Naèm treân ñöôøng giao thöông chính giöõa Ñoâng vaø Taây. Soâng Meâkoâng baét nguoàn töø Taây Taïng chaûy qua Thaùi Lan, Laøo, Campuchia, Vieät Nam laø giao thoâng thuûy thuaän lôïi quan troïng giöõa Trung Quoác, AÁn Ñoä(beân caïnh ñöôøng bieån vaø ñöôøng boä), töø ñoù lieân heä vôùi Trung Caän Ñoâng vaø La maõ coå ñaïi.
Trang 1KIẾN TRÚC CAMPUCHIA I/ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
II/ KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
II.1/ TỪ TK I-VI II.2/ TỪ TK VI-VII II.3/ TỪ TK IX-XII
Trang 2I/ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
I.1- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN :
Nằm trên đường giao
thương chính giữa
Đông và Tây Sông
Mêkông bắt nguồn từ
Tây Tạng chảy qua
Thái Lan, Lào,
Campuchia, Việt Nam
là giao thông thủy
thuận lợi quan trọng
giữa Trung Quốc, Ấn
Độ(bên cạnh đường
biển và đường bộ), từ
đó liên hệ với Trung
Cận Đông và La mã cổ
đại.
Trang 3 Có nhiều rừng,
phía Bắc và phía
Tây có nhiều núi
đá sa thạch, cẩm
thạch
Trang 4I.2- LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA :
* Lịch sử xã hội :
Từ đầu thế kỷ I – thế kỷ VII : Thời kỳ của vương quốc Phù Nam hùng mạnh, văn hóa nghệ thuật ảnh hưởng mạnh mẽ văn hóa Ấn Độ.
Hiện tại chưa khẳng định được chủ nhân của Phù Nam là
ai
Cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII : Phù Nam tan rã.
Từ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII: Nhà nước phong kiến đầu tiên là Chân lạp ra đời Đất nước với thủ đô là Ysanapura và 30 thành phố khác
Đây là thời kỳ hình thành những định hướng đầu tiên cho nền kiến trúc Khơ me
Cuối thế kỷ VIII, nhà nước phong kiến đầu tiên tan ra.õ Đất nước chia thành hai miền Bắc_Nam (Lục Chân lạp và
Thủy Chân lạp).
Trang 5 Từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIII: thế kỷ IX đất nước
thống nhất lập ra triều đại Aêngco
Thời kỳ này có tên gọi là văn minh Angco chia 3 giai đọan :
+ Thế kỷ IX – X : Thời kỳ tiền Ăngco: xuất hiện yếu tố mới trong xã hội :vương triều kết hợp với thần
quyền.
+ Thế kỷ X – XII: Thời kỳ cổ điển: là thời kỳ cực
thịnh của đế quốc Ăngco , nghệ thuật kiến trúc phát triển huy hoàng.
+ Thế kỷ XII – XIII : Thời kỳ suy tàn của đế quốc
Angco.
Sau thời kỳ này, nghệ thuật Campuchia suy thoái
dần.
Trang 6• * Văn hóa :
Người Khơ me xưa đã có phong tục thờ cúng thần linh.
Đầu công nguyên, do ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ : Phật giáo và Ấn Độ giáo phát triển trở thành quốc giáo Ấn Độ giáo thờ thần với biểu tượng Linga, Phật giáo lấy truyền thuyết khuấy động biển sữûa tìm thuốc trường sinh, rắn thần Naga và núi vũ trụ Mêru (tudi tọa) là nơi ngự trị của các vị thần để làm tư tưởng chính xây dựng những kiến trúc đền thờ.
Nghệ thuật Khơ me là nền nghệ thuật tuyệt vời bậc nhất
Đông Nam Á, được nghiên cứu một cách có hệ thống nhất
Các nhà khoa học không ngừng quan tâm nghiên cứu
không chỉ vì tiếng tăm của những công trình lớn như các di tích thời Ăngco mà còn vì nó có sự tiến hóa đặc biệt logic và gần như không có mâu thuẫn Nhờ sự phát triển liên tục
của cả một tổng thể những phong cách mà ngày nay, người
ta có thể tái lập lại lịch sử nghệ thuật Khơ me và xác định niên đại của các tác phẩm gần chính xác.
Trang 7II/ KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
II.1- TỪ THẾ KỶ I– THẾ KỶ VII
II.2- TỪ THẾ KỶ VII –THẾ KỶ VIII
II.3- KIẾN TRÚC CAMPUCHIA TỪ THẾ KỶ IX – THẾ KỶ XIII
Trang 8II.1- TỪ THẾ KỶ I– THẾ KỶ VII:
Các nhà nghiên cứu cho rằng, các phế tích kiến trúc cổ nhất
ở Đông Nam Á khai quật được phần lớn thuộc văn hóa Phù Nam hoặc thuộc nhà nước Môn cổ Dvaravati.
