Nguyễn Văn Hạnh trong các công trình của mình như: Lý luận phê bình văn học thực trạng và khuynh hướng; Lý luận văn học - vấn đề và suy ngẫm; Văn học và văn hóa vấn đề và suy ngẫm, cùng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN TRỌNG THƯỞNG
HÀ NỘI, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện và hoàn thành tại Trường ĐHSP Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư, Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng Thầy đã hướng dẫn và truyền cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong học tập và trong nghiên cứu khoa học để động viên, khích lệ tôi vươn lên trong học tập
và vượt qua những khó khăn Tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành luận
văn với đề tài: “Lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay)”
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với Thầy
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu trường ĐHSP Hà Nội 2, Khoa Ngữ văn, Phòng sau đại học trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình cao học và luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, các đồng chí đồng nghiệp và bạn bè
đã tạo mọi điều kiện, động viên, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Đặng Thị Như Hoa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi, không sao chép hoặc trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã công bố Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Đặng Thị Nhƣ Hoa
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ VĂN HỌC TRƯỚC ĐỔI MỚI 9
1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội 9
1.2 Tình hình văn học 11
1.2.1 Nhu cầu nhận thức lại văn học viết về chiến tranh 11
1.2.2 Sự tiếp tục của khuynh hướng sử thi trong một hoàn cảnh lịch sử mới, một quan niệm nhân đạo mới 19
1.2.3 Sự xuất hiện của những khuynh hướng mới, hiện thực mới 24
CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI 33
2.1 Những tiền đề cho sự phát triển lý luận văn học thời kỳ đổi mới 33
2.1.1 Kinh nghiệm và thành tựu lý luận văn học thời kỳ chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội 33
2.1.2 Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa 39
2.2 Các thành tựu lý luận văn học thời kỳ đổi mới 41
2.2.1 Đổi mới tư duy lý luận 41
2.2.1.1 Nghiên cứu sâu hơn các đặc trưng văn học 41
2.2.1.2 Nhận thức và đánh giá lại các giá trị văn học theo một quan điểm lý luận mới 43
Trang 52.2.1.3 Nhận thức đúng đắn, khoa học hơn vai trò của các yếu tố
hình thức 49
2.2.2 Dịch , giới thiệu và vận dụng các lý thuyết nước ngoài vào Việt Nam 50
2.2.2.1 Thi pháp học - quá trình giới thiệu, vận dụng và thành tựu 53
2.2.2.2 Phân tâm học 57
2.2.2.3 Tự sự học 58
2.2.2.4 Văn học so sánh 60
2.2.3 Tổng kết, đánh giá thực tiễn văn học thời kỳ chiến tranh cách mạng 63
CHƯƠNG 3 HẠN CHÊ CỦA LÝ LUẬN VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 65
3.1 Một số hạn chế của lý luận văn học thời kỳ đổi mới 65
3.1.1 Tình trạng tiếp thu lý thuyết một cách sống sít 65
3.1.2 Lý luận không theo kịp thực tiễn sáng tác 66
3.1.3 Chưa thiết lập được mối quan hệ tương hỗ thật sự hiệu quả giữa phê bình văn học với lý luận văn học và lịch sử văn học 70
3.1.4 Đội ngũ lý luận thiếu chuyên nghiệp 72
3.2 Những vấn đề đặt ra của lý luận văn học thời kỳ đổi mới 74
3.2.1 Vấn đề kế thừa, phát triển lý luận văn học và mĩ học Mác xít 74
3.2.2 Vấn đề tiếp thu, chọn lọc các thành tựu lý thuyết của phương Tây 76 3.2.3 Vấn đề tiếp thu các quan điểm lý luận văn học và mĩ học phương Đông, trong đó có quan điểm văn học và mĩ học truyền thống của Việt Nam 76
3.2.4 Nghiên cứu, quán triệt quan điểm, đường lối văn nghệ của Đảng và tổng kết thực tiễn 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Lý luận văn học là một trong ba bộ môn cấu thành khoa nghiên
cứu văn học Quá trình vận động và phát triển của bộ môn này trong từng thời
kỳ có những đặc điểm riêng cần được nghiên cứu để làm cơ sở cho việc biên soạn lịch sử văn học, phục vụ cho nghiên cứu, học tập và giảng dạy
1.2 Lý luận văn học thời kỳ đổi mới là giai đoạn phát triển quan trọng
của lý luận Từ 1986 đến nay, sau gần 30 năm tiến hành đổi mới và phát triển, cũng như mọi lĩnh vực khác, đời sống chính trị xã hội và văn hoá của đất nước, văn học Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực Tổng kết và đánh giá diện mạo của lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới cả về thành tựu lẫn hạn chế, rút ra bài học để từ đó nêu lên những vấn đề đặt ra đang là một yêu cầu khách quan đặt ra cho lý luận văn học Việt Nam đương đại Đồng thời thấy được một giai đoạn quan trọng của
lý luận văn học Việt Nam
1.3 Hiểu rõ thực trạng, đánh giá, lí giải đúng nguyên nhân, từ đó đề
xuất được những vấn đề đặt ra trong thực tiễn lý luận văn học Việt Nam từ
1986 đến nay không chỉ giúp cho việc nâng cao nhận thức thành tựu, nhận thức tiến trình văn học mà còn trực tiếp giúp cho việc học tập, giảng dạy bộ môn lý luận văn học trong nhà trường các cấp hiện nay
1.4 Yêu cầu tổng kết văn học 30 năm đổi mới đang được Đảng, Nhà
nước tiến hành Luận văn này sẽ góp một phần nhỏ vào nhiệm vụ quan trọng đó
1.5 Là một giáo viên giảng dạy bộ môn ngữ văn tôi muốn tìm hiểu để
nhìn toàn diện về nền lý luận văn học thời kỳ đổi mới trong tiến trình phát triển của văn học hiện nay Nhằm rút ra được những nhận định, những kiến
Trang 7thức bổ ích cho bản để phục vụ việc giảng dạy văn học cho học sinh trong những năm sau này
Với những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay)” để làm đề tài luận văn
2 Lịch sử vấn đề
Như chúng ta đã biết sau đổi mới lý luận văn học bước sang một trang mới, thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu và phê bình văn học tạo nên các diễn đàn khá sôi nổi
Từ Nghị Quyết 05 – Bộ Chính trị (28.11.1987), Đại hội VI của Đảng (1986) thì vấn đề lý luận văn nghệ luôn được đề cập tới Các hoạt động nghiên cứu luôn được đặt ra, mà tiêu biểu là sự ra mắt của tạp chí Lý luận phê bình (2012) đã khẳng định vai trò quan trọng của lý luận trong đời sống văn
học những thập niên vừa qua
Hà Minh Đức là người tiên phong trong công trình nghiên cứu của mình cho rằng: “Chưa bao giờ lý luận văn học cần cho văn học như bây giờ” Sau giáo sư Hà Minh Đức, giáo sư Hà Xuân Trường – Uỷ viên ban chấp hành, trưởng ban lý luận phê bình của hội nhà văn cũng đã khẳng định rõ hơn
vị trí và sự đóng góp của các nhà lý luận vào nền văn học chung của cả nước
Cuối năm 1985 đầu 1986, Hội nhà văn cũng bắt đầu vào cuộc bằng việc lần đầu tiên trao tặng thưởng cho các tác phẩm lý luận và khảo cứu văn học Điều này thừa nhận tầm quan trọng của lý luận văn học như thế nào
Theo số liệu mà chúng tôi khảo sát được đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều ý kiến đánh giá thẩm định, đánh giá của các Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà nghiên cứu lý luận, các nhà văn, nhà thơ bàn về các vấn đề của lý luận văn học thời kỳ đổi mới cùng các bài viết được đăng trên các báo Văn nghệ hay tạp chí Văn học, Từ 1986 đến nay những công trình tiêu biểu nghiên cứu về lý luận văn học là:
Trang 8Công trình Văn học văn hóa tiếp nhận và suy nghĩ (Đinh Xuân Dũng;
1996 - 2004) đã trình bày về các vấn đề văn học từ sau 1975 và các vấn đề
văn hóa dân tộc dựa trên thực tiễn lý luận văn học dân tộc Công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Phan Cự Đệ; 2004) cũng đã khái quát diễn biến,
diện mạo của lý luận văn học qua từng thời kỳ
Nguyễn Văn Hạnh trong các công trình của mình như: Lý luận phê bình văn học thực trạng và khuynh hướng; Lý luận văn học - vấn đề và suy ngẫm; Văn học và văn hóa vấn đề và suy ngẫm, cùng một số bài viết khác
cũng đã trình bày cách nhìn, suy ngẫm, băn khoăn của mình về thực trạng, khuynh hướng lý luận phê bình văn học ở nước ta hiện nay Đồng thời cung cấp cơ sở lý luận, ý nghĩa bản chất, đặc trưng của văn học, giúp đánh giá đóng
góp của văn học, của nhà văn trong quá trình đổi mới
Nguyễn văn Long trong Sơ lược tình hình và thành tựu của lý luận phê bình văn học Việt Nam sau 1975 (2006) cũng đã đưa ra một cái nhìn hết
sức khái quát và tổng hợp cho nền lý luận ở nước ta cả về những thành tựu và hạn chế
Cao Hồng trong công trình Một chặng đường đổi mới của lý luận văn học Việt Nam (1986 – 2011) (2011) cho chúng ta thấy bộ mặt của lý luận
trong thời kỳ đổi mới Nhìn chung công trình này mang tính tổng kết, chỉ ra từng giai đoạn, từng phương diện, từng bộ phận của lý luận
Nếu như các tác giả trên đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về diện mạo của nền văn học Việt Nam và của lý luận văn học thì các tác giả sau đó lại bày
