Nếu lý luận văn học tiền hiện đại chỉ chú ý tới tác giả và có những bước tiến quan trọng trong việc khám phá văn bản văn học như là cấu trúc ngôn từ động thì tư duy lý luận văn học hậu h
Trang 1==========
NGÔ THỊ LỆ CHI
GIỚI HẠN CỦA SỰ DIỄN GIẢI VĂN BẢN VĂN HỌC QUA LỊCH SỬ TIẾP NHẬN
SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, học tập và chuẩn bị luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của Nhà trường, các các thầy cô giáo thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã dành những điều kiện tốt nhất để tôi được theo học và nghiên cứu, hoàn thành luận văn Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trương Đăng Dung
đã dành thời gian và công sức để giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và chuẩn bị luận văn
Cảm ơn gia đình, bạn bè, các anh, chị đồng nghiệp và tập thể lớp cao học Lí luận văn học K16 đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Ngô Thị Lệ Chi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì luận văn nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Ngô Thị Lệ Chi
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Cấu trúc luận văn 14
7 Đóng góp của luận văn 14
CHƯƠNG 1: TƯ DUY CỦA LÍ LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VỀ 15
BẢN CHẤT CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC 15
1.1 Về bản chất của ngôn ngữ 16
1.2 Văn bản văn học và sự diễn giải văn bản văn học 26
1.3 Lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam 38
CHƯƠNG 2: VĂN XUÔI VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP 51
2.1 Văn xuôi thời kì đổi mới 51
2.2 Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp 65
2.3 Vài nét về quá trình tiếp nhận Nguyễn Huy Thiệp 77
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIỚI HẠN TRONG TIẾP NHẬN 83
SÁNG TÁC NGUYỄN HUY THIỆP 83
3.1 Yếu tố cộng đồng diễn giải trong quá trình tiếp nhận văn học 83
3.2 Nguồn gốc giới hạn trong tiếp nhận sáng tác nguyễn Huy Thiệp 88
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thế kỉ XX được xem là thế kỉ của các lý thuyết Văn học Trong thế
kỉ này, người ta chứng kiến sự ra đời, phát triển của nhiều lý thuyết Văn học cũng như tầm quan trọng của nó đối với đời sống văn hóa, văn học, tinh thần
và tư tưởng của xã hội Một trong những thành tựu quan trọng làm thay đổi các quan điểm cũ về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học đó là sự ra đời của Mỹ học tiếp nhận (tiếp nhận văn học) Nếu lý luận văn học tiền hiện đại chỉ chú ý tới tác giả và có những bước tiến quan trọng trong việc khám phá văn bản văn học như là cấu trúc ngôn từ động thì tư duy lý luận văn học hậu hiện đại lại có những khám phá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản văn học trong quan hệ với những yếu tố khác và với người tiếp nhận Sự chuyển đổi từ Mỹ học sáng tạo sang Mỹ học tiếp nhận được xem là bước ngoặt quan
trọng của tư duy lý luận văn học thế giới Bởi “Mỹ học tiếp nhận nêu lên
những giá trị dễ đổi thay, trực tiếp gắn liền với cá nhân người đọc thông qua quá trình cụ thể hóa văn bản Từ đây, lịch sử văn học không chỉ đơn giản là con số cộng tác giả và tác phẩm mà còn được hiểu là tác phẩm và người tiếp nhận trong những biến chuyển lịch sử của nó” [16, 167]
Từ sau năm 1975, văn học Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ
và sâu sắc trên nhiều phương diện, đặc biệt ở phương diện văn xuôi nghệ thuật, nổi bật là mảng truyện ngắn và tiểu thuyết Cùng với đó, sự đổi mới trong quan niệm về hiện thực, về nhà văn và nghề viết, quan niệm nghệ thuật
về con người của lực lượng cầm bút với những nỗ lực cách tân mạnh mẽ đã đem lại diện mạo mới mẻ cho văn học Văn xuôi Việt Nam, đặc biệt từ 1986 được xem như một sự chuyển dòng mới mẻ và ngoạn mục trong tiến trình văn học dân tộc, đã không ngừng tìm tòi, học hỏi và tự khám phá cho mình những lối đi táo bạo, bất ngờ Trong một khoảng thời gian không dài, văn học Việt
Trang 6Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận, mang lại niềm tin cho độc giả về một quá trình chuyển mình đầy năng động và thú vị Người đọc được thưởng thức những tác phẩm văn học mang sắc diện hoàn toàn mới mẻ trong cách nhìn nhận, đánh giá các hiện tượng của đời sống cũng như trên các bình diện nghệ thuật như kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu Nhiều cây bút trẻ và
cả những cây bút quen thuộc dần dần làm thay đổi khẩu vị thưởng thức của đông đảo công chúng bằng những thử nghiệm mới và trưởng thành độc đáo Những tên tuổi như Hồ Anh Thái, Di Li, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, đặc biệt Nguyễn Huy Thiệp đã cùng nhau thổi những làn gió mới tạo sự hấp dẫn, đa sắc màu cho văn xuôi Việt Nam
Cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện như một hiện tượng lạ - “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp’’ Các sáng tác của ông ngay sau khi ra đời đã nhanh chóng trở thành tâm điểm chú ý của giới nghiên cứu phê bình và độc giả Ông có lẽ là tác giả đầu tiên trong văn học Việt Nam lập kỉ lục bởi có nhiều bài viết trong một khoảng thời gian ngắn
Qua thực tế khảo sát các bài viết, các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Huy chúng tôi nhận thấy bạn đọc đã dùng những hệ quy chiếu khác nhau, những nhãn quan khác nhau để soi chiếu và tiếp nhận tác phẩm Có những tác phẩm ngay khi ra đời đã gây xôn xao dư luận, hàng loạt các ý kiến xoay quanh nó, khen tột bậc mà chê cũng không tiếc lời Có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề tiếp nhận và lý giải tại sao những hiện tượng văn học này lại có nhiều ý kiến khen chê như vậy Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này một cách cụ thể,
khoa học và hệ thống Vì vậy, chọn đề tài “Giới hạn của sự diễn giải văn
bản văn học qua lịch sử tiếp nhận sáng tác Nguyễn Huy Thiệp” chúng tôi
sẽ tập trung làm rõ những ý kiến trái chiều xoay quanh việc tiếp nhận tác phẩm của nhà văn này Đồng thời cũng lý giải những nguyên nhân dẫn tới giới hạn trong sự diễn giải văn bản tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu lí thuyết tiếp nhận
Những năm đầu thế kỉ XX, trên thế giới (đặc biệt ở Phương Tây) đã có nhiều nhà lý luận nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận Dựa trên những kết quả nghiên cứu tác phẩm văn học theo hiện tượng học của Husserl, Roman
Ingarden (người Ba lan) đã cho ra đời công trình “Tác phẩm văn học” Đây
được coi là một thành công về khía cạnh lý luận vì nó đã lý giải được quá
trình đọc là quá trình như thế nào Theo ông “đọc là quá trình cụ thể hóa văn
bản ” Ông đã tìm ra những khả năng khác nhau để lĩnh hội và lý giải giá trị
tác phẩm văn học Roman Ingarden nhấn mạnh: “Tác phẩm văn học không
đồng nhất với mọi sự đọc và trong phê bình văn học, những ý kiến khác nhau không liên quan đến bản thân tác phẩm mà chỉ liên quan đến sự cụ thể hóa của từng nhà phê bình” [ 11, 43]
Ở Đức, những triết gia đi theo trường phái hiện tượng luận, bắt đầu từ Heiderger đến Gadame đã phát triển tinh thần hiện tượng học trong triết học, đặc biệt trong nhìn nhận các vấn đề của lý thuyết văn học Tác giả Gadame đã đặt ra những vấn đề hoàn toàn mới mẻ cho Lý luận văn học Ông đã đặt ra
những câu hỏi “Nghĩa của văn bản thể hiện qua cái gì? Vai trò của sự chủ ý
của nhà văn trong nghĩa này là gì? Có thể hiểu được những tác phẩm mà về mặt lịch sử và văn hóa là xa lạ đối với người đọc? Có thể có sự hiểu “ khách quan” hay mọi sự hiểu đều lệ thuộc vào tình thế lịch sử cụ thể? ”[15,15 ]
Khám phá sự vận động của cấu trúc ngôn từ động của văn bản nghệ thuật, H.G.Gadame đã đặt tiền đề quan trọng để Lý luận văn học tiến xa thêm một bước, thấy được văn bản nghệ thuật còn có những khả năng mới trong quan
hệ với những yếu tố khác, với người tiếp nhận
Theo dẫn luận của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung thì nhà lí luận
người Pháp Paul Ricoeur trong công trình Văn bản là gì (được Trương Đăng
Trang 8Dung giới thiệu và dịch ra tiếng Việt) “cho rằng tất cả mọi sự viết đều liên hệ
với lời nói có trước, rằng mọi văn bản đều ở trong tình thế thực hiện mình trong quan hệ với ngôn ngữ, giống như lời nói Tuy nhiên Paul Ricoeur cũng nhấn mạnh rằng sự giải phóng văn bản ra khỏi lời nói làm đảo lộn mối quan
hệ của ngôn ngữ và các chủ thể khác có liên quan, kể cả mối quan hệ giữa tác giả và người đọc … Điều đáng nói ở đây là Paul Ricoeur đã có những lập luận hướng tới khái niệm sự diễn giải mới xuất phát từ sự đọc… Ông cũng phê phán mô hình phản ứng cấu trúc không quan tâm đến những thái độ có thể có của người đọc đối với văn bản Theo ông có sự khác biệt giữa giải thích và diễn giải văn bản Đọc là sự kết nối sự biểu lộ mới và sự biểu lộ của văn bản Sự diễn giải văn bản là kết quả cụ thể của sự kết nối này và khả năng bắt đầu lại nhờ tính chất mở của văn bản Paul Ricoeur hiểu sự chiếm hữu là sự diễn giải văn bản đến cùng, đạt đỉnh điểm trong sự diễn giải chính mình của một chủ thể nào đó Bản chất của quá trình diễn giải là sự chiến thắng cái khoảng cách văn hóa, sự nhất thể hóa giữa văn bản và sự diễn giải bản thân của người đọc.”
