do đó, tác giả chọn vấn đề "Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng trong đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp ở Nghệ A
Trang 1
LUẬN VĂN:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân
chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và sự
vận dụng trong đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp ở
Nghệ An hiện nay
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời và phát triển của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung và Hội đồng nhân dân (HĐND) nói riêng gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, xây dựng Nhà nước Việt Nam thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Người yêu cầu các cơ quan nhà nước phải lấy dân làm gốc, nhân dân là người chủ đất nước, thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND Người nhấn mạnh: "Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương" [45, tr 591]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước là một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc ta Đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước từ những góc độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, việc khái quát những nội dung cơ bản trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước là hướng tiếp cận mới chưa được đề cập Đặc biệt, hướng tiếp cận này lại càng có ý nghĩa khi chúng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước trong tổ chức, hoạt động của HĐND để HĐND xứng đáng là thiết chế thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ở địa phương
Sắc lệnh tổ chức và hoạt động của HĐND và ủy ban Hành chính (UBHC) (số 63/SL ngày 22-11-1945) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký là văn bản pháp luật đầu tiên đặt nền móng cho việc tổ chức, hoạt động của HĐND các cấp Trải qua các giai đoạn lịch sử, thiết chế HĐND đã không ngừng được hoàn thiện, đóng một vai trò hết sức quan trọng trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên trong thực tế hoạt động của HĐND ở nhiều địa phương vẫn còn mang tính hình thức chưa phát huy một cách có hiệu quả vị trí, vai trò của mình Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước trong tổ chức, hoạt động của HĐND vẫn còn nhiều bất cập Với những lý
Trang 3
do đó, tác giả chọn vấn đề "Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng trong đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp ở Nghệ An hiện nay" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Một số vấn đề liên quan đến đề tài như: Tư tưởng Hồ Chí Minh; đổi mới hệ thống chính trị; cải cách bộ máy nhà nước; Nhà nước pháp quyền đã được các nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau
- Nguyễn Anh Tuấn (Chủ biên), Nguyễn Xuân Tế - Bùi Ngọc Sơn, Tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, 2003
Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Kỷ yếu Hội thảo: Nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 1993
- Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Kỷ yếu Hội thảo: Các nội
dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới, Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, Hà Nội, 1997
- Lê Minh Thông (Chủ biên), Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2001
- Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức (đồng Chủ biên), Cải cách hành
chính địa phương lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
- Bùi Xuân Đức, Bàn về tính chất của Hội đồng nhân dân trong
điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 12/2003
- Nguyễn Thị Hồi, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở nước ta hiện nay,
Tạp chí Luật học, 1/2004
- Nguyễn Hoàng Anh, Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, 3/2003
Trang 4
- Chu Đức Thành, Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan đại diện ở nước ta
hiện nay, Luận án phó tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
1996
Nhìn chung, những công trình trên đã đề cập tới tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước hoặc tổ chức và hoạt động của HĐND Song, chưa có đề tài nào nghiên cứu về bản chất dân chủ của nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và tổ chức, hoạt động của HĐND
từ cách tiếp cận về bản chất dân chủ của Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Trên cơ sở làm rõ về phương diện lý luận tư tưởng của
Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN và việc thực hiện tư tưởng đó trong tổ chức, hoạt động của HĐND, luận văn nêu ra một số giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN trong đổi mới tổ chức, hoạt động của HĐND nhằm phát huy vai trò là thiết chế thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ở địa phương
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN và thực tiễn vận dụng tư tưởng đó trong tổ chức, hoạt động của HĐND
- Phân tích thực trạng thực hiện dân chủ trong tổ chức, hoạt động của HĐND ở Nghệ An theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm không ngừng hoàn thiện tổ chức, hoạt động của HĐND trên cơ sở vận dụng một cách triệt để, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ
của nhà nước XHCN và vận dụng tư tưởng đó trong tổ chức, hoạt động của HĐND
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn việc nghiên cứu những nội dung cơ
bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN và khảo sát
Trang 5
việc vận dụng tư tưởng đó trong tổ chức, hoạt động của HĐND ở Nghệ An qua nhiệm kỳ 1999-2004 và 2004-2009 (tính đến tháng 7 năm 2005)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng ta về dân chủ, về việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và kế thừa quan niệm của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài này
- Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp kết hợp với phương pháp lôgíc, phương pháp thống kê, điều tra xã hội học
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN
- Qua phân tích thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN trong tổ chức, hoạt động của HĐND để khẳng định: HĐND - thiết chế thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ở địa phương
- Từ thực trạng tổ chức, hoạt động của HĐND ở Nghệ An, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới tổ chức, hoạt động của HĐND bảo đảm phát huy bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thực hiện thành công mục đích và nhiệm vụ nói trên, đề tài sẽ góp phần nhận thức sâu hơn về bản chất của Nhà nước XHCN nói chung và HĐND nói riêng từ một cách tiếp cận mới, từ đó có những quan điểm về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND để nó thật sự trở thành một thiết chế thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước tại địa phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về nhà nước, pháp luật và cho những ai quan tâm tới việc nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước
Trang 6
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 7
Chương 1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và vận dụng trong tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân
1.1 tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và bản chất dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.1.1 Quan niệm về dân chủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suốt đời tranh đấu đưa dân tộc Việt Nam từ dân tộc nô
lệ thành dân tộc tự do, đưa người dân từ thân phận dân thuộc địa lên địa vị công dân làm chủ đất nước
Hồ Chí Minh đã đưa ra một hệ thống các luận điểm về dân chủ, từ quan niệm cho đến sự thể hiện của chúng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội , cũng như phương thức hiện thực hóa chúng trong thực tiễn Cho dù xét theo cách tiếp cận nào thì quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ vẫn nổi lên nội dung chính trị, khi Người luôn nhấn mạnh tới vấn đề Nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân Từ góc độ này
có thể khái quát quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ trên các nội dung sau:
- Dân là chủ
Từ các tác phẩm và đặc biệt là hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh có thể khẳng định rằng: Toàn bộ cuộc đời cách mạng sôi nổi, kiên định của Người là cả một quá trình đấu tranh quên mình để khẳng định trong thực tế đời sống một nguyên lý mà Người sớm nhận biết đó là: Nhân dân là người chủ xã hội Nhận thức này đã thôi thúc Người dấn thân vào con đường cách mạng, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường cách mạng vô sản và trở thành người dẫn dắt cả dân tộc đi đến lý tưởng, mục tiêu cao cả
là khẳng định trên thực tế địa vị là chủ của nhân dân đối với xã hội, đất nước: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ" [42, tr 515]
- Dân làm chủ
Trang 8
