chúng tôi trong quá trình thực hiện tham vấn ở các tỉnh

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự cam kết và nỗ lực của các tổ chức tham gia phối hợp thực hiện tham vấn ở các tỉnh như Hội Nông dân Hòa Bình, Hội phụ nữ Quảng Trị và tổ chức Hữu nghị Cộng Đồng Nam Định và Sở tài chính tỉnh Vũng Tàu

Chúng tôi cũng đặc biệt cảm ơn nhóm chuyên gia tham gia tổng hợp, phân tích thông tin và viết báo cáo, bao gồm PGS TS Hoàng Thị Thúy Nguyệt (Học viện Tài chính), Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Anh (Vụ Pháp chế Thanh tra Chính phủ), Thạc Sĩ Nguyễn Bích Tâm và Thạc sĩ Đỗ Thị Bích Thủy (Trung tâm nâng cao năng lực cộng đồng- CECEM), Thạc sĩ Nguyễn Thu Hương và Lê Thị Ngọc Liên (tổ chức Oxfam tại Việt Nam) Những người đã nỗ lực tổng hợp những ý kiến khuyến nghị của người dân, phân tích các văn bản pháp luật có liên quan và xây dựng những khuyến nghị cụ thể cho Dự thảo Luật đầu tư công, dự kiến sẽ được đưa ra thảo luận và phê duyệt tại kỳ họp Quốc hội thứ VII, tháng 5 năm 2014

Chúng tôi cũng đánh giá cao các ý kiến đóng góp của các chuyên gia TS Đoàn Hồng Quang (Ngân hàng Thế giới), TS Tô Trung Thành (Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân) và một số chuyên gia khác, đã giúp hoàn thiện hơn báo cáo này

Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2014

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Báo cáo Tổng hợp kết quả tham vấn cộng đồng và góp ý cho Dự thảo Luật đầu tư công được xây dựng từ việc tổng hợp và phân tích thông tin thu thập từ tiến trình tham vấn cộng đồng về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân trong quy trình ngân sách, trong đó có thu thập những thông tin về các công trình đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước

Báo cáo nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm các bằng chứng và căn cứ vững chắc để tiếp tục bổ sung, sửa đổi một số nội dung trong Dự thảo Luật đầu tư công, liên quan tới:

 Công khai minh bạch các thông tin về các hoạt động đầu tư công

 Trách nhiệm giải trình về các các hoạt động đầu tư công

 Sự tham gia của người dân trong các hoạt động đầu tư công

Báo cáo được xây dựng trên cơ sở kết quả tham vấn người dân và chính quyền địa phương tại các tỉnh Hòa Bình, Nam Định, Quảng trị và Vũng Tàu và do sáu tổ chức thực hiện, gồm Trung tâm Hành động Phát triển vì Cộng đồng (ACDC), Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI), Trung tâm Nâng cao Năng lực Cộng đồng (CECEM), Trung tâm Hỗ trợ Giáo dục và Nâng cao Năng lực cho Phụ nữ (CEPEW), Nhóm hợp tác Thúc đẩy Quản trị và Cải cách Hành chính công (GPAR) và tổ chức Oxfam tại Việt Nam, với sự hỗ trợ của Ủy ban tài chính ngân sách của Quốc hội

Nội dung Báo cáo gồm sáu phần chính: i) Giới thiệu chung; ii) Tổng hợp và phân tích kết quả tham vấn cộng đồng; iii) Khuyến nghị của cộng đồng và nhóm tham vấn; iv) Nhận diện vấn đề và nguyên nhân; v) Khuyến nghị Dự thảo Luật đầu tư công dựa trên kết quả tham vấn cộng đồng; vi) Kết luận

Hoạt động tham vấn cộng đồng này đã phản ánh chân thực những trải nghiệm và nguyện vọng sâu sắc của người dân tại các địa phương nơi tiến hành tham vấn đối với các hoạt động đầu tư công Vì vậy, những khuyến nghị đưa ra trong Báo cáo được mong đợi là sẽ giúp các Đại biểu Quốc hội và cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo Luật đầu tư công trong quá trình thảo luận và thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII Việc phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của người dân sẽ là một trong các điều kiện tiên quyết

để Luật đầu tư công sau khi được thông qua có thể đi vào cuộc sống và có tính khả thi cao

Trang 4

MỤC LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG 2

1.1 Bối cảnh 2

1.2 Giới thiệu về đợt tham vấn 2

1.3 Phạm vi và Hạn chế của báo cáo 4

PHẦN II: TÓM TẮT CÁC PHÁT HIỆN TỪ THAM VẤN CỘNG ĐỒNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ CÔNG 6

2.1 Có sự khác nhau trong việc công khai minh bạch thông tin giữa các chương trình dự án đầu tư công 100% vốn Ngân sách nhà nước và những công trình “Nhà nước và nhân dân cùng làm” 6

2.2 Người dân thiếu các thông tin về người hay cơ quan chịu trách nhiệm giải trình về các công trình đầu tư công tại địa phương 7

2.3 Công trình đầu tư công, đặc biệt các công trình sử dụng 100% ngân sách nhà nước chưa khuyến khích và có cơ chế phù hợp để có được sự tham gia một cách hiệu quả của người dân 8

2.4 Các cơ quan, tổ chức đại diện cho người dân (Ban GSCĐ, MTTQ, HĐND) chưa phát huy hiệu quả vai trò đại diện cho người dân trong các quyết định đầu tư công và giám sát thực hiện đầu tư công 9

2.5 Các công trình, chương trình không có sự tham gia của người dân dẫn đến không hiệu quả và lãng phí, không đáp ứng đúng nhu cầu và hoàn cảnh thực tế tại địa phương, thậm chí gây thiệt hại cho người dân 11

2.6 Người dân mong muốn được cung cấp thông tin, được lấy ý kiến và tham gia giám sát các công trình đầu tư công ở địa phương nơi họ sinh sống 13

2.7 Sự tham gia của người dân vào các công trình đầu tư công (lập kế hoạch, xây dựng dự toán, thiết kế, giám sát thực hiện) góp phần mang lại sự hài lòng của người dân và đảm bảo hiệu quả đầu tư công 14

PHẦN III: CÁC KHUYẾN NGHỊ TỪ CỘNG ĐỒNG VÀ NHÓM THAM VẤN 17

3.1 Khuyến nghị của cộng đồng 17

3.2 Kết luận và khuyến nghị của nhóm tham vấn 18

PHẦN IV: NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ VÀ NGUYÊN NHÂN 20

4.1 Vấn đề 1: Tính công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công còn hạn chế, chưa bảo đảm sự tham gia của người dân, dẫn đến còn tình trạng đầu tư lãng phí, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân 20

4.2 Vấn đề 2: Trách nhiệm giải trình trong các hoạt động đầu tư công chưa rõ ràng để làm căn cứ cụ thể hóa trách nhiệm của từng chủ thể có thẩm quyền 24

4.3 Vấn đề 3: Người dân chưa tham gia một cách thực chất và có hiệu quả vào các hoạt động đầu tư công; hoạt động của các ban giám sát đầu tư cộng đồng còn hình thức 27

Trang 5

PHẦN V: KHUYẾN NGHỊ VỀ DỰ THẢO LUẬT ĐẦU TƯ CÔNG DỰA TRÊN KẾT QUẢ THAM VẤN CỘNG ĐỒNG 30 5.1 Mục tiêu 1: Mở rộng phạm vi, nội dung và hình thức thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư công nhằm bảo đảm sự tham gia của người dân 30 5.2 Mục tiêu 2: Tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong các hoạt động đầu tư công 37 5.3 Mục tiêu 3: Quy định rõ phương thức và các biện pháp bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động đầu tư công 39 PHẦN VI: KẾT LUẬN 46 PHỤ LỤC BÁO CÁO 49

A Các câu chuyện điển hình về các công trình đầu tư công có người dân tham gia quản

lý nên đạt hiệu quả sử dụng cao 49

B Các câu chuyện điển hình về đầu tư công không có sự tham gia của người dân dẫn đến việc đầu tư lãng phí, không hiệu quả, không đáp ứng nhu cầu cộng đồng, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng 57

Trang 6

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACDC Trung tâm Hành động Phát triển vì Cộng đồng

CDI Trung tâm Phát triển và Hội nhập

CECEM Trung tâm Nâng cao Năng lực Cộng đồng

CEPEW Trung tâm Hỗ trợ Giáo dục và Nâng cao Năng lực cho Phụ nữ GPAR Nhóm hợp tác Thúc đẩy Quản trị và Cải cách Hành chính công GSĐTCĐ Giám sát đầu tư cộng đồng

UBND Ủy ban Nhân dân

HĐND Hội đồng Nhân dân

Trang 7

PHẦN : GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 Bối cảnh

Trong thời gian qua, dự thảo Luật đầu tư công được xây dựng, lấy ý kiến của nhân dân, được Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ sáu và tiếp tục thảo luận, thông qua tại kỳ họp thứ bảy diễn ra tại Hà Nội từ ngày 20/5 đến 24/6 năm 2014

Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2014 một nhóm các tổ chức phát triển Việt Nam bao gồm ACDC, CECEM, CDI, GPAR, CEFEW và Oxfam tại Việt Nam được

sự hỗ trợ của Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội khóa XIII, đã tiến hành đợt tham vấn người dân nhằm thu thập ý kiến từ người dân và chính quyền địa phương về thực thi Luật ngân sách nhà nước 2002, tập trung vào một số nội dung: công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia của các bên liên quan và người dân trong qui trình ngân sách, bao gồm việc quản

lý và sử dụng ngân sách của các công trình đầu tư công, nhằm đóng góp ý kiến cho việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước Trong quá trình tham vấn này, chúng tôi đã phát hiện, thu thập được nhiều ý kiến và câu chuyện điển hình từ người dân liên quan đến các công trình đầu tư công

Với mong muốn góp phần bảo đảm Luật đầu tư công sau khi được thông qua

sẽ thực sự đóng góp vào nâng cao hiệu quả đầu tư công, chống lãng phí thất thoát, nhóm các tổ chức thực hiện tham vấn và nhóm chuyên gia đã cùng nhau viết một bản báo cáo để chia sẻ những phát hiện, ý kiến và câu chuyện nói trên, đồng thời đưa ra các khuyến nghị liên quan đến tăng cường công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân trong các hoạt động đầu tư công

1.2 Giới thiệu về đợt tham vấn

Mục đích của đợt tham vấn

Tham vấn cộng đồng hướng đến việc thực hiện hai mục đích sau:

i Cung cấp bằng chứng từ các câu chuyện thực tế của người dân và chính quyền địa phương để hỗ trợ cho các khuyến nghị về:

Sự tham gia của người dân, trực tiếp hoặc gián tiếp qua các cơ quan

tổ chức đại diện, vào quản lý ngân sách, trong đó bao gồm các công trình đầu tư công

 Cơ chế để người dân tham gia giám sát ngân sách và các công trình đầu tư công

 Đảm bảo công khai minh bạch thông qua việc cung cấp thông tin phù hợp và đưa ra cơ chế để người dân được giải đáp các thắc mắc liên

Trang 8

quan đến ngân sách và các công trình đầu tư công trên địa bàn sinh sống của họ

ii Góp phần thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, đảm bảo quyền tham gia của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, trong xây dựng luật pháp chính sách nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của họ

