Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất giống chè LDP 2 và thành phần giun đất tại Trại Thực hành thực tập Trường Trung cấp Kinh
Trang 1 -
ÂU THỊ PHƯƠNG THANH
NGHI£N CøU ¶NH H¦ëNG CñA PH¢N BãN
§ÕN N¡NG SUÊT GIèNG CHÌ LDP2 Vµ THµNH PHÇN GIUN §ÊT T¹I TR¹I THùC HµNH THùC TËP TR¦êNG
TRUNG CÊP KINH TÕ Kü THUËT Y£N B¸I
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hồng Liên – khoa Sinh học – Trường ĐHSP Hà Nội, đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đỗ Văn Nhượng – khoa Sinh học – Trường ĐHSP Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành các thí nghiệm về động vật
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong phòng Sau đại học – Trường ĐHSP Hà Nội II đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trại thực hành thực tập – Trường TC Kinh tế
Kĩ thuật Yên Bái đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này
Hoàn thành luận văn này còn có sự động viên, khuyến khích của gia đình, người thân, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn
để hoàn thành khóa học và công trình nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Âu Thị Phương Thanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng mọi số liệu sử dụng để hoàn thành báo cáo luận văn thạc sĩ sau đây đều được ghi nhận
từ các thí nghiệm một cách trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ tài liệu nào
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Âu Thị Phương Thanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về cây chè 4
1.1.1 Nguồn gốc cây chè 4
1.1.2 Phân loại cây chè 5
1.1.3 Phân bố của cây chè 7
1.1.4 Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè 8
1.1.5 Điều kiện sinh thái của cây chè 10
1.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè 15
1.2.1 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè trên thế giới 15
1.2.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè ở Việt Nam 20
1.3 Giá trị thực tiễn của giun đất 24
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 28
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 28
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng 29
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu đối với giun đất 30
2.3.4 Phương pháp thống kê xử lí số liệu 33
Trang 5Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Yên Bái 34
3.1.1 Vị trí địa lí 34
3.1.2 Điều kiện đất đai 35
3.1.3 Điều kiện khí hậu 36
3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất chè 43
3.2.1 Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè 44
3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón đến mật độ búp chè 47
3.2.3 Ảnh hưởng của phân bón đến khối lượng búp chè 52
3.2.4 Ảnh hưởng của phân bón đến tỉ lệ búp có tôm 54
3.2.5 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất búp chè 58
3.2.6 Sơ bộ hạch toán kinh tế các biện pháp bón phân cho chè 62
3.3 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến mật độ và thành phần loài giun đất 62
3.3.1 Thành phần và phân bố của giun đất tại khu vực trước khi tiến hành thí nghiệm 63
3.3.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến mật độ và sinh khối của giun đất 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của độ cao so với mực nước biển tới hàm lượng
tannin trong búp chè 12
Bảng 1.2: Sự biến đổi thành phần hóa học của búp chè trong điều kiện có che râm (% chất khô) 13
Bảng 1.3: Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong chè một số nơi (% chất tro) 16
Bảng 3.1: Diễn biến nhiệt độ tại thành phố Yên Bái từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 10 năm 2014 38
Bảng 3.2: Diễn biến lượng mưa và độ ẩm tại thành phố Yên Bái từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 10 năm 2014 41
Bảng 3.3: Diễn biến số giờ nắng tại thành phố Yên Bái từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 10 năm 2014 42
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của việc bón phân đến mật độ búp chè 50
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến khối lượng búp chè 53
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của việc bón phân đến tỉ lệ búp mù xòe 56
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của việc bón phân đến tỉ lệ búp có tôm 57
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của việc bón phân đến năng suất thực thu 59
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của việc bón phân đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 61
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến hiệu quả kinh tế 62
Bảng 3.11: Mật độ và sinh khối của giun đất đợt 1 (ngày 15/3/2014) 64
Bảng 3.12: Mật độ và sinh khối của giun đất đợt 2 (ngày 15/5/2014) 66
Bảng 3.13: Mật độ và sinh khối của giun đất đợt 3 (ngày 15/7/2014) 67
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Khu bố trí thí nghiệm 27
Hình 3.1: Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 34
Hình 3.2: Đồ thị ảnh hưởng của phân bón đến mật độ búp 52
Hình 3.3: Đồ thị ảnh hưởng của phân bón đến khối lượng búp chè 54
Hình 3.4: Đồ thị ảnh hưởng của phân bón đến tỉ lệ búp mù xòe 57
Hình 3.5: Đồ thị ảnh hưởng của phân bón đến tỉ lệ búp có tôm 58
Hình 3.6: Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất thực thu 60
Hình 3.7: Đồ thị mật độ và sinh khối của giun đất đợt 1 (ngày 15/3/2014) 65
Hình 3.8: Đồ thị mật độ và sinh khối của giun đất đợt 2 (ngày 15/5/2014) 66
Hình 3.9: Đồ thị mật độ và sinh khối của giun đất đợt 3 (ngày 15/7/2014) 67
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta có lịch sử trồng chè lâu đời nhưng cây chè mới chỉ được trồng và phát triển với quy mô lớn từ khoảng 100 năm nay Với đặc điểm là loại cây công nghiệp dài ngày, dễ trồng và chăm sóc, nhiệm kì kinh tế dài 30 – 40 năm, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở các vùng đất dốc của Việt Nam,
do vậy cây chè đã trở thành cây công nghiệp mũi nhọn, mang lại giá trị kinh
tế cao, tham gia vào thị trường xuất khẩu
Năng suất và chất lượng của cây chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
giống, khí hậu, đất đai, phân bón, kĩ thuật canh tác và công nghệ chế biến Việc áp dụng tiến bộ kĩ thuật trong thâm canh chè ở các khâu: chọn tạo đưa giống năng suất cao vào sản xuất, chế độ bón phân, áp dụng kĩ thuật hái, kĩ thuật đốn chè đã giúp cho ngành chè đạt được sự phát triển nhanh chóng về diện tích, năng suất và sản lượng Phân hữu cơ được coi là yếu tố tiên phong trong việc cải tạo năng suất cây trồng canh tác bền vững nhưng hiện nay xu hướng sử dụng phân hóa học ngày càng có chiều hướng gia tăng do sử dụng phân hóa học tiết kiệm thời gian và công lao động Trong nền nông nghiệp truyền thống của các nước trên thế giới cũng như các nước Đông Nam Á và ở Việt Nam, phân hữu cơ không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng vốn có của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc tính lí hóa của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ và động vật đất Thực tế sản xuất cho thấy, người trồng chè thường bón phân hữu cơ chủ yếu là phân chuồng kết hợp với phân vô cơ cho chè ở giai đoạn kiến thiết
