1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh

63 410 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại một số thảm thực vật vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, tại khu vực xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC RỪNG THỨ SINH PHỤC HỒI TỰ NHIÊN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, TẠI KHU VỰC XÃ NGỌC THANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC RỪNG THỨ SINH PHỤC HỒI TỰ NHIÊN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, TẠI KHU VỰC XÃ NGỌC THANH

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Minh Tâm

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và

sâu sắc nhất đến TS Hà Minh Tâm là người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình

chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Vườn quốc gia Tam Đảo,

Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên cứu, thu thập số liệu

Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới thạc sĩ Trịnh Xuân Thành (công tác tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc), đã tạo điều kiện và giúp

đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân và bạn bè đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014 Học viên

Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi thực hiện cùng với sự hướng dẫn của TS Hà Minh Tâm Các số liệu nêu trong đề tài là trung thực, được thu thập từ thực nghiệm và qua xử lí thống kê Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Lí do chọn đề tài 1

Mục đích nghiên cứu 2

Ý nghĩa của đề tài 2

Điểm mới của đề tài 2

Bố cục của luận văn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.2 Lược sử nghiên cứu 4

1.2.1 Trên thế giới 4

1.2.2 Ở Việt Nam 5

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

2.2 Thời gian nghiên cứu 11

2.3 Nội dung nghiên cứu 11

2.4 Phương pháp nghiên cứu 11

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 15

3.1 Điều kiện tự nhiên 15

3.1.1 Vị trí địa lý 15

3.1.2 Địa hình 16

3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 16

3.1.4 Khí hậu thuỷ văn 17

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 18

3.3 Tài nguyên động thực vật rừng 19

3.3.1 Hệ động vật 19

Trang 6

3.3.2 Hệ thực vật 19

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

4.1 Đặc điểm thảm thực vật các điểm nghiên cứu 21

4.1.1 Rừng trồng 21

4.1.2 Thảm thực vật tự nhiên 22

4.2 Đặc điểm tổ thành loài 24

4.2.1 Tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh 25

4.2.2 Tổ thành loài cây tái sinh dưới thảm cây bụi 25

4.2.3 Tổ thành loài cây tái sinh trong thảm cỏ 26

4.3 Cấu trúc tổ thành lớp cây tái sinh 27

4.3.1 Trong rừng thứ sinh 27

4.3.2 Đặc điểm tổ thành loài trong thảm cây bụi 28

4.3.3 Đặc điểm tổ thành loài trong thảm cỏ 28

4.4 Khả năng tái sinh của các loài 29

4.4.1 Khả năng tái sinh dưới tán rừng thứ sinh 29

4.4.2 Khả năng tái sinh dưới tán cây bụi 29

4.4.3 Khả năng tái sinh ở thảm cỏ 29

4.5 Quy luật phân bố cây tái sinh 30

4.5.1 Phân bố số cá thể theo cấp chiều cao 30

4.5.2 Phân bố số loài theo cấp chiều cao 32

4.5.3 Sự phân bố số loài theo cấp đường kính 33

4.5.4 Sự phân bố số cá thể theo cấp đường kính 35

4.5.5 Quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây 36

4.5.6 Phân bố cây tái sinh trên mặt đất 41

4.6 Giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng thực vật và phục hồi rừng 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC

Trang 7

Ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau (chiến tranh, nhu cầu lâm sản ngày càng cao, việc chuyển đổi rừng sang đất nông nghiệp…) Từ 14,3 triệu

ha rừng tự nhiên (độ che phủ 43%) năm 1943 giảm xuống còn 9,2 triệu ha (độ che phủ 27,8%) năm 1993 Trong những năm vừa qua diện tích rừng và độ che phủ đã tăng, nhưng chủ yếu là rừng trồng, rừng tái sinh, rừng sau khai thác, với trữ lượng nhỏ, sản phẩm rừng nghèo nàn nên chất lượng rừng giảm sút

Hiện nay, có nhiều giải pháp trong việc bảo tồn và phục hồi rừng, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo đảm an ninh môi trường và phát triển kinh tế Tuy nhiên, các hệ sinh thái rừng nước ta rất đa dạng và phức tạp, trong khi các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung tại một vùng hay một khu vực nhất định nào đó, việc nghiên cứu chưa thật sự đồng bộ và thiếu bền vững Cho nên, tái sinh rừng tự nhiên vẫn đang là nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu

Vườn quốc gia Tam Đảo rất đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng, cho nên có nhiều kiểu rừng khác nhau với hệ thực vật rất đa dạng Đây được xem

là địa điểm thuận lợi cho việc nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên, xây dựng

Trang 8

2

các mô hình phục hồi rừng Với những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài:

“Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo, tại khu vực xã Ngọc Thanh”

Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại một số thảm thực vật vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, tại khu vực xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất các giải pháp phục hồi

rừng tại khu vực nghiên cứu

Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Bổ sung dẫn liệu và góp phần làm sáng tỏ quy luật

tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trong quá trình diễn thế đi lên

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ cho việc xác định giải

pháp xúc tiến tái sinh nhằm đẩy nhanh quá trình diễn thế phục hồi rừng, bảo

vệ và phát triển đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu

Điểm mới của đề tài

Bổ sung thêm dẫn liệu về thực trạng cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại một số thảm thực vật vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, tại khu vực xã Ngọc Thanh Từ đó, đề xuất các giải pháp phục hồi rừng tại khu vực nghiên cứu