Nội dung tham vấn

 Công khai minh bạch các thông tin về ngân sách nhà nước, bao gồm các chương trình dự án đầu tư công

 Trách nhiệm giải trình trong quy trình ngân sách nhà nước, bao gồm đối với các chương trình dự án đầu tư công

 Sự tham gia của người dân trong quy trình ngân sách nhà nước và các hoạt động đầu tư công

Phạm vi thực hiện tham vấn

Tham vấn cộng đồng được thực hiện tại 4 tỉnh: Hòa Bình, Nam Định, Quảng Trị, Bà Rịa – Vũng Tàu Tại mỗi tỉnh, hoạt động tham vấn được tiến hành tại cấp tỉnh, cấp huyện (2 huyện) và cấp xã (3 – 4 xã thuộc 2 huyện)

Tổng số người được tham vấn trực tiếp là 350 người bao gồm người dân và các cán bộ UBND, HĐND, MTTQ, các tổ chức đoàn thể, xã hội ở ba cấp tỉnh, huyện, xã

Đã có khoảng 40 công trình đầu tư công ở các địa phương tham vấn được khảo sát, trong đó thông tin thu thập từ 19 công trình được tổng hợp dưới dạng câu chuyện, được đính kèm trong phần Phụ lục của báo cáo này

Phương pháp tham vấn

Tham vấn cộng đồng kết hợp hai phương pháp Tham vấn trực tiếp với cộng đồng và Lấy ý kiến chuyên gia Tham vấn trực tiếp được sử dụng để nghe và

ghi lại các câu chuyện thực tế và điển hình liên quan đến quản lý và sử dụng

ngân sách, đặc biệt sử dụng ngân sách của các công trình đầu tư công Ý kiến chuyên gia được sử dụng khi nghiên cứu một số tài liệu thứ cấp nhằm

thiết kế mục tiêu, nội dung, phương pháp và kế hoạch triển khai tham vấn cũng như phân tích các câu chuyện và tình huống điển hình để xác định những điểm chưa hợp lý, bất cập trong các quy định của văn bản pháp luật liên quan đến quản lý ngân sách và hoạt động đầu tư công - nguyên nhân dẫn đến những vấn đề được cộng đồng phản ánh, sau đó đối chiếu với những điều chỉnh trong Dự thảo Luật ngân sách nhà nước sửa đổi và Dự thảo Luật đầu tư công để đưa ra những kiến nghị cụ thể

Báo cáo này chỉ tập trung vào những thông tin, phân tích và khuyến nghị liên quan đến Dự thảo Luật đầu tư công Một báo khác cũng được xây dựng với các thông tin, phân tích và khuyến nghị liên quan trực tiếp đến Dự thảo Luật ngân sách nhà nước sửa đổi

Trang 9

Các hoạt động tham vấn trực tiếp được thử nghiệm tại một tỉnh (Nam Định),

sau đó được điều chỉnh về mặt phương pháp và nội dung, và triển khai rộng trên 4 tỉnh Quá trình được thực hiện bắt đầu từ cấp tỉnh, sau đó triển khai tới cấp huyện và xã Cách làm này cho phép nhóm tham vấn tìm hiểu các thông tin chung trước khi thu thập các thông tin cụ thể của từng địa bàn, đặc biệt để

có được một số thông tin thực tế về các chương trình, công trình, đề án làm

cơ sở để thảo luận với người dân

Khi tham vấn cộng đồng, đầu tiên người tham gia được yêu cầu liệt kê các công trình đầu tư công ở địa phương, bao gồm cả các công trình nhà nước thực hiện toàn bộ và các công trình “nhà nước và nhân dân cùng làm”, người dân cung cấp các thông tin liên quan đến các công trình đó như xây khi nào, hiệu quả sử dụng và chất lượng công trình Dựa trên những thông tin này, người dân cùng nhau đưa ra những đánh giá về mức độ hiệu quả và sự hài lòng của cộng đồng đối với các công trình dựa trên các tiêu chí: chất lượng, hiệu quả đồng vốn và mức độ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng Sau khi tham vấn, người dân nêu các kiến nghị, mong muốn của mình liên quan đến các công trình nói trên cũng như các công trình dự án đầu tư công nói chung trên địa bàn họ sinh sống

Sau khi hiểu rõ về các công trình đầu tư trên địa bàn, nhóm tham vấn cùng một số người dân đi thăm thực địa và phỏng vấn người dân tại khu vực các công trình dự án đầu tư công để bổ sung thêm thông tin và làm rõ các câu chuyện đã được các bên liên quan trong quá trình tham vấn chia sẻ

Các câu chuyện được người dân chia sẻ trong các cuộc họp dân trực tiếp tại cộng đồng cũng được làm rõ, bổ sung và kiểm chứng qua các cuộc phỏng vấn cán bộ cấp xã, phường và cấp huyện, và được thống nhất trong cuộc họp tổng kết cấp xã trước khi đưa ra chia sẻ trong Hội thảo Tổng kết kết quả tham vấn cấp tỉnh Cách làm này đảm bảo thông tin ở mỗi địa bàn được làm rõ và thống nhất giữa chính quyền địa phương với người dân trước khi đưa lên cấp cao hơn Bên cạnh tính thống nhất về thông tin, cách làm này còn nhằm tạo ra

sự đồng thuận giữa người dân và chính quyền, và khẳng định vai trò của người dân trong tiến trình tham vấn

1.3 Phạm vi và Hạn chế của báo cáo

Như đã nói ở trên, các thông tin liên quan đến đầu tư công được trình bày trong báo cáo được thu thập từ một chuỗi các hoạt động tham vấn về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia trong quy trình ngân sách; trong đó có thu thập các bằng chứng liên quan đến hiệu quả của các công trình đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước ở địa phương Qua hình thức này, thông tin trực tiếp từ người dân được lắng nghe và thu thập, thay vì

ý kiến của họ được thu thập theo cách điều tra xã hội học thông thường Như vậy, phương pháp này chú trọng việc tìm ra những câu chuyện thực tế làm bằng chứng xác thực Các câu chuyện đó được chứng kiến tại địa phương và được sử dụng như bằng chứng và cơ sở để nhận diện và phân tích những bất

Trang 10

cập trong pháp luật liên quan quản lý các hoạt động đầu tư công, chứ không quan tâm đến số lượng ý kiến cũng như tỷ lệ người có ý kiến tương tự Do vậy, những phát hiện được đưa ra trong Báo cáo không mang tính thống kê,

mà tập trung vào những bằng chứng cụ thể và điển hình từ thực tế

Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là tạo cơ hội thuận lợi cho người dân

dễ dàng tham gia đóng góp xây dựng pháp luật, đặc biệt là những người ít có

cơ hội bày tỏ quan điểm của mình như người nghèo, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người nông dân sản xuất nhỏ, dù là những người còn rụt rè, nhút nhát, chưa quen nói trước đám đông cũng sẽ nói lên được những gì mình suy nghĩ và mong muốn

Tuy nhiên, do những giới hạn về thời gian, kinh phí và yêu cầu đối với năng lực của cán bộ thực hiện tham vấn nên các hoạt động tham vấn cộng đồng chỉ

có thể thực hiện được ở 4 trong số 63 tỉnh thành trên cả nước Bên cạnh đó tham vấn về các công trình đầu tư công chỉ là một trong những nội dung trong quá trình tham vấn Do đó, các câu chuyện được tập hợp có thể chưa phản ánh hết mọi vấn đề nảy sinh trong việc thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư công Các kiến nghị đưa ra trong báo cáo này, do vậy, chỉ hạn chế trong phạm vi những điểm cần điều chỉnh, bổ sung trong Dự thảo Luật đầu tư công phù hợp với những phát hiện từ tham vấn cộng đồng

Trang 11

PHẦN I: TÓM TẮT CÁC PHÁT HIỆN TỪ THAM VẤN

CỘNG ĐỒNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ CÔNG

2.1 Có sự khác nhau trong việc công khai minh bạch thông tin giữa các chương trình dự án đầu tư công 100% vốn Ngân sách nhà nước

và những công trình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”

Những công trình đầu tư 100% từ ngân sách nhà nước, đặc biệt là những công trình do “cấp trên” (huyện và tỉnh) làm chủ đầu tư thì hầu như người dân không có thông tin cả về kế hoạch cụ thể, thiết kế công trình, dự toán và quyết toán chi phí Thông tin đến người dân về các công

trình này là rất hạn chế, chỉ có những thông tin về tên công trình, thời gian dự kiến thực hiện, tên cơ quan chủ đầu tư Khi trao đổi với nhóm tham vấn, ông Nguyễn Đình Trung, Phó Giám đốc Sở KHĐT tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho biết:

“Hiện giờ theo quy định thì chủ đầu tư phải công khai thông tin về công trình Trên thực tế thì chủ đầu tư thường chỉ có pano thông báo về công trình ở nơi thực hiện công trình Nhưng thông tin trên pano rất ít, thường chỉ có tên công trình, thời gian dự kiến thực hiện, tên cơ quan chủ đầu tư,… chứ không có thông tin về thiết kế công trình” Đối với những công trình mà phải di dời, giải

phóng mặt bằng, thì những hộ gia đình thuộc diện phải di dời, giải phóng mặt bằng chỉ được cung cấp những thông tin có liên quan đến di dời và giải phóng

mặt bằng “Khi xây dựng con đường (liên xã Bình Ba – Đá Bạc) người dân không được tham gia lấy ý kiến Con đường chạy qua ấp Nhân Tâm- Nhân Tiến – Nhân Đức, người dân tại 3 ấp đều không biết gì về lập kế hoạch, xây dựng con đường Chỉ có hộ nào bị giải toả, thì được gọi ra họp thống nhất giá đền bù đất (Bác Hòa, ấp Nhân Tiến, xã Xuyên Mộc, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Các công trình: con đường liên xã Đá Bạc – Bình Ba, huyện Xuyên Mộc, tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu, nước sạch tại xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc, Hòa Bình, (xem câu chuyện số 5, 6 - phụ lục báo báo) là những ví dụ điển hình về tình

trạng này

Người dân không chỉ không có thông tin về từng công trình đầu tư công

cụ thể mà họ còn không nắm rõ được các thông tin về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình nói chung và do vậy không có thông tin về các kế hoạch đầu tư công hoặc không biết về chủ trương đầu tư, đặc biệt của cấp huyện và tỉnh Tại các xã thuộc địa bàn tham vấn,

việc công khai kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, dự toán quyết toán ngân sách xã, dự toán quyết toán các công trình đầu tư do xã làm chủ đầu tư đã được thực hiện, tuy nhiên đa số người dân vẫn không rõ về những thông tin này Mặc dù có nghe nói hoặc có thấy, người dân không nhớ được hoặc không hiểu được những thông tin này Bên cạnh đó, người dân không có các

Trang 12

thông tin về chủ chương, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công của cấp tỉnh và huyện

“Ở đây là dân thì làm sao biết được Nghe thì cũng có lúc nghe nói nhưng không nhớ được (Nguyễn Tấn Đạt, gấp Gò Sầm, xã Láng Dài, huyện Đất

Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình)

