1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

130 775 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 884,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phương khác nhau, như tác giả Trần Nguyên Quân: "Đặc điểm hình sự tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Hải Phòng và các giải

Trang 1

LUẬN VĂN:

Hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tại

địa bàn thành phố Nam Định

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện công cuộc đổi mới, trong những năm qua tình hình kinh tế - xã hội ở thành phố Nam Định (TPNĐ) đã đổi mới, vươn lên mạnh mẽ Đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân được cải thiện một bước quan trọng Tuy vậy bên cạnh những thành tựu

đã đạt được, trong quá trình phát triển ấy cũng đã và đang phát sinh nhiều vấn đề phức tạp về trật tự xã hội (TTXH) Cùng với những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm hình sự nói chung, tình hình tội phạm "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" với những thủ đoạn vừa công khai, trắng trợn, vừa tinh vi thâm độc cũng đang không ngừng gia tăng và trở thành vấn đề xã hội nhức nhối trên địa bàn này Theo báo cáo tổng kết hàng năm của Công an TPNĐ, từ năm 2001 đến năm 2005 tại địa bàn TPNĐ xảy ra tổng số 163 vụ cố ý gây thương tích, chiếm tỷ lệ 7% các vụ phạm pháp hình sự của toàn thành phố Hậu quả của loại tội phạm này gây ra là không nhỏ, đã làm thiệt hại đến sức khỏe con người, thiệt hại về vật chất có những vụ gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Ngoài ra, nó còn làm hoang mang lo lắng và gây bất bình trong quần chúng nhân dân

Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nếu không được điều tra làm rõ kịp thời, xử lí nghiêm minh thì sẽ là một trong những nguyên nhân tích tụ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh trật tự (ANTT) trên địa bàn TPNĐ

Xác định được vai trò, ý nghĩa của cuộc đấu tranh với loại tội phạm này, từ trước đến nay Công an TPNĐđã có nhiều sáng kiến, giải pháp để giải quyết các vấn đề đặt ra Nhưng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở TPNĐ vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn Tội phạm vẫn không giảm, nhiều nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình hình gia tăng tội phạm vẫn không được phát hiện Những kinh nghiệm đơn lẻ, những giải pháp có tính

Trang 3

cục bộ của địa phương chưa được nghiên cứu tổng kết để hoàn thiện và nâng lên một chất lượng cao hơn

Trong lí luận của ngành Công an cũng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu

về tình tội phạm và công tác phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ Cũng chưa thấy công trình nào đề cập một hệ thống các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả phòng ngừa loại tội phạm này

ở địa phương Chính vì vậy việc đi sâu nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện tồn tại, tìm ra các giải pháp ngăn chặn làm giảm thiểu loại tội phạm này trên địa bàn

TPNĐ là vấn đề vô cùng cần thiết Đó là lí do tác giả lựa chọn đề tài "Hoạt động phòng

ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tại địa bàn thành phố Nam Định"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề đấu tranh phòng, chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó, đáng chú ý là cuốn sách chuyên khảo tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Yêm do nhà xuất bản Công an nhân dân (CAND) ban hành năm 2001 Tại chương 14 có đề cập đến phòng ngừa các tội phạm có sử dụng bạo lực, đây là nhóm tội phạm có tội cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Cuốn giáo trình Phương

pháp điều tra các loại tội phạm cụ thể, tập 1 của Học viện Cảnh sát nhân dân (CSND)

xuất bản năm 2002 Tại chương 3 đã đề cập phương pháp điều tra tội phạm cố ý gây thương tích Trong góc độ hình luật, các tác giả đã đề cập đến vấn đề phân biệt tội cố ý gây thương tích với các tội gần gũi như tội giết người, tội chống người thi hành công

vụ, tội làm nhục người khác Chẳng hạn, các tác giả Đặng Quang Phương, Đinh Văn Quế đã bàn về sự khác nhau giữa tội giết người (chưa đạt) với tội cố ý gây thương tích, phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích (dẫn đến hậu quả chết người) Một

số luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ đề cập đến công tác phòng ngừa, điều tra khám phá tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại các địa

Trang 4

phương khác nhau, như tác giả Trần Nguyên Quân: "Đặc điểm hình sự tội phạm cố ý

gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Hải Phòng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra" Hoặc tác giả

Nguyễn Hữu Cầu: "Đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa" Có khá nhiều các bài viết trên các Tạp chí CAND,

Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND) đề cập

cả về lí luận và thực tiễn đấu tranh đối với loại tội phạm này Tiếc rằng chưa có tác giả nào tiến hành khảo sát trên địa bàn TPNĐ Hoàn toàn có thể nói rằng, cho đến nay chưa

có công trình nào nghiên cứu về vấn đề phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (CSĐTTP về TTXH) tại địa bàn TPNĐ dưới góc độ Tội phạm học

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ những đặc điểm tình hình của tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên địa bàn TPNĐ và công tác phòng ngừa của lực lượng CSĐT về TTXH của địa phương Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích của lực lượng CSĐTTP về TTXH của Công an TPNĐ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận về phòng ngừa tội phạm của lực lượng CSĐT

về TTXH nói chung và phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ nói riêng, từ đó làm cơ sở lý luận giải quyết những vấn đề liên quan đến phương pháp, biện pháp phòng ngừa của lực lượng CSĐTTP về TTXH của Công an TPNĐ

- Nghiên cứu những điều kiện kinh tế, xã hội, địa lí, dân cư trên địa bàn TPNĐ

có ảnh hưởng tác động tới tình hình tội phạm nói chung cũng như tình hình tội phạm cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ

Trang 5

- Nghiên cứu hồ sơ các vụ án cố ý gây thương tích xảy ra trên địa bàn TPNĐ giai đoạn 2001 - 2005 để rút ra những vấn đề mang tính quy luật về nguyên nhân, phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm cũng như những kinh nghiệm thực tiễn hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của lực lượng CSĐTTP về TTXH trên địa bàn TPNĐ

- Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của lực lượng CSĐTTP về TTXH trên địa bàn TPNĐ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật về tội phạm

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tình hình tội phạm

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ

và thực tiễn công tác phòng ngừa ngăn chặn tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của lực lượng CSĐTTP về TTXH Công an TPNĐ

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chủ yếu tiếp cận trên phương diện lý luận hoạt động nghiệp vụ trinh sát với việc sử dụng phần nhiều các tri thức nghiệp vụ trinh sát và khoa học Tội phạm học, không đi sâu các biện pháp điều tra Đề tài được nghiên cứu trong giới hạn kết quả khảo sát thực tiễn các vụ cố ý gây thương tích xảy ra từ năm

2001 đến 2005 tại địa bàn TPNĐ Điều đó được quán xuyến trong toàn bộ luận văn

6 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát thực tế, trao đổi tọa đàm và các phương pháp nghiên cứu khác

Để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra, tác giả đã kết hợp nghiên cứu luật hình sự, luật tố tụng hình sự, các văn bản liên ngành, các thông tư hướng dẫn về áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự với nghiên cứu phân tích, so sánh tổng hợp các tài liệu thực

Trang 6

tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và công tác phòng ngừa, ngăn chặn, điều tra khám phá tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ nói riêng Thông qua nghiên cứu các hồ sơ vụ án, các báo cáo tổng kết, sơ kết, các chuyên đề hoặc tổng kết từng giai đoạn đấu tranh đối với loại tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ kết hợp khảo sát thực tế, trao đổi, tọa đàm với các cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo chỉ đạo điều tra để lý giải một cách khoa học các vấn đề đặt ra trong luận văn

7 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Cơ sở lí luận của đề tài là hệ thống những tri thức khoa học điều tra hình sự, những thành tựu nghiên cứu lí luận khoa học trên lĩnh vực phòng ngừa và điều tra tội phạm cố ý gây thương tích, kết hợp những sản phẩm khoa học khác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề đấu tranh với tội phạm cố ý gây thương tích Bên cạnh đó là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành liên quan đến tội phạm cố ý gây thương tích

Tính thực tiễn của đề tài được đảm bảo bằng kết quả phân tích các báo cáo tổng kết của Công an tỉnh và Công an TPNĐ, những kinh nghiệm được rút ra từ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích; những kết quả nghiên cứu phân tích toàn bộ hồ sơ các vụ án cố ý gây thương tích đã được điều tra xử lí trong 5 năm (2001-2005) ở TPNĐ

8 Những yếu tố mới và ý nghĩa lí luận, thực tiễn của đề tài

Đề tài lần đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống lí luận và thực tiễn hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSĐTTP về TTXH đối với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn TPNĐ

Luận văn đã làm rõ ý nghĩa của hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSĐTTP

về TTXH đối với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trên cơ sở đó, đề ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa đối với loại tội phạm này trên địa bàn TPNĐ

Trang 7

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo về mặt lí luận phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Góp phần hoàn thiện lí luận chung về phòng ngừa các tội phạm cụ thể

Luận văn đưa ra những kết luận và đề xuất các giải pháp giúp Công an địa phương tham khảo vận dụng vào việc cải tiến các mặt công tác, từng bước hoàn thiện nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 8

Chương 1

Nhận thức chung về hoạt động phòng ngừa

của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đối với tội phạm cố ý

gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.1 Đặc điểm tội phạm học tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.1.1 Khái niệm và dấu hiệu pháp lí của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.1.1.1 Khái niệm

Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa"

Từ khái niệm về tội phạm, khái niệm tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể hiểu như sau: Tội phạm cố ý gây thương tích

hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Như vậy, giữa khái niệm chung (tổng quát) về tội phạm và khái niệm về tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, khác nhau ở yếu tố chủ quan (Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ là lỗi cố ý) và yếu tố khách thể (Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác)