Bố cục của luận văn

Gồm 55 trang, ảnh, 7 bảng, được chia thành các phần chính như sau:

Mở đầu 3 trang, chương 1 Tổng quan tài liệu 9 trang, chương 2 Đối tượng, phạm vi, thời gian, nội dung và phương pháp nghiên cứu 6 trang, chương 3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 6 trang, chương 4 Kết quả nghiên cứu 23 trang, Kết luận và kiến nghị 2 trang, Tài liệu tham

khảo 4 trang, ngoài ra còn có phần Phụ lục không đánh số trang

Trang 9

sử dụng thuật ngữ “ Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Schereckenbeg, Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ “Rehabitilation” để chỉ sự phục hồi lại bằng biện pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái

Tái sinh rừng (forestry regeneration) là thuật ngữ được nhiều nhà khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng Căn

cứ vào nguồn giống, người ta phân chia 3 mức độ tái sinh như sau:

- Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo giống trực tiếp

- Tái sinh bán nhân tạo: nguồn giống được con người tạo ra bằng cách trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ là tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh

- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên

Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình thiết lập lớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con được thiết lập đều có nguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo thì cây con cũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieo trước đó Nó được phân biệt với các khái niệm khác (như trồng rừng) là

sự thiết lập lớp cây con được thiết bằng việc trồng cây giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm Vì đặc trưng đó nên tái sinh một quá trình sinh học mang tính đặc thù của các hệ sinh thái rừng

Trang 10

Từ những năm giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của ngành công nghiệp hoá giấy, cho phép sử dụng một cách tổng hợp các sản phẩm gỗ tự nhiên nên nhiều diện tích rừng đã bị khai thác trắng để làm nguyên liệu Để phục hồi lại thảm thực vật và đáp ứng nhu cầu về gỗ đang ngày càng gia tăng, trong lâm nghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng nhân tạo cho năng xuất cao Nhưng sau thất bại trong tái sinh nhân tạo ở Đức và một số nước ở vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu:

“Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên”

Đã có nhiều nghiên cứu hướng vào phân tích ảnh hưởng của các nhân

tố sinh thái đến quá trình tái sinh rừng như: ánh sáng, độ ẩm đất, thảm mục,

độ dầy rậm của thảm tươi, khả năng phát tán hạt Trong đó ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng) là nhân tố được đề cập nhiều nhất và được coi là nhân tố chủ đạo đóng vai trò điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên

H.Lamprecht (1989) [50] căn cứ vào nhu cầu sử dụng ánh sáng trong suốt đời sống của các loài cây, ông đã phân chia rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây nửa chịu bóng và nhóm cây chịu bóng

Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta đều nhận thấy rằng: tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nhân tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, do đó thảm cỏ

và thảm cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác

Trang 11

5

thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở gại rất lớn cho tái sinh rừng (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [34]

Phân chia các giai đoạn trong tái sinh tự nhiên đã được đa số các nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng, cần phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng

và các nhân tố ảnh hưởng từ khi hình thành cơ quan sinh sản, sự hình thành hoa, quả, các nhân tố phát tán hạt, sự phù hợp của màu vụ hạt giống với điều kiện khí hậu và sự phá hoại của động vật côn trùng cho đến khi cây con phát triển ổn định Đa số các nhà Lâm học của Liên Xô cũ đề nghị trong lâm học chỉ nghiên cứu quá trình tái sinh rừng bắt đầu từ khi cây có hoa, quả, thậm chí

từ giai đoạn cây mạ trở đi (dẫn theo Đinh Quang Diệp, 1993) [8]

Bernard Rollet (1974) có nhận xét: trong các ô tiêu chuẩn có kích thước nhỏ (1 m x 1 m, 1,5 m x 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson

Trong nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới nhiều nhà lâm học còn đặc biệt quan tâm tới các phương thức tái sinh của các loài cây mục đích Thứ tự của các bước xử lý cũng như hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh rừng tự nhiên được Baur (1976) tổng kết sâu sắc trong tác phẩm “Cơ

sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” [4]

1.2.2 Ở Việt Nam

Ở nước ta, vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới đã được tiến hành nghiên cứu

từ những năm 60 của thế kỉ XX Với chuyên đề “Tái sinh tự nhiên” do Viện Điều tra Qui hoạch rừng thực hiện tại một số khu rừng trọng điểm thuộc các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An (lưu vực sông Hiếu), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê) và Quảng Bình (lưu vực sông Long Đại) Trên cơ sở các nguồn tài liệu và số liệu của các đoàn, đội điều tra tài nguyên thu thập, ghi nhận trong các báo cáo tài nguyên rừng hoặc báo cáo lâm học các khu rừng