tỏ những cách nhìn mới về văn học và hiện thực qua các bài viết đăng trên các
báo và tạp chí như:"Trước hết là đổi mới cách nhìn" của Hoàng Ngọc Hiến (Báo Văn nghệ ngày 17/ 1/ 1987); "Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật
sẽ có nhiều tác phẩm hay" của Nguyễn Tuân ( Báo Văn nghệ, số 3 và số 4, ngày 17/ 1 /1987); "Điều quan trọng lúc này là trung thực và trung thực"của
Trang 9Lê Lựu (Văn nghệ số 27 ngày 4/ 7/ 1987); "Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật"của Nguyễn Văn Hạnh (Văn nghệ số 33, ngày 15/ 8/ 1987);"Đề cương đề dẫn thảo luận ở hội nghị Đảng viên bàn về sáng tác văn học" của Nguyên Ngọc (Tạp chí Langbiang, số 3/ 1988)
Sẽ là một thiếu sót và khiếm khuyết lớn cho bức tranh nền lý luận văn học Việt Nam nếu ta không nhắc tới những đóng góp to lớn của Phương Lựu
Với các ý kiến, các sách nghiên cứu đã xuất bản như: Vì một nền lý luận văn học dân tộc - hiện đại; Trên đà đổi mới văn hóa văn nghệ; Khơi dòng lí thuyết; Nhìn lại nửa thế kỷ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Tiếp tục khơi dòng lí thuyết; Lý luận phê bình văn học, đã bộc lộ tâm
huyết và sự cập nhật đối với những vấn đề bức xúc của thực tiễn sáng tác văn học Việt Nam đương đại Trên tinh thần đổi mới tư duy và phương pháp luận nghiên cứu Giáo sư đã trực tiếp bày tỏ ý kiến là làm sao để nâng cao chất lượng của công tác nghiên cứu lý luận, hoạt động sáng tác, hội nhập lý luận
và sáng tác văn học nước ta vào khu vực và thế giới Có thể nói với một loạt
các công trình trên giáo sư Phương Lựu đã góp phần "khơi dòng lí thuyết"
nền văn nghệ dân tộc trên đà đổi mới, làm ló dạn diện mạo, tinh thần của thời
kiến, những nghĩ suy và trăn trở về văn học và đời sống trong đó có những
vấn đề nổi bật của lý luận văn học
Công trình "Lý luận và phê bình văn học đổi mới và phát triển" của
nhiều tác giả Phan Trọng Thưởng làm chủ biên, xuất bản năm 2005 đã tổng
Trang 10hợp tất cả những bài viết bàn về lý luận văn học sau đổi mới của các giáo sư, tiến sĩ thuộc chuyên ngành nghiên cứu lý luận văn học của Viện văn học và các trường đại học Công trình đã hệ thống hóa toàn cảnh nền lý luận cũng như phê bình văn học thời kỳ đổi mới Đây cũng được xem là nguồn tài liệu quý cho chúng tôi thực hiện đề tài Bên cạnh đó tác giả còn cho ra mắt công
trình Thẩm định các giá trị văn học (2013), công trình này góp phần đánh
giá lại giá trị của văn học từng thời kỳ, đồng thời tổng hợp các bài viết trên các báo, tạp chí của các nhà lý luận trong diễn đàn hội thảo khoa học về lý
luận những năm qua
Cũng đặc biệt chú ý tới các công trình Trịnh Bá Đĩnh như: Báo cáo
tổng hợp kết quả nghiên cứu với đề tài "Lý luận phê bình văn học Việt Nam
25 năm đổi mới và phát triển (1986-2010 ); Sơ lược tình hình của lý luận phê binh từ phản tư đến hội nhập (2010); Lịch sử lý luận phê bình văn học Việt Nam (2013) cũng đã tổng hợp một cách tổng quát và cụ thể tất cả các
phương diện của lý luận và phê bình văn học qua các chặng đường đổi đổi mới đến phát triển
Trần Đình Sử trong Lý luận phê bình văn học Việt Nam 1986 – 2000
(2012) đã trình bày về sự phân tích, lý luận của các tác phẩm cụ thể đồng thời giới thiệu lý thuyết của M.bakhtin, Đoxtoiép xki, và về sự chuyển biến của văn học Việt Nam từ 1975 – 1985
Đề tài cấp Bộ Lý luận phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
1986 – 2005 do Nguyễn Đăng Điệp chủ biên (2010) là một trong những công
trình tiêu biểu của lý luận văn học thời kỳ đổi mới Công trình này đã trình bày những tiền đề văn hóa – xã hội – lịch sử của phê bình, những mối quan
hệ giữa văn nghệ - chính trị, văn học – hiện thực của lý luận,và con đường nào cho sự phát triển lý luận Đồng thời tác giả của đề tài đã tập hợp các bài viết của các nhà lý luận phê bình như Nguyễn Ngọc Thiện, Tôn Thảo Miên,
Trang 11Trịnh Bá Đĩnh, Hà Công Tài, Cao Kim Lan, Phạm Xuân Nguyên về những khía cạnh lý luận: đội ngũ, khuynh hướng, đánh giá thành tựu, phương pháp, phong cách,
Tiếp theo là các hội thảo khoa học toàn quốc về lý luận phê bình văn học Sau hội thảo lần thứ nhất (Tam Đảo), lần thứ hai (Đồ Sơn), năm 2013
vừa qua, tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ III do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức đã được khai mạc Trong 2 ngày mùng 4 -5/ 6/ 2013 với chủ đề "Nâng cao chất lượng hiệu quả lý luận phê bình văn học", Hội nghị đã thu hút được sự quan tâm của dư luận trong suốt
thời gian chuẩn bị Tại Hội nghị, có nhiều ý kiến, tham luận của các đại biểu đặt ra những vấn đề lí thuyết và thực tiễn trong công tác nghiên cứu lý luận, phê bình văn học hiện nay Sự kiện này cho thấy giới nghiên cứu rất quan tâm tới những vấn đề của lý luận văn học trong thời kỳ đổi mới
Có thể thấy tất cả các công trình, bài viết đều mang tính tổng kết chỉ ra từng giai đoạn, từng phương diện, từng bộ phận của lý luận Cho đến nay chưa
có công trình toàn diện tổng kết, đánh giá về lý luận Song những bài viết, những công trình ấy đã làm nên bức tranh lịch sử cho đời sống nền văn học
đương đại nói chung, lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới nói riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Trong phạm vi có hạn của một luận văn, chúng tôi không đặt ra mục
đích giải quyết tất cả các vấn đề xung quanh Lý luận văn học Việt Nam thời
kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) Chúng tôi chỉ tập trung khai thác thực trạng
nền Lý luận văn học Việt Nam hiện đại, thành tựu và hạn chế và nêu lên những vấn đề đặt ra Từ đó có cái nhìn cụ thể và sâu sắc hơn diện mạo của nền Lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, góp phần khẳng định vai trò của lý luận văn học trong nền văn học Việt Nam nói chung, văn học thời kỳ
đổi mới nói riêng
Trang 12Với mục đích trên, luận văn sẽ tiến hành tổng kết, đánh giá, đồng thời
chỉ ra những vấn đề cơ bản của lý luận văn học nước ta từ 1986 đến nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ
1986 đến nay) tập chung tìm hiểu về thực trạng, thành tựu, hạn chế của lý
luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới để từ đó thấy được nguyên nhân và nêu lên những vấn đề đặt ra Do đó, đối tượng chính của luận văn được xác định là toàn bộ thực tiễn lý luận văn học Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, tùy từng yêu cầu, chúng tôi mở rộng sang cả thực tiễn phê bình văn học, nhưng lý luận văn học vẫn là đối tượng chủ yếu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các tài liệu nghiên cứu về nền Lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới của nhiều tác giả từ 1986 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tương và mục đích nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp phân tích hệ thống, so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở, tham khảo các tài liệu về lý luận văn học, luận văn làm rõ thực trạng, thành tựu, hạn chế của lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
từ 1986 đến nay Đồng thời trong phạm vi cho phép, luận văn cũng làm rõ nguyên nhân tác động đến thực trạng đó
Qua luận văn tác giả luận văn cũng muốn nêu lên những vần đề đặt ra trước thực trạng nền lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, hội nhập và
Trang 13phát triển Từ đó có cái nhìn khái quát và góp phần khẳng định vị trí của Lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai 3 chương:
Chương 1 – Tổng quan tình hình xã hội và văn học trước đổi mới Chương 2– Lý luận văn học thời kỳ đổi mới
Chương 3 – Hạn chế của lý luận văn học thời kỳ đổi mới - Những vấn
đề đặt ra
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ VĂN HỌC TRƯỚC ĐỔI MỚI
1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội
Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975) vĩ đại kết thúc thắng lợi đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam cũng như lịch sử chống giặc ngoại xâm của thế giới Lần đầu tiên khắp năm châu, bốn bể một quốc gia nhỏ bé đã đánh ngã hai cường quốc đứng đầu thế giới là Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, dân tộc Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới của lịch sử
Trong hào khí chiến thắng, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV (1976) được khai mạc trọng thể đã tổng kết, đánh giá quá trình đấu tranh anh dũng của dân tộc và hoạch định con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên ngay lúc này, khi “khúc khải hoàn vừa tấu xong, khi xúc cảm mãnh liệt về chiến công tuyệt đỉnh tạm lắng xuống thì thực trạng của đất nước sau chiến tranh với tất cả những đổ nát, ngổn ngang, bộn bề, nhức nhối của nó đã xuất hiện, đòi hỏi một sự nhận thức, sự đối mặt với những vấn đề phức tạp đang diễn ra” [70,3] Trong những bước đi đầu tiên trên con đường độc lập,
