Đánh giá Cung cấp Dịch vụ Nước sạch và Vệ sinh môi trường tại Việt Nam Biến Đầu tư tài chính thành Dịch vụ cho tương lai... Danh sách các từ ngữ viết tắtAUSAID Cơ quan phát triể
Trang 2Báo cáo này là sản phẩm của sự phối hợp và chia sẻ thông tin rộng rãi giữa những cơ quan chính phủ tại cấp tỉnh và quốc gia cùng với các đối tác phát triển tại Việt Nam Một tổ công tác với nòng cốt là các thành viên từ Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là đối tác chính phối hợp cùng với Chương trình Nước và Vệ sinh trong đánh giá này Các tác giả xin gửi lời cảm ơn đối với những đóng góp giá trị của họ cũng như những thông tin chia sẻ và đóng góp tại các hội thảo của các ngành liên quan, trong đó bao gồm các đối tác phát triển.Chủ nhiệm dự án Đánh giá Cung cấp Dịch vụ tại Đông Á - Thái Bình Dương là bà Susanna Smets Những cán bộ và tư vấn của Ngân hàng thế giới được nêu tên dưới đây đã có những đóng góp giá trị cho quá trình thực hiện Đánh giá cung cấp dịch vụ và viết báo cáo: Jeremy Colin, U-Prime Rodriguez, Nguyễn Quang Vinh, Iain Menzies, Nguyễn Diễm Hằng, Almud Weitz, Sandra Giltner, Nguyễn Trọng Dương và Nguyễn Danh Soạn Báo cáo đã được những cán bộ tại Ngân hàng Thế giới và đồng nghiệp có tên sau đây xem xét và góp ý: Parameswaran Iyer- Chuyên gia trưởng về Nước và Vệ sinh, Lilian Pena Pereira Weiss- Chuyên gia cao cấp về Nước và Vệ sinh, Sing Cho- Chuyên gia Đô thị và Lalit Patra – Trưởng ban Nước sạch, Vệ sinh môi trường và Vệ sinh cá nhân (WASH) của UNICEF tại Việt Nam.
Trang 3Đánh giá Cung cấp Dịch vụ Nước sạch
và Vệ sinh môi trường tại Việt Nam
Biến Đầu tư tài chính thành Dịch vụ cho tương lai
Trang 4Tổng quan chiến lược
Trong hai thập kỷ vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã
đạt được những tiến bộ đáng kể trong công tác
cải thiện nước sạch và vệ sinh môi trường tại cả
những khu vực thành thị và nông thôn, đồng thời
tỷ lệ tiếp cận tới các dịch vụ cải thiện hiện đã cao
hơn nhiều so với những quốc gia láng giềng Theo
các báo cáo của Chương trình Giám sát phối hợp
(JMP)1, Việt Nam đã đạt được hai mục tiêu về nước
sạch và vệ sinh môi trường đề ra trong Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ (MDG)
Đây là những thành tựu ấn tượng Tuy nhiên, mức
độ đáng tin cậy của dữ liệu cơ sở cho JMP vẫn
gây tranh cãi và các bên liên quan cho rằng tỷ lệ
tiếp cận này đã được đánh giá quá cao Những hệ
thống giám sát yếu kém và nhiều nguồn dữ liệu
chính thức đã làm nổi bật sự thiếu chắc chắn phổ
biến đối với mức độ bao phủ và tính năng của dịch
vụ trên thực tế Một vấn đề phức tạp nữa là Chính
phủ Việt Nam đã áp dụng những mục tiêu và tiêu
chuẩn kỹ thuật tham vọng hơn so với JMP Những
mục tiêu đó được tóm tắt dưới đây và sẽ khó khăn
để đạt được chúng
Tiểu ngành Mục tiêu 2020
Cấp nước đô thị (tiếp cận hệ thống nước
Cấp nước nông thôn (tỷ lệ tiếp cận nước
“sạch” theo chuẩn của Bộ Y tế) 75%
Vệ sinh môi trường đô thị (tỷ lệ nước thải
Vệ sinh môi trường nông thôn (sử dụng hố
xí “hợp vệ sinh” theo chuẩn của MOH) 85%
Có sự khác biệt lớn trong tỷ lệ tiếp cận nước sạch
giữa các vùng, giữa những thành phố lớn với
những trung tâm đô thị nhỏ hơn và những khu
vực ven đô Ngoài những thành phố lớn, chất
lượng và độ tin cậy của cấp nước vẫn là một thách thức, trong khi tại những vùng nông thôn, cơ cấu quản lý một cách không chính thức hiếm khi đảm bảo kết quả vận hành và duy trì hiệu quả lâu dài Tồn tại sự bất bình đẳng đáng kể trong tỷ lệ tiếp cận giữa những thành phần người nghèo và người giàu Ví dụ như trong khi 95% số người giàu đô thị có kết nối nước sạch đến tận nhà thì chỉ có 35% số người nghèo nhất có được dịch vụ ở cấp độ này Tại những vùng nông thôn, chỉ 3% số lượng người dân nghèo nhất có kết nối cấp hộ gia đình trong khi tỷ lệ đối với số lượng người giàu nhất là 43%2 Tiến độ trong vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân vẫn chưa bắt kịp tiến độ của nước sạch, và tại những khu vực đô thị, sự thiếu vắng xử lý nước thải và quản lý phân bùn là một lỗ hổng lớn so với mật độ dân số và số lượng nước thải phát sinh Tại những khu vực nông thôn, ngành này chưa triển khai một chiến lược chặt chẽ để thúc đẩy quy mô vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân mặc dù được hưởng lợi từ một chương trình mục tiêu quốc gia với sự hỗ trợ của nhiều nhà tài trợ
Mặc dù sự phân cấp đã tương đối phát triển tại Việt Nam, vẫn có những ví dụ về sự kiểm soát của trung ương gây hạn chế cho những phương án phù hợp của địa phương, trong khi những thiếu hụt về tài chính và nhân lực của những nhà cung cấp địa phương là rào cản đối với vấn đề cải thiện và mở rộng dịch vụ Trong những năm gần đây, chính phủ đã thúc đẩy áp dụng định hướng thương mại vào cung cấp dịch vụ đô thị và đã đạt được một vài tiến bộ liên quan đến dịch vụ cung cấp nước sạch, nhưng chưa có tiến bộ nào đối với lĩnh vực vệ sinh môi trường do phạm vi hạn chế cho việc tạo doanh thu Chính quyền cấp tỉnh vẫn nắm quyền kiểm soát đối với các dịch vụ công, và mặc dù đã có những sáng kiến chính sách hứa hẹn, các điều kiện vẫn chưa đủ sức thu hút sự tham gia quy mô
1 JMP (2013)
2 JMP-UNICEF bảng trình bày đặc biệt theo tỷ lệ phân chia giàu nghèo, sử dụng dữ liệu MICS 2010/11 data
Trang 5rộng của nhóm ngành tư nhân Cần có một môi
trường thuận lợi hơn, trong đó bao gồm thiết lập
một cơ quan điều tiết và đưa vào áp dụng những
mức giá hợp lý về mặt thương mại và hợp đồng
thực hiện Gần đây chính phủ cũng đã đưa ra chính
sách xã hội hóa và những quyết định phối hợp để
tăng cường sự tham gia của nhóm ngành tư nhân
tại cả hai khu vực đô thị và nông thôn3 Sáng kiến
này hiện vẫn ở giai đoạn sơ khai, trong khi nó có
khả năng mang lại những lợi ích quan trọng cho
ngành, vẫn còn những khó khăn cần phải vượt
qua về mặt cam kết trong việc thực thi chính sách,
khung pháp lý tổng hợp cũng như năng lực của
nhóm ngành công và tư nhân trong lĩnh vực hợp
đồng
Để đáp ứng được những mục tiêu tham vọng của
chính phủ, cần có khoảng 3,7 triệu người mỗi năm
được tiếp cập tới nguồn nước sạch theo chuẩn
của chính phủ, một nửa con số đó là người dân tại
các khu vực nông thôn và nửa còn lại là người dân
thuộc các khu vực đô thị Với vệ sinh môi trường,
cần có khoảng 1,6 triệu người mỗi năm có tiếp cận
tới xử lý nước thải (tại khu vực đô thị) và khoảng 2
triệu người mỗi năm có nhà tiêu đạt chuẩn quốc
gia (tại các khu vực nông thôn)
Đầu tư bình quân hàng năm vào lĩnh vực cấp nước
và vệ sinh môi trường của chính phủ và các nhà
tài trợ trong giai đoạn 2009 – 2011 tương đương
với khoảng 0,2% của GDP năm 2011 Mặc dù được
mong đợi là sẽ tăng lên khoảng 0,4% của GDP giai
đoạn 2012 - 2014, những đầu tư dự kiến không
đủ để ngành tiến tới đạt được mục tiêu của chính
phủ tới 2020 Để đạt được những mục tiêu đó cần
phải chi khoảng 1.562 triệu USD tiền vốn mỗi năm
cho cấp nước và 1.142 triệu USD mỗi năm cho vệ
sinh môi trường (tổng giá trị dự toán khoảng 2,5%
của GDP) Một phần lớn trong số vốn cần có này
là dành cho những khu vực đô thị (chiếm khoảng
87%) Ngoài ra, trong trường hợp cấp nước, khoảng 60% lượng tiền vốn sẽ dùng cho việc thay thế những cơ sở vật chất hiện có Tài chính dự kiến (kể cả từ trong nước và nước ngoài) cho giai đoạn 2012-2014 cho thấy xu hướng tương tự hướng tới đầu tư cao cho đô thị, với khoảng 90% dành cho các khu vực đô thị đối với lĩnh vực vệ sinh môi trường và khoảng 70% dành cho các khu vực đô thị đối với lĩnh vực cấp nước Điều này nêu bật nhu cầu cấp thiết không chỉ đối với việc tăng cường nguồn vốn chung cho ngành mà còn đối với việc sử dụng vốn một cách hiệu quả hơn, bằng cách cải thiện việc thực thi những chính sách thu hồi chi phí và quản lý, đồng thời tăng cường tính bền vững của những cơ sở hạ tầng và dịch vụ hiện nay Sự tập trung đông đảo nguồn tài chính tư nhân sẽ là một nhân tố quan trọng làm giảm sự thiếu hụt tài chính, và cần có ưu tiên cho những hành động cải thiện môi trường đầu tư như đã nói ở trên Tóm lại, ngành phải đối mặt với một nhiệm vụ nan giải là mở rộng cung cấp dịch vụ tới bộ phận người dân nghèo hơn chưa được phục vụ, bắt kịp sự tăng trưởng và đồng thời phải có sẵn những biện pháp tăng cường tính hiệu quả và bền vững của cung cấp dịch vụ về cả hai mặt kỹ thuật và tài chính Đánh giá cung cấp dịch vụ này được thực hiện như một quá trình gồm nhiều bên liên quan dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam Những hành động ưu tiên thống nhất để giải quyết những thách thức trong cấp nước và vệ sinh môi trường tại Việt Nam đã được xác định để đảm bảo rằng tài chính sẽ chuyển thành dịch vụ một cách hiệu quả:
3 Báo cáo tóm tắt của Bộ Xây dựng về việc khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong ngành cấp nước và vệ sinh môi trường đô thị, tháng 10/2013; Diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam – Tổ công tác báo cáo về sự tham gia của khu vực tư nhân
Trang 6Toàn ngành
• Tăng cường chi phí công cho nước sạch và vệ sinh môi trường, đặc biệt là cho việc cung cấp dịch vụ đô thị ngoài khu vực các thành phố lớn và cho những khu vực nông thôn xa xôi, chưa được phục vụ
• Cải thiện công tác quản lý – đặc biệt là thu hồi chi phí – đối với cơ sở hạ tầng và việc cung cấp dịch vụ hiện có nhằm giảm bớt lỗ hổng đầu tư cần thiết cho thay thế cơ sở hạ tầng
• Thực hiện rà soát chi tiêu công đối với ngành nước và vệ sinh môi trường để xác định những khó khăn, thách thức quan trọng đối với việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả
• Ưu tiên cho những nhu cầu của người nghèo trong các đầu tư của ngành và những chiến lược hoạt động, ví dụ như mở rộng các công cụ tài chính dựa vào kết quả và khuyến khích cung cấp dịch vụ bền vững cho các cộng đồng dân cư nghèo và dễ bị tổn thương
• Hợp lý hóa những mục tiêu tiếp cận của đô thị và nông thôn, các khung giám sát với sự quan tâm lớn hơn tới tính năng dịch vụ và sử dụng dịch vụ, đồng thời thống nhất về những điểm tham chiếu chung cho tất cả các thể chế liên quan trong ngành
• Cải thiện chính sách và môi trường thuận lợi, ví dụ như đối với cải cách biểu giá và quy chế, cho sự tham gia của khu vực tư nhân, và phát triển năng lực cho sự tham gia của khu vực tư nhân trong các dịch vụ đô thị và nông thôn (đối với cả hai phía nhà nước và tư nhân)
Cấp nước nông thôn
• Xây dựng một chiến lược xây dựng năng lực và kế hoạch thực hiện cho NTP3, bao gồm phát triển một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật toàn diện để cải thiện chức năng của các hệ thống
• Thực hiện một cuộc rà soát toàn diện về tính hiệu quả của các mô hình cơ chế quản lý (và quyền chủ sở hữu) hiện nay và các mô hình thay thế
• Xây dựng và triển khai những khuyến nghị có được từ cuộc rà soát để chuyên nghiệp hóa công tác quản lý và thúc đẩy những khả năng của khu vực tư nhân
• Xây dựng các kế hoạch cấp tỉnh cho công tác quản lý chất lượng nước tại cấp lập kế hoạch
Cấp nước đô thi
• Cho phép mức thu phí đạt đến mức độ hợp lý về mặt thương mại mà khi đó các dịch vụ có thể thu hồi chi phí hoàn toàn thông qua các quy chế kinh tế độc lập
• Tăng cường tính tự chủ của các ngành dịch vụ, cho phép họ tăng ngân sách vận hành và bảo dưỡng để có thể cung cấp và duy trì công tác bảo dưỡng thích hợp
• Đưa ra các khuyến khích khen thưởng và nghĩa vụ cho các ngành dịch vụ để cải thiện chất lượng và độ tin cậy trong cung cấp dịch vụ, bằng cách thành lập cơ quan điều tiết độc lập
• Nâng cao tiếp cận tới tài chính thương mại cho các ngành dịch vụ bằng cách cung cấp bảo lãnh chính phủ cho các ngành dịch vụ
Trang 7Vệ sinh môi trường và Vệ sinh cá nhân tại nông thôn
• Xác định những chiến lược hoạt động có hiệu quả để thúc đẩy vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân để có thể đưa vào quy mô trong NTP3, bao gồm các phương thức tiếp cập dựa vào nhu cầu cho công tác xã hội hóa cộng đồng
• Tăng cường chi tiêu “phần mềm”, bao gồm chi phí nhân sự và vận hành đối với các cơ quan thực thi ngành y tế cấp tỉnh và địa phương
• Thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc tạo ra những nhà vệ sinh giá rẻ và hấp dẫn cho người nghèo và những cộng đồng chưa được phục vụ đầy đủ
• Tổ chức chương trình xây dựng năng lực quốc gia có hệ thống về vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân cho nhân viên trong ngành và những tổ chức tham gia khác, trong đó có Hội phụ nữ Việt Nam
Vệ sinh môi trường và Vệ sinh cá nhân tại đô thi
Tiến hành thông qua dự thảo Chiến lược Thống nhất về Vệ sinh môi trường và Kế hoạch hành động Một phần trong sáng kiến này là:
• Thông qua một kế hoạch đầu tư tiểu ngành và xây dựng một chiến lược tài trợ vệ sinh môi trường đô thị
• Hỗ trợ triển khai các hướng dẫn chính sách về quyền tự chủ và định hướng thương mại của các nhà cung cấp dịch vụ (bao gồm các ngành dịch vụ cấp nước và nước thải kết hợp)
• Phát triển năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ để những quy định chính sách hiện nay – đặc biệt là về tính bền vững tài chính – có thể được thực thi và các dịch vụ được cải thiện