Trang 12

6

điều tra thuộc miền Bắc Việt Nam đã được Nguyễn Vạn Thường, 1991 [39]tổng kết và bước đầu đưa ra kết luận hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ Sự phân bố cây tái sinh rất không đồng đều, số cây mạ (cấp H < 20 cm) chiếm ưu thế rõ rệt so với số cây ở các cấp tuổi khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh

có khuynh hướng lan tràn và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Trong khi đó các loài cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp và phân

bố tản mạn Thậm chí một số loài hoàn toàn vắng bóng ở thế hệ sau trong những trạng thái tự nhiên Trong thành phần cây tái sinh, tác giả cũng cho rằng bất kỳ ở đâu có hiện tượng tái sinh tự nhiên thì ở đó có sự sống chung của những cá thể khác loài, khác chi, thậm chí cả khác họ Dựa vào thành phần loài cây mục đích chất lượng cây con, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới theo tiêu chuẩn 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu, rất xấu

Thái Văn Trừng (1978) [44] khi nghiên cứu thảm thực vật rừng Việt Nam đã nhấn mạnh ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển của cây con và nhận định rằng: trong các nhân tố sinh thái thì ánh sáng

là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên cả ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh

Nguyễn Văn Trương (1983) [47] đã đề cập đến mối quan hệ giữa lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ và qui luật đào thải tự nhiên trong quá trình tái sinh tự nhiên dưới tán rừng

Hiện tượng tái sinh tự nhiên dưới lỗ trống ở các rừng thứ sinh vùng Hương Sơn - Nghệ Tĩnh đã được Phạm Đình Tam (1987) [32] làm sáng tỏ Qua theo dõi tình hình tái sinh dưới các lỗ trống cho thấy số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán

Trang 13

7

Vũ Tiến Hinh (1991) [14] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên ở Lâm trường Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ Đa số các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì tổ thành tầng cây tái sinh càng lớn Qua tính toán cho thấy giữa hai hệ số tổ thành có quan hệ bậc nhất và tuân theo đường thẳng:

Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [20] cho rằng nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để hướng

sự can thiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tuỳ thuộc vào mức độ tác động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh, với mức cao nhất là tái sinh nhân tạo Theo tác giả thì quá trình tái sinh tự nhiên tuỳ thuộc vào 3 yếu tố chính sau:

- Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt trên một đơn vị diện tích

- Điều kiện để hạt có thể nảy mầm, bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm, thảm tươi)

- Điều kiện để cây mạ, cây con sinh trưởng và phát triển: đất, nước, ánh sáng Trần Đình Lý và các cộng sự (1995) [25], nghiên cứu tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng tại đảo Kế Bào, Lâm trường Hoành Bồ (Quảng Ninh)

Trang 14

8

Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên, diễn thế của thẩm thực vật trên đất sau nương rẫy tại Chiềng Sinh (Sơn La) Kết quả nghiên cứu đã đề xuất qui phạm khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Kết quả đề tài xây dựng quan niệm về phục hồi rừng và cơ sở lựa chọn đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng dựa trên kết quả nghiên cứu ở các vùng sinh thái

Trần Xuân Thiệp (1996) [37] căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xây dựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (theo hệ thống phân loại của Loschau 1961-1966): tốt, trung bình, xấu Phân cấp chiều cao cây tái sinh

để điều tra gồm 6 cấp: (1): < 50 cm; (2): 50-100 cm; (3): 100-150 cm; (4): 150-200 cm; (5): 200-300 cm; (6): > 300 cm) Về phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao có sự tương đồng giữa các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Mayer từ cấp 1-5 (≤ 300 cm), cấp 6 có chiều cao > 300 cm do tính cộng dồn đến các cây có chiều cao tương ứng với đường kính dưới 10 cm nên không thể hiện qui luật này nữa

Đỗ Hữu Thư và cộng sự (1995) [42] cũng đã đưa ra kết luận tương tự

về qui luật phân bố này đối với lớp cây tái sinh tự nhiên ở vùng núi cao PhanSiPan

Lê Đồng Tấn (2000) [33] nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lượng cây/ô tiêu chuẩn, mật độ cây giảm dần từ chân đồi lên sườn và đỉnh đồi Mật độ cây giảm khi khi độ dốc tăng Tổ hợp loài cây ưu thế trên cả 3 vị trí đị hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau, sự khác nhau chính là hệ số tổ thành của các loài trong tổ hợp đó, tính chất này càng thể hiện rõ trên cùng một địa điểm (một khu đồi) Độ cao có ảnh hưởng lên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm thực vật Thoái hoá đất có ảnh hưởng: mật độ cây, số lượng loài cây và tổ thành loài cây

Phạm Ngọc Thường (2002) [38] nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên vừa đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở Thái

Trang 15

9

Nguyên và Bắc Kạn Tác giả đã rút ra một số kết luận: Quá trình phục hồi rừng sau nương rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái: nguồn giống, địa hình, thoái hoá đất và con người Khoảng cách rừng tự nhiên gieo giống đến đám nương càng gần thì khả năng gieo giống càng thuận lợi ở chân đồi số loài, mật độ cây gỗ tái sinh là lớn nhất và ít nhất là ở đỉnh, độ dốc càng lớn thì quá trình phục hồi rừng càng khó khăn Mật độ cây gỗ giảm dần theo thời gian phục hồi rừng

Lê Ngọc Công (2003) [6] trong nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho rằng ở giai đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1- 6 năm) mật độ cây tăng lên, sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi qui luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải của các loài cây Nhận xét được rút ra từ kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với các kết quả nghgiên cứu của các tác giả Lê Đồng Tấn [33], Phạm Ngọc Thường [38]