So với các hiện vật nghệ thụât khác, di tích kiến trúc thời kỳ này hầu như không còn Ở Óùc Eo đã phát hiện ra nhiều
chân cọc thuộc những ngôi nhà sàn xưa Một số vết tích của những kiến trúc bằng vật liệu bền (vùng này gạch đá hiếm) cũng được phát hiện, phần lớn là các kiến trúc thờ thần
thánh với các đặc điểm kiến trúc và trang trí giống kiến trúc Nam và Trung Ấn Độ Tuy nhiên, các kiến trúc này cũng
bộc lộ một khía cạnh mới rất bản địa ở kỹ thuật ghép đá.
Hiện đã tìm thấy hơn 20 tượng Phật (hơn một nửa bằng vật liệu đá, còn lại là bằng gỗ ) thuộc giai đoạn này, với phong cách mang đậm dấu ấn Phật giáo Ấn Độ Tượng thần Ấn Độ giáo cũng chiếm lượng lớn – thường là thần Visnu, anh em của thần này và các hóa thân của thần – có 4,6,8 tay Các tượng này to bằng người thật và chạm khắc cẩn thận.
Trang 9II.2- KIẾN TRÚC CAMPUCHIA TỪ THẾ KỶ VII –THẾ KỶ VIII :
Nghệ thuật Khơ me thời kỳ này hình thành, phát triển và suy tàn cùng với sự khô cạn của nguồn “viện trợ” từ Ấn Độ.
Đây là thời kỳ Siva giáo trở nên quan trọng và tục thờ
Linga trở nên thịnh hành.
Đây là thời kỳ hình thành những định hướng đầu tiên cho nền kiến trúc Khơ me.
Trang 10II.2.1- ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC :
Các điện thờ là “dinh thự” của thần linh (vị thần
“cư ngụ” dưới dạng tượng thờ), không phải là nơi tín đồ tụ họp cầu nguyện Không gian bên trong các điện thờ chật hẹp gồm hàng lọat kiến trúc tách biệt : 1
tháp thờ chính, các điện thờ phụ, toàn bộ được bao
quanh bằng tường có cổng vào.
Đền thờ là hình ảnh biểu thị tín ngưỡng, trong đó các
vị thần được coi như ngự trị ở trung tâm thế giới trên núi Mêru Vì vậy, “tòa nhà hạ giới” của các thần
phải có bố cục chặt chẽ, hướng tâm và đặt theo trục, mô phỏng núi vũ trụ Mêru Các cửa chính của điện thờ đặt về phía Đông - nơi mặt trời mọc và nguồn gốc của sự sống.
Trang 11 Ý niệm Đền - Núi và hướng tâm trùng hợp với các thánh thức của hệ thống triết học tôn giáo Ấn Độ nhưng ở Cam puchia lại phát triển mạnh mẽ tạo nên những hình hài kiến trúc kỳ vĩ
Việc dùng giải pháp kỹ thuật của gỗ vào đá đã gây
ra hiệu ứng 2 mặt: vừa tạo được vẻ tinh tế cực kỳ ở các đường nét và trang trí nhưng mặt khác lại
phản khoa học về mặt kết cấu công trình Các đền đài, ngay cả Ăngco Vat về sau đã phải trả giá:
nhiều mảng trần,tường bị sụp; do kiểu liên kết của kết cấu gỗ không chịu đựng được sức nặng của
đá Ngoài ra, người ta còn dùng gạch được trát
vữa để trang trí như kiểu khắc gỗ và dùng sa thạch làm giả bộ sườn gỗ như trụ cửa, mi cửa Việc đẽo, gọt, ghép đều theo kiểu mộc đã có tác hại không
nhỏ đến công trình kiến trúc.
Trang 12II.2.2- CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU :
* Các prasat bằng
gạch
Trang 15* SAMBOR PREI –KUK
Đây là một tổng thể
kiến trúc lớn đầu tiên
bằng gạch của Chân
lạp, gồm 3 nhóm tháp
chính : nhóm phía
Bắc, nhóm phía Nam
và nhóm ở giữa
Cả ba nhóm tháp đều
có chung tính chất :
tháp chính ở trung
tâm, có tường bao bọc
xung quanh, trên trục
chính Đông - Tây có
tháp cổng.