cơ bản, trồng mới và chủ yếu sử dụng phân vô cơ cho chè ở các giai đoạn sản xuất kinh doanh để tiết kiệm thời gian và công lao động, thúc đẩy nhanh quá trình sinh trưởng của búp mới, tăng năng suất Mặc dù đã nhận thức được vai
Trang 9trò của phân hữu cơ trong canh tác bền vững nhưng ở Việt Nam việc sử dụng còn hạn chế Bên cạnh đó sử dụng phân hữu có còn tác dụng tích cực đến nhóm giun đất vốn được coi là “bạn của nhà nông”
Yên Bái là tỉnh miền núi có nhiều diện tích đồi gò, điều kiện đất đai khí hậu phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè Cây chè đã có ở Yên Bái từ rất lâu đời như những cây chè tổ Suối Giàng Tuy có thời điểm thị trường tiêu thụ không ổn định, giá chè xuống thấp làm cho đời sống người làm chè gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn chung cây chè vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho phần lớn nhân dân trong tỉnh và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Hiện nay, cây chè vẫn được xác định là cây công nghiệp chủ lực của tỉnh Tỉnh Yên Bái có chủ trương phát triển sản xuất chè theo cả 2 hướng, mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất, chất lượng chè cùng với cải tiến công nghệ chế biến Đến nay diện tích chè của tỉnh Yên Bái là 12.035 ha trong đó có 11.093 ha chè kinh doanh
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất giống chè LDP 2 và thành phần giun đất tại Trại Thực hành thực tập Trường Trung cấp Kinh tế Kĩ thuật Yên Bái”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc dùng phân bón hữu cơ đến năng suất giống chè LDP 2 và thành phần giun đất trong đất trồng chè từ đó đánh giá hiệu quả của việc dùng phân bón trong canh tác cây chè ở miền núi phía bắc Việt nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây chè khi sử dụng phân bón hữu cơ thông qua các chỉ tiêu: mật độ búp, trọng lượng búp 1 tôm 2 lá, tỉ lệ búp có tôm trong các công thức thí nghiệm khác nhau
Trang 10Năng suất thực thu và năng suất lí thuyết khi sử dụng phân bón hữu cơ
so với đối chứng
Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến thành phần giun đất trước và sau khi tiến hành thí nghiệm
4 Ý nghĩa của đề tài
Đưa ra công thức bón phân đạt năng suất cao nhất
Xây dựng mô hình học tập cho học sinh tại trại thực hành
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về cây chè
1.1.1 Nguồn gốc cây chè
Nguồn gốc của cây chè là vấn đề rất phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học Một số quan điểm được nhiều người công nhận là:
Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc: Năm 1753, Carl Von Linnaeus, nhà thực vật học người Thụy Điển lần đầu tiên trên thế giới xác nhận Trung Quốc là
vùng nguyên sản cây chè của thế giới và định tên khoa học của cây chè là Thea
sinensis, phân thành hai thứ: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh)
Cây chè có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, theo Dalaselia -1989, đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ như sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt các dòng suối rồi đổ về các con sông lớn ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện Đầu tiên cây chè mọc ở Vân Nam, sau đó hạt chè được di chuyển đến các nước nói trên [15]
Cây chè có nguồn gốc từ Ấn Độ: Năm 1823, Robert Bruel đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ) Qua nghiên cứu tác giả cho rằng nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam (Ấn Độ) chứ không phải là vùng Vân Nam - Trung Quốc [16]
Theo Cohen Sta – 1918, nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đưa ra thuyết hai nguồn gốc cây chè (Nhị Nguyên thuyết): Cây chè lá to có nguồn gốc ở phía tây cao nguyên Tây Tạng Cây chè lá nhỏ có nguồn gốc ở phía Đông và phía Đông Nam Trung Quốc [16]
Năm 1951, Đào Thừa Trân (Trung Quốc) cho rằng: Nguyên sản của cây chè là tỉnh Vân Nam, chúng di thực về phía đông qua tỉnh Tứ Xuyên bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực về phía nam và tây
Trang 12nam là Ấn Độ, Mianma, Việt Nam biến thành giống chè lá to [15] Nhiều công trình nghiên cứu khác cho thấy cách đây 4000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè làm dược liệu và sau đó để uống [16]
Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam: Những công trình của Đjemukhatze (1961- 1971) về phức chất catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau, so sánh thành phần các catechin giữa chè được trồng và chè hoang dại đã nêu lên luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và từ đó ông đã đi đến kết luận:
“Nguồn gốc cây chè chính là ở vùng tây bắc Việt Nam” [8]
Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau về địa điểm nhưng đều có sự thống nhất rằng: Nguyên sản của cây chè là ở Châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng và ẩm phù hợp cho sinh trưởng, phát triển của chúng
1.1.2 Phân loại cây chè
Tên của cây chè đã trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt tên
Tên gọi của cây chè đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Line đặt là Thea
sinensis vào năm 1973 Đến nay danh pháp khoa học của cây chè được nhiều
người công nhận nhất là: Camellia sinensis (L.) Okuntze [16], thứ assamica
xếp trong hệ thống phân loại thực vật như sau:
Trang 13nhiều người công nhận nhất [16] Cohen Stuart chia Camellia sinensis ra
thành 4 thứ sau đây:
Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var bohea): Có đặc điểm
thân bụi thấp, phân cành nhiều, búp mù xòe nhỏ, nhanh, năng suất không cao, phẩm chất trung bình, nhiều hoa, quả, khả năng chống chịu tốt, có thể chịu rét
từ 12-150 C
Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla): Cây thân
gỗ nhỡ cao tới 5m, trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên Lá to trung bình màu xanh nhạt dài 12-15cm, rộng 5-7cm, có 8-9 đôi gân chính, búp to hoa quả nhiều, có khả năng chịu rét kém
Chè Shan (Shan tuyết) (Camellia sinensis var Shan): Là giống địa
phương - thứ chè rất phổ biến ở vùng núi cao (Hà Giang, Mộc Châu…) và các đồn điền ở Tây Nguyên thời Pháp thuộc Giống hỗn hợp lai tạp, rất nhiều biến
dị, được nông dân chia thành chè trắng (búp tuyết), chè xanh và chè vàng (tùy theo màu sắc của lá)
Chè Atxam (chè Ấn Độ) (Camellia sinensis var atxamica): Cây thân
gỗ cao to trong điều kiện tự nhiên có thể cao 16-17m phân cành thưa, búp to cho năng suất cao thích hợp cho chế biến chè xanh và chè đen Không chịu được rét, hạn, ít hoa quả
Bốn thứ (varietas) chè trình bày trên đây đều có trồng ở Việt Nam, nhưng
phổ biến nhất là hai thứ C sinensis var macrophylla và C sinensis var Shan
Camellia sinensis var macrophylla được trồng nhiều nhất ở các tỉnh