Tóm lại, trong quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp tự nhiên nguyên sinh hay tái sinh có hai phương thức:

- Thứ nhất, đó là phương thức tái sinh liên tục dưới tán rừng kín rậm của những loài cây chịu bóng mọc chậm Phương thức tái sinh này thường thưa thớt và yếu ớt vì thiếu ánh sáng Chỉ một số ít cây thoát khỏi giai đoạn ở giai đoạn đầu, còn lại đa số phải qua giai đoạn ức chế kéo dài chờ cơ hội vươn lên tầng cao khi có điều kiện sinh thái thích hợp

- Thứ hai là phương thức tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ trống trong tán rừng của các loài cây ưa sáng mọc nhanh Dưới tán kín hay thưa của chúng, những loài cây định vị trong thành phần xã hợp cũ thường đòi hỏi bóng trong 1- 2 năm đầu, sẽ mọc sau và dần dần vươn lên thay thế những loài cây tiên phong tạm thời có tuổi thọ ngắn Những cây tiên phong sẽ tự tiêu vong, hoặc sẽ bị tiêu diệt bởi tán kín rậm của các loài cây định vị mọc sau, chỉ

Trang 16

Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản

lý rừng bền vững theo mục tiêu đề ra, tiết kiệm được thời gian, tiền của chỉ khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất qui luật của hệ sinh thái rừng, trước hết

là quá trình tái sinh tự nhiên

Trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu về hệ sinh thái ở Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, như các công trình của Trương Thị Thơm (2013) [40], Đinh Thị Thư (2003) [41] Các công trình này đã cung cấp những thông tin về trạng thái của các thảm thực vật Đây được xem là cơ sở

dữ liệu quan trọng cho việc bảo tồn và phát triển hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu

Như vậy, hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các trạng thái rừng tự nhiên (số lượng, mật độ cây tái sinh, đặc điểm lớp cây tái sinh và vai trò của ánh sáng đối với quá trình tái sinh tự nhiên) mà chưa đề cập đến tái sinh ở các trạng thái thực bì khác nhau như: thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh nhân tác (rừng sau nương rẫy, sau khai thác kiệt)

Những kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, qui luật tái sinh tự nhiên ở một số vùng Đặc biệt là sự vận dụng các hiểu biết về qui luật tái sinh tự nhiên để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững Tuy thiên, thảm thực vật rừng nhiệt đới rất

đa dạng và phức tạp, đời sống của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên ở từng vùng địa lý Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu qui luật tái sinh tự nhiên của các

hệ sinh thái rừng ở các vùng địa lý khác nhau và các thời điểm khác nhau, từ

đó có các biện pháp bảo tồn và phát triển hệ thực vật là cần thiết

Trang 17

11

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Một số thảm thực vật tự nhiên, bao gồm từ thảm

cỏ, thảm cây bụi và các trạng thái rừng thứ sinh

Phạm vi nghiên cứu: Phụ cận Vườn quốc gia Tam Đảo tại khu vực xã

- Nghiên cứu đặc điểm tổ thành loài

- Nghiên cứu cấu trúc tổ thành lớp cây tái sinh

- Nghiên cứu khả năng tái sinh của một số loài cây

- Nghiên cứu qui luật phân bố cây tái sinh

Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao

Nghiên cứu sự phân bố theo đường kính

Nghiên cứu mối tương quan giữa chiều cao và đường kính

Phân bố cây trên mặt đất

- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng thực vật và phục hồi rừng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu hiện nay Cụ thể như sau:

Nghiên cứu tài liệu: Nhằm kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên

quan đến đề tài

Điều tra thực địa: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm

thu thập các dữ liệu về phân loại (thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi

Trang 18

Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và thu thập dữ liệu: Tại mỗi trạng thái thảm

thực vật (TTV) đặt ngẫu nhiên 10 OTC, mỗi OTC có diện tích 400 m2

Hình 1 Ô tiêu chuẩn và sơ đồ thu mẫu

Đo đường kính: Đường kính được đo tại vị trí ngang ngực (H1,3m) Đối với những cây có d<20 cm đo trực tiếp bằng thước kẹp (theo hai hướng cộng chia hai lấy giá trị trung bình) với độ chính xác 0,10 cm Đối với cây có d>20

cm được đo bằng thước dây, tra bảng tương quan đường kính - chu vi rồi tính đường kính tương ứng

Trang 19

13

Trong mỗi ô dạng bản, đo đếm các chỉ tiêu ở tất cả các cá thể có đường kính ngang thân từ 5 cm trở xuống và đánh giá chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo hình thái và sinh lực phát triển và phân chia theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu theo mẫu sau (Biểu 1)

Biểu 1 Các chỉ số đo đếm cho cây tái sinh

Trong đó: HVN - chiều cao vút ngọn

Những loài cây chưa biết tên khoa học thu thập tiêu bản để giám định tên Phương pháp thu thập tiêu bản và xử lý mẫu theo các phương pháp thông thường đang được áp dụng hiện nay

Phân tích và xử lý số liệu:

Để tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và

nhận biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)

Để xác định tên khoa học các loài, chúng tôi căn cứ vào Cây cỏ Việt

Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) Nếu vẫn còn nghi ngờ kết quả, chúng

tôi tiến hành thu mẫu để tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại

Để chỉnh lý tên khoa học, chúng tôi căn cứ vào Danh lục các loài thực vật

Việt Nam do Nguyễn Tiến Bân làm chủ biên (2003, 2005) và Trung tâm nghiên

cứu Tài nguyên và Môi trường Đại học quốc gia Hà Nội công bố năm 2001

Tính toán các chỉ số: Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel của máy

tính, có áp dụng các phương pháp thống kê sinh học

Trang 20

S: là diện tích ô điều tra

+ Sử dụng hàm Mayer để mô phỏng quy luật phân bố cây theo cấp chiều cao Hàm Mayer có dạng:

f(t) = .e x Trong đó:

, là hai tham số, f(t) là tần số quan sát, x là cấp chiều cao

Các tham số được xác định theo phương pháp bình phương bé nhất Phân chia chiều cao cây tái sinh theo 5 cấp như sau:

Cấp I: chiều cao 1 – 5 m

Cấp II: chiều cao từ 5,1 – 10 m

Cấp III: chiều cao từ 10,1 – 15 m

Cấp IV: chiều cao từ 15,1 – 20 m

Cấp V: chiều cao từ 20,1 – 25 m

Trang 21

15

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Hình 3.1 Bản đồ Trạm đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc

Trang 22

16

Vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo ở khu vực xã Ngọc Thanh nằm liền

kề với Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh Khu vực Trạm ở toạ độ 210

23

57-21025 35 độ vĩ Bắc và 105042 40-105046 65 độ kinh Đông Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên - Thái Nguyên, phía Đông và Nam giáp xã Ngọc Thanh, phía Tây giáp xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

3.1.2 Địa hình

Khu vực nghiên cứu nằm ở phía Đông Nam dãy núi Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Là nơi có địa hình dốc, độ chia cắt mạnh với nhiều dông phụ gần vuông góc với dông chính Độ dốc trung bình 15-250, nhiều nơi dốc từ 30-3500

3.1.3.2 Thổ nhưỡng

Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có nhiều Thạch anh, Muscovit, khó phong hóa, hình thành nên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là những nơi dốc cao bị xói mòn mạnh để trơ lại phần đá rất cứng (điển hình là khu vực cao 300-400 m)

Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:

- Ở độ cao trên 300 m là đất Feralit mùn đỏ vàng Đất có màu vàng ưu thế

do độ ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích luỹ cao Do đất phát triển trên

đá Mácma axit kết tinh chua nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên 75%

Trang 23

17

- Ở độ cao dưới 300 m là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, đất có khả năng hấp phụ không cao do có nhiều khoáng sét phổ biến là Kaolinit

Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ven suối ở độ cao dưới 100 m Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầng đất dày, độ ẩm cao, màu mỡ, đã được khai phá để trồng lúa và hoa màu

3.1.4 Khí hậu thuỷ văn

3.1.4.1 Khí hậu

Vùng nghiên cứu nằm liền kề với Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc nên nó mang đặc điểm khí hậu của Trạm; nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Số liệu quan sát từ năm 2007-2011 tại Trạm khí tượng thủy văn Vĩnh Yên (độ cao 50 m)

- Nhiệt độ bình quân năm: 23,90C (trung bình mùa Hè là 27-290C, trung bình mùa Đông 16-170C)

- Nhiệt độ tối cao tương đối (cao nhất): 41,50C

- Lượng mưa bình quân năm: 1358,7 mm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90% lượng mưa cả năm Mưa tập trung vào các tháng 6-9 (cao nhất là vào tháng 8)

- Số ngày mưa: 142,5 ngày/năm

- Lượng mưa cực đại trong ngày: 284 mm

Trang 24

18

Sông suối: Có một suối nhỏ nước chảy quanh năm bắt nguồn từ điểm cực Bắc, chảy dọc biên giới phía Tây giáp với Vườn quốc gia Tam Đảo và gặp suối Thanh Lộc đổ vào hồ Đại Lải Ngoài ra còn có một số suối cạn ngắn chỉ có nước sau những trận mưa

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn xã Ngọc Thanh với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 51,8% tổng diện tích tự nhiên của toàn xã Mật độ dân số

của xã là 139 người/km2, dân tộc kinh chiếm 53%, dân tộc thiểu số chiếm 47% Thu nhập bình quân đầu người của xã là 3 triệu đồng/người/tháng

Trong khu vực nghiên cứu không có người dân sinh sống, tuy nhiên do tập quán của người dân quanh vùng nên rừng trong khu vực nghiên cứu vẫn chịu những tác động tiêu cực như: Thả gia súc sau mùa vụ, lấy củi, lấy măng

và khai thác lâm sản ngoài gỗ

Những năm gần đây do có sự đổi mới các chính sách về kinh tế, xã hội của Nhà nước nên đã có những tác động tích cực đến đời sống của nhân dân trong xã, tổng giá trị thu nhập đã tăng lên Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tập quán sinh sống của nhân dân quanh khu vực là nhờ vào việc khai thác các lâm sản trong rừng đã có từ lâu đời nên ý thức bảo vệ rừng của người dân vẫn chưa cao: rừng bị chặt phá để lấy gỗ, củi, săn bắt thú rừng, đốt rừng làm nương rẫy Các nguyên nhân này đã làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng, tính đa dạng của sinh vật giảm sút, hệ thực vật rừng bị suy thoái (nhiều cây gỗ lớn, quý hiếm không còn) tạo nên nhiều thảm cỏ, thảm cây bụi Theo Niên giám thống kê năm 2003, huyện Mê Linh chỉ còn khoảng