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, Hans Robert Jauss tại trường Đại học Konstanz (Đức) và các cộng sự của ông được xem như người đứng đầu
đề xuất lý thuyết tiếp nhận Các bài giảng của ông sau này được chỉnh sửa và
viết thành công trình chuyên luận “Lịch sử văn học như một sự khiêu khích
đối với khoa học văn học” đã được PGS.TS Trương Đăng Dung giới thiệu và
dịch ra tiếng Việt, in trong cuốn Tác phẩm văn học nhƣ là quá trình, NXB
Khoa học xã hội, Hà nội 2004
Wolfgang Isev cùng nhiều nhà khoa học khác đã đặt ra vấn đề: Sự hiểu văn bản văn học xảy ra như thế nào? Và lý luận văn học sau một thời gian dài chỉ chú ý tới tác giả và văn bản, lần đầu tiên đã quan tâm đến người đọc, nghiên cứu vai trò của chủ thể tiếp nhận đối với sự tồn tại của một tác phẩm
Trang 9văn học Ông cho rằng khi văn bản được tung ra xã hội như một tác phẩm thì
nó cắt đứt với tác giả, số phận của nó phụ thuộc vào người đọc Nhưng người đọc vẫn hiểu được điều mà tác phẩm muốn nói Như vậy, đã có một người đọc tiềm ẩn, vô hình
Còn Roland Barthes (Pháp) nói: Khi văn bản là sách bán ra xã hội thì khi đó tác giả chết Tuy nhiên, lý thuyết này ngày càng được điều chỉnh, tác giả không chết hẳn mà vẫn thể hiện qua câu chữ, giọng điệu, không hiển hiện bằng con người thật nhưng trong văn bản vẫn có hơi thở của từng tác giả
Về sau, Derrida cũng cho rằng: “văn bản văn học không khép kín, nghĩa của nó không bị trói buộc, bằng sự giúp đỡ của tác giả hay là sự liên quan với hiện thực, văn bản văn học luôn mở, nó cần được bổ sung và tạo khả năng bổ sung” [13, 7 ]
Như vậy, từ Mỹ học sáng tạo đến Mỹ học tiếp nhận là quá trình dần bác
bỏ tính chất khép kín của văn bản văn học Thay vào đó là tính chất mở, dấu
ấn cá nhân và vai trò của người diễn giải, tiếp nhận Ý nghĩa của văn bản văn học nhờ đó ngày càng phong phú, đa dạng thêm Có lẽ còn rất nhiều những công trình khác của nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới về lí thuyết tiếp nhận nhưng trong phạm vi giới hạn của đề tài chúng tôi không thể trình bày hết ở đây
Cùng với xu hướng chung của thế giới, vào những năm 70 của thế kỉ
XX, nghiên cứu lý luận ở Việt Nam cũng bắt đầu có những quan tâm nhất định đến tiếp nhận văn học Rải rác trên các báo, tạp chí đã xuất hiện những bài nghiên cứu về tiếp nhận văn học của tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh
Phan Anh Trong tập tiểu luận phê bình “Đi tìm tác phẩm văn chương”,
Huỳnh Phan Anh đã đưa ra những quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của người tiếp nhận: “Người đọc không chỉ là kẻ thưởng ngoạn, không chỉ làm công việc ngợi ca, người đọc còn là kẻ sáng tạo vô danh Độc giả là kẻ, bằng
Trang 10chính tác động đọc của mình mang đến cho tác phẩm một ý nghĩa” [ 01 ]
Những năm 80, xuất hiện các bài viết của Hoàng Trinh và Nguyễn Văn Dân Nhìn chung những bài viết của hai nhà nghiên cứu này đều nhấn mạnh
sự tác động của người đọc đối với văn bản và thừa nhận vấn đề tiếp nhận văn học là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu, nhất là đối với nền Lý luận văn học nước ta hiện nay
Đến thập niên 90, vấn đề tiếp nhận văn học được quan tâm, nghiên cứu
nhiều hơn Đó là các bài viết của tác giả Nguyễn Lai: Tiếp nhận văn học –
một số vấn đề thời sự [29]; Nguyễn Thanh Hùng: Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học [25] Hai bài viết này mới chỉ đặt vấn đề tiếp nhận như một cơ chế
tâm lý diễn ra trong người đọc, trong một hành động đọc cụ thể Đó là hướng nghiên cứu tiếp nhận nội tại nhưng cũng đánh dấu những bước quan trọng với
Lý luận văn học nước nhà giai đoạn này Năm 1991, Nguyễn Văn Dân đã
biên soạn và giới thiệu cuốn sách “Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận”[08]
Tác giả đã đưa ra vấn đề về chủ thể tiếp nhận theo quan điểm của H.R.Jauss Đây là một công trình tương đối hệ thống trong việc giới thiệu lý thuyết tiếp nhận tại thời điểm này
Năm 1992, trên Tạp chí văn học số 1, Nguyễn Thị Thanh Thủy đề cập
đến vấn đề “Tiếp nhận văn bản văn chương trên phương diện các phạm trù
ý” [37] Năm 1995, bà lại tiếp tục phân tích “Vai trò của kinh nghiệm thẩm mĩ trong việc tiếp nhận tác phẩm văn chương” [38] Năm 1993, Đỗ Đức Hiểu
cũng bàn đến việc đọc của chủ thể tiếp nhận Ông cho rằng “Đọc trước hết là
phát hiện trong văn bản và từ văn bản một thế giới khác, những con người khác Người đọc sống trong thế giới tưởng tượng của mình những kỉ niệm, kí
ức, khát vọng riêng” [24]
Nhìn chung từ thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu, các giáo sư, giảng viên đã chú ý quan tâm đến lý thuyết tiếp nhận trong nghiên
Trang 11cứu và giảng dạy Minh chứng là vấn đề này đã xuất hiện trong giáo trình văn học Các giáo sư, nhà nghiên cứu Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương đều có những bài viết về tiếp nhận văn học Năm 1998, trong công trình viết chung với Nguyễn Văn Hạnh, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương đã nhấn mạnh đến lập trường và sự lý giải của người
đọc Đó là “khi nhà văn kết thúc trang viết cuối cùng của tác phẩm thì lúc đó
tác phẩm mới bắt đầu vòng đời của nó, như đứa con đã được cắt rốn khỏi lòng mẹ Nói cách khác, quá trình hoạt động của tác phẩm không phải là một chu trình đóng kín mà nó mở về phía đời sống Và đến với những tác phẩm lớn thì cuộc đời của nó luôn ẩn chứa những khả năng mới sẽ bộc lộ khi nó viễn du qua không gian và thời gian” [22, 136]
Riêng nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề tiếp nhận như: Mấy vấn đề tiếp nhận văn học, Lý luận tiếp nhận và
phê bình văn học, Ngôn ngữ với việc lĩnh hội tác phẩm thơ đã lý giải những
vấn đề cơ bản nhất của lý thuyết tiếp nhận
Năm 1997, nhà nghiên cứu Phương Lựu viết cuốn “Giáo trình tiếp nhận văn học” Trong công trình này, ông đã chỉ ra cả ưu và nhược điểm của Mỹ học tiếp nhận thế kỷ XX, từ đó hoạt động văn học được ông xem xét trên hai bình diện vĩ mô và vi mô Lý thuyết tiếp nhận còn được ông giới thiệu trong
một số công trình khác như giáo trình Lý luận văn học, Lý luận phê bình Văn
học phương Tây thế kỉ XX, Mười trường phái phê bình Văn học phương Tây
Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh thì “người có thành tích
nhất trong việc giới thiệu lý thuyết này ở nước ta là Trương Đăng Dung”
Vấn đề về lý thuyết tiếp nhận được PGS TS Trương Đăng Dung nghiên cứu
một cách khoa học và rất hệ thống Trong cuốn “ Từ văn bản đến tác phẩm
văn học” [10], tác giả đã đặt ra vấn đề: Tính chất mở của tác phẩm là điều kiện quan trọng của sự thưởng thức thẩm mỹ Ông cho rằng mỗi lần đọc là
Trang 12một lần người đọc “vấp ngã” vào văn bản Ở tạp chí Văn học nước ngoài số 4 – 2003, trong bài viết “Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học” ông nhấn mạnh đến vai trò của chủ thể tiếp nhận: “Tác phẩm văn học phụ thuộc vào
những hoạt động cụ thể hóa (đọc) có chủ ý của người đọc và bản thân tác phẩm cũng hiện ra đúng với diện mạo của nó nếu gặp được sự cụ thể hóa lý tưởng Sự cụ thể hóa này, mỗi người một vẻ, không giống ai Như vậy tác phẩm văn học là vật hai lần có ý thức” [12, 164] Đây là một ý kiến mới so
với các công trình trước đó Điều này cho thấy chính tính đa nghĩa và độ mở của văn bản khiến cho những cách lý giải về nó đều có cơ hội tồn tại và trên thực tế không thể có kết luận cuối cùng về giá trị của tác phẩm Cũng ở bài
viết này, PGS TS Trương Đăng Dung nhấn mạnh quan điểm: “Tác phẩm văn
học tồn tại thông qua việc người ta đọc nó và sự tác động của nó với người đọc” [12, 164] và nêu lên hướng tiếp cận “phương thức tồn tại của tác phẩm văn học” trên hai bình diện: Một là tính chất ngôn ngữ, cái quyết định đặc trưng văn học của văn bản; Hai là khả năng tạo lập đời sống cụ thể của văn bản văn học qua người đọc Để khẳng định những luận điểm trên, trước đó
ông đã dịch và giới thiệu công trình “Tác phẩm văn học” của Roman Ingarden
và công trình “Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn
học” Mặt khác, ở Tạp chí Văn học số 3 – 2004, tác giả Trương Đăng Dung
lại có bài viết: “Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa” [14] Như vậy, tổng
hợp các công trình nghiên cứu của PGS TS Trương Đăng Dung, ta thấy tác giả đã đề xuất hướng tiếp cận phương thức tồn tại của tác phẩm văn học trên
hai bình diện: “Tác phẩm văn học như là hình thức ngôn ngữ đặc trưng; Tác
phẩm văn học như là hình thức đọc đặc trưng Trên cơ sở đó chúng ta có thể nhìn nhận tác phẩm như là quá trình, quá trình tạo nghĩa mang tính chất quan hệ của văn bản văn học” [09] Đây cũng là một trong những vấn đề
quan trọng của Lý luận văn học hiện đại và hậu hiện đại Việc tiếp cận bản
Trang 13chất của tác phẩm văn học từ đặc trưng của văn bản và sự tạo nghĩa thông qua người đọc đã cho thấy tác phẩm văn học không tĩnh mà luôn động, không phải sản phẩm cố định mà là quá trình Đây là điều quan trọng trong nghiên cứu tác phẩm văn học Hơn nữa, trong các công trình có bàn tới lý thuyết tiếp nhận của tác giả Trương Đăng Dung còn có một điểm thống nhất là: đặt đối tượng nghiên cứu trong tiến trình vận động có quy luật của tư duy lý luận văn học và sự vận động của tư duy lý luận văn học lại được soi sáng, lý giải trên nền tảng sự vận động của tư duy triết học và Mỹ học nhân loại thế kỷ XX
