Cuốn tiểu thuyết đầu tay Luật đời và cha con 2005, được giải thưởng của Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, rồi chuyển thể thành phim truyền hình 26 tập, được bạn xem truyền h
Trang 1-& -
ĐOÀN THỊ THANH THỦY
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TIỂU THUYẾT GÃ TÉP RIU
CỦA NGUYỄN BẮC SƠN
Chuyên ngành: L luận văn học
Mã số : 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC THIỆN
HÀ NỘI, 2014
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, tổ Lý luận văn học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều
kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS NGUYỄN NGỌC THIỆN, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn trong suốt thời gian qua
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Học viên
Đoàn Thị Thanh Thuỷ
Trang 3
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân, không trùng khít với bất kỳ công trình nghiên cứu nào được công bố trước đó
Trong quá trình nghiên cứu luận văn có tham khảo và sử dụng các tư liệu tham khảo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nhưng tất cả chỉ để gợi
mở cho tôi các ý tưởng nghiên cứu Khi sử dụng các trích đoạn, chúng tôi có chú thích một cách cụ thể, rõ ràng
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Học viên
Đoàn Thị Thanh Thuỷ
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Dự kiến đóng góp mới
7 Cấu trúc của đề tài
1 1 2 8 8 9 9 9 NỘI DUNG 10
Chương 1 Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam từ thời kì đổi mới đến nay 10
1.1 Bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam 10
1.2 Tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn 19
1.2.1 Luật đời và cha con 19
1.2.2 Lửa đắng 22
1.2.3 Gã Tép Riu 25
Chương 2 Điểm nhìn trần thuật và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Gã Tép Riu 28
2.1 Điểm nhìn trần thuật 28
2.1.1 Điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài 30
2.1.2 Sự dịch chuyển điểm nhìn 36
2.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Gã Tép Riu 41
2.2.1 Nhân vật tiểu thuyết 41
2.2.2 Nhân vật trong tiểu thuyết Gã Tép Riu 44
2.2.2.1 Nhân vật bi kịch 44
Trang 52.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 63
2.3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tên gọi, ngoại hình nhân vật 63
2.3.1.1 Xây dựng nhân vật qua tên gọi 63
2.3.1.2 Xây dựng nhân vật qua khắc hoạ ngoại hình 66
2.3.2 Xây dựng nhân vật qua khắc hoạ nội tâm 69
2.3.2.1 Biểu hiện nội tâm nhân vật qua độc thoại 70
2.3.2.2 Biểu hiện nội tâm nhân vật qua lời nửa trực tiếp 72 Chương 3 Cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu 75
3.1 Cốt truyện 75
3.1.1 Khái lược về cốt truyện 75
3.1.2 Cốt truyện trong tiểu thuyết Gã Tép Riu 76
3.1.2.1 Cốt truyện sự kiện 76
3.1.2.2 Cốt truyện đảo lộn trình tự thời gian 78
3.2 Kết cấu 79
3.2.1 Khái lược về kết cấu 79
3.2.2 Kết cấu trong tiểu thuyết Gã Tép Riu 80
3.2.2.1 Kết cấu lồng ghép 80
3.2.2.2 Kết cấu song hành 83
3.3 Ngôn ngữ 84
3.3.1 Giới thuyết về ngôn ngữ trần thuật 84
3.3.2 Cách sử dụng ngôn ngữ trong Gã Tép Riu 84
3.3.2.1 Ngôn ngữ người kể chuyện 84
3.3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 90
3.4 Giọng điệu 95
Trang 63.4.2.1 Giọng điệu khách quan, bình thản 97
3.4.2.2 Giọng điệu giễu nhại, hài hước 98
3.4.2.3 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lí 100
3.4.2.4 Giọng điệu trữ tình, sâu lắng 102
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN ĐÃ CÔNG BỐ 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 7nhiều giải thưởng cao Cuốn tiểu thuyết đầu tay Luật đời và cha con (2005),
được giải thưởng của Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, rồi chuyển thể thành phim truyền hình 26 tập, được bạn xem truyền hình bình
chọn là phim truyền hình hay nhất năm 2007), Lửa đắng (2008) được Giải C cuộc thi tiểu thuyết lần thứ III của Hội nhà văn Việt Nam, và gần đây là Gã
Tép Riu (2013) đều là những tác phẩm được bạn đọc thích thú vì tính hiện
thực, với lối viết thẳng thắn, sắc sảo của nó
Tiểu thuyết được xem một thể loại đứng ở vị trí then chốt trong đời sống văn học Tiểu thuyết là một thể loại văn học gần g i nhất với cuộc sống Trong tiểu thuyết có thể nhận thấy mọi màu sắc, mọi vấn đề, l nh vực của đời sống Tính cách nhân vật tiểu thuyết có sự phát triển tự thân như trong cuộc đời thật Trong tiểu thuyết có thể bắt gặp những cuộc đời thật với những đường nét x xì góc cạnh Vì tiểu thuyết gần g i với cuộc đời nên lịch sử của tiểu thuyết gắn với sự phát triển của chủ ngh a hiện thực Tiểu thuyết c ng là thể loại ít có tính ước lệ, quy phạm so với các thể loại văn học khác Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp cao, vừa bao quát hiện thực rộng lớn vừa có khả năng đi sâu khám phá đời tư và tâm hồn con người một cách toàn diện
Tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thời kì đổi mới (1986), đặc biệt từ đầu thế
kỉ XXI đến nay đã trải qua sự thay đổi mạnh mẽ không ngừng, các nhà văn có
ý thức rõ rệt về nhu cầu cách tân tiểu thuyết, hướng tới đổi mới bút pháp tự
Trang 8sự Nguyễn Bắc Sơn là người đã trải nghiệm cuộc sống một cách sâu sắc và
c ng rất nhạy cảm với các mối quan hệ gia đình, xã hội, những mối quan hệ
đa chiều của cơ chế thị trường, với khát vọng đổi mới vì sự tiến bộ xã hội, khát vọng đó được thể hiện qua những “đứa con tinh thần” của ông Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn chú trọng về nội dung, viết về đề tài chính trị - xã hội, tiểu thuyết luận đề, đề cập đến những vấn đề được coi là nhạy cảm, là những bất cập trong cơ chế, quản lí xã hội hiện hành
Với mong muốn tìm ra những nét mới về nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn, từ đó chỉ ra vị trí c ng như những đóng góp của tác giả trên hành trình nỗ lực, làm mới tiểu thuyết Việt Nam nói riêng, văn học Việt Nam
nói chung, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết Gã Tép Riu” của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn
2 Lịch sử vấn đề
Ông cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Gã Tép Riu vào đầu năm 2013 ( Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, 430 trang), c ng là tiểu thuyết luận đề, với cách nhìn đa chiều, mang tính phản biện xã hội cao thông qua các mối quan hệ của các nhân vật, qua hình thức tiểu thuyết tâm lí xã hội với câu chuyện bi kịch gia đình Tác phẩm ngay sau khi ra mắt bạn đọc đã được giới thiệu, đăng tải với các bài viết, bình luận trên tạp chí, các đầu báo và phỏng vấn, tiểu thuyết đã được sự quan tâm của độc giả và giới phê bình Trong những tài liệu mà chúng tôi bao quát được, có thể tập hợp thành một số những ý kiến tiêu biểu sau:
2.1 ài vi t c a ch nh nhà v n guy n ắc n và những bài ông trả lời phỏng vấn:
- Nguyễn Bắc Sơn (7/2013) trong bài tự bạch “Những nét chính của
nhân vật trung tâm”, tài liệu chưa in Trong bài, tác giả đã cho thấy dụng ý
của mình trong việc xây dựng nhân vật trung tâm – T ng, qua những suy ngh , ấn tượng của chính nhân vật về tính cách, phẩm chất của người trí thức
Trang 9Bài viết c ng như là một sự gợi ý về chủ đề đời tư của nhân vật chính trong cuộc sống ở cơ quan với những mối quan hệ công việc, cuộc sống của T ng trong mối quan hệ giữa hai người đàn bà Diệu Thủy và Dự Trong bài c ng nhấn mạnh vào những chương mà ông đã dụng công để khắc họa chủ đề của
tiểu thuyết: “Gã Tép Riu là hình ảnh của người trí thức đích thực đã vượt qua
được nỗi sợ hãi bị cô lập, bằng vốn tri thức giầu có, tư duy sắc sảo, óc hài hước đã sống hữu ích cho xã hội Bi kịch gia đình của anh cũng là do anh sống đúng với bản chất trí thức của mình Diệu Thủy là hình ảnh của một loại cán bộ càng leo cao lên ghế quyền lực thì phẩm hạnh càng đi xuống Dự là hình ảnh những cảnh đời bí bách, bị cuộc sống xô đẩy đến bước đường cùng vẫn cố gắng vươn lên tìm chỗ đứng dưới ánh mặt trời”[56]
Tiếp đó là những cuộc trò chuyện với các nhà báo, nhà phê bình của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn chủ yếu được đăng tải trên các báo mạng hoặc các website cá nhân:
- Cao Minh (2013) với bài “Hóa thân và hư cấu trong Gã Tép Riu”, ài
n giải phóng, ngày 26 tháng 5 Trong lời trả lời phỏng vấn, nhà văn đề cập
đến số phận và bản chất tốt đ p của người trí thức qua nhân vật T ng Về nghệ thuật, các nhân vật trong tác phẩm được xây dựng chủ yếu trên cơ sở hư cấu