trung du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: chè trung du lá xanh, chè trung du lá vàng, v.v Tỷ lệ trồng các giống chè trung
du ở miền bắc đạt tới 70% Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4 - 5 tấn/ha
Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng dễ bị nhiễm nhiều sâu
Trang 14hại: rầy xanh, bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá Chè Trung du thường được dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt
Camellisa sinensis var Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền bắc và
ở miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thường đạt 6 - 7 tấn/ha Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn
1.1.3 Phân bố của cây chè
Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, khí hậu Ngày nay, cây chè phân bố ở khắp các châu lục, trong đó nhiều nhất
là ở Châu Á, sau đó là Châu Phi, Châu Mỹ, rồi đến Châu Đại Dương là ít nhất Vùng chè tập trung nhất phân bố giữa 6-220 vĩ Bắc, trên thế giới vùng chè Miosines của Achentina là khu vực thấp nhất nam địa cầu [28] Đến nay trên thế giới có 58 nước trồng chè, sản xuất chế biến chè ở các quy mô khác nhau, phân bố ở khắp 5 châu như sau [15]:
Châu Á: Có 20 nước bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Indonexia, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kì, Bangladet, Iran, Myanma, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Malaxia, Campuchia, Nepan, Philipin, Triều Tiên, Apganistan và Pakistan
Châu Phi: Có 21 nước bao gồm Kenia, Malavi, Uganda, Tanzania, Moozambich, Ruanda, Mali, Ghine, Morrixow, Nam Phi, Ai Cập, Conggo, Camorun, Đảo Reuyniong, Tchat, Rodezia, Abitxi, Brundi, Maroc, Angeri và Zimbabue
Châu Mỹ: Có 12 nước bao gồm Achentina, Braxin, Peru, Colombia, Ecuado, Goatemela, Paraguay, Jamaica, Mehico, Bolovia, Guyanna và Mỹ
Châu Đại Dương: Có 3 nước bao gồm Papua Tân Ghine, Fiji và Autralia
Châu Âu: Có Nga và Bồ Đào Nha
Trang 15Các nhà khoa học cho rằng, cây chè trồng ở những nơi có độ cao lớn so với mực nước biển thường có chất lượng tốt hơn chè trồng ở vùng thấp Chè trồng ở những vùng núi cao như Hoàng Sơn (An Huy – Trung Quốc), Sư Tử Phong (Chiết Giang – Trung Quốc), Hà Giang, Mộc Châu, Suối Giàng (Nghĩa
Lộ, tỉnh Yên Bái) cũng đều có chất lượng cao
Ở Việt Nam, cây chè có từ lâu đời trên các vùng núi cao phía Tây Bắc với những cây chè nguyên thủy ở Suối Giàng (Yên Bái), Thông Nguyên, Cao
Bồ, Lũng Phìn (Hà Giang), Chồ Lồng, Tà Xùa (Sơn La), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Cây chè được trồng với quy mô lớn, hình thành đồn điền trồng chè đầu tiên ở miền Bắc Việt nam tại Phú Thọ vào năm 1890 [27] Sau đó, cây chè được mở rộng diện tích phân bố trên phạm vi cả nước, trải dài trên 15 vĩ độ Bắc, đã hình thành những vùng chè tập trung như: Vùng Tây Bắc (gồm Sơn
La, Lai Châu), Vùng Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn (gồm Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai), Vùng Trung du Bắc Bộ (gồm Phú Thọ, Nam Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Bắc Cạn, Bắc Giang, Thái Nguyên), Vùng Bắc Trung Bộ (gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh), Vùng Tây Nguyên (gồm Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng) [37]
1.1.4 Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè
Chè là cây lâu năm, có hai chu kì phát triển là chu kì phát triển nhỏ và chu kì phát triển lớn [14]
Chu kì phát triển nhỏ: là chu kì phát triển hàng năm của cây chè Hàng
năm vào mùa đông, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nhiệt độ thấp, khô hạn… cây chè sinh trưởng và phát triển chậm dần và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ thấp hơn 100C, đây còn gọi là trạng thái ngủ nghỉ hàng năm Tốc
độ tăng trưởng trở lại bình thường trở lại khi nhiệt độ và ẩm độ tăng dần vào mùa xuân
Chu kì phát triển lớn (chu kì phát dục cá thể): bao gồm toàn bộ vòng
Trang 16đời của cây chè, tính từ khi hoa chè được thụ phấn, hình thành hạt, mọc thành cây, qua nhiều năm sinh trưởng phát triển đến khi già cỗi và chết Chu kì này thường kéo dài 30 – 50 năm, có khi tới hàng trăm năm tùy thuộc vào đặc tính của giống và chế độ canh tác Toàn bộ chu kì phát triển lớn của cây chè trải qua 5 giai đoạn
Giai đoạn 1 (giai đoạn phôi thai): tính từ khi hoa được thụ phấn, hình
thành phôi, hạt, quả đến khi quả chín Đây là giai đoạn phôi phát triển từ hợp
tử tạo nên một thế hệ thể bào tử mới mang một nửa bộ gen từ bố và một nửa
bộ gen từ mẹ
Giai đoạn 2 (giai đoạn cây con hay còn gọi là giai đoạn cây mạ): từ
khi hạt nảy mầm mọc thành cây, đến khi cây ra hoa kết quả lần đầu (từ 1-2 năm sau khi trồng)
Giai đoạn 3 (giai đoạn cây non): từ khi cây ra hoa lần đầu tiên cho tới
khi cây có bộ khung ổn định (từ năm thứ 2-3 đến năm thứ 4 sau trồng)
Giai đoạn 4 (giai đoạn chè lớn hay giai đoạn sản xuất kinh doanh):
thời kì này kéo dài 20 – 30 năm có khi tới 50 – 60 năm phụ thuộc vào điều kiện giống, đất đai và chế độ canh tác
Giai đoạn 5 (giai đoạn chè già): giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kì
sản xuất kinh doanh, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng suất giảm nhanh chóng
Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn để xây dựng các biện pháp kĩ thuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt phát huy tiềm năng của giống
Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè M.A Alikhatde (1964) cho rằng: khi cây chè có 5 lá thì ở nách lá thứ nhất, thứ hai
có chồi bên, khi có lá thứ 6 thì chồi bên thứ 3 xuất hiện, khi có lá thứ 7 thì chồi bên thứ 4 xuất hiện Tác giả cho rằng, khi mầm chè (chồi bên) ở trạng thái nghỉ qua mùa đông, 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vẩy ốc, tiếp theo
Trang 17là lá cá, hai cặp lá này có chức năng bảo vệ mô phân sinh ngọn của chồi bên Các mầm của nách lá thứ 4 và lá thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ 2 [22]
1.1.5 Điều kiện sinh thái của cây chè
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của các nhân tố sinh thái Nguyên sản của cây chè ở vùng khí hậu rừng á nhiệt đới Tuy vậy cây chè cho đến nay đã được phân bố khá rộng rãi, từ 30 vĩ tuyến nam đến 45 vĩ tuyến bắc, là những nơi có điều kiện tự nhiên khác xa với nơi nguyên sản Trong những điều kiện như vậy, muốn cho cây chè sinh trưởng bình thường và có năng suất phẩm chất tốt phải có trình độ khoa học cao trong canh tác Những công trình nghiên cứu nhiều năm của Liên Xô cho thấy: sự tạo thành và tích lũy các vật chất khác nhau trong cây, phần lớn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và phân bố theo từng vùng Tổng hợp các điều kiện ngoại cảnh là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến phẩm chất chè [9]
Vì vậy, xét đến điều kiện sinh thái của cây chè là đề cập đến những điều kiện sống thích hợp nhất về các mặt Nắm vững những yêu cầu cụ thể về sinh thái cũng như khả năng thích ứng của cây chè với điều kiện tự nhiên, là một trong những cơ sở khoa học để xác định những biện pháp kỹ thuật trồng trọt thích hợp Yêu cầu tổng hợp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt, sâu, chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm
* Điều kiện đất đai và địa hình:
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm ngặt lắm, song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho cây chè phát triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường
Đất trồng chè của ta ở các vùng trung du phần lớn là feralit vàng đỏ
Trang 18được hình thành trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về
cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của cây chè như
có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước Loại đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ Vì vậy, vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho cây chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây do đó, không bao giờ người trồng chè dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4
Quan hệ giữa đặc điểm môi trường đất và phẩm chất chè rất phức tạp Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác động một cách tổng hợp Song trong những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất Kinh nghiệm trồng chè của người Trung Quốc cho thấy: chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng và nước có màu vàng Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít [27]
Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: cây chè trồng trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng Kinh nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vực thấp Nhiều tác giả ở Liên Xô (cũ) như Kharabava, Đjêmukhatze đã xác định chè trồng ở nơi có địa thế càng cao hơn mặt biển (trong một chừng mực nhất định) thì khuynh hướng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn [27]
Trang 19Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 mét Vùng chè ngon có tiếng ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 mét Nghiên cứu của Viện nông học Hồ Nam (1957) cho thấy ảnh hưởng của độ cao so với mực nước biển tới hàm lượng tanin trong búp chè như sau [9]:
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của độ cao so với mực nước biển tới
và chất hòa tan trong búp chè cao hơn ở hướng dốc phía bắc [9]
Ở vĩ độ càng cao phẩm chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp Do độ nhiệt thấp, độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và tích lũy vật chất trong cây chè
* Điều kiện ánh sáng:
Cây chè ở vùng nguyên sản sinh sống dưới tán rừng rậm, do vậy có tính chịu bóng rất lớn, nó tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ Ánh sáng trực xạ trong điều kiện độ nhiệt không khí cao, không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Trong thực tế sản xuất, ở một số nước như Ấn Độ, Xrilanca thường áp dụng biện pháp trồng cây bóng mát cho chè
để hạn chế độ nhiệt cao và ánh sáng quá mạnh
Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây
và giống Chè ở thời kỳ cây non yêu cầu ánh sáng ít hơn, cho nên ở vườn
Trang 20ươm, người ta thường che râm để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng nhanh Giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn giống chè nhỏ
Các điều kiện chiếu sáng khác nhau có ảnh hưởng đến cấu tạo của lá và thành phần hóa học của chúng
Bảng 1.2 Sự biến đổi thành phần hóa học của búp chè trong điều kiện có
che râm (% chất khô) [27]
Công thức thí nghiệm Công thức thí nghiệm
Thành phần sinh hóa Che râm Không che râm Che râm Không che râm Tanin
Cafein
Nitơ tổng số
10,03 4,62 7,05
12,75 3,76 6,03
8,11 3,43 5,84
8,28 2,78 4,22
Cây chè được che bóng râm, hàm lượng các vật chất có đạm (cafein, N tổng số, protein ) trong búp và lá tăng lên và tích lũy nhiều hơn; các chất không có N (tanin, gluxit ) lại có chiều hướng giảm xuống Sự giảm thấp tanin, gluxit và tăng hàm lượng các vật chất có đạm trong lá chè ở một mức
độ nhất định thường có lợi cho phẩm chất chè xanh và không có lợi cho phẩm chất chè đen Vì vậy, trồng cây bóng mát cho chè thường áp dụng cho những vùng trồng chè sản xuất nguyên liệu để chế biến chè xanh
Do cường độ ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phẩm chất chè cho nên điều tiết cường độ ánh sáng có thể làm cho năng suất chè tăng lên
rõ rệt Những kết quả nghiên cứu tại Trại thí nghiệm chè Tocklai (Ấn Độ) cho thấy: giảm độ chiếu sáng xuống 30% thì sản lượng búp tươi trong năm đầu tăng 34% so với xử lý cường độ chiếu sáng hoàn toàn và giảm độ chiếu sáng xuống 50% thì năng suất đạt cao nhất Song nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng xuống dưới 50% thì năng suất bắt đầu giảm thấp
Trang 21Ánh sáng còn có quan hệ đến giai đoạn phát dục của cây chè: theo các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô thì giống chè Ấn Độ và giống lai Trung - Ấn nguyên sản ở vùng ngày ngắn, sinh trưởng trong điều kiện Gruzia (Liên Xô) ngày dài, không thể hoàn thành giai đoạn ánh sáng cho nên không ra hoa kết quả Song giống Trung Quốc lá nhỏ đã thích ứng với điều kiện ngày dài, cho nên trồng ở Gruzia vẫn ra hoa kết quả
* Điều kiện độ ẩm và lượng mưa:
Thực vật nói chung và cây chè nói riêng muốn hình thành nên một phần vật chất hữu cơ để cấu tạo thành cơ thể của chúng thì chúng phải cần tới 400 phần nước Chè là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè là yếu tố quan trọng trong thâm canh cây chè
Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100
mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt Cây chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85% [27]
*Nhiệt độ không khí:
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi nhiệt độ nhất định Theo nghiên cứu của Kvaraxkhêlia (1950) và Trang Vãn Phương (1956) thì cây chè bắt đầu sinh trưởng khi nhiệt độ trên 10oC Nhiệt độ bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5oC và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 28oC Giới hạn nhiệt độ thấp đối với sinh trưởng của chè biểu hiện rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưởng trong mùa đông và sinh trưởng trở lại khi có nhiệt độ ấm áp của mùa xuân trong những vùng khí hậu á nhiệt đới Đối với sinh trưởng của cây trong thời kỳ này thì nhiệt độ không khí trở
Trang 22thành nhân tố sinh thái chủ yếu Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000oC Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đổi tùy theo giống, có thể từ -5oC đến -25oC hoặc thấp hơn
1.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè
1.2.1 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè trên thế giới
Quan hệ giữa đặc điểm môi trường đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng đến năng suất, phẩm chất chè rất phức tạp Phẩm chất chè do nhiều yếu tố quyết định Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, phẩm chất chè, do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có ở trong đất, thì việc bón phân cho chè là một biện pháp có hiệu quả