• Đối với những nhà máy xử lý nước thải mới, điều chỉnh các tiêu chuẩn kỹ thuật để áp dụng công nghệ có hiệu quả chi phí và đưa ra khích lệ nhằm tối đa hóa kết nối trực tiếp vào mạng lưới của hộ gia đình
• Phát triển và thông qua những chiến lược khả thi cho cải thiện công tác quản lý và xử lý phân bùn, trong đó có khu vực tư nhân
Trang 8Mục lục
Tổng quan chiến lược………4
Mục lục ………8
Danh sách các từ ngữ viết tắt………9
1 Giới thiệu………11
2 Tổng quan ngành: xu hướng bao phủ ………12
3 Bối cảnh đổi mới ………18
4 Khung thể chế ………21
5 Tài trợ và triển khai tài trợ………25
6 Giám sát và Đánh giá ngành………28
7 Tiểu ngành: Cấp nước nông thôn ………30
8 Tiểu ngành: cấp nước đô thị ………33
9 Tiểu ngành: Vệ sinh môi trường và Vệ sinh cá nhân nông thôn………36
10 Tiểu ngành: Vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân đô thị………39
11 Kết luận ………42
Phụ lục 1: Thẻ điểm và Giải thích………46
Phụ lục 2………80
Tài liệu tham khảo ………85
Trang 9Danh sách các từ ngữ viết tắt
AUSAID Cơ quan phát triển quốc tế Australia
CLTS Vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ
DANIDA Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch
DFID Cơ quan Phát triển quốc tế Anh (UK Aid)
IBNET Mạng lưới chuẩn quốc tế cho các công trình Nước và Vệ sinh môi trường
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
MDG Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
NCERWASS Trung tâm quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn
NCRWSS Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường quốc gia
pCERWASS Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn cấp tỉnh
pCPM Trung tâm Y tế dự phòng cấp tỉnh
U3SAP Chiến lược thống nhất về vệ sinh môi trường và Kế hoạch hành động
VIHEMA Cục quản lý môi trường y tế Việt Nam
VBSP Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam
WSP Chương trình Nước và Vệ sinh môi trường của Ngân hàng thế giới
Trang 111 Giới thiệu
Đánh giá về cung cấp dịch vụ (SDA) nước và vệ
sinh môi trường đang diễn ra tại 7 quốc gia khu
vực Đông Á –Thái Bình Dương theo hướng dẫn
của Chương trình Nước và Vệ sinh (WSP) của Ngân
hàng thế giới (WB) và các đối tác địa phương Đây
là một nghiên cứu cấp vùng và được thực hiện
thông qua một quy trình do từng quốc gia chủ
động thực hiện và được xây dựng dựa trên kinh
nghiệm từ các SDA về nước và vệ sinh môi trường
đã được thực hiện hại hơn 40 quốc gia tại Châu
Phi, Mỹ Latinh và Nam Á
Phân tích SDA có ba cấu phần chính: tiến hành rà
soát về mức độ bao phủ của nước và vệ sinh môi
trường trước đây, sử dụng một mô hình chi phí
để đánh giá mức độ thỏa đáng của đầu tư trong
tương lai và áp dụng thẻ điểm cho phép chẩn đoán
những nút thắt trên lộ trình thực hiện cung cấp
dịch vụ Đóng góp của SDA không chỉ trả lời cho
câu hỏi liệu khuynh hướng trước đây và tài chính
trong tương lai có đủ để đạt được những mục tiêu
ngành đối với cơ sở hạ tầng và phần cứng hay
không, mà còn cho biết những vấn đề cụ thể nào
cần được giải quyết để đảm bảo rằng tài chính sẽ
chuyển một cách có hiệu quả thành cung cấp dịch
vụ nước sạch và vệ sinh môi trường mau chóng và
bền vững Trên thực tế, những nút thắt có thể xuất
hiện trong suốt lộ trình thực hiện cung cấp dịch
vụ Khi lộ trình này được xây dựng tốt, vốn cấp của
ngành sẽ trở thành dịch vụ với những chi phí đơn
vị theo dự toán Khi lộ trình này không được xây
dựng tốt, những yêu cầu đầu tư có thể sẽ là tổng
ước toán thấp do cần bổ sung đầu tư để “gỡ” được
những nút thắt trong lộ trình
Thẻ điểm xem xét tới 9 khối căn bản trong lộ trình
thực hiện cung cấp dịch vụ, tương ứng với những
chức năng cụ thể được phân thành 3 loại: 3 chức
năng liên quan tới các điều kiện cho phép thiết lập
dịch vụ (phát triển chính sách, lập kế hoạch những
nhiệm vụ mới, lập ngân sách), 3 hành động liên
quan tới phát triển dịch vụ (chi tiêu các nguồn vốn,
tính công bằng trong việc sử dụng những nguồn
vốn đó, đầu ra dịch vụ), và 3 chức năng liên quan
tới duy trì các dịch vụ (bảo dưỡng cơ sở vật chất,
mở rộng hạ tầng, sử dụng dịch vụ) Mỗi khối căn
thể và được chấm điểm từ 0 đến 3 Thẻ điểm sử dụng một mã màu đơn giản để chỉ ra những khối căn bản đã có với quy mô tương đối lớn, đóng vai trò là nhân tố dẫn dắt trong thực hiện cung cấp dịch vụ (điểm >2, màu xanh); những khối căn bản còn đang là một trì trệ trong việc thực hiện cung cấp dịch vụ và cần chú ý để cải thiện (điểm 1–2, màu vàng); và những khối căn bản chưa phù hợp, tạo nên một rào cản cho việc thực hiện cung cấp dịch vụ và là một ưu tiên để cải tổ (điểm <1, màu đỏ)
Phân tích SDA dựa trên một quy trình tham vấn chuyên sâu, được tạo thuận lợi, với quyền sở hữu và sự tự đánh giá của chính phủ làm nòng cốt Thông qua quy trình SDA, một phân tích dựa trên bằng chứng đã được thực hiện để hiểu rõ hơn về những yếu tố phá hỏng tiến triển của nước sạch và vệ sinh môi trường và những gì mà Chính phủ Việt Nam có thể làm để đẩy nhanh tiến độ Báo cáo này dựa trên những thông tin có được từ một loạt các cuộc họp và hội thảo tiểu ngành đô thị và nông thôn với các bên liên quan chính từ giữa năm 2012 tới giữa năm 2013, cùng với những rà soát về dữ liệu, ngân sách và báo cáo hiện có Nguồn chứng cứ được chỉ ra trong phần chú trích cuối trang và phần cuối của báo cáo này; có thể xem các bằng chứng về thẻ điểm và công cụ tính toán chi phí trong phần phụ lục Phân tích này nhằm giúp cho chính phủ Việt Nam đánh giá được cách làm thế nào có thể củng cố các lộ trình để biến chuyển tài chính thành các dịch vụ cấp nước và vệ sinh môi trường trong cả 4 tiểu ngành Những hoạt động
ưu tiên cụ thể đã được xác định thông qua tham vấn với chính phủ và những ngành liên quan khác, đồng thời được khẳng định trong một hội thảo với các nhà hoạch định chính sách của chính phủ và các ngành liên quan trong tháng 4 năm 2013 Báo cáo này đánh giá lịch trình cung cấp dịch vụ cho toàn bộ 4 tiểu ngành, xác định những nút thắt và trình bày những hành động ưu tiên được thống nhất để giúp tháo gỡ những nút thắt đó
Chương trình Nước và Vệ sinh đã phối hợp cùng với Chính phủ Việt Nam và các bên liên quan khác thực hiện báo cáo SDA này
Trang 122 Tổng quan ngành: xu hướng bao phủ
Vùng bao phủ: đánh giá tiến bộ trước đây
Với số dân hiện đã vượt quá 88 triệu người4, Việt
Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới Việt
Nam cũng đã trở thành một trong những quốc gia
có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới trong
hai thập kỷ vừa qua, và gần đây đã thoát khỏi tình
trạng quốc gia có mức thu nhập thấp, trở thành
quốc gia có mức thu nhập trung bình Sự tăng
trưởng này đi cùng với tỷ lệ nghèo giảm xuống
một cách ấn tượng, từ 58% đầu những năm 1990
xuống còn 14,5% năm 20085 Trong khi mức sống
đã được cải thiện cho phần đông số dân, không
phải tất cả các nhóm cư dân đều được hưởng lợi ở
mức độ như nhau, và từ năm 2006 có trung bình
52% các nhóm dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục sống
trong nghèo khó
Dữ liệu từ Chương trình Giám sát phối hợp6 (JMP)
cho thấy rằng Việt Nam đã đạt được những bước
tiến vĩ đại về khía cạnh tăng tiếp cận cấp nước và
vệ sinh môi trường cải thiện (xem Hình 1.1) Trong
trường hợp cấp nước đô thị, tỷ lệ tiếp cận năm
1990 tới các cơ sở được cải thiện đã cao ở mức 88%
và vào năm 2011 đã đạt tới 99% với 58% có kết
nối hộ gia đình Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể
trong tiếp cận và chất lượng dịch vụ giữa những
thành phố lớn và các trung tâm đô thị nhỏ hơn7
Về vệ sinh môi trường, tiếp cận tới những cơ sở
được cải thiện tại các khu vực đô thị tăng từ 64%
lên tới 93% trong cùng một giai đoạn, với hầu như
toàn bộ có sử dụng nhà vệ sinh xả nước, phần
đông trong số đó kết nối tới bể hoặc hố tự hoại có
dòng thoát chảy vào rãnh tiêu lộ thiên Tuy nhiên,
chỉ dưới 10% nước thải đô thị được xử lý và hầu hết
các thành phố và thị trấn không có nhà máy xử lý
nước thải hoạt động mặc dù mạng lưới thoát nước
thường phát triển rộng Hầu hết các trung tâm đô
thị đều có hệ thống nước mưa/nước thải chung Tại các vùng nông thôn, tỷ lệ tiếp cận cấp nước sạch đã tăng từ 50% năm 1990 tới 94% năm 2011 mặc dù chỉ có 9% có kết nối hộ gia đình Loại hình nguồn cấp nước phổ biến nhất được sử dụng là giếng khoan hoặc giếng ống, giếng được bảo vệ và giếng thu nước mưa – mỗi loại chiếm khoảng
¼ số các cơ sở được cải thiện8 Tỷ lệ tiếp cận công trình vệ sinh cải thiện đã tăng từ 30% tới 67% trong cùng một thời kỳ, với tỷ lệ phóng uế bừa bãi hạ từ 44% xuống 5% vào năm 2011 Trong số các công trình hợp vệ sinh, những loại phổ biến nhất là nhà tiêu dội – xả nước xuống bể tự hoại (60%), tiếp theo là nhà tiêu tự hoại (21%) và nhà tiêu đào chìm có nắp đậy (17%) Trong số các loại công trình không hợp vệ sinh, 66% là nhà tiêu treo (trên mặt nước) và 30% là nhà tiêu đào chìm không có nắp đậy
Trong khi dữ liệu JMP cho thấy rằng Việt Nam đã đạt được cả hai mục tiêu MDG về nước và vệ sinh môi trường, dữ liệu giám sát của chính phủ lại chỉ ra những tỷ lệ bao phủ thấp hơn đáng kể Tuy nhiên các so sánh với JMP là phức tạp do các báo cáo của chính phủ không phân loại các công trình nước và vệ sinh môi trường thành “hợp vệ sinh” và
“không hợp vệ sinh” mà sử dụng những tiêu chí khác và chặt chẽ hơn Hơn nữa, một loạt những số liệu về mức độ bao phủ “chính thức” có thể thấy ở nhiều báo cáo khác nhau của chính phủ mà không phải toàn bộ trong số đó đều phân loại các công trình dựa trên cùng một cơ sở Trên một nền tảng có vẻ không rõ ràng như vậy, các bên liên quan đã thống nhất về dữ liệu cơ bản cho năm 2011 được chỉ ra trong Bảng 2.1 cho các mục đích của Đánh giá về cung cấp dịch vụ này
4 Ước tính từ dân số 2009 theo Báo cáo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2009, áp dụng tỷ lệ tăng trưởng dân số hàng năm 3,4% tại khu vực đô thị và 0,4% tại khu vực nông thôn Tỷ lệ tăng trưởng dân số được lấy từ Tổng cục thống kê Xem bảng A2.1 của Phụ lục 2 để có thêm chi tiết
Trang 13Hình 1.1 Tiến triển trong mức độ bao phủ cấp nước và vệ sinh môi trường
Nguồn: Xác định chi phí SDA JMP (2013) Progress on Drinking Water and Sanitation: 2013 Update (Tiến trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường: 2013 Cập nhật) UNICEF và WHO.
Ghi chú: Một mục tiêu quốc gia về vệ sinh môi trường không được chỉ ra tại đây do mục tiêu của nông thôn dựa vào tỷ lệ tiếp cận tới nhà vệ sinh trong khi mục tiêu của đô thị liên quan tới tỷ lệ nước thải qua xử lý Do vậy, không thể kết hợp các mục tiêu Không có các ước lượng của chính phủ do sự khác biệt về định nghĩa và tiến độ được báo cáo trong các tài liệu.
Trong trường hợp cấp nước nông thôn, các tài
liệu của chính phủ báo cáo mức độ bao phủ khác
nhau, đặt ra những mục tiêu và chỉ số giám sát về
mặt “vệ sinh cá nhân”, nước “sạch” và “an toàn”, và
những định nghĩa áp dụng cho các thuật ngữ này
cũng thay đổi Vì mục đích của phân tích SDA, các
số liệu cơ bản về cấp nước và mục tiêu là nói đến
nước “sạch”, hiện được định nghĩa là nước đáp ứng
tiêu chuẩn chất lượng QCVN 02-BYT của Bộ Y tế
(MOH), không tính đến công nghệ được sử dụng Điều này giải thích tại sao số liệu về mức độ bao phủ của chính phủ đối với cấp nước nông thôn thấp hơn nhiều so với số liệu của JMP, mặc dù để tiêu chuẩn thấp hơn của nước “hợp vệ sinh” – nói ngắn gọn có nghĩa là nước an toàn để uống sau khi lọc hoặc đun sôi – khoảng cách giữa dữ liệu về mức độ bao phủ của chính phủ và JMP nhỏ hơn nhiều
Bảng 2.1 Các cơ sở và mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi trường được sử dụng
trong xác đinh chi phí SDA
Tiều ngành cơ sở Năm Giá trị cơ sở
(%)
Mục tiêu
2020 (%)
Ghi chú
Cấp nước đô thị (tiếp cận mạng
lưới nước máy công cộng) 2011 76%a 85%b Mục tiêu: 90% đối với các thành phố (loại IV hoặc cao hơn) và 70% các thị trấn nhỏ (loại V) Cấp nước nông thôn
(tiếp cận nước sạch đáp ứng
c 75%d Mục tiêu đến 2020 vẫn đang đợi Thủ tướng phê
duyệt
Vệ sinh môi trường đô thị
(tỷ lệ nước thải qua xử lý) 2009 10%e 45%e
Mục tiêu U3SAP: 60% đối với các trung tâm đô thị loại II và cao hơn (lớn nhất); 30% đối với các trung tâm đô thị loại III và IV; 10% các trung tâm đô thị loại V (nhỏ nhất)
Vệ sinh môi trường nông thôn
(sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
đáp ứng tiêu chuẩn của MOH) 2011 55%
f 85%g Mục tiêu đến 2020 vẫn đang đợi Thủ tướng phê
duyệt
Trang 14nước nông và Vệ sinh môi trường nông thôn, Giai đoạn 2012-2015 Hà Nội; d MARD (2012b) Chiến lược Cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tới 2020 MARD và NCERWASS, Hà Nội; e MOC (2012) Chiến lược thống nhất và Kế hoạch hành động ngành Vệ sinh môi trường (U3SAP) cho Việt Nam Bản cuối dự thảo báo cáo Hà Nội; f MARD (2011) Báo cáo về Kết quả triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia (NTP2) về Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường 2006-2010 và Nội dung chính của chương trình cho giai đoạn 2011-2015 Hà Nội; g MARD (2012b) Chiến lược Cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tới 2020 MARD và NCERWASS, Hà Nội.