Cách cung cấp thông tin là một trong những lý do chính khiến người dân không biết hoặc biết không đầy đủ về chủ trương đầu tư công cũng như không biết về từng công trình cụ thể Vị trí để các tờ thông tin về kế hoạch hoặc công trình không dễ thấy, thuật ngữ sử dụng quá kỹ thuật và không thân thiện v.v

là những lý do khiến thông tin dù có được công khai nhưng lại không giúp người dân hiểu được

Trong khi đó những công trình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, có đóng góp của người dân về sức lao động, tiền mặt hay hiến đất thì người dân có thông tin đầy đủ về dự toán, thiết kế, và quyết toán công trình

Người dân biết rõ công trình làm khi nào, tiến độ ra sao, cách thức đóng góp

và giám sát v.v.(Xem chi tiết tại các câu chuyện từ số 1 đến số 4 - phụ lục báo cáo)

2.2 Người dân thiếu các thông tin về người hay cơ quan chịu trách nhiệm giải trình về các công trình đầu tư công tại địa phương

Kết quả tham vấn cho thấy, không địa phương nào cung cấp cho người dân các thông tin về địa chỉ mà người dân có thể đến để tìm hiểu thêm thông tin, cũng như đưa ra các ý kiến phản hồi liên quan đến các công trình, dự án đầu tư công Nhiều người dân khi có thắc mắc thì cũng không

biết hỏi ai, đặc biệt khi những thắc mắc đó liên quan đến các công trình do cấp trên (huyện, tỉnh) làm chủ đầu tư Không chỉ người dân, mà cả chính quyền địa phương và MTTQ tại cơ sở (thôn, xã) không có đầy đủ thông tin về các công trình do cấp trên làm chủ đầu tư Do vậy, chính quyền địa phương hay MTTQ cũng không thể cung cấp thông tin hay giải đáp các thắc mắc cho người dân Thậm chí người dân và có cả cán bộ của MTTQ cũng chưa hiểu được vai trò đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của người dân của MTTQ là như thế nào Điều này khiến người dân không được đáp ứng nhu cầu giải đáp thông tin, ngoài ra cũng hạn chế vai trò của các cơ quan đại diện trong việc hỗ trợ người dân tham gia vào giám sát các công trình đầu tư công sử dụng vốn nhà nước

Trang 13

“Chúng tôi đâu có biết hỏi ai đâu, ra UBND xã thì ủy ban cũng không có biết,

vì đó là của trên đưa xuống” (Ông Ty, xã Xuyên Mộc, huyện Xuyên Mộc, tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu nói về việc tìm hiểu thông tin liên quan đến con đường liên

xã Bình Ba – Đá Bạc)

“Lúc người dân có ý kiến, họ chạy đến gặp trưởng thôn, có cả mình là MTTQ đứng đó nhưng họ không hỏi mình mà chỉ hỏi trưởng thôn thôi Mà cho đến giờ mình mới hiểu rõ là MTTQ có vai trò đại diện cho người dân như thế nào”

(Chị Nguyễn Thị Châm, cán bộ MTTQ xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình)

“Nếu người dân có hỏi gì thì cứ chạy đến trưởng thôn, nếu trưởng thôn không biết thì phải đưa lên trên” (Bà Tâm, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa

Bình)

Khi khảo sát thực tế các công trình đầu tư công tại các tỉnh tham vấn, thực tế này diễn ra ở tất cả các công trình đầu tư công được khảo sát, như công trình Trung tâm học tập cộng đồng xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; Đập Hồ Tràm ở xã Thanh Hối, Tân Lạc, Hòa Bình; công trình cầu khe nước Lặn tại thôn Xuân Lâm, xã Triệu Nguyên, huyện Dakrông, tỉnh Quảng Trị; con đường Đá Bạc – Bình Ba, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nhà sinh hoạt cộng đồng tại xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình; công trình nhà sinh hoạt cộng đồng thị trấn Klông, huyện Đakrông tỉnh Quảng trị (xem chi tiết các câu chuyện số trong phần B phụ lục báo cáo)

Việc không có thông tin về người hay cơ quan có trách nhiệm giải trình dẫn đến việc không phát huy được hiệu quả giám sát của người dân với các công trình đầu tư công Người dân không có được thông tin phản hồi kịp thời và hiệu quả khi một công trình nào đó đang thi công và có vấn đề về tính phù hợp, chất lượng và hiệu quả

2.3 Công trình đầu tư công, đặc biệt các công trình sử dụng 100% ngân sách nhà nước chưa khuyến khích và có cơ chế phù hợp để có được sự tham gia một cách hiệu quả của người dân

Kết quả tham vấn cộng đồng cho thấy người dân tại các địa bàn tham vấn đều chưa được tham gia thực chất và hiệu quả vào các hoạt động đầu tư công

Tất cả các công trình có vốn đầu tư 100% từ ngân sách nhà nước được khảo sát đều không có sự tham gia của người dân trong quá trình lựa chọn ưu tiên đầu tư/ra quyết định đầu tư công, thiết kế và giám sát thực hiện công trình Các công trình đó bao gồm các loại công trình xây dựng đập

hồ, cầu cống, đường xá, công trình nước sạch, công trình xây dựng nhà/trung tâm sinh hoạt cộng đồng, và công trình xây dựng thuộc Chương trình nông thôn mới Cụ thể: công trình Đập Hồ Tràm ở xã Thanh Hối, Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình; công trình xây dựng trung tâm học tập cộng đồng xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; công trình xây dựng nhà văn hóa thôn Đồng

Trang 14

Riệc, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; công trình con đường liên

xã Đá Bạc – Bình Ba, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; công trình nước sạch tại xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình; công trình Nhà sinh hoạt cộng đồng xã Thanh Hối, huỵên Tân Lạc; các công trình thuộc Chương trình xây dựng nông thôn mới, xã Bưng Riềng, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; công trình Đập Đồng Nội tại xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; công trình nhà sinh hoạt cộng đồng thị trấn Klông Kla, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị; và công trình nhà văn hóa thuộc mô hình Nông thôn mới tại xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (xem chi tiết các câu chuyện trong phần B phụ lục báo cáo)

Hiện nay người dân mới chỉ có thể tham gia đóng góp ý kiến và giám sát các công trình mà người dân có tham gia đóng góp - “nhà nước và nhân dân cùng làm” Người dân ở các địa bàn tham vấn cho biết họ chỉ tham gia

đóng góp ý kiến, tham gia thực hiện và giám sát đối với các công trình đầu tư công ở địa phương mà có sự đóng góp tiền, sức lao động và đất đai của mình

Chỉ có con đường nhà nước và nhân dân cùng làm thì mới thực hiện họp dân, bàn về các khoản đóng góp, sau đó công khai dự toán, quyết toán” (Bác Sơn, khu phố Phước Hòa, thị trấn Phước Bửu,

huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

(xem chi tiết các câu chuyện trong phần A – và câu chuyện về xây đập Hồ Tràm trong phần B phụ lục báo cáo)

Các công trình đầu tư công chưa có được sự tham gia hiệu quả của người dân

có thể vì cán bộ địa phương và chủ công trình chưa thấy sự tham gia của người dân là quan trọng Chính vì không thấy việc đó là quan trọng nên họ không tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự tham gia và cũng không khuyến khích

sự tham gia

2.4 Các cơ quan, tổ chức đại diện cho người dân (Ban GSCĐ, MTTQ, HĐND) chưa phát huy hiệu quả vai trò đại diện cho người dân trong các quyết định đầu tư công và giám sát thực hiện đầu tư công

Ban giám sát đầu tư cộng đồng và MTTQ chưa được tạo điều kiện để phát huy vai trò đại diện cho cộng đồng tham gia và giám sát các công trình đầu tư công Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng được Thủ tướng ban

hành theo quyết định số 80/2005/QĐ-TTg quy định quyền và trách nhiệm giám sát các công trình đầu tư của cộng đồng thông qua Ban GSĐTCĐ là đại diện cho người dân Tuy nhiên, việc thực hiện quyết định này còn nhiều bất cập Thứ nhất, Ban GSĐTCĐ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm

vụ của mình, do họ không được cung cấp hồ sơ công trình hoặc cung cấp không kịp thời để có thể theo dõi tiến độ và chất lượng công trình Năng lực giám sát của các thành viên trong Ban cũng còn hạn chế Ngoài ra, vai trò của

Trang 15

Ban này không được làm rõ trong các hợp đồng với nhà thầu, cũng như với các bên liên quan khác kể cả người dân, dẫn đến tình trạnh “hữu danh vô thực” – các thành viên của Ban hầu như không có tiếng nói với chủ đầu tư cũng như nhà thầu Còn với người dân thì họ cũng không tìm đến với Ban khi

có nhu cầu cần được giải đáp thắc mắc hoặc cần phản hồi ý kiến vì chưa biết, chưa hiểu hoặc chưa thấy được vai trò thực chất và hiệu quả của Ban giám sát đầu tư cộng đồng Tương tự như vậy, MTTQ cũng không có thông tin về thiết kế và dự toán các công trình đầu tư công và điều này gây khó khăn cản trở cho MTTQ khi muốn tham gia và tổ chức cho người dân tham gia giám sát các công trình đầu tư công

“MTTQ và các đoàn thể có tham gia giám sát chương trình xây dựng nông thôn mới… Không có thiết kế và dự toán công trình chúng tôi không giám sát được” – (MTTQ và các đoàn thể chính trị -xã hội huyện Nghĩa Hưng,

Tại các địa phương tham vấn, chính quyền địa phương đều cho rằng việc lập

kế hoạch PTKTXH và dự toán ngân sách hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu người dân, được nắm bắt thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND Các cuộc tiếp xúc cử tri này cũng được coi là kênh để người dân phản hồi những vấn đề bức xúc của địa phương Trên thực tế, kênh tiếp xúc cử tri không đảm bảo để HĐND có thể nắm bắt được hết nhu cầu, các mối quan tâm

và các vấn đề cần ưu tiên giải quyết tại địa phương Mỗi năm HĐND chỉ có nhiều nhất là 4 lần tiếp xúc cử tri, nội dung thường đề cập đến nhiều vấn đề cùng một lúc, trong khi thời gian cho mỗi cuộc tiếp xúc cử tri không dài để có thể lắng nghe hết ý kiến của người dân một cách đầy đủ và kịp thời Bên cạnh

đó, số lượng người tham gia các cuộc tiếp xúc cử tri này cũng không nhiều nên khó có thể đảm bảo tính đại diện và đầy đủ của các ý kiến

“Mỗi cuộc tiếp xúc cử tri nhiều nhất là khoảng 50 người tham gia”

(một người dân tại phường Bà Triệu, thành phố Nam Định)

Ở các địa phương khác như tỉnh Hòa Bình, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cán bộ UBND xã cho biết mỗi cuộc tiếp xúc cử tri chỉ có khoảng 10% người dân tới tham dự

Trang 16

Bên cạnh đó, đại biểu HĐND khó đưa ra các ý kiến độc lập do tình trạng không chuyên trách, nhiều đại biểu HĐND đồng thời cũng là cán bộ công chức các cơ quan hành pháp Ví dụ, Chủ tịch HĐND đồng thời cũng có thể là Phó CT UBND xã hoặc Bí thư/Phó Bí thư Đảng ủy Do vậy, việc đưa ra các ý kiến độc lập trong vai trò phản biện là khá thách thức, do bản thân đại biểu HĐND khó phân định vai trò của mình ở mỗi vị trí