Sản phẩm thu hoạch của chè chỉ chiếm 8 – 13% tổng lượng chất khô
mà cây tổng hợp được nếu tính cả các phần trên và dưới mặt đất Theo nguồn
từ nhiều tác giả Ấn Độ thì trong 100 kg chè thương phẩm có chứa lượng dinh dưỡng là 4 kg N2; 1,15 kg P2O5; 2,4 kg K2O; 0,42 kg MgO; 0,8 kg CaO; 100 g Al; 6g Cl; 8g Na [38] Ngoài lượng dinh dưỡng này cây còn lấy một số lớn dinh dưỡng cho việc hình thành bộ lá trên bụi chè, cho số lá rụng, cho việc hình thành thân cành và rễ Chính vì vậy, để hình thành nên 100 kg chè thương phẩm cây lấy đi tổng số dinh dưỡng cho tất cả các bộ phận trên là: 16,9 kg N2; 5,68 kg P2O5; 8,8 kg K2O; 2,92 kg MgO; 6,7 kg CaO; 871 g Al và
74 g Na Ngoài ra cây còn lấy đi một lượng các nguyên tố vi lượng như 38 g Zn; 26 g Bo; 38 g Cu; 241 g Fe và 479 g Mn [29] Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N2; 1,5% P2O5 và 1,2-2,5% K2O [27]
Những kết quả nghiên cứu của Jolemuanu cho thấy nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn thể hiện qua bảng 1.3 [39]
Trang 23Bảng 1.3 Hàm lƣợng một số nguyên tố khoáng trong chè một số nơi
Lá chè tươi Gruzia (Liên Xô) 9,7 8,7 38,9 19,0
Cũng theo tài liệu của Trung Quốc nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha, cần phải cung cấp N2: 37,5 kg, P2O5: 75 kg và K2O: 112 – 150 kg [40]
Ngoài ra, hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi thường 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất [27]
Achivicy và Tlanfanchi đã nghiên cứu thành công một số loại cây họ Đậu (Fabaceae) làm cây phân xanh, đồng thời làm cây che bóng cho cây chè [41]
Theo dõi tại vùng chè Assam (Ấn Độ) thấy rằng hiệu lực của đạm tăng lên đều đặn theo thời gian, hiệu suất 2 kg đạm của lần 1,2,3,4 lần lượt là 2,4,6,8 kg chè khô Ở Đông Phi cho thấy: hiệu suất của 1 kg đạm là 4-8 kg chè khô, nếu hiệu suất < 4 kg chè khô/1 kg N thì đã xuất hiện một yếu tố nào khác là lân hay kali [27], [42]
Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng đạm tăng lên, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10 tấn/ha bón 200 kg N/ha cho hiệu quả kinh
tế cao nhất [31]
Về phẩm chất, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ, Srilancan… đều cho rằng bón đạm không hợp lí, bón quá nhiều hoặc bón đơn độc đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu để chế biến chè đen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô (cũ) cho thấy liều lượng
Trang 24đạm 300 kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và chất hòa tan trong búp chè đều cao, có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt qua giới hạn trên thì phẩm chất chè giảm thấp Khi bón nhiều đạm hàm lượng Protein ở trong lá tăng lên Protein kết hợp với tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè giảm đi Mặt khác khi bón nhiều đạm, hàm lượng ankaloit trong chè tăng lên làm chè có vị đắng [24]
Các nghiên cứu về phân bón cho chè của Viện Cây trồng Á nhiệt đới (Grudia) cho thấy, để nâng cao sản lượng và chất lượng nguyên liệu chè, nâng hàm lượng tanin, chất hòa tan và điểm nếm thử cảm quan, khi nương chè bón lượng đạm thích hợp 300 kg/ha trên nền P và K Nếu tiếp tục nâng cao lượng đạm sẽ không có hiệu quả kinh tế Sử dụng lượng đạm cao thích hợp cho cây chè khi bón phối hợp với phospho, kali, magie và các nguyên tố vi lượng [43]
A.J Nijarata đã giải thích ảnh hưởng xấu của lượng đạm dư đến phẩm chất của chè như sau: lượng đạm dư của cây chè làm tăng sự phát triển của
mô gỗ trong cây kết quả là những phần non của cây chè chưa tích lũy được những chất quý giá nhất cho cây chè [42]
Những kết quả chẩn đoán dinh dưỡng trong lá chè của Liên Xô (cũ) cho thấy: ở cây chè thiếu đạm, hàm lượng đạm trong lá là 2,2 – 2,4%, trong búp là 3-3,5% Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng đạm tương ứng là: 2,9 – 3,4% và 4,7 – 5,0% [42]
Kết quả phân tích lá chè và đất trồng chè ở Liên Xô (cũ) cho thấy: ở cây chè thiếu lân, hàm lượng lân (P2O5) trong lá là 0,27 – 0,28%, trong búp là 0,5 – 0,75% Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng lân tương ứng là 0,33 – 0,39% và 0,82 – 0,86% [39]
Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân và liều lượng 126 – 196 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp
5 – 30% so với đối chứng chỉ bón N, K song hiệu quả tăng bình quân 21 năm
Trang 25về sau là 60 – 78% Ở Liên Xô (cũ) trên đất đỏ hiệu quả phân lân ở những năm sau thường cao hơn năm trực tiếp bón [9]
Kết quả nghiên cứu của Curxanop (1954) và J.C.Nigaloblis Vili (1966)
ở Liên Xô (cũ) đã khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng Catein trong búp chè có lợi cho chất lượng chè [24]
Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30 – 32 mg/100 g đất thì cây chè sinh trưởng bình thường, nếu là 10 – 12 mg/100 g đất thì thiếu nhiều lân [39]
Trên những nương chè mới trồng, phân kali không có hiệu quả vì trên những loại đất mới khai phá hàm lượng K2O trong đất đủ cho yêu cầu sinh trưởng phát triển của cây (20 – 25 mg KO/100g đất), ở những nơi thường xuyên bón N, P với liều lượng cao trong nhiều năm, đất trở nên thiếu kali thì hiệu quả việc bón K2O rất rõ rệt [9] Theo số liệu của Goziaxivili (1949) bón K2O trên đất đỏ với liều lượng 80 – 320 kg/ha có thể tăng sản lượng 28 – 55%
so với đối chứng bón N, P Những nghiên cứu của A.D.Makharobitze (1948) cho thấy phẩm chất nguyên liệu trong các công thức bón phân khác nhau được xếp theo thứ tự sau: P, K, N và không bón Những kết quả nghiên cứu của Liên Xô (cũ) cho thấy hàm lượng kali trong lá dưới 0,5% dấu hiệu thiếu kali biểu hiện rõ, trên 1% thì cây sinh trưởng bình thường Hàm lượng K2O
15 mg/100 g đất là thiếu kali, trên 15 mg/100 g đất, cây sinh trưởng bình thường [10], [27], [28]
Về chất lượng chè, kali lại ảnh hưởng rõ rệt Theo Djemukhatze chất lượng chè nguyên liệu trong các công thức bón khác nhau được xếp theo thứ
tự P, K, N và sau cùng là không bón Kết quả nghiên cứu của Liên Xô (cũ) hàm lượng kali trong lá nhỏ hơn 0,5 thì cây thiếu kali [9]
Những công trình nghiên cứu của Acnôn (1954), Evan (1956), Grin (1954), Nalia (1951), Nason (1953), Nicôla (1957), Staccây (1955), MacEuroi
và Nason (1954) và những người khác, đều xác nhận là những nguyên tố
Trang 26tham gia vào thành phần nhiều loại men và là chất hoạt hóa của nhiều loại men ấy Nhiều nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng tốt tới quang hợp: Mn, Cu,
Bo, Co và Mo đẩy mạnh sự tổng hợp diệp lục trong lá và phân giải diệp lục trong tối Bo và các nguyên tố khác tăng cường sự tổng hợp gluxit, làm cho
sự tổng hợp và vận chuyển sacaro và các gluxit thuận lợi hơn (Scônich 1955)
Mn, Zn, Cu, Mo và trong nhiều trường hợp cả Bo làm tăng độ hô hấp của quá trình oxi hóa khử [27]
Phân vi lượng hiện nay đang bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong thực