Nói "dân là chủ" là để khẳng định vị thế, tư cách xã hội của người dân Tuy nhiên, cần có sự phân biệt giữa tư cách "là chủ" của dân với trạng thái "dân làm chủ" trên thực tế Trong tư duy và trong hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến sự khác biệt, đến khoảng cách giữa tư cách "dân là chủ" với trạng thái "dân làm chủ" Bởi
vì, trong lịch sử đã có nhiều cứ liệu chứng minh sự khác biệt về chất này, đó là làm chủ trên thực tế và làm chủ trên danh nghĩa Từ "dân là chủ" đến "dân làm chủ" là cả một bước nhảy vọt về chất đầy khó khăn Hồ Chí Minh đã có lần nói đến một thực tế như là một điều trăn trở khôn nguôi: Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm
ở đây, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu yêu cầu: Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ Đây là nguyên tắc thuộc bản chất của Nhà nước và thực chất của chế độ xã hội mới: "Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì" [40, tr 56] Điều đáng chú ý ở đây là Hồ Chí Minh thường dùng từ "hưởng" để chỉ một nội dung rất cơ bản của quyền dân chủ Khi nói đến việc "nhân dân hưởng hạnh phúc tự do, ăn no, mặc ấm " thì "hưởng" ở đây hoàn toàn không bao hàm nghĩa như là một thứ ân huệ do được ban tặng, mà đó là thành quả đấu tranh của nhân dân Trong suốt cuộc đời đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, Người không ngừng giác ngộ cho dân chúng nhận thức về tư tưởng tự lực cánh sinh, "việc ta ta phải gắng lo ", "công nông mình cứu lấy mình", "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta " Đây chính là điểm mấu chốt để phân biệt
"dân là chủ" và "dân làm chủ"
Để "dân làm chủ" phải có những điều kiện, mà điều kiện tiên quyết có tính tiền
đề là cuộc đấu tranh kiên dũng của nhân dân vì độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Giành được chính quyền, nhân dân giành lại được quyền là người chủ xã hội và
cả quyền làm chủ xã hội, nhưng từ địa vị "là chủ" đến "quyền làm chủ" và làm chủ trên thực tế, cần phải có những điều kiện chặt chẽ kèm theo Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giành chính quyền, làm chủ chính quyền, xây dựng xã hội là sự nghiệp của toàn dân, của chính nhân dân, không ai làm thay được Nhưng để tham gia cuộc đấu tranh và trong quá trình đấu tranh đó nhân dân phải được giác ngộ, tập hợp, đoàn kết lại thành sức mạnh:
Trang 9
"Có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được Không có thì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra" [41, tr 169]
Để thực hiện quyền làm chủ, nhân dân không những phải có quyền, mà điều quan trọng là phải có khả năng, năng lực làm chủ Đây chính là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người nói: "Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ" [46, tr 86] Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mối quan tâm đó luôn
ở bên Người trong cả chặng đường cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: "Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm" [42, tr 423] phải được xem như là một lời di chúc của Người
Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dân ta đã làm chủ nước nhà và đã thực hành quyền làm chủ trên thực tế Với tư cách là người đứng đầu nhà nước, Hồ Chí Minh hiểu hơn ai hết thực trạng làm chủ của dân, cho nên, Người thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng cho sức mạnh làm chủ của nhân dân Cho dù việc bồi dưỡng sức dân, bồi dưỡng năng lực làm chủ của dân có nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng đó không phải là một tình trạng không thể vượt qua
Có thể thấy, Hồ Chí Minh luôn tâm niệm về sự cần thiết bồi dưỡng sức dân thực hiện quyền làm chủ bằng cả một quốc sách được triển khai trên quy mô rộng lớn - công cuộc nâng cao dân trí, bồi dưỡng dân khí - những nhân tố hàng đầu hình thành "năng lực làm chủ" của nhân dân Điều đặc sắc là ở chỗ, chủ trương, chính sách mà Hồ Chí Minh khởi xướng, phát động, cổ vũ, triển khai thực hiện mang tính hoàn thiện, đồng bộ, hệ thống và có tính chiến lược Người thấy được ý nghĩa sâu xa căn bản của các cải cách xã hội đối với việc bồi dưỡng sức dân, xây dựng nền dân chủ "chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội,
để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự" [43, tr 323] Để phát huy quyền làm chủ và mở rộng quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh đòi hỏi Nhà nước phải có tầm nhìn bao quát, toàn diện và cụ thể Có thể nêu những dẫn chứng tiêu biểu về cách làm này của Người: Trong bài báo đăng trên Báo Cứu quốc phát động phong trào luyện tập thể dục trong những năm tháng đầu của chính quyền nhân dân, Người đã chỉ ra ý nghĩa
Trang 10
chính trị, dân chủ to lớn của việc luyện tập thể dục vốn là một việc làm thông thường của mỗi người Người xem đây là bổn phận của mỗi một người yêu nước, "giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần phải có sức khỏe mới làm thành công Mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe" [40, tr 24] Trong Chương trình hành động của Chính phủ lâm thời với 6 nhiệm vụ cấp bách được trình bày tại phiên họp Chính phủ ngày 3-9-1945, có 2 nhiệm vụ được Người đặt lên hàng đầu là chống nạn đói, nạn dốt Những nhiệm vụ này trực tiếp hoặc gián tiếp đều có tác dụng bồi dưỡng sức dân, nâng cao dân trí, nuôi dưỡng dân khí, khơi dậy ở mỗi người dân và ở tất cả các tầng lớp nhân dân ý thức, tinh thần làm chủ nước nhà, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc vừa giành được quyền độc lập, tự do
Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới Bởi vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình [40, tr 36]
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân làm chủ không chỉ để hưởng quyền dân chủ,
dù đó là hưởng thành quả do chính mình tạo nên, mà còn để "biết dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm", điều đó thể hiện một thái độ chủ động, tích cực, xây dựng và sáng tạo
từ phía người dân Cách dùng từ "biết" đặt bên cạnh "hưởng quyền dân chủ" và "dùng quyền dân chủ" thể hiện một đòi hỏi cao về năng lực "làm chủ', đó là trình độ "dân trí" của nhân dân Chỉ khi người dân hiểu được "quyền dân chủ" của mình thì khi đó họ mới
"dám nói, dám làm"
- Đi đến dân chủ thực sự
Năm 1953, tại Hội nghị nông vận và dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài phát biểu quan trọng Mở đầu bài nói này, Người khẳng định: "Nước ta phải đi đến dân chủ thực sự" [43, tr 25] Trong điều kiện cụ thể của năm 1953, Người nói đến "dân chủ thực sự" với nội dung thực hiện cách mạng ruộng đất, giải phóng nông dân khỏi ách áp
Trang 11
bức, bóc lột của phong kiến địa chủ Tuy nhiên, ý nghĩa nhận thức luận của khái niệm này lại có tính phổ biến Không phải ngẫu nhiên, Hồ Chí Minh bổ sung tính từ "thực sự" bên cạnh khái niệm "dân chủ" khi đề cập đến trạng thái dân chủ trong xã hội Việt Nam ở thời kỳ này ở đây, Người nói đến "dân chủ thực sự" là muốn gián tiếp đối lập nó với một thứ dân chủ chung chung, hình thức, chưa thực sự hoặc không thực sự Trong di sản tư tưởng mà Người để lại, khái niệm dân chủ với các tính từ "thực sự", "thật sự", "đầy đủ" được sử dụng nhiều lần, trong những hoàn cảnh khác nhau, thể hiện một quan niệm nhất quán về tính chất của sự việc, đồng thời thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người về thực trạng của nền dân chủ trong xã hội
Trong tư duy của Hồ Chí Minh, "thực sự", "thật sự" phải là một thuộc tính, một dấu hiệu không thể thiếu của Nhà nước dân chủ và xã hội dân chủ "Bao giờ ở nông thôn nông dân thật sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới là dân chủ thực sự" [43, tr 25]; " phải thật sự bảo đảm nam nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng" [41, tr 322]; "phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân Tuyệt đối không được lên mặt
"quan cách mạng", "ra lệnh, ra oai" [46, tr 311]
Trong xã hội ta, "thật sự dân chủ" trở thành một điều kiện, một thước đo thực chất của chính quyền Do vậy, thực hành dân chủ có ý nghĩa, tác dụng là "chìa khóa vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn" [47, tr 249], qua đó, Người chỉ rõ tầm quan trọng của phát huy dân chủ
Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan trọng với nhau [41, tr 244]
Tóm lại, với quan niệm: Dân chủ là "dân là chủ"; "dân làm chủ" cùng với "thực
hành dân chủ" Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tới vị thế (là chủ) và hành động (làm chủ) của người dân - người chủ xã hội trong mối quan hệ với nhà nước của dân, do dân và vì dân
1.1.2 Bản chất dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 12
Nhà nước dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một Nhà nước dân chủ kiểu mới, Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ Trong tư tưởng của Người, bản chất dân chủ của Nhà nước kiểu mới có nội dung rất rộng và thể hiện cả trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Bước đầu nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi có thể khái quát thành