Tất cả các công trình, bài nghiên cứu trên đây về lý thuyết tiếp nhận rất đáng trân trọng và sẽ là những định hướng quý báu giúp chúng tôi trong quá trình triển khai và hoàn thiện đề tài của mình
2.2 Tình hình nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp
Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp ngay từ khi mới xuất hiện đã gây ra những tương phản dữ dội trong dư luận và hiện nay những tranh luận gay gắt
ấy vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại Số lượng các bài viết về tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp rất lớn, những ý kiến đánh giá xung quanh những bài viết
ấy cũng nhiều Sự đánh giá đa dạng ấy vô hình chung đã thừa nhận Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng văn học phức tạp và tác phẩm của ông luôn có
độ mở Thụy Khuê trong bài viết “Sử quan trong văn Nguyễn Huy Thiệp” đã
nói “sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp gây những tương phản dữ dội trong
dư luận Tại sao? Rất có thể vì cho đến bây giờ, người ta chưa quen với một phong cách văn chương đa diện, đa âm như thế Trên con đường một chiều, bạn đi dọc ngang, đa đoan, đa dạng, là loạn Phản ứng chống đối mãnh liệt của một số người khi những tác phẩm này xuất hiện chứng minh sự thành
công của Nguyễn Huy Thiệp và làm lộ tính chất “lừa bịp” cũng như tác dụng
hý lộng của văn chương” [27] Năm 2001, tác giả Phạm Xuân Nguyên đã tập
hợp, biên soạn những bài viết về Nguyễn Huy Thiệp trong cuốn sách Đi tìm
Trang 14Nguyễn Huy Thiệp [34] Trong cuốn sách này các bài viết chủ yếu phân
thành hai luồng chính là phản đối và đồng tình Các ý kiến phản đối một phần
do người đọc đồng nhất cái phản ánh với cái được phản ánh Mặt khác, trong thời điểm văn học đã đổi mới, cách tân rất nhiều thì họ vẫn dùng nhãn quan một chiều, thụ động, định kiến để đánh giá tác phẩm nên không thể tránh khỏi những hạn chế Còn những ý kiến đồng tình xoáy sâu vào những mới mẻ, những sáng tạo trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp và đưa ra những khám
phá rất ý nghĩa Bài viết tiêu biểu là “Thị hiếu và lối đọc truyện hiện nay qua
một cuộc tranh luận” của GS Đặng Anh Đào Bên cạnh việc đánh giá các giá
trị tác phẩm còn bước đầu nêu lên lí do cụ thể khiến cho truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp có nhiều tranh cãi là “Nguyễn Huy Thiệp đã gây ra một cái hẫng
giữa phát và nhận Lối viết đa âm đụng phải lối đọc thánh thư” và thế là không cùng “sóng” nên gây tranh cãi Cũng trong bài viết này tác giả còn khẳng định “tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp do sức mạnh gợi mở ra bên ngoài cuộc đời quá, do thức dậy quá nhiều liên tưởng, nên mọi người đều gán cho
nó sự liên tưởng của mình và sinh ra cãi nhau Những người ưa đọc thánh thư bực mình vì muốn tìm câu phán của nhà văn, có khi lại gắn nhầm, cho rằng nhà văn đã phán láo Ngược lại, người đọc thiên về trí tuệ đã phản đối cách đọc ấy, gây nên độ căng của cuộc tranh luận khó dứt, và cũng khẳng định đổi mới của thị hiếu hiện nay” [34] Ngoài ra, trong bài viết “Khi ông Tướng về hưu xuất hiện”, bà đã nêu ra lối tiếp nhận cũ từ trong truyền thống và lối tiếp
nhận mới của người đọc khi họ đem chúng ra để xem xét truyện ngắn này
Đọc Tướng về hưu mà người đọc tự tạo ra một khoảng cách để nhìn nhận
vấn đề trước lối viết thản nhiên và trung hòa của nó, ấy là cách đọc mới
Ngược lại, bạn đọc đọc Tướng về hưu theo trật tự tuyến tính, tìm xem nhân
vật nào là chính diện, nhân vật ấy trừng trị cái ác như thế nào? Và tiếng nói của nhân vật đó chính là tư tưởng của tác phẩm, ấy là cách đọc cũ GS Đặng
Trang 15Anh Đào cho rằng với Tướng về hưu “không thể đọc trên một dòng chữ, một
đoạn mạch, mà là ở sự khái quát của người đọc” [34] Ý kiến của bà đã đề
cập đến một vấn đề quan trọng của lý thuyết tiếp nhận, đó là: yếu tố “văn bản” và “cách đọc” đã đem đến cho người tiếp nhận những kết quả khác nhau khi cùng tiếp cận một tác phẩm
Tác giả Thái Hòa trong bài viết “Có nghệ thuật Ba-rốc trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp hay không” cũng đã bày quan điểm của mình về vấn
đề tiếp nhận của người đọc, nhưng ông đề cập đến phương diện nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Tác giả Thái Hòa cho rằng “nhân vật
của Nguyễn Huy Thiệp mang sức tải của một quan niệm sống, quan niệm xử thế với người đời Những quan niệm khác nhau va chạm, xung đột, bùng nổ
Và chính khi người đọc phản ứng mạnh mẽ với Nguyễn Huy Thiệp, tức cũng tự trình bày một cách hiểu, một quan niệm về cuộc sống, về văn chương nghệ thuật” [34] Ý kiến của tác giả Thái Hòa cho thấy các quan điểm khác nhau khi
đánh giá về nhân vật nói riêng và tác phẩm văn học nói chung, thể hiện tinh thần dân chủ trong tiếp nhận và sự phong phú trong cảm thụ văn học
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong bài viết “Đọc văn phải khác với
đọc sử” [34] cũng cho bạn đọc thấy một vấn đề quan trọng khi tiếp cận tác
phẩm văn học, ấy là “cách đọc” Văn chương được quyền hư cấu nên nó khác
xa với các công trình sử học Ngoài ra, ông còn đề cập đến yếu tố văn bản, đó
là sự lự chọn kết thúc mở trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những cách hiểu không giống nhau từ phía
người đọc Khi nói về truyện ngắn Vàng lửa, tác giả viết “Ba đoạn kết dự
kiến do vai tôi tạo ra làm cho câu chuyện trở nên bất định, có thể thế này hoặc thế kia Nhưng sự bất định của các chi tiết sự kiện lại một lần nữa đánh thức cách nhìn chủ động, xác định ở từng người đọc” [34,182] Và ông còn
khẳng định “muốn tôn trọng người đọc với sự nhận thức rất độc lập của họ thì
Trang 16nên để họ tự xác lập lấy các nhận định của họ” [34,183]
GS Đỗ Đức Hiểu, xuất phát từ quan điểm Thi pháp học, trong quá trình
“đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” đã nhận thấy một số tác phẩm văn học thế kỷ XX rất khó đọc, khó hiểu, trong đó có tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp Do đó,
“người đọc không còn thụ động thưởng thức tác phẩm văn học mà trở thành
người đọc tích cực: đọc là một cuộc phiêu lưu giữa văn bản ngôn từ người đọc phải từ bỏ lối đọc truyền thống và phải rèn luyện cách đọc tích cực, tức
là phải khám phá, phải cùng nhà văn sáng tạo” [34, 477] Ý kiến này của nhà
nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã dần đưa chúng ta tiếp cận với một lý thuyết văn học quan trọng của nhân loại cuối thế kỷ XX: Lý thuyết đọc
Tác giả Văn Giá trong bài viết “Bàn thêm về Vàng lửa của Nguyễn Huy
Thiệp” đã nhận xét về cách kết thúc “mở” trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp: “Một số truyện ngắn gần đây của Nguyễn Huy Thiệp không có kết thúc rành mạch theo những phương pháp dễ dãi Anh luôn đưa ra những giả định có thể thế này, thế kia, thế khác nữa, hối thúc người đọc suy nghĩ tự tìm ra lối kết thúc theo lối riêng của mình, không cho phép biếng lười, ăn sẵn Nhìn rộng hơn, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều tầng ý nghĩa được nén lại trong
sự trình bày kiệm lời Một số nhận vật của anh ta là những ẩn dụ đa nghĩa” [34, 205] Nhận xét này có liên quan đến yếu tố “văn bản” và yếu tố đồng sáng tạo của “người đọc”, là những vấn đề quan trọng của lý thuyết tiếp nhận
Ngoài ra, cũng có một số luận văn động chạm, đề cập đến tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp như luận văn thạc sĩ Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn
Huy thiệp của tác giả Nguyễn Thị Lan, ĐHSP Hà Nội 2, luận văn thạc sĩ
Vấn đề tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của tác giả Trần Thị
Diễm Hằng, ĐHSP Hà Nội 2
Tất cả những bài viết, luận văn, các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc tìm hiểu cũng như khẳng định vị trí của
Trang 17Nguyễn Huy đối với văn học Việt Nam Tuy nhiên cho đến nay chưa có bài viết hay luận văn nào đi sâu vào tìm hiểu quá trình tiếp nhận và những giới hạn trong tiếp nhận sáng tác của nhà văn này một cách cụ thể và hệ thống Bởi lẽ đó, với
đề tài “Giới hạn của sự diễn giải văn bản văn học qua lịch sử tiếp nhận sáng
tác Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi sẽ tập trung làm sáng rõ vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi giới thiệu sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp như một hiện tượng mới và lạ Đồng thời khảo sát các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình về sáng tác của cây bút này, từ đó thấy được các cách tiếp nhận khác nhau về tác phẩm của ông
Qua đề tài “Giới hạn của sự diễn giải văn bản văn học qua lịch sử
tiếp nhận sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi sẽ lí giải những
nguyên nhân cụ thể tại sao xung quanh sáng tác của nhà văn này lại có nhiều
ý kiến khen chê, trái chiều gay gắt như vậy Từ đó giúp bạn đọc có cái nhìn khách quan về hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp
Đồng thời, đề tài này cùng với các công trình, bài viết, nghiên cứu trước đó góp phần khẳng định lại những đóng góp quan trọng của Nguyễn Huy Thiệp vào quá trình đổi mới Văn học Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tìm hiểu những đặc điểm của văn bản