tự do, thống nhất, dân tộc ta phải đối mặt với những thách thức không nhỏ cùng với những hậu quả chiến tranh nặng nề Đất nước bị tàn phá, cùng những tổn thất về vật chất lẫn tinh thần, những xung đột về ý thức hệ giữa hai miền Nam – Bắc, những tệ nạn xã hội của thế giới tự do đã tạo nên một thực trạng ngổn ngang, bộn bề, nhức nhối Nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá, kìm hãm đã làm cho đất nước ta trở thành một trong những nước kém phát triển trên thế giới
Sau ba mươi năm chiến tranh dân tộc Việt Nam bước vào một chặng đường mới – chặng đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước
Trang 15Nhưng cũng trong thời điểm này, năm 1979 chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc nổ ra, dai dẳng và ác liệt, thêm một lần nữa dân tộc ta phải căng mình ra hai đầu đất nước để chống lại kẻ thù Cả dân tộc lại toàn lực theo lệnh tổng động viên chiến đấu, bảo bệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc thân yêu
Thù trong, giặc ngoài, sự bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc, cùng với nền sản xuất thấp kém về trình độ kĩ thuật, non nớt về công tác quản lý, tư tưởng duy ý chí, nóng vội, chủ quan đã đặt đất nước ta trước thời khắc khắc
nghiệt trong lịch sử Lúc này, “ mười năm sau chiến tranh, cơ chế quan liêu bao cấp đã đến lúc bộc lộ hết những hậu quả nặng nề của nó trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội Hàng loạt chủ trương, chính sách đã tỏ ra lỗi thời Những quy luật đặc thù của đời sống chiến tranh đã hết hiệu lực, không còn phù hợp với trạng thái phát triển của đất nước trong điều kiện lịch sử mới” [10 ,627] Đại hội lần thứ V của Đảng (tháng 3-1982) cũng thừa nhận
sự thật “nước ta đang trong tình trạng vừa có hòa bình vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh nhiều mặt”
Trước những bất cập, những vấn đề nhức nhối, bức xúc trong đời sống văn hóa – xã hội – tinh thần như muốn phá vỡ khuôn khổ vốn chật hẹp, bức bối của hiện thực cuộc sống Cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng đã đặt ra nhu cầu đổi mới một cách cấp bách và khẩn thiết, trở thành vấn đề sống còn của dân tộc Việt Nam Đại hội VI (1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới của đất nước trong thời kỳ mới – đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây được xem là bước ngoặt lớn trong lịch sử đân tộc Với phương châm đổi mới
đồng bộ, toàn diện và tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã nghiêm khắc phê bình, tự phê bình những
chủ trương, chính sách sai lầm, nóng vội, chủ quan, duy ý trí đồng thời cũng
đề ra những đường lối mới để sửa sai và phát triển đất nước
Trang 16Với những đường lối chính sách mới của Đảng đã mang lại những thành quả đáng kể Sau đổi mới nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng rõ rệt, đời sống nhân dân được cải thiện và ngày một nâng cao, niềm tin vào Đảng vào chế độ xã hội chủ nghĩa được củng cố, tăng cường, đất nước thu được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, tình hình chính trị - xã hội ổn định, vị thế của Việt Nam dần được khẳng định trên trường quốc tế, từng bước hội nhập
và trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và trong khu vực
“Giống như một cuộc lột xác đau đớn để có sự trưởng thành mạnh mẽ, đất nước ta, dân tộc ta đã chuyển mình để bắt kịp với quy luật của sự phát triển Như một tất yếu, văn học không thể đứng ngoài guồng quay ấy, phản ánh
và đóng vai trò tích cực đẩy mạnh bước đi của dân tộc trong tiến trình đổi mới, thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc” [69, 21]
1.2 Tình hình văn học
1.2.1 Nhu cầu nhận thức lại văn học viết về chiến tranh
Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội, văn học nghệ thuật không thể
đứng yên trước sự chuyển mình của đất nước “Nền tảng của mọi sự đổi mới trong văn học thời kỳ này bắt nguồn từ sự tự ý thức của văn học, tức là giác ngộ của văn học về vai trò của nó trong xã hội, quan hệ giữa văn học và chính trị, ý nghĩa của nó đối với con người” [76] Thực tế cho thấy trong
những năm tháng chiến tranh ác liệt ngòi bút của các nhà văn, nhà thơ đã thực
hiện đúng sứ mệnh của mình “văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em cũng là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Lúc này quan niệm chỉ đạo của Đảng là: “Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ do Đảng đề ra; văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan đời sống một cách cao đẹp góp phần cải tạo hiện thực từ đó theo một lý tưởng nhất định” [26, 17]
Từ định hướng đó, biết bao tác phẩm đồ sộ đã ra đời Các tác giả đã đưa nhân vật của mình trở thành những tượng đài bất hủ trong lòng người
Trang 17đọc Ở đó ta bắt gặp những tấm gương chiến đấu, hi sinh anh dũng, dường như mọi cái tôi cá nhân đều xếp sau nhiệm vụ cao cả thiêng liêng mà đất nước
kêu gọi Họ là những “con người mới” vươn lên làm chủ cuộc sống, làm chủ
tương lai
Tuy nhiên, khi “cuộc chiến tranh càng lùi xa, ký ức về chiến tranh càng hiện rõ và được cô đọng Nhưng cuộc chiến tranh đi vào trang sách của các nhà văn lại phải được mở rộng những chiều kích khác nhau của nó Bởi giờ đây người đọc có quyền được nhận thức về hai cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt đã qua như chính nó từng hiện diện” [31,219-220]
Với những trải nghiệm từ thực tế chiến đấu, khi nhìn lại sản phẩm của chính mình, các nhà văn đã nhận ra khoảng cách giữa tác phẩm và hiện thực đời sống Bởi sự vận động của văn học không phải bao giờ cũng bắt kịp với
sự vận động của lịch sử Sau 1975, dường như có một sự lệch pha giữa văn học và đời sống Khoảng cách giữa văn học và công chúng đã khiến các nhà văn phải nhìn nhận lại cách viết của mình Câu hỏi đặt ra không chỉ là viết cái gì? Mà còn là viết như thế nào? Đề tài chiến tranh vẫn có sức hút mạnh mẽ
với giới văn sĩ đã từng nằm trong cuộc kháng chiến Nhưng lúc này“văn học
đã viết về chiến tranh như thế nào, văn học phải viết về chiến tranh như thế nào”, là những vấn đề cơ bản đặt ra trong hoạt động nghiên cứu lý luận, phê bình văn học và sáng tác “Trong khoảng mười năm từ 1975 đến 1985, vấn đề này đã được bàn bạc, trao đổi, thảo luận khá kĩ lưỡng và quyết liệt, thể hiện ở những ý kiến phát biểu, những tham luận, báo cáo và cả những bài phê bình tác giả, tác phẩm” [33,32] Nhu cầu nhận thức lại văn học viết về chiến tranh
trở thành đề tài tranh luận khá gay gắt với những ý kiến trái chiều
“Ở các bài viết ra đời trong những năm 1975-1978, hầu như các tác giả đều bày tỏ thái độ nâng niu, trân trọng những tác phẩm viết về chiến tranh, các nhận xét đánh giá đều khẳng định những thành tựu đã đạt được
Trang 18đồng thời chỉ ra những hạn chế, nhược điểm Vì thế, diễn đàn thực sự là cuộc trao đổi ý kiến, chia sẻ và thông cảm” [33,32] Điều này là dễ hiểu vì chúng ta
còn đang mang trong mình hào khí của thắng lợi to lớn, hiện thực chiến tranh vẫn còn nguyên ý nghĩa trong tâm trí, cảm xúc của người viết
Khi chiến tranh đã qua đi, khi lòng người dần bình tâm trở lại người ta
đã thừa nhận mất mát trong chiến tranh là điều không tránh khỏi Văn học giai đoạn này nhìn nhận lại cuộc chiến bằng cái nhìn hiện thực là cách để trân trọng và phát huy những gì đã có, là khẳng định: dân tộc ta đã vượt lên tất cả những gian khổ, ác liệt và hy sinh để chiến thắng Tuy nhiên, càng về sau người ta càng nhận thức được rõ hơn những mặt hạn chế của văn học viết về chiến tranh Văn học viết về chiến tranh chưa thực sự miêu tả cho rõ nét, xứng tầm với cuộc chiến tranh vĩ đại của đất nước Khoảng cách từ hiện thực đi vào tác phẩm còn quá xa vời Người nghệ sĩ vẫn chưa thực sự đi sâu, chưa thực sự nằm trong cuộc kháng chiến của dân tộc
Trong Mấy suy nghĩ về đề tài chống Mĩ cứu nước và sáng tác văn học trong giai đoạn mới (Văn nghệ quân đội, số 4/1976), Lê Bá Súy và Đinh Xuân Dũng cho rằng “Nhìn trên cả hai mặt chiều rộng và chiều sâu của sự nhận thức và thể hiện hiện thực, văn học chống Mĩ cứu nước đã có những thành tựu đáng mừng Tuy vậy chúng ta vẫn thiếu những tầm vóc tác phẩm tương xứng với thời đại, thiếu một chiều sâu cần thiết so với cái hiện thực đồ
sộ và sâu thẳm, tác phẩm cuả ta vấn còn mỏng manh quá”[33,32] Hầu như ít