Trang 9

Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 104 thuộc Chương XII - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, BLHS năm 1999 nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam Dấu hiệu pháp lí của tội phạm này bao gồm:

* Khách thể của tội phạm

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được bảo hộ về sức khỏe của con người Khách thể trực tiếp của tội phạm này là sức khỏe của người khác, là quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân đã được Hiến pháp quy định Nếu một người nào đó tự ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho chính mình thì không cấu

thành tội phạm này

* Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thể hiện bằng những hành vi tác động vào cơ thể của người khác, làm cho người đó bị thương, bị tổn hại về sức khỏe Các hành vi được thể hiện dưới hình thức hành động và có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Đối với các hành vi trực tiếp có thể xảy ra các hành vi cụ thể như đâm, chém, đấm đá Đối với các hành vi gián tiếp có thể xảy ra các trường hợp người phạm tội bắt người bị hại tự làm tổn hại cho sức khỏe của mình như: chặt tay, chọc mắt Dấu hiệu về hậu quả tác hại là dấu hiệu bắt

Trang 10

buộc trong tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trong cấu thành cơ bản của tội phạm này là quy định hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong những trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều 104 BLHS đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này

Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội cấu thành vật chất nên phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

đã xảy ra Vết thương hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác phải là hậu quả của chính hành vi xâm hại của người phạm tội

* Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý trong cả hai dạng cố ý trực tiếp và

cố ý gián tiếp Đó là việc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm, thấy trước được hậu quả do mình thực hiện sẽ gây tổn thương hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác song người phạm tội mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc để cho hậu quả đó xảy ra

* Mặt chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật hình sự quy định

Theo quy định trên, chủ thể của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những con người cụ thể, đang sống, đã cố ý thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật

1.1.2 Đặc điểm tội phạm học tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Trang 11

Vấn đề đặc điểm tội phạm học của tội phạm nói chung đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, đối với mỗi loại tội phạm cụ thể, vấn đề cần được xem xét đến cả những khía cạnh đặc thù riêng có

Trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Cầu "Đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" (bảo vệ ở Học viện CSND, 2003), tác giả đã khẳng định rằng những đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phòng ngừa loại tội phạm này

Khi nghiên cứu để sử dụng đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tư cách là đặc điểm tội phạm học của một loại tội phạm cụ thể vào công tác phòng ngừa chúng ta không thể không hiểu thế nào là đặc điểm tội phạm học của tội phạm nói chung và đặc điểm tội phạm học của tội phạm cụ thể Chúng ta đều biết rằng, cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm giữ vững ANTT và TTATXH được xem xét tiến hành trên hai phương diện: phòng ngừa ngăn chặn không để xảy ra tội phạm và điều tra xử lí các vụ tội phạm đã xảy ra

Để thực hiện hai nhiệm vụ nói trên đạt kết quả tốt, người ta thường phải xây dựng các phương pháp, biện pháp thích ứng, phù hợp để tiến hành Các phương pháp, biện pháp đó phải được xây dựng dựa trên những căn cứ khoa học nhất định Chẳng hạn, muốn xây dựng phương pháp điều tra tội phạm do ngành khoa học điều tra tội phạm đảm nhiệm và người ta phải dựa trên cơ sở của "đặc điểm hình sự tội phạm", có nghĩa là phải dựa vào những thông tin về phương thức, thủ đoạn thực hiện và che giấu tội phạm, những thông tin đặc trưng về dấu vết, về thời gian địa điểm, động cơ, mục đích thực hiện phạm tội Muốn xây dựng phương pháp phòng ngừa (tác động để hạn chế xóa bỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm) người ta cũng phải dựa vào những thông tin nhất định mà thông qua đó nhận thức được quy luật nảy sinh, tồn tại phát triển và diệt vong của tội phạm Đó là thực trạng, động thái; cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm; nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm; nhân thân người phạm tội chính hệ thống những thông tin đó gọi là "đặc điểm tội phạm học của tội phạm" Khái niệm đặc điểm tội phạm học của tội phạm là một khái niệm khoa học

Trang 12

thuộc chuyên ngành tội phạm học, vừa là bộ phận của phòng ngừa tội phạm và nó làm

cơ sở để xây dựng phương pháp phòng ngừa tội phạm

Như vậy, đặc điểm tội phạm học của tội phạm chính là tập hợp những thông tin đặc trưng, điển hình về tội phạm đang diễn ra, tồn tại trong thực tiễn và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác phòng ngừa tội phạm

Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một loại tội phạm cụ thể Khi xây dựng mô hình đặc điểm tội phạm học của tội phạm

theo dạng này cần phải thỏa mãn hai điều kiện Một là, phải đảm bảo các yếu tố chung nhất của đặc điểm tội phạm học nói chung; hai là, phải phản ánh được tính chất riêng

biệt, đặc thù của loại tội phạm đó nhằm phân biệt nó với các loại tội phạm gần gũi

Đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cũng là tập hợp những thông tin phản ánh các đặc điểm về thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất, thiệt hại của tình hình tội phạm; nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm; nhân thân người phạm tội; những điều kiện hoàn cảnh gây nên sự biến dạng trong nhân cách của các đối tượng phạm tội; yếu tố nạn nhân trong các vụ phạm tội và các điều kiện thuận lợi khác cho tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra

Như vậy so với đặc điểm tội phạm học của tội phạm nói chung thì đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một tập hợp những thông tin tương đối phức tạp và có những nét đặc thù riêng xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của loại tội phạm này Nội dung đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ngoài những yếu tố mang tính chung nhất như đã nêu trên còn có những tính chất đặc thù, riêng biệt thể hiện bằng các chỉ số, số liệu phản ánh về nó trong thực tiễn sẽ được phân tích làm rõ, sâu sắc dưới đây

1.1.2.1 Tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay

* Thực trạng và động thái của tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay

Trang 13

- Để đánh giá tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay, chúng ta không chỉ giới hạn với việc nghiên cứu trong phạm vi những trường hợp bị khởi tố, truy tố và xét xử mà phải có sự so sánh với tình hình các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

đã xảy ra trong thực tế Từ đó mới có sự nhìn nhận đầy đủ về tình hình của loại tội phạm này Sở dĩ có sự đòi hỏi như vậy là do có nhiều nguyên nhân khác nhau đã tạo ra tình trạng tội phạm ẩn của loại tội phạm này như: Do cơ quan chức năng không phát hiện được, người bị hại không trình báo, không đi giám định, không yêu cầu khởi tố đối với những vụ phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 109 BLHS năm 1985 và khoản 1 Điều

104 BLHS năm 1999

Theo số liệu thống kê của Bộ Công an (BCA), từ năm 2001 đến năm 2005, trên toàn quốc xảy ra 26.480 vụ với 53.537 đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích Lực lượng Công an đã khởi tố 21.934 vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, đạt tỷ lệ 82,0% về số vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã xảy ra trên thực tế và 40.153 đối tượng, đạt tỷ lệ 75% về số đối tượng tham gia, trung bình mỗi năm khởi tố điều tra 4.387 vụ và 8.030 đối tượng Như vậy, theo số liệu thống kê nói trên thì trung bình mỗi năm có 18,0% số vụ và 25% số đối tượng chưa đến mức phải xử lí bằng hình sự

Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì từ năm 2001 - 2005

số lượng tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được đưa ra truy tố và xét xử là 18.644 vụ với 33.407 đối tượng, đạt tỷ lệ 85% số vụ và đạt tỷ

lệ 83,2% về số đối tượng mà Cơ quan điều tra (CQĐT) đã khởi tố Nếu so sánh giữa số lượng vụ án mà CQĐT đã khởi tố với số lượng vụ án đã được truy tố xét xử thì tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác còn 15% về số vụ và 16,8% về số đối tượng không bị đưa ra truy tố xét xử Nếu so sánh giữa tổng số vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thực tế đã xảy ra với tổng số các vụ được truy tố, xét xử thì thấy còn 30% về số vụ và 38% về số đối tượng không bị truy tố, xét xử

Nghiên cứu tình hình trên có thể thấy do hai nguyên nhân chính sau:

Trang 14

Một là, trên thực tế các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác xảy ra có những vụ người bị hại không trình báo, cơ quan chức năng không phát hiện được Tuy nhiên, số vụ trên không nhiều, hầu hết các vụ xảy ra đều được cơ quan chức năng ghi nhận nhưng trong quá trình xác minh không đủ yếu tố cấu thành tội phạm hoặc người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định của pháp luật Vì vậy, không thể khởi tố điều tra, truy tố và xét xử được

Hai là, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

khác là tội phạm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại Khi có dấu hiệu của tội phạm xảy ra kết hợp với đơn yêu cầu của người bị hại thì CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án Nhưng sau đó vì nhiều lí do khác nhau nên người bị hại lại rút đơn yêu cầu, thậm chí từ chối giám định, do vậy CQĐT buộc phải đình chỉ điều tra vụ án mặc dù đó là một vụ phạm tội hoàn chỉnh nhưng lại không được đưa ra truy tố xét xử

Như vậy để đánh giá đúng với tình hình tội phạm này, chúng ta không thể chỉ nghiên cứu trong phạm vi số liệu của cơ quan truy tố, xét xử mà phải đặt sự phân tích số liệu này trong sự so sánh với các số liệu của CQĐT, cũng như phải đặt trong sự so sánh với các số liệu thực tế các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã xảy ra thì mới đảm bảo tính xác thực trong nghiên cứu

- Theo số liệu thống kê của BCA từ 2001 - 2005 toàn quốc khởi tố 21.934 vụ với 40.153 đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Số liệu cụ thể hàng năm tăng giảm như sau:

Năm 2001 khởi tố 3.495 vụ (6.015 đối tượng); năm 2002 khởi tố 5.158 vụ (9.397 đối tượng) tăng 14,7% số vụ và tăng 15,6% số đối tượng so với năm 2001; năm