tế nông nghiệp và được coi là một khả năng tiềm tàng góp phần đẩy mạnh sự phát triển của ngành trồng trọt và chăn nuôi Song việc nghiên cứu và sử dụng phân vi lượng cho chè còn rất ít Ở Srilanca đã nghiên cứu và sử dụng kẽm sunfat hoặc axit kẽm để phun lên lá, hoặc bón borat phối hợp với N, P, K cho chè ở những nơi xác định có hiện tượng thiếu kẽm và Bo Kết quả nghiên cứu của Tranturia (1973) cho thấy bón N, P, K phối hợp với 5 kg Zn và 5 kg Bo, cho 1 ha, làm tăng phẩm chất của chè nguyên liệu…[44], [45]
Godishvili G.C và Beridze A.F (1962) đã nghiên cứu việc sử dụng phân khoáng thường xuyên bón vào đất chè dẫn đến sự biến đổi hóa học của đất Các chất dinh dưỡng được hòa tan mạnh hơn khi đất ẩm có mưa, nhất là những vùng á nhiệt đới và đới ẩm các chất khoáng của đất thường bị rửa trôi
Sử dụng phân chua sinh lí ở điều kiện thâm canh cao làm thúc đẩy mạnh cường độ rửa trôi các ion bazơ trong đất, trong đó có Mg Khi bón NPK với mức cao, độ chua của đất tăng cao, ngược lại hàm lượng bazơ lại giảm thấp: CaO 14,4 mg/100g đất, đặc biệt MgO chỉ còn 1,8 mg/100g đất Trong khi đó đối chứng tương tự là CaO: 28,8 MgO: 5,8 mg/100g đất [39], [41] Geus J.G.De, 1983: Việc sử dụng lâu dài amon sunfat và các loại phân chua sinh lí
đã làm thay đổi đáng kể tính chất lý hóa học của đất Trong môi trường chua
sự rửa trôi MgO lớn hơn CaO, mặt khác CaO được bổ sung cùng việc bón lân
Trang 27còn MgO bị lấy đi cùng búp chè thu hoạch, sự thiếu hụt MgO ngày càng trầm trọng Sự thể hiện thiếu MgO của cây chè có nhiều nguyên nhân: do nhiều năm sử dụng amon sunfat liên tục, do nhiều năm sử dụng kali trên đất feralit nghèo hoặc thiếu magie, do thừa mangan trên đất tro núi lửa Khắc phục sự thiếu magie người ta bón vào đất 125 kg dolomit/1ha, khi thiếu magie nặng hơn bón 100 – 125 kg kiseserit (24% MgO), hoặc phun MgSO4 1 lần trên năm với nồng độ 2% lá được thực hiện ở Srilanka, Nam Ấn Độ đã làm tăng sản lượng 11-16% trên các nương chè già [38], [42]
1.2.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây chè ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta cây chè được trồng nhiều trên nhiều loại đất, nhưng chủ yếu là trên nhóm đất đỏ vàng Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến
ít chua, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt và tuổi thọ của cây càng kéo dài So với các loại cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập
Cây chè yêu cầu về đất không chặt chẽ lắm Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 – 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường [14]
Đất trồng chè của ta ở các vùng trung du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của cây chè như có
độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn một mét và thoát nước Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là các vùng trồng chè cũ Vì thế vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lí của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lí phân hóa học
Trang 28hàng năm cho cây chè Chè là loại cây kị vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị hại Bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4 [32]
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè, Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, cho thấy việc bón phân hữu cơ kết hợp với vô cơ năng suất chè tăng 30-32% so với việc sử dụng riêng rẽ phân vô cơ Người ta rất coi trọng hiệu quả về sau của việc bón phân hữu cơ cho chè Yêu cầu về đạm thay đổi tùy theo loại đất tuổi của cây và năng suất vườn chè Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ, cho thấy bón đạm đầy đủ, sản lượng búp chè tăng 2-2,5 lần so với đối chứng không bón [25]
Theo nghiên cứu 10 năm liên tiếp của trại chè Phú Hộ về việc bón phân
N, P, K thấy trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón là rất rõ rệt qua 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi [25]
Quy trình bón P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy định 5 năm bón P2O5 một lần với liều lượng 100 kg/ha, bón kết hợp với phân chuồng sau khi đốn, bón sâu khoảng 20-30cm [14]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến chỉ tiêu hóa sinh chất lượng búp chè tác giả Trịnh Văn Loan đã nêu: Những dạng phân bón khác nhau có ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau đến hoạt tính của men peroxydaza ở dạng liên kết hay hòa tan trong lá chè Hoạt tính của men peroxydaza cao trong những trường hợp bón phân photphat và kèm theo đó là hàm lượng tannin trong lá chè tăng lên đáng kể Bón phân photpho có ảnh hưởng tốt đến đặc tính hóa sinh, dẫn đến sự tạo thành hợp chất poliphenol trong lá chè cao [24]
Kết quả 10 năm (1969-1979) nghiên cứu về phân bón NPK cho chè ở Trại
Trang 29thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy, khi bón đạm và kali cho giống chè Trung Du
có tác dụng rõ về năng suất và chất lượng búp chè, hàm lượng tannin và chất hòa tan đều cao Tỉ lệ phối hợp bón NPK cho chè hợp lí là 3:1:1 [1]
Kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Ngọ (1998) về bón phân cho các giống chè cho thấy, các giống chè và tuổi chè khác nhau có yêu cầu lượng phân bón khác nhau [1]
Bón phân khoáng cân đối và bổ sung phân hữu cơ đều làm tăng sản lượng chè Nhưng liều lượng NPK thích hợp cho nương chè còn phụ thuộc vào tính chất lí hóa của đất, tuổi chè và yếu tố tác động các yếu tố sinh thái [12]
Sử dụng các nguyên tố vi lượng (Bo, đồng, mangan, molipđen, kẽm, coban và iot) vào việc trồng trọt (xử lí các hạt trước khi gieo) và bón vào đất, phun lên lá, có thể tác động mạnh vào các quá trình sinh lý của cây trồng khác nhau, do đó có thể làm tăng năng suất và phẩm chất chè [10]
Ở Việt Nam bước đầu đang nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên
tố vi lượng như Zn, B, Mo, Mn, Cu, đối với sự sinh trưởng và phát dục của chè, hoặc dung dịch H3BO4 (0,02%) phun phối hợp với ure (2%) để trừ sâu và thúc sinh trưởng cho chè càng cho kết quả tốt
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đối với đời sống cây trồng hầu hết các tác giả chủ yếu chú trọng đến các loại phân đa lượng như N, P, K còn các phân trung vi lượng như S, Zn, Mn, Mg, Bo, Al rất ít tác giả đề cập đến hoặc nếu cũng chỉ nghiên cứu trên một số loại cây như cà phê, đậu, đỗ, bông…
Tác giả Lê Xuân Đính cho biết cây cà phê Robusta ở Indonesia lấy đi
từ đất là 52,3 kg N; 10,5 kg P2O5; 80,7 kg K2O; 16,5 kg MgO; 28 kg CaO thì năng suất đạt 1,75 tấn/ha Để đảm bảo cho đất không bị nghèo đi thì mức bón tối thiểu phải bù đắp được sự hao hụt các nguyên tố này trong đất Tùy theo đặc điểm tồn tại của từng nguyên tố trong đất mà ngoài phần cây hấp thụ, ta còn phải bù đắp cả phần mất đi do rửa trôi, bay hơi hoặc do các quá trình hóa
Trang 30học hoặc xói mòn… khiến các nguyên tố này không còn nằm trong vùng rễ cây Đối với các nguyên tố trung lượng, Ca và Mg là hai nguyên tố ít bị rửa trôi hơn S và mức bón (tùy theo năng suất cà phê) ta có thể tính toán từ mức cây hút ở trên và cộng thêm 30% nữa là đủ [44]