300 ha rừng tự nhiên

Trang 25

- Thú có 13 loài thuộc 6 họ của 4 bộ

- Chim có 109 loài thuộc 38 họ của 12 bộ

- Bò sát có 14 loài thuộc 7 họ của 1 bộ

- Ếch nhái có 13 loài thuộc 5 họ của 1 bộ

- Côn trùng có 312 loài thuộc 43 họ của 7 bộ

3.3.2 Hệ thực vật

Theo Nguyễn Tiến Bân (2005) khu vực nghiên cứu nằm trong miền địa

lý thực vật “Đông Bắc và Bắc Trung Bộ”, trong đó chủ yếu tồn tại những nhân tố bản địa đặc hữu của khu hệ thực vật Bắc Việt Nam – Nam Trung Hoa với các ưu hợp thực vật họ Long não (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Dâu tằm (Moracae), Ngọc lan (Magnoliaceae), Đậu (Fabaceae), Xoài (Anacardiaceae), Trám (Burseraceae), Bồ hòn (Sapindaceae), Sau sau (Hamamelidaceae) Đây cũng là nơi có các yếu tố thực vật di cư từ phía Nam lên như các loài cây thuộc họ Dầu Theo các tài liệu đã thống kê, Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh

có 171 họ thực vật với 669 chi và 1126 loài, trong đó đã gặp các nghành:

- Nghành Thông đất: 2 họ, 3 chi, 6 loài

- Nghành Mộc tặc: 1 họ, 1 chi, 1 loài

- Nghành Dương xỉ: 19 họ, 34 chi, 64 loài

- Nghành Ngọc lan: 147 họ, 692 chi, 1151 loài

Trong số 171 họ có 27 họ chỉ có 1 loài; 83 họ có từ 2-4 loài; 24 họ có từ 5-9 loài; 37 họ có trên 10 loài Trong số đó có 13 họ có từ 20 loài trở lên

Trang 26

20

gồm: Euphorbiaceae (71 loài); Rubiaceae (62 loài); Orchidaceae (54 loài); Fabaceae (40 loài); Cyperaceae ( 37 loài); Moraceae ( 29 loài); Asteraceae ( 29 loài); Poaceae ( 28 loài); Lauraceae (27 loài); Myrsinaceae (24 loài); Verbenaceae (22 loài); Zingiberaceae (22 loài); Araceae (20 loài) Có 39 loài thuộc dạng quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, đó là các loài:

Drynaria bonii, D fortunei, Enicosanthellum petelotii, Goniothalamus takhtajanii, Rauvolfia verticillata, Asarum glabrum, Markhamia stipulata, canarium tramdenum, Codonopsis javanica, Dipterocarpus retusus, Captanopsis tessellata, Lithocarpus hemisphaericus, L mucronatus, L sphaerocarpus, Quercus platycalyx, Annamocarya sinensis, Taxillus gracilifolius, Aglaia spectabilis, Stephania dielsiana, Tinospora sagittata, Ardisia silvestris, Embelia parviflora, Melientha suavis, Canthium horridum, Fagerlindia depauperata, Murraya glabra, Madhuca pasquieri, Alniphyllum eberhartii, Aquilaria crassna, Amorphophallus interruptus, Calamus platyacanthus, Disporopsis longifolia, Peliosanthes teta, Dendrobium daoense, Dendrobium longicornu, Eria spirodela, Paphiopedilum gratrixianum, Tacca integrifolia

Trang 27

21

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm thảm thực vật các điểm nghiên cứu

Kết quả điều tra cho thấy rừng nguyên sinh trên khu vực nghiên cứu đã

bị phá huỷ hoàn toàn, thay thế vào đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh nhân tác từ thảm cỏ, thảm cây bụi đến rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên hay rừng trồng nhân tạo

4.1.1 Rừng trồng

Thuộc địa phận Vườn quốc gia Tam Đảo và Trạm Đa dạng sinh học

Mê Linh rừng trồng chủ yếu là rừng phòng hộ, trên các vùng khác là rừng kinh doanh được trồng theo các chương trình khuyến nông, khuyến lâm như chương trình 135, 327, và gần đây là do các hộ tự đầu tư trồng nhà nước hỗ trợ giống và kỹ thuật theo các chương trình giao đất giao rừng Kết quả điều

tra cho thấy cây trồng chủ yếu là cây nhập nội như: Bạch đàn (Eucalyptus spp.), Keo tai tượng (Acasia mangium), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Thông nhựa (Pinus merkusii)

Về cấu trúc tổ thành: Rừng thuần loại gồm có: rừng Bạch đàn, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông nhựa Rừng hỗn loài có: rừng Bạch đàn - Keo tai tượng, Bạch đàn - Keo lá tràm, Thông - Keo lá tràm, Thông - Keo tai tượng

Về cơ cấu tuổi: Rất khác nhau từ rừng mới trồng (2 năm) đến rừng trưởng thành có thể khai thác (9-10 năm) Qua điều tra thấy rằng chủ yếu là rừng mới trồng (3-4 năm)