2003 khởi tố 4.968 vụ (8.473 đối tượng) giảm 4% số vụ và giảm 10% số đối tượng so với năm 2002; năm 2004 khởi tố 4.180 vụ (8.017 đối tượng) giảm 16% số vụ và giảm 6% số đối tượng so với năm 2003; năm 2005 khởi tố 4.133 vụ (8.251 đối tượng) giảm 2% số vụ và tăng 2% số đối tượng so với năm 2004

Với những số liệu phân tích trên đây cho thấy, tỷ lệ tăng giảm của tội phạm cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 2001 đến năm

2005 là không đều, trong đó năm 2001 là năm thấp nhất, năm 2002 là năm cao nhất sau

Trang 15

đó có xu hướng giảm dần Nếu lấy năm 2002 làm gốc thì sau 4 năm (đến năm 2005) tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác giảm 1,24 lần

* Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay

 Về cơ cấu

Tỷ trọng trung bình 5 năm (2001 - 2005) giữa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với các loại tội phạm khác là 21.934/ 180.841 vụ đạt tỷ lệ 12% về số vụ và 40.153/265.349 đối tượng đạt tỷ lệ 15% về số đối tượng Đây

là tỷ lệ khá cao so với các loại tội phạm khác trong cơ cấu chung của tội phạm

Tội phạm có sử dụng bạo lực là một nhóm tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự mà quá trình thực hiện hành vi phạm tội người phạm tội sử dụng sức mạnh thể chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên người bị hại để từ đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, phẩm giá hay tài sản, tinh thần của người bị hại một cách trái pháp luật Khi nói đến tội phạm có sử dụng bạo lực các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạt động thực tiễn thường đưa ra năm loại tội phạm sau đây: giết người, cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, hiếp dâm, cố ý gây thương tích Tiến hành so sánh tội phạm cố ý gây thương tích với bốn loại tội phạm còn lại chúng ta thấy cơ cấu của tội phạm cố ý gây thương tích chiếm tỷ lệ cao trong nhóm tội phạm này

Theo số liệu thống kê của BCA trong 5 năm (2001 - 2005) toàn quốc xảy ra 42.765 vụ (gồm 5 loại tội phạm có sử dụng bạo lực) trong đó tội phạm cố ý gây thương tích là cao nhất, xảy ra 21.934 vụ chiếm tỷ lệ 51,3%

Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

có thể xảy ra ở mọi thời gian và không gian khác nhau song qua tổng kết thực tiễn cho thấy tội phạm này xảy ra tập trung chủ yếu ở các đô thị, các thành phố, thị xã, các tỉnh đồng bằng còn các vùng nông thôn, các tỉnh miền núi, trung du ít xảy ra hơn Tội phạm

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể xảy ra ở trong nhà và ở ngoài địa bàn công cộng (trên đường, khu vực công cộng đông người) song tỷ lệ các vụ phạm tội xảy ra ở địa bàn công cộng cao hơn các vụ phạm tội xảy ra ở trong nhà

Trang 16

Thời gian và địa điểm gây án của loại tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phụ thuộc vào dạng tồn tại mâu thuẫn và nguyên nhân tồn tại mâu thuẫn giữa đối tượng gây án và nạn nhân Thông thường trong thực tế các vụ án xảy ra do mâu thuẫn bột phát giữa đối tượng và nạn nhân thì thời gian và địa điểm gây án gắn liền với thời gian và địa điểm phát sinh mâu thuẫn Trong trường hợp này đối tượng không có sự tính toán, chuẩn bị trước Do đó có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc, trong nhà, ngoài đường, nơi công cộng có thể nói nơi nào có sự va chạm xung đột xảy ra thì nơi đó xảy ra tội phạm cố ý gây thương tích Đối với những vụ gây thương tích mà giữa đối tượng và nạn nhân có mâu thuẫn từ trước, đối tượng có sự chuẩn bị trước thì thời gian và địa điểm gây án phụ thuộc vào ý thức chung của kẻ phạm tội Trong thực tế thủ phạm thường chọn thời gian thích hợp để tấn công nạn nhân hoặc bí mật dùng một lí do hợp lý nào đó điều nạn nhân đến một địa điểm mà chúng đã chuẩn

bị để gây án, hoặc phục sẵn ở một nơi nào đó trên đường đi lại của nạn nhân rồi tấn công gây án một cách bất ngờ

 Về tính chất

- Qua nghiên cứu về số vụ và số người phạm tội thể hiện qua các năm như sau: Năm 2001 toàn quốc khởi tố 3.495 vụ với 6.015 đối tượng, trung bình mỗi vụ có 1,72 đối tượng; năm 2002 toàn quốc khởi tố 5.158 vụ với 9.397 đối tượng, trung bình mỗi vụ có 1,82 đối tượng; năm 2003 toàn quốc khởi tố 4.968 vụ với 8.473 đối tượng, trung bình mỗi

vụ có 1,7 đối tượng; năm 2004 toàn quốc khởi tố 4.180 vụ với 8.017 đối tượng, trung bình mỗi vụ có 1,91 đối tượng; năm 2005 toàn quốc khởi tố 4.133 vụ với 8.251 đối tượng, trung bình mỗi vụ có 1,99 đối tượng Qua số liệu trên ta thấy, số người phạm tội trong mỗi vụ án qua hàng năm có sự tăng, giảm khác nhau nhưng nhìn chung là có xu hướng tăng Nếu lấy năm 2001 làm gốc thì đến năm 2005 tăng trung bình 0,27 đối tượng trên 1 vụ Như vậy, xu hướng phạm tội có đồng phạm tăng lên

- Xu hướng sử dụng vũ khí để gây án trở nên phổ biến trong tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Là một dạng tội phạm có tính chất bạo lực, đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích không chỉ dùng sức mạnh thể xác để tấn công nạn nhân mà còn sử dụng vũ khí để tấn công Trong thực tế vũ khí mà người phạm tội sử dụng khá phong phú, đa dạng nhưng phổ biến vẫn là dao, lưỡi lê, côn

Trang 17

gỗ, gậy, gạch đá; số vụ sử dụng axit hoặc súng đạn thuốc nổ chiếm tỷ lệ rất ít Điều đáng chú ý là các vụ phạm tội cố ý gây thương tích có tổ chức (đồng phạm) thì hầu hết người phạm tội đều sử dụng vũ khí, chính vì vậy hậu quả các vụ phạm tội có tổ chức thường rất nghiêm trọng

- Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ngày càng nghiêm trọng hơn thông qua hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây

ra và mức án phạt đối với người phạm tội Theo phân tích của Cục quản lí trại giam BCA thì những năm gần đây số người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có mức án nghiêm trọng của năm sau cao hơn năm trước

Qua nghiên cứu, phân tích về thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất của tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay chúng ta rút ra một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất: Tỷ lệ tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác chiếm 12% số vụ và 15% về số đối tượng so với tổng số vụ phạm pháp hình sự xảy ra và chiếm 51,3% tổng số tội phạm sử dụng bạo lực Số vụ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ được truy tố xét xử đến 70% về số vụ còn lại 30% không bị khởi tố điều tra và truy tố xét xử

Thứ hai: Số vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

khác tăng giảm thất thường nhưng có xu hướng giảm

Thứ ba: Số vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

khác xảy ra ở các thành phố, thị xã, ở vùng đồng bằng cao hơn ở các huyện, ở các vùng miền núi

Thứ tư: Xu hướng phạm tội có đồng phạm tăng lên rõ nét, xuất hiện nạn đại ca,

đầu gấu, đâm thuê chém mướn, bảo kê và hậu quả do tội phạm gây ra ngày một nghiêm trọng hơn, đặc biệt ở địa bàn thành phố

Tựu chung lại, đây là loại tội phạm có diễn biến phức tạp, tính chất và mức độ phạm tội của một số vụ án rất nghiêm trọng, thủ đoạn hết sức tinh vi nguy hiểm trắng trợn thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác

Trang 18

1.1.2.2 Đặc điểm nhân thân của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- Đặc điểm về giới tính

Đa số người phạm tội ở nước ta cũng như ở trên thế giới đều là nam giới, tỷ lệ

nữ giới rất ít Do cấu trúc tâm sinh lí của phụ nữ và vai trò của họ trong xã hội thì người phụ nữ chỉ thích hợp với những công việc có tính chất nhẹ nhàng, khả năng thực hiện tội phạm của phụ nữ là rất hạn chế Theo thống kê của BCA từ năm 2001 - 2005 trên toàn quốc số nữ giới phạm tội là 373 người chiếm tỷ lệ 9,28% Số nam giới phạm tội là 39.780 người chiếm 90,72%

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một loại tội phạm có sử dụng bạo lực cho nên tỷ lệ phụ nữ phạm tội lại càng thấp Theo thống kê của các cơ quan bảo vệ pháp luật thì tỷ lệ phụ nữ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chiếm tỷ lệ 4,57% so với tỷ lệ phụ nữ phạm các tội khác như lừa đảo, trộm cắp, ma túy là thấp hơn nhiều Tuy nhiên trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì phụ nữ phạm tội lại đang

có xu hướng tăng lên, đây là một vấn đề cần phải chú ý trong công tác phòng ngừa

Trong các vụ phạm tội có phụ nữ tham gia thì hầu hết các mâu thuẫn phát sinh đều từ phụ nữ, họ thường là người châm ngòi cho các cuộc xung đột xảy ra, khi thực hiện phạm tội họ thường là người đóng vai trò giúp sức và kéo theo họ hàng người thân phạm tội Những vụ mà phụ nữ trực tiếp phạm tội thường là xuất phát từ mâu thuẫn tình