Trong trường hợp các nhà tiêu hộ gia đình, chính
phủ ghi nhận mức độ bao phủ của nhà tiêu “hợp
vệ sinh” với 4 loại phương án công nghệ được chấp
nhận hiện được định nghĩa trong các quy định của
chính phủ9: nhà tiêu tự hoại với bể chìm hoặc nổi
và dội – xả nước xuống bể tự hoại hoặc hố thấm
Các thành phố tại Việt Nam đang tăng trưởng
nhanh chóng với tốc độ phát triển nhanh về không
gian đô thị mà không có kế hoạch phù hợp cho
phát triển các dịch vụ cơ bản Tỷ lệ xử lý nước thải
thấp tại các vùng đô thị và nông thôn cho thấy một
thách thức lớn và ngày càng tăng cao Hầu hết các
hộ gia đình tại các vùng đô thị dựa vào những dịch
vụ tại chỗ, bao gồm bể tự hoại và hố thấm có dòng
tràn xả thẳng vào các đường nước chảy hoặc cống
rãnh Ước tính rằng dưới 10% lượng nước thải đô
thị được xử lý không chỉ do có ít các nhà máy xử
lý nước thải đang vận hành mà còn do thực tế là
phần lớn các loại chất thải thể rắn được giữ ở cấp
hộ gia đình, trong các bể hoặc hố tự hoại Những
bằng chứng chưa qua kiểm chứng cho thấy rằng
hiếm khi những bể hoặc hố tự hoại này được đổ
hết đi, thường là bằng cách xả toàn bộ bùn tự
hoại vào các kênh rạch và đường nước chảy10 Với
mức độ phụ thuộc lớn vào những công trình tại
chỗ như vậy, công tác quản lý phân bùn cần có sự
quan tâm chú ý lớn hơn của chính quyền các đô
thị Tuy nhiên, những thách thức này không phải
là duy nhất ở Việt Nam mà còn tác động nhiều khu
vực Nam Á và Đông Nam Á 11, 12
Tỷ lệ tiếp cận chịu tác động của mức thu nhập,
thành phần dân tộc và vị trí Ví dụ như Dữ liệu từ
Điều tra khảo sát cụm đa chỉ số (MICS) chỉ ra rằng
99% số dân giàu nhất được tiếp cận tới nguồn
nước sinh hoạt hợp vệ sinh với 63% có kết nối hộ
gia đình, trong khi đó có 75% số dân nghèo nhất
được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh và chỉ 3%
trong số đó có kết nối hộ gia đình Về vệ sinh môi
trường, trong khi 100% số dân giàu nhất được tiếp
cận tới công trình vệ sinh cải thiện thì chỉ có 42% số dân nghèo nhất có được tiếp cận loại này.13 Trong trường hợp rửa tay, hầu hết các hộ gia đình thuộc mọi nhóm thu nhập đều có chỗ rửa tay Tuy vậy, trong khi MICS phát hiện ra rằng chỉ có 2% số những hộ gia đình giàu nhất không có sẵn xà phòng để rửa tay, con số này đối với những hộ gia đình nghèo nhất là 30% Khi đi sâu vào khu vực dân cư nông thôn còn thấy sự cách biệt lớn hơn giữa nhóm người giàu nhất và nghèo nhất so với dữ liệu cấp quốc gia
Yêu cầu đầu tư: Kiểm tra sự thích hợp của tài chính
Do Việt Nam đã đạt được các mục tiêu MDG, phân tích này tập trung vào những đầu tư cần thiết để đạt được những mục tiêu quốc gia tới năm 2020 Bảng 2.1 minh họa những dữ liệu cơ bản và mục tiêu cho từng tiểu ngành trong xác định chi phí SDA Đối với nước sạch và vệ sinh môi trường, chính phủ đã đặt ra những mục tiêu dựa trên phân loại thành phố hoặc thị trấn dựa trên quy mô Dữ liệu đô thị đơn lẻ sử dụng cho từng trường hợp trong phân tích được lấy từ tập hợp những mục tiêu cho các loại thành phố Những giả định và dữ liệu sử dụng trong phân tích chi phí được thảo luận tại Phụ lục 2 như công nghệ hỗn hợp, chi phí đơn vị và đóng góp của người sử dụng cũng như phương pháp dùng để ước tính mức đầu tư gần đây và theo dự kiến
Bảng 2.2 cho thấy rằng với tỷ lệ bao phủ cơ bản và mục tiêu cùng tỷ lệ tăng dân số hàng năm vào khoảng 1,3% thì mỗi năm có khoảng 3,7 triệu người dân cần được tiếp cận nguồn nước sạch đáp ứng tiêu chuẩn của chính phủ, hơn một nửa trong đó thuộc khu vực nông thôn Trong trường hợp vệ sinh môi trường, mỗi năm có khoảng 2 triệu người cần được tiếp cận nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn quốc gia (khu vực nông thôn) và 1,6 triệu người cần tiếp
9 MOH (2011)
10 Corning và cộng sự (2012)
11 AECOM và SKAT (2010)
12 AusAid và WB (2013)
13 Tổng cục thống kê (2011a)
Trang 15cận cơ sở xử lý nước thải (khu vực đô thị) Đây là
thách thức không chỉ về mặt tài chính mà còn về
mặt hoạt động và kỹ thuật vì hai lý do
Thứ nhất, công tác thúc đẩy vệ sinh môi trường
nông thôn chưa được coi trọng trong giai đoạn
trước của Chương trình mục tiêu quốc gia về Nước
sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn kết thúc
năm 2011 và tiến độ đạt đước thấp hơn so với dự
kiến Trong khi MARD và MOH đang bắt đầu điều
chỉnh lại mức cân bằng, còn phải đi một đường dài
trong việc phát triển công tác thực thi có hiệu quả,
những chiến lược thúc đẩy và đưa vào quy mô
Thứ hai, tăng tỷ lệ nước thải đô thị qua xử lý cần
nhiều hơn các nhà máy xử lý do hầu hết các nhà vệ sinh hộ gia đình đều kết nối với mạng thoát nước/cống rãnh thông qua bể tự hoại hoặc loại hố ngâm nào đó; trừ khi kết nối trực tiếp tới mạng lưới, phần lớn lượng phân sẽ vẫn được giữ lại ở cấp hộ gia đình và không được xử lý Sẽ cần tới không chỉ là các quy chế, các chiến dịch quảng bá và truyền thông mà có thể đưa ra phần thưởng khích lệ để khuyến khích các hộ gia đình có kết nối mới trực tiếp vào mạng lưới, hoặc để đảm bảo rằng các bể và hố thường xuyên được thông hút hết bởi những nhà thầu chịu trách nhiệm và chất tự hoại được xử lý
Tỷ lệ bao
phủ (năm
cơ sở)
Mục tiêu 2020
Số dân cần được tiếp cận
CAPEX Yêu cầu hàng năm CAPEX công dự kiến 2012-2014
CAPEX Hộ gia đình
Dự kiến
Tăng (giảm) hàng năm Tổng Công cộng Trong nước Nước ngoài Tổng
Nguồn: Xác định chi phí SDA JMP (2013) Progress on Drinking Water and Sanitation: 2013 Update UNICEF và WHO.
Ghi chú: a Tổng các cột có thể không chính xác do làm tròn số; b Số lượng trung bình toàn quốc không được tính toán do sự khác biệt về chỉ số sử dụng.
Cùng với những giả định về công nghệ tổng hợp
và chi phí đơn vị, gia tăng dân số và những yêu
cầu mục tiêu thể hiện bằng vốn đầu tư (CAPEX) là
1.562 triệu mỗi năm đối với nước sạch 1.142 triệu
mỗi năm cho vệ sinh môi trường Một phần lớn
của các yêu cầu đầu tư sẽ dành cho các khu vực
đô thị Ví dụ như yêu cầu CAPEX cho cấp nước đô
thị (1.042 triệu USD/năm) gần như gấp đôi yêu cầu
được giải thích bằng lý do duy nhất là chi phí cho công trình trên đầu người cao hơn tại các khu vực
đô thị, ví dụ như kết nối nước máy hộ gia đình và các công trình xử lý nước thải
Việc thu thập thông tin về đầu tư dự kiến và sự so sánh kết quả với các yêu cầu CAPEX cho phép công cụ xác định chi phí đưa ra được những ước tính về sự thiếu hụt (dư thừa) tài chính Đầu tư dự kiến
Trang 16thể hiện đóng góp hàng năm của nhà nước và hộ
gia đình từ 2012 tới 2014 Những đầu tư công dự
kiến thể hiện các chi tiêu theo kế hoạch của chính
phủ và những đối tác phát triển , trong khi đó đầu
tư hộ gia đình dự kiến được tính toán theo phần
đóng góp cố định của toàn bộ các khoản đầu tư
dự kiến, thể hiện mức đầu tư/đóng góp bằng tiền
túi được mong đợi của người sử dụng
Quy trình thu thập và tổng hợp thông tin về chi
tiêu vốn gặp khó khăn và chịu sự chi phối của
những vấn đề và hạn chế sau đây Thứ nhất, chi
tiêu vốn của các tỉnh và các cơ sở cung cấp dịch
vụ không được đưa vào trong phân tích do dữ liệu
này không có sẵn nếu như không thực hiện thu
thập dữ liệu sơ cấp trên quy mô lớn Thứ hai, có
sự không chắc chắn xung quanh những dữ liệu
tiểu ngành được sử dụng trong phân tích Thứ ba,
không giống như đầu tư dự kiến của các nhà tài
trợ, có sự không chắc chắn về mức đầu tư dự kiến
của chính phủ cho các khu vực đô thị vì những dữ
liệu này được ngoại suy dựa trên đóng góp 20%
vào đầu tư của nhà tài trợ chứ không phải được
lấy trực tiếp từ ngân sách Phụ lục 2 cung cấp một
thảo luận chi tiết hơn về những thách thức trong
việc thu thập dữ liệu, các giả định được đưa ra và
những nguồn dữ liệu được sử dụng cho công việc
này
Bảng 2.2 chỉ ra rằng CAPEX công dự kiến được ước
tính là 208 triệu USD mỗi năm cho nước sạch và
231 triệu USD mỗi năm cho vệ sinh môi trường
Thông tin sẵn có cũng cho thấy sự thiên vị mạnh
mẽ nghiêng về phía các khu vực đô thị Ví dụ như
trong trường hợp vệ sinh môi trường, CAPEX công
dự kiến cho khu vực đô thị 205 triệu USD/năm
chiếm khoảng 95% tổng đầu tư dự kiến cho ngành
vệ sinh môi trường, và đối với nước sạch, đô thị
chiếm khoảng 70% tổng số chi tiêu cho nước sạch
Đầu tư công và đầu tư hộ gia đình dự kiến cho
nước sạch và vệ sinh môi trường thấp hơn so với
lượng đầu tư vốn cần thiết là 1.258 triệu USD/năm
đối với nước sạch và 784 triệu USD/năm đối với vệ
sinh môi trường mỗi năm Số thâm hụt tuyệt đối
cho khu vực đô thị cũng được ước tính là nhiều gấp đôi so với khu vực nông thôn Cần lưu ý rằng trong khi dự kiến rằng các hộ gia đình sẽ là nguồn đóng góp chủ yếu của dịch vụ nông thôn, đặc biệt là những công trình vệ sinh môi trường tại chỗ của họ, đóng góp ban đầu dự kiến của các hộ gia đình vào cơ sở hạ tầng xử lý và thu gom nước thải cũng như các dịch vụ nước máy được coi là bằng
0 (chú ý: theo hướng dẫn chính sách, các bảng phí nhằm mục đích thu hồi toàn bộ chi phí mà điều này thường không xảy ra, xem phần 8 và 10).Điều này có nghĩa là thâm hụt thực tế tại các khu vực nông thôn có vẻ cao hơn ước tính là do đầu
tư dự kiến được dự tính chủ yếu đến từ hộ gia đình Không giống với trường hợp dự kiến CAPEX công chủ yếu được tính toán dựa vào ngân sách và trong nhiều trường hợp có sự hỗ trợ của tài liệu dự án, đầu tư hộ gia đình dự kiến là một ước tính và không có gì đảm bảo rằng nó sẽ trở thành hiện thực Đặc biệt là vệ sinh môi trường nông thôn, nơi chỉ có trợ cấp hạn chế đối với phần cứng cho các hộ nghèo và cận nghèo theo NTP3, đầu tư hộ gia đình dự kiến sẽ phụ thuộc nhiều vào sự sẵn sàng của chính phủ trong việc thu hút được đầu tư bằng tiền túi thông qua các sáng kiến quảng bá, truyền thông và tiếp thị
Những yêu cầu CAPEX hàng năm được lập dựa trên các đầu tư mới và đầu tư thay thế Đầu tư thay thế, thể hiện cho những chi tiêu nhằm thay thế những nguồn vốn đã không thể sử dụng, chiếm ưu thế trong các yêu cầu CAPEX hàng năm về nước sạch (Hình 2.1) do mức độ cao của những dịch vụ hiện có Tuy nhiên, điều này không đúng với trường hợp vệ sinh môi trường do tỷ lệ cơ sở của xử lý nước thải tại các khu vực đô thị ở mức thấp Nhận thấy rằng chi tiêu của cấp tỉnh và cung cấp dịch vụ không thể đánh giá được, so sánh giữa những đầu tư dự kiến (đầu tư được tính toán bình quân hàng năm từ 2012-2014) và những đầu tư gần đây (đầu tư bình quân hàng năm từ 2009-2011)14 so với mức đầu tư cần thiết đã nhấn mạnh một điểm là chi tiêu đã, đang và dường như sẽ không đủ để đạt được mục tiêu quốc gia tới 2020
14 Những đầu tư gần đây không tính đến đóng góp hộ gia đình vì không có thông tin được kiểm định về cấp độ đầu tư này.
Trang 17Hình 2.1 Chi tiêu cần thiết so với chi tiêu dự kiến 2012-2014 (chi tiêu công), giả đinh chi tiêu (hộ
gia đình) và chi tiêu gần đây (2009-2011).