và sự diễn giải văn bản văn học Lấy đó làm cơ sở soi sáng những giới hạn của việc tiếp nhận văn học với trường hợp cụ thể là truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tìm hiểu đề tài này, chúng tôi tập trung vào Truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp, NXB Hội nhà văn, Tái bản năm 2005
Ngoài ra, chúng tôi có khảo sát thêm một số tác phẩm khác của Nguyễn Huy Thiệp và một số tác giả cùng thời để làm sáng rõ vấn đề của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên
Trang 18cứu cơ bản như sau:
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp khảo sát, thống kê
Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Tư duy lí luận văn học hiện đại về bản chất của văn bản văn học
Chương 2: Văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới và sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp
Chương 3: Những giới hạn trong tiếp nhận sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
7 Đóng góp của luận văn
Với đề tài này, chúng tôi khảo sát quá trình tiếp nhận sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp để từ đó thấy được những giới hạn trong quá trình tiếp nhận và những nguyên nhân dẫn đến giới hạn của sự diễn giải văn bản văn học ấy Từ đó có cơ sở để nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện về một tác giả đang được đánh giá là có những đóng góp quan trọng với văn học Việt Nam đương đại
Cùng quá trình nghiên cứu, luận văn cũng muốn khẳng định: lịch sử văn học không đơn giản là con số cộng của các tác giả và tác phẩm mà còn được hiểu là các tác phẩm với người tiếp nhận trong những chuyển biến lịch
sử của nó Tác phẩm văn học không phải là sản phẩm cố định mà là quá trình tạo nghĩa không ngừng thông qua người đọc Bởi lẽ đó, luận văn này một phần
có tác dụng định hướng cho người đọc cách tiếp nhận đúng đắn một tác phẩm văn học để thực sự thưởng thức được những giá trị đích thực, tích cực của nó
Trang 19CHƯƠNG 1
TƯ DUY CỦA LÍ LUẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VỀ
BẢN CHẤT CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC
Trong tư duy của Lí luận văn học truyền thống, bản chất của văn bản văn học được xem xét trong hai mối liên hệ chủ yếu: thứ nhất là mối liên hệ giữa văn bản và hiện thực, thứ hai là mối liên hệ giữa văn bản và tác giả Trước hết, mối liên hệ giữa văn bản và hiện thực đã có nền móng từ thuyết
mô phỏng của Socrate (469 – 399 TCN), coi con người là trung tâm của mọi
sự chú ý Đến Aistote, khi bàn về nghệ thuật, ông xem nó là sự bắt chước, mô phỏng, phản ánh hiện thực Như thế việc sáng tạo ra tác phẩm chỉ là sự mô phỏng lại dạng thái và quá trình của sự vật, là sự cụ thể hóa những quy tắc có trước Chính điều này đã hình thành một truyền thống văn học với những tác phẩm được gọi là cổ điển, mẫu mực nhưng đồng thời cũng làm hạn chế sự sáng tạo của tác giả và vai trò đồng sáng tạo của người đọc Từ nguyên tắc bắt chước, mô phỏng của Aistote, mối quan hệ giữa văn học và hiện thực được xác lập Đây là một hướng tiếp cận bản chất của văn bản văn học đã từng tồn tại trong lịch sử và được xem như yếu tố cơ bản trong hệ thống tư duy Lí luận văn học truyền thống Trong mối liên hệ giữa văn bản văn học và tác giả thì quan niệm văn bản tác phẩm văn học là nơi để chuyển tải tư tưởng, tâm sự và thông điệp của nhà văn cũng đã trở thành một truyền thống trong tư duy văn học Mối quan hệ nhân quả trong quan niệm này đã chi phối đến cách nhìn tác phẩm văn học trong một thời kì dài Điều đó cho thấy Lí luận văn học và mĩ học truyền thống đã tiếp cận tác phẩm văn học trước hết bằng con đường tìm hiểu tác giả mà không xuất phát từ phía chủ thể tiếp nhận
Trong quan niệm truyền thống, văn bản – tác phẩm văn học như là một
Trang 20vật phụ thuộc trong quan hệ với hiện thực, tác giả, bởi lẽ đó nghiên cứu văn học chủ yếu căn cứ vào những yếu tố ngoài văn học như hiện thực, thời đại, tiểu sử tác giả…Tựu chung lại, trong tư duy Lí luận văn học truyền thống, điều quan trọng không phải là phương thức tồn tại của tác phẩm mà là vấn đề tác phẩm đã ra đời như thế nào
Từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, tư duy Lí luận văn học hiện đại đã
có những khám phá rất mới mẻ và tiến bộ về phương thức tồn tại cũng như bản chất của văn bản văn học Cùng với sự hình thành và phát triển của khoa học văn học từ cuối thế kỉ XIX, ở châu Âu, Lí luận văn học ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống các khoa học văn học Trải qua hơn một thế kỉ,
tư duy Lí luận văn học hiện đại đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận trong việc khám phá bản chất của văn bản văn học Từ cuối thế kỉ XIX trở đi, Lí luận văn học không còn chỉ là sự “bàn luận văn chương” mà vượt lên trên điều đó, Lí luận văn học xuất hiện như là hệ quả trong sự phát triển của văn học Trong quá trình lịch sử, đã có những thay đổi trong sự tồn tại của tác phẩm văn học, chính sự thay đổi này đặt ra yêu cầu mới liên quan đến các phương pháp chiếm lĩnh tác phẩm văn học, tạo nên sự cần thiết phải đổi mới
tư duy Lí luận văn học Sự đổi mới ấy trước hết từ thành tựu Lí luận của các nước phương Tây và từng bước được vận dụng, giới thiệu vào hệ thống Lí luận văn học Việt Nam
1.1 Về bản chất của ngôn ngữ
Lí luận văn học tiền hiện đại quá coi trọng yếu tố tác giả, coi trọng khám phá ý đồ sáng tạo của tác giả Vì vậy trong quan điểm truyền thống, tác phẩm được đồng nhất với thế giới tư tưởng của nhà văn, bị chi phối bởi hệ tư tưởng của nhà văn Việc đọc tác phẩm trong quan niệm truyền thống gắn bó mật thiết với những ý tưởng của người sáng tác Bước sang thế kỉ XX, nhiều thành tựu lớn của Lí luận văn học ra đời Thành tựu của khoa học xã hội nhân
Trang 21văn cũng cho thấy không thể tin cậy tuyệt đối vào năng lực phán đoán chủ quan của con người trước các đối tượng Tư duy lí luận văn học hậu hiện đại lại có những khám phá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản văn học trong mối quan hệ với các yếu tố khác và trong mối quan hệ với người tiếp nhận Chính điều này chứng tỏ những quan niệm truyền thống về tác phẩm văn học trong Lí luận văn học đã không còn phù hợp nữa Một số lĩnh vực khoa học xã hội như: Ngôn ngữ học, Cấu trúc luận, Hiện tượng luận, Kí hiệu học, Lí thuyết thông tin, Tường giải học, Tâm lí học…đã có những thành tựu nhất định làm cơ sở tiền đề cho những kiến giải mới của nhiều trường phái Lí luận ở thời kì hiện đại xuất hiện Bởi thế có thể nói thế kỉ XX đánh dấu một bước chuyển mới của Lí luận văn học
Từ đầu thế kỉ XX, vấn đề tác phẩm được đặt ra dưới luồng ánh sáng mới Không thể không nhắc đến vai trò của Fedinand de Saussure (1857 – 1913) với sự ra đời của lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại Đây được coi là sự đột phá đối với khoa học văn học nói chung và Lí luận văn học nói riêng Những vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học hiện đại đã có ảnh hưởng rất lớn đến các khoa học xã hội và nhân văn Một số luận điểm cơ bản của Fedinand de Saussure đã được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình và vận dụng như: Thứ nhất, ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu, được tạo nên bởi sự kết hợp giữa hai mặt “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” Quan hệ giữa chúng là quan hệ quy ước, võ đoán, dựa trên sự cảm nhận chủ quan của con người chứ không tồn tại trong bản thân sự vật Thứ hai, ý nghĩa của từ ngữ mang tính chất quan hệ Thứ ba, chính ngôn ngữ cấu tạo nên những khái niệm giúp con người cảm nhận về thế giới hiện thực, vì vậy ngôn ngữ mới là nhân tố căn bản cấu tạo hiện thực chứ không phải đóng vai trò ghi nhận hiện thực
Lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại của Fedinand de Saussure đặt trọng tâm nghiên cứu ở phương diện đồng đại, ở cấu trúc và tính hệ thống của ngôn
Trang 22ngữ, giải thích sự hình thành và duy trì ý nghĩa cùng những chức năng liên quan đến cấu trúc ngữ pháp Ý nghĩa của kí hiệu chỉ nảy sinh trong mối quan
hệ với các kí hiệu khác, chính cấu trúc và các mối liên hệ đã tạo nên ý nghĩa của từ Ngôn ngữ cấu tạo nên khái niệm vì vậy ngôn ngữ là nhân tố căn bản cấu tạo hiện thực, sáng tạo ra tư tưởng chứ không phải chỉ đóng vai trò ghi nhận hiện thực một cách thụ động như quan niệm truyền thống Từ đây chúng
ta ý thức được ngôn ngữ không chỉ là “công cụ của tư duy”, là cầu nối trung gian giữa con người và hiện thực mà còn có khả năng “kiến tạo thế giới” Cũng bắt đầu từ đây, trung tâm chú ý của văn học chính là cấu trúc ngôn ngữ Những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại cùng với các kết quả nghiên cứu của các khoa học khác như cấu trúc luận, kí hiệu học đã mang lại cho khoa học văn học những phương thức mới trong quá trình khám phá bản chất tác phẩm văn học
Để có một tư duy hướng về chủ thể tiếp nhận trong quan hệ với tác phẩm văn học thì bước đầu tiên quan trọng nhất là việc phát hiện ra vai trò của văn bản Khoa học văn học hiện đại đã tách tác phẩm văn học ra khỏi tác giả và loại
bỏ những gì liên quan đến mối quan hệ nhân quả trong tư duy Lí luận văn học tiền hiện đại Chỉ còn lại tác phẩm văn học như là hình thức ngôn ngữ đặc trưng,