ái và họ thường dùng axit làm vũ khí để tấn công gây hậu quả hết sức nghiêm trọng

- Đặc điểm về độ tuổi

Căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lí của con người, căn cứ vào chính sách hình

sự đối với người phạm tội, chúng ta có thể chia làm ba mức để khảo sát cụ thể như sau: dưới 18 tuổi, từ 18 tuổi đến 30 tuổi, trên 30 tuổi

Qua khảo sát thực tế từ năm 2001 - 2005 thì người có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chiếm tỷ lệ cao nhất có 23.738 người chiếm 59,12% Cơ sở của vấn đề trên là do đa số người phạm tội ở độ tuổi này chưa có kinh nghiệm sống nên khi có sự tác động tiêu cực từ môi

Trang 19

trường sống sẽ hình thành nhân cách không hoàn thiện Trong độ tuổi này suy nghĩ của

họ chưa chín chắn, chưa biết kiềm chế trước các mâu thuẫn kết hợp với sự phát triển thể lực trong độ tuổi này rất sung sức, do vậy thường giải quyết các mâu thuẫn bằng vũ lực

Tỷ lệ vị thành niên phạm tội có vị trí thứ hai, có 8.721 người chiếm 21,72% Trong thực

tế hành vi phạm tội ở lứa tuổi này thường táo bạo, liều lĩnh, hầu hết các vụ phạm tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do người vị thành niên gây ra đều có sử dụng vũ khí lạnh như dao, lê do vậy hậu quả thường rất nghiêm trọng Số người trên 30 tuổi phạm tội ít nhất, có 7.694 người chiếm tỷ lệ 19,6%

- Đặc điểm về trình độ văn hóa

Qua nghiên cứu báo cáo tổng kết của các cơ quan chức năng thì trình độ văn hóa của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhìn chung là thấp, người phạm tội có trình độ văn hóa cấp 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 57,5%, tiếp đến là số người có trình độ văn hóa cấp 1 trở xuống chiếm tỷ lệ 34,58%, số người có trình độ văn hoa cấp 3 trở lên là 7,92% Qua đó cho thấy, đa số các đối tượng

có trình độ văn hóa cấp 2 trở xuống thường phạm tội này Việc này cũng đồng nghĩa với việc trình độ văn hóa thấp ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức và hành động của cá nhân người phạm tội Vì vậy, nâng cao trình độ văn hóa cho mọi người trong xã hội là nội dung rất quan trọng trong phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- Đặc điểm về tiền án, tiền sự

Qua khảo sát 5 năm (2001 - 2005) số đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích

có tiền án, tiền sự là 3.706 người chiếm 9,23% Số người chưa có tiền án, tiền sự phạm tội là 36.447 chiếm 90,77%

- Đặc điểm về hoàn cảnh gia đình của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một con người cụ thể thường gắn liền với gia đình Quan hệ gia đình và sự thay đổi của quan hệ này thường tác động không nhỏ tới việc hình thành nhân cách của các thành viên Trong các gia

Trang 20

- Đặc điểm về địa vị xã hội và nghề nghiệp của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Là rất đa dạng và khác nhau, những đối tượng không có nghề nghiệp, không được đào tạo nghề gì để kiếm sống, không có việc làm hoặc không có việc làm ổn định, là học sinh đã bỏ học lêu lổng chơi bời với bạn bè xấu chiếm tỷ lệ cao có 33.275 người chiếm 82,87% Các đối tượng khác như nông dân, người có nghề nghiệp ổn định chiếm

tỷ lệ thấp có 6.878 người chiếm 17,13% Xuất phát từ đặc điểm này cần tập trung khắc phục tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm tạo điều kiện để mọi công dân có việc làm và

Trang 21

Động cơ của đối tượng phạm tội trong các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chính là nhằm giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong các hoạt động xã hội, trong gia đình, trong quan hệ làm ăn Có thể là do mâu thuẫn thù tức trong nội bộ nhân dân đã kéo dài từ lâu không được giải quyết dứt điểm dẫn đến xung đột ngày càng tăng tới lúc bùng nổ bằng vụ cố ý gây thương tích Mâu thuẫn xung đột này có thể xảy ra trong phạm vi làng xóm, họ hàng, trong gia tộc, trong quan hệ vợ chồng, quan hệ nam nữ tình ái, mâu thuẫn về kinh tế trong làm ăn, tranh chấp đất đai, tài sản Tuy nhiên, nhiều trường hợp chỉ do mâu thuẫn nhỏ, nhưng do nhận thức hiểu biết về cuộc sống và pháp luật quá non kém nên dẫn đến hành vi phạm tội

Ngoài ra, tội phạm cố ý gây thương tích còn do xung đột mang tính chất bột phát nhất thời ở đây thủ phạm và nạn nhân thường là nam thanh niên mới lớn, thái độ

xử sự thiếu chín chắn nông nổi và hung hãn Hầu hết các vụ này thường là do sự xô xát

từ hai phía, ở một thời điểm ngắn do bực tức nhất thời vì một lí do đơn giản như va chạm xe cộ trên đường, nói khích nhau trong quán rượu bia, tranh giành nhau bán hàng ở dạng gây thương tích do xung đột mang tính tình huống cần phải nói là một phần nguyên nhân xuất phát từ phía người bị hại Do bản thân họ chưa có cách xử sự tế nhị và khi gặp phải đối tượng là những tên côn đồ hung hãn thì lập tức có thể xảy ra ẩu

đả dẫn đến gây thương tích thậm chí dẫn đến chết người Qua phân tích các vụ phạm tội

cố ý gây thương tích từ năm 2001 đến năm 2005 cho thấy số vụ phạm tội do mâu thuẫn

từ trước có 11.778 vụ chiếm tỷ lệ 53,7%; số vụ do mâu thuẫn bột phát có 10.156 vụ chiếm tỷ lệ 46,3%

Qua phân tích các vụ phạm tội cố ý gây thương tích từ năm 2001 đến năm 2005 cho thấy những vụ phạm tội do mâu thuẫn từ trước chiếm tỷ lệ 53,7%; số vụ phạm tội

do mâu thuẫn bột phát chiếm tỷ lệ 46,3%

Một dạng của động cơ phạm tội cố ý gây thương tích nữa là do côn đồ càn quấy Người phạm tội ở đây là những kẻ có bản tính hung hãn, thiếu hiểu biết, coi thường pháp luật, coi thường nguyên tắc sống, đạo đức xã hội Chúng sẵn sàng làm những gì mà chúng thấy thích, nên khi có ai cản trở hoặc không thực hiện theo yêu cầu của chúng là lập tức chúng đánh đập chửi bới Đa phần tội phạm này là những thanh

Trang 22

niên ở lứa tuổi từ 18 đến 30 có trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết, thiếu sự giáo dục của gia đình, không có việc làm ổn định Nhiều trường hợp đặc biệt đối tượng gây thương tích cho người khác chỉ vì tức giận, chán đời hay giận dữ một ai đó mà chúng gây thương tích cho người khác để thỏa mãn sự tức giận và tính côn đồ của chúng

Cá biệt có trường hợp gây thương tích do mê tín Những vụ án này thường xảy

ra phổ biến ở các tỉnh miền núi, miền sâu, miền xa, nơi mà trình độ văn hóa thấp, các tập tục lạc hậu mê tín dị đoan chưa thể xóa bỏ được Khi những rủi ro bệnh tật xảy ra ở địa phương người ta không đủ hiểu biết để giải thích bằng cơ sở khoa học mà tất cả được thầy

mo, thầy bói phán là do Giàng, do Ma, vì vậy mà người ta đã đưa một ai ra để hành hạ đánh đập gây thương tích có khi đến chết người để trừ tà, đuổi ma, làm giảm cơn tức giận của Giàng

Mục đích của đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người có mâu thuẫn với chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu được trả thù, được giải quyết các mâu thuẫn bằng bạo lực Tuy nhiên cũng có trường hợp mục đích này lại không chỉ nhằm vào những người có mâu thuẫn với chúng mà còn nhằm vào những người thân của họ như bố mẹ, anh chị em, con cái

- Các đặc điểm đạo đức tâm lí của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Đây là những đặc điểm quan trọng không thể thiếu được trong tập hợp các đặc điểm, dấu hiệu của nhân thân người phạm tội Khi nghiên cứu đặc điểm này cho thấy: Người phạm tội cố ý gây thương tích thường thích chơi những trò chơi phiêu lưu mạo hiểm, hoặc những hoạt động có tính chất mạnh mẽ, thích tụ tập nơi đông người, nơi công cộng Cụ thể như thích xem bóng đá hoặc tụ tập đá bóng hoặc hâm mộ những môn

võ thuật, thích và thường xuyên xem các phim ảnh bạo lực hoặc phim tình dục, thích chơi cờ bạc, uống rượu bia hút thuốc lá Phần lớn những người phạm tội cố ý gây thương tích thường có thái độ coi thường mọi người, coi thường các quy định của xã hội, không chịu tuân thủ hoặc tuân thủ rất kém các quy tắc xử sự của cộng đồng Nhiều kết quả nghiên cứu tâm lí học gần đây cho rằng, các đối tượng phạm tội có tính chất bạo

Trang 23

lực thường có tâm lí thuộc dạng tính khí cương, dễ nóng nảy, hay gây gổ hoặc thích chơi trội Vì vậy, họ hay coi thường tính mạng của mọi người trong xã hội, coi thường đạo đức luân lí Từ những đặc điểm tiêu cực trên đây dẫn đến hành động bất chấp đạo đức, bất chấp pháp luật và tạo ra các hành vi vi phạm pháp luật từ nhỏ đến lớn

- Những yếu tố làm lệch chuẩn nhân cách của người phạm tội

+ Trước hết, môi trường giáo dục của gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người Các yếu tố tiêu cực trong gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách của lớp trẻ, những thói hư tật xấu của bố mẹ và các thành viên trong gia đình như các hành vi độc