2.5 Các công trình, chương trình không có sự tham gia của người dân dẫn đến không hiệu quả và lãng phí, không đáp ứng đúng nhu cầu và hoàn cảnh thực tế tại địa phương, thậm chí gây thiệt hại cho người dân

Kết quả tham vấn cho thấy việc khi người dân không được hỏi ý kiến trong quá trình khảo sát thiết kế công trình, lập dự toán và không được tham gia giám sát thực sự trong quá trình thực hiện đã dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực do các công trình không đảm bảo chất lượng, không phù hợp hoàn cảnh thực tế hoặc không đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân Kết quả khảo sát các công trình cụ thể, điển hình là 10 công

trình đầu tư công tại 4 tỉnh tham vấn minh chứng nhận định này

(1) Công trình đập Hồ Tràm ở xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình được xây dựng với mục đích đảm bảo tưới tiêu cho cánh đồng của xã, với số vốn đầu tư khoảng 40 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước Công trình được hoàn thành và đi vào sử dụng năm 2012, nhưng khi xây xong thì van xả nước bị hỏng, không trữ nước được và tới vụ mùa bà con cần nước thì đập không có nước Bà con phản ảnh rất nhiều nhưng không có kết quả, thậm chí nhận được câu trả lời “đã làm theo thiết kế rồi” Cuối cùng người dân đành phải góp sức góp công để đắp bờ mương để đảm bảo tưới tiêu cho mùa vụ

(2) Con đường Bình Ba - Đá Bạc, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được đầu tư từ ngân sách nhà nước và do tỉnh làm chủ đầu tư Bên chủ đầu tư khi thiết kế và thi công công trình không lấy ý kiến người dân dọc tuyến đường nên một số cống đặt sai vị trí, dẫn đến việc ngập lụt và làm chết vườn tiêu của một số hộ gia đình – người dân mất kế sinh nhai Bên cạnh đó nền đường cao hơn nền nhà dân xây dựng hai bên đường, gây cản trở khó khăn cho việc đi lại cho người dân và ngập lụt nhà dân hai bên đường mối khi mưa xuống Người dân và chính quyền địa phương

cơ sở đều không hài lòng về con đường này, họ kiến nghị chủ đầu tư cần tham khảo ý kiến các hộ dân và chính quyền cơ sở khi thiết kế và thi công công trình này

(3) Công trình nước sạch tại xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc, Hòa Bình được nhà nước hỗ trợ xây dựng năm 2010 Đối tượng hưởng lợi công trình này

là người dân 4 thôn Khang 1, Khang 2, Cộng 1 và Cộng 2 Kinh phí xây dựng công trình khoảng 998 triệu đồng Tuy nhiên, khi thực hiện công

Trang 17

trình, bà con chỉ biết là nhà nước làm đường nước, chứ không được biết

ai là chủ đầu tư, công trình hết bao nhiêu tiền, đơn vị thi công là ai và cũng không được đóng góp ý kiến hay tham gia giám sát Đến nay, công trình đã hoàn thành nhưng vẫn để đó, chất lượng xuống cấp nghiêm trọng, người dân không sử dụng được

(4) Công trình xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng tại xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc được xây dựng năm 2008 do huyện làm chủ đầu tư Mục đích

của việc xây dựng Nhà sinh hoạt cộng đồng này nhằm để bà con có nơi

tổ chức các chương trình sinh hoạt văn hóa văn nghệ Cả quá trình xây dựng (từ việc thiết kế tới việc chọn lựa nguyên vật liệu và thi công) toàn

bộ do Huyện thực hiện, chính quyền xã và người dân không được tham gia vào bất kỳ khâu nào Xây cất xong từ năm 2008 nhưng 3 năm trở lại đây, công trình xuống cấp nghiêm trọng, thậm chí hiện giờ không ai dám trèo lên nhà sàn này vì nó có nguy cơ sập bất cứ lúc nào

(5) Công trình đập Đồng Nội xã Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình được xây

dựng năm 2010 Người dân không được hỏi ý kiến khi khảo sát nên thiết

kế công trình không phù hợp Sau khi xây xong xảy ra tình trạng nước tràn vào vườn nhà dân gây ngập úng, nguyên nhân là do chiều cao của mặt tràn cao hơn so với quy định, đặc biệt lại cao hơn nhà dân

(6) Công trình nhà sinh hoạt cộng đồng Khóm 1, thị trấn Klông Kla, huyện Đakrông, Quảng Trị do Ban Quản lý dự án giảm nghèo của huyện làm

chủ đầu tư Người dân Khóm 1 cho rằng chất lượng công trình không đảm bảo, mới sử dụng năm 2010 mà nay đã xuống cấp nhanh chóng do

chất lượng kém Ông Cương, đại diện người dân nói rằng: “Với số tiền

140 triệu khi đó nếu giao cho dân làm thì sẽ làm được cái nhà tốt hơn nhà hiện tại rất nhiều”

(7) Công trình Cầu khe nước Lặn tại thôn Xuân Lâm, xã Triệu Nguyên, huyện Dakrong, tỉnh Quảng Trị được xây dựng năm 2009, với ngân sách là 25

triệu đồng Mục đích của công trình là để giao thông đi lại thuận tiện, nhất

là vào mùa mưa Nhưng do người dân không được tham gia vào khảo sát, dự toán và giám sát thi công nên hậu quả là công trình tuy đã hoàn thành nhưng chẳng những đã không giúp người dân đi lại thuận tiện như mong đợi, mà còn gây cản trở ngược lại Công trình hiện trở thành nơi đổ

và chứa rác của bà con Người dân đã nhiều lần kiến nghị phá bỏ cầu này nhưng vẫn chưa nhận được phản hồi từ chính quyền

(8) Công trình Trung tâm học tập cộng đồng xã Khoan Dụ, Lạc Thủy, Hòa Bình được xây dựng năm 2005 với vốn đầu tư 4 tỷ đồng Trước khi xây dựng công trình này, cán bộ xã đã trình bày rất nhiều lần về điều kiện thực tế ở địa phương là vùng ngập lụt và đề nghị cần khảo sát kỹ, cụ thể phải đảm bảo chiều cao công trình, giảm tối đa ảnh hưởng của lũ lụt Tuy nhiên, các cơ quan cấp trên vẫn giữ nguyên thiết kế theo mẫu của tỉnh và

xã nhận được một câu trả lời “Có nhận thì nhận, không nhận thì chúng tôi

Trang 18

mang đi xã khác” Kết quả là sau khi hoàn thành, vào các mùa lũ công trình này thường bị ngập nước, đỉnh điểm là năm 2007, mực nước ngập lên đến ngang cửa chính Việc xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng không tiếp thu ý kiến chính quyền cơ sở và tham vấn ý kiến người dân đã tạo ra bức xúc của chính quyền cơ sở và người dân địa phương

Bên cạnh những công trình được minh chứng ở trên, còn có các công trình khác được khảo sát cho thấy người dân không được hỏi ý kiến trong quá trình khảo sát thiết kế, lập dự toán và không được tham gia giám sát thực sự trong quá trình thực hiện đã dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực do không đáp ứng được nhu cầu ưu tiên của người dân, hoặc không đảm bảo chất lượng, không phù hợp hoàn cảnh thực tế, như việc phân bổ nguồn lực cho các công trình xây dựng thuộc Chương trình nông thôn mới tại xã Bưng Riềng, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, và việc đầu tư công trình ở

xã Minh Nghĩa, huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định (xem chi tiết tại câu chuyện số 8 và các câu chuyện khác ở phần B – Phụ lục báo cáo)

Quá trình tham vấn cũng ghi nhận những phản ứng không hài lòng và thậm chí mất lòng tin của người dân và các cấp chính quyền điạ phương khi các

quyết định đầu tư công và việc sử dụng tiền (ngân sách) dành cho các công trình đầu tư công không hiệu quả và lãng phí Đơn cử, chị Dự, một trong những người hưởng lợi từ công trình nước sạch xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

chia sẻ “thấy bảo công trình này là công trình của nhà nước tới làm cho, thấy vui lắm Nghĩ chắc chắn là công trình của nhà nước thì kiểu gì cũng rất tốt, rất yên tâm Ai chứ nhà nước mà đã giám sát thì chắc chắn rồi Ai dè đâu công trình của nhà nước mà giờ dân chả được hưởng gì…”, hoặc bác Lâm tại Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy chia sẻ “Trước đây tôi rất tâm huyết với chủ trương của nhà nước, nhưng quá trình thực hiện đã làm mất lòng tin của tôi và của người dân Tôi chỉ mong có quyền xây dựng, giám sát, kiểm tra và có quyền được biết tất cả thông tin” Ông Nguyễn Ái Ba, một người dân Khóm 1 thị trấn Klông Kla nói: “Luật có chỉ

ở trên giấy tờ, thực tế người dân không tham gia, không biết”; hay một đại diện người dân xã Hòa Lộc, TP Nam Định đã chia sẻ “Các công trình cứ làm xong mà không sử dụng được hoặc nhanh xuống cấp thì người dân cũng thấy xót vì tiền bị lãng phí Nếu cứ như thế mãi thì người dân mất lòng tin vào Đảng, vào chính quyền”

2.6 Người dân mong muốn được cung cấp thông tin, được lấy ý kiến

và tham gia giám sát các công trình đầu tư công ở địa phương nơi họ sinh sống

Kết quả tham vấn cho thấy, người dân có ý kiến và mong muốn được cung cấp thông tin và được tham gia vào quá trình lập kế hoạch và giám sát các công trình đầu tư công ở địa phương nơi mình sinh sống

Trang 19

“Tôi rất muốn tham gia giám sát công trình xây đập (Hồ Tràm) này để đảm bảo chất lượng của công trình” (Anh Ninh, xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc,

tỉnh Hòa Bình)

Ông Hà Văn Nam trưởng phòng TCKH huyện cho biết: “con đường Đá Bạc

– Bình Ba được xây dựng xong thì sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho bà con nhân dân dọc theo tuyến đường đi qua Nhưng đúng là BQL dự án nên tham khảo ý kiến của xã và chính người dân địa phương khi thiết kế và thi công con đường thì sẽ tránh được những điều đáng tiếc như vậy và công trình do nhà nước đầu tư sẽ hiệu quả cao hơn”

Bác Lâm người dân tại xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình cho

biết “Trước đây tôi rất tâm huyết với chủ trương của nhà nước, nhưng quá trình thực hiện đã làm mất lòng tin của tôi và của người dân Tôi chỉ mong

có quyền xây dựng, giám sát, kiểm tra và có quyền được biết tất cả thông tin

Các câu chuyện được liệt kê tại phần B Phụ lục báo cáo cũng là những minh chứng cụ thể về mong muốn này của người dân, cụ thể: Câu chuyện về công trình Đập Hồ Tràm ở xã Thanh Hối, Huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình; công trình cầu khe nước Lặn tại thôn Xuân Lâm, xã Triệu Nguyên, huyện Dakrong, tỉnh Quảng Trị; con đường Đá Bạc – Bình Ba, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; công trình nước sạch tại xã Quy Hậu, Tân Lạc, Hòa Bình; Nhà sinh hoạt cộng đồng tại xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc; công trình Đập Đồng nội tại

xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, công trình nhà sinh hoạt cộng đồng trấn Klông, huyện Đakrông tỉnh Quảng trị