Khác
Thay thế Mới Nước ngoài
Tổng số cho vệ sinh môi trường
200 400 600 800 1,000 1,200
-Tổng yêu
Nguồn: Xác định chi phí SDA
Bảng 2.3 trình bày ước lượng dự toán bổ sung kinh
phí cần thiết cho vận hành và bảo dưỡng công
trình cấp nước và vệ sinh môi trường Nó cho thấy
rằng cần phải có 256 triệu USD cho cấp nước và
176 triệu USD cho vệ sinh môi trường mỗi năm
Dự kiến là cần trên ¾ số đó cho các khu vực đô thị
và có thể có áp lực đối với tài chính hộ gia đình khi
cần phải chi tiêu cho các loại phí và công trình vệ
sinh hộ gia đình Điều này cũng có ý nói rằng là
các nhà cung cấp dịch vụ cần phải tạo ra được thu
nhập để hỗ trợ cho những chi phí vận hành hàng
ngày của họ, chưa kể tới nhu cầu của họ trong việc
tạo ra đủ thu nhập để chuẩn bị thay thế và mở
rộng đầu tư
Bảng 2.3 Yêu cầu vận hành và bảo dưỡng hàng năm
Tiểu ngành US$ million/year O&M
Tổng số vệ sinh môi trường 176
Nguồn: Xác định chi phí SDA Ghi chú: khi cộng vào có thể không bằng số tổng do việc làm tròn số
Trang 183 Bối cảnh đổi mới
Ngành đã trải qua một quá trình đổi mới kể từ
công cuộc đổi mới kinh tế năm 1986 (nhằm tạo
ra một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa) và phân cấp gần đây Những cơ quan
trung ương hiện đang chịu trách nhiệm đối với
công tác hoạch định chính sách, giám sát và điều
phối ngành, với các chính quyền cấp tỉnh sở hữu
và quản lý các tài sản và các công ty nhà nước
cung cấp dịch vụ mạng luới nước sạch và vệ sinh
môi trường Mặc dù sắp xếp này là hợp lý vẫn cho
thấy những thách thức trong công tác phối kết
hợp và vấn đề này còn nghiêm trọng hơn do số
lượng lớn các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm
về một mặt mặt nào đấy trong công tác quảng bá
thúc đẩy cấp nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh
cá nhân
Sau quá trình phân cấp, một thách thức quan trọng
đối với ngành là làm cách nào để tăng cường trách
nhiệm giải trình của chính quyền và các nhà cung
cấp dịch vụ địa phương về việc tuân thủ những
quy chế và tiêu chuẩn đã thống nhất kể cả đối với
cấp trên (cho tới nay vẫn được thực hiện mạnh
mẽ) và xuống tới những người sử dụng dịch vụ
Tại khu vực đô thị, sáng kiến đổi mới chính là một
chính sách chuyển dịch sang phía thương mại hóa
việc cung cấp dịch vụ, mặc dù còn có những khác
biệt giữa việc cung cấp cho nước sạch và vệ sinh
môi trường Trong trường hợp cấp nước, Nghị
định 117 ban hành năm 2007 đưa ra những yêu
cầu đối với các nhà cung cấp dịch vụ công cộng
trong việc thu hồi hoàn toàn chi phí và hiện nay
các cơ sử cung cấp dịch vụ nước sạch cấp tỉnh, về
mặt nguyên tắc, không còn nhận được trợ cấp từ
phía Ủy ban nhân dân tỉnh (PPC), mặc dù họ vẫn
được tiếp cận tới các khoản viện trợ vốn cho đầu
tư mới Phần lớn trong số này được các nhà tài trợ
cấp kinh phí những năm gần đây mặc dù ý định
là đến một lúc nào đó các cơ sở cung cấp dịch
vụ cũng sẽ tiếp cận tới nguồn tài chính thương
mại Tới nay, chỉ có rất ít cơ sở làm được điều này,
nhưng có xu hướng là áp lực thực hiện sẽ gia tăng
khi hỗ trợ bên ngoài chuyển từ các khoản viện trợ vốn sang các khoản vay mềm, và từ đó tiến tới các khoản vay chịu lãi suất thương mại.15
Một nhân tố quan trọng còn thiếu đối với việc thương mại hóa cung cấp dịch vụ là việc đưa ra những mục tiêu hoạt động cho các cơ sở cung cấp dịch vụ và việc thực thi của họ bằng một bên điều tiết độc lập Tới 2010, hầu hết các công ty cấp nước thi hồi chi phí vận hành và bảo dưỡng của họ nhưng các khoản kinh phí vận hành và bảo dưỡng thường được đặt ở mức thấp đến nỗi chất lượng của dịch vụ phải chịu ảnh hưởng, góp phần phát tán các vấn đề về chất lượng nước kém, áp lực nước thấp và cấp nước không đều Cho tới nay có rất ít các cơ sở cung cấp dịch vụ thu hồi được toàn bộ chi phí Một khó khăn lớn ở đây chính là sự lưỡng lực của các PPC trong việc nâng phí thu đến mức độ hợp lý về mặt thương mại
Đối với vệ sinh môi trường đô thị (cụ thể ở đây nói đến thoát nước và hệ thống cống rãnh), Nghị định 88 năm 2008 đã cho tín hiệu để các nhà cung cấp dịch vụ công cộng có thể phát triển một định hướng thương mại, và theo hướng đó tạo ra doanh thu thông qua một loại phí nước thải áp ngay trên hóa đơn tiền nước Việc thực hiện chính sách này đã và đang có vấn đề vì một số lý do Thứ nhất, với các thị xã, thị trấn và thành phố có công ty chuyên về vệ sinh môi trường và thoát nước, công ty này thực tế là một đơn vị hoạt động thuộc chính quyền cấp tỉnh và được cấp kinh phí từ ngân sách của UBND tỉnh chứ không phải từ doanh thu Thứ hai, những công ty chuyên về vệ sinh môi trường và thoát nước không thể tự mình tạo ra doanh thu vì phí nước thải chỉ được áp như một phần bổ sung vào tiền cấp nước Do vậy chỉ có những công ty kết hợp cho cấp nước và vệ sinh môi trường mới có thể thu được phí nước thải Thứ ba, trong khi Nghị định 88 đã đề ra phí nước thải sẽ ở mức tối thiểu là 10% của phí cấp nước, những hướng dẫn sau đó lại đặt 10% là mức tối đa Điều này là rất không phù hợp đối với kinh phí vận hành thoát nước và
15 ADB (2010)
Trang 19hệ thống cống rãnh, làm cho các nhà cung cấp
dịch vụ phụ thuộc hoàn toàn vào trợ cấp chính
phủ trong việc chi trả cho các chi phí vận hành cơ
bản của họ
Vào thời điểm soạn thảo, U3SAP đang đợi Thủ
tướng phê duyệt Được Bộ Xây dựng phát triển với
hỗ trợ của Chương trình Nước và Vệ sinh của Ngân
hàng thế giới, U3SAP đã lập được một chiến lược
cho tiến trình của tiểu ngành dựa trên chính sách,
các khung pháp lý và thể chế được sắp xếp hợp lý
(xem Phần 10) Nếu được thông qua và triển khai,
U3SAP có thể sẽ không chỉ tạo điều kiện cho tăng
cường đầu tư mà còn cải thiện mức độ bao phủ,
các cấp dịch vụ và tính bền vững của các dịch vụ
vệ sinh môi trường đôi thị
Về thúc đẩy nước sạch, vệ sinh môi trường và vệ
sinh cá nhân, sáng kiến chính sách quan trọng nhất
trong những năm gần đây chính là việc khởi động
một Chương trình mục tiêu quốc gia (NTP) năm
1999 Giai đoạn 3 của chương trình (NTP3) được
bắt đầu vào năm 2012 và sẽ tiếp tục tới 2015 Phần
lớn các hoạt động của chính phủ và đầu tư diễn ra trong khuôn khổ NTP được tài trợ từ giỏ kinh phí của nhiều nhà tài trợ và bởi các NGO có phạm vi hoạt động trong khung NTP nhưng không cung cấp kinh phí trực tiếp cho chính phủ Sự chuyển tiếp từ NTP2 tới NTP3 cũng đã đánh dấu những thay đổi chính sách quan trọng, trong đó có các biện pháp cải thiện thu hồi chi phí và thúc đẩy tính bền vững về mặt tài chính; mở rộng phạm vi cơ chế quản lý của khu vực tư nhân đối với nước sạch nông thôn; và thoát ra khỏi việc sử dụng trợ cấp trọn gói cho phần cứng đối với nhà vệ sinh hộ gia đình – từ nay trợ cấp chỉ được cung cấp cho đối tượng nghèo và cận nghèo Có một phát triển mới khác trong NTP3, đó là lần đầu tiên trách nhiệm lãnh đạo trong quảng bá thúc đẩy vệ sinh môi trường cho khu vực nông thôn được giao phó rõ ràng cho MOH, cụ thể là VIHEMA và các Trung tâm y tế dự phòng cấp tỉnh (PCPM), trong khi MARD vẫn giữ trách nhiệm chung trong công tác thực hiện chương trình
Bảng 3.1 Những mốc thời gian chính trong quá trình đổi mới ngành tại Việt Nam
1999 Giới thiệu Chương trình mục tiêu quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường (NTP I)
2000 Thông qua Chiến lược quốc gia lần thứ nhất về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn
tới năm 2020 Lập các điều khoản kỹ thuật, thiết lập tổ chức thể chế và các mục tiêu cho tiểu ngành
2007 Nghị định117 báo hiệu chuyển dịch chính sách sang hướng thương mại hóa cung cấp dịch
vụ cấp nước đô thị Dự kiến sẽ thu hồi được toàn bộ chi phí và áp dụng luật thương mại
2008 Nghị định 88 quy định rằng các dịch vụ nước thải đô thị sẽ áp dụng định hướng thương
mại, mặc dù các công ty vệ sinh môi trường công cộng vẫn nằm dưới quyền kiểm soát trực tiếp của chính quyền tỉnh
2009 Định hướng Phát triển dịch vụ cấp nước cho đô thị và các khu công nghiệp tới 2025 và tầm
nhìn tới 2050 (bao gồm các mục tiêu của tiểu ngành) Điều này tái khẳng định định hướng thương mại trong cung cấp dịch vụ cấp nước, khẳng định rằng cơ sở hạ tầng thoát nước và nước thải là hàng hóa công cộng, đề ra mục tiêu xử lý nước thải cho các loại đô thị khác nhau và làm rõ các sắp xếp thể chế
2009 Định hướng Phát triển thoát nước đô thị và các khu công nghiệp tới 2025 và tầm nhìn tới
2050 (bao gồm các mục tiêu của tiểu ngành)
2011 Dự thảo điều chỉnh Chiến lược quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn,
hiện đang đợi được chính thức phê duyệt
2012 Dự thảo Chiến lược thống nhất về vệ sinh môi trường và Kế hoạch hành động, hiện đang
đợi được chính thức phê duyệt
2012 Khởi động NTP3 với MOH đóng vai trò lãnh đạo trong công tác thúc đẩy vệ sinh môi trường
Trang 20Quá trình gần đây đã đưa lộ trình thực hiện cung
cấp dịch vụ vào trong bối cảnh, sau đó có thể sẽ
xem xét chi tiết bằng cách sử dụng thẻ điểm SDA,
một công cụ đánh giá mang lại cái nhìn tổng quát
về tiến trình đổi mới trong lịch trình thực hiện
cung cấp dịch vụ Thẻ điểm đánh giá các khối căn
bản của cung cấp dịch vụ, lần lượt là: 03 khối căn
bản liên quan tới cho phép thiết lập dịch vụ, 03
khối căn bản liên quan tới phát triển dịch vụ và 03
khối căn bản liên quan tới duy trì bền vững dịch vụ Mỗi khối căn bản được đánh giá bằng những chỉ số và điểm từ 1 đến 3
Phần 4 và 6 nêu bật tiến độ và những thách thức trong khuôn khổ tiểu ngành qua 03 lĩnh vực chủ điểm: khung thể chế, tài chính, giám sát và đánh giá Các thẻ điểm cho mỗi tiểu ngành được thảo luận trong phần 7 và 10
Trang 214 Khung thể chế
Sự phân cấp đã thay đổi vai trò của các cơ quan
trung ương, và các cơ quan cấp bộ hiện tập trung
mạnh vào công tác phát triển chính sách và giám
sát hoạt động hơn là kiểm soát trực tiếp việc cung
cấp dịch vụ Ở cấp địa phương, các cơ quan, ban
ngành cấp tỉnh, thành phố thực hiện những hoạt
động được xác định bởi cơ quan ngành dọc cấp
bộ, bao gồm thực thi những thông tư quốc gia
và các kế hoạch đầu tư của địa phương theo ủy
quyền của UBND tỉnh
Một thách thức lớn cho ngành chính là việc xây
dựng năng lực cho chính quyền cấp địa phương
để họ hoàn thành vai trò được giao phó trong việc
lập kế hoạch, phát triển và quản lý dịch vụ; và có
được những công cụ và cơ chế hiệu quả để chính
quyền cấp địa phương chịu trách nhiệm cho công
tác được giao phó Trong khi đó, các nhà cung cấp
dịch vụ cần có quyền tự chủ lớn hơn về hoạt động
và tài chính trong một khung quy chế có hiệu lực
có xác định rõ mục tiêu hoạt động, cơ chế thưởng
phạt Cho tới khi những điều kiện này được thiết
lập, ngành vẫn rất hạn chế trong việc thu hút các
nhà đầu tư và vận hành tiềm năng thuộc khu vực
tư nhân
Cấp nước và vệ sinh môi trường đô thị
Bộ Xây dựng (MOC) là cơ quan đứng đầu cho cả
Kế hoạch và Đầu tư (MPI) đóng vai trò điều phối đầu tư, bao gồm việc quản lý những đóng góp hỗ trợ lớn từ bên ngoài cho tiểu ngành
Các nhà cung cấp dịch vụ cấp nước đô thị thường là những công ty thuộc sở hữu nhà nước có tư cách pháp nhân độc lập và nhiều trong số đó là các công
ty cấp thoát nước kết hợp Mặc dù họ chính thức là các công ty độc lập, trên thực tế họ vẫn phải nằm dưới chính quyền UBND tỉnh, cơ quan kiểm soát mức phí cũng như những quyết định đầu tư và bổ nhiệm cán bộ cấp cao trong khi quyền sở hữu tài sản hữu hình không phải lúc nào cũng rõ ràng Mỗi cơ quan cung cấp dịch vụ vận hành trên cơ sở các đơn đặt hàng dịch vụ (trên thực tế là các hợp đồng) do chính quyền tỉnh ban hành
Một sáng kiến chính sách quốc gia có tác động tới một loạt các nhà cung cấp dịch vụ công cộng bao gồm các dịch vụ nước được coi là “cổ phần hóa”, có nghĩa là chuyển đổi các công ty thuộc sở hữu nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Tới nay chỉ có 5 công ty đã được cổ phần hóa và không còn thuộc sở hữu nhà nước Cổ phần hóa được đưa ra thực hiện mà không thiết lập nên những chỉ số hoạt động được xác định rõ ràng và có thể kiểm chứng, hoặc có các quy định thưởng khích lệ để cải thiện mức độ bao phủ và chất lượng của dịch vụ cho tất cả, do vậy chưa thực
• Cho phép các công ty nước và vệ sinh môi trường có quyền tự chủ hoạt động và tài chính lớn hơn, trong khuôn khổ một khung quy chế có hiệu lực bao gồm những mục tiêu hoạt động và quy định thưởng, phạt
• Phê duyệt và triển khai Chiến lược thống nhất về vệ sinh môi trường và Kế hoạch hành động, trong đó bao gồm việc thiết lập nên một chương trình quốc gia về vệ sinh môi trường cùng với khung phối hợp và thể chế cho ngành
• Rà soát hiệu lực của những mô hình quản lý hiện tại (và phương án thay thế) cho các hệ thống cấp nước nông thôn, xây dựng hướng dẫn chính sách cho chiến lược quản lý, quy định mở rộng cho các hệ thống nước máy nông thôn và các cơ chế để khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân
Trang 22kết quả hoạt động Một số chủ thể liên quan cũng