- Cao Minh (2013) với bài “Tất cả đều phải đúng quy luật”, Văn nghệ
công an, ngày 7 tháng 6 Trong phần trả lời của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn thể
hiện tác phẩm có phần chuyển từ đề tài chính trị sang đề tài tâm lí xã hội và còn dự báo về các vấn đề xã hội Nhấn mạnh mối quan hệ giữa các nhân vật chính trong tác phẩm là biểu hiện của mối quan hệ và mâu thuẫn xã hội, tuy
nhiên d phản ánh c ng phải có chừng mực “tất cả đều phải đúng quy
luật”[46] của cuộc sống
- Thi Thi (2013) với bài “Lại tiếp tục tìm hướng đi cho nhân vật
chính”, Hà Nội mới, ngày 9 tháng 6 Theo Nguyễn Bắc Sơn những vấn đề
Trang 10chính trị trong tác phẩm chỉ là phương tiện thể hiện nhân vật trung tâm chứ tác phẩm không đi sâu vào vấn đề chính trị đơn thuần
…
Qua những cuộc phỏng vấn, trò chuyện, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã thể hiện rõ dụng ý đổi mới đề tài từ tiểu thuyết luận đề chuyển sang hướng tiểu thuyết tâm lí xã hội, xây dựng hình tượng nhân vật trí thức kiểu mới Chúng
ta c ng phần nào có ấn tượng, định hình được những đóng góp đặc sắc về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết này của ông Đồng thời nhà văn c ng tiếp
tục đưa ra những vấn đề có tính chất như “dự báo” ở tiểu thuyết mới Gã Tép
Riu, giống như các tiểu thuyết trước đây của ông về các vấn đề cơ chế của đời
sống xã hội
2.2 Những bài giới thiệu, phê bình về tiểu thuy t Gã Tép Riu:
Những bài viết trên các tạp chí văn học, trên các website văn học Khoảng trên mười bài báo, phê bình về tiểu thuyết này, đáng chú ý trước hết
là những bài giới thiệu mở đầu cho sự xuất hiện của tiểu thuyết Gã Tép Riu:
- Linh Sơn (2013) với bài "Những điều chưa biết về nhà văn Bắc Sơn”,
Báo Giáo dục và thời đại, ngày 8 tháng 4 Trong bài viết, tác giả đã có cái
nhìn chung nhất về quá trình sáng tác, định hình về nghệ thuật và nội dung
chính của tiểu thuyết p iu Bài viết cho rằng tác phẩm đề cập đến tư
tưởng chủ đề về một xã hội thu nhỏ với những mâu thuẫn, qua bi kịch của một gia đình
- Nguyễn Long Kh nh (2013) có bài “Vì sao p Riu hấp dẫn ”,
Báo Lao động, số 20 tháng 5 Bài viết c ng nhấn mạnh: Cốt truyện tác phẩm
đơn giản, nhưng đấu tranh nội tâm của nhân vật trong mối quan hệ giữa họ
với nhau trong cuộc sống thì vô c ng phức tạp, “theo lí giải của Trần ăng
hoa, in trong bìa 4: ức mạnh của tác giả là khả năng tinh nhạy nắm bắt những vấn đề thời sự nóng h i đang di n ra trong đời sống hàng ngày”[35]
Trang 11- Tô Đức Chiêu (2013) trong bài “Một thăng hoa vô tích sự”, Văn
nghệ, số 21, tháng 5, đã khám phá về hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Gã
Tép Riu, phân tích khái quát về sự phát triển các mâu thuẫn trong cuộc sống
gia đình của Tùng và Diệu Thủy, và mối quan hệ với nhân vật Dự - cô gái làm nghề bán thân có khát vọng vươn lên, thay đổi cuộc đời Bài viết khẳng định
tác phẩm chứa đựng “ngồn ngộn vốn sống”[10] thời hiện đại
- Đặng Văn Sinh (2013) có bài “Gã Tép Riu, văn hóa, tình dục và tình
yêu”, Tạp chí Nhà văn, số 5, tháng 3 Bài viết xem tác phẩm như một “bi kịch
nhân sinh trong mối quan hệ bộ ba Tùng, Thủy, Dự - như những đào kép chính trên sàn di n, với tư cách nhân chứng lịch sử” Trong bài đã khẳng
định “Gã Tép Riu là một tiểu thuyết hiện đại tính hệ thống cao, trong đó, hệ
thống t ng quát chi phối chặt chẽ hệ thống chi tiết được tác giả vận dụng khá chuyên nghiệp để gài những thông điệp nghệ thuật dưới hình thức phản biện
xã hội Có điều, sự phản biện đây không phải là trên lý thuyết có khuynh hướng phủ định mà là thông qua hình tượng nhân vật cùng các mối quan hệ
Từ các mối quan hệ đó, người đọc sẽ nhận ra bản chất sự việc”[55]
- Nguyễn Long (2013) có bài “Tan vỡ gia đình dưới góc nhìn của Gã
Tép Riu”, Tạp chí Cửa Biển, số 134, tháng 5 Trong bài c ng đề cập một thực
trạng không hiếm gặp trong đời sống công chức đương thời, qua những mâu thuẫn không thể dung hòa về mục đích, lối sống của vợ chồng Diệu Thủy –
Xuân Tùng Trong bài, tác giả viết “thành công của tác giả không phải là đ i
mới thi pháp tiểu thuyết mà chính là tươi mới đề tài, về chất liệu tiểu thuyết
và trên đó là sự nhìn nhận, cách nhìn hiện thực xã hội hôm nay bằng con mắt tỉnh táo, khách quan, khoa học với một giọng hài hước, hóm hỉnh rất sướng tai bạn đọc”[40]
- Nguyễn Long Khánh (2013), với bài “Chất hài trong Gã Tép Riu”,
Người Hà Nội, số 16, tháng 5, khai thác chủ yếu về phương diện nghệ thuật
Trang 12của tác phẩm: yếu tố hài hước, giễu nhại của tiểu thuyết với cách sử dụng ngôn ngữ dân gian vô cùng phong phú, ngôn từ sống động của nhà văn trong tác phẩm
- Thu Hà (2013) với bài “Nguyễn Bắc Sơn và Gã Tép Riu”, Tạp chí
Giáo dục Thủ đô, số 41 + 42, tháng 5, 6; tóm lược những sự kiện quan trọng
trong cuộc đời riêng của Xuân Tùng – nhân vật chính của tiểu thuyết và nhấn
mạnh căn nguyên của bi kịch gia đình: “ ự tan vỡ của gia đình Tùng – Thủy
có nguyên nhân là sự thay đ i quan niệm về giá trị sống, là sự tha hóa của một bộ phận quan chức”[21]
- Bùi Việt Thắng (2013) trong bài “Bi kịch lạc quan”, Văn nghệ quân
đội, số 775, tháng 6, chú trọng đề cao việc phản ánh thực trạng cuộc sống xã
hội Tác giả viết “Tiểu thuyết Gã Tép Riu tái hiện một cuộc sống đầy rẫy
những ngẫu nhiên và bất thường, bất trắc Bi kịch theo đúng nghĩa của từ này bao giờ cũng có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người Rất có thể nhiều
độc giả đã khóc trên những trang sách Gã Tép Riu, nhưng cái đọng lại là
một sự phấn khích khi cái tốt, cái đẹp có cơ hội chiến thắng Những thất bại của Tùng, của Dự chỉ là thất bại tạm thời”[70]
- Công Minh (2013) trong bài “Sức cuốn hút của p iu”, Lao
động Thủ đô, số 78, tháng 6, đã tóm lược nội dung chính của tác phẩm xoay
quanh số phận của ba nhân vật Đặc biệt bài viết còn nhấn mạnh về phương
diện nghệ thuật “Cuốn tiểu thuyết hấp dẫn ta không chỉ nội dung rất hiện
thực, rất đời của nó Nó c n hấp dẫn ta ngôn ngữ đầy kịch tính, rất hàn lâm, mà cũng rất dân dã, đặc biệt là những câu vần v suồng sã quá ấn tượng
và cái chất hài hước, hóm hỉnh của kiểu chơi chữ vừa gây cười, vừa đả kích làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết Nguy n Bắc ơn có một phong cách riêng, không lẫn với bất k ai khác”[48]
Trang 13- Quỳnh Vân (2013) trong bài “Cuộc đời vẫn còn hoa hồng”, An ninh
Thủ đô, ngày 27 tháng 8, có cái nhìn rất khái quát về tiểu thuyết của ông:
“tiểu thuyết của Nguy n Bắc ơn thường có sức hấp dẫn riêng, mê hoặc người đọc b i mạch truyện, b i tính đời, không màu mỡ riêu cua, không phấn son núp sau những ngôn từ bóng bẩy”[88] Bài viết nhấn mạnh về các khía
cạnh nổi bật của tác phẩm: đời tư của Tùng trong mối quan hệ gia đình, chất
liệu của tác phẩm “được dệt từ chính sự kiện di n ra trong cuộc sống công
chức của ông”[88], bóng dáng nhà văn thấp thoáng qua nhân vật, và vẻ đ p
“trong trẻo và tinh khôi”[88] thật đáng trân trọng trong cuộc sống đầy nghiệt
ngã qua nhân vật Dự
- Minh Nguyễn (2013), với bài “Nhà văn trẻ…Tóc bạc!”, Tạp chí
Truyền hình Hà Nội, số 107, tháng 9, có cái nhìn tổng thể về sáng tác của nhà
văn ở các thể loại và sự ra đời của tiểu thuyết Gã Tép Riu Bài viết đã đánh giá
khái quát về đóng góp của Nguyễn Bắc Sơn qua sự nghiệp sáng tác của ông và
khẳng định sức viết dồi dào của nhà văn bước vào tuổi “thất thập c lai hi”
- Gần đây, Ma Văn Kh ng (2014), có bài “ p iu - xung đột gia
đình, xung đột nhân cách”, Văn nghệ, số 12, tháng 3 Trong bài viết đã khẳng định sức hấp dẫn của tiểu thuyết với ưu thế nổi trội chính là cách “trần thuật
bằng một giọng văn tươi r ng sự sống”[33], chất “hài hước khiến cho cuốn sách mang một sắc thái hấp dẫn riêng, không lẫn lộn”[33] Bài viết c ng
phân tích sơ lược về ba nhân vật chính của tác phẩm là T ng, Diệu Thủy và
Dự, và chỉ ra xung đột chính giữa hai vợ chồng chủ yếu là xung đột của hai nhân cách đối lập Ma Văn Kháng c ng chỉ ra những tình tiết mà theo ông là chưa hợp lí, thiếu sức thuyết phục
Những bài phê bình trên cung cấp cho người đọc ấn tượng ban đầu về những đặc sắc nội dung và nghệ thuật, cả những điều còn hạn chế của tiểu
thuyết Gã Tép Riu, đồng thời khơi gợi cho người đọc hứng thú khi tiếp nhận
tác phẩm
Trang 14Tiểu thuyết Gã Tép Riu mới ra mắt bạn đọc nên chưa có một công trình