là hiện tượng ngôn ngữ Nghiên cứu tác phẩm văn học giờ đây không phải chỉ theo lối suy diễn, thông qua các hiện tượng ngoài văn học mà xem nhẹ các đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm Có thể nói “ngôn ngữ học và triết học ngôn ngữ” thời hiện đại cũng đã xác lập những quan điểm nghiên cứu văn học Nhiều nhà hình thức chủ nghĩa đã thâm nhập sâu vào bản thể văn học qua những yếu tố hình thức cấu thành nên tác phẩm như: chất liệu, thủ pháp, hình thức…của văn bản văn học Nhiều tên tuổi cũng như nhiều trường phái Lí luận văn học dựa vào tính ngôn ngữ để đề cao tính kí hiệu, phủ nhận tính phản ánh, khẳng định không gian ngôn ngữ và quyền tự trị ngữ nghĩa của văn bản văn học Việc xem tác phẩm như một đối tượng độc lập, tập trung khám phá những quy luật bên trong
Trang 23vào ngôn ngữ, vào cấu trúc, thủ pháp để tìm ra ý nghĩa tác phẩm Nhưng ở mỗi tác giả, mỗi trường phái lại có những cách lí giải riêng của mình
1 Edmund Husserl, người sáng lập triết học hiện tượng học, chỉ nhìn thấy vai trò thứ yếu của ngôn ngữ trong hoạt động nắm bắt một hiện tượng nhất định nào đó của con người Theo ông hoạt động nắm bắt một hiện tượng nào đó được thực hiện độc lập với ngôn ngữ Ngôn ngữ chỉ là hoạt động thứ hai, nó đặt tên cho cái mà bằng cách nào đó chủ thểđã tri giác được từ trước Ngôn ngữ, theo Husserl, như một thứ vỏ bọc dùng để giữ lại các nghĩa được hình thành độc lập với nó Nghĩa của tác phẩm văn học, do đó chỉ là cái mà tác giả có chủ định từ đầu, nó thuộc về ý thức chủ quan hơn là về ngôn ngữ Theo quan điểm này, nghĩa của một tác phẩm văn học chỉ có một lần, nó đồng nhất với cái “khách thể ý thức” mà trong khi viết nhà văn có ý hướng tới Do
đó, có thể có nhiều sự diễn giải một văn bản văn học nhưng tất cả đều phải nằm trong hệ thống mà nghĩa chủ ý của tác giả quy định Tức tác phẩm văn học chỉ có một nghĩa mà thôi
Đến các quan điểm triết học của M Heidegger đã đáp ứng được cái nhìn mới về ngôn ngữ Trong công trình “Trên đường đến với ngôn ngữ” được nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung dịch ra tiếng Việt, M.Heidgger đã gọi “ngôn ngữ là ngôi nhà của Hữu thể” Theo ông, ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp, mà cao hơn thế, nó có khả năng tạo lập đời sống Nếu Husserl chỉ xem ngôn ngữ là công cụ thứ yếu dùng để thể hiện các ý tưởng có sẵn, thì Heidegger xem ngôn ngữ là nơi mà đời sống con người diễn ra, là cái đầu tiên tạo ra thế giới Heidegger cho rằng ngôn ngữ là sự kiện có đẳng cấp cao nhất của sự tồn tại của con người, ông không xem ngôn ngữ chỉ là sự thể hiện của một chủ thể Khác với E.Husserl, M.Heidegger không nghi ngờ tổ chức nghĩa của một ngôn ngữ mang tính xã hội Khi ông cho rằng lời nói không chỉ hoàn toàn là các kí hiệu, lời nói có hai mặt: hướng đến người nào
Trang 24đó và đặt điều kiện cho người đó phải nỗ lực hướng về sự hiểu, chính là ông
đã gợi ý những ý tưởng quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề nghĩa và sự tạo nghĩa của văn bản thông qua người đọc Do quan niệm như vậy về ngôn ngữ, Heidegger cho rằng, sự diễn giải văn chương không tùy thuộc vào tính năng động của người đọc Tác phẩm văn học là cái mà người đọc để cho nó xảy ra nhờ văn bản Người đọc đứng trước văn bản văn học như là trước mê cung của thế giới ngôn từ đầy bí ẩn Heidegger gọi triết học của mình là “sự minh giải Hữu thể” Chính vì vậy, người ta gọi hình thức triết học của Heidegger là “hiện tượng học giải thích” để phân biệt với “hiện tượng học siêu nghiệm” cuả Huserl Cũng trong công trình dịch của Trương Đăng Dung
“Trên đường đến với ngôn ngữ” viết năm 1959, với sự đổi mới ngôn ngữ
triết học, Heideggerđã nêu lên một số vấn đề quan trọng là “sự hòa trộn giữa tồn tại và ngôn ngữ trong nhau” Quan điểm này được một nhà tường giải triết học lớn người Đức tên là Hans Georg Gadamar tiếp tục phát triển trong công
trình nghệ thuật nổi tiếng “Chân lí và phương pháp”
H.G.Gadamar đã có bước đi quan trọng trong việc tạo ra khái niệm ngôn ngữ tường giải học và trong việc phê phán những quan điểm của các lí
thuyết ngôn ngữ học hiện đại Trong công trình triết học - nghệ thuật “Chân lí
và phương pháp” (1964) Gadamarđã dành trọn cả phần III có tựa đề “Bước
ngoặt bản thể của tường giải học” để nghiên cứu về ngôn ngữ với các tiểu mục:
1 Ngôn ngữ như là vùng kinh nghiệm tường giải học
2 Sự hình thành khái niệm ngôn ngữ trong lịch sử tư duy châu Âu
3 Ngôn ngữ như là chân trời bản thể tường giải học
H.G.Gadamar đã bác bỏ quan niệm công cụ về ngôn ngữ, ông viết:
“Người diễn giải không sử dụng lời nói và các khái niệm như người thợ thủ
công sử dụng các công cụ của mình” Theo Gadamar, lời nói không phải là
sản phẩm của hình thức tâm linh nào đó, nó không phải những sở hữu của
Trang 25năng lực nhận thức, lời nói là những cái bên ngoài, là tiên nghiệm Gadamar cho rằng không phải con người tìm ra, tạo ra lời nói mà là lời nói tìm thấy chúng ta Ngôn ngữ không phải là công cụ mà là một hiện tượng, một quá trình vừa liên quan đến quá khứ vừa đi trước vào tương lai Gadamar cũng nhấn mạnh rằng ngôn ngữ không phải là công cụ để chúng ta thể hiện một cái
gì đó mà là nơi để chúng ta tồn tại Mọi yếu tố kí hiệu và sử dụng kí hiệu đềuđược nhìn nhận trong tinh thần đó Nhờ lời nói chúng ta mới chuyển dịch được vào thế giới, vào các tình huống của tồn tại Nhờ ngôn ngữ mà con người có thế giới của mình Mối quan hệ giữa thế giới và ngôn ngữ là tương
hỗ, thế giới là thế giới nhờ ngôn ngữ, còn ngôn ngữ là ngôn ngữ nhờ thế giới thể hiện trong nó Điều này không có nghĩa là ngôn ngữ thể hiện thế giới mà
là ngôn ngữ tồn tại thông qua thế giới và thế giới tồn tại trong tính chất ngôn ngữ Nói một cách khái quát, thế giới là cái tương đồng của ngôn ngữ và ngôn ngữ là cái tương đồng của thế giới Ngôn ngữ và thế giới là những hiện tượng tiên nghiệm, vượt lên cá nhân, trong quá trình hiểu một cái gì đó thì chúng ta mới đến được với chúng, sự tồn tại của chúng ta mới hiện hữu trong chúng
2 Liên quan đến cái nhìn mới về ngôn ngữ, không thể không nói tới trường phái hình thức Nga với các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ của các nhà ngôn ngữ học trẻ tuổi thời đó Ra đời trong những năm đầu thế kỉ XX, trường phái hình thức Nga được coi là trường phái mở đầu cho tiến trình hiện đại hóa Lí luận văn học Sự xuất hiện của trường phái này như một sự phủ định đối với chủ nghĩa chủ quan trong mĩ học truyền thống và cũng chính là hệ quả tất yếu của tư duy lí luận thế kỉ XX trước những đổi mới của thời đại
Trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, các nhà ngôn ngữ học đã có những nỗ lực lớn trong việc khám phá bản chất của chất liệu văn học, từ đó có cái nhìn đúng về bản chất của tác phẩm văn học và sự tiến triển của văn học Như là cấu trúc ngôn từ động, văn bản là tập hợp các kí hiệu
Trang 26ngôn ngữ có đời sống riêng, với năng lượng ngữ nghĩa riêng, độc lập với tác giải của nó Những công trình nghiên cứu của Jakubinxky và Shklovski đã cho thấy rằng “có sự tồn tại một sự thực hành ngôn ngữ mà chức năng thông báo trực tiếp lùi ra phía sau, nói cách khác, trong thơ việc sử dụng các từ mang nghĩa không có vai trò quyết định” Trong các công trình nghiên cứu của các nhà hình thức Nga, bên cạnh việc phân tích chi tiết sự khác biệt giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời sống là mối quan tâm của họ đến sự phát triển của văn học hay sự vận động của các hình thức văn học Từ đây đối với các nhà hình thức Nga, đối tượng của khoa học văn học không phải là văn học mà là tính văn học Đối với họ, hình thức không phải là cái nồi để đổ nước (nội dung) vào Đặc trưng nghệ thuật không thể hiện qua những yếu tố nằm trong tác phẩm mà qua việc sử dụng một cách đặc trưng các yếu tố đó Như vậy, khái niệm hình thức có đượcý nghĩa mới
mà không cần đến khái niệm nội dung bên cạnh Trong công trình “Lí thuyết
về phương pháp hình thức”, Eikhenbaum đã có những đánh giá công bằng
và tự tin của một người trong cuộc về chặng đường 10 năm của chủ nghĩa hình thức Nga Ông đồng ý với Shklovxki rằng: “không nên lấy lí do văn học
là sự diễn tả xã hội mà lẫn lộn lịch sử văn học và lịch sử nói chung Đó là hai thứ khác nhau”
Chủ nghĩa hình thức Nga đánh giá cao lí luận vì coi đó là một giả thuyết để làm việc và nhờ nó mà người ta hiểu được những sự kiện văn học,
bởi “trên thực tế, các nhà lí luận của chủ nghĩa hình thức Nga cũng đã có
những đóng góp quan trọng trong việc khám phá những quy luật nội tại trong tác phẩm văn học như là trong cấu trúc ngôn từ động”[10]
Trong quan niệm của các nhà hình thức Nga, đối tượng của khoa học văn học không phải là văn học mà là “tính văn học” Bắt đầu bằng những nỗ lực của trường phái này trong việc nghiên cứu chất liệu văn học, tính văn học,
Trang 27lí luận văn học hiện đại thực sự quan tâm đến văn bản văn học như là trung tâm tạo nghĩa Điều này cho thấy sự khác biệt giữa văn bản văn học như là đối tượng của phân tích cấu trúc và như là đối tượng của phân tích lịch sử Lí luận văn học hiện đại đã hướng đến việc lí giải phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, tính chủ ý và không chủ ý cũng như tính chất mở của văn bản nghệ thuật trong quan hệ với người đọc