những nội dung cơ bản sau đây
1.1.2.1 Nhà nước dân chủ là tổ chức chính trị của nhân dân do nhân dân tổ chức ra
Với quan điểm: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ" [42, tr 515], Hồ Chí Minh đã khẳng định việc nhân dân làm chủ nhà nước bằng con đường tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, bỏ phiếu kín Hồ Chí Minh nhận thức tổng tuyển cử là một quyền chính trị mà nhân dân giành được qua đấu tranh cách mạng, là hình thức dân chủ, thể hiện năng lực thực hành dân chủ của nhân dân
Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài,
có đức để gánh vác việc nước nhà Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là người công dân thì đều có quyền đi bầu cử…
Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật sự là Chính phủ của nhân dân [40, tr 133]
Thông qua việc bầu Quốc hội và HĐND, nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp và gián tiếp, xây dựng nên một nhà nước hợp pháp theo
ý nguyện của toàn dân
Theo Hồ Chí Minh: "Chế độ tuyển cử chúng ta thực hiện dân chủ, đồng thời thực hiện sự đoàn kết toàn dân Mọi người công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử Việc tuyển cử tiến hành theo nguyên tắc phổ thông bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín" [45, tr 591]
Với vai trò là một nội dung làm chủ nhà nước của nhân dân, quyền bầu cử, ứng
cử được ghi rõ trong Hiến pháp năm 1945, Hiến pháp năm 1959 do Hồ Chí Minh chỉ đạo soạn thảo và ban hành
Trong Hiến pháp năm 1946, quyền này được thể hiện trong ba điều:
Trang 13Điều thứ 19: Cách thức tuyển cử sẽ do luật định [57, tr 10-11]
Chế độ tuyển cử được quy định tại Điều 5 của Hiến pháp năm 1959: "Việc tuyển
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đều tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín" [57, tr 27]
Và tại Điều 23 quy định:
Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng tình trạng tài sản, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí hoặc những người bị tòa án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và ứng cử [57, tr 31-32]
Bầu cử và ứng cử trực tiếp các đại biểu vào cơ quan quyền lực nhà nước ở các cấp là một đặc điểm nổi bật trong tổ chức nhà nước ở Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của bộ máy nhà nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nguyên tắc Tổng tuyển cử đã được áp dụng nghiêm ngặt trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa I (6-1-1946)
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I mặc dầu được tiến hành trong một điều kiện hết sức khó khăn, nhưng đã được đánh giá là diễn ra đúng với tinh thần dân chủ mà Hồ Chí Minh đã khởi xướng Điều đó được thể hiện ở chỗ: tỷ lệ cử tri đi bầu cử cao, bao gồm mọi thành phần, lứa tuổi, dân tộc (chiếm trên 90% danh sách cử tri), số lượng ứng cử viên nhiều, tạo ra khả năng lựa chọn cho người dân Trong thực tế, "tại kỳ bầu cử Quốc hội khóa I, ở Hà Đông có 14 đại biểu Quốc hội thì có 97 vị ra ứng cử, ở Nam Định có 15 đại biểu thì có 70 vị ra ứng cử" [2, tr 49]
Trang 14
Về độ tuổi đại biểu, có thể thấy, Quốc hội khóa I là một Quốc hội có độ tuổi trung bình rất trẻ, thể hiện sức sống của một dân tộc đang vươn lên sau giành được tự do, độc lập: Đại biểu từ 18 đến 25 tuổi chiếm 7%; đại biểu từ 26 đến 40 tuổi chiếm 70%; đại biểu từ 41 đến 50 tuổi chiếm 18%; đại biểu từ 51 đến 70 tuổi chiếm 5%
Về yếu tố chính trị, Quốc hội khóa I có nhiều tổ chức chính trị, Đảng phái tham gia: Đảng viên mác-xít có 10 đại biểu; đảng viên xã hội 27 đại biểu; Đồng minh hội có 22 đại biểu; Việt Nam quốc dân Đảng có 26 đại biểu Đại biểu độc lập gồm: Chống phát xít (tiến bộ) có 82 đại biểu và xu hướng quốc gia bảo thủ có 90 đại biểu [25, tr 81-82, 102]
Về chất lượng đại biểu, Quốc hội khóa I đã phần nào đáp ứng được tư tưởng chỉ đạo có tính nguyên tắc mà Hồ Chí Minh đã đề ra, đó là: "Có đủ chất xám trong bộ máy chính quyền thì mới tăng được sức bật, sức bền của khối xi măng cốt sắt đại đoàn kết toàn dân và xây dựng tổ quốc" [39, tr 206] Kết quả thành phần xã hội của đại biểu Quốc hội khóa I đã minh chứng cho điều đó: Tri thức chiếm 61%; công kỹ nghệ chiếm 6%; buôn bán chiếm 5%; thợ thuyền chiếm 6%; nông dân chiếm 22% [25, tr 81-82; 102]
Một đặc điểm không lặp lại của Quốc hội khóa I là: Vừa có bầu, lại có cử Ngoài
333 đại biểu bầu được trong ngày 06/01/1946, trong điều kiện vận nước hiểm nghèo, ngàn cân treo sợi tóc, để đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh đề nghị giành 70 ghế Quốc hội cho Việt Nam quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) nhằm cô lập, phân hóa các lực lượng chống đối và lôi kéo cả những người trong bộ máy nhà nước cũ tham gia xây dựng đất nước Đó là một quyết định có ý nghĩa vô cùng
to lớn, thể hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng một Nhà nước đại đoàn kết dân tộc, vì mục tiêu cao cả của cách mạng đó là, giữ vững độc lập tự do và từng bước đưa nước nhà bước vào thời kỳ quá độ lên XHCN
Thắng lợi to lớn của cuộc tổng tuyển cử chính là đã lựa chọn được các đại biểu xứng đáng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Người dân đã biết "chọn mặt gửi vàng", ủng hộ lãnh tụ, chấp nhận những quyết sách đúng đắn, tưởng chừng như nghịch lý mà người ngoài cuộc không bao giờ hiểu được Vấn đề này được Hồ Chí Minh lý giải ngắn gọn, sắc sảo nhưng lại
Trang 151.1.2.2 Nhà nước dân chủ là Nhà nước đảm bảo cho nhân dân tham gia quản
lý nhà nước và quản lý xã hội
Bản chất dân chủ của Nhà nước không chỉ thể hiện ở việc nhân dân tự tổ chức nên bộ máy nhà nước, mà còn thể hiện đậm nét, đa dạng ở việc huy động được sự tham gia đông đảo của nhân dân vào quản lý các công việc của Nhà nước
Trình bày báo cáo trước Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1959, trong phần về
tổ chức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nhà nước phải phát huy quyền dân chủ, phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc nhà nước" [45, tr 590]
Xét từ góc độ thực thi quyền lực, việc bảo đảm cho nhân dân tham gia quản lý các công việc nhà nước là một hình thức thực hiện dân chủ đặc thù, thể hiện bản chất tiến
bộ của Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Trong các tác phẩm của mình, tuy Hồ Chí Minh không trực tiếp đề cập đến các phạm trù, khái niệm dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp, nhưng điều đó hoàn toàn không
có nghĩa là Người không có sự quan tâm đến các phạm trù rất cơ bản này Người thường
đề cập đến những phương thức phổ biến thực hành dân chủ như: "Đưa mọi vấn đề cho
Trang 16Dân chúng không nhất luật như nhau Trong dân chúng, có nhiều từng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu Vì vậy, không phải dân chúng nói gì, ta cũng nhắm mắt theo Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình
so sánh… Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại,
để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng
Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó và lúc đó đưa ra tranh đấu [41, tr 296-298]
Trong phát huy quyền dân chủ trực tiếp, huy động sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước thì vấn đề niềm tin của dân đối với chính quyền và của chính quyền đối với dân là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề hoàn toàn không đơn giản, ngoài những lý do nhận thức sai lệch, còn có tình trạng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra:
"Những cán bộ có khuyết điểm thường sợ dân nói" [47, tr 213] còn người dân chưa nói hoặc không giám nói, vì sợ cán bộ "trù" cán bộ "chụp mũ" hoặc do cách lãnh đạo không dân chủ nên:
Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với người lãnh đạo, nhân dân, cán bộ
dù có ý kiến cũng không giám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không giám
Trang 17Một trong những hình thức thực hành dân chủ trực tiếp là quyền giám sát, thanh tra của nhân dân Hình thức thực hiện dân chủ quan trọng này đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta và đã được thể chế hóa thành các văn bản dưới luật khác Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng tác dụng của công tác giám sát, thanh tra, Người nói:
Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết
có được thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định
1.1.2.3 Nhà nước dân chủ là Nhà nước trong đó nhân dân có quyền bãi miễn những người không xứng đáng trong bộ máy nhà nước
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực tối cao của nhân dân không chỉ thể hiện
ở việc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp mà còn ở quyền bãi miễn họ, kiểm soát, giám sát hoạt động của các đại biểu
Trang 18
Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã đề cao một giá trị có
ý nghĩa toàn nhân loại của cách mạng Mỹ 1776: "Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, phải làm ăn cho sung sướng… Chính phủ nào có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi, và gây nên Chính phủ khác" [37,