ác, gian dối, các thói quen rượu chè cờ bạc, nghiện hút, đĩ điếm hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác là những yếu tố tác động tiêu cực đến tâm hồn trẻ Cũng trong nhóm nguyên nhân từ phía gia đình là việc buông lỏng quản lí, giáo dục của bố mẹ Trong những năm qua, do bị cuốn hút vào hoạt động kinh tế thị trường, mải mê làm ăn nên nhiều gia đình đã khoán trắng việc giáo dục con cái cho nhà trường Một bộ phận gia đình kinh tế khó khăn không đủ sức lo cho con cái học hành nên buộc con cái phải nghỉ học để làm kinh tế, từ đó dẫn đến các em chơi bời lêu lổng hư hỏng và phạm tội

Ngoài ra, những yếu tố khác về phía gia đình như là những tàn dư lạc hậu, các phong tục tập quán, các hủ tục lạc hậu đã ăn sâu bám rễ vào một bộ phận gia đình khó thay đổi Thể hiện rõ nhất là tâm lí tư hữu, thói tham lam ích kỷ, thói vô ý thức tổ chức, coi thường pháp luật Một số gia đình bố mẹ ly hôn làm mất điểm tựa về tinh thần, nơi gửi gắm tình thương yêu, chăm sóc và giáo dục của các em bị sụp đổ, các em luôn sống trong không khí buồn tẻ, thậm chí tức tối, thù hận và lao vào con đường phạm tội

Điều kiện hoàn cảnh kinh tế của gia đình và phương pháp giáo dục con cái cũng

có ảnh hưởng không nhỏ Hầu hết các gia đình đông con, kinh tế gặp khó khăn thì ít quan tâm đến việc giáo dục con cái, những gia đình ít con thì nuông chiều quá đáng, thậm chí còn che giấu, chạy tội cho những vi phạm pháp luật của con em mình

Từ những phân tích trên cho thấy, môi trường gia đình đóng một vai trò hết sức quan trọng, chính vì vậy việc nâng cao trách nhiệm của gia đình là một trong những giải pháp làm giảm tội phạm cố ý gây thương tích

Trang 24

+ Giáo dục trong nhà trường

Nhà trường cũng là môi trường quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người, có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhà trường mới chỉ chú trọng chức năng cung cấp tri thức về mặt sách

vở cho học sinh, còn việc giáo dục đạo đức nhân cách, đặc biệt là công tác quản lí học sinh còn rất hình thức và chiếu lệ Các tiêu cực trong việc thi cử diễn ra khá nghiêm trọng, hiện tượng dạy thêm, học thêm kèm theo chi phí tốn kém cho phụ huynh kéo dài nhiều năm nhưng chưa được khắc phục Những tiêu cực đó tác động hàng ngày, hàng giờ vào học sinh làm cho ý thức tư tưởng học sinh bị hoen bẩn Tình trạng học sinh bỏ học, trốn học đi chơi lang thang diễn ra ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực nông thôn do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn Đây không chỉ là nguy cơ xuất hiện một thế hệ thất học mà còn là sự bổ sung vào đội quân vi phạm pháp luật trong đó có hành vi cố ý gây thương tích Theo kết quả điều tra thì phần lớn đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích

có trình độ văn hóa từ cấp 2 trở xuống Chính vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường là một trong những biện pháp để phòng ngừa vi phạm và tội phạm, trong đó có hành vi cố ý gây thương tích

+ Đối với môi trường xã hội

Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, con người chỉ có thể phát triển trong quan hệ xã hội nhất định và chính mối quan hệ xã hội có tác động sâu sắc đến quá trình phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Môi trường giáo dục xã hội ở đây chính là sự tác động của các tổ chức đoàn thể, quần chúng, của tổ chức xã hội, của cộng đồng dân cư đến cá nhân Trong những năm qua, dưới sự tác động của cơ chế thị trường các tổ chức đoàn thể, quần chúng thực sự lúng túng trong nội dung và hình thức hoạt động của mình Nhìn chung các tổ chức xã hội chưa thu hút được các thành viên tham gia sinh hoạt, một số thành viên của tổ chức có biểu hiện vi phạm nhưng không được phát hiện uốn nắn kịp thời dẫn đến phạm tội

Công tác giáo dục con người từ phía dư luận xã hội của cộng đồng trong thời gian qua ít phát huy tác dụng, các hành vi vi phạm chưa được mọi người trong cộng đồng, xã hội lên án gay gắt Một bộ phận quần chúng thờ ơ với các vi phạm, thậm chí có

Trang 25

những khu vực dân cư phức tạp về trật tự xã hội nhưng dân cư sống ở đó coi việc hoạt động của tội phạm như một sự tất yếu Rõ ràng những môi trường như vậy không thể có tính giáo dục đối với những thành viên sống trong môi trường đó

1.1.2.3 Nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở nước ta hiện nay

Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực nhưng từ khi xã hội loài người tồn tại và phát triển đến nay thì xã hội nào cũng có tội phạm và tội phạm luôn tồn tại Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì tội phạm luôn tồn tại chỉ đến xã hội cộng sản chủ nghĩa thì tội phạm mới không còn Vậy tại sao lại có vấn đề này, vì có nguyên nhân

và điều kiện làm nảy sinh tội phạm

Để có những giải pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa phát hiện, ngăn chặn hạn chế tội phạm trong đời sống xã hội cần thiết phải biết được: Vì đâu sinh ra tội phạm và nuôi dưỡng cho tình hình tội phạm tồn tại và phát triển như hiện nay Điều đó có nghĩa là phát hiện làm rõ những nguyên nhân điều kiện của tình hình tội phạm, cơ chế tác động của nó

làm phát sinh phát triển tội phạm

Đối với tội phạm cụ thể thì nguyên nhân của nó là những đặc điểm tâm lí xã hội tiêu cực hình thành nên động cơ thúc đẩy một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội Điều kiện của tội phạm cụ thể là những yếu tố xã hội lệch chuẩn mực xã hội cùng với các yếu tố tạo thuận lợi cho thực hiện hành vi phạm tội của người đó Các điều kiện làm biến dạng nhân cách, làm xuất hiện những nhu cầu, lợi ích lệch chuẩn mực xã hội của một đối tượng luôn được coi là những nguyên nhân và điều kiện quan trọng nhất để dẫn đến hành vi phạm tội Thông thường những yếu tố gây biến dạng nhân cách thường gặp trong những môi trường gia đình, môi trường nơi làm việc và sinh sống, môi trường nhà trường, những ảnh hưởng thiếu sót trong công tác quản lí xã hội, ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm cố ý gây thương tích chính là toàn

bộ những hiện tượng, quá trình xã hội tiêu cực làm phát sinh tình hình tội phạm này Nghiên cứu vấn đề trên với tư cách là một nội dung của đặc điểm tội phạm học tội phạm cố

ý gây thương tích trên phạm vi cả nước là chúng ta nghiên cứu vấn đề trên phương diện lí

Trang 26

luận để có một nhận thức tổng quát từ đó làm căn cứ để xây dựng các biện pháp phòng ngừa Qua nghiên cứu rút ra nhóm những nguyên nhân và điều kiện sau:

- Những nguyên nhân và điều kiện về kinh tế - xã hội

+ Tình trạng thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao chưa có biện pháp khắc phục hữu hiệu, đây là một trong những vấn đề nổi cộm nhất của

xã hội Chính nạn thất nghiệp và thiếu việc làm diễn ra triền miên nên một bộ phận không nhỏ trong nhân dân phải bỏ quê hương, bỏ ruộng vườn lên thành thị để làm ăn với nhiều cách thức khác nhau Tình trạng hình thành các chợ mua bán sức lao động hoặc các dịch vụ làm thuê rất tự do và thiếu quản lý, các hiện tượng tranh công, tranh việc, tranh giành lợi ích hoặc va chạm trong sinh hoạt nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn Trong khi đó các cơ quan chức năng hoặc tổ chức xã hội chưa đứng ra hướng dẫn, quản lí vì vậy con đường giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực là điều dễ xảy ra Như vậy vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động đang là một bài toán khó cho công tác quản lí xã hội, chỉ trên cơ sở giải quyết việc làm cho người lao động mới giải quyết được nguyên nhân cơ bản của tội phạm trong đó có tội phạm cố ý gây thương tích

+ Nền kinh tế thị trường với quy luật cạnh tranh khốc liệt trong sản xuất, kinh doanh, buôn bán dẫn đến một số xí nghiệp, cơ sở sản xuất phá sản mâu thuẫn trong làm

ăn, buôn bán cũng không ngừng gia tăng Các hiện tượng lừa đảo, vay mượn, nợ nần kéo dài dẫn đến bức xúc nhưng không được cơ quan nhà nước giải quyết kịp thời hoặc giải quyết không thỏa đáng dẫn đến tình trạng giải quyết mâu thuẫn bằng "luật rừng" cũng là một trong những tác nhân làm gia tăng tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

+ Sự phân hóa giàu nghèo, sự khác biệt ngày càng xa giữa nông thôn và thành thị trong những năm qua đã tạo nên những nghịch cảnh, những chênh lệch quá đáng trong thu nhập và mức sống Từ sự phân hóa giàu nghèo dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích kinh tế trong

xã hội, xuất hiện những luồng tư tưởng chống đối lại sự đối kháng lợi ích kinh tế của bộ phận này với bộ phận khác trong xã hội Mặt khác, sự phân hóa giàu nghèo còn làm nảy sinh tư tưởng khinh người, coi thường đạo lý của những kẻ giàu sang, đồng thời xuất hiện

tư tưởng tự ti an phận của những người nghèo nàn Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao

Trang 27

thì mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội ngày càng lớn đó như là một hệ quả tất yếu Đây thực

sự là một tiền đề mang tính cơ bản và ý nghĩa sâu xa dẫn đến tình hình tội phạm nói chung

và tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng

+ Mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm xói mòn đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là lớp trẻ Lối sống thực dụng buông thả, ích

kỷ, xa hoa trụy lạc đã lấn át một phần những truyền thống giá trị đạo đức của dân tộc Từ

đó một bộ phận dân cư mà số đông là thanh niên, thiếu niên xuất hiện các hành vi chống đối xã hội Những lệch chuẩn trong đạo đức xã hội đã hình thành trong bản thân họ lúc còn nhỏ Khi có những điều kiện nhất định sẽ nảy sinh hành vi phạm tội, trong đó có tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

+ Trong những năm qua tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp Đặc biệt là tệ nạn ma túy, mại dâm, cờ bạc đang là vấn đề nhức nhối, là mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội Thực tiễn ở nước ta đã chứng minh rằng, tệ nạn

xã hội luôn luôn là sân sau của tội phạm, bổ sung cho tội phạm Để có tiền hoạt động tệ nạn, các đối tượng có thể làm bất cứ tội ác nào như giết người, đâm thuê chém mướn Ngay trong chính đối tượng hoạt động tệ nạn xã hội cũng nảy sinh các mâu thuẫn như: mâu thuẫn trong lợi ích kinh tế do đánh bạc; mâu thuẫn trong việc dẫn dắt, môi giới, bảo

kê gái mại dâm; mâu thuẫn tranh chấp trong việc mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến hành vi phạm tội cố ý gây thương tích Như vậy có thể khẳng định tệ nạn xã hội vừa là bạn đồng hành, có quan hệ mật thiết với tội phạm, chúng thúc đẩy lẫn nhau

và cùng tồn tại phát triển Việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng phải được tiến hành động thời với việc bài trừ các

tệ nạn xã hội

+ Trong nền kinh tế mở cửa, sự giao lưu quốc tế về kinh tế, văn hóa thông tin ngày càng mở rộng Những năm qua, các sản phẩm văn hóa như băng hình, tranh ảnh, sách báo, băng nhạc có nội dung kích động bạo lực và kích động tình dục được nhập lậu vào nước ta khá nhiều Những cảnh trả thù rửa hận bằng bạo lực hết sức rùng rợn đã thấm dần vào ý thức các thanh thiếu niên Gần đây xuất hiện các trò chơi điện tử kích động bạo lực hoặc các hình ảnh kích thích tình dục, kích thích bạo lực trên mạng Internet càng làm cho tư tưởng sùng bái bạo lực nghiêm trọng hơn Đây là những văn

Trang 28

hóa phẩm độc hại có ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến sự lệch chuẩn trong nhân cách người phạm tội cần phải được ngăn chặn bài trừ

- Những nguyên nhân và điều kiện về tổ chức quản lý xã hội

+ Trước hết là những thiếu sót của các cơ quan chức năng, chưa thực sự coi trọng việc phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn trong quần chúng nhân dân Hoặc giải quyết mâu thuẫn không kịp thời, không triệt để, không dứt điểm dẫn đến mâu thuẫn âm ỉ kéo dài và bùng nổ thành xung đột bạo lực

+ Chất lượng các phong trào quần chúng ở cơ sở như: Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phong trào xây dựng nếp sống văn hóa ở khu dân cư, phong trào toàn dân cảm hóa giáo dục giúp đỡ người lầm lỡ ở khu dân cư còn thấp, nặng về hình thức và phát động theo thời vụ Chính từ chất lượng các phong trào thấp nên đã có một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân có thái độ bàng quan, thiếu trách nhiệm trước những vụ việc xâm phạm tính mạng và sức khỏe của người khác Tình trạng những người xung quanh chỉ đứng xem không tự giác can ngăn các hành vi đánh đập người khác cũng là một yếu tố làm cho tội phạm cố ý gây thương tích phát triển

+ Công tác quản lí hộ khẩu, nhân khẩu, quản lí các đối tượng có biểu hiện càn quấy, côn đồ ở các địa bàn dân cư của các cấp chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa thường xuyên và thiếu chặt chẽ, đặc biệt là các đối tượng di dân tự do từ nơi này đến nơi khác, từ nông thôn lên thành thị làm ăn sinh sống nhưng chính quyền sở tại không quản lí được Chính vì vậy mà nhiều đối tượng hoạt động càn quấy, côn đồ xâm phạm nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân nhưng không bị bắt giữ

Trang 29

được quan tâm Điều này thể hiện qua việc rất ít các cơ quan tổ chức sơ, tổng kết các chuyên đề về loại tội phạm này Việc điều tra xử lí còn chậm, số vụ án không bị khởi tố, truy tố, xét xử còn cao Nhiều vụ án được điều tra khá công phu nhưng việc truy tố xét

xử không thấu tình đạt lí nên đã phần nào tác động làm cho quần chúng nhân dân mất lòng tin, không tích cực tham gia vào việc phát hiện ngăn chặn tội phạm cố ý gây thương tích

- Những nguyên nhân về tâm lí xã hội và giáo dục

Chúng ta biết rằng, mỗi con người là một thực thể tự nhiên - xã hội luôn luôn chịu sự tác động chi phối của các nhân tố hoàn cảnh, môi trường xã hội Đây là các yếu

tố thuộc khách quan, tác động vào tất cả các thành viên trong xã hội Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người bị sự tác động tiêu cực của môi trường đều dẫn đến các hành vi cố

ý gây thương tích mà phải phụ thuộc vào từng con người cụ thể Có thể khẳng định yếu

tố chủ quan của từng con người là nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân bên trong có tính quyết định, đó là tổng hợp các yếu tố như tâm sinh lí, ý thức, tư tưởng, tình cảm của con người Như vậy, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội cố ý gây thương tích là

do lệch chuẩn trong nhân cách của người phạm tội Sự lệch chuẩn trong nhân cách của người phạm tội được bắt nguồn chính từ môi trường hẹp (gia đình, nhà trường và môi trường xã hội nơi người phạm tội sinh sống) Việc lệch chuẩn trong nhân cách của người phạm tội xuất hiện từ rất sớm, có thể nói chúng bắt đầu từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành Đây là giai đoạn quan trọng nhất mà chúng ta cần quan tâm đến việc phòng ngừa sớm đối với tội cố ý gây thương tích

Tóm lại, các nguyên nhân của tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau Đó là sự tác động qua lại giữa các yếu tố bên ngoài (khách quan) với các yếu

tố bên trong (chủ quan) của người phạm tội Cơ chế làm xuất hiện các vụ phạm tội cố ý gây thương tích thường đi theo trình tự: có mâu thuẫn, kết hợp với người thiếu văn hóa, thiếu nhận thức và sự can thiệp từ phía các cơ quan nhà nước không kịp thời thì có thể dẫn tới xảy ra các vụ phạm tội cố ý gây thương tích Chính vì vậy, khi chú ý đến yếu tố tâm lí giáo dục với tư cách là yếu tố bên trong thì đồng thời cũng phải xem xét tất cả các

Trang 30

1.2.1 Khái niệm hoạt động phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đối với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Những tư tưởng về sự cần thiết phải phòng ngừa tội phạm đã xuất hiện ngay từ những giai đoạn đầu tiên của nền văn minh loài người Kế thừa và tiếp tục phát triển những quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với xây dựng lí luận phòng ngừa tội phạm, trải qua quá trình phát triển cho đến nay về

cơ bản chúng ta đã xây dựng được một lí luận phòng ngừa tội phạm như là một tổ hợp tri thức khoa học về một lĩnh vực đặc biệt quản lí các quan hệ xã hội Phòng ngừa tội phạm là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề phòng ngừa tội phạm và thực trạng phạm tội Đấu tranh chống thực trạng phạm tội được tiến hành theo nguyên tắc: nhanh chóng phát hiện tội phạm trừng trị và cải tạo người phạm tội, hình thành phản ứng tích cực của xã hội đối với tội phạm Việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng là một hình thức phòng ngừa tội phạm, người phạm tội phải bị truy tố xét xử và chịu hình phạt Việc áp dụng hình phạt có ý nghĩa phòng ngừa là không để xảy ra tội phạm mới Phòng ngừa tội phạm còn được thể hiện ở việc cải thiện các điều kiện xã hội, loại trừ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, làm xuất hiện các điều kiện tích cực cho quá trình hình thành nhân cách của con người mới

Phòng ngừa tội phạm đòi hỏi phải nghiên cứu, xử lí các vấn đề về thực trạng phạm tội, nguyên nhân điều kiện của thực trạng phạm tội và nhân thân người phạm tội Mục đích cuối cùng của phòng ngừa tội phạm là tìm ra biện pháp ngăn chặn tình trạng phạm tội trong xã hội, không cho tội phạm phát triển, từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội

Trang 31

Phòng ngừa tội phạm là không để tội phạm xảy ra và gây hậu quả cho xã hội, không để các thành viên trong xã hội phải chịu hình phạt khắc nghiệt của pháp luật, nếu tội phạm xảy ra thì phải kịp thời phát hiện, điều tra khám phá để truy tố, xét xử, tiến hành cải tạo người phạm tội trở thành người công dân có ích cho xã hội

Như vậy có thể thấy, phòng ngừa tội phạm đã đi theo hai hướng cơ bản đó là:

Hướng thứ nhất: Tập trung vào việc hạn chế, đi đến thủ tiêu các hiện tượng xã

hội tiêu cực là nguyên nhân, điều kiện của thực trạng tội phạm và tội phạm cụ thể Hướng này mang tính chiến lược lâu dài và nó vừa thể hiện tính nhân đạo cao cả đồng thời cũng là mục đích và mong muốn của xã hội Tuy nhiên, chúng ta phải thấy rằng, trong điều kiện hiện nay của nền kinh tế, chính trị xã hội, trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì chưa thể làm mất hết nguyên nhân điều kiện của tội phạm Thực tế tội phạm vẫn tồn tại, trong chừng mực nào đó tội phạm còn phát sinh, phát triển Vì vậy, song song với việc làm mất đi nguyên nhân điều kiện của tội phạm thì xã hội cần phải bằng mọi cách để ngăn chặn các tội phạm xảy ra, phát hiện kịp thời và xử lí nghiêm minh các tội phạm và cuối cùng là cảm hóa giáo dục giúp họ trở thành người có ích cho xã hội

Đó là hướng thứ hai của hoạt động phòng ngừa tội phạm Thực tế khẳng định phương

hướng này có ý nghĩa đặc biệt trong việc làm giảm, hạn chế sự gia tăng của tội phạm và điều chỉnh tình hình đó theo hướng giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội, khi mà khả năng và điều kiện xã hội thực tế chưa cho phép thủ tiêu hết ngay các nguyên nhân của tội phạm cụ thể nói riêng và thực trạng tội phạm nói chung

Do tội phạm và tình trạng phạm tội là một hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp

nó bị chi phối và ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, nguyên nhân kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật cho nên để phòng ngừa tội phạm cần phải được tiến hành một cách đồng bộ bằng nhiều biện pháp và nhiều lực lượng ở tất cả các cấp, các địa phương, ở từng gia đình và từng cộng đồng Phòng ngừa tội phạm phải tiến hành thường xuyên, liên tục bằng tất cả các biện pháp, không chỉ có các biện pháp của Nhà nước mà bằng cả các biện pháp xã hội và là nhiệm vụ chung của toàn xã hội cùng phải tiến hành Xác định được điều đó có ý nghĩa to lớn trong thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm trong từng thời gian, từng khu vực, từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực với sự

Trang 32

Phòng ngừa tội phạm luôn mang tính hệ thống đồng bộ và có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân

Phòng ngừa tội phạm là hoạt động mang tính nhân đạo xã hội sâu sắc, đồng thời

có hiệu quả kinh tế xã hội cao

Phòng ngừa tội phạm phải được đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, sự chỉ huy thống nhất của Nhà nước, sự ủng hộ và tham gia tích cực của các tổ chức xã hội cùng toàn thể nhân dân và được thực hiện bằng những kế hoạch cụ thể chi tiết, sự tham mưu đúng đắn của cơ quan chuyên môn Việc xây dựng công trình phòng ngừa tội phạm cũng cần phải được thực hiện trên cơ sở các đặc điểm kinh tế tâm lí xã hội và các đặc điểm truyền thống của từng địa phương

Chủ thể chính của hoạt động phòng ngừa tội phạm bao gồm:

- Các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước (các cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp);

Từ cách tiếp cận đó ta có thể hiểu: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các

cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân được tiến hành bằng nhiều biện pháp, phương tiện để phát hiện những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm đồng thời áp dụng các giải pháp để ngăn chặn, hạn chế tác động của những nguyên nhân điều kiện đó và từng bước loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội

Trang 33

Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cũng như tính chất của tội phạm nói chung, là một hiện tượng xã hội tiêu cực thể hiện bằng tất cả hành vi cụ thể xâm hại đến sức khỏe của công dân Bản thân tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội đã quy định và làm cho hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trở thành một nhu cầu tất yếu không thể thiếu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm giữ gìn TTATXH

Do vậy, đòi hỏi phải làm rõ được tình hình, cơ cấu, tính chất, nguyên nhân điều kiện, nhân thân người phạm tội cố ý gây thương tích hay nói cách khác là phải làm rõ đặc điểm tội phạm học của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trên cơ sở đó bằng nhiều biện pháp khác nhau không để xảy ra tội phạm

Theo nghĩa rộng của khái niệm phòng ngừa tội phạm có thể hiểu: Phòng ngừa

tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là việc áp dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau (do cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành) hướng vào việc thủ tiêu nguyên nhân điều kiện tình trạng phạm tội và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhằm từng bước ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tình trạng phạm tội và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ra khỏi đời sống xã hội

Hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng là nhiệm vụ của toàn xã hội Với tư cách là chủ thể trực tiếp của hoạt động phòng ngừa tội phạm, lực lượng CSND

đã tổ chức, phân công lực lượng trong đó có lực lượng CSĐTTP về TTXH tiến hành hoạt động phòng ngừa đối với loại tội phạm này Như vậy, hoạt động của lực lượng CSĐTTP về TTXH trong phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm phát hiện, loại bỏ các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm từng bước ngăn chặn, hạn chế tiến tới loại bỏ tình trạng phạm tội và tội phạm Lực lượng CSĐTTP về TTXH trong phạm

vi chức năng nhiệm vụ của mình, tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đòi hỏi phải tổ chức lực

Trang 34

- Lập kế hoạch và tiến hành các biện pháp phòng ngừa tội phạm

- Thống kê, phân tích hiệu quả của các hoạt động phòng ngừa, phát hiện những

sơ hở thiếu sót để uốn nắn, bổ sung biện pháp phòng ngừa có hiệu quả

1.2.2 Bản chất và vị trí, ý nghĩa hoạt động phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đối với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Bản chất của phòng ngừa tội phạm là chủ động đề phòng bằng cách tiến hành

các biện pháp cần thiết và có thể để loại trừ các yếu tố có tính chất là nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển và tồn tại tội phạm, đồng thời ngăn chặn tội phạm xảy

ra hoặc hạn chế tối đa các hậu quả xấu do các hành vi vi phạm pháp luật hình sự gây nên đối với con người, Nhà nước và xã hội

Hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng được chuyển tải ngay trong việc nhà nước và xã hội tổ chức các biện pháp cần thiết và có thể để chủ động ngăn ngừa những yếu tố tiêu cực, bất lợi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà có thể dẫn đến những hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của các thành viên

xã hội Hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng mang tính chất xã hội sâu sắc

Đó không chỉ là những hành động chống đỡ của các cá nhân, hay chủ thể đơn lẻ đối với những hành vi xâm hại lợi ích của họ Đó là cả một hệ thống phản ứng xã hội,

Trang 35

nhằm gia tăng sự đề kháng của xã hội, làm gia tăng khả năng phòng ngừa, ngăn chặn của xã hội đối với các hành vi vi phạm những quy tắc sống, thiếu tôn trọng tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

Phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích, xét về bản chất bao giờ cũng phải là cái được tiến hành sớm hơn về mặt thời gian so với các hành vi gây thương và cả những

gì là hậu quả của các hành vi tiêu cực xã hội xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của các thành viên xã hội Phòng ngừa không chỉ là những biện pháp được thực hiện sớm hơn hành vi gây hậu quả, mà cả những biện pháp được tiến hành kịp thời sớm hơn hậu quả xảy ra của các hành vi đó, nhằm hạn chế tối đa các tác hại của chúng Điều này hết sức quan trọng đối với phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, bởi lẽ, nhiều hậu quả của tội phạm này khó có thể khắc phục, nhiều khi dẫn đến tử vong

Lực lượng CSĐTTP về TTXH với chức năng nhiệm vụ của mình là áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để tìm ra những nguyên nhân và điều kiện cũng như hiểu rõ cơ chế tác động của nó làm phát sinh, tồn tại loại tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Từ đó đề ra các giải pháp loại bỏ nhũng nguyên nhân điều kiện

đó để phòng ngừa ngăn chặn tiến tới loại trừ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội Đó chính là bản chất của hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng CSĐTTP về TTXH đối với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một bộ phận của phòng ngừa tội phạm nói chung Trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH có hai phương hướng phòng ngừa chủ yếu là: Phòng ngừa ngăn chặn không để tội phạm xảy ra và điều tra xử lí làm

rõ vụ việc phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Có thể nói đó là hai phương hướng chính, cơ bản của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ và tác động hỗ trợ lẫn nhau

Nếu làm tốt công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng sẽ ngăn ngừa và làm giảm tội phạm, không để nảy sinh những nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tội

Trang 36

phạm, giúp cho công việc điều tra xử lí tội phạm được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Ngược lại, điều tra xử lí người phạm tội kịp thời có hiệu quả sẽ giúp cho công tác phòng ngừa tội phạm tốt hơn, hiểu rõ tình hình tội phạm, những phương thức thủ đoạn hoạt động của chúng, dự báo và có phương hướng phòng ngừa hữu hiệu Như vậy, phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác luôn được coi trọng trong mọi thời điểm bởi sự gia tăng, thủ đoạn phạm tội và tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra

Trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì phòng ngừa luôn là phương hướng chính nên nó có ý nghĩa vô cùng to lớn đó là: Hoạt động phòng ngừa tội phạm là phương hướng đấu tranh chủ động và triệt để nhất nó tiến hành các biện pháp xóa bỏ nguyên nhân và điều kiện phạm tội không để tội phạm xảy ra Phát hiện ngay từ ban đầu, ngăn chặn không để người phạm tội mới nảy sinh đối với loại tội phạm này, kiểm soát ngay từ khâu chuẩn bị phạm tội Phòng ngừa tội phạm là biện pháp có lợi ích kinh tế nhất, làm thường xuyên liên tục đạt hiệu quả tốt không để cho tội phạm xảy ra, có nghĩa là không có hậu quả tác hại do hành vi phạm tội gây ra Từ đó tiết kiệm được các chi phí cho hoạt động điều tra

xử lí giáo dục người phạm tội và chi phí cho việc khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng có hiệu quả sẽ làm giảm tình trạng phạm tội, thu hẹp diện đối tượng phạm tội, ngăn chặn và phát hiện kịp thời những phát sinh của loại tội phạm mới Trên cơ sở đó giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm chắc tình hình, đẩy mạnh các hoạt động nghiệp vụ, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm chủ yếu

là điều tra phát hiện xử lí tội phạm phục vụ tốt nhất cho các yêu cầu chính trị, kinh tế của Đảng, nhà nước và địa phương Đối với các cơ quan, tổ chức xã hội sẽ hiểu rõ hơn về trách nhiệm của mình nâng cao ý thức phối hợp với các cơ quan chức năng để hạn chế mức thấp nhất tình trạng phạm tội ở đơn vị, cơ sở địa phương mình