Xét về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội, chúng ta cần thiết phải nhắc đến các nhà khoa học xuất hiện ở chặng cuối của trường phái hình thức Nga và chủ nghĩa Marx, đó là các tên tuổi như: M Bakhtin, P Medvegyev và
V Volosinov Bakhtin và các đồng nghiệp của ông đã nghiên cứu ngôn ngữ trong các tình huống xã hội và nhận thấy rằng “lời nói” luôn có tính đối thoại
Theo ông: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con
người Sống tức là tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý….con người
ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc đối thoại không bao giờ kết thúc”[06] Theo Bakhtin, việc phổ cập tính
hội thoại và phiếm thoại làm nên sự thống nhất của ngôn ngữ chứ không phải
là lời nói cá thể hay các yếu tố sáng tạo của câu Như vậy, thông điệp của lời nói còn phụ thuộc vào người đối thoại chứ không chỉ phụ thuộc vào người phát ngôn Quan điểm này của Bakhtin về tính đối thoại nội tại của lời nói không chỉ soi sáng những đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết mà còn giúp chúng ta có cái nhìn khoa học hơn về tác phẩm văn học nói chung
Tinh thần khoa học của trường phái hình thức Nga vẫn dược các nhà khoa học tiếp tục phát huy Đặc biệt có thể nhắc tới ở đây là trường phái Phê bình mới và Chủ nghĩa cấu trúc
3 Giống như sự tiếp nối, phát triển của chủ nghĩa hình thức Nga, trường phái Phê bình mới ra đời vào những năm 20 ở Anh và từngđuọc xem
là phương thức nghiên cứu tác phẩm văn học cơ bản ở Mĩ vào những năm 30
Trang 28-40 Với những tên tuổi nổi tiếng qua các thế hệ của Phê bình mới như: Irot Armstrong, Richard, Thomas Sterns Eliot, John Crowe Ransom, Rene’Wellek….Trường phái này cũng từ việc phê phán các phương pháp phê bình truyền thống đặt ra những vấn đề mới trong nghiên cứu văn học liên quan đến văn bản và giải thích văn bản Họ cho rằng tác phẩm văn học như một khách thểý thức độc lập, văn bản là đối tượng duy nhất của văn học Văn bản chính là một cấu trúc ý nghĩa Văn bản được xem là một thực thể ngôn từ đầy bí ẩn, do vậy mục đích của phê bình là khám phá ý nghĩa của văn bản, là tìm ra các ẩn ý của ngôn từ đằng sau các mối quan hệ, các cấu trúc chứ không phải bản thân cấu trúc Vì vậy phương pháp chủ yếu của Phê bình mới là “giải thích văn bản” Nghĩa của tác phẩm có trong chính cấu trúc nội tại của ngôn
từ, trong các yếu tố thuộc về hình thức tác phẩm, không phụ thuộc vào tác giả Như vậy, trong quan niệm của họ các yếu tố như hiện thực, tác giả và cả vai trò của người đọc đều không được đặt ra ở đây Những quan điểm về tính tự trị của tác phẩm văn học vẫn tiếp tục được triển khai ở một phương diện khác của văn bản, đó là phương diện cấu trúc
4 Những quan điểm trên của trường phái Phê bình mới được thể hiện rõ hơn qua chủ nghĩa Cấu trúc Thực chất chủ nghĩa Cấu trúc có mầm mống từ quan niệm ngôn ngữ học cấu trúc của Fedinand de Saussure, bắt đầu hình thành
từ chủ nghĩa hình thức Nga những năm đầu thế kỉ XX nhưng phải đến giữa thế
kỉ mới đạt được sự hoàn thiện như một hệ thống lí thuyết với các tên tuổi nổi tiếng như: Claude Levi-strauss và Roland Barthes thuộc trường phái cấu trúc kí hiệu Pháp, Roman Jakobson (1896 – 1982) thuộc trường phái cấu trúc kí hiệu
Mĩ, Jan Murarovxki - đại diện lớn nhất của trường phái cấu trúc Praha, Iu.M.Lotman (1922 – 1993) thuộc trường phái cấu trúc kí hiệu Liên Xô
Nếu chủ nghĩa hình thức đặt trọng tâm ở chất liệu ngôn ngữ, ở thủ pháp, kĩ thuật, thì chủ nghĩa cấu trúc đi vào khám phá kết cấu chiều sâu của
Trang 29văn bản Chủ nghĩa cấu trúc bỏ qua những mối liên hệ bề mặt có thể cảm nhận được của thế giới để tìm ra sự chi phối nằm sâu trong cấu trúc trừu tượng, trong mối liên hệ giữa các yếu tố hình thức ổn định, ẩn kín, mà theo họ
đó mới là bản chất thật sự của đối tượng Họ quan tâm đến các phương diện tổ chức, cấu trúc, quan hệ của ngôn ngữ trong văn bản Những phạm trù cơ bản
mà chủ nghĩa cấu trúc đưa ra là tổ chức, cấu trúc, hệ thống Quan điểm của chủ nghĩa cấu trúc chỉ dừng lại ở cấu trúc và những mối quan hệ nội tại trong văn bản, tác phẩm vẫn chỉ là một hệ thống câu chữ, người đọc lí giải tác phẩm dựa trên sự ràng buộc bởi quy luật nội tại của các câu chữ ấy Mặc dù vậy, nhìn một cách khách quan có thể thấy chủ nghĩa Cấu trúc vào giai đoạn cực thịnh đã dần tiến đến những quan điểm mới của lí luận hậu hiện đại trong mối quan hệ với người tiếp nhận
Trong giai đoạn phát triển nhất, Roland Bartes và những người đồng quan điểm đã đồng nhất tác phẩm với cấu trúc hình thức của văn bản, khép kín văn bản trong mối quan hệ của kí hiệu ngôn ngữ, giữa “cái biểu đạt” và
“cái được biểu đạt” R.Bartes cho rằng thực thể của văn học là ở hình thức, không ở nội dung hay chức năng Việc phát hiện ra “độ không của lối viết” của ông được xem là tuyên ngôn trong nghiên cứu văn học Cũng từ quan điểm này, R.Jakobson cho rằng: “văn học không phải là cái gì khác, mà chính
là ngôn ngữ được tổ chức một cách đặc biệt” G.Genette (một nhà cấu trúc luận người Pháp) cũng đưa ra vấn đề thời gian văn học được coi là một thông điệp không có mã đã kéo dài quá lâu, nay đã đến lúc chúng ta coi văn học là một cái mã không có thông điệp Đi từ bản chất thực sự của tác phẩm văn học
có thể thấy quan điểm này có phần mang tính chất cực đoan
Tính chất cực đoan của chủ nghĩa cấu trúc sẽ được điều chỉnh bởi các nhà hậu cấu trúc Ở giai đoạn cuối, sau những năm 80, quan điểm hậu cấu trúc (hay giải cấu trúc) đã đối lập với chính điểm xuất phát ban đầu của nó
Trang 30Mặc dù có những điểm cực đoan nhưng các nhà nghiên cứu của chủ nghĩa cấu trúc đã có những đóng góp quan trọng trong việc làm thay đổi một thói quen có từ trong nền tảng tư duy lí luận văn học đã trở nên lỗi thời, đưa lại một cách nhìn mới cho nghiên cứu văn học Tuy vậy những khám phá về bản chất ngôn ngữ sẽ còn mang lại nhiều ý nghĩa to lớn hơn nữa khi nó được đặt trong mối quan hệ giữa văn bản và sự xác lập đời sống cụ thể thông qua người đọc
1.2 Văn bản văn học và sự diễn giải văn bản văn học
Lí luận văn học hiện đại đã tiếp cận vấn đề phương thức tồn tại của tác phẩm văn học ở một bình diện khác hơn so với lí luận văn học tiền hiện đại
Trong cuốn Tác phẩm văn học nhƣ là quá trình, ở mục “Ngôn ngữ và sự
bất ổn của nghĩa”, nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung đã lập luận rằng:
“Đến lí luận văn học hậu hiện đại đã phá vỡ những giới hạn của tư duy lí
luận hiện đại nhằm tiếp cận một cách triệt để hơn bản chất của văn bản văn học, soi sáng những yếu tố gây nên sự bất ổn của nghĩa, trả lời câu hỏi tác phẩm văn học là hình thức ngôn ngữ đặc trưng hay là hình thức đọc đặc trưng, vai trò của sự đọc sai, hiểu sai văn bản văn học là gì”?[8,157-158]
Trương Đăng Dung cũng chỉ ra rằng sự phát triển của chủ nghĩa cấu trúc duy trì đến hết những năm 60 của thế kỉ XX thì bắt đầu bộc lộ những vấn
đề bên trong hệ thống của nó Và Jacques Derrida – nhà triết học người Pháp
đã có vai trò quan trọng trong việc phê phán những quan điểm triết học liên quan đến chủ nghĩa cấu trúc Và ngôn ngữ trong bước đi này không đơn giản chỉ là cái diễn đạt những ý nghĩ mà trở thành hình thức cơ bản, thành bản chất của những ý nghĩ Triết học trở thành triết học ngôn ngữ Việc nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ đòi hỏi phải phát hiện ra quyền uy phổ quát của tính chất ngôn ngữ vì như vậy mới có thể hoàn thành được việc tạo dựng một cơ sở ngôn ngữ học phù hợp Ngôn ngữ học hình thức (lí thuyết ngôn ngữ học đại
Trang 31cương của Saussure) là sản phẩm của bước đi thứ hai này Derrida đã nghi ngờ khái niệm tính ngôn ngữ được quan niệm theo phương pháp cấu trúc-hình thức trong chủ nghĩa hiện đại Cái mới trong cách tiếp cận của ông không phải là việc đưa vào vị trí của khái niệm cũ một khái niệm mới mà ở việc ông
đã chỉ ra cái nền tảng của logic tư duy dẫn đến chủ nghĩa hiện đại đã trở nên
có vấn đề Ngay trong phần đầu của tác phẩm “Văn phạm học”, ông đã nói về
sự “giảm giá của từ”, về “sự lạm phát của kí hiệu ngôn ngữ” Derrida hoài nghi quan điểm cho rằng langue (ngôn ngữ) và các khái niệm của tư duy triết học ngôn ngữ sau đó, mô tả cấu trúc cuối cùng và sự hoạt động của chủ thể Derrida có nhiều quan điểm tác động trực tiếp vào khoa học văn học, bởi vì những vấn đề mà ông đặt ra đều đụng chạm không chỉ đến môi trường văn học mà cả bản chất của nó nữa Hệ thống các quan điểm của Derrida đã có tác động đến tinh thần cấp tiến trong quan niệm về môi trường văn học và trong khoa học văn học Derrida nghiên cứu những điều kiện tiên quyết của những điều kiện tiên quyết và cho thấy rằng “các cấu trúc chỉ bề ngoài là có vẻ ổn định, mọi cấu trúc đằng sau sự tin cậy bề ngoài là sự bấp bênh, là giải cấu trúc” Nguyên lí giải cấu trúc hoài nghi những nguyên lí nền tảng tưởng như không thể thay thế được của siêu hình học châu Âu Giải cấu trúc muốn phủ nhận sự tồn tại ổn định của bản chất, của trung tâm, nó lưu ý rằng mọi ý nghĩa của kết cấu chỉ trở nên rõ ràng trong quá trình phá vỡ, giải kết cấu
Cũng theo cách diễn giải của nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung thì
“Derrida cố gắng lập luận để chúng ta tin rằng ở nơi sâu lắng của ngôn ngữ
có một trò chơi liên tục di chuyển, trong khuôn khổ của sự di chuyển này, các