xuất hiện những nhân vật có sức truyền cảm, sức hấp dẫn từ vẻ đẹp tự nhiên, chân thật của nó Trong chiến tranh, không phải lúc nào con người cũng can trường, gan dạ cũng có lúc run sợ trước gian khổ, ác liệt và cái chết Nhưng trong tác phẩm văn học lại không nhắc tới hay ít nhắc tới trạng thái đó
Nguyễn Đình Tiên (Viết về đề tài chiến tranh sau chiến tranh – Văn
nghệ quân đội, số 9/1976) cũng cho rằng: “Qủa là có một khoảng cách khá lớn
Trang 19giữa hiện thực chiến tranh cách mạng quá đỗi đa dạng và phong phú với cuộc sống chiến tranh ít nhiều còn nghèo nàn và đơn điệu trong nhiều tác phẩm văn học của chúng ta” Nhà lý luận đặt vấn đề phải viết khác trước đây, phải từ con
người mà nhìn sự việc, sự kiện, khối lượng thông tin và thông qua sự việc, sự kiện, khối lượng thông tin mà soi rọi vào thế giới tinh thần của con người
Văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung được xem là một hình
thái ý thức xã hội, một công cụ nhận thức, một “vũ khí tư tưởng” [21,32]
Nhưng xem ra vũ khí này của các nhà văn khi viết về chiến tranh còn chưa được sắc bén Nhà phê bình Nguyễn Văn Long đã chỉ ra chỗ yếu của tiểu
thuyết viết về chiến tranh chính là “cuộc sống phong phú mãnh liệt của dân tộc ta in bóng vào trang sách còn sơ lược, nghèo nàn mà nguyên nhân cơ bản
“là hạn chế nơi tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của người viết” [33,32]
Không thể đổ lỗi yếu kém này hoàn toàn cho các văn nghệ sĩ mà một phần
còn do hoàn cảnh chiến tranh chi phối Bởi “trong thời kì kháng chiến chống
Mĩ, do sự chi phối của quy luật chiến tranh, toàn xã hội phải vận hành theo
cơ chế chỉ huy, tập trung quan liêu bao cấp Trong sự bao cấp đó có bao cấp
về tư tưởng” [72,99] Điều này ảnh hưởng to lớn đến cả giới lý luận, phê bình
lẫn giới sáng tác Các nhà văn chỉ hướng tới một kiểu sáng tác thống nhất, nghèo nàn sao cho khơi gợi lên được tinh thần, sức mạnh của dân tộc nhưng lại triệt tiêu động cơ suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của cá nhân
Nguyễn Minh Châu trong vài trò người cầm bút cũng chỉ ra những hạn
chế mà rất nhiều tác phẩm viết về chiến tranh mắc phải Trong bài Viết về chiến tranh (Văn nghệ quân đội, số 11/1978) ông nhận xét: “Các nhà văn chuyên viết về chiến tranh cầm bút trong một hoàn cảnh thật khác xa với những cái mà đôi khi chúng ta đã bắt gặp trong hoàn cảnh xã hội hàng trăm con người trải qua những biến đổi nhỏ nhặt”, “con người bị sự kiện lấn át”,
“nhân vật có khuynh hướng mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực”
Trang 20Ông còn chỉ rõ nguyên nhân trong ý niệm của văn học Việt Nam hình như coi hiện thực là cái hiện thực ước mơ, hiện thực mà số đông người khát khao tới chứ không phải cái hiện thực đang tồn tại Chính vì thế các tác phẩm thường
xa rời với hoàn cảnh đời sống, hoàn cảnh chiến tranh, nhân vật phiến diện, một chiều không gần gũi với con người thực tại – con người có nhiều bậc thăng trầm trong cảm xúc chứ không đơn thuần chỉ là một kiểu như thế giới nhân vật anh hùng Nhà văn đã đề xuất hướng khắc phục hạn chế đó với tinh thần phản tỉnh mạnh mẽ sẵn sàng khai chiến với những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của mình trên con đường đi tới hiện thực, bởi hiện thực thì không thể được nuôi mãi bằng ước mơ mà phải nhìn thẳng vào thực tế đời sống, thực tế con người
Ngày 6/9/1979, báo Văn Nghệ đăng tải một bài viết Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua của Hoàng Ngọc Hiến
Ông đánh giá cao với những ý kiến của Nguyễn Minh Châu đồng thời đưa ra
quan điểm phê phán những hạn chế của văn học vừa qua “nhìn chung, trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại đang lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại” Người nghệ sĩ sáng tác trên bình diện cái phải tồn tại dễ bị cuốn hút theo trào lưu miêu tả “sao cho phải đạo”, cho vừa lòng với những ước mơ,
khát vọng mà họ đặt ra, còn ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật Hoàng Ngọc Hiến còn đưa ra những nhận xét cá nhân với lập luận sắc bén khi phân tích diễn giải những luận điểm
cụ thể: “Chủ nghĩa xã hội hiện thực ở ta trong giai đoạn vừa qua mang đậm dấu ấn cao cả”, “ Nhân vật bị mờ nhạt vì không được nhìn nhận và xây dựng như một cá nhân”, “bệnh sính lý luận khá phổ biên hiện nay thực chất là sự coi thường tìm hiểu sự vật ở cấp sự kiện, cấp thực chứng, là sự thoát li thực tiễn đời sống thực tại” Ngay sau khi bài viết này ra đời nó đã trở thành một
hiện tượng văn học Bên cạnh một vài cá nhân đồng nghiệp tán thành thì
Trang 21Hoàng Ngọc Hiến đã bị coi là người đứng đầu “phủ nhận thành tựu văn học cách mạng” trên diễn đàn và trong dư luận văn giới những năm 1975-1985
Nguyên Ngọc cũng đưa ý kiển chủ quan của mình khi viết về dòng văn
học cách mạng trong Báo cáo đề dẫn tại Hội nghị nhà văn Đảng viên diễn ra
từ ngày 10 đến 12/6/1979 Bên cạnh một số luận điểm có sự gặp gỡ với luận
điểm của Hoàng Ngọc Hiến thì ông còn đưa ra nhận định “khoảng mười năm gần đây, văn học của ta có sự dừng lại” ông còn chỉ rõ nguyên nhân của tình
trạng trì trệ văn học là do quan niệm thô thiển về chức năng của văn học đã
“dung tục hóa mối quan hệ giữa văn học và chính trị”, đã làm cho “phê bình văn học thô thiển kéo dài”, “xói mòn năng lực thẩm mĩ của người đọc”, “xói mòn ý chí xã hội trách nhiệm đúng đắn của nhà văn”
Ngay lập tức Hoàng Ngọc Hiến và Nguyên Ngọc đã phải đương đầu
với hàng loạt ý kiến Nhà văn lão thành cách mạng Tô Hoài trong bài viết Về một đặc điểm của văn học và văn nghệ ở nước ta trong giai đoạn vừa qua cho rằng: “Liên hệ với tình hình văn học cách mạng thì Hoàng Ngọc Hiến lạc vào những tiểu tiết không thật” Theo Tô Hoài “không thể một xã hội đương vũ bão tiến lên như xã hội Việt Nam mà trên công tác tư tưởng quan trọng như mặt trận văn học mà thoạt trông như chỉ thấy vẻ nhợt nhạt trước tiên” Tô
Hoài lấy dẫn chứng hàng loạt tác giả,tác phẩm để chứng minh sự in dấu của
sự nghiệp văn học cách mạng là không hề nhỏ, đồng thời nhà văn khẳng định
“thành tựu này không phải là chi tiết” Theo Tô Hoài những ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến là “mớ lý luận rối bời” chỉ đúng với những tác phẩm yếu kém, những cây bút non nớt Ông dẫn giải cụ thể: “ Bản thân nội dung của một tác phẩm không thể chia ra cái sẽ và cái đương có bao gồm cả cái đã và đương đến” Tô Hoài phản bác hoàn toàn luận điểm “văn học hiện thực phải đạo” của Hoàng Ngọc Hiến Nhà văn cho rằng luận điểm đó là “để gọi tính nết cho loại văn học tiêu cực, cho phương pháp sáng tác thụ động không có tính tiên
Trang 22phong chứ không thể là đặc điểm của Văn học cách mạng Việt Nam ở bất cứ thời điểm nào”
Với những cách nhìn khác biệt, vấn đề văn học viết về đề tài chiến tranh đã trở thành mối quan tâm của đông đảo các nhà văn, nhà phê bình, những cuộc tranh luận diến ra gay gắt trong các hội nghị, diễn đàn Tháng
3/1980, Hà Xuân Trường cho đăng bài Văn nghệ ta phấn đấu vì sự nghiệp của Đảng trên tạp chí Cộng sản như một đòn phản kích mạnh mẽ với những
quan điểm phiến diện, một chiều của Hoàng Ngọc Hiến Hà Xuân Trường đã khẳng định thành tựu to lớn của nền văn học cách mạng và phê phán Hoàng
Ngọc Hiến như một ví dụ điển hình “chỉ đọc một số tác phẩm đã vội vàng xác định đặc điểm”, “đã mắc sai lầm về mĩ học”, “nhận thức không đúng về tự
do của nghệ sĩ”
Văn học chính là cuộc đời là bài phát biểu của Tố Hữu tại Hội nghị nhà
văn Đảng viên ngày 10/12/1979 Khi đánh giá về văn học cách mạng Tố Hữu
cho rằng các tác phẩm đã tạo ra một cái nền có lẽ chưa được cao, “nhưng thật
là vô lý và bất công nếu cho rằng chưa có tác phẩm nào xứng đáng với dân tộc” [33,39] Đứng trên vai trò của những nhà lãnh đạo văn nghệ Tố Hữu đã lên tiếng cảnh báo những người “không biết quý” những giá trị tự mình tạo
nên trong máu và nước mắt Bài viết của Tố Hữu dù không trực tiếp đối thoại với Hoàng Ngọc Hiến nhưng vẫn thể hiện mục đích phê phán một cách rõ rệt
Trong bài viết Văn nghệ, vũ khí cách mạng của Trần Độ ra ngày
12/12/1980 cũng tiếp tục phê phán những quan niệm chủ quan của Hoàng Ngọc Hiến đồng thời khẳng định thành tựu to lớn của văn học cách mạng
Nhà lãnh đạo dù trân trọng “anh chị em nghệ sĩ băn khoăn suy nghĩ, hăng say tìm tòi” nhưng vẫn cho rằng đã có những cách nhìn lệch lạc đụng chạm đến
những nguyên tắc cơ bản trong đường lối văn nghệ của Đảng
Bằng tài năng uyên bác của mình, nhà thơ lão thành cách mạng Chế
Lan Viên đã cho đăng đàn Thư cuối năm đọc lúc đầu năm (văn nghệ số
Trang 232/1981) như một đòn phản công mạnh mẽ, với những lập luận sắc bén khiến những người phủ nhận phải tâm phục Chế Lan Viên đã chỉ ra cái sai của
Hoàng Ngọc Hiến là “tuyệt đối hóa văn nghệ, tuyệt đối hóa cá nhân”, trong