Trang 16Sambor Preikuk có 3 giá trị lớn:
Giá trị về mặt qui mô: lần đầu tiên, các prasat ở Campuchia tập họp lại thành quần thể
Giá trị về trang trí- là giá trị chủ yếu của Sambor
Giá trị về mặt lịch sử: đánh dấu sự hình thành những định hướng đầu tiên cho nền kiến trúc Campuchia
Trang 17Nhóm tháp phía Nam :
là nhóm đẹp nhất (thể hiện
giá trị trang trí của
Sambor) có 2 lớp tường
hình chữ nhật bao bọc,
giữa có ngọn tháp chính
bằng gạch hình chữ nhật,
có 5 ngọn tháp nhỏ hình
bát giác vây quanh Bia ký
nói trong tháp chính có
chứa 1 “Siva tươi cười”
nhưng nay đã mất Giữa
cạnh các tường rào trên
trục chính có tháp cổng
với chân móng cao, thân
tường có bổå trụ được nhấn
mạnh bằng phần trang trí
Trên cùng là mái hình
thuyền.
Trang 18Nhóm tháp nam Sambor:
Trang 19Mi cửa trên tháp của Nam Sambor được trang trí theo kiểu vật liệu gỗ
Trang 20Trang trí trên các mi
cửa và cột – trụ
tường của nhóm
tháp Nam Sambor
Preikuk
Trang 21Nhóm tháp phía Bắc :
Thể hiện sự hình
thành những định
hướng cơ bản cho
những ngôi đền -núi
Campuchia với đặc
điểm bố trí theo lối ngũ
điểm: tháp chính ở
giữa cao nhất, 4 tháp 4
góc, tất cả đều trên bệ
Bố cục lối ngũ điểm sẽ
ngày càng hòan chỉnh
trong các quần thể về
sau và trở thành
khuynh hướng thống
nhất của đền đài
Campuchia
Các tháp cổng trên
trục chính xuất hiện và
ngày càng hoàn thiện.
Trang 22II.3- KIẾN TRÚC CAMPUCHIA TỪ THẾ KỶ
IX – THẾ KỶ XIII :
Thời kỳ này mang tên thời kỳ văn minh Aêng co
Ở Campuchia có tục thờ Hari - Hara: một hình tượng
thần Ấn Độ giáo được “tổng hợp” từ thần Siva và cả
Visnu.
Trang 25II.3.1- GIAI ĐOẠN 1 : THỜI KỲ TIỀN ĂNGCO (thế kỷ IX- X)
Thời kỳ Ăngco đánh dấu bằng việc trở về từ Java của vua Jayavarman II Ông đã sống khá lâu dưới triều vua núi Sailendra ở Java-Indonexia Đầu tiên, ông lập thủ đô ở Indrapura Sau đo,ù năm 802 xây dựng thủ đô ở Mahendraparvata trên vùng núi
Kulen – nơi được coi là chỗ ở của các vị thần linh,
ý nghĩa biểu dương mình như các triều vua núi
Java.
Jayavarman II đã thiết lập một hình tượng tôn giáo mới là thờ thần cũng là thờ vua - thống nhất sức mạnh vương quyền với thần quyền
Trang 26 Hệ tư tưởng này đã hình thành nên tín ngưỡng độc đáo của người Khơ me: tín ngưỡng thần – vua
(Devaraja) được bảo lưu và truyền từ đời này qua
đời khác Từ đó, hình thành thể loại kiến trúc đền
- núi nổi tiếng của người Khơ me
Đền- núi thể hiện núi vũ trụ Meru - là trung tâm của quốc gia và cũng là nơi ngự trị của các vị thần Trong đền , Linga là biểu tượng vương quyền của nhà vua, đặt ở trung tâm đền Ngoài chức năng tín ngưỡng, ngôi đền còn có chức năng kinh tế do các hệ thống hào nước bao quanh vừa biểu tượng cho các đại dương xung quanh núi Meru vừa là một hệ thống tưới và thoát nước cho đồng ruộng.
Trang 27CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU :
+ ĐỀN BAKONG : Xd năm 881 tại trung tâm thủ đô Hariharalaia
do vua Indravarman (cháu của JayavarmanII) khởi xướng.
quả núi nhân tạo
bằng đá ong, mặt
ngoài phủ sa
thạch, có 3 vòng
tường bao quanh
Vòng tường ngoài
Trang 28 Đền chính được dựng
trên một nền kim tự tháp
đá ong 5 tầng cạnh đáy
65mx67m và 20mx18m
ở đỉnh Nền thượng lát
đá cao 14m Khối tháp
chính nằm ở trung tâm
có mặt bằng hình
vuông.Các tháp đều có
cửa quay về hướng
Đông
Đặc biệt, ở đền Bakong
còn có một số phòng
phụ được kéo dài nằm ở
sân trong cùng đối xứng
qua trục Đông -Tây, sau
này phát triển thành
những dãy hành lang
bao quanh đền thay
tường
Trang 29 Hiện điện thờ
trên cùng đã mất.