Hoạt động phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hoạt động thể hiện tính nhân đạo và bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta Phòng ngừa ngăn chặn không để con người trở thành tội phạm và phải chịu

Trang 37

hình phạt, không làm cho nạn nhân phải chịu những hậu quả thiệt hại về sức khỏe do hành vi phạm tội gây ra Mặt khác, trong quá trình hoạt động phòng ngừa tội phạm góp phần xóa bỏ được những mặc cảm tội lỗi của những người đã lầm lỗi để họ trở thành người lương thiện

Như vậy, để đấu tranh phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có hiệu quả phải làm tốt công tác phòng ngừa tội phạm Đây là một mắt xích, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, góp phần giữ gìn TTATXH

Trong tình hình hiện nay những diễn biến về tội phạm có sử dụng bạo lực và tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ngày càng phức tạp, xu hướng hoạt động tội phạm có tính chất xuyên quốc gia liên kết tạo thành các băng ổ nhóm gắn liền với nó là những tội phạm khác như bảo kê, xiết nợ thuê, đâm thuê chém mướn gây hậu quả xấu, ảnh hưởng đến lối sống, đạo đức thuần phong mỹ tục và trật tự xã hội thì vai trò phòng ngừa loại tội phạm này ngày càng có một ý nghĩa hết sức quan trọng

1.2.3 Nội dung, biện pháp phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đối với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Toàn bộ công tác phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bao hàm hai nội dung chính, đó là:

- Phát hiện những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- áp dụng các biện pháp đề phòng, ngăn chặn hành vi tội phạm cố ý gây thương tích và hậu quả của chúng

Trong mỗi nội dung của công tác phòng ngừa nói trên cần triển khai nhiều nội dung, biện pháp cụ thể khác nhau

Đối với nội dung lớn thứ nhất, cần phải:

Trang 38

Đối với nội dung lớn thứ hai, cần phải:

+ Tiến hành các biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật

+ Giáo dục công dân, nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục ý thức sống cộng đồng

+ Sử dụng các biện pháp pháp luật, tổ chức, kinh tế nhằm ổn định cuộc sống, tạo điều kiện công ăn việc làm cho người dân, không để xảy ra thất nghiệp lang thang bụi đời, lêu lổng

+ Sử dụng các biện pháp tác động kinh tế - xã hội khác để tác động nhằm tạo nên cuộc sống xã hội đồng thuận, giáo dục tình làng, nghĩa xóm

+ áp dụng các biện pháp tổ chức và pháp lý của các cơ quan chuyên môn (thường gọi là phòng ngừa chuyên biệt) đối với các nhóm xã hội đặc thù nhằm loại trừ các tâm lí hung hăng, gây gổ, răn đe họ về khả năng bị xử lí bằng pháp luật

+ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lí tại chỗ nhanh chóng các hành vi gây

gổ đánh cãi nhau dễ dẫn đến phạm tội cố ý gây thương tích

Hoạt động phòng ngừa tội phạm là một hoạt động thực tiễn rất đa dạng và phong phú vì vậy cần phải xem xét nó theo quan điểm, hệ thống khoa học Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hệ thống biện pháp phòng ngừa tội phạm

Trang 39

Căn cứ vào yếu tố chủ thể tiến hành để xem xét, thì có thể phân chia toàn bộ hoạt động phòng ngừa tội phạm thành hai dạng: Phòng ngừa xã hội và phòng ngừa chuyên biệt

Phòng ngừa xã hội là những nỗ lực cải thiện toàn diện các điều kiện chính trị,

xã hội, tư tưởng, kinh tế, pháp luật làm tiền đề căn bản cho việc loại trừ tình trạng phạm tội khỏi đời sống xã hội Những biện pháp đó làm miễn dịch cơ thể xã hội, tạo ra phòng tuyến để ngăn cách, chặn lại không cho những tội phạm đã có, những mầm mống tội phạm đã xuất hiện đâu đó không thể xâm nhập vào xã hội ta, hạn chế và đi đến loại bỏ những điều kiện để tội phạm có thể xâm nhập và phát triển Tất cả những lực lượng xã hội, các cơ quan, tổ chức được hình thành để thực hiện các mục đích xã hội tích cực và hợp pháp trong xã hội đều phải tham gia công cuộc phòng ngừa này và lập nên một phòng tuyến phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa tội phạm theo cấp độ chuyên biệt lại đòi hỏi phải sử dụng các biện pháp có tính chất chuyên môn nghiệp vụ Chính vì thế khi nói đến phòng ngừa chuyên biệt là người ta nói đến các chủ thể có chức năng chuyên môn này Cụ thể là những cơ quan bảo vệ pháp luật có chức năng trực tiếp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Các biện pháp tập trung và có hiệu quả cao là các biện pháp của các ngành Công an, Tòa án, Kiểm sát Đó là những biện pháp hành chính-pháp luật và tổ chức, chiến thuật, kỹ thuật mang tính chất nghề nghiệp rõ nét để phòng ngừa tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ thể Tính chuyên biệt được quy định bởi những chức năng cơ bản của các cơ quan bảo vệ pháp luật-chủ thể trực tiếp đấu tranh với tội phạm, vi phạm pháp luật, đồng thời các điều kiện, hoàn cảnh, phương pháp áp dụng và các điều kiện khác cho phép các chủ thể này phòng ngừa tội phạm với tư cách nghề nghiệp chuyên môn Trong chủ thể này, vai trò đặc biệt quan trọng thuộc về cơ quan Công an nhân dân Khác với phòng ngừa xã hội, phòng ngừa chuyên biệt thường

là những biện pháp được tính toán cho những cấp độ cụ thể hơn, để tác động lên những vấn đề, những đối tượng có địa chỉ cụ thể, có thể nói là những điểm nhấn trong bức tranh toàn cảnh về tình hình tội phạm

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm hợp thành một hệ thống thống nhất

Bằng cách tiếp cận khác, căn cứ chủ yếu vào đối tượng tác động của phòng ngừa thì có thể chia các biện pháp phòng ngừa tội phạm thành các cấp độ:

Trang 40

+ Phòng ngừa tội phạm nói chung;

+ Phòng ngừa các nhóm tội phạm nhất định có cùng loại khách thể hoặc có chung những đặc trưng về chủ thể;

+ Phòng ngừa những tội phạm cụ thể

Nếu nhìn từ góc độ phương pháp tác động thì người ta lại chia tiếp các nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm nói trên thành hai loại biện pháp Đó là phòng ngừa chung

và phòng ngừa cá biệt (còn gọi là phòng ngừa riêng)

Nhóm các biện pháp phòng ngừa chung thường được áp dụng để tác động lên những yếu tố nguyên nhân, điều kiện có tính chất phổ biến, nhằm phòng ngừa ngăn chặn tội phạm trên một diện rộng, đối với cả một cộng đồng dân cư nhất định, xét cả về loại tội phạm cũng như đối tượng con người có khả năng, điều kiện thực hiện tội phạm

Nhóm biện pháp phòng ngừa cá biệt (phòng ngừa riêng) đối với các cá thể trong các cộng đồng xã hội, là nhằm tác động khắc phục những nguyên nhân, điều kiện dẫn những con người cụ thể đó đi vào con đường phạm tội, ngăn chặn không để các yếu tố

có ý nghĩa động cơ, mục đích trong con người phát tác đẩy con người đến hành vi phạm pháp Phòng ngừa trong trường hợp này có thể hiểu như là một hệ thống kiểm soát hành

vi

Từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng, trong cả hai dạng phòng ngừa: phòng ngừa xã hội hay phòng ngừa chuyên biệt đều có những nhóm biện pháp phòng ngừa chung và nhóm biện pháp phòng ngừa riêng (cá biệt)

Trong thực tế có thể còn có những cách xác định phân loại biện pháp phòng ngừa khác, điều đó nói nên tính đa dạng phong phú của các biện pháp phòng ngừa tội phạm Khi sử dụng những biện pháp phòng ngừa tội phạm cần phải căn cứ vào tình hình

cụ thể của mỗi lực lượng, mỗi thời gian, địa điểm và từng loại đối tượng cụ thể để áp dụng cho phù hợp và có hiệu quả

Phòng ngừa tội phạm nói chung, cũng như phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cần phải xem xét theo quan điểm hệ thống Hiệu quả phòng ngừa được cân nhắc trên các phương diện: tính nhân

Ngày đăng: 08/09/2015, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

Sử dụng đặc điểm tội phạm học tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hộ Sử dụng đặc điểm tội phạm học vào việc tăng cường công tác nắm tình hình phát hiện kịp thời và giải quyết triệt để các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân Sử dụng đặc điểm tội phạm học vào việc mở rộng nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng Cảnh sát phản ứng nhanh (Cảnh sát 113) Sử dụng đặc điểm tội phạm học vào việc tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước trên lĩnh vực an ninh trật tự để phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương tích Thực trạng tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Nam Định từ năm 2001 đến Nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Nam Định Tổ chức lực lượng và phối hợp của Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố Nam Định trong phòng ngừa tội phạm cố ý gây thương Một số dự báo về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Nam Định ảnh hưởng đến tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w