Tác giả Lê Văn Đức đã nghiên cứu về ảnh hưởng của Mg đến chất lượng giống chè PH1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và Mg đến năng suất, chất lượng giống chè PH1 trồng tại Phú Hộ - Phú Thọ Bón Mg ở các liều lượng 50 kg và 70 kg MgSO4/ha làm tăng mật độ búp chè 10,5% và 18,9% Tỉ lệ mù xòe giảm, trọng lượng và chiều dài búp không tăng có tác dụng tích cực đến năng suất và chất lượng giống chè PH1 [11] Bón Mg với các công thức 50 kg MgSO4/ha và 75 MgSO4/ha làm tăng dung lượng đốn của chè 25% và 32,8% so với đối chứng Bón Mg làm tăng hàm lượng đường khử, đặc biệt axit amin, do đó ảnh hưởng tốt đến chất lượng chè [11]
Chè là cây công nghiệp dài ngày cho sản phẩm thu hái nhiều lần trong năm, trong đó sản phẩm thu hoạch (búp chè) chỉ chiếm 8-13% tổng sinh khối của toàn bộ cây chè và năng suất chè thường chưa cao nên nhu cầu dinh dưỡng của cây chè không lớn Trung bình năng suất 2 tấn búp khô lấy đi 80kg
N, 23kg P2O5, 48kg K2O, 8 kg MgO và 16 kg CaO [31] Như vậy, lượng hút dinh dưỡng của chè lại cần tính đến cả lượng dinh dưỡng bị mất theo cành, thân do đốn định kì Do vậy tổng số hàng năm cây chè hút khoảng 144 kg N,
71 kg P2O5, 62 kg K2O, 24 kg MgO và 40 kg CaO Tuy đạm là yếu tố dinh dưỡng bị chè hút nhiều nhất, song cân đối đạm-kali-magie là rất quan trọng
Tỉ lệ này là thay đổi tùy theo tuổi cây và ổn định khi thu hoạch Thông thường, những năm trồng đầu tiên, lượng đạm bón thường cao hơn, biến động trong khoảng 120-240 kg N/ha với tỉ lệ N:K2O là 1:0,5 Vào thời kì thu hoạch,
tỉ lệ N:K2O thay đổi theo hướng tăng kali và tỉ lệ này thường là 1:1 với lượng bón 240-300 kg N và 240-300 kg K2O Những vườn chè năng suất cao có gia
Trang 31đình đã bón tới 350 kg N và 350 kg K2O Liều lượng lân thường không cao như đạm và kali, biến động trong khoảng 60-80 kg P2O5/ha Bón phân cân đối, đúng tỉ lệ và liều lượng làm tăng năng suất chè tăng 14-20% với hệ số lãi
từ 2,8-3,9 lần, đồng thời cũng làm hàm lượng tannin tăng thêm từ 2-6,5%, chất hòa tan tăng 1,5-3,5%, hương vị được cải thiện Việc bón Mg (khoảng 10-20 kg MgO/ha) cho chè cũng đảm bảo tăng năng suất và chất lượng búp
Ở Việt Nam có thể dùng một tỉ lệ nhất định phân lân nung chảy như một nguồn phân magie cho chè Ngoài các nguyên tố đa và trung lượng, kẽm cũng
có hiệu lực khá với chè, do vậy phun dung dịch sunphat kẽm cũng có tác dụng tăng năng suất và phẩm chất đáng kể Theo một số tác giả, nếu năng suất cao hơn 3 tấn búp khô thì cần bón thêm cả Bo và Mo [29]
1.3 Giá trị thực tiễn của giun đất
Giun đất là tên thường gọi cho một nhóm loài động vật sống chủ yếu trong đất (terrestrial) và một số ít sống bán thủy sinh (semiaquatic), xuất hiện cách đây khoảng 600 triệu năm, thuộc lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) và ngành Giun đốt (Anneliada) [6]
Trong tự nhiên, giun đất sống trong đất và thảm mục, giun đất di chuyển rất tích cực bằng cách chủ động đào hang, rãnh để tìm kiếm thức ăn, nhận biết đồng loại, ghép đôi và sinh sản Nhờ hệ thống hang đào được trong suốt vòng đời của mình, chúng xáo trộn làm tơi xốp lớp đất mặt, đào hang chuyển các vụn thực vật trên mặt đất xuống lớp sâu hơn, tạo nên lớp đất màu
mỡ giàu mùn, giàu khoáng Hang giun đất tạo điều kiện đưa không khí và nước vào đất, làm cho đất thoáng và ẩm [3], [4]
Giun đất đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa vật chất hữu cơ trong đất Chúng đưa vào ống tiêu hóa của mình các vụn hữu cơ và đất trong quá trình đào hang Các vụn hữu cơ từ thực vật, động vật khi được đưa vào ống tiêu hóa của giun sẽ được nghiền nhỏ và phân loại nhờ hệ thống enzim tiêu
Trang 32hóa Chất thải sau đó được tống ra ngoài dưới dạng phân giun giàu các hợp chất trao đổi, có giá trị dinh dưỡng cao đối với thực vật và vi sinh vật [3], [4]
Giun đất giữ vai trò quan trọng quyết định tính chất vật lí, hóa học và sinh học của đất [2] Những loài giun đất đào hang sẽ làm tăng độ thông thoáng, tơi xốp và khả năng thấm nước cho đất Chúng ăn rác thải hữu cơ và thải phân chứa những chất dinh dưỡng cần thiết cho cây Tùy vào từng loài
mà phân của chúng có pH, nitơ hoạt động, phospho, kali và canxi khác nhau nhưng luôn cao hơn lớp đất xung quanh [13] Các nhóm vi sinh vật, đặc biệt
là vi khuẩn cố định đạm trong ruột và phân giun đất cũng làm tăng thêm độ phì nhiêu cho đất Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy giun đất góp phần rất lớn để làm tăng sự phát triển của thực vật nói chung và tăng sản lượng cây trồng nói riêng [3]
Trong nông nghiệp, giun đất là một trợ thủ đắc lực của người nông dân Với hoạt động cơ học của mình, giun đất giúp giảm đáng kể công đoạn làm đất nhất là công cày, cuốc, giun làm tăng độ phì nhiêu cho đất Trong nông nghiệp hiện nay phân bón hóa học là nguồn bổ sung dinh dưỡng chính cho cây trồng, nhưng do việc sử dụng không hợp lí nên lượng phân bón trở thành hiểm họa cho môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm Giun đất đã góp phần giải quyết vấn đề này [5] Nhờ vai trò to lớn trong việc cải tạo đất của mình giun đất đã được Aristot (384-322 trước công nguyên) coi là “ruột của đất trồng” C Darwin đã nhận xét một cách rất hình tượng và chính xác
“cái cày là một trong những phát minh cổ nhất và có ý nghĩa nhất của con người, nhưng trước đó rất lâu, đất được giun đất cày xới và sẽ còn mãi được giun đất cày xới” [26]
Ngoài ra, dựa trên cơ sở thành phần loài và các biểu hiện về số lượng, người ta còn dùng giun đất như một nhóm động vật chỉ thị cho các vùng đất hoặc mức độ thay đổi cảnh quan, còn nếu dựa vào phân bố của từng loài giun
Trang 33đất có thể chỉ thị cho tính chất của đất như Pheretima posthuma thường gặp ở đất cát pha, Pheretima elongate ở đất nặng, Pontoscolex corethrurus ở đất
nghèo mùn và chua [26]
Do thịt giun đất có giá trị dinh dưỡng cao nên trong tự nhiên chúng là nguồn thức ăn phong phú của nhiều nhóm động vật như chim, rùa, rắn, cá… Ngoài ra, giun đất cũng là mắt xích vật chất quan trọng trong chuỗi và lưới thức ăn góp phần khép kín chu trình tự nhiên Đa số chúng là sinh vật tiêu thụ bậc 1 chúng ăn vụn hữu cơ trong đất [34]
Nhiều vùng ở nước ta và nhiều nước trên thế giới đã tiến hành gây nuôi giun đất trên quy mô gia đình hoặc công nghiệp để làm thức ăn chăn nuôi cho gia cầm, cá, ếch, ba ba, lươn…Giun đất đã được sử dụng trong y học dân gian để chữa một số bệnh sốt rét, hen suyễn, đậu mùa…với tên gọi là “Địa long” [20]
Khi sống trong đất, một số loài giun còn là vật chủ trung gian truyền
một số giun sán kí sinh như Giun phổi, Giun thận [26]
Về mặt lí thuyết, nghiên cứu giun đất góp thêm dữ liệu hình dung con đường chuyển từ nước lên cạn của động vật, góp phần hình dung quá trình hình thành đơn vị bậc loài, dưới loài và sự tiến hóa của các hệ cơ quan động vật [26], [34]
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống chè LDP 2 được 11 tuổi trồng tại Trại Thực hành thực tập – Trường Trung cấp Kinh tế Kĩ thuật Yên Bái (hình 2.1)