2.7 Sự tham gia của người dân vào các công trình đầu tư công (lập kế hoạch, xây dựng dự toán, thiết kế, giám sát thực hiện) góp phần mang lại sự hài lòng của người dân và đảm bảo hiệu quả đầu tư công

Kết quả tham vấn cho thấy rõ các công trình được khảo sát có sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch, xây dựng dự toán, thiết kế và giám sát thực hiện thì các công trình đều mang lại sự hài lòng và hiệu quả cao

vì đáp ứng được nhu cầu của người dân và chi phí hiệu quả Điển hình là

công trình đèn đường tại thôn Xuân Lâm và Na Nẫm, xã Triệu Nguyên, huyện Dakrông, tỉnh Quảng Trị; công trình xây dựng nhà văn hóa thôn Đồng Riệc, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; công trình điểm sinh hoạt cộng đồng của khu phố Phước Hòa, thị trấn Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; công trình đường nhánh Đón Lang tại thôn Cộng 2, xã Quy Hậu, tỉnh Hòa Bình; công trình đường bê tông Kim Đồng tại Khu phố 6, phường 2, Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; xây dựng hệ thống mương tưới tiêu tại Thôn Bào, xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình; công trình làm đường tại tổ

4, phường Tràng Thi, thành phố Nam Định (xem chi tiết các câu chuyện điển trong phần A phụ lục báo cáo)

Trang 20

Với những công trình này, khi có chủ trương xây dựng, chính quyến cơ sở (xã, thôn) họp dân, thông báo về chủ trương, kế hoạch đầu tư, lấy ý kiến người dân về thiết kế và dự toán ngân sách của công trình và kêu gọi, đề xuất các khoản đóng góp của người dân (ngày công lao động, tiền mặt hay hiến đất) Người dân thấy được sự cần thiết của các công trình đối với cá nhân và cộng đồng của mình, hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia xây dựng công trình Họ phần khởi và tích cực tham gia đóng góp ý kiến và nguồn lực vào việc xây dựng kế hoạch, thực hiện và giám sát các công trình

“Chúng tôi cảm thấy rất phấn khởi, hài lòng về chất lượng công trình vì có

sự tham gia của người dân và mong muốn các công trình trên địa bàn đều

có sự tham gia của người dân”(Một người dân tại thôn Xuân Lâm, xã Triệu Nguyên, huyện Dakrông, tỉnh Quảng Trị )

“Vì tài chính công khai, minh bạch, và sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân nên mới có thể làm được công trình này” (Chị Tâm, người dân thôn Đồng

Riệc, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, Hòa Bình)

“Tôi vẫn nhớ mãi cái ngày hôm ấy, trời mưa to lắm, nhưng là ngày đầu tiên ban vận động bắt đầu đi gặp các hộ dân để huy động tiền đóng góp Chúng tôi đi một mạch đến đêm mới về nhưng chúng tôi huy động được ngay lập tức của bà con hơn 30 triệu Dân tôi đúng là có tấm lòng vàng Có việc gì khó dân làm xong ngay” (ông Lê Thanh Sơn – thành viên ban

giám sát cộng đồng khu phố Phước Hòa, thị trấn Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Qua tham vấn và khảo sát cũng thấy rõ một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của các công trình này - chính là sự quyết tâm của cán bộ chính quyền địa phương trong việc tổ chức cho người dân tham gia và giám sát các công trình này

“Khi có người dân tham gia công trình đảm bảo chất lượng hơn, họ có trách nhiệm duy tu, bảo dưỡng công trình, thi công mà người dân thì giảm được chi phí mà vẫn đảm bảo chất lượng tốt, có sự đồng thuận của người dân thì việc gì cũng có thể làm được Cái gì xuất phát từ nhu cầu của người dân, lắng nghe người dân, có được sự đồng thuận của dân thì sẽ đạt hiệu quả cao” (ông Đặng Mai Sơn, phó bí thư tỉnh đoàn tỉnh Hòa Bình)

Các minh chứng này cho thấy người dân hoàn toàn có thể tham gia thực chất

và hiệu quả vào quản lý các công trình đầu tư công tại địa phương Bên cạnh

đó cũng cho thấy rõ ràng khi chính quyền địa phương có quyết tâm thì họ hoàn toàn có thể tổ chức cho người dân tham gia và giám sát các công trình đầu tư công tại địa phương một cách thực chất và hiệu quả

Thậm chí cộng đồng hoàn toàn có thể tham gia đấu thấu và quản lý xây dựng công trình đầu tư công tại địa phương với 100% vốn đầu tư từ

Trang 21

ngân sách nhà nước Cộng đồng xây dựng kế hoạch và tham gia đấu thầu

cho công trình mương tưới tiêu tại thôn Bảo, xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc tỉnh Hòa Bình Họ bầu các thành viên ban giám sát đầu tư cộng đồng để quản

lý và giám sát công trình, lập dự toán, tổ chức họp dân bàn bạc và thống nhất

kế hoạch xây dựng, thuê thợ và chia sẻ công khai minh bạch các thông tin về tài chính với người dân của địa phương Kết quả là, công trình được hoàn thành chất lượng tốt, đảm bảo nhu cầu sản xuất và tiêu ứng cho nông nghiệp

và chi phí hiệu quả Trong khi đó cũng ở thôn này, trước đó huyện làm chủ đầu tư và thuê thợ về xây dựng hệ thống mương tưới tiêu cho thôn, nhưng sau khi nghiệm thu con mương thì gần như không sử dụng được, chỉ ít lâu sau khi hoàn thành nhiều chỗ đã bị vỡ, nứt, sụt và bục cả mảng lớn, nước không thoát ra được Đặc biệt, mương cao hơn đồng ruộng, không tưới được cho đồng và cũng khó tiêu úng trong mùa mưa (xem chi tiết câu chuyện số 1

về xây dựng hệ thống mương tưới tiêu tại Thôn Bào, xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình)

Cộng đồng cũng hoàn toàn có thể tham gia vào việc lập kế hoạch phát triên kinh tế xã hội và quản lý ngân sách nhà nước của xã/phường và các công trình đầu tư công ở địa phương Phường Tràng Thi, thành phố

Nam Định áp dụng mô hình mới để người dân tham gia vào việc lập kế hoạch

và quản lý ngân sách nhà nước, đại diện tổ dân phố được tham gia cuộc họp lựa chọn ưu tiên những việc, những công trình sẽ làm trong năm tới, việc nâng cấp con đường tại tổ 4 đã được đưa vào danh sách ưu tiên đầu tư của phường Sau khi được phổ biến về nguồn ngân sách hỗ trợ từ phường và quỹ Sáng kiến cộng đồng, cán bộ tổ dân phố đã họp xin ý kiến người dân và cùng nhau quyết tâm sửa con đường để cải thiện điều kiện đi lại và cảnh quan khu dân cư Người dân được xin ý kiến về thiết kế con đường, ngân sách và phương án đóng góp và họ bầu ra một tổ tự quản để tổ chức thực hiện, giám sát công trình và quản lý việc thu chi của công trình Biên bản họp ghi chép nội dung thảo luận và các điểm thống nhất trong các cuộc họp dân đều được gửi tới toàn bộ hộ dân trong tổ để xem xét kỹ lưỡng và ký xác nhận đồng ý (Xem chi tiết câu chuyện số 2 về công trình làm đường tại tổ 4, phường Tràng Thi, thành phố Nam Định tại phụ lục báo cáo)

Qua các cách làm công khai minh bạch và có sự tham gia của người dân, người dân nhận thức được rõ lợi ích và nghĩa vụ của mình Người dân hài lòng với chất lượng và hiệu quả của công trình Quy chế dân chủ cơ sở “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được áp dụng hiệu quả, sự hiểu biết giữa chính quyền điạ phương và người dân được tăng cường, và người dân tin tưởng hơn vào chính quyền địa phương

Trang 22

PHẦN I : CÁC KHUYẾN NGHỊ TỪ CỘNG ĐỒNG VÀ NHÓM THAM VẤN

3.1 Khuyến nghị của cộng đồng

Về công khai minh bạch thông tin và cơ chế phản hồi thông tin

 Công khai thiết kế, dự toán và mức đầu tư của các công trình xây dựng cơ

sở hạ tầng và công trình công cộng xây dựng trên địa bàn địa phương, và công khai sử dụng ngân sách và vốn vay từ các ngân hàng phát triển tới người dân và Ban giám sát đầu tư cộng đồng để thực hiện giám sát hiệu quả hơn

 Nâng cao nhận thức của người dân về các công trình đầu tư công và ngân sách cho công trình thông qua tuyên truyền

 Tăng cường cơ chế phản hồi thông tin giữa người dân, chính quyền địa phương và chủ đầu tư, đơn vị thi công các công trình đầu tư công tại địa phương

 Bổ sung quy định nêu rõ chủ đầu tư phải công bố công khai những thông tin sau đối với mọi công trình: Tên công trình, thời gian thực hiện, tổng dự toán, đơn vị chủ đầu tư, đơn vị thực hiện, đơn vị giám sát, và tên cũng như

số điện thoại liên hệ của người chịu trách nhiệm giải đáp thông tin cũng như tiếp nhận ý kiến phản hồi của người dân

Về sự tham gia của người dân

 Tất cả các công trình công cộng trên địa bàn địa phương cần phải phải xuất phát từ nhu cầu của người dân Cần lấy ý kiến người dân về khoản chi đầu tư để đảm bảo chi đúng nhu cầu của người dân

 Cần tham khảo ý kiến của chính quyền cơ sở (thôn và xã) và chính người dân địa phương khi lập kế hoạch, thiết kế và thi công các công trình, đặc biệt là đường xá

 Đảm bảo cơ chế giám sát của người dân thông qua ban giám sát đầu tư cộng đồng: nâng cao năng lực cho ban giám sát, có cơ chế giám sát hiệu quả; khẳng định vai trò của ban giám sát đầu tư cộng đồng trong tất cả các công trình và chương trình tại địa phương

Về chế tài thực hiện

 Quy định chế tài đối với việc chủ đầu tư không cung cấp, không cung cấp đầy đủ hồ sơ công trình cho Ban Giám sát đầu tư cộng đồng

Trang 23

3.2 Kết luận và khuyến nghị của nhóm tham vấn

Sự tham gia giám sát của cộng đồng thực sự mang lại hiệu quả cho các công trình đầu tư và niềm tin trong nhân dân

 Các minh chứng cụ thể trên đã khẳng định khi có sự tham gia của người dân thì những công trình đầu tư sẽ đáp ứng được đúng nhu cầu của người dân từ đó sẽ tránh được lãng phí Sự tham gia của người dân cũng làm tăng tính sở hữu của họ với công trình và từ đó tăng trách nhiệm khi sử dụng công trình Sự tham gia của người dân cũng giúp củng cố sự hiểu biết và niềm tin giữa người dân và chính quyền địa phương

Đặt yêu cầu “minh bạch, giải trình và sự tham gia” thành một điều kiện bắt buộc trong đầu tư công

 Thực tế từ các công trình “nhà nước và nhân dân cùng làm” có thể thấy các Bộ, ngành và địa phương hoàn toàn có thể thực hiện minh bạch và giải trình cũng như tạo điều kiện để người dân tham gia đóng góp ý kiến, trao đổi, thảo luận nếu họ thấy cần và bắt buộc phải làm như vậy