nghiên cứu nào đi sâu vào nghệ thuật tự sự với đầy đủ các khía cạnh của nó Tác phẩm tuy vẫn nằm trong hệ thống tiểu thuyết luận đề của Nguyễn Bắc Sơn nhưng đi sâu vào một l nh vực văn hóa, những bất cập trong cơ chế quản lí văn hóa và đề cập đến một số các l nh vực khác của đời sống xã hội đương đại như chuyện gia đình, tình dục…, với văn phong rất sắc sảo Mặc d tác phẩm được một số nhà phê bình, nghiên cứu quan tâm, nhưng với phần đông người đọc,
Nguyễn Bắc Sơn vẫn là nhà văn chưa được biết đến rộng rãi Tiểu thuyết Gã
Tép Riu của ông, vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống
Tuy nhiên, những bài viết đó là sự gợi mở quý báu giúp chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những đặc sắc trong nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Gã Tép
Riu ở các phương diện: điểm nhìn trần thuật, thế giới nhân vật, cốt truyện,
kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu
- So sánh với các tiểu thuyết đã sáng tác của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn
và tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới và đặc sắc nghệ thuật tự sự của ông Cho thấy rõ hơn phong cách tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
- Từ kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn góp phần khẳng định vị trí của Nguyễn Bắc Sơn ở thể loại tiểu thuyết, trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tiểu thuyết Gã Tép Riu
- Mở rộng khảo sát, so sánh các tiểu thuyết đã sáng tác của ông: Luật
đời và cha con, Lửa đắng
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết tự sự học, thi pháp học để làm rõ đặc điểm nghệ thuật tự sự ở phương diện điểm nhìn, thế giới nhân vật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong tác phẩm
5 Phương ph p nghiên cứu
- Vận dụng lý thuyết tự sự học, thi pháp học nghiên cứu về nghệ thuật
- Lần đầu tiên luận văn nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
Gã Tép Riu của Nguyễn Bắc Sơn một cách tương đối hệ thống và toàn diện
- Từ đó, khẳng định sự phát triển ở thể loại tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, những đóng góp của ông đối với công cuộc đổi mới tư duy
và nghệ thuật tiểu thuyết ở Việt Nam
7 Cấu tr c của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
cấu trúc của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong bức tranh chung của tiểu
thuyết Việt Nam từ thời kì đổi mới đến nay
Chương 2 Điểm nhìn trần thuật và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Gã
Tép Riu
Chương 3 Cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu
Trang 16NỘI DUNGChương 1 TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ THỜI KÌ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
1.1 Bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam
Tiểu thuyết là “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực
đời sống mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[22, tr 328]
Tiểu thuyết là thể loại có thể bao quát đời sống một cách chân thật, sinh động nhất Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết chiếm địa vị trung tâm
trong hệ thống thể loại của văn học cận đại, hiện đại “Tiểu thuyết là thể loại
văn học có khả năng t ng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học khác”[65, tr 304], là thể loại chủ chốt của văn học hiện đại
Tiểu thuyết là một thể loại có khả năng ôm chứa phạm vi đời sống rộng lớn với tất cả sự phong phú, phức tạp và chiều sâu không c ng của nó Tiểu thuyết có khả năng thể hiện mọi khía cạnh của đời sống vật chất, tinh thần, phạm vi bao quát của nó dường như là vô tận Cuộc sống trong tiểu thuyết là cuộc sống của thời hiện tại, một cuộc sống đang diễn ra, đang phát triển Nhân vật của tiểu thuyết được miêu tả nhiều mặt, tinh tế chi tiết như con người sống Từ tính cách, cá tính đến số phận, từ hành động đến tâm lí, từ các loại quan hệ đến ngôn ngữ đều được các nhà tiểu thuyết quan tâm khám phá Các thuộc tính của nhân vật được miêu tả trong quá trình, trong tổng hòa mọi bình diện, có tính chỉnh thể và có quá trình phát triển
Đất nước Việt Nam trong quá trình từng bước đổi mới, đã đạt được những mục tiêu lớn với nền chính trị ổn định, kinh tế ngày một phát triển, đời
Trang 17sống người dân được nâng cao một cách rõ rệt, văn hóa ngày càng phát triển hội nhập với các nền văn hóa tiên tiến trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì trong thực tế phát triển đã nảy sinh không ít những vấn đề phải quan tâm Thời kỳ áp dụng chế độ quản lý tập trung bao cấp làm nảy sinh thói quan liêu trong giới lãnh đạo, bệnh thành tích, lề lối làm việc máy móc thì đến thời kỳ cải cách mở đó là lối sống thực dụng, cơ hội, chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài, sự tiếp thu tràn lan những cái phản văn hóa trở thành vấn đề đáng lo ngại
Văn học thời kì đổi mới đã đánh dấu những mốc quan trọng của quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam Hiện thực cuộc sống thời
kỳ đổi mới với rất nhiều những vấn đề phức tạp bề bộn của nó đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho văn học khai thác và làm nên những thành tựu mới Từ cuối thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã đổi mới, vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc, có tính chất hướng nội, quan tâm tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, gắn với đời thường, có nhiều tìm tòi, đổi mới về nghệ thuật Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề, phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật Văn học thời kì này đã đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh Văn xuôi thời kì này thực sự có ý thức đối thoại với văn xuôi trước 1975 và đối thoại với bạn đọc về nhiều vấn đề của cuộc sống Nhà văn nhìn hiện thực trong sự vận động không ngừng, không khép kín, nhìn con người ở nhiều tọa độ, nhiều thang bậc giá trị, chống lại những quy phạm lỗi thời trong cách miêu tả, phản ánh
Nói đến thành tựu của văn học đổi mới, phần lớn các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao đóng góp của thể loại tiểu thuyết Tiểu thuyết Việt Nam đã
nở rộ với đội ng tác giả hết sức đông đảo, số lượng tác phẩm ngày càng dồi
Trang 18dào, với nhiều tác phẩm có giải thưởng cao của Hội Nhà văn Việt Nam Sự đổi mới trong đời sống đã đem đến những gặt hái thành quả của văn nghệ và văn học nói riêng ở hầu như tất cả các thể loại văn học, trong đó có tiểu thuyết Tiểu thuyết Việt Nam ngày càng có nhiều gương mặt trẻ và có nhiều đóng góp về mặt nội dung và nghệ thuật cho văn học Tiểu thuyết thời kì này với đề tài viết về các giá trị nhân bản, số phận cá nhân là trung tâm chú ý của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng
Tiểu thuyết đang có xu hướng giản lược cốt truyện và nhân vật Trong hai thập kỉ cuối thế kỉ XX và năm năm đầu thế kỉ XXI, ta thấy các nhà tiểu thuyết nghiêng về viết tiểu thuyết ngắn Đó là sự dồn nén chất liệu đời sống,
là cách khái quát hóa một cách nghệ thuật đời sống theo chiều sâu
Nguyễn Khải là tác giả mở đầu cho sự thể hiện mới của văn xuôi ở thể
loại tiểu thuyết Đọc tác phẩm của Nguyễn Khải, ta cảm thấy như được chứng
kiến rõ vấn đề nóng hổi của đời sống, những luồng tư tưởng đang có thực
ngoài đời Người đọc dần quen với cách trình bày có tính nêu vấn đề, mời gọi
đối thoại, tiêu biểu là tác phẩm hời gian c a người Nguyễn Mạnh Tuấn với Đứng trước biển, lao ràm, là những tác phẩm tìm đến cảm hứng
tranh luận, bàn bạc để tăng cường tính chất dân chủ Văn học là v khí tư tưởng, là phương tiện để cải tạo đời sống Nhà văn thực sự là người d ng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc đấu tranh giữa cái xấu và cái tốt trong xã hội, trong mỗi con người Đó là cuộc đấu tranh tuy không ồn ào, nhưng xảy ra từng ngày, từng giờ trên khắp các l nh vực của đời sống
Nguyễn Minh Châu là nhà văn có ảnh hưởng quan trọng đối với văn
học Việt Nam thời kì đầu của đổi mới Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng:
“Nguy n inh Châu là người m đường tinh anh và tài năng đã đi được xa
nhất” Nguyễn Minh Châu đã thể hiện bản l nh và tài năng cho khát vọng
mãnh liệt đổi mới văn chương Bên cạnh các thể loại khác, ở thể loại tiểu
Trang 19thuyết, sau đổi mới, ông có tác phẩm ảnh đất t nh yêu (1987) Nguyễn
Khắc Trường là người thực sự đổi mới theo tinh thần của người tiên phong
Nguyễn Minh Châu Ông đã từ bỏ dứt khoát lối viết c đã thành danh là Thao Trường, làm lại từ đầu với tên thật là Nguyễn Khắc Trường và cho ra đời tiểu
thuyết đầu tay Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990)