tr 270]
Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh nhắc lại nguyên tắc này nhưng với tinh thần mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ kiểu mới của nhân dân, do nhân dân làm chủ: "Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ" [41, tr 60]
Cơ chế bãi miễn dân chủ này nhằm làm cho Quốc hội bảo đảm được sự trong sạch, giữ được phẩm chất, năng lực hoạt động, Hồ Chí Minh nêu rõ: "Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân đối với Nhà nước" [45, tr 591]
Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc rằng, đây là nội dung làm chủ rất khó khăn nhưng thể hiện rất rõ tư cách là chủ nhà nước và năng lực thực hành dân chủ của quần chúng lao động
Với vai trò làm chủ nhà nước, thực hiện sự ủy quyền của nhân dân, các đại biểu được bầu ra phải có trách nhiệm gần gũi, sâu sát để hiểu dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, với tinh thần trách nhiệm bàn bạc và giải quyết những vấn đề thiết thực cho quốc kế dân sinh Theo quan điểm Hồ Chí Minh, để thể hiện nhân dân lao động làm chủ nhà nước thì đại biểu do dân bầu ra phải có mối liên hệ thường xuyên, bằng nhiều "kênh" khác nhau với nhân dân, thoát ly khỏi mối liên hệ này, Nhà nước rất dễ rơi vào quan liêu, trì trệ, đứng trên nhân dân, trái với bản chất dân chủ đích thực vốn có của Nhà nước kiểu mới Thông qua tổng tuyển cử, bầu và có thể bãi miễn đại biểu do mình bầu ra, quyền chính trị cơ bản của nhân dân được bảo đảm, nhân dân thực hiện vai trò làm chủ nhà nước, đứng ra tổ chức và xây dựng Nhà nước kiểu mới của mình
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân, do nhân dân làm chủ còn bao hàm một nội dung khác, đó là nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước; thực hiện chức năng kiểm soát nhà nước, nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng, có quyền được bảo đảm trên thực tế chứ không phải trên danh nghĩa, lời nói Hồ Chí Minh viết: "Chính phủ ta là
Trang 19
Chính phủ của nhân dân, chỉ có một đích là phụng sự cho lợi ích của nhân dân Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân" [43, tr 361]
Là người làm chủ nhà nước, nhân dân có quyền thông qua cơ chế dân chủ thực thi quyền lực, nhưng đồng thời nhân dân phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ nhà nước, làm cho Nhà nước ngày càng hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh Hồ Chí Minh đề cập đến mặt thứ hai này của quyền dân chủ với tinh thần nhất quán và triệt để cách mạng, Người cho rằng:
Chế độ ta là chế độ dân chủ, nhân dân là chủ Chính phủ là đầy tớ của nhân dân, nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ
và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó [43, tr 368]
Nét độc đáo của Hồ Chí Minh là ở chỗ quan niệm nghĩa vụ công dân không chỉ trên tinh thần luật pháp, mà còn cả trên bình diện đạo đức, nhân cách công dân Người chỉ rõ: "Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ Nhân dân có quyền làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân" [43, tr 542]
ý thức làm chủ, thực hiện nghĩa vụ làm chủ phải trở thành hành động tự giác, thấm sâu vào mỗi người, trong từng công việc cụ thể, hàng ngày Hồ Chí Minh lưu ý rằng:
Đã là người chủ Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà Người công nhân phải yêu quý máy móc như yêu quý con mình, người nông dân yêu quý trâu bò của hợp tác xã như bản thân của mình Mọi người phải biết giữ gìn của công, phải chăm lo việc tập thể như chăm lo việc gia đình
Trang 20
Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo trong gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ Mọi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà Chớ nên "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau" [46, tr 310]
1.1.2.4 Nhà nước dân chủ là nhà nước thực hiện nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến của nhân dân
Thực hiện nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước kiểu mới là một trong những nội dung cơ bản nhằm dân chủ hóa tổ chức hoạt động của Nhà nước, bảo đảm nhà nước thật sự là của dân, do dân, vì dân Thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động của bộ máy nhà nước phải công khai để dân biết Đồng thời trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch, các quyết định của cơ quan nhà nước phải lắng nghe, tiếp thu và giải quyết ý kiến, nguyện vọng và những nhận xét, đánh giá của quần chúng nhân dân
Thực hiện công khai hóa tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước là bảo đảm cho nhân dân lao động có điều kiện hiểu biết, nhận thức và phân tích các hoạt động của bộ máy nhà nước Người dân có thể bày tỏ ý kiến, thảo luận và đánh giá các hoạt động đó, phát huy quyền làm chủ của mình trong xây dựng nhà nước và tham gia quản lý nhà nước Ngược lại, các cơ quan nhà nước, cán bộ nhân viên nhà nước phải gần dân, trọng dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân chính là để kiểm tra, đánh giá lại chủ trương, chính sách và các hoạt động của mình Có như vậy mới kịp thời sửa đổi, bổ sung, uốn nắn những chủ trương, chính sách và hoạt động đó cho phù hợp
Giá trị của nguyên tắc này đã được ghi nhận ở Hiến pháp năm 1945, đó là điều khoản quy định hình thức công khai của các kỳ họp Nghị viện: "Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe Các báo chí được phép thuật lại các thảo luận và quyết nghị của Nghị viện Trong những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết định họp kín" [57, tr 13]
Cũng ở Hiến pháp năm 1946, Điều 32 khẳng định nguyên tắc này và còn quy định về chế độ trưng cầu dân ý: "Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số Nghị viện đồng ý [57, tr 40-41]
Trang 21
Công khai mọi tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước không có nghĩa là công khai cả những vấn đề thuộc bí mật quốc gia, dân tộc Tuy nhiên, thực hiện nguyên tắc này phải đặc biệt quan tâm tình hình tổ chức, hoạt động của chính bộ máy nhà nước Ngoài việc công khai hóa những vấn đề chủ trương chính sách, pháp luật, lập kế hoạch còn phải kịp thời công khai cả những yếu kém, khuyết điểm, thiếu sót của bộ máy nhà nước, cán
bộ công chức nhà nước Không vì sợ mất uy tín mà để xử lý nội bộ, rút kinh nghiệm nội bộ, che giấu những yếu kém, khuyết điểm đó Trái lại, càng thẳng thắn vạch rõ và xử lý nghiêm minh, kịp thời những yếu kém, khuyết điểm của bộ máy nhà nước, của cán bộ, công chức sẽ làm cho bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, càng củng cố uy tín của Nhà nước đối với nhân dân
Ngay trong kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khóa I (tháng 11 năm 1946), Hồ Chí Minh
đã nói:
Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban làng hiện đông và phức tạp lắm Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị,
đương trị và sẽ trị cho kỳ hết [40, tr 158]
Hồ Chí Minh nhiều lần phê phán cán bộ, đảng viên không chấp hành pháp luật của Nhà nước, làm gương xấu cho quần chúng Việc lợi dụng quyền thế vi phạm pháp luật cũng được Người chỉ ra:
Có cán bộ đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích và vật chất cũng như quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử lý kịp
thời… như vậy là kỷ luật chưa nghiêm [45, tr 207]
Đối với Hồ Chí Minh, việc thưởng phạt phải nghiêm minh, bởi vì:
Cán bộ ta nhiều người tận tụy, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với Quốc dân Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư thậm chí dùng phép công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể… trong
Trang 22
một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng
chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công [40, tr 163]
1.1.2.5 Nhà nước dân chủ là Nhà nước trong đó nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát, nhận xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước
Không chỉ xác định từ làm chủ, là chủ của nhân dân đối với Nhà nước, Hồ Chí Minh còn giải thích rất cụ thể mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân trong nhiệm vụ phục vụ nhân dân: "Chính phủ cộng hòa dân chủ là gì? là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài Nếu Chính phủ hại đến dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ" [41, tr 60]
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng khẳng định ngay trọng trách là chủ và làm chủ của nhân dân: " khi dân cùng đầy tớ làm việc thì phải giúp đỡ Chính phủ Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình Chính phủ, phê bình nhưng không phải là chửi" [41, tr 60]
Làm thế nào để nhân dân giao quyền mà không mất quyền, các cơ quan nhà nước được giao quyền mà không tiếm quyền dân và phải thực hiện tốt nhiệm vụ phục vụ nhân dân, phát huy dân chủ, phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân ?
Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ mối quan hệ giữa cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân với nhân dân, chỉ ra cơ chế và phương pháp hoạt động để chính quyền thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Người nói: "Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân, Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân" [43, tr 361-362]
Quan điểm đó chỉ ra sự tác động qua lại giữa nhân dân - Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của xã hội, đồng thời chỉ rõ vai trò, trách nhiệm làm chủ của nhân dân đối với các hoạt động của Nhà nước dân chủ Việc giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình các hoạt động của Nhà nước được thực hiện thể hiện vai trò, trách nhiệm đó Mặt khác, Nhà nước phải có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện ngày càng tốt hơn để nhân dân thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình
Trang 23Chế độ ta là chế độ dân chủ Nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân Vì vậy nhân dân có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó [43, tr 368]
Sự giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình của nhân dân đối với chính quyền là phương thức trực tiếp và tốt nhất nhằm làm cho hoạt động của chính quyền nhân dân ngày một hiệu quả hơn Một mặt, các yếu tố này sẽ làm cho Nhà nước mau chóng nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân trên các lĩnh vực, thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động của Nhà nước đúng theo hướng phục vụ lợi ích nhân dân; mặt khác, dưới tác động thường xuyên của vai trò và trách nhiệm của nhân dân sẽ làm cho Nhà nước tránh khỏi quá trình quan liêu hóa, điều chỉnh xu hướng
xa rời dân của Nhà nước, làm gia tăng bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ tầm quan trọng của vấn đề nhân dân có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ theo đúng kỷ luật và làm đúng chính sách của Chính phủ để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó Sự tác động tương hỗ này làm gia tăng bản chất dân chủ của Nhà nước trong thực tiễn, đồng thời tăng cường trách nhiệm chính trị là chủ và làm chủ của nhân dân, ngăn ngừa việc xem nhẹ luật pháp và coi thường cơ quan đại diện quyền lực của dân
Cũng cần thấy rõ rằng, phương thức đó chỉ được duy trì khi chính quyền tỏ rõ năng lực của mình trong thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân, trong xây dựng và phát triển nền dân chủ của đất nước Ngược lại, khi "nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ" [43, tr 368] nhưng lại không giúp đỡ, không đôn đốc, không kiểm soát, không phê bình là lúc trong xã hội xuất hiện thái độ thờ ơ chính trị hoặc không thừa nhận
Trang 24và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình" [45, tr 591]
Trên mức độ cao hơn, theo Hồ Chí Minh, nếu không làm tròn nhiệm vụ của người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân thì từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, dân không cần đến họ nữa Điều đó thể hiện địa vị làm chủ của nhân dân
ở lĩnh vực chính trị, trong xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân
Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ và phát huy dân chủ, phát triển quyền dân chủ là một quy luật phát triển của Nhà nước XHCN, nó phản ánh nhu cầu tự
hoàn thiện và là phương thức của quá trình tự hoàn thiện của Nhà nước XHCN
1.1.2.6 Nhà nước dân chủ là Nhà nước hết lòng vì nhân dân, thực hiện và bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ, dân chủ trên thực tế và trong hành động Bản chất dân chủ của Nhà nước trước hết ở chỗ quản lý xã hội, lo cho dân, chứ không phải đè đầu, cưỡi cổ dân Hồ Chí Minh viết: "Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân" [41, tr 698]
Đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu để Hồ Chí Minh lựa chọn kiểu nhà nước, lựa chọn các cách thức tổ chức, phương thức hoạt động cụ thể của Nhà nước Nhà nước phục
vụ nhân dân nghĩa là:
Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm
Trang 25
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh [40, tr 57]
Bản chất dân chủ của Nhà nước còn thể hiện một cách tập trung ở mục đích tổ chức, hoạt động của nó: chăm lo cho dân về mọi mặt, vì hạnh phúc, cơm no áo ấm của nhân dân Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn cán bộ:
Muốn cho dân yên, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của nhân dân phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới, phải chăm lo cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân Nói tóm lại, hết thảy mọi việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân phải được chú ý [40, tr 47]
Như vậy, chức năng đối nội cơ bản của Nhà nước dân chủ là hướng nhân dân tổ chức tốt đời sống, tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, phân phối cho công bằng,
"không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên", từng bước cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thần nhằm thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu cần thiết hàng ngày Theo Hồ Chí Minh:
Chúng ta tranh được độc lập tự do rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì
tự do cũng chẳng làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ
Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân có học hành Cái mục đích mà chúng ta đi đến là 4 điều đó Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức cho tự do độc lập [40, tr 152]
Trang 26
Đem lại lợi ích cho nhân dân, chăm lo mọi mặt đời sống và thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của họ chính là cách thức tốt nhất để mở rộng, củng cố cơ sở xã hội - lực lượng của Nhà nước, tăng cường tiềm lực để nhà nước có đủ sức quản lý xã hội, chống lại kẻ thù Hồ Chí Minh lấy việc đáp ứng thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của nhân dân làm tiêu chí số một để đánh giá hiệu quả, năng lực lao động của Nhà nước
Vai trò của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống của nhân dân được Hồ Chí Minh
đề cập đến trên mọi bình diện Hồ Chí Minh viết:
Tục ngữ có câu "dân dĩ thực vi thiên" nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời Lại có câu "có thực mới vực được đạo", nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả
Vì vậy chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đời sống của nhân dân Nếu dân đói Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân
ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì Chính sách của ta có hay mấy cũng không thực hiện được [43, tr 572]
Về nội dung, Nhà nước phục vụ nhân dân còn bao hàm cả việc biết điều chỉnh, kết hợp được các loại lợi ích của dân, của mọi người, giai cấp, tầng lớp xã hội Đó là lợi ích gần, lợi ích xa, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích Trung ương và lợi ích địa phương, nhất là nông dân, do địa vị, tầm hạn chế của mình chỉ thấy được lợi ích cục bộ, trước mắt, không thể nhìn xa, trông rộng, Nhà nước phải giải thích, hướng dẫn cho dân hiểu để họ từng bước thực hiện đảm bảo sự thống nhất lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội Chẳng hạn, trong hoạch định và thực hiện chính sách kinh tế phải làm sao để cho:
"Công tư đều lợi", " chủ thợ đều lợi"; Nhà nước phải đại diện cho lợi ích của mọi giai tầng xã hội Đó chính là cơ sở thực tế để nhà nước lấy được niềm tin của dân, dân tin nhà nước, coi "Chính phủ, Nhà nước là người nhà"
Nhà nước dân chủ là nhà nước phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm khuôn thước Quan điểm này của Hồ Chí Minh được xây dựng trên một triết lý mang bản chất nhân văn: coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng, của sự phát triển xã hội
Trang 27
Vì thế, Hồ Chí Minh xem việc được phục vụ nhân dân là một vinh dự cao quý, Người cho rằng: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân", "bao nhiêu lợi ích đều vì dân", "mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm" [42, tr 66]; "trong xã hội không có
gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân" [44, tr 278]
Mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và nhân dân như vậy đã trở thành quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ, nhưng đây không phải là mối quan hệ "chủ tớ" theo nghĩa thông thường và càng không nên hiểu nhân dân trở thành một loại ông chủ chỉ biết sai khiến "chỉ tay năm ngón"
Trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước và nhân dân, không chấp nhận việc cơ quan nhà nước bao biện, làm thay nhân dân và thật ra không ai có thể làm thay nhân dân,
vì " quyền hành và lực lượng đều ở nơi đâu", nếu nhân dân không ra tay và "không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy cũng không xong"