Như vậy, rừng trồng trong vùng chủ yếu là cây nhập nội với phương thức trồng thuần loại hay hỗn giao đơn giản Hơn nữa do mới trồng, rừng chưa khép tán nên khả năng chống xói mòn, bảo vệ đất bị hạn chế Một số khu rừng trồng đã khai thác, thậm chí có nơi đã khai thác đến chu kỳ 2, nhưng không được chăm sóc nên chất lượng rừng rất thấp Trên những diện tích này,

Trang 28

I.A.1.1 Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp

+ Cây gỗ lá rộng: Là một dạng thoái hoá do khai thác kiệt, phân bố rải rác trên các sườn núi Tổ thành loài khá phức tạp bao gồm cả cây tiên phong

ưa sáng mọc nhanh, cây tiên phong định vị và cây rừng nguyên sinh Các loài

cây ưu thế là: Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Trâm (Syzygium sp.), Ba soi (Macaranga denticulata), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Ràng ràng (Ormosia

balansae), Re (Cinnamomum sp.), Bứa (Garcinia boni), Tai chua (Garcinia cowa) và Sau sau (Liquidambar formosana)

+ Rừng nứa xen cây gỗ: Chủ yếu là do khai thác gỗ củi quá mức hình thành nên Phân bố chủ yếu trên độ cao 200-400 m Trong kiểu này, cây gỗ có

mật độ thưa với thành phần chính là: Ba soi hay Lá nến (Macaranga

denticulata), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Ràng ràng (Ormosia balansae), Hu

đay (Trema orientalis), Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Ngát (Gironniera

subaequalis), Re (Cinnamomum sp.), Kháo (Machilus sp.), Bứa (Garcinia boni), Tai chua (Garcinia cowa) và Sau sau (Liquidambar formosana)

II.A.1.1.Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp:

+ Cây gỗ là rộng: là rừng phục hồi sau khai thác kiệt, đất nương rẫy, đất trồng rừng thất bại Phân bố ở sườn núi trên độ cao từ 200 m trở lên Tổ

thành chủ yếu là: Bồ đề (Styrax tonkinensis), Hu đay (Trema orientalis), Re (Cinnamomum sp.), Sau sau (Liquidambar formosana), Sơn rừng

(Toxicodendron succcedanea), Bời lời (Litsea sp.)

Trang 29

23

Ở những nơi trồng rừng thất bại, ngoài các loài cây tái sinh tự nhiên

còn có các loài cây trồng nhân tạo: Thông (Pinus merkusii), Keo tai tượng (Acacia mangium), Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus)

+ Rừng nứa xen cây gỗ: Rừng nứa được hình thành do khai thác quá mức, và sau nương rẫy Tương tự như ở rừng thưa cây lá rộng, ở loại hình này thành phần cây gỗ cũng chủ yếu là các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh

như: Bồ đề (Styrax tonkinensis), Lá nến (Macaranga denticulata), Hu chanh (Alangium kurzii), Thôi ba (Alangium chinensis), Bời lời (Litsea sp.), Sau sau (Liquidambar formosana) Các loài có đời sống dài có: Dẻ gai (Castanopsis sp.), Trâm (Syzygium cinereum), Côm (Elaeocarpus sp.), Re (Cinnamomum sp.), Trám (Canarium allbum), Bứa (Garcinia boni)

+ Rừng giang: Thường tạo thành từng khoảnh nhỏ phân bố rải rác trong

vùng Ngoài Giang (Ampelocalamus patellaris), cây gỗ thưa thớt với thành phần khá đơn giản Những loài thường gặp là: Bồ đề (Styrax tonkinensis), Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Vàng anh (Saraca indica), Nhội ( Bischofia

javanica) và các loài thuộc chi Ficus

III.A.1.1 Thảm cây bụi thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp

Bao gồm các quần xã có hay không có cây gỗ Các quần xã này được hình thành do khai thác quá mức, chặt phá rừng làm nương rẫy Gần đây nhất

là sự chặt phá một số thảm cây bụi để trồng thay vào đó là loài Thông đuôi

ngựa (Pinus merkusii) nhưng gặp thất bại

Ưu hợp thực vật phổ biến nhất tại khu vực nghiên cứu là:

+ Ưu hợp Sim (Rhodomyrtus tomentosa) + Mua ( Melastoma tomentosa) + Ba chạc (Euodia lepta)

IV.A.1 Thảm cỏ

Thảm cỏ dạng lúa trung bình: gồm có u hợp Lách (Saccharum

spontaneum), Chít (Thysanolaena maxima) và Cỏ tranh (Imperata cylindrica)

Trang 30

tomentosa), Găng (Randia spinosa), Thừng mức (Wrightia pubescens), Thành

ngạnh nam (Cratoxylum cochinchinense) Cây gỗ rải rác có: Sau sau (Liquidambar formosana, Bời lời (Litsea sp.)