đã bày tỏ quan ngại rằng các công ty cổ phần hóa
đang đa dạng hóa sang những lĩnh vực hoạt động
không phải là nòng cốt Vì không yêu cầu các công
ty nước phải khoanh giữ tài khoản kinh doanh
nước của họ, điều này có thể mang đến cho họ
rủi ro trong trường hợp đầu tư xấu, khi đó sẽ ảnh
hưởng tới công việc kinh doanh cốt lõi16
So với cấp nước đô thị, các sắp xếp thể chế cho vệ
sinh môi trường đô thị có sự khác biệt Các dịch vụ
tại những đô thị lớn được cung cấp bởi các công
ty cấp thoát nước kết hợp và (tại trung tâm đô thị)
các công ty vệ sinh môi trường và thoát nước hoạt
động như một cơ quan của UBND tỉnh Các dịch vụ
vệ sinh môi trường đô thị phải chịu đựng sự thiếu
hụt nguồn lực tài chính (các nhà cung cấp phụ
thuộc lớn vào những khoản tài trợ hoạt động của
UBND tỉnh) và nguồn nhân lực Nói tới vấn đề này,
hầu hết các thị trấn, thị xã tại Việt Nam không có
nhà máy xử lý nước thải và trên thực tế thì mạng
lưới cống rãnh là các hệ thống thoát nước thải và
nước mưa chung Do vậy khối lượng công việc vệ
sinh môi trường do những công ty này thực hiện
tương đối hạn chế và hầu như chỉ xoay quanh việc
xử lý những điểm tắc nghẽn, chảy tràn hoặc sửa
chữa cống rãnh
Thuật ngữ “vệ sinh môi trường” được diễn giải khác
rộng tại Việt Nam, bao gồm không chỉ là quản lý
chất thải của người mà còn có nước thải thương
mại, công nghiệp và nông nghiệp; quản lý chất
thải và kiểm soát ô nhiễm nói chung Do đó, nhiều
bộ ngành và các cơ quan cấp tỉnh được giao vai trò
đối với một mặt nào đó của vệ sinh môi trường và
những cơ quan này có xu hướng phát triển chiến
lược và mục tiêu độc lập với nhau mà không có cơ
quan ở vị trí đứng đầu chung cho toàn ngành Kể cả
trong lĩnh vực nước thải đô thị, sự lãnh đạo và phối
hợp còn yếu kém với những dự án đầu tư (hầu như
được các nhà tài trợ cấp kinh phí) được xây dựng
như những sáng kiến độc lập, không có chiến lược
hay chương trình quốc gia Dự thảo U3SAP đề xuất
giải quyết những hạn chế này thông qua một số
các biện pháp trong đó có việc thiết lập một Ban
điều phối quốc gia cho vệ sinh môi trường dưới
sự lãnh đạo của MOC nhằm cải thiện sự phối hợp
trong chính phủ và giữa các cơ quan chính phủ với
các đối tác phát triển; và việc đưa ra một chương
trình vệ sinh môi trường đô thị quốc gia để cung cấp một khung toàn diện cho công tác đầu tư của chính phủ và từ bên ngoài17
Khu vực tư nhân đóng vai trò ngày càng lớn tại các vùng đô thị với 4 công ty cấp nước lớn nhất đang chuyển dần sang thương mại hóa hoàn toàn và dự tính rằng những nhà cung cấp dịch vụ quy
mô nhỏ chiếm khoảng 1/3 dịch vụ nước trên toàn quốc Tuy nhiên, sự tham gia trên quy mô lớn của các công ty tư nhân được thành lập để cung cấp dịch vụ vẫn còn hạn chế và chủ yếu là trong dịch vụ cấp nước khối lượng lớn Chính sách của chính phủ ưu tiên đầu tư tư nhân nhưng chính phủ vẫn giữ quyền sở hữu tài sản và có quyền kiểm soát lớn đối với công tác vận hành thông qua kiểm soát mức phí và phân bổ vốn hoạt động của các công
ty vệ sinh môi trường, môi trường này vẫn chưa tạo ra được tăng trưởng đáng kể sự tham gia của khu vực tư nhân Với cùng những lý do đó, khó để hầu hết các công ty nước và vệ sinh môi trường tiếp cận được nguồn tài chính thương mại vì rủi ro cảm nhận đối với các bên cho vay còn ở mức cao
Cấp nước và Vệ sinh môi trường nông thôn
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) là cơ quan đứng đầu trong nước sạch nông thôn thông qua Tổng cục Thủy lợi Một Văn phòng thường trực cùng với Tổng cục chịu trách nhiệm chung cho công tác điều phối NTP3 trong khi Trung tâm quốc gia Nước sạch nông thôn và Vệ sinh môi trường nông thôn (NCERWASS) đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật cho Chương trình bao gồm giám sát chất lượng nước, giám sát và thu thập dữ liệu Bộ Y tế (MOH) là cơ quan đứng đầu trong thúc đẩy vệ sinh môi trường hộ gia đình và vệ sinh cá nhân trong NTP3 thông qua Cục Quản lý môi trường
y tế Việt nam (VIHEMA) Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET) chịu trách nhiệm cung cấp cơ sở cấp nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân (WASH) cho trường học và thúc đẩy vệ sinh cá nhân Tại cấp tỉnh, các hoạt động NTP3 do pCERWASS giám sát, với Phòng Y tế quản lý thúc đẩy vệ sinh môi trường thông qua Trung tâm y tế dự phòng cấp tỉnh (pCPM)
Tại địa phương, các cơ quan đoàn thể bao gồm Hội phụ nữ thực hiện hoạt động huy động và phối hợp sự tham gia của cộng đồng trong tài trợ kinh phí,
16 ADB (2010)
17 MOC (2012)
Trang 23xây dựng và quản lý các công trình vệ sinh Ngân
hàng chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) cũng là
một nhân tố hoạt động quan trọng, cung cấp các
khoản vay được trợ cấp cho vệ sinh môi trường và
những khoản vay không được trợ cấp cho nước
sạch tại các vùng nông thôn
Tính bền vững của nhiều công trình cấp nước sạch
nông thôn, đặc biệt là những công trình nhỏ được
khẳng định là phụ thuộc vào sự quản lý của cộng
đồng Điều này thường chứng minh là thiếu hiệu
quả, dù không có thông tin chi tiết, đáng tin cậy
về kết quả vận hành và bảo dưỡng do sự yếu kém
trong hệ thống giám sát ngành Quyền sở hữu đối
với những công trình nhỏ không được xác định
rõ ràng, trong khi các UBND xã (CPC) có nghĩa vụ
hướng dẫn cho việc thiết lập các ban quản lý, các
thành viên trong đó – lấy từ các cộng đồng thôn
làng – thường thiếu những kỹ năng cần thiết để
thực hiện nhiệm vụ của họ một cách hiệu quả
Dự định là pCERWASS sẽ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật
nhưng có rất ít trách nhiệm giải trình để thực hiện
chức năng này
Việc làm thế nào để công tác quản lý và tính bền
vững của các công trình nông thôn được cải thiện
một cách tốt nhất là chủ đề được thảo luận nhiều
trong ngành, mặc dù những công trình nước máy
lớn hơn thường có sự thống nhất chung là cần
phải có sắp xếp chính thức, khi đó nhà cung cấp
dịch vụ (có thể là tư nhân) sẽ được bổ nhiệm và
chịu trách nhiệm giải trình đối với việc đảm bảo
chất lượng và tính liên tục của dịch vụ
Báo cáo Rà soát phối hợp thường niên năm 2012 của NTP3 khuyến nghị rằng cần phải có hỗ trợ kỹ thuật cho các công trình loại nhỏ do cộng đồng và các hợp tác xã quản lý như một phần trong một hỗ trợ kỹ thuật toàn diện cho toàn bộ chương trình Tuy nhiên cũng có những phương án khác và nhiều công trình của thôn được xây dựng trong khuôn khổ Dự án Quản lý thủy lợi đồng bằng sông cửu long do Ngân hàng thế giới tài trợ gần đây do pCERWASS quản lý trực tiếp với những kết quả báo cáo nhìn chung là tốt Những phương thức tiếp cận quản lý chính thức đã được xây dựng cho các công trình do ADB hỗ trợ triển khai tại 6 tỉnh miền Trung Trong khi đó, các công ty cổ phần được thành lập thí điểm trong Dự án Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Đồng bằng sông Hồng do WB tài trợ Đã thành lập được 4 công ty trong đó chính phủ giữ 82% cổ phần và số còn lại là do các khách hàng sở hữu Một cuộc rà soát toàn diện về hoạt động của các mô hình quản lý vận hành gần đây có thể cung cấp những ý kiến có giá trị để dẫn đường cho việc phát triển các chiến lược cải thiện công tác quản lý và tính bền vững của các công trình cấp nước nông thôn Trên toàn quốc, các tổ chức khu vực tư nhân hoạt động trong thị trường nông thôn thường là các công ty cỡ rất nhỏ, nhỏ và vừa, từ các nhà vận hành đơn lẻ của những công trình cỡ nhỏ tới những công ty loại công ích cung cấp nước máy Nhiều trong số này xuất hiện một cách không chính thức và cả mức phí và tiêu chuẩn chất lượng đều không được quy định
Trang 24Hình 4.1 Cung cấp dich vụ nước và vệ sinh môi trường tại Việt Nam: một tóm tắt tổng quan về thể
chế (quản lý nhà nước nhìn chung)
Water Supply and Sanitation in Vietnam18
THÚC ĐẨY VỆ SINH MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH
CÁ NHÂN NÔNG THÔN CẤP NƯỚC ĐÔ THỊ
VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
ĐÔ THỊ (NƯỚC THẢI) CẤP NƯỚC NÔNG THÔN
MARD
nCERWASS (cho NTP3)
UBND tỉnh (PPC)
Phòng Y tế
CPC và các nhà cung cấp dịch vụ
Trang 255 Tài trợ và triển khai tài trợ
Lập kế hoạch đầu tư
Hiện nay khong có kế hoạch đầu tư dài và trung
hạn cho cấp nước đô thị và thay vào đó tài trợ
được tổ chức trên cơ sở từng dự án Các dịch vụ
cấp nước đô thị không còn được nhận trợ cấp vận
hành trực tiếp từ chính phủ nhưng các khoản vốn
đầu tư từ tiền viện trợ và vay nợ đôi khi vẫn được
cả chính phủ và các nhà tài trợ cung cấp Những
đầu tư gần đây hầu hết là từ những nguồn trong
nước
Trong trường hợp vệ sinh môi trường đô thị, hầu
hết các khoản đầu tư trong thập kỷ vừa qua được
cấp kinh phí bởi các nhà tài trợ và cung cấp thông
qua các dự án ở một số địa phương được lựa chọn
nhưng thoát nước thải phần lớn vẫn chưa phát
triển trên toàn quốc Thay vào đó, hầu hết các hộ
gia đình sử dụng những công trình tại chỗ xây
dựng bằng tiền túi của họ Như đối với cấp nước
đô thị, ngành này cũng không có kế hoạch đầu
tư nhưng đã có đề xuất xây dựng một kế hoạch
trong khuôn khổ U3SAP năm 2013, hiện đang đợi
được phê duyệt Ngoài ra, ADB đã đề nghị hỗ trợ
một chương trình đầu tư trị giá 1 tỷ USD cho thoát
nước đô thị, điều này có thể sẽ tạo ra tác động lớn
tại những thành phố được lựa chọn khi đầu tư
được tiến hành
Do Việt Nam đã trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình, bản chất đầu tư của nhà tài trợ đang thay đổi và một số nhà tài trợ Châu Âu có thể sẽ rút đi trước 2015 Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) sẽ không có sẵn nhiều như trước và sẽ được
cơ cấu khác đi, với mức độ viện trợ tài chính và các khoản vay ưu đãi thấp hơn
Chính phủ Việt Nam đang tìm kiếm thêm đầu tư từ khu vực tư nhân cho cấp nước và vệ sinh môi trường cả ở đô thị và nông thôn Cần phải có một môi trường thuận lợi hơn, đặc biệt là đối với quy định về các loại phí và môi trường đầu tư tốt hơn cho ngành để có thể trụ vững và thu hút các nhà đầu tư, các nhà hoạt động quy mô lớn Tới nay, một số ít các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích đã có thể tiếp cận tới nguồn tài chính thương mại Một cản trở lớn ở đây chính là những khó khăn cho các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích có được bảo lãnh của chính phủ cũng như khả năng yếu kém trong ký kết hợp đồng và quản lý đối tác công tư
Đối với các vùng nông thôn, kế hoạch đầu tư được xác định trong tài liệu NTP3 cho giai đoạn 2011-
2015 NTP3 hiện có một ngân sách dự kiến khoảng
126 triệu USD, với đóng góp của nhà tài trợ chiếm khoảng 1/6 Các nhà tài trợ gồm có AusAID, DANIDA, DFID, và WB thông qua các Chương trình
• Xây dựng các kế hoạch đầu tư tiểu ngành dài hạn làm cơ sở tăng dần tài trợ kinh phí công, đặc biệt là cho việc cung cấp dịch vụ đô thị ngoài các thành phố lớn và cho các khu vực nông thôn xa xôi, chưa được phục vụ
• Cải thiện công tác giám sát chi tiêu đầu tư của tiểu ngành, trong đó có các đầu từ cấp quốc gia và cấp tỉnh thông qua dịch vụ công ích
• Thực hiện Rà soát chi tiêu công cho ngành nước và vệ sinh môi trường để cải thiện hiệu quả chi tiêu công (cấp tỉnh và quốc gia)
• Thu hút tiền vốn của khu vực tư nhân thông qua việc thúc đẩy tiếp cận tới nguồn vốn (thương mại) cho các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích và giải quyết những rào cản của môi trường đầu tư
Trang 26cho vay dựa vào kết quả (P4R); một số NGO cũng
tham gia mặc dù không lập ngân sách Thúc đẩy vệ
sinh môi trường và vệ sinh cá nhân là trách nhiệm
trược tiếp của MARD trong NTP2, và kinh phí được
cấp rất ít so với kinh phí phân bổ cho cấp nước Với
việc MOH chịu trách nhiệm về vệ sinh môi trường
như hiện nay, có thể kinh phí được cấp sẽ tăng lên
cho NTP3, mặc dù cho đến nay điều này vẫn chưa
xảy ra 19
Những kế hoạch đầu tư trung hạn cho nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn được lập trong khuôn
khổ NTP 3 nhưng theo các cơ quan chính phủ có liên
quan, những kế hoạch này có xu hướng bị lờ đi khi
vận hành chương trình; thay vào đó những kế hoạch
và ngân sách hàng năm thường được thực hiện
không liên quan gì tới kế hoạch trung hạn, gây ra
việc phân bổ thiếu nguồn lực so với những gì được
dự kiến trong dựa trên kế hoạch trung hạn
Những thách thức khác trong tài trợ cho nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn bao gồm một sự
nhấn mạnh quá mức vào đầu tư vốn cho các chi phí
của hoạt động “mềm” như thiết lập các sắp xếp vận
hành và bảo dưỡng khả thi, xây dựng năng lực, triển
khai các chiến dịch quảng bá và truyền thông, phát
triển kinh doanh cho vệ sinh môi trường Những nút
thắt khác là sự chậm trễ trong phân bổ ngân sách
hàng năm cộng với những phân bổ không đáp ứng
được yêu cầu và đầu tư hạn chế của khu vực tư nhân
Tính minh bạch của ngân sách
Do các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích đô thị hiện