Vậy cần hiểu khái niệm "phục vụ nhân dân" như thế nào mới đúng? "Phục vụ nhân dân", "vì dân", có nghĩa là công việc của Chính phủ, nhân viên nhà nước đảm trách mang lại lợi ích cho nhân dân, vì lợi ích của nhân dân Nhân dân khi giao việc, ủy quyền bao giờ cũng cũng trao cả quyền của chính mình cho người được ủy thác ở đây có một nét rất đặc thù là người vốn không có quyền, khi đã được trao quyền, trở thành người có quyền lực, người sai khiến, chỉ huy, đôn đốc người khác và người khác ở đây chính là nhân dân vốn là chủ thể của quyền lực Nhân dân, chủ thể của quyền lực, đồng thời trở thành đối tượng, khách thể của quyền lực, người phải thực hiện những công việc nghĩa
vụ đối với nhà nước: "Nhà nước của dân" đồng thời trở thành "Nhà nước do dân" là vì vậy
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đề cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần phụ trách của cán bộ, nhân viên nhà nước trước dân; nhân dân là người chủ thực hiện chủ yếu thông qua bộ máy nhà nước Vấn đề lớn đặt ra là làm sao người được trao quyền, sử dụng quyền cho đúng quyền hành được giao, sử dụng có hiệu quả và có hiệu lực, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Mặt khác, luôn luôn đề phòng khả năng là người được trao quyền
sẽ lạm dụng hoặc sử dụng tắc trách quyền đó và điều rất tệ hại là biến nhân dân thành người chủ trên danh nghĩa, còn trên thực tế chỉ để bị sai khiến và phục vụ các "ông quan
Trang 28
cách mạng" Do vậy, Người rất quan tâm tới việc xây dựng một nhà nước liêm khiết, trong sạch, một nhà nước với đội ngũ cán bộ "cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư" phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Hồ Chí Minh đã chỉ ra những tệ nạn như tham ô, quan liêu, lãng phí và cho đó là "kẻ thù" của nhân dân Do đó, "chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ" [42, tr 494] và chỉ có "thực hành dân chủ" là phương thức hữu hiệu
để chống lại "giặc nội xâm" đó Để có được một Nhà nước hết lòng phục vụ nhân dân thì đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ công chức "hết lòng, hết sức làm theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc" [57, tr 302; 344] Việc ra các sắc lệnh về thi tuyển công chức làm cho đội ngũ cán bộ nhà nước vừa "hồng" vừa "chuyên", đáp ứng được sự phát triển của nền dân chủ và việc xây dựng Nhà nước dân chủ ở nước
ta
1.2 Hội đồng nhân dân - thiết chế thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở địa phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1 Vị trí, vai trò và những đặc trưng cơ bản của Hội đồng nhân dân
1.2.1.1 Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân
Trong bộ máy nhà nước ta, HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương HĐND có quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương theo những quy định của pháp luật Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng, củng
cố và phát triển HĐND, vì thế HĐND đã làm được nhiều việc ích nước, lợi dân, đã thể hiện được vai trò là cơ quan đại biểu của nhân dân, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân để xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ngày càng lớn mạnh
Tuy nhiên, do HĐND ở nhiều cấp, chúng ta lại chưa quan tâm đúng mức đến vấn
đề xây dựng mô hình từng cấp và tổng kết kinh nghiệm trong hoạt động của HĐND, vì thế trên thực tế cả về mặt tổ chức cũng như hoạt động của HĐND các cấp vẫn còn là một trong những khâu yếu kém trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Vì vậy, có ý kiến cho rằng, cần bỏ HĐND, vì hoạt động của nó rất hình thức làm cho bộ máy nhà nước thêm cồng kềnh Đó là quan điểm không thể chấp nhận được vì nó trái với bản chất
Trang 29
của Nhà nước ta - Nhà nước của dân, do dân, vì dân - thì phải có cơ quan đại biểu của nhân dân ở Trung ương cũng như ở khắp các địa phương, cơ sở để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Như vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải tăng cường củng cố kiện toàn HĐND, để HĐND hoạt động thực chất hơn và ngày càng có hiệu lực, hiệu quả
Vị trí, vai trò quan trọng của HĐND trong tổ chức hoạt động của Nhà nước ta được khẳng định dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:
- Hội đồng nhân dân các cấp trong suốt quá trình tồn tại và phát triển đã khẳng định được vị trí, vai trò, trách nhiệm của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Với
tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương, HĐND có khả năng đoàn kết tập hợp được quần chúng, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng, động viên được mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của mỗi địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng
- Sự hiện diện của HĐND các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng có vai trò to lớn trong việc hình thành Nhà nước kiểu mới ở nước ta, thể hiện được tính giai cấp sâu sắc, tính chất nhân dân thực sự của Nhà nước ta, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân về một chính quyền của dân, do dân, vì dân
- Hội đồng nhân dân các cấp đã trở thành trường học về quyền làm chủ của nhân dân Những người đủ năng lực, phẩm chất trong nhân dân sẽ tham gia vào HĐND và thông qua các đại biểu này của nhân dân HĐND trở thành diễn đàn để người dân lao động thực hiện quyền làm chủ nhà nước và xã hội của mình Thực tiễn hoạt động của HĐND từ khi ra đời đến nay thực sự là tài sản và kinh nghiệm quý báu cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân và thực hiện nền dân chủ XHCN ở nước ta
- Hội đồng nhân dân là cầu nối giữa chính quyền Trung ương và cấp trên với chính quyền địa phương, cơ sở vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt động của
bộ máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc vừa đảm bảo phát huy được nội lực ở từng địa phương, cơ sở Thông qua Quốc hội và HĐND các cấp bằng quyền dân chủ trực tiếp của mình nhân dân thực hiện được quyền làm chủ trên phạm vi cả nước và trước hết là làm chủ ở ngay địa phương, cơ sở
Trang 30
Trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đó, Điều 119 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và ủy ban nhân dân (UBND) 2003 đều xác định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên" [57, tr 219]
Hiến pháp cũng quy định thẩm quyền rộng rãi của HĐND, đảm bảo cho nó thật
sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm và toàn quyền quyết định những vấn đề trọng đại ở địa phương trong khuôn khổ quy định Hiến pháp và pháp luật Điều 120 Hiến pháp 1992 quy định:
Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định
và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước [57, tr 219]
Từ những quy định của Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003
có thể khái quát vị trí, vai trò của HĐND trên các mặt sau đây:
Thứ nhất: HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương nhưng tính chất
đại diện của HĐND khác với tính chất đại diện của Quốc hội Hiến pháp 1992 xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân (Điều 83); đại biểu Quốc hội là đại diện cho cả nước (Điều 97); còn HĐND là cơ quan do nhân dân địa phương bầu ra đại diện cho nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 119)
Thứ hai: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thể hiện ở các mặt
sau đây:
+ Được cấu tạo bởi các đại biểu do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân
Trang 31
+ Có quyền căn cứ vào pháp luật bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức vụ trong
tổ chức của mình (Thường trực HĐND, các Ban của HĐND)
+ Có quyền căn cứ vào pháp luật, bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh của UBND là cơ quan chấp hành của mình và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân (TAND) cùng cấp
+ Có quyền, căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật, ra Nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phương
+ Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương đồng thời chịu sự giám sát, hướng dẫn của ủy ban Thường vụ Quốc hội và hướng dẫn, kiểm tra của Chính phủ
Tuy HĐND cũng là cơ quan quyền lực nhưng xét về địa vị pháp lý không giống, không trùng với Quốc hội, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất ở đây không chỉ ở phạm vi, cấp độ mà cơ bản ở thẩm quyền, đặc biệt là thẩm quyền ban hành Hiến pháp, pháp luật Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đồng thời là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, HĐND cũng là cơ quan quyền lực nhưng chỉ có quyền ban hành nghị quyết là văn bản pháp quy dưới luật, phải phù hợp với các văn bản luật
Thứ ba: HĐND là cơ quan quyền lực nhưng tính chất hoạt động của nó lại là cơ
quan thi hành pháp luật Điều này thể hiện ở một số mặt sau đây:
+ Trong hoạt động của mình, HĐND phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 119 Hiến pháp, trong việc chấp hành pháp luật và các quyết định của Quốc hội, Chính phủ và cơ quan hành chính cấp trên)