kí hiệu được tạo thành hệ thống khác biệt, không ổn định, rồi lại có những khác biệt mới xuất hiện được tổ chức và sau đó tan rã Nhưng những khác biệt của ngôn ngữ là vô tận và không ổn định, mỗi người nói đều phát hiện ra những khác biệt mới và ngay cả những khác biệt được duy trì lâu hơn, được
Trang 32thừa nhận cũng cho thấy khi ở tình thế khác thì những khác biệt mới lại quan trọng hơn Ngôn ngữ của một bài thơ đều mang tính ẩn dụ và thường xuyên thay đổi quan hệ với toàn bộ ngôn ngữ nhất định, và trong mối quan hệ mới, ngôn từ thơ lại trở nên không thể khoanh vùng để rồi lại được tái xác lập Nguyên lí sự xác lập của Derrida xuất phát từ sự tiếp nhận, sự trải nghiệm,
sự cắt nghĩa văn bản tức là “việc sử dụng những kết cấu ý nghĩa có vai trò quyết định, tạo lập hữu thể” Tính năng động giải cấu trúc của những khác
biệt đối diện với cái nhìn của chủ nghĩa cấu trúc sở dĩ có ý nghĩa quyết định là
vì nó dựa vào hệ thống các hiện tượng “sử dụng cải tạo ra quá trình và sự khác biệt” Derrida nhấn mạnh rằng trong văn bản viết hoặc nói, không có yếu
tố nào có thể hoạt động được như là kí hiệu mà không dựa vào yếu tố khác Tất cả mọi yếu tố âm vị hay tự vị đều có kết cấu liên quan đến vết tích của các yếu tố hệ thống hoặc các yếu tố khác Mối quan hệ này, sự đan xen này là văn bản, cái chỉ có được bằng sự biến đổi một văn bản khác
Các cặp phạm trù kí hiệu – cái biểu đạt, bản chất - hiện tượng, bên trong – bên ngoài của chủ nghĩa cấu trúc hoặc “ngôn từ trung tâm luận” của truyền thống siêu hình học phương Tây đều giới hạn sự vận động tự do và quá trình năng động của sự khác biết Cần có một mô hình khác đảm bảo hiệu lực của sự khác biệt Derrida phê phán chủ nghĩa cấu trúc, phê phán sự “tin cậy”
mà chủ nghĩa cấu trúc gửi gắm vào cái toàn thể của “tồn tại như là sự có mặt” của bản chất, tồn tại, thực thể, chủ thể, siêu việt, ý thức thượng đế, con người…Derrida phân tích một bài nghiên cứu của Rousseau, trong đó ông quan niệm chữ viết là cái “bổ sung” của ngôn ngữ nói Từ “bổ sung” (supple’er) có hai nghĩa: Một là cái bổ sung, đây là cái ít quan trọng so với cái được bổ sung Mặt khác, sự bổ sung có quyền uy riêng, nó cho phép cái thiếu vắng làm cho cái toàn thể trở thành toàn thể Như vậy, thực ra không có cấu trúc tổng thể, khép kín, các tổng thể mở ra bản tính không toàn vẹn, chúng cần có sự bổ sung
Trang 33Trong siêu hình học phương Tây, từ Platon đến các nhà cấu trúc luôn đặt giả thiết về hai sự việc: một mặt, trên lĩnh vực đời sống khoanh vùng có một hệ thống quan hệ nào đó hoạt động, các sự vật con người quan hệ với nhau vì mối quan hệ này mang bản chất của một sự thống nhất nhất định Mặt khác, có cái gì đó duy trì hệ thống mối quan hệ này, tức là cấu trúc có tâm điểm Nhưng đến Derrida và giải cấu trúc lại xảy ra bước ngoặt mới Giải cấu trúc hoài nghi tính tất yếu của tâm điểm, nó cho đây là sự tự lừa dối hàng ngàn năm nay của triết học châu Âu Giải cấu trúc không tin tưởng vào tính chắc chắn, ổn định của trung tâm Derrida đã đưa ra khái niệm trò chơi của mình để đối lập với ảo tưởng về tâm điểm của chủ nghĩa cấu trúc, vì trò chơi
là phương thức hoạt động của cấu trúc không có tâm điểm Chúng ta liên tục tạo ra những kết cấu, nhưng bản chất của chúng là khả năng mà trò chơi đảm bảo cho người sử dụng nó Người ta có thể đưa những sự việc, ý nghĩ, liên tưởng vào sự bổ sung liên tục cho trò chơi để rồi kết cấu tạo ra ý nghĩa mới, làm hình thành hình thức tồn tại mới Có vô số sự thay thế ẩn chứa trong cấu trúc lúc đó nếu trên nó không có tâm điểm Trò chơi là khái niệm của giải cấu trúc bởi vì nó nhấn mạnh cái “thể hiện” tuyệt đối, cái bản chất đáng tin cậy đằng sau cấu trúc Đã là trò chơi thì tất yếu phải thuộc về người tiếp nhận bởi
vì không phải người nghĩ ra trò chơi mà là người chơi nó
Derrida còn phê phán vương quốc tinh thần lớn khác của chủ nghĩa Cấu trúc là “kí hiệu” và “nghĩa” Ông không chấp nhận quan điểm về ngôn ngữ của Husserl mà đưa ra một quan niệm về nghĩa khác biệt cơ bản Đối với Husserl, trung tâm nghĩa, bản chất nghĩa đã có sẵn trong ý thức của người làm
ra nghĩa, cái ý thức này và tính ý hướng quan hệ với nó là tấm phủ bằng vàng của nghĩa mà mọi sự đọc đều phải tôn trọng bằng cách nào đó Đối với Derrida, ý thức của tác giả không hề có ưu thế tuyệt đối bên trên nghĩa của ngôn từ Thậm chí tác giả chỉ phát hiện được nghĩa của ngôn từ qua việc viết
Trang 34ra nó, hầu như nhà văn đối diện với đám đông những cái biểu đạt độc lập với anh ta Cái biểu đạt tự nó nói lên nhiều hơn bất kì sự sử dụng nào của tác giả
Kí hiệu được viết ra không phải là cái gửi đi mà là cái nhà văn nhận được Chúng ta không nói điều gì bằng kí hiệu mà việc sử dụng các kí hiệu tạo điều kiện để chúng ta có được sự đối thoại Tất cả nghĩa đều mang tính ý hướng,
nó là hậu quả của các trò chơi được thực hiện vĩnh viễn với những cái biểu đạt, các ý định của chúng ta không vượt lên trên cái được nói ra, nhờ những điều được nói ra mà ý định của chúng ta trở nên rõ hơn, có thể nắm bắt Theo Derrida, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, chúng ta đối chứng với một hệ thống cái biểu đạt cổ xưa, rồi chúng ta đưa các ý định của mình vào hệ thống
đó Đối với Derrida, văn bản văn học là mảnh đất đặc trưng của vấn đề nghiã Ông cho rằng các kí hiệu và cái biểu đạt, trong quan hệ với nhau, chúng tạo nên một sự kết nối Văn bản văn học không khép kín nghĩa của nó, không bị trói buộc bằng sự giúp đỡ của tác giả hay sự liên quan đến hiện thực, văn bản luôn mở, nó cần được “bổ sung” và tạo khả năng bổ sung Việc đọc hết một văn bản văn học cũng tạo nghĩa như việc viết ra nó, thậm chí tất cả sự viết thật ra cũng làđọc văn bản Mọi sự viết đều không trở lại với trạng thái đời sống khởi thủy không thuộc ngôn ngữ, mà qua đối tượng của sự viết chúng ta chọn lấy mảng phù hợp từ “cái bọc” những cái biểu đạt có thể tiếp cận Cái mới trong suy nghĩ của Derrida là đối với ông không phải từng tác phẩm mà toàn bộ ngôn ngữ đều mang tính tranh thánh Ngôn ngữ là tranh thánh bằng lời Tính chất đa ý nghĩa không thể phát hiện được trong văn bản này hay văn bản kia mà nó chuyển vào bản chất của ngôn ngữ Thực chất của sự hiểu không phải một sự thỏa thuận Sự để ngỏ, tính đa nghĩa không phải đặc điểm tạm thời của văn bản mà là điều kiện tồn tại không thể tránh khỏi của nó Ngôn ngữ không ổn định, nó vừa là đối tượng vừa là công cụ và sự cưỡng chế của một trò chơi thường xuyên Cái trò chơi mà trong nó, chúng ta trao cho
Trang 35văn bản những nghĩa không một ai nói trước, hoàn toàn đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác Như vậy tính ngôn ngữ là yếu tố đa dạng, bấp bênh, do đó từng văn bản ngược lại với toàn bộ ngôn ngữ , “không thể là bức tranh thánh bằng lời tự trị, trọn vẹn” mà bản chất của nó là luôn có khoảng trống và mang ý nghĩa khác, thậm chí đa dạng ý nghĩa hơn khi quan hệ với những cái biểu đạt khác, những văn bản khác
F.D.Saussure và chủ nghĩa cấu trúc đã giả thiết bên trong mỗi hệ thống thì bên trong mối quan hệ được tạo ra một cách lâu dài, sự phân biệt là ổn định Còn Derrida phát hiện ra rằng, trong quá trình sử dụng những cái biểu đạt, bên trong mỗi ngôn ngữ, hệ thống những cái biểu đạt - được biểu đạt cũng không ổn định mà thường xuyên thay đổi Nghĩa không phụ thuộc vào ý định của chủ thể sử dụng ngôn ngữ, thậm chí nó thường xuyên “lừa” người sử dụng ngôn ngữ và buộc anh ta phải phát hiện ra những nghĩa mới Nghĩa được xác định không phải qua hệ thống sức mạnh cá nhân nhưng lại có hiệu lực thông qua những hoạt động sử dụng kí hiệu cá nhân Derrida cũng nhấn mạnh rằng trong mọi hoạt động sử dụng kí hiệu, ở mặt sau của những cái biểu đạt
sử dụng đều có vai trò không thể thiếu của chữ viết
Derrida và giải cấu trúc đã giải quyết được những vấn đề có ý nghĩa khá quan trọng trên bình diện lí luận Giải cấu trúc trước hết muốn chỉ ra những yếu tố tạo thành ý nghĩa hoạt động ở bình diện ngôn ngữ trong ý nghĩa chung mà không nhất thiết ở bình diện khách thể ngôn ngữ trong ý nghĩa văn phạm Giải cấu trúc tìm kiếm tính chất đa dạng, nhiều mặt, năng động và dễ thay đổi của ý nghĩa được tổ chức như thế nào trong sự mâu thuẫn của sự tạo thành ý nghĩa của văn bản và văn cảnh Giải cấu trúc giải thiết về sự không tách rời của “chủ thể và khách thể văn học”, tính hiệu lực tự thân xây dựng trên sự hiểu văn bản văn học Cuối cùng giải cấu trúc cho rằngý nghĩa luôn luôn được tổ chức ở những hình thức không gian nhưng những hình thức
Trang 36không gian này từng bước tan rã, rồi chững lại được tổ chức và cuối cùng chúng mang tính thời gian Có thể nói phát hiện có ý nghĩa nhất của giải cấu trúc mà cũng là của tư duy Lí luận văn học hậu hiện đại là “ý nghĩa không có trong những khách thể ý nghĩa ổn định mà nó ẩn chứa trong những quan hệ ngữ nghĩa rất ít ổn định, trong những sự kiện đọc và hiểu văn bản”
Văn học vượt lên trên mọi sự định nghĩa về nó Đằng sau sự tiếp cận của Derrida là niềm tin rằng “văn học không phải là hình thức ngôn ngữ đặc trưng mà là hình thức đọc đặc trưng” Ý nghĩa “thực” của tác phẩm văn học, tất nhiên là có ở trong văn bản bởi vì nó không thể có ở đâu khác, nhưng đồng thời, “tác phẩm văn học vẫn là cái không thể nắm bắt, nó luôn là cái gì khác qua sự đọc sai, đọc nhầm” Trong quá trình đọc, tác phẩm văn học trao mình cho người đọc, nhưng chính nó lại luôn luôn giống một cái gì đó khác với chính nó