phải vận hành dựa trên nền tảng thương mại, chính
phủ không còn tài trợ cho bất kỳ chi phí vận hành
và bảo dưỡng nào đối với cấp nước đô thị Vận hành
vệ sinh môi trường đô thị được trợ cấp hoàn toàn,
do đó các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích chung
cho nước và vệ sinh môi trường nhận được trợ cấp
cho công tác vận hành thoát nước nhưng không có
trợ cấp cho các dịch vụ cấp nước Tuy nhiên, những khoản trợ cấp này không được xác định một cách rõ ràng trong ngân sách của chính quyền cấp tỉnh Theo Luật Kiểm toán, toàn bộ các công ty cấp nước và vệ sinh môi trường phải được kiểm toán hàng năm Những chi tiêu cho nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với ngân sách trong khuôn khổ NTP3 đều được kiểm toán và báo cáo trên cùng một mẫu thống nhất cho tất cả các chi tiêu từ những nguồn trong nước và tài trợ chính thức
Cũng thấy rằng những ngân sách và chi tiêu của tiểu ngành, đặc biệt là liên quan đến chi tiêu cấp địa phương không được báo cáo hoặc tổng hợp bằng bất kỳ hình thức nào Do vậy, các dòng tài chính, tính kém hiệu lực và hiệu của của chi tiêu chung trong ngành vẫn khó có thể đánh giá được khi không thực hiện những cuộc rà soát chi tiêu cụ thể cho ngành
Tính đầy đủ của ngân sách
Hình 5.1 chỉ ra những nguồn tài chính khác nhau cho
4 ngành Nó cho thấy rằng theo dự kiến các hộ gia đình sẽ là nguồn cấp kinh phí chủ yếu đối với các khu vực nông thôn, và đối với các khu vực đô thị sẽ là các nhà tài trợ, với ngân sách trong nước ít hơn Dự kiến sẽ có sự thiếu hụt cơ bản cho tất cả các ngành (trình bày bằng màu vàng nhưng đặc biệt là tại các khu vực đô thị Tuy nhiên, quy mô thâm hụt thực tế cho khu vực nông thôn có thể còn lớn hơn giá trị trình bày tại đây Nguyên nhân là phần đóng góp tương đối lớn trong đầu tư dự kiến của hộ gia đình (trình bày bằng màu xanh), đó là ước tính kinh phí của hộ gia đình bỏ ra do tác dụng đòn bẩy thông qua trợ cấp một phần từ NTP3 Cơ hội để những khoản đầu
tư này trở thành hiện thực phụ thuộc nhiều vào hiệu quả của các chương trình huy động và quảng bá xã hội của chính phủ để thúc đẩy được các hộ gia đình tự đầu tư
19 AusAID và đồng sự (2012)
Trang 27Hình 5.1 Tổng mức đầu tư yêu cầu hàng năm và theo đầu người với đóng góp tài chính dự kiến
theo nguồn
Dự kiến đầu tư
Theo đầu người (mới): $ 91
Vệ sinh môi trường
Nguồn: Xác định chi phí SDA Ghi chú: đầu tư dự kiến hộ gia đình trong khu vực nông thông được giả định
Sử dụng ngân sách
Đối với cấp nước và vệ sinh môi trường cho cả đô thị
và nông thôn, mặc dù có chậm trễ trong khi chuyển
tiền, ngân sách trong nước được sử dụng mà không
gặp phải nút thắt nghiêm trọng nào Tại các khu vực
đô thị, kinh phí trong nước cho cấp nước hầu như
được sử dụng cho đền bù đất đai và các hoạt động
trước đầu tư, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật Trong trường
hợp kinh phí từ bên ngoài, các dự án cấp nước đô thị
thường bị chậm trễ kéo dài nên quá trình giải ngân
bị chậm Theo báo cáo, có ít sự chậm trễ hơn đối với
các dự án nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn trong khuôn khổ NTP2
Nói tóm lại, với sự thâm hụt ngân sách công và sự thiếu hụt tài chính trong ngân sách nhà nước hiện nay, cải thiện hiệu quả và hiệu lực của chi tiêu công ngày càng trở nên quan trọng cho chính phủ Việt Nam, điều này có thể đánh giá được thông qua một cuộc Rà soát chi tiêu công cụ thể cho ngành Hơn thế nữa, thúc đẩy đầu tư khu vực công có thể xứng đáng được ưu tiên cao nhằm giảm bớt thiếu hụt tài chính cũng như tăng kinh phí đầu tư của người sử dụng thông qua biểu giá để thu hồi toàn bộ chi phí và những hoạt động phần mềm hiệu quả
Trang 286 Giám sát và Đánh giá ngành
Phần 2 đã nêu bật khó khăn trong việc xác định
những cấp độ tiếp cận tới các dịch vụ nước và
vệ sinh môi trường hiện nay tại khu vực đô thị và
nông thôn, sự thiếu hụt thông tin về chất lượng
và tính năng của dịch vụ Một phần những vấn
đề này phát sinh từ sự thiếu hụt của những điểm
tham chiếu rõ ràng cho dữ liệu giám sát tại cả đô
thị và nông thôn cũng như những khác biệt giữa
các tiêu chí của chính phủ và JMP được sử dụng
để xác định sự tiếp cận Những số liệu chính thức
khác nhau rất xa được trích dẫn trong một loạt các
tài liệu của chính phủ và điều tương tự xảy ra đối
với những mục tiêu ngành vì có một xu hướng là
mỗi Bộ quan tâm tới lĩnh vực nước và vệ sinh môi
trường lại đặt ra những mục tiêu riêng của mình
mà không tham khảo những mục tiêu đã được các
cơ quan chính phủ khác chấp nhận
Những khung và hệ thống giám sát cho các tiểu
ngành tại nông thôn và đô thị vẫn cần phải phát
triển thêm trong tương lai mặc dù trong những
năm gần đây chính phủ đã có những bước tiến
thích hợp, đáng tin cậy và thường xuyên trong
công tác giám sát
Đối với cấp nước đô thị, MOC gần đây đã xây dựng
một khung giám sát dựa trên một dự án dịch vụ
mẫu của WB và theo mô hình khung IBNET toàn
cầu đối với chuẩn dịch vụ nước và vệ sinh môi
trường Khung này chưa đi vào hoạt động và hiện
nay đã có sẵn thông tin giám sát cho các dịch vụ công ích riêng nhưng không được tổng hợp định kỳ để đưa ra một cái nhìn tổng quan cho ngành Đối với vệ sinh môi trường đô thị, không có khung giám sát cho công trình thu thập và xử lý nước thải hộ gia đình cũng như toàn thành phố mặc dù đã có những sắp xếp mới được đề xuất trong U3SAP.Trong trường hợp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, NTP3 có hướng dẫn cho công tác giám sát và báo cáo, đồng thời một bộ chỉ số đã được lập năm 2008 với mục đích tổng hợp và giám sát thông tin trong một cơ sở dữ liệu toàn diện Những chỉ số này sau đó đã được hợp lý hoá (danh sách ban đầu rất dài) và một hệ thống giám sát mới để giám sát công tác cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đã được bắt đầu năm 2012, trong đó có những chỉ số cụ thể về tính công bằng trong cung cấp dịch vụ, hiện đang được triển khai rộng rãi tại những tỉnh được lựa chọn Cần quan tâm hơn nữa tới việc làm hài hòa những chỉ số công bằng của hệ thống giám sát NCERWASS với danh sách các hộ nghèo thường xuyên được Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội (MOLISA) cập nhật Trách nhiệm đứng đầu trong triển khai giám sát thuộc về các văn phòng cấp tỉnh của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, pCERWASS Cần lưu ý rằng những mục tiêu được lập cho sự tiếp cận cấp hộ gia đình, những chỉ số vệ sinh môi
Những hành động ưu tiên đối với công tác giám sát và đánh giá cho ngành
• Hợp lý hóa các mục tiêu tiếp cận cùng những khung giám sát của đô thị và nông thôn, thống nhất về những điểm tham chiếu chung cho toàn bộ các chủ thể trong ngành
• Đảm bảo rằng hệ thống giám sát không chỉ theo dõi sự tiếp cận đối với các công trình mà còn kết quả thực hiện ở cấp dịch vụ, tính năng và tính bền vững, hiệu quả thực hiện các quy trình và tính công bằng trong phân bổ nguồn lực
• Đưa ra rà soát ngành nước sạch và vệ sinh môi trường hàng năm và các quy trình phối hợp rà soát ngành (như trong trường hợp nông thôn)
• Cân nhắc những điều chỉnh đối với hệ thống giám sát vệ sinh môi trường để phản ánh được các chỉ số cấp xã cho việc loại bỏ hành vi phóng uế bừa bãi và tiếp cận tới vệ sinh môi trường
Trang 29trường toàn cộng đồng vẫn chưa được giám sát
thường xuyên Ngoài công tác giám sát thường
xuyên, một cuộc họp báo cáo Rà soát phối hợp
hàng năm được tổ chức cho NTP với sự tham gia
của chính phủ và các đối tác phát triển
Như đã giải thích trong Phần 2 và 5, giám sát tài
chính của ngành vẫn chưa có tính toàn diện Một
mối quan ngại chung là ngân sách của chính phủ
và các báo cáo chi tiêu còn thiếu chi tiết nên rất
khó để theo dõi được đóng góp của chính phủ và các đối tác phát triển cho 4 tiểu ngành và cách thức sử dụng những nguồn kinh phí này Hơn thế nữa, chi tiêu vốn địa phương thông qua kinh phí của tỉnh hoặc các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích không được báo cáo một cách hệ thống, do vậy khó có thể đánh giá được vấn đề kinh phí của tiểu ngành
Trang 307 Tiểu ngành: Cấp nước nông thôn
Một chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn đã được thông qua năm
2000, đã có một bản dự thảo điều chỉnh, được
thiết kế để hỗ trợ cho việc triển khai NTP3, đã hoàn
thiện năm 2012 Hiện bản điều chỉnh này đang đợi
chính phủ phê duyệt nhưng những mục tiêu nước
sạch và vệ sinh môi trường trong đó đã được sử
dụng cho mục đích phân tích SDA So với chiến
lược ban đầu, dự thảo mới này nhấn mạnh nhiều
hơn vào tính bền vững của các công trình cấp
nước(về mặt tài chính, vận hành và môi trường)
và vào cải thiện tiếp cận tại những vùng khó đến
được
Trái ngược với những báo cáo JMP mà trong đó chỉ
ra rằng đã đạt được mục tiêu MDG cho nước sạch
nông thôn, những báo cáo của MARD20 lại cho
rằng năm 2011 chỉ có 37% số dân nông thôn được
tiếp cận nước “sạch”, đó là nước đạt tiêu chuẩn
chất lượng do MOH đề ra (xem Hình 7.1) Trong
khi không có đủ thông tin để từ đó đưa ra được xu
hướng trước đây, dường như quốc gia này, theo
tiêu chuẩn của riêng mình, còn phải đi một quãng
đường dài để đạt được mục tiêu chính phủ là 75%
số dân nông thôn sử dụng tối thiểu 60 lít nước
sạch/người/ngày vào năm 202021 Mặc dù dự kiến
dân số nông thôn sẽ giảm (xem Phụ lục 2), tỷ lệ bao phủ hiện tại và theo mục tiêu của chính phủ cho thấy rằng mỗi năm có thêm khoảng 1,9 triệu người cần tiếp cận cấp nước đáp ứng tiêu của của MOH từ năm 2011 đến năm 2020
Hình 7.1 Mức độ bao phủ cấp nước nông thôn
Nguồn: Xác định chi phí SDA JMP (2013) Progress on Drinking Water and Sanitation: 2013 Update (Tiến bộ trong Nước uống và Vệ sinh môi trường: Cập nhật 2013) UNICEF và WHO MARD (2012a) Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, giai đoạn 2012-2015 Hà Nội MARD (2012b) Nước sạch nông thôn và Vệ sinh môi trường quốc gia tới
2020 MARD và NCERWASS, Hà Nội.
• Phát triển một chiến lược và kế hoạch hành động xây dựng năng lực cho NTP3, bao gồm phát triển một hệ thống hỗ trợ kỹ thuật toàn diện nhằm cải thiện tính năng của các công trình
• Thực hiện một cuộc rà soát toàn diện đối với hiệu quả của các mô hình cơ chế quản lý (và quyền chủ sở hữu) hiện có và thay thế
• Thực hiện những khuyến nghị từ cuộc rà soát để chuyên nghiệp hoặc công tác quản lý và thúc đẩy các khả năng của khu vực tư nhân
• Phát triển các kế hoạch cấp tỉnh cho công tác quản lý chất lượng nước ở cấp công trình
• Tăng cường nguồn lực phân bổ cho cấp nước nông thôn trong khi thực hiện tập trung vào những cộng đồng dân nghèo xa xôi, hẻo lánh chưa được phục vụ
20 MARD (2012a)
21 MARD (2012b)
Trang 31Cả nước cần huy động khoảng 520 triệu USD mỗi
năm để đạt đượcmục tiêu nước sạch nông thôn
tới 2020 (Hình 7.2) Những khoản đầu tư gần đây
và dự kiến, có lẽ trong tương lai, không đủ để đáp
ứng chi tiêu cần thiết và nhu cầu cần phải xác định
thêm nguồn lực của chính phủ (và khu vực tư nhân
tiềm năng) đang trở nên bức thiết do tài trợ từ 2
trong số 3 đối tác phát triển chính sẽ sớm kết thúc
(của DFID vào cuối 2013, DANIDA vào cuối 2014)
Đầu tư dự kiến từ các nguồn trong nước (trừ hộ gia
đình) và bên ngoài từ 2009 tới 2011 thấp hơn yêu
cầu chi tiêu 10% Đầu tư dự kiến từ 2012-2014 có
vẻ đủ để đáp ứng nhu cầu cho đầu tư mới nhưng
chỉ chiếm khoảng 3/10 tổng nhu cầu đầu tư Trên
thực tế, ước tính đầu tư dự kiến là lạc quan vì mong
đợi sẽ có khoảng 95 triệu USD mỗi năm trong số
này có được từ các hộ gia đình nông thôn, khi họ
tự đầu tư vào giếng khoan, giếng đào và các hệ
thống thu nước mưa, và/hoặc đóng góp vào kết
nối hệ thống nước máy Việc các hộ gia đình có
thực sự bỏ ra đầu tư này hay không phụ thuộc lớn
vào khả năng của chính phủ, các đối tác phát triển
và các thể chế khác trong việc thuyết phục các hộ
về lợi ích khi làm như vậy, cũng như cung cấp hỗ
trợ cho phép ban đầu như tiếp cận tới các khoản
vay Chiến lược NCERWSS cũng tìm cách khích lệ sự
tham gia lớn hơn của khu vực tư nhân bằng cách
thúc đẩy sự liên quan vào công tác quản lý và cùng
bỏ vốn đầu tư cho công trình nông thôn, thực hiện
các dịch vụ cấp nước theo cơ chế thị trường
Kết quả của thẻ điểm cho thấy rằng các trụ cột
tạo điều kiện và phát triển dịch vụ được xây dựng
khá tốt nhưng có những thách thức nghiêm trọng
với trụ cột tính bền vững MARD lưu ý trong rà
soát về các thành tựu NTP2 rằng có những thách
thức lớn với thiết kế, xây dựng, tính năng và quản
lý điểm cấp nước22, và trong báo cáo Rà soát phối
hợp thường niên 2012 cho NTP323 cũng phản ánh
những quan ngại tương tự trong vận hành và bảo
dưỡng
Hình 7.2 Tài trợ nước nông thôn: đầu tư hàng năm theo yêu cầu, dự kiến (2012-2014) và gần
đây (2009-2011)
Cấp nước nông thôn
Tổng yêu cầu đầu tư
Đầu tư
100 200 300 400 500
-Khác
Thay thế Mới
Hộ gia đình Nước ngoài
Trong nước 600