Thảm cỏ không dạng lúa thấp có ưu hợp Guột (Dicranopteris linearis)

hình thành trên đất trồng rừng thất bại, nương rẫy cũ, những nơi thường xuyên bị cháy rừng Loại hình này rất phổ biến trong khu vực

4.2 Đặc điểm tổ thành loài

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành loài nhằm đánh giá vai trò của

thảm thực vật đối với quá trình tái sinh tự nhiên, trong đó nguồn giống là chủ yếu Đã thống kê được 89 loài cây tái sinh thuộc 32 họ (chỉ thống kê các loài thuộc lớp 2 lá mầm, ngành thực vật hạt kín) Trong đó: cây gỗ lớn có 29 loài, cây gỗ trung bình và cây gỗ nhỏ có 27 loài, cây bụi có 30 loài, dây leo có 2 loài (phụ lục 1)

Những loài gặp nhiều gồm có: Sơn rừng (Toxicodendron succedanea), Sau sau (Liquidambar formosana), Thàu táu (Aporosa dioica), Re trắng (Phoebe sp.), Mua (Melastoma normale), Mua bà (Melastoma sanguineum), Cơm nguội (Ardisia aciphylla), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Lấu đỏ (Psychotria rubra), Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Ba chạc (Euodia

lepta), Thâu kén lá hẹp (Helicteres angustifolia) Đây là những loài chiếm ưu

thế trong thành phần lớp cây tái sinh

Điều đáng lưu ý có những loài có số lượng rất ít (chỉ vài ba cá thể) như:

Đinh (Markhamia stipulata), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Trầm hương (Aquilaria crassna) hiện tượng này là do là do thiếu nguồn gieo giống hoặc

không bị khai thác

Trang 31

25

4.2.1 Tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh

Đã thống kê được 46 loài cây tái sinh Trong đó có 25 loài cây gỗ với cây trưởng thành đạt chiều cao 6 m trở lên (chiếm 49,06%); 18 loài là cây bụi

và gỗ nhỏ (chiếm 51,04 %)

Tuy có số lượng nhiều, nhưng chỉ có 5 loài đạt hệ số tổ thành trên 5%

Trong đó Chẹo - Engelhardtia roxburghiana chiếm tỷ lệ cao nhất (21,21%), sau đó là Sau sau - Liquidambar formosana (6,67%), Re trắng lá to - Phoebe

tavoyana (6,67%), Kháo hoa nhỏ - Machilus parviflora (6,67%), Giền - Xylopia vielana (6,06%) (bảng 4.2).

Có nhiều loài là thành phần của rừng nguyên sinh, nhưng hệ số tổ thành

của chúng thấp, chỉ đạt trên dưới 1% Đại diện cho nhóm này gồm có: Sầm

(Sarcandra glabra), Sòi tía (Sapium discolor), Gội nếp (Aglaia spectabilis),

Vả (Ficus auriculata), Trám trắng (Canarium album), Vàng anh (Saraca

dives), Nhội (Bischofia javanica), Sẻn gai (Zanthoxylum rhetsa), Thị mít

4.2.2 Tổ thành loài cây tái sinh dưới thảm cây bụi

Đã thống kê được 35 loài, trong đó có 15 loài cây gỗ (chiếm 41,46%),

20 loài cây bụi (chiếm 58,53%)

Ngày đăng: 08/09/2015, 16:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Ô tiêu chuẩn và sơ đồ thu mẫu - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Hình 1. Ô tiêu chuẩn và sơ đồ thu mẫu (Trang 18)
Hình 3.1. Bản đồ Trạm đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Hình 3.1. Bản đồ Trạm đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc (Trang 21)
Bảng  4.1. Tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
ng 4.1. Tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh (Trang 31)
Bảng 4.2.  Hệ số tổ thành loài cây tái sinh trong thảm cây bụi - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Bảng 4.2. Hệ số tổ thành loài cây tái sinh trong thảm cây bụi (Trang 32)
Bảng 4.3 . Hệ số tổ thành loài cây tái sinh trong thảm cỏ - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Bảng 4.3 Hệ số tổ thành loài cây tái sinh trong thảm cỏ (Trang 33)
Bảng 4.4.  Phân bố số cá thể theo cấp chiều cao - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Bảng 4.4. Phân bố số cá thể theo cấp chiều cao (Trang 37)
Bảng  4.5. Phân bố số loài theo cấp chiều cao - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
ng 4.5. Phân bố số loài theo cấp chiều cao (Trang 38)
Đồ thị 4.2. Phân bố số loài theo cấp chiều cao - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
th ị 4.2. Phân bố số loài theo cấp chiều cao (Trang 39)
Đồ thị 4.3. Phân bố số loài theo cấp đường kính - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
th ị 4.3. Phân bố số loài theo cấp đường kính (Trang 40)
Bảng 4.6. Phân bố số loài theo cấp đường kính - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Bảng 4.6. Phân bố số loài theo cấp đường kính (Trang 40)
Bảng 4.7. Phân bố số cá thể theo cấp đường kính - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Bảng 4.7. Phân bố số cá thể theo cấp đường kính (Trang 41)
Bảng 4.8. Chiều cao và đường kính trung bình của các loài - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
Bảng 4.8. Chiều cao và đường kính trung bình của các loài (Trang 43)
Đồ thị 4.5. Mối tương quan giữa chiều cao và đường kính - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
th ị 4.5. Mối tương quan giữa chiều cao và đường kính (Trang 46)
HÌNH ẢNH MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT - Nghiên cứu cấu trúc rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên vùng đệm vườn quốc gia tam đảo, tại khu vực xã ngọc thanh
HÌNH ẢNH MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w