 Những băn khoăn/nghi ngờ về khả năng tham gia của người dân sẽ được giải quyết khi sự tham gia của người dân là một yếu tố bắt buộc (hay nói một cách khác là nếu đó là một điều kiện tiên quyết để một công trình nào

đó được thực hiện)

 Cán bộ địa phương cần được hiểu rõ sự khác biệt giữa công khai với minh bạch và ý nghĩa của trách nhiệm giải trình Khi ý thức được công khai chưa phải đã là minh bạch và nếu được yêu cầu phải đạt được sự minh bạch thì các bên thực thi nhiệm vụ đầu tư công sẽ tìm được giải pháp để thực hiện việc minh bạch

Sử dụng hiệu quả các kênh thông tin hiện có để đảm bảo sự công khai minh bạch

 Hiện giờ tại địa phương đã có rất nhiều các kênh thông tin khác nhau bao gồm kênh thông tin trực tiếp (họp tiếp xúc cử tri, họp thôn/xóm) và kênh gián tiếp (bảng tin, loa phóng thanh, trang web) Các kênh này cần được

sử dụng hiệu quả hơn để thông tin về các công trình đầu tư công trên địa bàn đến với người dân Các thông tin cần được trình bày rõ ràng, chi tiết

để người dân dễ hiểu

 Bên cạnh việc cung cấp thông tin, cũng cần có một chỉ dẫn rõ ràng về vai trò trách nhiệm giải trình của các bên liên quan đến các công trình đầu tư công Cụ thể chỉ dẫn này phải đảm bảo người dân biết được với mỗi vấn

đề thì gặp ai, ở đâu, khi nào

Trang 24

Phát huy vai trò của các tổ chức đại diện cho tiếng nói của người dân trong tham gia và giám sát các công trình đầu tư công

 Về mặt lý thuyết, người dân có thể tham gia và giám sát các công trình đầu

tư công thông qua các tổ chức đại diện của mình, tuy nhiên cần có các quy định cụ thể về các nguyên tắc và qui trình đảm bảo sự tham gia

 Cần xem xét và điều chỉnh bổ sung Thông tư liên tịch BKHĐT-UBTƯMTTQVN-BTC hướng dẫn quyết định 80/2005/QĐ-TTg quy định việc thành lập Ban GSĐTCĐ, vì trên thực tế trong quá trình triển khai thực hiện thông tư vẫn chưa đảm bảo người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp tham gia và giám sát các công trình đầu tư công và chưa tạo điều kiện để phát huy được vai trò thực chất của Ban GSĐTCĐ

04/2006/TTLT- Các cơ quan đại diện, cụ thể là MTTQ, các tổ chức thành viên của MTTQ

và Ban GSĐTCĐ cần hiểu được vai trò đại diện của mình là làm gì và làm như thế nào Các cơ quan đại diện cần tích cực hỗ trợ và tổ chức cho người dân tham gia và giám sát các hoạt động đầu tư công

 Cần huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong quá trình tổ chức, hỗ trợ và hướng dẫn người dân tham gia và giám sát các

hoạt động đầu tư công

Trang 25

PHẦN V: NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ VÀ NGUYÊN NHÂN

Trên cơ sở các kết quả tham vấn cộng đồng để góp ý cho dự thảo Luật NSNN sửa đổi tại các tỉnh Hòa Bình, Nam Định, Quảng Trị và Bà Rịa Vũng Tàu, nhóm chuyên gia và nhóm thực hiện tham vấn đã cùng tiến hành phân tích và nhận diện các vấn đề, phân tích nguyên nhân liên quan đến chủ đề tham vấn về tăng cường công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân trong các hoạt động đầu tư công Nội dung phân tích tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành có liên

quan và các quy định tương ứng trong dự thảo Luật đầu tư công

4.1 Vấn đề 1: Tính công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công còn hạn chế, chưa bảo đảm sự tham gia của người dân, dẫn đến còn tình trạng đầu tư lãng phí, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân

Các biểu hiện của vấn đề này:

 Những công trình đầu tư 100% vốn từ ngân sách nhà nước, đặc biệt là do cấp trên như cấp huyện, cấp tỉnh làm chủ đầu tư trên địa bàn, thì hầu hết người dân không có hoặc không có đủ thông tin cần thiết và việc triển khai thực hiện công trình không phù hợp với nhu cầu địa phương (vụ việc công trình nước sạch ở xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc, Hòa Bình, con đường Đá Bạc – Bình Ba, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các công trình khác – xem thêm các câu chuyện trong phần B phụ lục báo báo)

 Thông tin về các chương trình, dự án đầu tư công thường không đầy đủ, khó hiểu, khó nhớ và khó tham gia để biết đâu là đúng hoặc sai, cũng như

để nhận diện được vi phạm xảy ra (ý kiến tham vấn tại hầu hết tất cả các tỉnh Quảng Trị, Hòa Bình, Nam Định, Bà Rịa - Vũng Tàu)

 Người dân thường không nắm rõ được các thông tin về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình và không có thông tin về các kế hoạch đầu tư công hoặc không biết về chủ trương đầu tư (điển hình vụ việc xây dựng đường liên xã Bình Ba – Đá Bạc tại huyện Xuyên Mộc, tỉnh

Bà Rịa - Vũng Tàu, công trình đập Hồ Tràm xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, Hòa Bình, – xem thêm các câu chuyện trong phần B phụ lục báo báo)

Nhận diện các nguyên nhân:

 Thứ nhất, việc thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư công mặc dù

đã được quy định tương đối toàn diện, song còn nằm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, hiệu lực pháp luật chưa cao, dẫn đến quá trình áp dụng còn hạn chế

Thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư công chủ yếu được quy định trong

Trang 26

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan1 Tuy nhiên, thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư công chỉ là một trong các nội dung công khai ở cấp cơ sở để người dân có ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định Theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 19 Pháp lệnh, các nội dung công khai bao gồm: dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh

tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã; dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã; dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở

hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư Như vậy, các nội dung

công khai chưa bao gồm chủ trương đầu tư công, dự thảo các chương trình, dự

án, kế hoạch đầu tư công Đồng thời, Pháp lệnh cũng chưa đề cập đến việc công khai các thông tin, tài liệu mang tính hỗ trợ cho quá trình lấy ý kiến của người dân (như thuyết minh các phương án đầu tư công hoặc phương án tính toán, phân bổ nguồn vốn cho các chương trình, dự án đầu tư công ) và đặc biệt là chưa quy định về các hành vi vi phạm, hình thức xử lý đối với thủ trưởng các ngành, các cấp hoặc cá nhân, tổ chức có liên quan khi vi phạm việc thực hiện công khai, minh bạch Tương tự như vậy, các quy định về giám sát đầu tư của cộng đồng cũng chưa quy định rõ về các biện pháp và điều kiện bảo đảm hiệu quả giám sát đầu tư cộng đồng, xử lý kết quả giám sát và xử lý vi phạm Ngoài ra, ở cấp độ pháp lệnh, hiệu lực của các quy định pháp luật về công khai, minh bạch trong đầu

tư công không được đảm bảo khi có sự khác biệt với quy định của các đạo luật2 Đối chiếu với dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, các quy định về công khai, minh bạch trong Dự thảo vẫn chưa khắc phục được những bất cập ở trên Không chỉ

có vậy, Dự thảo còn chưa luật hóa được những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã được khẳng định là phù hợp trên thực tế như quy định về trách nhiệm của thủ trưởng các ngành, các cấp hoặc của các tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp thông tin, giải trình làm rõ các vấn đề có liên quan đến đầu tư công; quy định về các hình thức thực hiện công khai, minh bạch tương ứng với từng nội dung hoặc hoạt động đầu tư công cụ thể

1 Đặc biệt là Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng ban hành kèm theo Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg;

2 Luật phòng, chống tham nhũng (Luật PCTN), Luật đấu thầu, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí có một số quy định có liên quan như tại các Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16 và Điều 17 (Luật PCTN) về công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản; trong quản lý dự

án đầu tư xây dựng; trong tài chính và ngân sách nhà nước; trong huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân; trong quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ Tuy nhiên, các yêu cầu về công khai, minh bạch chưa bao trùm hết các hoạt động đầu tư công và có những khác biệt so với Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 Vì vậy, dự thảo Luật đầu tư công với vai trò là đạo luật chuyên ngành cần quy định thống nhất về nội dung này cho phù hợp với yêu cầu đặc thù trong hoạt động đầu tư công.

Trang 27

 Thứ hai, pháp luật hiện hành chưa quy định về công khai, minh bạch trong quá trình lập kế hoạch đầu tư công, đặc biệt là việc lập, phê duyệt chủ trương đầu tư công; hoặc việc lập, thẩm định và phê duyệt các chương trình, dự án đầu tư công

Hiện tại Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật riêng điều chỉnh về lập kế hoạch, do vậy việc lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được quy định trong Luật ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là Luật NSNN) và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan3 Tuy nhiên, qua tham chiếu tới các quy định pháp luật có liên quan, thì việc công khai, minh bạch các thông tin, dữ liệu trong quá trình lập kế hoạch đầu tư công, việc phê duyệt chủ trương đầu tư công hoặc lập, thẩm định và phê duyệt các chương trình, dự án đầu tư công chưa được làm

rõ, đặc biệt là dự thảo các quy hoạch, kế hoạch, chủ trương, chương trình, dự án, cũng như kết quả tiếp thu, giải trình ý kiến của người dân Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, người dân không biết hoặc không tham gia được vào quá trình hình thành chủ trương, xây dựng chương trình, dự án đầu tư công và do đó dẫn đến tình trạng các chương trình, dự án đầu tư công chưa phù hợp với các ưu tiên phát triển của địa phương

Căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, việc thực hiện công khai, minh bạch trong lĩnh vực đầu tư công chủ yếu được thực hiện qua việc công bố thông tin, làm rõ và giải thích về các quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt (như quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất, kế hoạch đầu tư ); các chương trình, dự án đã được quyết định (như quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, tiến độ và kế hoạch đầu

tư, diện tích thu hồi đất và sử dụng đất ) Như vậy, các thông tin, dữ liệu có liên quan đến việc lập, phê duyệt chủ trương đầu tư; việc lập, thẩm định, quyết định các chương trình, dự án đầu tư công đều không phải bắt buộc công khai

Dự thảo Luật đầu tư công được xây dựng mới hoàn toàn đã bổ sung quy định về việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm, lập và phê duyệt chủ trương chương trình, dự án đầu tư công và các quy định về công khai, minh bạch Tại Khoản 5 Điều 12 Dự thảo quy định về bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; Điều 14 về công khai, minh bạch trong đầu tư công và Điều 48 về nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch và công bằng trong lập kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm Tuy nhiên, Dự thảo vẫn chưa thể hiện được cụ thể các yêu cầu về thực hiện công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng chủ trương đầu tư, lập, thẩm định chương trình,

dự án và lập, thẩm định kế hoạch đầu tư công

 Thứ ba, hình thức công khai còn mang tính chiếu lệ mà chưa thực sự tạo

3 Đặc biệt là Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 của Chính phủ ban hành Quy chế xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương

Trang 28

thuận lợi cho người dân tiếp cận các thông tin về đầu tư công

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc công khai các thông tin có liên quan đến đầu tư công ở cấp cơ sở chủ yếu dựa trên các hình thức, bao gồm: họp cử tri hoặc đại diện các hộ gia đình; phát phiếu lấy ý kiến; qua hòm thư góp ý; thông báo tại hội nghị nhân dân hoặc của MTTQ; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; niêm yết tại trụ sở chính quyền địa phương hoặc nhà văn hóa xã Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định mang tính “chỉ dẫn”, “hỗ trợ” cho người dân về việc công khai để thu hút sự quan tâm của họ Ví dụ: quy định trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc thông báo cho người dân về việc công khai các thông tin về đầu tư công bằng những phương thức, nội dung đơn giản,

dễ hiểu như công bố địa chỉ giải đáp hoặc cung cấp thông tin hỗ trợ về đầu tư công

Tham chiếu đến dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, các phương thức nhằm “chỉ dẫn”, “hỗ trợ” cho người dân tiếp cận đến các thông tin đầu tư công được công khai vẫn chưa rõ và do vậy chưa khắc phục được những bất cập phân tích ở trên, như chưa quy định về trách nhiệm phải thông báo cho người dân và các chủ thể

có liên quan về việc công khai thông tin đầu tư công (công khai ở đâu, khi nào công khai, công khai trong thời gian bao lâu và đơn giản hóa nội dung công khai)4 Ngoài ra, Khoản 1 Điều 14 Dự thảo có quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện công khai theo quy định của pháp luật, tuy nhiên quy định này vẫn còn chưa cụ thể Cơ quan, tổ chức, đơn vị

ở đây được hiểu là có liên quan đến quản lý, sử dụng vốn đầu tư công hay có liên quan đến hoạt động đầu tư công nói chung?