Dự kiến đầu tư hộ gia đình Thâm hụt
Dự kiến đầu tư trong nước
Dự kiến đầu tư
Theo đầu người (mới) :
Nguồn: Xác định chi phí SDA
Trang 32Điểm số cho trụ cột về tính bền vững nêu bật một
số thiếu sót cụ thể trong lĩnh vực bảo dưỡng và
mở rộng, ví dụ như việc đăng ký tài sản hạ tầng
và tính năng của chúng không được cập nhật
thường xuyên; các chuỗi cung cấp bộ phận thay
thế không được lập ra tại mọi địa điểm; các đơn vị
quản lý được ghi nhận nhưng không có sẵn nguồn công quỹ nào để hỗ trợ cho họ; chưa thúc đẩy mở rộng các công trình nước máy hiện có mặc dù điều này đã được dữ liệu trong tài liệu chương trình của NTP3
Hình 7.3 Thẻ điểm cấp nước nông thôn
Mở rộng
Kết quả
Chất lượng nước và biến đổi khí hậu
Một mối quan ngại xa hơn về tính bền vững liên
quan tới chất lượng nước tập trung vào mục
tiêu quốc gia tới 2020 và cũng chịu tác động của
biến đổi khí hậu và nước biển dâng Báo cáo Rà
soát phối hợp thường niên (JAR) 2012 lưu ý rằng
tại một số nơi trong nước, các nguồn nước đang
chịu tác động ngày càng lớn của xâm nhập mặn
và ô nhiễm hóa học trong khi các cơ sở hạ tầng
chịu tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan và
lũ lụt Trong mùa khô, mức nước tầng mặt giảm
xuống và lượng tạp chất tăng lên Các chiến lược
cấp tỉnh về quản lý chất lượng nước khác nhau rất
lớn và kém chất lượng ở một số địa phương JAR
2012 khuyến nghị rằng kế hoạch cấp tỉnh về quản
lý chất lượng nước tại cấp công trình sẽ cần phải
được phát triển Để hỗ trợ cho việc này, sẽ cần phải
đào tạo nhân viên trong giám sát chất lượng nước
và trang bị thiết bị kiểm tra các thông số chính tại
tất cả các công trình nước máy
Giám sát
Những yếu kém trong giám sát của ngành được
trình bày trong phần 6 Sự quan tâm chung đối
với nước sạch nông thôn là sau khi có một nỗ lực
hợp lý hóa những quy chuẩn giám sát, hiện chỉ có
8 thông số được giám sát, trong số đó có 7 thông số liên quan tới mức độ bao phủ và 01 thông số liên quan tới mô hình quản lý được sử dụng Tuy nhiên, hệ thống này cung cấp ít thông tin về tính năng dịch vụ, sử dụng dịch vụ, hoặc về chất lượng nước Ngoài ra, cơ sở dữ liệu giám sát quốc gia chỉ được cập nhật hàng năm nên không thể cung cấp đủ thông tin cho báo cáo tiến độ nửa năm của NTP Điều này hạn chế sự hữu ích của nó trong vai trò là một công cụ quản lý
Tập trung vào người nghèo
Tài liệu NTP3 chỉ ra rằng chương trình sẽ có ưu tiên cao cho những khu vực nghèo và đối tượng người nghèo, đặc biệt là 62 huyện xa xôi và nghèo nhất Tuy nhiên, cho tới nay, sự tập trung này chưa được thực hiện và phân bổ của chương trình được chia đều giữa các tỉnh thành, không tính đến mức độ tiếp cận của người nghèo Kết quả là tỷ lệ tiếp cận tới nguồn nước được cải thiện trong nhóm nghèo nhất là 70% và nhóm giàu nhất là 99%, nhưng tỷ lệ tiếp cận kết nối nước máy hộ gia đình chỉ là 3% nhóm nghèo nhất và 43% nhóm giàu nhất trong khu vực nông thôn, thể hiện sự chênh lệnh trong các mức dịch vu24
24 JMP/UNICEF Các cây công bằng, bảng trình bày đặc biệt dựa trên MICS 2011
Trang 338 Tiểu ngành: cấp nước đô thị
Báo cáo JMP mới nhất25 chỉ ra rằng 99% dân số đô
thị đã được tiếp cận với cấp nước đô thị cải thiện
vào 2011, với 58% có nước máy tại nhà Tuy nhiên,
số liệu của MOC sử dụng trong phân tích gần đây
lại cho thấy rằng năm 2011 chỉ có khoảng 76% dân
số đô thị có tiếp cận tới mạng lưới cung cấp nước
máy thông qua kết nối hộ gia đình hoặc điểm cấp
nước chung (xem Hình 8.1) Đánh giá theo mục
tiêu quốc gia là 85% số dân đô thị có tiếp cập tới
mạng lưới26 và dự tính tới năm 2020 có khoảng
43,3 triệu dân, khoảng 1,7 triệu dân mỗi năm, sẽ
cần được tiếp cận giữa năm cơ sở và năm mục tiêu
Ngoài tiếp cận tới mạng lưới nước máy, chất lượng
và độ tin cậy của dịch vụ cũng là một mối quan
ngại Trong khi hầu hết các hộ gia đình trong khu
vực đô thị lớn được phục vụ 24h, cung cấp dịch vụ
tại những khu vực đô thị khác kém tin cậy hơn, và
có một thách thức ngày càng lớn trong cải thiện
dịch vụ tại những trung tâm đô thị nhỏ và những
thị trấn đang tăng trưởng nhanh Có nhiều báo
cáo chưa qua kiểm chứng về chất lượng nước kém
mặc dù các chỉ số hoạt động khác được cho là nằm
trong mức độ hợp lý, với nước thất thoát ở mức
20-25% đối với hầu hết các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích và hệ số hoạt động rơi vào khoảng 0.8 tới 1.2, mặc dù tỷ số này đang giảm do chi phí năng lượng và vật tư hóa chất đang tăng cao27 Một khó khăn liên quan là hầu hết các khoản đầu
tư trong hai thập kỷ qua đã dành cho mở rộng sản xuất (nguồn nước, xử lý và truyền tải) với dưới 15% được dành trực tiếp cho cải thiện phân phối28 Việt Nam cần phải huy động một khoản ước tính 1,042 tỷ USD mỗi năm nhằm đáp ứng được mục tiêu tới 2020 (Hình 8.2) Trên một nửa (57%) của những yêu cầu này là dành cho việc thay thế các công trình đã đến giai đoạn cuối của tuổi thọ kinh tế (đầu tư thay thế)29 Đầu tư dự kiến, theo dự tính là hầu hết sẽ lấy từ các nguồn bên ngoài, sẽ cao hơn những khoản đầu tư gần đây Tuy nhiên, có thể xảy ra thâm hụt lớn vì đầu tư dự kiến huy động được chỉ chiếm khoảng 14% của các yêu cầu đầu
tư Vấn đề kinh phí được tổng hợp từ các phát hiện trong Phần 2 cho thấy rằng cần phải có thêm khoảng 210 triệu USD mỗi năm chi vào vận hành và bảo dưỡng
Những hành động ưu tiên cho cấp nước đô thi
• Cho phép mức phí thu đạt được mức khả thi thương mại để các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích có thể thu hồi toàn bộ chi phí thông qua cơ chế kinh tế độc lập
• Tăng cường tính tự chủ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích, cho phép họ tăng ngân sách vận hành và bảo dưỡng để cung cấp và duy trì công tác bảo dưỡng thích hợp
• Tăng cường tiếp cận tài chính đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích bằng cách cung cấp bảo lãnh chính phủ cho các đơn vị đó
• Áp dụng khuyến khích khen thưởng và nghĩa vụ nhằm cải thiện chất lượng và độ tin cậy của công tác cung cấp dịch vụ bằng cách thiết lập một đơn vị điều tiết độc lập
25 JMP (2013)
26 GOV (2009a)
27 Ngân hàng thế giới / MOC (2013)
28 ADB (2010)
Trang 34Service Delivery Assessment 34
-Khác
Thay thế Mới
Hộ gia đình Nước ngoài
Trong nước 1,200
Dự kiến đầu tư trong nước
Dự kiến đầu tư
từ bên ngoài
Dự kiến đầu tư
từ hộ gia đình Thâm hụt
Theo đầu người ( mới):
năm theo yêu cầu, dự kiến (2012-2014) và gần đây (2009-2011)
Nguồn: Xác định chi phí SDA Chính phủ Việt Nam (2009a) Quyết
định của Thủ tướng chính phủ Số 1929/OD-TTg: Định hướng
Cấp nước đô thi của chính phủ tới 2025 và tầm nhìn tới 2050 Hà
Nội MOC và WB (2013) Cơ sở dữ liệu cấp nước đô thị Việt Nam
2011, Hà Nội, tháng 3, JMP (2013) Progress on Drinking Water
and Sanitation: 2013 Update (Tiến bộ trong Nước uống và Vệ
sinh môi trường: Cập nhật 2013) UNICEF và WHO
Trong khi những hướng dẫn chính sách gần đây
kêu gọi thu hồi chi phí và thương mại hoá cung
cấp dịch vụ, các mức phí của dịch vụ cấp nước vẫn
còn quá thấp tại hầu hết các tỉnh để có thể cho
phép cung cấp dịch vụ một cách lâu dài về mặt tài
chính – mặc dù mức thu cao và bằng chứng cho
thấy người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn
cho các dịch vụ tốt Thay vào đó, các mức phí được
UBND tỉnh cố ý giữ ở mức thấp, kết quả là không
khuyến khích được người sử dụng hạn chế mức
độ tiêu thụ của họ và không tạo ra được thặng dư
để dự trữ vốn cho chi phí thay thế và mở rộng dịch
vụ Mặc dù chi phí vận hành và bảo dưỡng là một
thách thức, nhiều đơn vị cung cấp dịch vụ công
ích báo cáo rằng những chi phí này được thu hồi nhưng ngân sách vận hành và bảo dưỡng được quy định ở mức rất thấp so với quốc tế và không cho phép các đơn vị cung cấp dịch vụ duy trì dịch vụ ở mức chấp nhận được30
Nguồn: Xác định chi phí SDA
Hình 8.3 Thẻ điểm cấp nước đô thi.
Trang 35Sự tập trung của chiến lược tiểu ngành hiện đang
dịch chuyển sang hướng đo lường và định chuẩn
hoạt động của các công ty cấp nước, cải thiện mức
độ bao phủ tại các thị xã, thị trấn nhỏ và những khu
vực phụ cận của các thành phố lớn Thiếu hụt dữ
liệu giám sát đáng tin cậy, quy chế yếu kém, không
có tiến triển trong công tác thực thi các hướng dẫn
chính sách về quyền tự chủ của các nhà cung cấp
dịch vụ và thương mại hóa là những thách thức
nghiêm trọng Hiện tại, các điều kiện không thu
hút được quản lý và đầu tư của khu vực tư nhân
trên quy mô lớn vào cấp nước đô thị và có ít áp lực
đối với các công ty nước và vệ sinh môi trường đô
thị trong việc mở rộng cung cấp dịch vụ hoặc cải
thiện chất lượng hay chi phí hiệu quả
Sự tập trung của chiến lược tiểu ngành hiện đang
dịch chuyển sang hướng đo lường và định chuẩn
hoạt động của các công ty cấp nước, cải thiện mức
độ bao phủ tại các thị xã, thị trấn nhỏ và những khu
vực phụ cận của các thành phố lớn Thiếu hụt dữ
liệu giám sát đáng tin cậy, quy chế yếu kém, không
có tiến triển trong công tác thực thi các hướng dẫn
chính sách về quyền tự chủ của các nhà cung cấp
dịch vụ và thương mại hóa là những thách thức
nghiêm trọng Hiện tại, các điều kiện không thu
hút được quản lý và đầu tư của khu vực tư nhân
trên quy mô lớn vào cấp nước đô thị và có ít áp lực
đối với các công ty nước và vệ sinh môi trường đô
thị trong việc mở rộng cung cấp dịch vụ hoặc cải
thiện chất lượng hay chi phí hiệu quả
Chuyển sang thẻ điểm, điểm xanh cho chính sách
trong cột Tạo điều kiện nêu bật thực tế rằng chính
sách và khung thể chế cho tiểu ngành đã được xác định khá tốt trong khi mức điểm cho lập kế hoạch khá khiêm tốn, thể hiện thực tế rằng tiểu ngành không có một kế hoạch đầu tư, một cơ chế quốc gia để điều phối nhiều khoản đầu tư hoặc một rà soát thường niên đa chủ thể cho tiểu ngành Trong khi đó, điểm đỏ cho ngân sách có khuynh hướng khẳng định phát hiện của phân tích tài chính rằng tiểu ngành đang bị thiếu kinh phí Tuy nhiên, các điểm theo ngân sách cũng liên quan tới sự toàn diện và kết cấu của ngân sách chính phủ, tức là liệu đầu tư và trợ cấp cho cấp nước đô thị có được xác định rõ ràng và liệu đã xác định rõ ràng các khoản đầu tư của các nhà tài trợ và nhà nước chưa Trên thực tế, cấp nước đô thị không còn đặc điểm của ngân sách chính phủ quốc gia do các nhà cung cấp dịch vụ không còn nhận được trợ cấp hoạt động, đồng thời các khoản viện trợ vốn được thương thảo và quản lý ở cấp tỉnh
Theo suốt chiều dài của thẻ điểm, các điểm xanh cho chi tiêu và kết quả đầu ra của người sử dụng là dấu hiệu đáng khích lệ mặc dù các điểm vàng cho những phần khác chỉ ra những thách thức, đặc biệt là đối với tính công bằng do thiếu các biện pháp cụ thể để đạt được các mục tiêu và đáp ứng nhu cầu của người nghèo, việc mang lại các kết quả do chưa có tiến bộ để tiến tới các mục tiêu nước máy quốc gia, việc bảo dưỡng cho thấy các khó khăn về mức phí và thu hồi chi phí, việc mở rộng do quyền tự chủ và sự tiếp cận tới các nguồn tài chính thương mại còn hạn chế để các đơn vị cung cấp dịch vụ công ích, đặc biệt là các đô thị loại 2 có thể cấp kinh phí mở rộng dịch vụ
Trang 369 Tiểu ngành: Vệ sinh môi trường và
Vệ sinh cá nhân nông thôn
Mức độ bao phủ vệ sinh môi trường nông thôn
tăng lên tại Việt Nam một cách tương đối nhanh
chóng Dựa trên những dữ liệu JMP, tỷ lệ tiếp cận
vệ sinh môi trường cải thiện tăng từ 30% số dân
nông thôn năm 1990 tới 67% năm 2011 (Hình 9.1)
Con số này đã vượt qua mục tiêu 65% của MDG, tỷ
lệ tiếp cận công trình vệ sinh môi trường cải thiện
dường như sẽ đạt đến khoảng 75% vào năm 2015
nếu vẫn tiếp tục xu hướng hiện nay
Dựa trên những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe hơn
đối với nhà vệ sinh hộ gia đình, tính toán của chính
phủ đã đưa ra một viễn cảnh kém lạc quan hơn
Theo các báo cáo của MARD31, năm 2011 chỉ có
khoảng 55% số dân nông thôn được tiếp cận tới
nhà tiêu “hợp vệ sinh” theo quy định của chính
phủ Trong khi không đủ thông tin để từ đó rút ra
các dự đoán dựa trên xu hướng trong quá khứ, rõ
ràng Việt Nam còn phải đi một quãng đường dài
để đạt tới mục tiêu của chính phủ để 85% dân số
nông thôn sử dụng nhà tiêu “hợp vệ sinh” vào năm
2020 Mặc dù dự kiến dân số nông thôn sẽ giảm, tỷ lệ bao phủ hiện nay và mục tiêu của chính phủ cho thấy mỗi năm có thêm khoảng 2 triệu người cần tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh trong giai đoạn 2011-
2020.32 Phần lớn trong số này là những bộ phận nghèo nhất và ở những vùng khó tiếp cận nhất của đất nước như miền núi phía bắc và miền trung cũng như khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi
“cầu tõm” rất mất vệ sinh vẫn được sử dụng phổ biến Thẻ điểm phản ánh sự bất bình đẳng trong tỷ lệ tiếp cận, cho thấy tỷ lệ tiếp cận của bộ phận giàu nhất cao hơn đáng kể so với bộ phận nghèo nhất Tài liệu NTP3 cũng ghi nhận điều này và chỉ