Bên cạnh đó, vẫn có các nhà văn viết chủ yếu theo cách viết truyền thống nhưng với một cái nhìn mới, giữ được những phong cách độc đáo, đặc
biệt nhà văn Ma Văn Kh ng là một điển hình Tiêu biểu như những tác
phẩm a l r ng trong vườn, Đ m cưới h ng c giấy gi th Qua tiểu
thuyết, Ma Văn Kháng đã không ngừng tìm kiếm những cách thể hiện mới Tiểu thuyết của ông có hai đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư Với những giải thưởng (Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng Đông Nam Á, giải thưởng Nhà nước), Ma Văn Kháng đã tự khẳng định vị thế của mình trong nền văn học Việt Nam đương đại
Thời kì này vẫn còn những tác phẩm viết về đề tài lịch sử và chiến tranh nhưng với cái nhìn như là sự nhận thức lại chiến tranh, về con người trong chiến tranh, cái nhìn về thân phận con người với bao ám ảnh về những mất mát, nỗi buồn đau, cả những góc khuất trong tâm hồn con người, như
h n phận c a t nh yêu (Bảo Ninh), n mày d v ng, h c bi tr ng cuối
c ng (Chu Lai), hời xa vắng (Lê Lựu) Chiến tranh vẫn là đề tài được một
số nhà tiểu thuyết quan tâm, nhưng không còn mang cảm hứng sử thi hào
h ng, chất lãng mạn như văn học giai đoạn trước Các nhà văn viết tiểu thuyết
về chiến tranh không mô tả chiến tranh đơn thuần mà là sự suy ngẫm, chiêm nghiệm Trong các tác phẩm, cách đánh giá về chiến tranh đã thay đổi Người đọc nhận thấy sâu sắc sự tàn nhẫn của chiến tranh với số phận con người Con người được miêu tả trong tác phẩm, hiện lên đầy đủ các khía cạnh, có suy tư
Trang 20đau đớn, cả những phút giây yếu hèn, chứ không chỉ là người lính anh h ng ngoài chiến trận, con người cộng đồng như trong văn học thời kỳ trước
Về đề tài lịch sử, đây c ng là đối tượng được chú ý của các nhà tiểu
thuyết đương đại, tiêu biểu có các tác phẩm u Ly (Nguyễn Xuân Khánh), h ng Long (Nguyễn Khắc Phục) Đó thực sự là những tác phẩm
tiểu thuyết lịch sử chứ không phải là đi vào các sự kiện và nhân vật lịch sử Các sự kiện lịch sử được nhìn ở những góc độ khác nhau, các nhân vật lịch sử
có đời sống nội tâm và tình cảm phong phú sống động, chứ không phải là sự thần thánh hóa Nhân vật lịch sử không chỉ là những anh h ng trên chiến trận
mà họ còn là những con người đời thường với đời tư và những nhu cầu rất người Về phương thức biểu hiện, tiểu thuyết lịch sử không còn là tiểu thuyết chương hồi, hay cách viết câu văn biền ngẫu, mà là những tác phẩm có kết cấu mới lạ, hấp dẫn theo dụng ý nghệ thuật rõ rệt của nhà văn Về ngôn ngữ
vô c ng linh hoạt và hiện đại, các hiện tượng nhân vật lịch sử không t nh tại như tiểu thuyết truyền thống mà tiếp tục vận động c ng cuộc sống đa dạng muôn màu muôn vẻ
Văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự đời tư, tuy vẫn còn một số tác phẩm viết theo khuynh hướng sử thi Cảm hứng thế sự đem đến cho văn xuôi nhiều chất tiểu thuyết hơn, trước hết là nhờ khả
năng chiếm l nh con người ở góc độ đời tư, theo điển huật ngữ n h c
thì đây là “đặc điểm tiêu biểu thứ nhất của tiểu thuyết” [22, tr 223] Nỗ lực
của tiểu thuyết thời kì này là đổi mới cách nhìn, cách viết về hiện thực, là hiện thực đa chiều phong phú, với những mâu thuẫn phức tạp vừa hiện diện rõ nét vừa tiềm ẩn sâu xa Hiện thực cuộc sống có khi được hư cấu mang đầy tính chủ quan, cá biệt Nhà văn chú ý tới cách tiếp nhận tác phẩm của người đọc, hay nói một cách khác là sự dân chủ mạnh mẽ giữa nhà văn và người đọc
Trang 21Tiểu thuyết hiện đại đang dần phá vỡ những hình thức c , định hình những kiểu kết cấu mới với sự đổi mới về nghệ thuật tự sự đem lại hiệu quả thẩm m riêng Tiểu thuyết hiện đại không hoàn toàn cắt rời với cách viết truyền thống, nhưng các nhà văn có ý thức và khát vọng mạnh mẽ đổi mới cách viết Số lượng tác giả c ng rất đông đảo Tác phẩm văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng có sự đa dạng, phong phú về đề tài và bút pháp Đó là sự đòi hỏi nghiệt ngã của văn chương và tiểu thuyết trước sự thay đổi không
ngừng của cuộc sống, “ ỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải sáng
tạo ra một hình thức riêng hông tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” [86]
Các nhà văn viết tiểu thuyết với phương thức biểu hiện mới mẻ, sự cách tân mạnh mẽ như cách khai thác và chiếm l nh đời sống tâm linh, yếu tố
kì ảo, dòng ý thức… ười l m t đêm, i người rung chu ng tận th (Hồ
nh Thái), sự cách tân về kết cấu trong hoạt th y, r nhớ suy tàn, (Bình Phương), hiên sứ (Phạm Thị Hoài), gười s ng mê (Châu Diên),
Thiên th n s m hối, i biệt b ng tối (Tạ Duy nh), h i c a ch a
(Nguyễn Việt Hà) Các tác phẩm nghiêng về khai thác những cảnh ngộ, số phận con người trong chiều thuận và cả chiều nghịch của nó, hướng tiếp cận
và khai thác sâu hơn vào cái đời thường của cuộc sống cá nhân Về mô hình tính cách, bên cạnh những con người anh h ng - con người cộng đồng, đã xuất hiện con người thân phận, cá thể, mang những bi kịch cá nhân
Lớp nhà văn trẻ tuy sáng tác của họ không phải cắt lìa hoàn toàn với truyền thống, nhưng có vẻ họ ít bị ràng buộc bởi các định kiến, các quy phạm
c Vấn đề tình dục của con người c ng là một vấn đề vô c ng nhạy cảm Ở giai đoạn này, vấn đề đó được khai thác nhiều hơn và với cái nhìn tự do, phong phú Các tác giả đã không ngần ngại miêu tả sắc dục, tình yêu nhục
Trang 22thể, một l nh vực rất riêng của đời sống cá nhân Miêu tả những yếu tố tự nhiên, bản năng sống c ng là một khía cạnh nhân bản của văn học
Bên cạnh các tiểu thuyết viết về chiến tranh, tiểu thuyết viết về các vấn
đề đời thường, tiểu thuyết lịch sử trong thời kì này c ng có sự đổi mới rõ rệt
Trong u Ly, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã cố gắng đưa lịch sử gần
với đời thường, nhưng trong tác phẩm vẫn có bóng dáng của huyền thoại, thứ huyền thoại thuộc về những bí ẩn trong tâm hồn con người Đó là cách để nhà văn mở lối, d ng yếu tố kì ảo, những huyền thoại đó là con đường để nhà văn
đi vào đời sống tâm linh của con người
Thời kì này còn có tiểu thuyết tự truyện như: Nguyễn Khải với hượng
đ th cười, Mạc Can với ấm v n ph ng dao… Tiểu thuyết tự truyện được
xây dựng trên cơ sở những biến cố, sự kiện hơặc những tính cách, thậm chí những chi tiết rất riêng trong cuộc sống đời tư của nhà văn được thể hiện một cách tự nhiên trong tác phẩm Tuy nhiên, vẫn có sự hư cấu, mô phỏng những
sự kiện, biến cố trong tiểu sử cuộc đời của nhà văn, có khi chỉ là những hồi ức của nhà văn được thể hiện trong tác phẩm
Trong đời sống văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng, lực lượng sáng tác của thời kì này chủ yếu là các cây bút trong nước Tuy nhiên, bên cạnh đó
c ng có một số sáng tác của những cây bút hải ngoại, làm phong phú thêm
cho đời sống văn học như: hinatown, mất t ch, Paris th ng của Thuận, i t thời huất m t của Lê Minh Hà… Nội dung tác phẩm văn học
hải ngoại đóng góp tiếng nói mới trong đời sống văn học, giúp chúng ta hiểu thêm về cuộc sống của người Việt tại nước ngoài và những cái nhìn mới về đời sống trong nước
Gần đây, Ma Văn Kháng có các tiểu thuyết ng đêm (2011), n bờ
(2011), là những tác phẩm có cách thể hiện mới mẻ, sử dụng nghệ thuật tự sự
khá đa dạng ng đêm và n bờ là tiểu thuyết luận đề, đề tài về vấn đề an
Trang 23ninh trật tự Tuy nhiên, trong các tác phẩm này, trọng tâm miêu tả của Ma Văn Kháng chính là thế giới tinh thần phức tạp, bí ẩn của con người Tác giả
đi sâu vào đời sống tình cảm, những mối quan hệ đ p đẽ của người chiến s công an như tình đồng nghiệp, tình yêu lứa đôi
So sánh với đầu thời kì đổi mới, tiểu thuyết thiên về đổi mới nội dung,
đề tài, thì những năm đầu thế kỉ XXI tiểu thuyết hướng tới đổi mới bút pháp
tự sự Tiểu thuyết Việt Nam thời kì này, đi vào những xu hướng khác nhau,
có xu hướng vẫn bám sát thể loại truyền thống về cách viết coi trọng nội dung hiện thực và tổ chức cốt truyện mạch lạc đơn giản nhưng lại đổi mới về nghệ thuật trần thuật Bên cạnh đó có xu hướng đổi mới cách viết theo tinh thần hậu hiện đại, là những tiểu thuyết ngắn, tiểu thuyết huyền thoại - triết luận, huyền thoại trào lộng và dạng tiểu thuyết thể nghiệm mô hình trò chơi Tiểu thuyết thời kì này với cách gọi của giới văn chương hiện thời là có cảm quan
“hậu hiện đại”