 Thứ tư, các quy định pháp luật hiện hành chưa quy định rõ các hình thức

xử lý đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công

Như đã phân tích ở trên, các quy định pháp luật hiện hành chưa quy định về việc

xử lý các hành vi vi phạm nguyên tắc, các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công hoặc không tiếp thu ý kiến tham gia của người dân Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiệu lực thực thi của các quy định này còn hạn chế và trên thực tế người dân vẫn không có thông tin về các chương trình, dự án đầu tư công hoặc người dân cũng không quan tâm đến vì cho rằng ý kiến của mình không được tính đến một cách nghiêm túc

Đối chiếu với dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, bất cập phân tích trên chưa được khắc phục Mặc dù Dự thảo tại Điều 16 quy định về các hành vi bị cấm trong đầu tư công; Điều 103 quy định về xử lý vi phạm, tuy nhiên cả hai điều này đều không quy định về hành vi vi phạm nguyên tắc công khai, minh bạch trong

4 Điều 12 Luật PCTN có quy định về các hình thức công khai, tuy nhiên vẫn chưa bao quát được hết các hình thức đã quy định trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm

2007 Bên cạnh đó, Luật PCTN và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành vẫn chưa có các quy định cụ thể về phương thức thực hiện các hình thức công khai dẫn đến việc áp dụng còn hình thức, khó thống nhất

Trang 29

đầu tư công để làm cơ sở cho việc đưa ra các hình thức xử lý phù hợp, bao gồm

cả xử lý kỷ luật và xử phạt hành chính trong các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

4.2 Vấn đề 2: Trách nhiệm giải trình trong các hoạt động đầu tƣ công chƣa rõ ràng để làm căn cứ cụ thể hóa trách nhiệm của từng chủ thể

có thẩm quyền

Các biểu hiện của vấn đề này:

 Người dân thường không biết hỏi ai để được làm rõ về các thông tin có liên quan đến các chương trình, dự án đầu tư công ở địa bàn mình sinh sống (đơn cử trường hợp vụ việc của ông Ty ở Vũng Tàu)

 Trong một số trường hợp, người dân bị mất lòng tin vào các cấp chính quyền do việc sử dụng ngân sách không hiệu quả trong các chương trình,

dự án đầu tư công (đơn cử trường hợp chị Dự ở Hòa Bình, hay bác Lâm tại Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, xem thêm chi tiết các câu chuyện trong phần B phụ lục báo báo)

 Kênh tiếp xúc cử tri chưa đủ để HĐND nắm bắt được hết nhu cầu, mối quan tâm và vấn đề cần ưu tiên giải quyết tại địa phương, đặc biệt là trong việc phê duyệt chủ trương đầu tư công (ý kiến ở các địa phương tổ chức tham vấn

 Đại biểu HĐND các cấp khó đưa ra các ý kiến độc lập do tình trạng không chuyên trách, một người đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau (ý kiến ở các địa phương tổ chức tham vấn)

Nhận diện các nguyên nhân:

 Thứ nhất, các quy định pháp luật hiện hành chưa quy định rõ trách nhiệm giải trình và mối quan hệ giữa các bên liên quan trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình về hoạt động đầu tư công5

Xét ở một khía cạnh nhất định, việc phê duyệt chủ trương đầu tư công; lập, thẩm định và quyết định chương trình, dự án đầu tư công có liên quan chặt chẽ đến quá trình lập, phê duyệt dự toán, phân bổ ngân sách nhà nước Vì vậy, khi xem xét về trách nhiệm giải trình trong đầu tư công cần nhìn nhận cả từ góc độ pháp

5 Hiện tại, “trách nhiệm giải trình” mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như tại Điều 32a, Luật PCTN; từ Điều 73 đến Điều 76, Luật đấu thầu Trên thực tế, các

cơ quan nhà nước đã thực hiện trách nhiệm giải trình thông qua các hình thức “báo cáo”, “trả lời chất vấn” hoặc “giải thích, làm rõ” trong quá trình thông qua các chủ trương, chính sách hoặc pháp luật Tuy nhiên, thuật ngữ này vẫn chưa được quy định cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư công, chưa gắn kết được với nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn Đồng thời, các quy định trong Luật PCTN, Luật đấu thầu cũng không thay thế được trách nhiệm giải trình trong các hoạt động đầu tư công

Trang 30

luật về NSNN và các quy định pháp luật về đầu tư công

Chương II Luật NSNN năm 2002 về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ quan khác của Nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của

tổ chức, cá nhân về ngân sách nhà nước (từ Điều 15 Đến Điều 29) đã có một số quy định liên quan trách nhiệm giải trình như trách nhiệm báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tình hình thức hiện ngân sách nhà nước (Khoản 5 Điều 20); nhiệm vụ báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực quản lý (Khoản 4 Điều 24, Khoản 7 Điều 26); hoặc trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra sai phạm thuộc phạm vi quản lý (Điều 29) Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ về việc thực hiện nghĩa vụ giải trình trong tất cả các giai đoạn của quy trình ngân sách và chưa trả lời được câu hỏi cụ thể là Ai sẽ phải giải trình trước ai? Tương tự như vậy, quy định của các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến đầu tư công cũng không làm rõ được những vấn đề này như Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg

Tham chiếu đến dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, khái niệm “trách nhiệm giải trình” tiếp tục chưa được ghi nhận chính thức Dự thảo Luật đã dành hẳn Chương

V quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư công Tuy nhiên, mối quan hệ giải trình giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phê duyệt chủ trương, kế hoạch đầu tư công; đề xuất chương trình, dự án đầu tư công; quyết định chương trình, dự án đầu tư công; quản lý và thực hiện chương trình, dự án đầu tư công; thanh tra, kiểm tra hoạt động đầu tư công và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan vẫn chưa được làm rõ Đồng thời, mặc dù có quy định tại Mục 2 Chương V

về quyền và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong đầu tư công, song còn thiếu cụ thể, chưa phân định được giữa trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tổ chức, đặc biệt là khi để xảy ra các sai phạm trong hoạt động đầu tư công

 Thứ hai, pháp luật hiện hành chưa quy định rõ nội dung giải trình về các vấn đề có liên quan trong phê duyệt chủ trương, các chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công

Về nguyên tắc, nội dung giải trình được xác định căn cứ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo luật định đối với các cơ quan, tổ chức, đơn

vị, cá nhân có liên quan trong các hoạt động đầu tư công, bao gồm: lập đề xuất, thẩm định và quyết định chủ trương đầu tư công; lập, thẩm định và phê duyệt chương trình, dự án; lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công; thực hiện kế hoạch đầu tư công hằng năm và các chương trình, dự án đầu tư công; việc thanh tra, kiểm tra hoạt động đầu tư công Vì vậy, hiệu quả thực hiện trách nhiệm giải trình không được đảm bảo khi Luật NSNN năm 2002 chỉ quy định

chung chung như “báo cáo về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước, các dự án

Trang 31

và công trình quan trọng quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các

dự án và công trình xây dựng cơ bản quan trọng khác” (Khoản 5 Điều 20) hoặc

“báo cáo tình hình thực hiện và kết quả sử dụng ngân sách thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách theo chế độ quy định” (Khoản 4 Điều 24)

Tham chiếu đến dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, Dự thảo đã bước đầu quy định về trình tự, thủ tục và yêu cầu thẩm định, phê duyệt chủ trương, chương trình, dự án và kế hoạch đầu tư công Tuy nhiên, Dự thảo còn thiếu nhiều nội dung giải trình trong một số giai đoạn của hoạt động đầu tư công như: giải trình

về phương án đầu tư chương trình, dự án đầu tư công; giải trình về các bên liên quan trong chương trình, dự án đầu tư công; giải trình về năng lực và kinh nghiệm của cơ quan đề xuất chương trình, dự án đầu tư công (Điều 33 về nội dung báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư chương trình đầu tư công hoặc Điều 35

về nội dung báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư dự án đầu tư nhóm B, nhóm C); tương tự như vậy trong giai đoạn lập, thẩm định, quyết định đầu tư (Điều 39 về căn cứ lập, thẩm định); lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công (Điều 47 về căn cứ lập kế hoạch đầu tư công; Điều 48 về nguyên tắc lập kế hoạch; Điều 49 và Điều 50 về nội dung báo cáo kế hoạch đầu tư) Đồng thời, dự thảo Luật đầu tư công cũng chưa đề cập rõ về trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc chấp hành kế hoạch đầu tư công trước các cơ quan dân cử (Quốc hội và HĐND các cấp) và trước người dân (với vai trò là người thụ hưởng của các chương trình, dự án đầu tư công và người đóng góp nguồn thu cho việc thực hiện các chương trình, dự án), bao gồm

cả việc phê duyệt chương trình, dự án đầu tư công; việc giao kế hoạch đầu tư công, việc thực hiện các chương trình, dự án đầu tư công

 Thứ tư, các quy định pháp luật hiện hành chưa thể hiện rõ hình thức thực hiện trách nhiệm giải trình về các vấn đề liên quan đến việc phê duyệt, quyết định chủ trương đầu tư công, các chương trình, dự án đầu tư công

và việc tổ chức thực hiện

Như phân tích ở trên, mặc dù pháp luật hiện hành không có quy định riêng về trách nhiệm giải trình, tuy nhiên vấn đề này vẫn ít nhiều được thực hiện chủ yếu thông qua cơ chế “báo cáo”, “thuyết minh” hoặc “làm rõ” về đề xuất chủ trương đầu tư, kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch đầu tư công hằng năm Trên thực tế, việc giải trình các nội dung có liên quan đến ngân sách nhà nước nói chung và việc thực hiện các chương trình, dự án đầu tư công trong thời gian qua còn được thực hiện thông qua hình thức trình bày hoặc trả lời chất vấn theo yêu cầu trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, cũng như gửi văn bản trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu Quốc hội hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội (tương tự như vậy đối với HĐND các

cấp) Như vậy có thể thấy, việc thực hiện trách nhiệm giải trình vẫn chưa trở thành một nhiệm vụ “đương nhiên”, mang tính chủ động của các cơ quan quản lý nhà nước khi trình chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công, các kế hoạch đầu tư công hoặc việc chấp hành các kế hoạch đầu tư công