khi thực trạng đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, Trung Quốc vấn đang lăm
le vùng biên giới thì dù bàn luận kiểu nào cũng không hợp lẽ
Vấn đề Văn học phải đạo tiếp tục được Chế Lan Viên bác bỏ quyết liệt
hơn với bài viết Thư cuối năm – Tái bút đăng trên báo Văn nghệ số 2/1981 Chế Lan Viên đã đưa ra mười câu hỏi chỉ rõ sai lầm của Hoàng Ngọc Hiến :
“nghĩ nhầm cả giới mình”, “suy diễn”…
Dù những ý kiến trái chiều khi đánh giá về thành tựu văn học không được tiếp tục bàn bạc trên báo chí thì đó vẫn là vấn đề mà các văn nghệ sĩ quan tâm và đúc rút được nhiều bài học Các ý kiến tranh luận không chỉ gói gọn trong việc đánh giá văn học viết về chiến tranh, thành tựu của dòng văn học cách mạng mà đã đề cập đến những vấn đề rộng lớn hơn và phức tạp hơn
Đó cũng là một động lực thúc đẩy cho nền văn học và lý luận, phê bình giai đoạn kế tiếp
Cho dù nhìn chiến tranh ở góc độ nào thì cũng không thể phủ nhận được những đóng góp của dòng văn học viết về chiến tranh trong dòng chảy của văn học Và dù nhìn chiến tranh ở hai chiều sáng và tối, ở những chiến công hay gian khổ, hy sinh thì văn học viết về chiến tranh nhất là văn xuôi sau
1975 đã mở thêm một “lối rẽ mới trên dặm dài chiến tranh” (Nguyễn Hòa),
giúp người đọc nhìn sâu hơn vào hai cuộc kháng chiến đã đi qua Cuộc chiến
ấy có những mất mát, hy sinh,có cay đắng và ngọt ngào, có những tình yêu
cao cả, đẹp đẽ, có cả những dục vọng tầm thường Nhận thức mới về chiến
tranh để hiểu rõ hơn về quá khứ, về cái giá phải trả cho độc lập, tự do của Tổ quốc, để trân trọng hiện tại và suy ngẫm về tương lai, về trách nhiệm của mỗi
cá nhân với đất nước, dân tộc Làm được điều đó, văn học đã thực hiện đúng chức năng của mình: hướng con nguời tới cái đích của chân, thiện, mĩ
Trang 241.2.2 Sự tiếp tục của khuynh hướng sử thi trong một hoàn cảnh lịch sử mới, một quan niệm nhân đạo mới
Rút kinh nghiệm từ những hạn chế của nền văn học cách mạng, khuynh hướng sử thi vẫn là một đề tài được giới văn nghệ sĩ khai thác tích cực trong một hoàn cảnh lịch sử mới với một quan niệm nhân đạo mới Quan tâm đến
số phận con người chính là những nỗ lực đầu tiên của các tác phẩm văn xuôi viết về chiến tranh thời kỳ hậu chiến Hầu hết các tác phẩm văn xuôi viết thuộc khuynh hương này đều khai thác chiến tranh theo cái nhìn bi tráng Đó chính là sự đổi mới mà văn xuôi trước 1975 chưa vươn tới được
Cũng ở giai đoạn này, chiến tranh được mô tả ở hoàn cảnh ác liệt ở những sự thật trần trụi thì con người – những cán bộ, chiến sĩ kia trong những
số phận bi thảm, những vết thương sâu thẳm trong trái tim và con người đã được thể hiện qua cái nhìn bi tráng của cảm hứng nhân đạo mới
Nếu trước 1975 người ta nhớ về cuộc kháng chiến hào hùng của dân
tộc với những người con ưu tú, đó là chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng), anh Trỗi (Sống như anh), là chị Sứ (Hòn đất), anh Núp (Đất nước đứng lên), , với mối tình đẹp như huyền thoại của Nguyệt và Lãm(Mảnh trăng cuối rừng), với hình ảnh của những người con Tây nguyên quật khởi, kiên cường (Rừng
xà nu) Thì sau 1975 văn học dường như trầm lại Lúc này, những chiến dịch
rộng lớn, những cuộc chiến dịch kéo dài với biết bao khó khăn, gian khổ và
mất mát, hy sinh được tái hiện trong những tác phẩm: Nắng đồng bằng của Chu Lai; Đất miền Đông của Nam Hà; Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy; Biển gọi của Hồ Phương, Trên những chặng đường ấy, người lính
luôn phải đổi mặt với rất nhiều những khó khăn và thử thách Chiến tranh đồng nghĩa với sự hủy diệt Bất cứ người lính nào cũng phải chuẩn bị tinh thần đối diện với hy sinh, với chết chóc, đau thương
Âm hưởng sử thi vẫn được tiếp tục thể hiện với hàng loạt tiểu thuyết, kí
sự, và hồi kí viết về chiến tranh Đã xuất hiện nhiều nhân vật cá tính, có chiều
Trang 25sâu, thế giới nhân vật cũng trở nên gần gũi hơn với người đọc Bằng chứng là
“năm 1978, Kí sự miền đất lửa của Nguyễn Sinh và Vũ Kì Lân ra đời với số lượng in 12.000 bản và được giới phê bình quan tâm đặc biệt Hàng loạt bài viết đã được đăng tải trên các báo chí” [33, 42] Tác phẩm kí này được đón
nhận nồng nhiệt và được giới lý luận, phê bình đánh giá rất cao về tính chân thực, hùng hồn của tác phẩm khi viết về chiến tranh Nguyễn Tuân ca ngợi tác
phẩm “có nhiều đoạn hay” Nguyễn Thành Long (Về tập “Kí sự miền đất lửa” – Văn nghệ, số 35/1979) cho rằng tác phẩm đã làm rõ chân lí: “không có thể loại văn học nào là bé cả” [33,42] Tác phẩm đã làm nổi bật không chỉ tính
ác liệt của cuộc chiến tranh mà còn làm nổi bật lên số phận của con người, số phận của cả một vùng đất và số phận của người viết Tập kí này đã làm được việc mà dòng văn học viết về chiến tranh chưa làm được đó là đưa người anh hùng trở về một con người rất đỗi bình thường Với họ chiến tranh không chỉ
là anh hùng ca mà còn là những giây phút yếu lòng, một ám ảnh không nguôi của những nỗi lòng mong muốn có cuộc sống yên bình, đó là ước mơ bình dị
mà ai ai trên đất nước chiến tranh này đều mong muốn Chính những miêu tả tâm lý rất gần gũi, thân quen với mỗi người nên người đọc cảm nhận được tính chân thực, cảm nhận được suy nghĩ của tác giả là suy nghĩ của chính mình nếu ở trong hoàn cảnh đỏ Nỗi ám ảnh ấy tạo nên hơi cảm xúc đằm thắm, nhân hậu trên nhiều trang ghi chép, làm xao xuyến cả những dòng viết như văn, bản tin, lời thống kê công việc Điều đáng ca ngợi trong tác phẩm này là tác giả đã kéo gần hơn khoảng cách giữa văn học với thực tế chiến đấu của dân tộc Các tác giả đã khéo léo sử dụng bút pháp tư liệu, lối kể tuy đậm chất nhân học nhưng không khiến tập kí bị khô cứng, mà chất sử liệu và chất văn học hòa quyện vào nhau tạo nên mạch cảm hứng cuốn hút người đọc xuyên suốt tác phẩm Những lời kể xen lần những đoạn trích tạo nên một
giọng điệu nhịp nhàng gần như không nhìn thấy được “vết nối”
Trang 26Nếu như khi nhận xét về dòng văn học cách mạng, các nhà lý luận, phê bình vẫn chưa đánh giá cao về tính hiện thực trong tác phẩm Rằng giữa việc
“đi và viết” vẫn được thực hiện nhưng các nhà văn chưa thực sự sống hết mình, sống trong lòng cuộc cách mạng thì đến với Kí sự miền đất lửa các tác
giả được đánh giá rất cao khi chính bản thân họ hòa mình thực sự với cuộc
chiến tranh khốc liệt đó Chính điều đó đã tạo ra “sức hấp dẫn kì lạ”, “có lượng thông tin rất cao” “giàu sức sống và chân thật” Việc tập kí được xuất bản lần 2 (1982) và lần 3 với số lượng in rất lớn là điều dễ hiểu… “Như vậy là giới lý luận,phê bình gần như hoàn toàn đồng thuận trong việc chỉ ra giá trị của một tác phẩm kí Tính xác thực, giá trị tư liệu của tác phẩm đã hé lộ một khả năng cho văn học viết về chiến tranh Sau này, văn học tư liệu sẽ được tiếp nối thành một xu hướng rõ rệt mà ngay từ khi mới nảy mầm đã được giới phê bình đón nhận, trân trọng” [33,43]
Năm 1979, tiểu thuyết Cha và con và… của Nguyễn Khải ra đời thu hút
được sự chú ý của nhiều nhà lý luận, phê bình uy tín Giới nghiên cứu phê bình nhận thấy ở nhà văn một cách tiếp cận hiện thực độc đáo, cái nhìn sắc sảo và tinh tế nhiều khía cạnh của đời sống, đặc biệt những thân phận, những trạng thái tâm lý của con người Tác phẩm của ông là đề tài cuốn hút sự suy nghĩ, tìm hiểu của nhiều cây bút thuộc thế hệ nghiên cứu lý luận, phê bình trẻ tuổi xuất hiện vào những năm đất nước mở ra thời kỳ đổi mới; là đề tài nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ, thạc sĩ ở các viện nghiên cứu và trường
đại học Sau khi đọc Cha và con và… nhiều người cho rằng Nguyễn Khải sinh
ra là để viết về công giáo Cách nói, cách nghĩ của người theo đạo nhuyễn vào ngòi bút của ông
Thực hiện nhiệm vụ “tìm cái đẹp trong nghệ thuật” lý luận, phê bình đã
luôn hướng tới những thể nghiệm, tìm tòi ở các cấp độ , các dạng thức của
cấp sáng tác Là nhà văn có những trang kí “rất nhiều ánh lửa” (Nguyễn
Trang 27Tuân), Hoàng Phủ Ngọc Tường đã truyền đến người đọc một cảm giác ấm nóng từ những trang kí của mình Sức ấm nóng từ những ánh lửa thực, ánh lửa biểu tượng và hơn cả là tự lửa trong tâm của một nhà văn luôn đau đáu nỗi đời, trăn trở tìm đến ánh sáng của một cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn Đọc
kí Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta có liên tưởng đến hình ảnh chàng Danko trong câu chuyện của Maxim Gorky đã xé toang lồng ngực của mình, lấy trái tim soi sáng đường cho mọi người tiến bước Không hẳn có sự tương đồng với Danko mà Hoàng Phủ Ngọc Tường còn là người nghệ sĩ đã thắp lửa trái tim, tâm hồn mình để đốt nóng sáng tình yêu cuộc sống đời thường và để đi, cảm, viết, rồi truyền đến người đọc những tình cảm cao đẹp Nhiều lần nhắc đến lửa nhưng mỗi lần, ánh lửa được tác giả miêu tả, cảm nhận với những hướng nhìn khác nhau Lửa là biểu tượng cho lòng yêu nước cháy bỏng: ngọn lửa tự