Các nhà tiểu thuyết quan tâm đến những cách thể nghiệm mới trong lối viết, làm lạ hóa cách viết hơn là chú trọng cốt truyện các tác phẩm Về nội dung cốt truyện, các tác phẩm chú tâm vào những vấn đề rất mới, gần với cuộc sống hiện đại, kể cả những tác phẩm viết bám theo lối truyền thống Về dung lượng, tiểu thuyết thời kì này c ng theo xu hướng ngắn hơn, ph hợp hơn với điều kiện của người đọc hiện đại Về cốt truyện c ng phóng khoáng, không theo cấu trúc chặt chẽ như trước, chất trữ tình trong tác phẩm dường như c ng đang lấn át chất tự sự Trong tiểu thuyết có thiên hướng tập trung đi sâu vào khai thác chiều sâu thế giới tâm hồn con người Cách kết thúc trong tác phẩm c ng khác thường đặc biệt, ở trong một số tác phẩm có kết cấu mở,
để người đọc trong trạng thái tự phán đoán, khám phá, suy tưởng, hoài nghi… Yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức biểu hiện trong rất nhiều tác phẩm đặc biệt là tiểu thuyết, kì ảo trong việc phản ánh hiện thực, miêu tả nhân
Trang 24vật, tình tiết, chi tiết Ngôn ngữ biểu hiện vì thế c ng mang đậm yếu tố chủ quan, gây ấn tượng mạnh mẽ Hình ảnh và giọng điệu trong tiểu thuyết c ng rất phong phú, sinh động và bất ngờ Trong tiểu thuyết, gia tăng yếu tố trào lộng, giễu nhại Từ sự thay đổi về hình thức biểu hiện cuộc sống và con người, nên tiểu thuyết thời kì này xây dựng được nhiều kiểu nhân vật khác nhau, mặc d trong tác phẩm có khi rất ít về số lượng nhân vật Các cây bút văn xuôi với ý thức cách tân nghệ thuật, đổi mới tư duy tiểu thuyết đã nỗ lực sáng tạo nhằm biểu đạt cuộc sống và tâm hồn con người thời đại
Quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam từ thời kì đổi mới cho đến nay
là một giai đoạn phát triển rất sôi động, mạnh mẽ trên hầu khắp các thể loại
Tiểu thuyết thực sự trở thành thể loại xung kích đi đầu, là “máy cái của nền
văn học” [68, tr 405] Các tác phẩm ra đời trong thời kì này đã thể hiện tính
đa chiều trong phản ánh hiện thực cuộc sống với những bộn bề phức tạp của
nó Số phận con người trở thành vấn đề nổi lên hàng đầu, được các nhà văn khai thác, đào sâu với những tìm tòi chưa từng được thể hiện rõ trong văn chương Con người với tất cả các mặt tốt - xấu, cao thượng - thấp hèn… những gì thuộc bản năng sống của con người đều được tiểu thuyết phản ánh một cách chân thực, sinh động, có chiều sâu Trong các tác phẩm, tác giả thể hiện những trăn trở, suy tư về xã hội, về con người Tiểu thuyết đã trở thành những bức tranh hiện thực đời sống muôn hình, muôn vẻ, với nhiều cảnh đời,
số phận khác nhau
Tiểu thuyết thời kì này có sự thay đổi tư duy nghệ thuật của nhà văn Đó
là một “bước ngoặt trong hệ hình thức nhà văn” [6, tr.11] Quan niệm nghệ
thuật về thế giới và con người đã thay đổi rõ rệt Con người được nhìn nhận, đánh giá theo nhiều chiều: con người của lịch sử, chiến tranh, con người trong
sự hòa nhịp với đời sống tự nhiên và các mối quan hệ xã hội, con người tha hóa, con người tự vấn… Tiểu thuyết đương đại hôm nay gần g i cuộc sống và con người hơn, với những biến động phức tạp của nền kinh tế thị trường
Trang 25Nhờ sự thay đổi quan niệm về con người như vậy, nhà văn đã phản ánh các vấn đề cuộc sống theo hướng đa chiều Cấu trúc nghệ thuật của tiểu thuyết đã có những thay đổi sáng tạo, những thử nghiệm mới mẻ, đa dạng hóa các kiểu nhân vật, mở rộng khả năng khám phá nhiều mặt trong con người Nhờ vậy, nhà văn đã đi sâu khám phá thế giới bên trong đầy bí ẩn, phức tạp của con người
Như vậy, chúng ta thấy tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thời kì đổi mới đến nay, đã trải qua một chặng đường thay đổi mạnh mẽ, c ng có lúc chững lại, nhưng cơ bản tiểu thuyết vẫn đang trên đà phát triển với những tiến bộ không ngừng cả về nội dung đề tài và nhất là khát vọng cách tân mạnh mẽ về hình thức thể hiện Tiểu thuyết Việt Nam thời kì này đã dần dần khẳng định được
vị trí riêng của mình trên con đường hiện đại hóa văn học Trong đà phát triển chung của văn học, tiểu thuyết vận động theo khuynh hướng dân chủ hóa, đổi mới quan niệm về văn học, về con người, phát huy cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn với những tìm tòi, thể nghiệm mới Tiểu thuyết thời kì này đang vươn lên với nhiều giá trị đặc sắc và có dấu ấn đậm nét trong toàn bộ tiến trình hiện đại hóa văn học Tiểu thuyết đã khẳng định một bước tiến mới để hội nhập với văn học của thế giới
1.2 Tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn
1.2.1 Luật đời và cha con (2005)
Trong sự phát triển không ngừng của tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI, sự xuất hiện của tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn được coi như một hiện tượng khá độc đáo, đặc biệt là ở nội dung đề tài Tiểu thuyết của ông là tiểu thuyết luận
đề chính trị - xã hội, với tác phẩm đầu tay Luật đời và cha con (2005), đã để lại dấu ấn trong sự nghiệp sáng tác của ông Sau đó, tiểu thuyết Lửa đắng (2008) là sự tiếp nối Luật đời và cha con về nội dung đề tài, c ng như hệ
thống nhân vật
Trang 26Tiểu thuyết luận đề (Problem novel) là “loại hình tiểu thuyết thông qua
nhân vật và sự kiện trình bày một vấn đề chủ yếu, hầu như qua mỗi tình tiết đều nêu ra một vấn đề” [65, tr 319] Tính luận đề của tác phẩm gắn với đề tài
và chủ đề Phạm vi hiện thực được nhà văn chọn lựa và miêu tả, thể hiện, tạo thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm Đó c ng là cơ sở để nhà văn đặt ra những vấn đề đời sống cần được quan tâm
Soi chiếu vào hai tác phẩm trên ta thấy rõ tính luận đề được nhà văn đề cập đến các vấn đề như: chuyện gia đình, chuyện thế hệ, chuyện tình yêu và
chuyện cơ chế “Chuyện thay đ i cơ chế là nội dung đáng bàn nhất” [23, tr 20] Theo tác giả Công Minh: “Tác giả không giấu diếm tính luận đề của cuốn tiểu
thuyết về đề tài xã hội chính trị của mình hông ngại ngần động chạm đến những vấn đề bức xúc, nóng b ng của đời sống xã hội chính trị trong thiết chế hôm nay, thậm chí có vấn đề c n mang tính thời sự, chính trị nữa” [47]
Trong tiểu thuyết Luật đời và cha con (2005), tác phẩm đã được dựng
thành phim truyền hình 26 tập - bộ phim được bình chọn là hay nhất năm
2007, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn muốn thông qua những biến cố của một gia đình ba thế hệ trong suốt nửa thế kỉ, từ thời cải cách ruộng đất đến thời kì kinh tế thị trường đầy những biến động, để nói về số phận những con người trong cái guồng máy xã hội ấy Tác phẩm thực sự đã gây được một tiếng vang
lớn, d nó còn có những hạn chế nhất định Phạm Ngọc Tiến đã viết: “Văn
đàn 2005 có một số sự kiện, trong đó có “Luật đời và cha con”, hai mươi năm trước có Nguy n ạnh Tuấn với lao Tràm, bây giờ có Nguy n Bắc Sơn với Luật đời và cha con” [79] Tác phẩm viết về đề tài được coi là nhạy
cảm là đời sống chính trị, xã hội, con người nên ít có những nghiên cứu sâu
về nó
Nguyễn Bắc Sơn là người đầu tiên khai thác đề tài cơ chế, vốn rất nhạy bén, nóng bỏng, ít được đề cập trong văn chương Nhà văn đã d ng ngòi bút
Trang 27sắc sảo của mình khắc họa được những bức tranh về các vấn đề xã hội, thời đại, con người, cái tốt, cái xấu đan xen nhau Đó là những cảnh đời, nỗi đời, những số phận với biết bao thăng trầm tất yếu của cuộc đời này Theo nhà
thơ, đạo diễn điện ảnh Đỗ Minh Tuấn: “Luật đời và cha con là cuốn tiểu
thuyết Việt Nam đầu tiên m xẻ sự vận động của toàn xã hội Trong quá trình
đ i thay cơ chế, một sự vận động đụng chạm đến từng gia đình, từng số
phận Luật đời và cha con là cuốn tiểu thuyết tình ái và chính trị - gai góc
và sinh động, một bước cố gắng thể hiện những vấn đề của cuộc sống và con người hiện đại góc nhìn mới mang tính luận đề, một cái nhìn trực diện về những di n biến theo hướng suy đồi của xã hội hôm nay và chia sẻ những khó khăn của những người lãnh đạo có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và năng lực mới” [84]
Luật đời và cha con c ng là một tiểu thuyết có tính chất dự báo Bức
tranh trong tác phẩm là sự dự báo, cảnh báo về nguy cơ xuống cấp của văn hóa, thuần phong m tục Đó c ng là những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đất nước và kìm hãm sự phát triển của xã hội Cảnh báo nguy cơ sự rạn nứt của gia đình truyền thống tốt đ p của người Việt Nam Trong văn học Việt
Nam, những tác phẩm mang tính chất dự báo một cách trực tiếp như Luật đời
và cha con là rất ít Trong tác phẩm các mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, tình ái… được thể hiện trong sự chằng chịt, móc xích với nhau tạo nên bức tranh về cơ chế muôn màu, muôn vẻ đa dạng