Hình 2.1 Khu bố trí thí nghiệm
Giống chè LDP2: Được tạo ra từ tổ hợp lai giữa cây mẹ đại Bạch Trà (Trung quốc) và cây bố PH1 (Ấn Độ), có năng suất cao, chọn lọc theo phương pháp chọn dòng
Trang 35Đặc điểm giống chè LDP2:
Về hình thái: Diện tích lá trung bình 20-25 cm2, lá có màu xanh nhạt, lá thuôn dài, đầu lá nhọn, dài, có thời gian bật búp sớm
Về sinh trưởng: Sinh trưởng khỏe, tán rộng, phân cành sớm Búp có
màu xanh nhạt, non hơi phớt tím, trọng lượng búp (1 tôm, 2 lá) từ 0,45-0,55
g Khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi tốt, năng suất khá cao, tuổi 10 đạt 15 tấn/ha
Về chất lượng: Chế biến chè đen chất lượng khá Thành phần các hợp
chất Tanin 34,1%; Chất hòa tan 43,85%; Catechin tổng số (mg/100g) 139,0
Đây là giống dễ giâm cành và có hệ số nhân giống cao, cây con sinh trưởng khỏe cả ở vườn ươm và sau trồng, tỉ lệ sống cao
Phạm vi áp dụng: Giống LDP2 đang được phổ biến ở hầu hết các tỉnh
trồng chè phía Bắc Khả năng thích ứng rộng, chống chịu hạn hán và sâu bệnh tốt, đặc biệt chịu được điều kiện nóng hạn của miền Trung Thích hợp trồng ở những vùng đồi núi thấp dưới 500m so mực nước biển
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Đất trồng chè nơi thí nghiệm: Đất feralit, có dộ dốc 5%
- Phân bón gồm:
+ Phân chuồng: là loại phân trâu bò đã ủ sẵn có tại địa phương
+ Phân hóa học: Đạm, lân, kali
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Tại Trại thực hành thực tập, Trường Trung cấp Kinh tế Kĩ
thuật, tỉnh Yên Bái
Thời gian: Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 10 năm 2014
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội theo phương pháp thu thập
Trang 36số liệu từ các nguồn: Phòng thống kê, Phòng nông nghiệp, Trạm khí tượng thủy văn tỉnh Yên Bái, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tình hình sản xuất chè từ các nguồn Phòng thống kê, Phòng nông nghiệp và Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng
2.3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 4 công thức với 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi lần nhắc lại là 50 m2
Công thức 1: Không bón phân (đối chứng)
Công thức 2: Bón phân hóa học (2,6 kg đạm + 3,8 kg lân + 1,3 kg Kali) Công thức 3: Bón phân hữu cơ (50 kg phân chuồng hoai mục)
Công thức 4: Bón phân hóa học kết hợp với phân hữu cơ (2,6 kg đạm + 3,8 kg lân + 1,3 kg Kali và 50 kg phân chuồng hoai mục)
Lưu ý: tính lượng phân bón cho 1 ô diện tích 50 m2
theo tiêu chuẩn ngành chè
Thời gian bón phân:
Bón phân chuồng vào 15/12/2013
Bón phân hóa học chia 2 lần: Lần 1 vào ngày 15/2/2014 và lần 2 vào 1/5/2014
Cách bón phân: Bón vào giữa 2 hàng chè, rạch hàng sâu 20 cm cho
Trang 372.3.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
a Chỉ tiêu năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế
* Các yếu tố cấu thành năng suất:
- Mật độ búp (búp/m2): Dùng khung vuông 25 x 25 cm, tính số vết hái trong khung ở các vị trí giữa tán, rìa tán, lấy trị số trung bình và quy ra số búp/m2, theo dõi theo lứa hái
- Trọng lượng búp 1 tôm 2 lá (gam): Hái ngẫu nhiên 100 búp 1 tôm 2 lá theo 5 điểm ở mỗi công thức, đem cân trên cân kỹ thuật, lấy trị số trung bình, rồi quy ra trọng lượng của 1 búp, theo dõi theo lứa hái
- Tỷ lệ búp có tôm (%): Cân ngẫu nhiên 100 gam chè búp tươi, đếm tổng số búp, số búp có tôm, rồi quy ra % búp có tôm, theo dõi theo lứa hái
Tỷ lệ búp có tôm (%) =
Số búp có tôm
x 100 Tổng số búp
* Năng suất: Theo dõi năng suất thực thu trên các ô thí nghiệm ở từng
lứa hái tính ra tạ búp tươi trên ha.Theo dõi số lứa hái trên các thí nghiệm trong vụ xuân và vụ hè
Năng suất lí thuyết (tạ búp tươi/ha): Khối lượng của 1 búp x mật độ búp/m2 x diện tích mặt tán/ha
Năng suất thực thu: cân số kg búp tươi/ ô quy ra tạ/ha
* Chỉ tiêu kinh tế (hiệu quả kinh tế)
Lãi thuần = Tổng thu – tổng chi
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu đối với giun đất
Trên mỗi công thức đào 3 hố với kích thước 50 x 50 x 50 cm, đếm số giun đất, có trong đó và quy ra số cá thể/m2
Sơ đồ thu mẫu: trong 1 ô thí nghiệm 5m2
có 3 hố đào giun
Trang 38Thời gian nghiên cứu:Thu mẫu trong 4 đợt:
+ Đợt 1: Ngày 15/1/2014 Trước khi bón phân chuồng cho chè
+ Đợt 2: Ngày 15/3/2014 Ngay sau khi thu hoạch vụ xuân
+ Đợt 3: Ngày 15/5/2014 Sau khi bón phân hóa học lần 2
+ Đợt 4: Ngày 15/7/2014 Ngay sau khi thu hoạch vụ hè
Phương pháp thu mẫu
+ Phương pháp thu mẫu định lượng:
Ngay trước khi làm đất và sau khi thu hoạch ở mỗi ô thí nghiệm:
Đào 3 hố nhỏ, mỗi hố nhỏ 50cm x 50 cm, thu theo từng tầng đất dày 10 cm Bắt giun trong các tầng đất, cho vào túi vải có nhãn ghi rõ tầng đất, sinh cảnh, thời gian thu mẫu
+ Phương pháp định hình và bảo quản mẫu vật:
Mẫu giun đất sau khi thu được rửa bằng nước sạch cho sạch đất và vụn hữu cơ bám ngoài
Làm giun chết trong dung dịch formalin 2%
Sau đó đưa mẫu vào dung dịch formalin 4% định hình trong trạng thái duỗi và giữ lâu dài
Việc thu mẫu định lượng được tiến hành theo các phương pháp thu mẫu động vật đất của Ghiliarow M.S (1975)
10 cm
50 cm
50 cm
Trang 39Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
+ Phương pháp định loại giun đất:
Mẫu sau khi định hình sẽ tiến hành định loại theo tài liệu chuyên ngành: “Khóa định loại giun đất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam” (Thái Trần Bái, 1986) Chúng tôi căn cứ vào các đặc điểm hình thái và giải phẫu: Đai sinh dục, vị trí, số lượng nhú phụ, nhú đực,
lỗ nhận tinh, số lượng tơ, manh tràng, màu sắc bên ngoài… Việc xác định tên cho một loài cụ thể được tiến hành ở trong phòng thí nghiệm bộ môn Động vật học, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
+ Phương pháp tính số lượng và sinh khối:
Tính số lượng cá thể (n): Đối với con nguyên vẹn tính cả con non và
con trưởng thành Đối với con bị đứt chỉ tính phần đầu mới là một con, phần đuôi không tính
Tính sinh khối (p): sinh khối được tính bằng trọng lượng giun đất sau
khi định hình mẫu bằng foocmalin 4%, kể cả phần thức ăn trong ruột của giun Cân bằng cân phân tích với độ chính xác đến 0,1 g
Tính phần trăm số cá thể thu được (kí hiệu: n%) Và phần trăm tổng số sinh khối thu được (kí hiệu: p%)
Các số liệu được tính trên đơn vị tương ứng là 1m2
n = [(Ai + Ci)/N] x 4
p = [(PAi + PCi)/N x 4 Trong đó:
Ai: Số con non i có trong N hố Ci: Số con trưởng thành i có trong N hố i: Loài
N: Số hố
n % (loài): (Tổng số cá thể của loài/ tổng số các cá thể thu được) x 100%
p % (loài): (Tổng số sinh khối của loài/ tổng số sinh khối thu được) x 100%
Trang 402.3.4 Phương pháp thống kê xử lí số liệu
Sau khi thu thập các số liệu, tiến hành phân tích các số liệu để tìm các giá trị đặc trưng cho các mẫu và nhóm mẫu
Các số liệu thu được được xử lý theo phương pháp thống kê toán học của Phạm Văn Kiều, 2006 [18] Đồng thời kết quả được phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel, 2007