Hội đồng nhân dân phải chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, Hiến pháp 1992 quy định Thủ tướng có quyền đình chỉ việc thi hành các nghị quyết trái pháp luật của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chủ tịch UBND có quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới và đề nghị HĐND cấp trên bãi bỏ Điều 120 Hiến pháp 1992 còn quy định: "Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp
Trang 32
bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương" [57, tr 219] Như vậy, xét theo các quy định trên đây rõ ràng về hoạt động của mình HĐND nằm trong đội hình hành pháp
Thứ tư: HĐND là cơ quan tự chủ ở địa phương:
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003 tính tự chủ của HĐND thể hiện các mặt sau:
+ Hội đồng nhân dân ra Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân; không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương
+ Hội đồng nhân dân quyết định chủ trương, biện pháp phân bổ lao động và dân cư địa phương; biện pháp quản lý các nguồn tài nguyên ở địa phương
+ Giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt, bảo vệ sức khỏe chăm sóc người già và trẻ em ở địa phương
+ Bảo vệ môi trường ở địa phương
+ Thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội bảo vệ chính sách dân tộc và tôn giáo ở địa phương
Như vậy, với vị trí pháp lý được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức HĐND và UBND thì HĐND vừa là một mắt khâu trong hệ thống các cơ quan nhà nước vừa là chủ thể quyền lực đại diện cho nhân dân địa phương, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương và có quyền giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội ở địa phương, nhằm phát huy mọi tiềm năng ở địa phương, sử dụng và phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, bảo vệ cho Hiến pháp, pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng
1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của Hội đồng nhân dân
Trang 33
Thứ nhất, HĐND là hình thức tổ chức quản lý nhà nước ở địa phương theo lối
mới, đối lập với cách tổ chức chính quyền địa phương theo lối cai trị của các chế độ bóc lột Nếu như cơ quan chính quyền địa phương trước đây được lập ra để thay mặt Nhà nước cấp trên cai trị nhân dân thì hình thức HĐND là hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ HĐND trước hết phải là đại diện cho nhân dân địa phương, đồng thời đại diện cho chính quyền cấp trên Theo các nhà khoa học, hình thức quản lý địa phương bởi một cơ quan đại diện của nhân dân là cách tốt nhất để bảo đảm sự kết hợp lợi ích của Nhà nước và lợi ích của địa phương, mà các kiểu tổ chức theo mô hình bộ máy quan chức được bổ nhiệm từ trên xuống không thể nào
có được
Thứ hai, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, tức là thuộc hệ
thống cơ quan nhà nước thống nhất từ Trung ương đến cơ sở HĐND có quyền và nghĩa
vụ quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa và ngân sách, về quốc phòng, an ninh ở địa phương, ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nhiệm vụ đối với cả nước Là một bộ phận của hệ thống cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, HĐND cùng với UBND là cơ quan chính quyền ở địa phương thực hiện lãnh đạo công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội trên lãnh thổ, bảo vệ trật
tự an toàn xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân Đây là đặc điểm rất quan trọng thể hiện tính chất cơ quan quyền lực nhà nước duy nhất và có toàn quyền của HĐND
Thứ ba, với tính cách là cơ quan "tự quản" địa phương, hoạt động của HĐND
phải thông qua nhiều hình thức hoạt động: kỳ họp, hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và hoạt động của đại biểu HĐND Đó là một cơ cấu thống nhất Hiệu quả hoạt động của HĐND vì vậy được bảo đảm bằng hiệu quả các kỳ họp HĐND, các Ban của HĐND và hiệu quả hoạt động của các đại biểu HĐND
Thứ tư, HĐND và UBND đều phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
chính quyền cấp trên, với tính cách là cơ quan chính quyền địa phương dù dưới hình thức nào đều là hoạt động chấp hành pháp luật của Nhà nước và phải chịu sự chỉ đạo, hướng
Trang 34Đại biểu HĐND, các cơ quan HĐND thông qua các hoạt động khảo sát, tiếp dân thường xuyên giám sát, yêu cầu UBND và các cơ quan chuyên môn thực hiện đầy đủ quy chế dân chủ, hoặc có thể chất vấn tại các kỳ họp, yêu cầu UBND và các cơ quan chuyên môn báo cáo những biện pháp bảo đảm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
Trong điều kiện nước ta hiện nay, một mặt chúng ta tiếp tục củng cố, hoàn thiện hình thức dân chủ đại diện, mặt khác từng bước mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp trong các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là ở cơ sở Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp
có mối quan hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ và tác động lẫn nhau để thực hiện ngày càng tốt hơn, có hiệu quả hơn quyền làm chủ của nhân dân
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ, phải khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức - do đó đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân được tốt hơn thì điều quan trọng là chúng ta phải thực hiện tốt cơ chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Thực hiện tốt dân chủ trực tiếp sẽ tạo nền cho dân chủ đại diện phát huy tác dụng, hiệu quả cao, đồng thời thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Thực hiện tốt dân chủ đại diện tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước ngày càng tốt hơn và là phương tiện bảo đảm cho thực hiện dân chủ trực tiếp HĐND với vị trí và vai trò của mình chính là tổ chức đáp ứng được yêu cầu đó
1.2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
1.2.2.1 Hội đồng nhân dân là tổ chức do nhân dân địa phương trực tiếp bầu
ra
Trang 35
ở nước ta, việc tổ chức cơ quan chính quyền địa phương về cơ bản tuân theo các nguyên tắc mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề ra Đó là phương thức tổ chức chính quyền địa phương kiểu mới dựa trên quan điểm thừa nhận quyền lực nhân dân của từng cộng đồng lãnh thổ Mỗi một cộng đồng lãnh thổ được tự do tổ chức thành nhà nước qua cơ cấu công
xã, Xô viết là những cơ quan quyền lực nhà nước rồi hợp nhất chúng lại thành chính quyền nhà nước
Theo nguyên lý đó, mô hình tổ chức chính quyền địa phương XHCN không còn phân biệt cấp hành chính cơ bản cũng như trung gian nữa và cũng không còn chế độ tự quản địa phương, mà ở tất cả các đơn vị lãnh thổ đều có mô hình tổ chức gần như giống nhau, gồm một cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (công xã, Xô viết địa phương)
và một cơ quan chấp hành (ủy ban chấp hành) được cơ quan quyền lực bầu ra để làm nhiệm
vụ thường trực và chấp hành nghị quyết của cơ quan này giữa hai kỳ họp
ở Việt Nam, chúng ta chủ trương xác lập chế độ dân ủy tương tự như chế độ Xô viết nhưng mềm mỏng hơn, thích hợp với điều kiện Việt Nam Sau khi cách mạng thành công ở Trung ương thì thành lập quốc gia đại hội (Quốc hội) với thành phần rộng rãi hơn
so với Xô viết ở Nga, còn ở địa phương thì sau một thời gian ngắn tồn tại các UBND cách mạng đã thành lập các HĐND, xét về hình thức thì Nghị viện nhân dân và HĐND ở thời kỳ này chưa hoàn toàn giống nhau như Xô viết ở Nga cùng thời kỳ, song về bản chất thì chúng thống nhất Sau này, khi miền Bắc bước vào xây dựng XHCN thì bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan chính quyền địa phương nói riêng đã nhanh chóng chuyển theo mô hình tổ chức chung của các nước XHCN (tất nhiên vẫn còn một số đặc thù)
Như vậy, đến thời kỳ XHCN thì mô hình chính quyền địa phương là một cơ quan đại diện quyền lực nhà nước của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ (Xô viết, Hội đồng) do nhân dân địa phương bầu ra, vừa đại diện cho nhân dân địa phương vừa đại diện cho cơ quan nhà nước cấp trên - đó là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Cơ quan này đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức quyền lực nhà nước (quản lý nhà nước) trên địa bàn lãnh thổ
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng chính quyền địa phương Người đã ban hành nhiều văn bản pháp
Trang 36
luật quy định về vấn đề này, quan trọng nhất là Sắc lệnh 63/SL ngày 22/11/1945 về tổ chức HĐND và UBHC của các cấp chính quyền vùng nông thôn và Sắc lệnh số 77/SL ngày 21/12/1945 về tổ chức của HĐND và UBHC các cấp chính quyền ở thành phố Với hai sắc lệnh này, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, nhân dân đã có cơ sở pháp lý làm điểm tựa để thực hiện quyền làm chủ đất nước của mình
Việc tổ chức cơ quan chính quyền địa phương ở nước ta về cơ bản là theo phương thức chính quyền kiểu mới dựa trên quan điểm thừa nhận quyền lợi nhân dân của từng cộng đồng lãnh thổ Trong đó, HĐND ngay từ đầu đã được xác định là tổ chức "do nhân dân bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân" [65, tr 216]
Tất cả các công dân Việt Nam, 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ, không thuộc một trong ba hạng kể trong Điều thứ 2, đoạn 2, 3 và 4 Sắc lệnh số