Hữu Thỉnh đã viết về tác phẩm này: “Nhà tiểu thuyết xông th ng vào
những vấn đề nóng b ng, thậm chí có thể mạo hiểm của cuộc sống hiện tại Tác phẩm của nhà văn Bắc ơn đã thành công về mặt thể loại”[73] Nhà văn
Nguyễn Bắc Sơn đã đi theo một hướng riêng rất sắc sảo, phản ánh các vấn đề
xã hội thông qua hình tượng nghệ thuật, nêu lên những bất cập của cơ chế, sự vênh lệch giữa lý luận và thực tiễn đời sống Chuyện cơ chế là rất phức tạp,
Trang 28khó khăn, vì nó đụng đến cả nền tảng gia đình, xã hội và đến những số phận của con người
Nguyễn Bắc Sơn là người có “vốn sống kh ng lồ”[32], ông đã từng trải
nghiệm cuộc sống một cách sâu sắc Trên các trang viết của Nguyễn Bắc Sơn thể hiện sự nhạy cảm sâu sắc với các mối quan hệ gia đình, xã hội, phản ánh khá chính xác những mối quan hệ đa chiều từ thời bao cấp đến khi đất nước
bước sang cơ chế thị trường Trong tác phẩm Luật đời và cha con, hệ thống
nhân vật với những mối quan hệ, c ng như cách cấu trúc tiểu thuyết khá hợp
lí, ph hợp với nội dung và sự phát triển tâm lí nhân vật
Câu chuyện của tiểu thuyết Luật đời và cha con xoay quanh gia đình
ông Lê Hòe, một gia đình công chức khá điển hình cho lớp cán bộ đương thời Gia đình ông nhìn bề ngoài là một gia đình mẫu mực, sản phẩm đích thực của cách mạng, trưởng thành từ cách mạng, trong cách mạng và thành đạt trong thời kì đổi mới Xoay quanh trục thế hệ bố - con - cháu trong một gia đình công chức thành phố với những câu chuyện bi hài, Nguyễn Bắc Sơn muốn cho độc giả thấy con đường hình thành, phát triển và biến động của những thế hệ nối tiếp của xã hội trong khoảng thời gian năm mươi năm Cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư kết hợp với các chủ đề thế sự, con người được đặt trong vận hành cơ chế của đời sống với mọi thăng trầm trong đường đời là một trong những nét nổi bật của tác phẩm
1.2.2 Lửa đắng (2008)
Tiểu thuyết Lửa đắng kế thừa tuyến nhân vật c của cuốn tiểu thuyết
Luật đời và cha con, vừa mở rộng thêm nhiều nhân vật khác và đã chuyển
hướng sang chủ đề mới Tác phẩm vượt xa hơn so với Luật đời và cha con,
không chỉ là những vấn đề cá nhân, hôn nhân, gia đình mà còn mạnh dạn đề cập tới đề tài chính trị xã hội ở nhiều bình diện, l nh vực như: cơ chế, thể chế, cải cách hành chính, việc thay đổi cải tiến những cái đã trở nên c k , lạc hậu,
Trang 29không còn ph hợp với sự phát triển chung của xã hội Kéo theo nó, là những vấn đề xung quanh không kém phần gai góc như tham nh ng, hối lộ, bầu cử, chạy chức chạy quyền, vấn đề dân chủ và cả những tổn thất của những người làm báo trong cuộc đấu tranh xây dựng cơ chế mới C ng hướng tới miêu tả cuộc đấu tranh nhằm giải quyết xung đột giữa cái c và cái mới, cụ thể là
cuộc đấu tranh để đổi mới tư duy, thay đổi cách ngh , nhưng Luật đời và cha
con tập trung vào cuộc xung đột và việc giải quyết xung đột giữa các thế hệ,
còn Lửa đắng xoay quanh luận đề về cải cách hành chính
Hai cuốn tiểu thuyết Luật đời và cha con và Lửa đắng c ng chọn một
bối cảnh, c ng một dàn nhân vật, c ng khắc họa cuộc sống ở một thành phố
v ng đồng bằng trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nói một cách
khác, thời kỳ đổi mới còn đang ở dạng phác thảo Có thể nói Lửa đắng là cuốn tiểu thuyết thứ hai trong bộ tác phẩm Luật đời mà tác giả ấp ủ xây dựng Trong tiểu thuyết Lửa đắng, nhà văn đã “th ng tay m xẻ những nhân
vật thuộc các cơ quan công quyền và đoàn thể, những người nằm trong cơ chế, đang vận hành cơ chế và vi phạm cơ chế” [23, tr 47] Thông qua hai
tuyến nhân vật: chính diện và tha hóa, Lửa đắng đã xây dựng được một cuộc
chiến vừa công khai, vừa âm thầm giữa cái c và cái mới, giữa những kẻ cản đường và những người đang tiến lên để xây dựng xã hội Qua tiểu thuyết, nhà
văn như dự báo những vấn đề sẽ xảy ra trong đời sống Tiểu thuyết Lửa đắng
là cuốn tiểu thuyết viết về đời sống hiện đại với sự lộng hành của cái ác và đồng tiền đang làm tha hóa một bộ phận xã hội Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã
d ng cảm khi đi vào một đề tài sát thực với cuộc sống đương đại, mang tính thời sự nóng bỏng hiện nay Tuy nhiên, khi đọc tác phẩm vẫn không làm độc giả mất niềm tin vào cuộc đời
Trong Lửa đắng, tác giả tiếp tục kể chuyện về những nhân vật trong
Luật đời và cha con, nhưng có thêm nhiều nhân vật mới, đề cập đến các vấn đề
Trang 30về chuyển đổi cơ chế quản lý và lãnh đạo một cách tập trung và quyết liệt hơn Tác giả theo đuổi chủ đề “nhất thể hóa” trong hệ thống chính trị, mà Trần Kiên
là nhân vật đại diện Những vấn đề chính trị được nhà văn đề cập tới qua hai
cuốn tiểu thuyết Luật đời và cha con và Lửa đắng là: “văn hóa đảng và vấn đề
nhất thể hóa chức danh để tăng hiệu lực cầm quyền” [23, tr 24]
Với Lửa đắng, lần đầu tiên trong văn xuôi Việt Nam đã xuất hiện nhóm
nhân vật gồm những người ở vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta, trong đó nổi lên bốn nhân vật là Tổng Bí thư ông Trân, Bí thư Thành ủy mới, ông Thụ - Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa và một nhân vật khá độc đáo, nhân vật “Cụ” Nhân vật này chỉ thấp thoáng nhưng khiến người đọc phải suy ngh Khác với hình tượng lãnh tụ, các nhân vật lãnh đạo thường xuất hiện thoáng qua nhằm nhấn mạnh, minh họa cho một tư tưởng nào đó trong khá nhiều tác
phẩm điện ảnh, sân khấu, văn xuôi Nguyễn Lê Bách Nguyên, trong chương
trình giới thiệu tiểu thuyết Lửa đắng tại Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông
Tây nhận xét: “Tiểu thuyết này trên hai phương diện: thích và không thích
Thích Lửa đắng vì: Lửa đắng xông th ng vào những vấn đề bức xúc, nóng
b ng Tác phẩm xây dựng hình tượng những nhân vật lãnh đạo cao cấp lần đầu tiên xuất hiện trong tiểu thuyết Việt Nam Tác phẩm có tính hiện thực cao
và cuốn tiểu thuyết có tính chất dự báo C n ông không thích là lời cuối sách
là không cần thiết, có vẻ rào đón, che chắn” [23, tr 7]
Trong tác phẩm, tác giả cho ta hình dung sự sắp xếp nhân sự còn diễn
ra quyết liệt, khẩn trương ở cấp thành phố và trên cả thành phố Tất cả những xáo trộn ấy là sự xáo trộn, chuyển đổi tất nhiên của những cá nhân trong một
cơ chế mới, hệ thống tổ chức mới trong thời kì đổi mới Không thể có một dàn nhân sự hoàn hảo trong một hệ thống tổ chức còn bất hợp lí Cuộc sống đòi hỏi phải tiến tới sự hợp lí và nhất định sẽ tiến tới sự hợp lí, cho d đó chỉ
là cái đích không bao giờ hoàn toàn đạt được Đó là điều tác giả muốn nhắn
gửi tới người đọc và đó c ng là tính luận đề ẩn sâu trong Lửa đắng
Trang 31Còn tác giả Đoàn Ánh Dương cho rằng: “Tiền đề của cả hai tiểu thuyết,
trước hết vẫn là các vấn đề của loại tiểu thuyết thế - sự - đạo - đức Cái làm nên sự khác biệt của tiểu thuyết Nguy n Bắc ơn chính là chỗ, từ cái diện
ấy, nhà văn đi sâu vào một điểm, thực ra là một kết hợp: đạo đức và chính trị
ột vấn đề nhạy cảm và nóng b ng” [15, tr 120,121]
Nhà văn Ma Văn Kháng nói về nhà văn Nguyễn Bắc Sơn: “Nguy n
Bắc ơn rất am hiểu nhiều mặt, kể cả các mặt trái, mặt tối tăm của cuộc sống hôm nay nh thông thạo đến chi li, ngóc ngách của mọi mặt đời sống, từ cao sang đến tầm thường, kể cả các chuyện vặt vãnh trong thường nhật, thậm chí nhiều khoản mục đạt đến mức quái kiệt [32]
Một nhà văn mới nổi, một cái tên mới có chỗ đứng trên văn đàn Việt Nam mà có được những lời nhận xét như vậy Có lẽ, xuất phát từ sức hút của
những tác phẩm độc đáo của ông, từ tâm huyết của “nhà văn trẻ” đầu bạc
Nguyễn Bắc Sơn với cuộc đời
Cái hấp dẫn trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn chính là chất hiện thực nóng bỏng, phản ánh những vấn đề rất gần g i với cuộc sống hôm nay Nhà văn còn mổ xẻ, phân tích cả những nguyên nhân của sự rạn nứt các giá trị, các mối quan hệ tốt đ p truyền thống của người Việt Nam Nhà văn đã
d ng cảm đi thẳng vào các vấn đề có tính chất thời sự chính trị xã hội mà ít người dám đề cập trong văn chương
1.2.3 p iu (2013)
Đến tiểu thuyết p iu (2013), c ng là tiểu thuyết luận đề bàn về
vấn đề quản lí văn hóa Bên cạnh đề tài chính trị xã hội, tác phẩm chuyển hướng sang đề tài tâm lí xã hội, đi sâu vào số phận con người trong sự biến động phức tạp của xã hội Đó là những nguy cơ rạn nứt, đổ vỡ của các giá trị
truyền thống là gia đình, đạo đức… Về nghệ thuật tự sự, cơ bản p iu
vẫn được viết theo cách truyền thống Tuy nhiên, tác phẩm có sự tiến bộ vượt