thiêu cháy mình của người cách mạng kiên cường (Miếng trầu đỏ); ngọn lửa
điềm tĩnh, bé bỏng từ cây đèn nhỏ đã thắp sáng cuộc đời chiến đấu của người
chiến sĩ trong những đêm rừng tối thẳm (Bản di chúc của cỏ lau) Là biểu
tượng cho ước vọng cháy bỏng của con người như: ngọn lửa nhỏ bé từ chiếc
đèn dầu người mẹ làng Trà (Miếng trầu đỏ) suốt mấy mươi năm trường vẫn
bền bỉ sáng khôn nguôi, cũng như cuộc đời của mẹ luôn ấp iu, gìn giữ khát vọng sống mãnh liệt của người Việt Nam; là ước vọng của những người dân
Cồn Hến (Rất nhiều ánh lửa) khao khát hướng đến ánh sáng tri thức qua
từng buổi học đêm sau những ngày làm việc mệt mỏi Lửa cũng có khi là biểu tượng cho một nét văn hoá không thể thiếu được mà nhà văn đã cảm
nhận ra trong món cơm hến dân dã quen thuộc xứ Huế (Chuyện cơm hến)
Ánh lửa còn là biểu tượng cho nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại: ánh lửa hiện về trong sâu thẳm tâm linh như một miền ảo ảnh trên dòng Hương giang
buổi chiều sương sa - ánh lửa trên con thuyền Phan Bội Châu thuở nào (Sử thi buồn); “ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ” trong những
Trang 28đêm cố đô đầy sương (Ai đã đặt tên cho dòng sông?); ánh lửa của những bếp
bản Thượng bập bùng trong ký ức sâu thẳm khi Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi
bên lửa trại trên đỉnh Bạch Mã (Ngọn núi ảo ảnh) Ngọn lửa vì thế không
phải chỉ là hình ảnh thực mà nó còn là quá khứ cồn cào, nóng bỏng, là hơi ấm của sự sống luôn âm ỉ cháy sáng trong tâm hồn mỗi người Nó chính là kỷ niệm, là máu thịt của cuộc sống đời người một thời, là than đá của quá khứ cồn cào trong lòng đất
Không nhận được sự hưởng ứng tích cực từ các nhà lý luận, phê bình
nhiều như Kí sự miền đất trắng, tiếu thuyết Đất Trắng (1979) của Nguyễn
Trọng Oánh lại nhận được những phản hồi từ hai luồng ý kiến khác nhau Ở tiểu thuyết này giới lý luận, phê bình đã chỉ ra những ưu, nhược điểm của tác
giả khi viết về hiện thực chiến tranh “Các nhược điểm của tác phẩm xoay quanh cách viết, cách miêu tả còn xa rời tình tiết “trong tám chương thì hai chương đầu viết còn nặng nề, rối rắm”, “đây đó có những chi tiết chưa thật chín chắn”, những đoạn miêu tả cốt phô bày một sự quan sát tinh tế mà ít ăn nhập đến sự phát triển của tình tiết, “những trang viết về kẻ thù còn sơ sài”,
“đoạn kết gây hẫng” [33,45] Tuy nhiên, nhìn theo hướng khách quan tác
phẩm này vẫn được các nhà lý luận, phê bình hết sức đề cao và trân trọng Nét vượt trội của tác phẩm là không đi theo lối viết sáo mòn của lớp nhà văn trước
đó khi viết về chiến tranh Nguyễn Trọng Oánh đã chú ý đến “mặt khác của hiện thực kháng chiến”, “đó là những khó khăn không bờ bến và những mất mát, hi sinh khó tưởng tượng ra hết là dân tộc ta đã chịu đựng” Thiếu Mai cũng nhận thấy “tác phẩm mô tả trực diện mặt khốc liệt của cuộc chiến đấu”,
“có thể xem như sự bổ sung bù đắp cho văn học viết về đề tài chiến tranh thêm đầy đủ” (Bản lĩnh dân tộc, bản lĩnh ngòi bút - Văn nghệ quân đội, số
6/1980) [33,44] Ở Đất trắng câu hỏi về cái giá của chiến công và chiến thắng
cuối cùng luôn day dứt trong lòng người đọc Tác giả cho ta thấy chiến thắng
Trang 29ở đây không phải là cờ, hoa mà là máu và nước mắt Đổi được chiến thắng nhưng ta cũng thiệt hại vô cùng nặng nề và đau đớn Ngòi bút của Nguyễn Trọng Oánh nghiêm ngặt và hiện thực chứ không viết theo phong trào, theo
mô tuýp quá quen thuộc về đề tài chiến tranh của những tác phẩm đi trước
1.2.3 Sự xuất hiện của những khuynh hướng mới, hiện thực mới
Văn học phản ánh hiện thực của đời sống xã hội Chiến tranh đã đi qua, các văn nghệ sĩ cũng dần bắt nhịp với cuộc sống mới Bên cạnh đề tài chiến tranh mang đậm màu sắc sử thi, văn giới bắt đầu quan tâm hơn đến những tác phẩm viết về cuộc sống hòa bình, cuộc sống đời thường Khuynh hướng thế
sự, đời tư cũng vì thế xuất hiện và được quan tâm, chú ý hơn Trong khuynh hướng thế sự đời tư, con người được nhìn nhận trong mối quan hệ với môi trường nhỏ xung quanh và hoàn cảnh riêng của nó, cái được nhà văn nhấn mạnh là tính cách, số phận cá nhân
Trong bài viết Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới của Lê
ngọc Trà đã chỉ ra một trong những đặc điểm của văn học Việt nam gần đây
là “nhận thức lại hiện thực”, là “chiêm nghiệm lại lịch sử” Cuộc sống không
còn đơn thuần như trước mà đã bộc lộ những vấn đề phức tạp, buộc nhà văn không chỉ tiếp tục phản ánh hiện thực đơn thuần mà phải suy ngẫm, nghiền ngẫm về nó Các tác giá bắt đầu tách cái tôi cá nhân của mình ra khỏi khối chung để khám phá hiện thực thông qua số phận con người Trước đây, văn học dùng con người làm phương tiện để biểu đạt lịch sử, thì nay văn học thông qua những thăng trầm của lịch sử để diễn tả số phận con người Tuy nhiên một số tác phẩm đầu còn vấp phải những hạn chế nhất định
“Tập truyện ngắn“ Những bông bần ly” của Dương Thu Hương được coi là một trong những mũi khoan đầu tiên thăm dò “vỉa ngầm” đầy mới mẻ, tinh vi này” [33,45] Cái tôi vắng bóng trong nền văn chương chiến tranh nay
trỗi dậy trong truyện ngắn của Dương Thu Hương với những câu chuyện về
Trang 30hạnh phúc, về tình yêu đôi lứa rất dung dị, rất đời thường ẩn sâu trong đó là
“tâm sức của tác giả phát ra khá rõ ràng trong những trang viết có sức sống mạnh và đa cảm” Văn xuôi của Dương Thu Hương đi vào dòng văn xuôi tâm
lý sinh hoạt Độc giả bắt gặp được sự mới lạ trong giọng văn của tác giả hứa hẹn cho sự ra đời sau này của những tác phẩm nổi trội hơn với những cách nhìn khác hơn về cuộc sống Nhưng trong tác phẩm này, Dương Thu Hương
vẫn còn“có sự lặp lại trong cách xây dựng nhân vật, trong cấu tạo cốt truyện” Dù có nhiều nét mới nhưng những truyện ngắn này vẫn còn lai vãng một chút hoài niệm “dù sặc sỡ táo bạo vẫn âm ỉ một giọt buồn nhớ quá khứ, nhớ một thời đẹp đẽ” [33,45]
Ở thời kỳ quá độ trước đổi mới, xã hội Việt Nam khủng hoảng kéo theo rất nhiều hệ lụy xấu trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa Nhưng các nhà văn vẫn có những suy nghĩ tích cực, vẫn tin tưởng vào những con người sắp làm nên một thời đại mới, ở nơi đó cái xấu sẽ dần được xóa bỏ và những cái tốt sẽ dần hiện hữu Đó chính là động lực cho sự ra đời những tác phẩm phản ánh kiểu người mới, nếp sống mới, cách làm mới
“Khi nhờ vào kinh nghiệm, người ta gạt bỏ sai lầm khỏi cái chủ quan
mà nó bao hàm, người ta sẽ đi dần đến chân lý” (Bút kí triết học – Lênin)
Với tinh thần nhìn nhận lai hiện thực văn học những năm tiền đổi mới đã
“nhìn lại những sai lầm ấu trĩ, những định kiến hẹp hòi, căn bệnh chủ quan duy ý chí của một thời xa vắng gây nên bi kịch cho không ít cá nhân, làm hao mòn nhân tính, ” [3,201] , “phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những tư tưởng và thói quên đã lỗi thời, trở thành vật cản
trên bước đường phát triển của xã hội”[31,18] Với tinh thần đó, Thời xa
vắng (Lê Lựu), Tháng ngày đã qua (Xuân Thiều), Thời gian của người (Nguyễn Khải), Sống với thời gian hai chiều (Vũ Tú Nam), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu), Cù lao tràm (Nguyễn mạnh
Trang 31Tuấn) “là những trải nghiệm nghệ thuật mà mức độ thành công rất đáng ghi nhận trước hết do tinh thần trách nhiệm cao của nhà văn và có thêm cả sự dũng cảm của những người khai phá đường mới trong văn học” [51,51]
Thời xa vắng là câu chuyện về người anh hùng Giang Minh Sài Cũng
như bao người con của đất nước Sài đi chiến đấu với khát vọng lập công, giành độc lập, tự do cho đất nước, nhưng mặt khác Sài đi còn là để chạy trốn
bi kịch của mình, trốn bỏ người vợ mà anh không đội trời chung Ở đây, có thể thấy cách đánh giá, nhìn nhận nhân vật của Lê Lựu đã khác, nhân vật của ông trong cái chung đã có cái riêng Cuộc đời Sài sống trong bi kịch: luôn sống hộ người khác Nhìn thẳng vào những sai lầm, ấu trĩ, những định kiến
hẹp hòi đã trói buộc con người, Thời xa vắng là một tiếng nói mạnh mẽ, bộc
trực và đáng quý về khát vọng hạnh phúc cá nhân
Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn ra đời năm 1982 và ngay lập
tức được dư luận đánh giá cao Tác phẩm này có ý nghĩa như một sự kiện văn chương Nhiều bạn đọc và nhà lý luận, phê bình, nhiều cơ quan ngôn luận ở Trung ương và thành phố Hồ Chí Minh, chuyên cũng như không chuyên về văn chương đã bàn luận về cuốn tiểu thuyết này Sự đánh giá trên cơ bản là đúng mức và tương đối thống nhất Tuy vậy, vẫn còn tồn tại những ý kiến chưa thật phù hợp, cần được trao đổi, ngay cả trên những phương diện chủ