51 ngày 17/10/1945 về thể lệ cuộc tuyển cử Quốc dân đại hội đều có quyền bầu cử Hội đồng nhân dân 61, tr 216
Trên tinh thần đó, qua các giai đoạn phát triển sau này tổ chức HĐND vẫn luôn được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên (Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 và 1989; Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 (sửa đổi) và hiện nay là Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đều ghi nhận nguyên tắc này)
1.2.2.2 Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương theo ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân
Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương là một trong những chức năng hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thể hiện và thực hiện được vai trò, nhiệm vụ của HĐND với tư cách là đại diện cho ý chí, nguyện vọng quyền làm chủ của nhân dân địa phương và do nhân dân địa phương bầu ra
Ngay từ những văn bản pháp luật đầu tiên về HĐND đã xác định: "Hội đồng nhân dân cấp xã, tỉnh, thành phố có quyền quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc trong
Trang 37Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đới sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa
vụ của địa phương đối với cả nước [57, tr 500]
Để có cơ sở pháp lý cho HĐND thực hiện tốt chức năng này, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 cũng đã xác định cụ thể nội dung những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của HĐND bao gồm:
- Trong lĩnh vực kinh tế, HĐND quyết định các chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, phân bổ lao động và dân cư; quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên; chính sách tiết kiệm trong hoạt động quản lý sản xuất- kinh doanh và tiêu dùng, chống tham nhũng, chống buôn lậu
- Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và đời sống, HĐND quyết định các chủ trương, biện pháp phát triển giáo dục, văn hóa, văn nghệ, thể thao, phát thanh, truyền hình; giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện làm việc; bảo vệ sức khỏe nhân dân, thực hiện chính sách ưu đãi, giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước
- Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và môi trường, HĐND quyết định các chủ trương, biện pháp khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ; cải thiện môi trường; biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn -
đo lường - chất lượng sản phẩm, ngăn chặn việc sản xuất và lưu thông hàng giả, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
Trang 38
- Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, HĐND quyết định biện pháp thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang và quốc phòng toàn dân ở địa phương; giữ gìn an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, phòng chống tội phạm trên địa bàn lãnh thổ
- Trong lĩnh vực thi hành chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc, HĐND quyết định các biện pháp cải thiện đời sống vật chất tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữ gìn tăng cường mối quan hệ đoàn kết
và tương trợ giữa các dân tộc; bảo đảm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân địa phương
- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật, HĐND quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương; biện pháp bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; biện pháp bảo vệ tài sản của Nhà nước và của các tổ chức ở địa phương; bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo quy định của pháp luật
- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính, HĐND bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh theo luật định của HĐND, các Ban của HĐND và UBND cùng cấp, bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Hội thẩm nhân dân của TAND cùng cấp; bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp, những nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới trực tiếp, giải tán HĐND cấp dưới trực tiếp nếu HĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân
Như vậy, nội dung chức năng quyết định của HĐND là rất rộng, toàn diện bao gồm tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa, khoa học, quốc phòng, an ninh… Điều này một lần nữa xác định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐND trong chính quyền địa phương với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Mặt khác, đây cũng là căn cứ pháp lý tạo ra môi trường thuận lợi để chính quyền địa phương khai thác hết mọi tiềm năng, nội lực sẵn có ở địa phương, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nhiệm vụ mà nhân dân và cấp trên giao phó
ở đây cần nhấn mạnh rằng, mặc dù HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân do nhân dân địa
Trang 39
phương bầu ra nhưng HĐND phải làm việc trong khuôn khổ Hiến pháp, luật, văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 120, Hiến pháp năm 1992), phát huy được tiềm năng của địa phương và làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước
Quy định như vậy vừa khẳng định vai trò, chức năng của HĐND, vừa bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực
1.2.2.3 Hội đồng nhân dân bãi miễn những người không xứng đáng trong bộ máy nhà nước
Với mô hình chính quyền địa phương là một cơ quan đại diện quyền lực nhà nước của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ do nhân dân bầu ra, HĐND đóng vai trò chủ đạo trong tổ chức quyền lực nhà nước (quản lý nhà nước) trên địa bàn lãnh thổ Theo sự cần thiết, một cơ quan chấp hành được cơ quan này lập ra để thực hiện các chức năng thường
vụ, thường trực và tổ chức thực hiện các nghị quyết của cơ quan quyền lực và chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung đó chính là UBHC
Tại Sắc lệnh số 63/SL đã quy định: "ủy ban Hành chính do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành chính vừa thay mặt dân vừa đại diện cho Chính phủ" [65, tr 216]
Dựa trên nguyên tắc về xây dựng Nhà nước kiểu mới, Nhà nước của dân, do dân,
vì dân Trong đó nhân dân không những có quyền bầu ra các cơ quan nhà nước mà còn
có quyền thay đổi, bãi miễn những người không còn xứng đáng Nguyên tắc này đã được
áp dụng đối với HĐND ngay từ những sắc lệnh đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về việc "Phúc quyết" UBHC xã và UBHC tỉnh Bởi vì, UBHC do HĐND cùng cấp bầu ra và khi không còn tín nhiệm thì HĐND sẽ thay mặt nhân dân để giải quyết Tại Điều 18 và
48 Sắc lệnh 63 quy định: Nếu một phần ba (1/3) số hội viên HĐND yêu cầu phúc quyết UBHC thì UBHC phải triệu tập ngay HĐND để bỏ phiếu tín nhiệm Khi bỏ phiếu tín nhiệm thì những người có chân trong UBHC cũng bỏ phiếu như những hội viên khác trong HĐND Nếu quá nửa tổng số hội viên HĐND bỏ phiếu không tín nhiệm UBHC thì UBHC bắt buộc phải từ chức [65, tr 220; 225]
Khi chính quyền của chúng ta đang còn non trẻ, phải đối đầu với những khó khăn của một quốc gia mới giành được độc lập thì thực dân Pháp lại quay lại xâm lược nước ta, cả
Trang 40
nước bước vào giai đoạn kháng chiến trường kỳ Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký Sắc lệnh số 254/SL ngày 19/11/1948 về tổ chức lại chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến ở sắc lệnh này, do tính đặc thù của thời chiến, tại Điều 9 có quy định: Quyền bãi miễn của HĐND xã và tỉnh đối với UBHC nói trong Điều 18 và 48 của Sắc lệnh số 63 không áp dụng đối với ủy ban kháng chiến hành chính [65, tr 310]
Tuy nhiên, quy định này chỉ một năm sau đã được sửa lại để phù hợp với ý nguyện của dân và đảm bảo bản chất dân chủ của Nhà nước Tại tờ trình của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ trình Chủ tịch nước ngày 22 tháng 11 năm 1949, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phan Kế Toại đã viết:
Qua báo cáo của các địa phương cũng như trong hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc vừa qua Bộ tôi nhận thấy cần giữ nguyên quyền bãi miễn ấy
Vậy Bộ tôi trân trọng đề nghị sửa đổi lại Điều 9 Sắc lệnh số254/SL ngày 11/11/1968 để Hội đồng nhân dân tỉnh và xã được sử dụng quyền bãi miễn như đã ấn định trong Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945, như vậy vừa hợp với dân nguyện, vừa đúng với tinh thần dân chủ [65, tr 336-337]
Trên tinh thần đó, Điều 1 Sắc lệnh số 136/SL ngày 29/11/1949 đã quy định lại như sau:
Điều 9 Sắc lệnh số 255/SL ngày 11/11/1948 nay bãi bỏ và thay bằng Điều 9 mới sau đây:
Điều 9 (mới) Quyền bãi miễn của Hội đồng nhân dân xã và tỉnh nói trong điều 18 và 48 Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 sẽ áp dụng đối với những ủy viên do Hội đồng nhân dân xã và tỉnh bầu ra
Đối với các ủy viên ủy ban kháng chiến hành chính xã và tỉnh do cấp trên chỉ định, Hội đồng nhân dân không có quyền bãi miễn; nhưng Hội đồng nhân dân có thể đề nghị lên cấp trên có quyền chỉ định để giải quyết [65, tr 343]