Trang 32xa hai tiểu thuyết trước, ngòi bút già dặn hơn Dường như tác giả có ý thức hơn trong việc đổi mới trong cách viết theo xu hướng chung của thời đại Trong tiểu thuyết, xoay quanh số phận nhân vật T ng, một nhà báo tâm huyết là cả một sợi dây vô hình bị chi phối bởi quyền lực, của âm mưu, tha hóa và dục vọng ham muốn thân xác và địa vị Tất cả các cung bậc cảm xúc được đưa vào tác phẩm nhuần nhuyễn, trong cách viết hấp dẫn, lôi cuốn,
ấn tượng Cái đ p và cái xấu được lý giải trong tác phẩm của ông theo cách
nhìn triết học, biện chứng, và lôgic
Nguyễn Bắc Sơn với gần hai mươi đầu sách viết về giáo dục, về ngôn ngữ, văn hóa hoặc báo chí, xuất bản hay những tập bút ký và nhất là ba cuốn
tiểu thuyết Luật đời và cha con (2005), Lửa đắng (2008), p iu (2013)
đều là văn chương đích thực, đều đáng để bạn đọc trân trọng vì tính hiện thực, tính đời của nó Ba tiểu thuyết trên đều có lối viết dựa trên những nguyên tắc truyền thống của tiểu thuyết cổ điển, bao quát các mối quan hệ đa chiều của
hệ thống nhân vật, tạo thành những trường đoạn kể hoặc hồi ức
Ba tiểu thuyết trên của Nguyễn Bắc Sơn còn mang đậm chất phóng sự, phản ánh những mảng hiện thực hết sức chân thực, sinh động của đời sống và con người Những cảnh đời, con người rất gần g i quen thuộc, cả những thân phận bé nhỏ sống trong bóng tối Chất liệu của tác phẩm mang đậm tính thời
sự, là những vấn đề nóng hổi, thường nhật của cuộc sống, đặc biệt là l nh vực chính trị xã hội Một trong những đặc trưng tiêu biểu của tiểu thuyết ở
phương diện thể loại là “gần sự sống” (Thạch Lam) Tuy nhiên, nhân vật của
ông không hoàn toàn tr ng khít với đời sống, nhân vật phong phú, phức tạp
đa diện hơn Chất phóng sự nhưng được thể hiện thông qua tư duy nghệ thuật, chứ không hoàn toàn là bản pho to về cuộc đời Trong tiểu thuyết, toàn bộ diễn biến của câu chuyện như đang dồn đến cái điểm nút hiện tại và hiện tại vẫn đang ở dạng vận động như chính đời sống Đó c ng là đặc điểm chung
Trang 33của tiểu thuyết đương đại Vì vậy, ba tiểu thuyết của ông vừa hấp dẫn, sinh động, vừa có sức khái quát về cuộc sống qua những hình tượng nghệ thuật Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn thấm đẫm nỗi niềm, là sự thôi thúc, dồn nén tư tưởng, tình cảm từ bên trong không kìm giữ được, đòi hỏi phải cất lên thành lời Tiểu thuyết của ông đã là “sự thực ở đời” Văn chương không chỉ là chuyện k thuật sáng tác mà còn chính là cuộc đời của người cầm bút Văn chương nghệ thuật phải phát hiện, tìm tòi sáng tạo ra
được những cái mới mẻ, độc đáo, “Văn chương chỉ dung nạp những người
biết đào sâu, tìm t i, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao) Có như vậy nhà văn mới tìm thấy chính mình và tạo
được chỗ đứng vững chắc trên hành trình sáng tạo nghệ thuật
Nhìn một cách khái quát về sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn ở các thể loại khác nói chung và tiểu thuyết nói riêng, có thể nói nhà văn đã có những đóng góp đáng kể về việc phản ánh hiện thực thông qua cách viết mới mẻ, sinh động và tài hoa, với sự trải đời, vốn sống rất phong phú Ông viết tiểu thuyết luận đề về các vấn đề xã hội, đặc biệt đi sâu ở l nh vực văn hóa Các sáng tác của ông tạo nên một cá tính sáng tạo độc đáo, một phong cách riêng rất mới
mẻ Những đóng góp của Nguyễn Bắc Sơn đã được ghi nhận ở các giải
thưởng rất vinh dự cho các tiểu thuyết Luật đời và cha con và Lửa đắng của nhà văn Tiểu thuyết p iu (2013) tuy mới xuất bản nhưng đã được
người đọc nhiệt tình đón nhận và tạo được một làn sóng dư luận trong giới
phê bình văn học Hi vọng tác phẩm p iu của ông sẽ nhận được vị trí
xứng đáng trong giải thưởng của cuộc dự thi tiểu thuyết lần thứ IV của Hội Nhà văn Việt Nam (2008-2014)
Trang 34Chương 2 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT GÃ TÉP RIU
2.1 Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của tác phẩm nghệ thuật Điểm nhìn thể hiện sự chú ý quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Điểm nhìn được hiểu là vị trí
và cự ly của người trần thuật lựa chọn quan sát, nhận thức và đánh giá hiện
thực trong tác phẩm Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “ iểm nhìn là vị
trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm iểm nhìn nghệ thuật có thể hiểu là điểm rơi của cái nhìn khách thể iểm nhìn nghệ thuật biểu hiện qua các phương tiện nghệ thuật, ngôi kể, cách xưng gọi
sự vật, cách dùng từ ngữ, kiểu câu iểm nhìn cung cấp một phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc điểm phong cách trong đó” [22, tr 113]
Điểm nhìn thể hiện vị trí người kể dựa vào để quan sát trần thuật các nhân vật và sự kiện Người kể chuyện chỉ có thể kể được những điều họ cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy trong không gian và thời gian Xác định đúng điểm nhìn, tạo cho người đọc cái thế nhìn sâu, nhìn xa, đưa họ đến sự nhận thức và cảm thụ mà nhà văn muốn đạt được Để có thể sáng tạo được tác phẩm văn học, nhà văn phải xác định được điểm nhìn của mình, tức phải tạo ra mối
quan hệ giữa người sáng tạo với cái được sáng tạo, “ iá trị của sáng tạo nghệ
thuật một phần không nh là do đem lại cho người thư ng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống ự đ i thay của nghệ thuật bắt đầu từ đ i thay điểm nhìn” [22, tr 113]
Trang 35Còn Trần Đình Sử quan niệm về điểm nhìn: “Nó không chỉ là điểm
nhìn thuần túy quang học mà c n mang nội dung quan điểm, lập trường tư
tư ng” [62, tr 149] và “ iểm nhìn là vị trí của chủ thể trong không gian, thời gian, thể hiện phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, đặc điểm của khách thể nhìn” [62, tr 150] Thông qua điểm nhìn, người kể chuyện có thể giao
tiếp với người đọc, người đọc tiếp nhận và khám phá những lớp ý ngh a của tác phẩm văn học Trong tác phẩm, nhà văn nếu biết sử dụng linh hoạt các điểm nhìn trần thuật sẽ tạo nên sự hấp dẫn, sinh động
Nghiên cứu điểm nhìn nghệ thuật là một thao tác hướng tới việc tìm hiểu phương thức tiếp cận của nhà văn với hiện thực c ng như cách thức nhà
văn lựa chọn, xác lập triển khai mô hình tổ chức tác phẩm “Nghiên cứu thi
pháp tác giả tức là nghiên cứu cái nhìn, cách nhìn, cách cảm thụ văn học của chủ thể” [61, tr 83] Tìm hiểu đúng về điểm nhìn trần thuật, sẽ góp phần nắm
được tinh thần cơ bản, tư tưởng của tác phẩm văn học Nhà văn lựa chọn một điểm nhìn tức là lựa chọn chỗ đứng để quan sát, suy ngẫm và phản ánh các vấn đề của cuộc sống Qua điểm nhìn đó, nhà văn thể hiện thái độ, tinh thần
và tư tưởng trong sáng tác
Trong tác phẩm văn học truyền thống hầu hết chỉ có một người kể với một điểm nhìn duy nhất Nhưng trong văn học hiện đại, khuynh hướng tự sự nổi bật nhất là tự sự “di động điểm nhìn” tạo nên một sự biến chuyển linh hoạt trong truyện kể Trong quá trình trần thuật, điểm nhìn nhiều khi không hoàn toàn tách biệt nhau mà phối hợp, luân phiên nhau trong một hệ thống trần thuật phức tạp Điểm nhìn được chuyển từ người kể chuyện sang nhân vật, từ nhân vật này sang nhân vật khác, mở rộng khả năng bao quát, đánh giá của trần thuật
Nghiên cứu về phương diện “nghệ thuật tự sự” trong tiểu thuyết
p iu của Nguyễn Bắc Sơn, chúng tôi nhận thấy sức hấp dẫn của tác phẩm
Trang 36không phải ở những thể nghiệm, cách tân táo bạo của các thủ pháp nghệ thuật,
mà nhờ việc tác giả đã thổi hồn vào lối kể truyền thống bằng giọng văn “tươi
r ng sự sống” [33] Điều này một phần được tạo ra từ việc lựa chọn điểm
nhìn, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, sự dịch chuyển điểm nhìn trong trần thuật
2 Điểm nh n bên trong, điểm nh n bên ngoài
2.1.1.1 iểm nhìn bên trong
Điểm nhìn bên trong là điểm nhìn được đặt vào bên trong nhân vật Nhà văn đặt điểm nhìn trong nhân vật để thể hiện những suy ngẫm, tiếng nói riêng của nhân vật Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật Nhân vật tự nói lên suy ngh của mình, tự mổ xẻ tâm lý mình và kể chuyện Người trần thuật có thể là nhân vật, có thể là cái nhìn của người kể chuyện hoàn toàn
tr ng với một nhân vật nào đó trong truyện Điểm nhìn bên trong tức là nhìn với nhân vật, đây là cái nhìn mang tính chủ quan đã được nhân vật hóa Lựa chọn điểm nhìn bên trong, người viết dễ dàng thâm nhập vào đời sống nội tâm nhân vật, vào thế giới của câu chuyện tạo nên ở độc giả những cảm giác trực tiếp, gần g i với thế giới nhân vật, khiến độc giả không có cảm giác đang nghe kể mà đang được chứng kiến trực tiếp
Trong tiểu thuyết p iu, điểm nhìn bên trong thể hiện qua cái