yếu của tác phẩm Nguyễn Khắc Việt cho rằng “nhà văn đã đánh đúng cái mặt xã hội phức tạp của Miền Nam”, “mặt tốt cũng nhiều và mặt xấu cũng không ít” Nhiều người, kể cả những nhà lý luận, phê bình có uy tín, đã đánh
giá cao Đứng trước biển ở khả năng công phá cái tiêu cực với những biểu
hiện và những tính chất khác nhau trong tư tưởng, tâm lý con người Những Chín Tâm, Năm Miên, Sáu Kình ở một mức độ nhất định thực sự làm hả hê nhiều bạn đọc Nhưng có phải đó là phương diện trung tâm của cuốn tiểu thuyết ? Có phải đó là dụng ý chủ yếu của tác giả? Ta dễ thấy cảm hứng chính
Trang 32của Nguyễn Mạnh Tuấn trong cuốn tiểu thuyết này là khẳng định Những nhân vật tích cực như Ba Đức, Năm Dũng, Út Cần, Sáu Hớn, Lê Tám nổi lên và gây ấn tượng tốt đẹp trong lòng chúng ta Hiệu quả nghệ thuật ấy sở dĩ
có được chủ yếu bởi tính cách của nhân vật phản diện kể trên Có nhiều cơ sở
để tin rằng hiện thực mà tác giả mô tả mặt sáng lấn át mặt tối như thế nào
Đứng trước biển xuất hiện trên nền hiện thực thành phố Hồ Chí Minh khi
cuộc sống của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn Không ít người dao động Phần lớn họ chưa trải qua thử thách của cuộc đấu tranh cách mạng Không nhận rõ mình trong quá khứ và hiện tại, họ hoài nghi là dễ hiểu Phải góp phần củng cố niềm tin của quần chúng vào con đường cách mạng, vào tương lai tươi sáng mà con đường cách mạng ấy tất yếu sẽ dẫn đến Nhiều nghệ sĩ chân chính lòng nhủ lòng như vậy Nguyễn Mạnh Tuấn trong nhiều tác phẩm
của mình ngay cả Đứng trước biển có hướng tới mục đích ấy
Trước hiện thực ấy, người cách mạng chân chính nghĩ gì ? Nguyễn Mạnh Tuấn gửi gắm lý tưởng thẩm mỹ gì qua những nhân vật tích cực như Ba Đức, Bẩy Thu, Út Cần, Sáu Hớn Muốn nghĩ đúng trước tiên phải có can
đảm nhìn thẳng vào thực chất của sự vật Tuy nhiên “ngôn ngữ nhân vật chưa
có cá tính” Hầu hết các nhà lý luận, phê bình đều tán dương tinh thần chống
tiêu cực trong Đứng trước biển, còn chất lượng nghệ thuật thì chưa cao
Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng ra đời năm 1982 đã được văn giới
nhìn nhận dưới nhiều góc độ Tác phẩm đã gây sốt trong dư luận bởi những ý tưởng khá táo bạo mà nhà văn đề cập trong cuốn tiểu thuyết này Tô Hoài
nhận thấy nhà văn “vốn có ngòi bút điêu luyện trữ tình đã đi vào những vấn
đề khoa học và lịch sử” Nhiều người phê phán cuốn tiểu thuyết của ông Người ta chê ông "nhiều triết lý", trang nào cũng triết lý, các nhân vật cứ gặp
nhau là triết lý, mỗi người một diễn đàn, hùng biện say mê, ép cho bằng được
kẻ đối thoại phải ngồi im trên trang sách mà nghe Cũng có người thích sự
Trang 33bạo dạn, mới mẻ trong ngòi bút của Ma Văn Kháng khi ông lật tẩy, đả phá những vấn đề tiêu cực tồn tại trong xã hội một cách không thương tiếc Trần
Đăng Xuyên nhấn mạnh: “Giá trị của Mưa mùa hạ chủ yếu là đã xây dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn trước cái xấu, những cái ngáng trở bước đi lên” [33,46]
Có thể nói Mưa mùa hạ là tiểu thuyết đã đánh dấu bước nhảy vọt trong
sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng Ông ngỡ ngàng cho người ta thấy một diện mạo mới trong tiểu thuyết của mình Người ta không còn thấy một Ma Văn Kháng đầm ấm, giản dị trong những tác phẩm viết về miền núi mà bắt gặp một Ma Văn Kháng sâu sắc, triết lý Nhà văn đã nhập cuộc một cách vững vàng trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại gắn liền với đời sống thành thị những năm đầu đổi mới Mặc dù tiểu thuyết ấy ra đời đã gặp rất nhiều sóng gió nhưng cho đến hôm nay nó vẫn được người ta nhắc đến bởi sức lật tẩy được vấn đề nhức nhối trong mọi thời đại Càng ngày càng thấy rằng, chỉ sau một thời gian ngắn “Mưa mùa hạ” đặt ra rất nhiều vấn đề của văn học đổi mới cũng như vai trò dự báo của tác phẩm văn học đối với đời sống xã hội nói chung và trong văn học nói riêng
Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút tiêu biểu cho quá trình vận động, đổi mới của văn học Việt Nam hiện đại Năm 1983, tập truyện ngắn
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành ra đời, ghi dấu những tìm tòi trong
hành trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu Những truyện ngắn của ông hầu
hết “có tác dụng thức tỉnh lương tri , phần tốt đẹp trong mỗi con người”
Trong tác phẩm của mình, tác giả đã tái hiện những khía cạnh khốc liệt, những hi sinh mất mát cùng những chấn thương tinh thần còn để lại từ chiến tranh chống Mĩ Hầu hết những nhân vật của ông đều phải trải qua những dằn
vặt dữ dội khi đứng giữa hai mảnh “quá khứ và thực tại” (Bức tranh)
Nguyễn Minh Châu viết khá nhiều về phụ nữ Ông có một cái nhìn ấm
áp, nhân hậu, chăm chút phát hiện ra những vẻ đẹp của người phụ nữ Việt
Trang 34Nam từ nhiều chiều, nhiều hướng Những tác phẩm của ông là sự cảm thông sâu sắc đối với mỗi số phận đồng thời là một khúc ca về phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Mỗi nhân vật với số phận của họ là một khám phá mới của nhà văn
Trong tác phẩm Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, nhân vật Qùy
có một mảnh đời éo le, bất hạnh Cuộc đời chị mất cả “người mình yêu” và
“người yêu mình”, trong khi họ còn sống thì chị luôn ước vọng những điều
cao xa hơn ở họ để đến khi mất đi rồi thì cô lại rơi vào trạng thái tiếc nuối
Thai trong Cỏ lau thì lại vướng phải một bi kịch khác khi đứng giữa người
chồng trong quá khứ và người chồng ở hiện tại Chị mong muốn có thể xoa dịu vết thương mà chiến tranh để lại cho Lực (người chồng cũ), muốn bù đắp lại cho anh dẫu biết rằng điều đó gây khổ đau cho Quảng, cho con cái, cho cả gia đình bé nhỏ của mình Nhưng số phận đã an bài, chị không dễ gì thay đổi
hoàn cảnh éo le của mình Huệ trong Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát lại là
một số phận khác Người con gái ấy quyết tâm đoạn tuyệt với gốc gác thị thành, gắn bó với mảnh đất do hai vợ chồng khai khẩn để làm ăn kiếm sống
Và giờ đây, “chính Huệ cũng đã trở thành một người đàn bà nông dân với cái tính ki cóp, chắt bóp, tham công tiếc việc, tham của, thậm chí đôi khi còn lắm điều nữa” Vì sao vậy? Vì Huệ đã trở thành cái "máy đẻ" để có người lao
động sau này Nhưng nếu trong lòng Huệ không còn khắc khoải về một người đàn ông thành thị xưa kia thì cuộc đời chị có lẽ cũng đã hạnh phúc Đằng này chị luôn day dứt về quá khứ với một con người mà chị vừa thương hại, vừa căm giận nhưng vẫn yêu Chị hiểu được nỗi đau của cuộc sống khi tách biệt với xung quanh nhưng chính chị chấp nhận lấy số phận cuộc đời mình làm phép thử cho điều ấy Chị sống bằng niềm tin, hy vọng trong tương lai một thành phố nữa sẽ ra đời ngày trên chính mảnh đất này để đem đến sự đổi đời cho các con chị
Trang 35Chính trong số phận đau thương ấy, những người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu lại sáng lên những phẩm chất vô cùng cao đẹp Có thể nói, Nguyễn Minh Châu đã viết về người phụ nữ trong nhiều tư cách khác nhau
nhưng nhà văn đầy hào hứng và ưu ái khi viết về người đàn bà là mẹ, “người đàn bà luôn cảm nhận không chỉ bằng ý thức mà bằng bản năng thiên chức làm mẹ, người mẹ sinh ra và chăm sóc những người con, nguồn gốc và nền tảng của cuộc sống” Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ đã làm bệ đỡ đưa
họ ra khỏi cuộc sống éo le Quỳ đã thú nhận “…trong một lúc, tôi hiểu được thế nào là người đàn bà, tôi hiểu chính tôi bấy lâu nay Tôi đã trông thấy, trong một phút, tất cả cái phần sâu thẳm như một thứ thiên phú riêng của tâm hồn những người đàn bà chúng tôi: đó là bản năng chăm lo, bảo vệ lấy sự sống của con người – do chính chúng tôi mang nặng đẻ đau sinh ra Đó là tình thương người bẩm sinh của nữ tính – sợi dây thần kinh đặc biệt nhạy cảm của nữ giới chúng tôi” Bằng tình yêu của mình Quỳ đã nâng đỡ, an ủi,
đã đẩy lùi được cái chết đối với chiến sĩ bị thương ngoài mặt trận, gây dựng lại niềm tin cho người đang sống trong cảnh lao tù Điều đó không chỉ đem lại
ý nghĩa cuộc sống cho những người xung quanh mà còn cho chính bản thân
Quỳ Cùng với Quỳ, Huệ trong Phiên chợ Giát và người mẹ trong Mùa trái cóc ở miền Nam cũng là những người luôn ý thức về trách nhiệm, thiên chức
của mình Cũng chính thiên chức làm mẹ, tình thương con vô bờ mà người
mẹ trong Mùa trái cóc ở miền Nam lúc nào cũng sống trong sự dằn vặt, ân
hận: “tôi vẫn thường thấy đau đớn trong lòng, lúc nào cũng đau tận trong cuống ruột, nghĩ rằng mình là người mẹ sa đọa, đáng bỏ đi, hơn thế nữa, một
kẻ thù của con tôi, cái đứa con trai yêu quý nhất của mình Có phải đấy là tội lỗi hay là số phận hả ông?”