Trang 32

Vì vậy, các hình thức giải trình cần được quy định cụ thể trong dự thảo Luật đầu

tư công Tương tự như vậy, nếu khái niệm giải trình như phân tích ở trên được ghi nhận, thì các hình hình thức thực hiện cũng cần được quy định rõ trong Luật nhằm đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của chế định này trong thực tế Tuy nhiên, khi tham chiếu đến dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, các hình thức giải trình vẫn chưa được quy định cụ thể

4.3 Vấn đề 3: Người dân chưa tham gia một cách thực chất và có hiệu quả vào các hoạt động đầu tư công; hoạt động của các ban giám sát đầu tư cộng đồng còn hình thức

Các biểu hiện của vấn đề này là:

 Người dân thường không nắm được thông tin, ít quan tâm hoặc không được tham gia vào các chương trình, dự án 100% vốn ngân sách nhà nước, trừ tại các địa phương đã triển khai đổi mới phương pháp lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thì người dân có tham gia vào xây dựng kế hoạch phát triển của xã/phường (trường hợp ở tỉnh Nam Định )

 Người dân thường không tham gia vào việc triển khai các chương trình, dự

án mà không có sự đóng góp của nhân dân địa phương (ý kiến của ở các địa phương tham vấn)

 Các công trình theo mô hình “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và với sự tham gia quản lý (trong lập dự toán, thiết kế, giám sát thực hiện) của người dân thường mang lại hiệu quả bền vững (điển hình về các công trình được mô tả chi tiết trong phần A phụ lục báo cáo)

 Các công trình, chương trình hoặc dự án không có sự tham gia của người dân thường đạt hiệu quả thấp và lãng phí do không đáp ứng đúng nhu cầu

và hoàn cảnh thực tế, thậm chí gây thiệt hại cho người dân (xem thêm chi tiết về các công trình trong các câu chuyện điển hình ở phần B phụ lục báo cáo)

 Việc sử dụng tiền (ngân sách) trong các chương trình, dự án đầu tư công kém hiệu quả khiến người dân mất lòng tin vào các cấp chính quyền (điển hình 3 công trình sau trong tổng số các công trình được khảo sát: công trình nước sạch tại Quy Hậu, Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, công trình đập đồng nội xã Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình, công trình nhà sinh hoạt cộng đồng Khóm 1, thị trấn Klông Kla, huyện Đakrông, xem thêm chi các câu chuyện trong phần B phụ lục báo cáo)

Thực trạng này xuất phát từ một số nguyên nhân chính như sau:

 Thứ nhất, pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ về sự tham gia trực tiếp của người dân vào các hoạt động đầu tư công

Trang 33

Sự tham gia trực tiếp của người dân vào các hoạt động đầu tư công được thể hiện thông qua hai phương thức chính, bao gồm: (i) tham gia ý kiến hoặc tham vấn, thảo luận trong quá trình đề xuất, phê duyệt, quyết định chủ trương đầu tư công, chương trình, dự án đầu tư công, kế hoạch đầu tư công và (ii) giám sát việc triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công (bao gồm cả các chương trình, dự án đầu tư công) Cụ thể hơn, người dân ở cấp cơ sở cần được tham gia vào việc lựa chọn các ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội đề cập trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và kế hoạch đầu tư công ở địa phương mình sinh sống và có ý kiến về việc phân bổ vốn, nguồn lực cho các nhiệm vụ đó; đồng thời, họ cũng chính là người giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển và hiệu quả sử dụng ngân sách trong quá trình thực hiện

Sự tham gia trực tiếp của người dân vào các hoạt động đầu tư công xuất phát từ việc họ vừa là chủ thể đóng góp tạo nguồn vốn triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa là đối tượng thụ hưởng những kết quả phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Theo quy định của pháp luật hiện hành, các phương thức tham gia trực tiếp của người dân trong một số hoạt động đầu tư công như tham gia ý kiến vào dự thảo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự thảo kế hoạch thực hiện chương trình, dự án đầu tư công6 và giám sát đầu tư công7 Tuy nhiên hiệu quả thực hiện các hình thức này còn hạn chế do thiếu thông tin, hạn chế về năng lực hoặc nguồn lực thực hiện

Tham chiếu đến dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, những hạn chế phân tích ở trên vẫn chưa được khắc phục Mặc dù tại các Điều 80 và Điều 81 Dự thảo có quy định về việc hình thức giám sát đầu tư cộng đồng, tuy nhiên còn chung chung

và chủ yếu ghi nhận tinh thần của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về giám sát đầu tư cộng đồng Khoản 1 Điều 80 quy định các chương trình, dự án đầu tư công chịu sự giám sát của cộng đồng Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 80 lại quy

định cơ quan chủ quản tham khảo ý kiến cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án đối với việc quyết định đầu tư các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, các

dự án có quy mô di dân, tái định canh, định cư lớn, có nguy cơ tác động lớn đến môi trường Như vậy, còn có sự thiếu nhất quán giữa Khoản 2 với Khoản 1 Điều

80 khi giới hạn phạm vi các dự án mà cơ quan chủ quản tham khảo ý kiến của người dân Quy định này chưa phản ánh đúng nguyên tắc công khai, minh bạch khi mọi chương trình, dự án có liên quan trực tiếp đến người dân (như triển khai tại địa phương hoặc có liên quan, tác động trực tiếp đến người dân ở địa phương), thì đều phải lấy ý kiến của họ Ngoài ra, Dự thảo cũng chưa ghi nhận việc tham

vấn hoặc lấy ý kiến chuyên gia về các nội dung phức tạp, mang tính chuyên ngành trong quá trình thẩm định chương trình, dự án hoặc kế hoạch đầu tư công

 Thứ hai, các hình thức tham gia gián tiếp thông qua đại biểu Quốc hội và

6 Theo quy định tại Điều 19, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007

7 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007; Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KH&ĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng

Trang 34

đại biểu HĐND trong các hoạt động đầu tư công vẫn còn những hạn chế

về hiệu lực, hiệu quả thực hiện

Căn cứ vào Luật NSNN năm 2002 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, HĐND các cấp có liên quan đến hoạt động đầu tư công8 Quốc hội cũng đã thông qua Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống về pháp luật trong việc phát huy vai trò của các đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp với tư cách là những người đại diện cho nhân dân ở cấp cơ sở khi có ý kiến về lập, phê duyệt chủ trương đầu tư công; lập, phê duyệt và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư công Điều này thể hiện ở chỗ các văn bản hiện hành đều không quy định về việc yêu cầu các đại biểu lấy ý kiến của người dân địa phương

về chương trình, dự án, kế hoạch đầu tư công trước khi tham gia quyết định các vấn đề có liên quan đến họ Bên cạnh đó, hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử cũng không thể đảm bảo thường xuyên, liên tục và bao quát được hết các chương trình, dự án hoặc nhiệm vụ chi có sử dụng ngân sách nhà nước, đặc biệt

là các chương trình, dự án quy mô trung bình hoặc nhỏ ở cấp xã Chính vì vậy, hiệu lực và hiệu quả tham gia gián tiếp của người dân thông qua đại biểu các cơ quan dân cử vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra

Đối chiếu với các quy định của dự thảo Luật đầu tư công cho thấy, thực trạng nêu trên vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn Việc quyết định chủ trương đầu tư, thông qua kế hoạch đầu tư công và giám sát việc chấp hành kế hoạch đầu tư công, chương trình, dự án đầu tư công vẫn chưa đặt ra yêu cầu lấy ý kiến của người dân ở cấp cơ sở thông qua các hoạt động tiếp xúc cử tri hoặc hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội

8 Đáng chú ý là Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 của Chính phủ ban hành Quy chế xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chuẩn quyết toán địa phương

Trang 35

PHẦN V: KHUYẾN NGHỊ VỀ DỰ THẢO LUẬT ĐẦU TƯ

CÔNG DỰA TRÊN KẾT QUẢ THAM VẤN CỘNG ĐỒNG

Trên cơ sở kết quả tham vấn cộng đồng và khuyến nghị của người dân về công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách và các công trình đầu tư công tại các tỉnh Hòa Bình, Nam Định, Quảng Trị và Bà Rịa Vũng Tàu, nhóm thực hiện tham vấn và nhóm chuyên gia đã cùng phân tích, nhận diện các vấn đề, đánh giá và đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật đầu tư công Bên cạnh đó, nhóm cũng đã đưa ra một số khuyến nghị dựa trên các yêu cầu trong soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật khác, qua đó giúp bảo đảm tính minh bạch, tính thống nhất và tính đồng bộ của dự thảo Luật đầu tư công trong tổng thể hệ thống pháp luật

5.1 Mục tiêu 1: Mở rộng phạm vi, nội dung và hình thức thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư công nhằm bảo đảm sự tham gia của người dân

Phạm vi các vấn đề khuyến nghị sửa đổi:

 Sắp xếp lại, chỉnh lý và hoàn thiện các quy định về thực hiện công khai, minh bạch (tại Khoản 2 Điều 12, Điều 14 và Khoản 5 Điều 48 dự thảo Luật) nhằm bảo đảm tính nhất quán, cụ thể và rõ ràng trong tất cả các hoạt động đầu tư công (dự kiến đưa các quy định về công khai, minh bạch vào Chương I dự thảo Luật đầu tư công về Những quy định chung)

 Bổ sung quy định về nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch của các tổ chức, cá nhân trong lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, thông qua và giao kế hoạch đầu

tư công; chấp hành kế hoạch đầu tư công, bao gồm cả trách nhiệm thông báo về việc công khai và thực hiện việc công khai (Chương V dự thảo Luật đầu tư công)

 Bổ sung thêm quy định cung cấp thông tin về đầu tư công, đặc biệt là về chương trình, dự án và kế hoạch đầu tư công sau khi đã được phê duyệt hoặc thông qua theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (dự kiến đưa vào Chương I dự thảo Luật đầu tư công về Những quy định chung)

 Bổ sung quy định về nội dung giám sát, kiểm tra, thanh tra về đầu tư công, trong đó quy định việc thực hiện công khai về đầu tư công (Điều 75, Điều

80 dự thảo Luật đầu tư công); bổ sung hành vi vi phạm nguyên tắc công khai, minh bạch trong đầu tư công vào các hành vi bị cấm đầu tư công (Điều 16 dự thảo Luật NSNN sửa đổi)

Ngày đăng: 08/09/2015, 23:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  này,  huyện  lại  phải  cấp  tiếp  ngân  sách  để  xây  dựng  hệ  thống  kênh  mương khác cho xã chạy song song với con mương kia - Báo cáo tham vấn cộng đồng đóng góp ý kiến cho dự thảo luật đầu tư công
nh này, huyện lại phải cấp tiếp ngân sách để xây dựng hệ thống kênh mương khác cho xã chạy song song với con mương kia (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w