Như vậy, ngôn ngữ mang tính chất bổ sung, ý nghĩa bổ sung được hình thành một cách liên tục, nó phải kết cấu và làm cho các ý nghĩa đã ổn định , hiển ngôn hay ẩn dụ trở thành thứ yếu, theo đó nghĩa của văn bản văn học cũng rất đa dạng Theo giải cấu trúc, ngôn ngữ văn học không có tính biểu vật, nó không có khả năng thể hiện bản chất mà luôn luôn phụ thuộc vào ý nghĩa mà bạn đọc gán cho nó Hay nói khác đi, nghĩa của văn văn bản văn học rất đa dạng, luôn bất ổn, phụ thuộc vào sự đọc và tiếp nhận của độc giả trong quá trình tiếp cận và lĩnh hội tác phẩm văn học
Cơ sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là “sự đối thoại” với các văn bản văn học thông qua các hoạt động đọc và hiểu chung Lí luận văn học hiện đại có mặt khi chúng ta tìm cách hiểu văn học và nhận ra rằng tác phẩm văn học ẩn chứa những thông điệp nhiều nghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh vùng; khi chúng ta muốn đối thoại với nó nhưng có cái gì
đó thường xuyên tạo ra khoảng cách và sự hiểu lầm, không cho ta ý nghĩa
Trang 37chung mong đợi Bởi vì luôn có cái gì đó thay đổi trong phương thức tồn tại của tác phẩm văn học liên quan đến người đọc, chính sự thay đổi này là nguồn gốc của những tranh luận về phương thức chiếm lĩnh thẩm mĩ tác phẩm văn học, về nghĩa và ý nghĩa của nó Các tác phẩm văn học mới luôn luôn đòi hỏi những hình thức lí giải mới Không có tác phẩm văn học nào tồn tại một cách khép kín, với một vẻ mặt duy nhất duy nhất dành cho tất cả ọi người đến
với nó Trong tác phẩm dịch của PGS.TS Trương Đăng Dung “Hans Robert
Jauss: Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học”,
H.R.Jauss đã nói “Tác phẩm văn học cũng không phải là đài kỉ niệm thể hiện
tính chất phi thời gian trong hình thức độc thoại của nó”[8,399] Nhưng mỗi
cách lí giải tác phẩm đều phản ánh những yếu tố chủ quan trong việc “đọc” và
“hiểu” tác phẩm Hoạt động đọc của chủ thể tiếp nhận là “hoạt động của ý thức chủ quan hướng tới khách thể” là văn bản văn học Theo tinh thần của hiện tượng học, mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Nhà phê bình theo quan điểm Hiện tượng học lấy sự đọc văn bản hoàn toàn tách biệt với mọi tác động bên ngoài làm mục đích Nhà phê bình văn học không được dựa vào bất cứ điều gì anh ta cần biết về tác giả mà chỉ cần chú ý đến đặc điểm của tác giả xuất hiện trong tác phẩm Đối tượng của hiện tượng học chỉ giới hạn ở Hiện tượng thuần tuý, nó muốn nắm bắt đối tượng trong “cấu trúc bản chất” và soi sáng đối tượng theo bản chất của đối tượng Theo Edmund Husserl, “nghĩa” của một sự vật không khách quan trong “ý nghĩa” mà một sự vật là thế, nhưng cũng không đơn giản chỉ là chủ quan Nó là một loại “khách thể lí tưởng” trong ý nghĩa là có thể hiện bằng nhiều cách khác nhau mà vẫn giứ nguyên nghĩa đó” Theo quan điểm này thì ý nghĩa của một tác phẩm văn học có một lần và mãi mãi như vậy, nó đồng nhất với cái “khách thể ý thức” mà trong khi viết nhà văn nghĩ đến, hay nói đúng hơn là có “ý hướng đến”
Trang 38“Nếu nghĩa của tác phẩm đồng nhất với điều mà nhà văn hiểu khi viết
ra tác phẩm thì tác phẩm chỉ có một nghĩa mà thôi Do đó, có thể có nhiều sự cắt nghĩa nhưng tất cả đều phải nằm trong hệ thống mà nghĩa chủ ý của tác giả cho phép Vậy một tác phẩm nào đó được đọc ở những thời điểm khác nhau thì có mang những ý nghĩa khác nhau đối với người đọc khác nhau?, phải chăng đó là sự khác biệt “ý nghĩa” chứ không phải sự khác biệt về
“nghĩa của tác phẩm” [12] Nghiên cứu về vấn đề này, Trần Đức Thảo trong
“Kĩ thuật của sự chuyển đổi” cho rằng: “văn bản có lẽ sẽ không biểu hiện bất
kì sự bí ẩn nào đối với bạn đọc đã là quen với tính có chủ định” [43,34] Như
vậy, Nếu văn bản chỉ chứa đựng những “chú ý” của tác giả thì người đọc còn khám phá ra những thứ “ngoài chú ý” của tác giả do vô thức của anh ta hay vô thức của văn bản tạo ra” [46,72] Hiện tượng học của Huserl đã quy giản tác phẩm vào trong ý thức tác giả, nó chưa vượt khỏi cái nhìn trong tư thế khép kín
về tác phẩm Theo Husserl thì “nghĩa” mà nhà văn chú ý tạo ra là của riêng nhà văn, người đọc không thể lấy đi hoặc làm cho nó thay đổi Nghĩa của văn bản không thể xã hội hoá, nó không thể là tài sản chung của những người đọc khác nhau Hoạt động nắm bắt một hiện tượng nhất định nào đó, theo Husserl được thực hiện độc lập với ngôn ngữ Ngôn ngữ chỉ là hoạt động thứ hai, chỉ là hệ thống để giữ lại các nghĩa Nghĩa của tác phẩm văn học vì thế, chỉ là cái mà tác giả có chủ định, “nó thuộc về ý thức chủ qua hơn là thuộc về ngôn ngữ”
Muốn vượt lên hệ thống hiện tượng học của Husserl để có cái nhìn “đổi mới” về “nghĩa” và “ý nghĩa”của tác phẩm văn học thì phải có cái nhìn đúng
về bản chất và vai trò của ngôn ngữ Xuất phát từ hiện tượng học của Husserl, Martin Heidegger (1889 – 1976) đã phát triển lí thyết này theo hướng hiện sinh với các yếu tố phi lí, bất khả tri Theo Heidegger, ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà cao hơn, nó có khả năng tạo lập đời sống Nếu Husserl chỉ xem ngôn ngữ là công cụ thứ yếu để thể hiện những ý tưởng đã có sẵn thì
Trang 39Heidegger xem ngôn ngữ là nơi mà đời sống con người diễn ra, là cái đầu tiên tạo ra thế giới Với Heidegger, ngôn ngữ không chỉ là sự thể hiện của một chủ thể mà còn là một sự kiện có đẳng cấp cao nhất của sự tồn tại của con người Theo ông, đặc trưng cơ bản của tác phẩm nghệ thuật là ở chân lí tồn tại trong
nó Ông cho rằng: “Tác phẩm văn học là cái mà người đọc để cho nó xảy ra nhờ văn bản Người đọc đứng trước văn bản như là đứng trước mê cung của thế giới ngôn từ đầy bí ẩn Heidegger đã nêu lên một vấn đề quan trọng là sự hoà trộn giữa tồn tại và ngôn ngữ trong nhau Trong quan niệm ngôn ngữ là
“ngôi nhà của hữu thể”, Heidegger cho rằng không thể truy tìm bản chất của tác phẩm văn học chỉ từ hoạt động sáng tạo, vì tác phẩm văn học là cái mà người đọc để cho nó xảy ra từ văn bản
Tác giả Trương Đăng Dung trong bài viết “Trên đường đến với tư duy
lí luận văn học hiện đại” đã chỉ ra rằng cũng vận dụng quan điểm Hiện tượng
học của Husserl, đồng thời bị ảnh hưởng quan điểm Tường giải học của Heidegger Roman Ingarden – nhà lí luận văn học người Ba Lan lại có những phát hiện mới mẻ về tính chưa hoàn tất và phương thức tồn tại của tác phẩm văn học trong mối quan hệ với người đọc Theo cách phân tích đối tượng của hiện tượng học, Roman Ingarden cũng cho rằng tác phẩm văn học là vật thể
có chủ ý Trong quan niệm của ông những hoạt động có ý thức của nhà văn không thuộc về tác phẩm mà chỉ là cơ sở tồn tại của tác phẩm mà thôi Như vậy, đời sống của tác phẩm văn học cũng phụ thuộc vào những hoạt động cụ
thể hoá văn bản có chú ý của người đọc Thông qua sự cụ thể hoá “mà bộ
xương được đắp thêm da, thêm thịt và tác phẩm được hình thành” Tính chất
của sự cụ thể hoá này phụ thuộc vào trình độ của người đọc, bản thân tác phẩm sẽ hiện ra đúng với diện mạo của nó nếu gặp được một sự cụ thể hoá lí tưởng Sự cụ thê hoá của văn bản văn học ở mỗi người một vẻ, không giống
ai Theo quan điểm của Roman Ingarden, tác phẩm văn học là vật “hai lần có
Trang 40ý thức” Khi đọc, văn bản có thể được cụ thể hoá khác với điều tác phẩm chỉ
ra, nó có thể làm phong phú hoặc phương hại đến giá trị của tác phẩm
Các thời kì văn hoá đều nhạy cảm với các giá trị thẩm mĩ khác nhau chúng tạo nên hàng loạt sự cụ thể hoá khác xa với tác phẩm bằng các hoạt động phê bình phân tích, giải thích, biểu diễn sân khấu… Tác phẩm văn học phụ thuộc vào đó tàn lụi hay tái sinh
Bản thân tác phẩm cũng có thể thay đổi, Ingarden cho rằng sự thay đổi này có hai loại: sự thay đổi của tầng bậc nào đó (VD: Ở tầng bậc nghĩa) do áp đặt hoạc thay đổi gắn liền với những sự cụ thể hoá Ingarden cho rằng “Tác phẩm văn học không phải là vật lí tưởng mà là vật có ý tưởng” Ingarden mặc
dù có lưu ý tới vai trò của người tiếp nhận trong mối quan hệ với văn bản nhưng ở một mức độ nhất định ông vẫn thừa nhận sự tồn tại khách quan của tác phẩm, vẫn ý thức vai trò của văn bản đối với sự cụ thể hoá của người đọc Chủ thể tiếp nhận trong quan niệm của Ingarden chỉ dừng lại ở phạm trù người đọc thuần tuý, người đọc lí tưởng chứ chưa phải là người đọc cụ thể, người đọc như sản phẩm của xã hội Mặc dù vậy, so với những quan điểm trước đây, ông đã có những phát hiện và cái nhìn tiến bộ hơn, sâu sắc hơn tạo nền tảng cho những bước phát triển về sau của Mỹ học tiếp nhận
Đầu những năm 60, vai trò của người đọc đã thực sự được ý thức sâu sắc hơn với sự đóng góp của các nhà Tường giải học Một trong những tên tuổi có thể kể đến ở đây đó là Hans George Gardamer (nhà Triết học người Đức) Gardamer bác bỏ quan niệm công cụ về ngôn ngữ Ông cho rằng:
“Người diễn giải không sử dụng lời nói và các khái niệm như người thợ thủ
công sử dụng các công cụ của mình”[13] Từ đó ông có cách lí giả ngôn ngữ
khác với các nhà ngôn ngữ ở các thời kì trước Gardamar cho rằng “không
phải con người tạo ra, tìm ra lời nói mà lời nói tìm thấy chúng ta”[13]
Gardamar đưa ra khái niệm “trò chơi” Trò chơi là cái gì đó được tạo ra không