nhìn của các nhân vật chính của truyện (T ng và Dự), chủ yếu qua cái nhìn của T ng, tức là kể chuyện ở ngôi thứ ba, đây c ng là cách kể truyền thống Nhân vật tự cảm nhận và đánh giá qua lời trần thuật tự thuật Trong chương một của truyện, đoạn thể hiện tâm trạng và suy ngh của T ng khi thấy vợ lên nhanh Đó là những suy ngh và những lời tự bình luận của T ng,
“Thấy vợ lên nhanh quá, Tùng cũng chờn chợn Vừa mừng vừa lo Nhưng thú
thật là lo hơn là mừng” [59, tr 17] Hay trong đoạn: “ hông biết bí thư đoàn
Trang 37chỗ khác thế nào, chứ bí thư đoàn vợ anh, cứ như con chuồn chuồn ớt Trông thì đẹp mã đấy, chỗ nào cũng bay tới, cong cái đuôi, chấm xuống nước một tí rồi bay đi ngay Cuộc vui nào trong quận, vợ Tùng cũng có mặt iống như hạt tiêu trong bát ph Thật ra, có cũng được mà không có cũng xong Có chỉ cho đẹp đội hình” [59, tr 17, 18] Lời kể xen những suy ngh đánh giá, bình
luận về công việc của vợ và nhân tình thế thái “Người đời, khôn quá cũng
chết, dại quá cũng chết Tài quá cũng chết, dốt quá cũng chết Tất nhiên là thằng dại, thằng dốt chết nhiều hơn” [59, tr 19]
Qua lời tự thuật của nhân vật, câu chuyện được tái hiện sinh động theo diễn biến tâm trạng, suy ngh , liên tưởng phong phú Toàn bộ chương hai, được kể từ điểm nhìn của T ng, câu chuyện được kể có chuyện của hiện tại,
có chuyện của hồi tưởng quá khứ Từ hồi tưởng, kí ức, nên câu chuyện được
kể ngắn gọn có lựa chọn Có đoạn đầy tâm trạng và suy ngh của nhân vật, đặc biệt những đoạn hồi tưởng câu chuyện rất chân thực như đang hiện ra trước mắt người đọc Hồi ức mà sinh động có lẽ c ng là đặc điểm khá nổi bật trong truyện của Nguyễn Bắc Sơn
Lời kể của nhân vật được thể hiện tự nhiên, như lời bộc bạch suy ngh
về các vấn đề của thời thế Nửa đầu chương năm là lời kể của chính T ng về câu chuyện công việc của vợ và xen những lời nhận xét về cuộc đời Chương sáu c ng được kể qua lời của T ng Câu chuyện khi T ng tiếp vị khách bất ngờ đến cơ quan để thuyết phục T ng giữ cương vị Quản lí báo chí Đoạn truyện mang tâm trạng hồi hộp chờ đợi của T ng Cách kể qua tâm lí của nhân vật T ng, một người hiểu đời và pha lẫn tâm lí đầy tự hào, tự tin của người trí thức có bản l nh và tài năng Cách kể qua điểm nhìn như vậy khiến người đọc có cảm giác như hòa vào câu chuyện của nhân vật Với điểm nhìn như vậy người kể đang nhập thân c ng nhân vật, sống với tâm trạng, cảm xúc của nhân vật Người đọc có thể khám phá, trải nghiệm và suy ngẫm c ng nhân vật
Trang 38Mở đầu chương tám, người kể dẫn người đọc vào những suy ngh , nhận
xét của nhân vật T ng: “Tùng biết vợ mình c n hạn chế về phương pháp tư
duy uy nghĩ máy móc, nhận thức cảm tính nên hay làm theo tâm lí đám đông Vì thế anh hay giảng giải chuyện này, chuyện khác cho vợ dưới dạng kể chuyện” [59, tr 69] Với cái nhìn, suy ngh như vậy, lời kể mang đậm cảm
nhận, đánh giá của nhân vật trong truyện
Đặc biệt trong chương mười, đoạn truyện kể việc T ng nhớ đến con với những dòng nhật kí, người kể như nhập tâm vào dòng cảm xúc đầy xúc động
của T ng: “ uốt bu i sáng ấy, Tùng không làm được việc gì ến đọc báo cũng
không tập trung được Những d ng chữ học tr non nớt trong nhật k con cứ hiện lên mồn một…” [59, tr 80] Đó là lời tự thuật, tự cảm của nhân vật, là cái
nhìn từ bên trong của nhân vật trong truyện, nên rất chân thực, giàu sức lôi cuốn, tạo được sự đồng cảm ở người đọc Lời người kể chuyện là người tham
dự vào câu chuyện, dễ gây xúc động và độ tin cậy cao cho người đọc
Điểm nhìn bên trong qua cái nhìn của nhân vật trong một số đoạn truyện được thể hiện chân thực, tưởng như là lời kể khách quan, nhưng thực chất là cái nhìn chủ quan của nhân vật tham gia vào câu chuyện Ở chương hai mươi, tình cảm vợ chồng của T ng và Thủy đang xấu đi, mâu thuẫn về quan niệm và nhận thức với các vấn đề của cuộc sống Toàn bộ chương truyện là những đối thoại đấu khẩu lạnh l ng, đầy lí lẽ, thiếu tình và không có
sự thỏa hiệp giữa hai vợ chồng, cuộc đấu khẩu ngày càng căng thẳng, không
gì hãm lại được Đoạn truyện được kể qua cái nhìn của nhân vật chính T ng
Tép iu, cái nhìn sắc sảo về những sai sót và bất hợp lí trong công việc vợ
anh phụ trách Lời kể vừa chân thực vừa mang đậm tính chủ quan, suy ngh của người trong cuộc, vừa là diễn biến của tình tiết vừa là cái nhìn của nhân vật trước hiện thực Thông qua điểm nhìn đó, thể hiện rõ tính cách và nhân cách của nhân vật
Trang 39Điểm nhìn bên trong c ng được thay đổi từ nhân vật này sang nhân vật khác Trong truyện không chỉ kể qua điểm nhìn của nhân vật T ng mà còn thể hiện ở các nhân vật khác Đặc biệt là trong những chương đoạn nhân vật Mai (Dự) tự kể chuyện cuộc đời riêng trong quá khứ, (chương mười bốn) Đặc biệt ở chương hai mươi mốt, điểm nhìn kết hợp với giọng điệu đã thể hiện một cách sâu sắc cá tính, tâm hồn và tính cách của nhân vật Lời kể với cái nhìn đầy uất ức, đau đớn xót xa và cả căm hận của nhân vật về sự bạc bẽo, dối trá của cuộc đời Đó là sự nhập thân của người kể vào nhân vật, để nhìn
cuộc đời: “Tại mày làm ra cái điều lịch sự với một tay chơi có đ ng cấp,
nhiều tiền nhưng đểu giả, lươn lẹo, lắt léo, lừa lọc, lão luyện, lọc lõi C n mày lại là con nai vàng ngơ ngác, con th non ngu ngơ, con nghé tơ ngờ nghệch, con bê con ngốc nghếch, con ngố trăm phần trăm Văn chương mày
mê là chưng cất, là toát yếu cuộc đời, nhưng văn chương đâu phải là cuộc đời
hả ai” [59, tr 176] Điểm nhìn bên trong biểu hiện qua những dòng cảm
xúc của nhân vật tự giãi bày Đằng sau điểm nhìn đó, là thái độ cảm thông, xót xa của chính nhà văn với nhân vật
2.1.1.2 iểm nhìn bên ngoài
Trong p iu, điểm nhìn trần thuật bên ngoài chiếm tỉ lệ lớn, gần
như thống l nh tác phẩm Điểm nhìn bên ngoài là điểm nhìn khách quan nhất,
là điểm nhìn của người kể đứng bên ngoài câu chuyện, có thể là cái nhìn toàn tri, tức là biết hết câu chuyện để quan sát và trần thuật Với điểm nhìn bên ngoài kết hợp với kết cấu thời gian, câu chuyện được kể vừa tự nhiên vừa là cái nhìn khái quát, với một góc độ của người đứng ngoài chuyện để quan sát, suy ngẫm, bao quát, có khi triết lí về cuộc đời Điểm nhìn bên ngoài chiếm ưu thế là nỗ lực từ bỏ lối viết truyền thống, tạo sự khách quan, kích thích người đọc đồng sáng tạo với người viết Qua kết quả mà chúng tôi thống kê thì thấy điểm nhìn của người trần thuật được thể hiện hầu hết ở các chương truyện
Trang 40Còn điểm nhìn bên trong chỉ thể hiện trong những đoạn cụ thể, xen kẽ và chiếm tỉ lệ ít hơn trong truyện Trong truyện, bắt đầu từ chương mở đầu cho đến chương cuối c ng, truyện chủ yếu được kể từ cái nhìn khách quan của người kể chuyện Tức là câu chuyện được trần thuật chủ yếu qua điểm nhìn từ bên ngoài Trong phần mở đầu truyện mang tính dẫn chuyện, điểm nhìn tập trung của người kể chuyện, tức điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn bên ngoài là cái nhìn khách quan, trung tính ghi lại hiện thực như nó vốn có Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị trí bên ngoài có khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật Lựa chọn điểm nhìn bên ngoài, tác giả đã tạo ra một khoảng cách nhất định đối với nhân vật và sự kiện được miêu tả Nhà văn cố gắng tối đa trong việc giảm sự can thiệp của mình vào tác phẩm, tạo cho độc giả độ tin cậy cao vào những sự kiện chân thực, chính xác Như vậy, bức tranh đời sống c ng được miêu tả ở nhiều khía cạnh phong phú, đa dạng
Trong tác phẩm có nhiều đoạn tưởng như là điểm nhìn của người kể đặt vào nhân vật, nhưng thực chất lại là suy ngh , bình giá, cảm nhận của người kể với điểm nhìn bên ngoài Đó là những đúc kết thật đáng buồn về một thực trạng
như một quy luật: “ i cũng có bí mật của mình, đường đi riêng của mình Trên
thế giới, c kim đông tây, chuyện những người đàn bà dùng nhan sắc làm vũ khí để đạt mục đích không bao giờ kể hết Trong ba mươi sáu kế, ch ng phải có
m nhân kế là gì” [59, tr 38] “Chính vì năng lực không đi đôi với quyền lực nên Thủy cứ phải gồng mình lên, cái gì cũng quá sức” [59, tr 40] Hay ở trong
những đoạn truyện kể về những cuộc đấu tranh căng thẳng, có lúc như đối đầu giữa T ng và các đối tác bị T ng tìm ra những yếu kém, kẽ hở và bất cập trong công tác quản lý, đặc biệt trong l nh vực quản lý văn hóa
Với điểm nhìn bên ngoài, nhà văn không đảm trách nhiệm vụ bồi da đắp thịt mà chỉ phác họa lại những gì nghe, cảm và thẩm thấu Hiện thực cuộc