Lần đầu tiên
trong kiến trúc
Khơ me, trên các
trục chính và
giữa các tường
rào có các kiến
trúc kiểu cổng
phòng -tháp
cổng, 2 bên lan
can lối vào chính
là hình tượng rắn
Naga nhiều đầu
Hào nước bao
quanh công trình
được nối với hệ
thống thủy nông
thuộc thủ đô.
Trang 30+ PHNOM BAKHENG :
Xd vào cuối thế kỷ IX ở trung tâm thủ đô mới là Iasoharapura do con trai vua Indravarman khởi xướng.
Công trình là đền thờ
quốc gia được làm
hoàn toàn bằng đá sa
thạch mang sắc thái
hoàn toàn khác so với
các prasat (tháp đặc
xây bằng gạch) thời kỳ
Aêngco và là công trình
tiêu biểu cho giai đoạn
này.
Trang 31
Lần đầu tiên trong
kiến trúc kiểu đền
núi xuất hiện tháp
bằng đá có cấu trúc
5 tầng duyên dáng,
đỉnh hình hoa sen,
bình đồ nhiều cạnh
gần như tròn, trông
xa như một chồi
cây Kiểu kiến trúc
này được phát triển
và hoàn thiện thêm
vào các giai đoạn
sau.
Trang 32 Công trình được xây
dựng trên một quả đồi
thiên nhiên cao 60m,
được bao quanh bởi hào
và đập với chu vi 650m x
440m ;có bốn cổng xuyên
trục Đông-Tây, Nam-Bắc
dẫn tới đền
nhau Tầng nền dưới
cùng có kích thước 76m x
76m, tầng nền trên cùng
có kích thước
47mx47m ,nổi lên trên đó
là 5 ngọn tháp được bố trí
theo lối ngũ điểm: tháp
chính ở giữa, 4 tháp ở
bốn góc
nhỏ nằm trên các tầng
nền đối xứng qua các
trục và 46 tháp nằm
trong sân Các ngọn tháp
đều có hướng chính quay
sang hướng đông.
Trang 33Ý nghĩa tượng trưng của công trình:
là sự thể hiện cụ thể núi vũ trụ Mê ru gồm đại
dương bao quanh và 108 ngọn tháp bao quanh tháp chính ở trung tâm Từ mỗi phía nhìn vào chỉ thấy hiện lên 33 ngọn tháp biểu tượng cho 33 vị thần
ngự trị núi Mê ru theo thần thoại Ấn Độ.
là tấm lịch bằng đá khổng lồ của dân tộc Khơ me:
108 ngọn tháp là con số vũ trụ trong thần thoại Ấn Độ, phù hợp với 4 chu kỳ tuần trăng ( mỗi tuần
trăng là 27 ngày) là số tháng của một chu kỳ lịch.
Trang 34+ ĂNGCO PRERUP :
Xd vào năm 961 bởi vua Rajendravarman II
tại Aêngco (dời đô về Aêngco).
Thời kỳ xây
dựng vùng
Aêngco bắt
đầu từ quần
thể Pre Rup
này Việc xây
Trang 35 Là 1 kiến trúc
có 4 dãy bậc
cấp dẫn lên
đền chính.
Trang 36 Toàn bộ công trình
được bao bọc bởi tường
đá ong chu vi
120mx103m Bốn
hướng đều có 4 cổng
phòng dạng gopuram
Tầng nền thứ nhất có
12 tháp nhỏ được xây
dựng bằng gạch, phía
Đông có 2 tu viện đối
xứng nhau qua trục
Nam- Bắc.
Đặc biệt, xuất hiện các
công trình phụ ở dạng
các ngôi nhà dài tách
rời làm hành lang kín
vây quanh, mái lợp
ngói hoặc gỗ
Trang 37 Nhìn chung, kiến trúc quần thể công trình mang tính
hòanh tráng cao bởi sự hài hòa trong giải pháp mặt bằng cùng với sự tương phản màu sắc giữa đỏ sẫm và xám nhạt của đá sa thạch trên các ngọn tháp.
Cùng với Aêngco Prerup, nhà vua còn xây dựng hồ nước Đông Mebon để phục vụ tưới tiêu đồng ruộng.