ra rằng những khoản trợ cấp và khoản vay có sẵn trong chương trình cần được hướng đến những hộ gia đình và cộng đồng nghèo chưa được phục vụ Dự kiến mỗi năm cần khoảng 372 triệu USD để đáp ứng được mục tiêu của chính phủ tới năm 2020 (Hình 9.2) Khoảng 60% trong số này (221 triệu USD/năm) được dành cho thay thế các công trình
• Xác định các chiến lược hoạt động hiệu quả để thúc đẩy vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân lên tầm quy mô trong NTP3, bao gồm các phương thức tiếp cận theo nhu cầu cho việc thúc đẩy nhằm đạt được hành vi vệ sinh môi trường trong toàn cộng đồng
• Tăng cường chi tiêu cho “phần mềm”, bao gồm ngân sách cho nhân sự và vận hành của các
cơ quan thực thi về y tế tại tỉnh và địa phương
• Thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn của khu vực tư nhân vào việc tạo ra các loại nhà vệ sinh giá rẻ hấp dẫn đối với người nghèo và những cộng đồng chưa được phục vụ
• Thiết lập một chương trình xây dựng năng lực quốc gia có hệ thống về vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân cho các cán bộ ngành y tế và các tổ chức tham gia khác, trong đó có Hội phụ nữ
• Tăng cường áp dụng khuyến khích khen thưởng dựa trên kết quả thực hiện để tới được các hộ gia đình nghèo, đạt được kết quả vệ sinh môi trường toàn xã và khích lệ các tỉnh tăng cường chi tiêu cho vệ sinh môi trường
31 MARD (2012a)
32 MARD (2012b)
Trang 37JMP cải thiện + dùng chung
Hộ gia đình Nước ngoài
Trong nước
Tổng yêu cầu
Theo đầu người ( mới):
Dự kiến đầu tư trong nước
Dự kiến đầu tư
từ bên ngoài
Dự kiến đầu tư
từ hộ gia đình Thâm hụt
JMP, nước cải thiện
năm theo yêu cầu, dự kiến (2012-2014) và gần đây (2009-2011)
Các khoản đầu tư hiện tại và dự kiến còn kém xa
khoản cần thiết Đầu tư gần đây theo ước tính (15
triệu USD/năm) từ các nguồn trong nước (không
tính các hộ gia đình) và các nguồn bên ngoài từ
2009 tới 2011 thấp hơn 5% so với yêu cầu cùng
kỳ Các khoản đầu tư dự kiến (153 triệu USD/năm)
từ 2012-2014 cũng nhỏ hơn và chỉ vừa đủ để đáp
ứng yêu cầu đầu tư mới Những ước tính này trên
thực tế là lạc quan vì mong đợi rằng khoảng 127
triệu USD/năm sẽ tới từ các hộ gia đình nông thôn,
và điều này có thực sự xảy ra hay không phụ thuộc
mạnh vào khả năng của chính phủ, các đối tác
phát triển cũng như các cơ quan khác trong việc
Nguồn: JMP (2013); MARD (2012a); MARD (2012b); Xác định chi
phí SDA
Nguồn: Xác định chi phí SDA
thu hút được hộ gia đình đầu tư vào các công trình
“hợp vệ sinh” đã phê duyệt Để làm được điều này
sẽ phải yêu cầu nỗ lực lớn trong quảng bá thúc
đẩy vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân có quy
mô, sử dụng những phương thức quảng bá có
hiệu quả trong khi đảm bảo rằng các công trình
này nằm trong khả năng của hộ gia đình nghèo
Tài liệu NTP3 chỉ ra rằng giai đoạn mới của chương
trình sẽ quan tâm nhiều tới công tác thúc đẩy vệ
sinh môi trường và vệ sinh cá nhân hơn NTP2 và
sẽ ưu tiên hỗ trợ cho những cộng đồng nghèo, xa
xôi, chưa được phục vụ mặc dù phân bổ kinh phí
cho cả phần mềm và phần cứng (trợ cấp có mục
tiêu), và những nguồn lực sẵn có cho các khoản
vay VBSP đến nay vẫn còn thấp hơn mong đợi khi
NTP3 bắt đầu
Chính phủ đã chỉ ra rằng kinh phí cấp cho công tác
quảng bá vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân sẽ
bị bỏ qua khi ưu tiên cho cấp nước Tuy nhiên, tiến độ sẽ phụ thuộc vào sự ủng hộ của chính quyền cấp tỉnh có quyền kiển soát phân bổ ngân sách; tới nay chỉ có số ít ưu tiên phân bổ cho vệ sinh môi trường Chương trình P4R hiện đang được WB tài trợ hoạt động tại Đồng bằng sông Hồng áp dụng thanh toán từ chính quyền trung ương dựa trên kết quả hoạt động đã giúp giảm nhẹ gánh nặng cho chính quyền cấp tỉnh trong việc đạt được những kết quả đã thống nhất cho cả cấp nước và vệ sinh môi trường Kết nối cả hai vấn đề theo cách này làm cho vệ sinh môi trường, một vấn đề trước nay vẫn bị xem nhẹ, được chính quyền cấp tỉnh
ưu tiên cao hơn Có khả năng sẽ mở rộng phạm vi áp dụng thanh toán dựa trên kết quả hoạt động cho các tỉnh khác như một cơ chế đẩy nhanh tiến độ đạt được những mục tiêu NTP3, cũng như học hỏi thêm từ công tác thanh toán dựa trên kết quả đầu ra, ví dụ như khích lệ cho các hộ gia đình và
Trang 38hiện tiên phong, kết hợp với thanh toán dựa trên
kết quả đầu ra cho các cán bộ thúc đẩy cấp thôn
Theo MICS 2011, tỷ lệ tiếp cận tăng lên trong số
những người dân nghèo nhất là 34% và giàu nhất
là 98%33
Việc áp dụng trợ cấp phần cứng –trực tiếp hoặc
thông qua khoản vay có trợ cấp – đã và đang là
đặc điểm nổi bật của tiểu ngành, và một điểm yếu
trong NTP2 là những khoản trợ cấp này không
được hướng đến người nghèo Các khoản vay từ VBSP cũng đã sẵn sàng cho việc xây dựng nhà tiêu hộ gia đình và là một công cụ để đạt được tiến độ nhưng lại không hướng đến đối tượng hộ gia đình nghèo nhất Hiện đang có những nỗ lực (với
hỗ trợ của DFID) để đảm bảo định hướng vì người nghèo của các khoản vay thông qua VBSP và để đảm bảo ngày ccàng có nhiều khoản vay lãi suất thấp như vậy cho hộ gia đình nông thôn
Hình 9.3 Thẻ điểm vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân.
2.25
Kế hoạch
Trong những năm gần đây, tổ chức NGO quốc tế
SNV và một số các cơ quan phát triển đã hỗ trợ
cho việc giới thiệu Vệ sinh môi trường tổng thể
do cộng đồng làm chủ (CLTS) và chính phủ cũng
cho thấy sự ủng hộ cho việc áp dụng rộng rãi hơn
trong NTP3 Như một phần bổ sung cho CLTS và
để giúp cho hộ gia đình tiến từ những nhà tiêu
đơn giản tới những lựa chọn bền và hợp vệ sinh
hơn, các cơ quan phát triển trong số đó bao gồm
SNV, IDE, UNICEF và WSP đang ủng hộ cho sáng
kiến tiếp thị vệ sinh môi trường Đây là những phát
triển tương đối mới mẻ, sự kém nhiệt tình với vệ
sinh môi trường và vệ sinh cá nhân trong NTP2 và
sự thiếu vắng của một chiến lược toàn diện cho
các chiến dịch quảng bá có quy mô giải thích cho
tỷ lệ thấp cho các thị trường và sự thu hút trong
khối “duy trì bền vững” của thẻ điểm
Năm 2012 MOH đã phát triển Kế hoạch thực hiện
vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân nông thôn,
đề ra những bước đi và mục tiêu thiết thực để
thực hiện phần này của NTP3 Những điều này bao
gồm: hạn chế sử dụng trợ cấp vệ sinh môi trường
trả trước và không định sẵn mục tiêu; tập trung
vào các phương án chi phí thấp nằm trong khả năng dễ tiếp cận hơn cho người nghèo; sử dụng các chương trình truyền thông có mục tiêu và những phương pháp quảng bá vệ sinh môi trường hiệu quả hơn; phối hợp với Hội phụ nữ và VBSP để hướng tới mục tiêu là các hộ gia đình nghèo Mặc dù đây là bước tiến tích cực, vẫn còn nhiều điều cần làm để xác định ra những chiến lược hoạt động hiệu quả có thể thực hiện tầm quy mô trong NTP3 Ngoài ra, phân bổ ngân sách cấp tỉnh cho nửa đầu năm 2013 không thể hiện được mức độ
ưu tiên cao cho vệ sinh môi trường trong NTP3 và JAR 2012 nêu bật sự thiếu liên kết giữa quy hoạch trung ương của MOH và công tác triển khai thực tế, với năng lực và hiểu biết hạn chế của những
cơ quan y tế địa phương về các phương thức tiếp cận như CLTs và tiếp thị vệ sinh môi trường, trường hợp chuyển đổi từ trợ cấp chung cho phần cứng tới khuyến khích khen thưởng một phần hướng tới đối tượng người nghèo Những điểm này nêu bật nhu cầu cần có một kế hoạch xây dựng năng lực và định hướng cấp quốc gia cho cán bộ ngành
y tế tại cấp tỉnh và địa phương
31 JMP/UNICEF Các cây công bằng, bảng trình bày đặc biệt dựa trên MICS 2011
Trang 3910.Tiểu ngành: Vệ sinh môi trường và
vệ sinh cá nhân đô thị
JMP34 ước tính rằng tỷ lệ tiếp cận công trình vệ
sinh cải thiện đạt tới 93% năm 2011 (Hình 10.1)
Trong khi con số này dường như đáng khích lệ, thì
chỉ có dưới 10% nước thải đô thị được xử lý và rất ít
thị xã hoặc thành phố có nhà máy xử lý nước thải
Trên thực tế hầu hết các mạng lưới thoát nước là
các hệ thống thoát nước mưa và nước thải chung,
thường bị chảy tràn trong mùa mưa, xả những
chất thải mang nguồn bệnh ra đường phố
Những nơi có nhà máy xử lý nước thải thường có
xu hướng không sử dụng hết công suất do hầu
hết nhà vệ sinh của hộ gia đình được kết nối tới bể
hoặc hố tự hoại, nơi giữ lại phần lớn chất rắn chỉ xả
phần nước tràn vào mạng lưới thoát nước, và sau
đó hòa lẫn với nước mưa nên khi nước thải đến tới
nhà máy xử lý đã tương đối loãng, trong một số
trường hợp đã đạt tới tiêu chuẩn xả thải từ trước
khi qua xử ly35 Khi đã bỏ vốn đầu tư, đây là thách
thức đối với thực tế hiện nay của các nhà máy xử
lý tương đối đắt tiền, có khả năng xử lý nước thải đến một tiêu chuẩn rất cao Trong khi đó, bể hoặc hố tự hoại của hộ gia đình thường hiếm khi được thông hút nên hoạt động kém hiệu quả, và việc loại bỏ phân bùn hầu như không có quy định nên một lượng đáng kể các chất được loại bỏ một cách bừa bãi, không tiếp tục qua xử lý
Tất cả những vấn đề trên đã phản ảnh yêu cầu phải có một quy hoạch toàn diện cho vệ sinh môi trường đô thị tại cấp thị xã và thành phố để đáp ứng thực tế và nhu cầu của địa phương, xác định những phương án công nghệ và kế hoạch phù hợp để thực hiện cung cấp và duy trì dịch vụ, không chỉ đơn giản là đầu tư vào phần cứng dựa trên các giải pháp tiêu chuẩn Tâm điểm của vấn đề là yêu cầu chính quyền cấp tỉnh phải thừa nhận rằng việc cải thiện vệ sinh môi trường đô thị cần nhiều hơn là việc xây dựng các nhà máy xử lý nước thải; tối đa hóa số lượng kết nối trực tiếp tới hệ thống cống
Những hành động ưu tiên đối với vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân đô thi
Xúc tiến thông qua U3SAP Một phần sáng kiến này bao gồm:
• Thông qua kế hoạch đầu tư tiểu ngành, phát triển tài chính vệ sinh môi trường đô thị và thiết lập một chương trình quốc gia về vệ sinh môi trường đô thị, có sự phối hợp ngành và khung thể chế rõ ràng
• Hỗ trợ triển khai các hướng dẫn chính sách hiện có về quyền tự chủ và định hướng thương mại của các nhà cung cấp dịch vụ (bao gồm các đơn vị cung cấp dịch vụ cấp nước và nước thải kết hợp)
• Phát triển năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ để có thể thực thi những quy định chính sách hiện nay – đặc biệt là về tính bền vững về mặt tài chính – và cải thiện dịch vụ
• Đối với những nhà máy xử lý nước thải mới, điều chỉnh các tiêu chuẩn kỹ thuật để áp dụng công nghệ có hiệu quả chi phí và đưa ra các khích lệ nhằm tối đa hóa kết nối trực tiếp của hộ gia đình vào mạng lưới
• Phát triển và thông qua những chiến lược khả thi nhằm quản lý và xử lý tốt hơn phân bùn, trong đó có khu vực tư nhân
Trang 40rãnh và cải thiện công tác quản lý phân bùn cũng
là những thách thức lớn36
Mục tiêu của chính phủ cho tiểu ngành tập trung
không chỉ vào công trình hộ gia đình mà còn vào
tỷ lệ nước thải qua xử lý Tính toán của SDA dựa
trên những mục tiêu trong dự thảo U3SAP37 tới
2020 là 60% nước thải được xử lý đối với các thành
phố lớn, 30% cho các đô thị loại vừa và 10% cho
các thị trấn loại nhỏ- trung bình vào khoảng 45%
cho tất cả các khu vực đô thị Với ước tính rằng dân
số đô thị sẽ có tỷ lệ tăng nhanh chóng trong giai
đoạn 2009 - 2020, mỗi năm có thêm khoảng 1,5 triệu người cần được tiếp cận xử lý nước thải Cả nước cần phải huy động được khoảng 771 triệu USD mỗi năm để đạt tới mục tiêu vệ sinh môi trường đô thị tới năm 2020 (Hình 10.2) Với số lượng rất ít nhà máy xử lý nước thải, ít nhất là so với số dân, gần như 3/4 (580 triệu/năm) trong số này là cần cho công trình xử lý mới Trên thực tế, ước tính yêu cầu đầu tư là vừa phải vì các đầu tư chỉ tập trung vào xử lý nước thải, bỏ qua chi phí thay thế của những nhà vệ sinh hiện có, những hệ
JMP, nước cải thiện
JMP cải thiện + dùng chung
Vệ sinh môi trường đô thị
Vệ sinh môi trường đô thị
Khác
Thay thế Mới
Hộ gia đình Nước ngoài
Trong nước
Tổng yêu cầu đầu tư
Đầu tư
dự kiến
Đầu tư gần đây
Theo đầu người ( mới):
Dự kiến đầu tư trong nước
Dự kiến đầu tư
từ bên ngoài
Dự kiến đầu tư
từ hộ gia đình Thâm hụt
Hình 10.1 Mức độ bao phủ vệ sinh môi trường
(2012-2014) và gần đây (2009-2011).
Nguồn: Xác định chi phí SDA JMP (2013) Progress on Drinking
Water and Sanitation: 2013 Update (Tiến bộ trong Nước uống và
Vệ sinh môi trường: Cập nhật 2013) UNICEF và WHO.Tổng cục
thống kê (2010a) Tổng Điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009:
Những phát hiện chính, Hà Nội 38
Nguồn: Xác định chi phí SDA
36 Với vấn đề quản lý phân bùn yếu kém phổ biến tại khu vực Đông Nam Á, WB và WSP đang chuẩn bị một số sáng kiến phát triển và các phương án kiểm tra cho các thói quen được cải thiện tại cấp hộ gia đình và thành phố.
37 MOC (2012)
38 Hình 10.1 sử dụng dữ liệu điều tra dân số 1999-2009 do quy mô chọn mẫu lớn và quãng thời gian dài hơn; theo Điều tra mức sống hộ gia đình (HLSS 2008), nhận thấy dữ liệu về sự tiến triển có hơi khác nhau khi nói rằng tỷ lệ tiếp cận vsmt cải thiện của người dân đô thị tăng lên từ 85% năm 2002 tới 91% năm 2008.