Có thể nói, phẩm chất cao quý đó có ở hầu hết các nhân vật của Nguyễn Minh Châu dù họ đã từng hay chưa từng làm mẹ Các nhân vật nữ
Trang 36của ông với bề ngoài dịu dàng nhưng bên trong lại luôn mạnh mẽ, vượt lên trên sự khắc nghiệt của hoàn cảnh Đó là đức hi sinh cao độ, lòng thủy chung vẹn nguyên và ý thức về thiên chức rất đẹp của người phụ nữ Phẩm chất đó giúp họ trở nên cao cả hơn, làm nên nét riêng cho nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Năm 1984, Lưu Quang Vũ viết xong vở kịch Tôi và chúng ta Với vở
kịch này ông đã phản biện lại cả một cơ chế Lưu Quang Vũ không chỉ đưa lên được sân khấu kịch những nguyên tắc tài vụ cũ kĩ, lỗi thời làm kìm hãm sản xuất mà ông còn công khai bảo vệ những tư tưởng mới, những cung cách
quản lý và làm ăn mới đồng thời “phê phán cơ chế quan liêu bao cấp trong lĩnh vực quản lý kinh tế và lĩnh vực tư tưởng tinh thần” [73,131] Tiếp đó ông
lại cho ra đời Khoảng khắc và vô tận, vở kịch này còn đi sâu hơn vào những
vấn đề nhức nhối của xã hội: giá tiền lương, cơ chế quản lý, tổ chức xã hội, tâm lý đạo đức… Tất cả được tái hiện một cách chân thực trên sân khấu Những lớp người mới với tư tưởng tiến bộ đã được Lưu Quang Vũ dành nhiều tâm huyết để cổ vũ một cách công khai trong kịch của mình Không chỉ
có thế những vở kịch của ông còn cho ta thấy tác giả đang cảnh báo trước cho toàn xã hội về những con người nhỏ nhen, vụ lợi, lối làm ăn tính toán láu cá chỉ nghĩ cho lợi ích bán thân mà không nghĩ đến lợi ích của nhà nước và toàn
xã hội
Vở kịch Mùa hè ở biển (1985) của Xuân Trình thì lại được viết bằng
hình thức hài kịch với một thái độ phê phán những cái cũ, không còn hợp thời đồng thời ủng hộ những cái mới đang còn khó phân định đúng – sai Ông cho rằng có những cái tốt của ngày hôm qua không còn thích ứng với cuộc sống của ngày hôm nay Cơ chế mới đòi hỏi những kiểu người mới và ngược lại những kiểu người mới cần phải có cơ chế mới để phát huy năng lực sáng tạo của mình
Trang 37Trước thời kỳ đổi mới đã có nhiều nhà văn đi tiên phong trong việc tìm
ra lối viết mới, cách nhìn cuộc sống theo hướng mới nhưng do đời sống xã hội và văn học chưa có sự dân chủ nên tiềm năng chất xám, tiềm năng lý luận còn chưa được phát huy Nhà văn tìm tòi, sáng tạo nhưng nhà lý luận, phê bình mới chỉ chấp nhận được phần nào sản phẩm sáng tạo đó mà thôi Chính
vì thế chặng đường 1975-1985 chỉ được coi là giai đoạn quá độ, là thời kỳ chuẩn bị, thời kỳ vận động tiền để lấy đà cho việc tạo nên những đột phá ở
chặng tiếp theo Bước sang thời kỳ đổi mới quan niệm “văn học phản ánh hiện thực” vẫn được các nhà nghiên cứu lý luận phê bình coi là quy luật tất
yếu Nhưng việc thẩm định các giá trị văn học nếu cứ nằm trong cái khuôn khổ trật hẹp của những quan niệm thẩm mĩ đã quá quen thuộc thì vô hình chung dẫn tới sự nghèo nàn của văn học Quan niệm về hiện thực trong nghệ thuật ở những thời kỳ trước đã trở nên già nua, cũ kĩ không bắt kịp với thời đại mới – thời đại có nhiều đổi thay, xuất hiện nhiều nhận thức mới về con người và xã hội, thời đại tiếng nói dân chủ, tự do bên trong của người cầm bút được khích lệ
Tiểu kết: Tình hình xã hội và văn học trên đây cho ta thấy trước đổi mới, trong đời sống văn học đã xuất hiện những yếu tố mới làm thay đổi từng bước nền văn học Từ một nhu cầu nhận thức mới dẫn đến một ý thức văn học mới xuất hiện, tác động sâu sắc tới thực tiễn sáng tác Đó là cơ sở thực tiễn cho một tư duy văn học,tư duy lý luận mới nảy nở để đến khi bắt gặp trào lưu đổi mới thì phát triển một cách đa dạng và đạt được các thành tựu đáng chú ý
Trang 38CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Những tiền đề cho sự phát triển lý luận văn học thời kỳ đổi mới
2.1.1 Kinh nghiệm và thành tựu lý luận văn học thời kỳ chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Có thể thấy “lý luận, phê bình văn học ở giai đoạn 1945 – 1975 giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng cho hoạt động sáng tác và tiếp nhận văn học theo các nguyên tắc của nền văn học cách mạng và đường lối văn nghệ của Đảng, trở thành một công cụ quan trọng trong công tác lãnh đạo,
chỉ đạo văn nghệ của Đảng Cộng Sản” [33,13]
Từ năm 1975 – 1985, lý luận văn học vẫn cố gắng bám sát đời sống văn học, một mặt đã phát hiện những tác phẩm có giá trị như các trường ca và một số tiểu thuyết về cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng… đồng thời đã tổ chức được mốt
số cuộc thảo luận trên báo chí và diễn đàn hội nghị về một số vấn đề của thực tiễn văn học thời kỳ hậu chiến như vấn đề viết về chiến tranh, về trường ca,
về truyện ngắn, về tiểu thuyết Cù lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, về truyện
ngắn của Nguyễn Minh Châu Song, nhìn chung các tác phẩm văn học, lý luận phê bình văn học vẫn chủ yếu dựa trên những quan niệm đã được xác lập trong 30 năm văn học cách mạng và kháng chiến, ngoại trừ bài báo của
Hoàng Ngọc Hiến Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua (nhưng đã bị phê phán gay gắt từ những nhà lãnh đạo văn nghệ
và một số văn nghệ sĩ, cả trên báo chí và diễn đàn hội nghị)
Sau năm 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, quá trình văn học diễn biến phong phú, đa dạng và không ít phức tạp Việc nghiên cứu, đánh giá giai đoạn văn học này là công việc còn nhiều khó khăn Sự tồn tại nhiều ý kiến, nhận
Trang 39định, đánh giá khác nhau về những vấn đề và hiện tượng của văn học những
năm qua là điều đương nhiên có thể hiểu
Giai đoạn 1975 – 1985 là giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi
mới Gọi đó là giai đoạn “khởi động” bởi vì, nếu chỉ nhìn ở bề ngoài thì sau
ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, lịch sử Việt Nam chuyển qua một thời đại mới, nhưng văn học nghệ thuật thì hình như vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
Dù ờ thời đại nào chiến tranh vẫn cứ là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ con người Việt Nam cùng các bên từng tham gia vào sự kiện đặc biệt này Sự thờ ơ của khán giả, độc giả đối với những bộ phim về đề tài chiến tranh, hay rộng hơn, những cuốn sách viết về đề tài chiến tranh là một thực tế khiến ta bắt buộc phải suy ngẫm Những người cầm bút cựu chiến binh và cả những người cầm bút không là cựu chiến binh, nhưng từng trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài ngót ba mươi năm ở thế kỷ trước không thể chỉ chọn một thái độ là đổ lỗi cho độc giả và chọn một cách lý giải rằng
đó là biểu hiện cụ thể, sinh động của bệnh chóng quên, lối sống hời hợt, chú mục vào hiện tại của con người thời đại bùng nổ các phương tiện thông tin, thời đại tiêu thụ Mà cần phải nghiêm túc tự thấy rằng chúng ta, những nhà tiểu thuyết về đề tài này, do những hạn chế ở tầm tư tưởng và ở bản lĩnh nghệ thuật nên đã chưa tạo được cho đề tài nói trên một giá trị đủ để lôi cuốn con người hôm nay bước vào cái thế giới từng là nỗi kinh hoàng và là niềm vinh
dự, là những biến động vô cùng to lớn, hết sức hào hùng và cũng là một sự kiện bất thường, khốc liệt đã phũ phàng can thiệp vào số phận của hàng triệu con người Đồng thời đã, đang và sẽ còn tiếp tục hằn in dấu ấn của nó lên tích
Trang 40cách, tâm hồn của hàng triệu con người Việt Nam trong hiện tại cũng như trong tương lai Nhưng đâu mới thực sự là những điều đáng và cần phải quan tâm đối với những người cầm bút ở ta về đề tài chiến tranh trên chính cái thể
loại từng được coi là “sử thi của thời đại mới”, cái thể loại mà với những ưu
thế vượt trội của nó trong thời hiện đại, lẽ ra nó không đáng để người đọc đối
Nhưng rồi, cùng với thời gian, người ta bắt đầu phải học cách thích nghi với cuộc sống của thời bình Điều đó cũng có nghĩa là, đối với người cầm bút, chiến tranh giờ đây cần được nhìn khác trước, với những suy ngẫm, sàng lọc, chọn lựa và cần phải hướng tới một cách thể hiện có tính nghệ thuật hơn, trong thế quân bình hoàn toàn khác trước giữa nhà văn và người đọc Tức là, nếu nhà tiểu thuyết nào mang trong mình ý định chinh phục người đọc hậu chiến nhưng lại không vượt qua được cái nhìn giản đơn, một chiều và thể hiện trong tầm mắt của độc giả một cuộc chiến tranh như trước đây anh ta hoặc đồng đội của anh ta từng kinh nghiệm thì cầm chắc cuốn sách của anh ta