Trang 38+ ĐỀN BANTAY SREI:
do một vị Bà la môn giáo là Yajnarvaraha x ây dựng
vào cuối thế kỷ X- vào khoảng năm 968.
Đây là một
công trình
được đánh
giá là vĩ đại
về điêu khắc
của kiến trúc
Khơme vào
thế kỷ thứ X
Trang 39tuyệt mỹ, phong
phú và sáng tạo
Kiến trúc lớn
nhất chỉ cao
9,3m; rộng
9,4mx9,4m, bao
quanh khu đền
là 3 vòng rào với
các cổng phòng
gopuram ở 4
hướng.
Trang 44 Công trình được mệnh danh là 1 “tràng hoa bằng đá” của nghệ thuật Khơ me, là mẫu mực của sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và điêu khắc.
Trang 45II.3.2/ GIAI ĐOẠN 2: THỜI KỲ CỔ ĐIỂN – THỜI KỲ ĂNGCO (từ thế kỷ X-thế kỷ XII):
Đặc điểm văn hóa xã hội:
Nhà nước Aêngco tập quyền đã đạt đến sự cực thịnh của nó: Đế quốc Aêngco hùng mạnh chiếm cả miền Đông Nam bán đảo Đông Dương, phía Tây chiếm cả vùng hạ lưu sông Mê Nam chảy qua Bangkok, phía Nam kéo dài đến eo biển
thuộc bán đảo Malaxka.
Đặc điểm kiến trúc:
Kiến trúc ngôi đền núi Khơ me đã phát triển đến mức độ hoàn chỉnh bao gồm các yếu tố: sự tổ hợp các tháp nhỏ, sự tập trung của dãy hành lang với các tháp góc, tháp cổng … Tổ hợp các tháp thường đứng trên 1 tầng nền nhân tạo như đỉnh núi.
Trang 46CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU:
+ĐỀN TAKEO: (xây dựng vào đầu thế kỷ XI)
Thập niên đầu thế kỷ XI, triều đại phong kiến Mặt Trời
do vua Suyarvarman I đứng đầu có uy lực xã hội và chính trị phát triển cao Ông đã cho xây dựng một số công trình được đánh giá là khởi đầu cho thời kỳ cổ điển của nghệ
thuật Khơme, tiêu biểu là đền Takeo.
Công trình được xem là đã pháp qui hóa những công thức mà người Khơ me tìm kiếm trong nhiều năm về kiến trúc đền núi
Trang 47Aêngco Takeo
Đền được xây dựng
hoàn toàn bằng sa
thạch với 5 ngọn tháp
theo lối ngũ điểm trên 2
tầng nền Nền dưới
nhô ra để che các bậïc
thang Các dãy hành
lang được nối liền với
nhau liên tục bao xung
quanh sân trong.
Trang 49+ ĐỀN ĂNGCO VAT:
Cuối thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XII là thời kỳ phát triển cao nhất, huy hoàng nhất của kiến trúc Khơ me với kiệt tác Ăngco Vat Đây là quần thể kiến trúc vĩ đại trong lịch sử nhân lọai nằm ở Đông nam Yasodharapura do vua
Suryavarman II xây dựng.
Trang 51xung quanh có
hào nước rộng
200m Đây là
kiến trúc đền
núi duy nhất ở
Khơ me có lối
vào chính ở
phía Tây.
Trang 53 Trục chính phía Tây được lát đá tảng sa thạch nặng 4-6 tấn.
Trang 54 Hình tượng
rắn Naga 7
đầu
Trang 55 Cổng chính được kéo
dài nối tiếp với hành
lang bên trong được bố
trí theo lối chữ thập tạo
thành 4 sân nhỏ, phía
ngoài xây tường bao
bọc Đây là 1 giải pháp
mang tính kiến tạo.
hình vuông 75mx75m
cao 25 m so vưới mặt
nền Tại đây đặt quan
tài của nhà vua Các
tháp còn lại đặt ở góc
Tất cả đưọc hoàn thiện
tinh vi với dáng mái
hình búp sen, trước đây
có giát vàng.
Trang 56 Công trình là một kim tự tháp có 4 tầng Tầng dưới cùng nền thoáng, 3 tầng trên có các dãy hành lang nối liền bao bọc Các thư viện nằm đối xứng qua trục chính.
Trang 57 Aêngco Vat đã kết hợp hài hòa những ngọn tháp cao vươn lên bầu trời với những hành lang yên tĩnh bên dưới Công trình còn là sự kết hợp hữu cơ giữa điêu khắc, trang trí và kiến trúc: điêu khắc Aêngco Vat đóng vai trò kiến tạo nhấn mạnh ý nghĩa của kiến trúc.