1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG - KIẾN TRÚC CAMPUCHIA

82 2,8K 58

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 25,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Naèm treân ñöôøng giao thöông chính giöõa Ñoâng vaø Taây. Soâng Meâkoâng baét nguoàn töø Taây Taïng chaûy qua Thaùi Lan, Laøo, Campuchia, Vieät Nam laø giao thoâng thuûy thuaän lôïi quan troïng giöõa Trung Quoác, AÁn Ñoä(beân caïnh ñöôøng bieån vaø ñöôøng boä), töø ñoù lieân heä vôùi Trung Caän Ñoâng vaø La maõ coå ñaïi.

Trang 1

KIẾN TRÚC CAMPUCHIA I/ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

II/ KIẾN TRÚC CAMPUCHIA

II.1/ TỪ TK I-VI II.2/ TỪ TK VI-VII II.3/ TỪ TK IX-XII

Trang 2

I/ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

I.1- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN :

Nằm trên đường giao

thương chính giữa

Đông và Tây Sông

Mêkông bắt nguồn từ

Tây Tạng chảy qua

Thái Lan, Lào,

Campuchia, Việt Nam

là giao thông thủy

thuận lợi quan trọng

giữa Trung Quốc, Ấn

Độ(bên cạnh đường

biển và đường bộ), từ

đó liên hệ với Trung

Cận Đông và La mã cổ

đại.

Trang 3

Có nhiều rừng,

phía Bắc và phía

Tây có nhiều núi

đá sa thạch, cẩm

thạch

Trang 4

I.2- LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA :

* Lịch sử xã hội :

Từ đầu thế kỷ I – thế kỷ VII : Thời kỳ của vương quốc Phù Nam hùng mạnh, văn hóa nghệ thuật ảnh hưởng mạnh mẽ văn hóa Ấn Độ.

Hiện tại chưa khẳng định được chủ nhân của Phù Nam là

ai

Cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII : Phù Nam tan rã.

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII: Nhà nước phong kiến đầu tiên là Chân lạp ra đời Đất nước với thủ đô là Ysanapura và 30 thành phố khác

Đây là thời kỳ hình thành những định hướng đầu tiên cho nền kiến trúc Khơ me

Cuối thế kỷ VIII, nhà nước phong kiến đầu tiên tan ra.õ Đất nước chia thành hai miền Bắc_Nam (Lục Chân lạp và

Thủy Chân lạp).

Trang 5

Từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIII: thế kỷ IX đất nước

thống nhất lập ra triều đại Aêngco

Thời kỳ này có tên gọi là văn minh Angco chia 3 giai đọan :

+ Thế kỷ IX – X : Thời kỳ tiền Ăngco: xuất hiện yếu tố mới trong xã hội :vương triều kết hợp với thần

quyền.

+ Thế kỷ X – XII: Thời kỳ cổ điển: là thời kỳ cực

thịnh của đế quốc Ăngco , nghệ thuật kiến trúc phát triển huy hoàng.

+ Thế kỷ XII – XIII : Thời kỳ suy tàn của đế quốc

Angco.

Sau thời kỳ này, nghệ thuật Campuchia suy thoái

dần.

Trang 6

* Văn hóa :

Người Khơ me xưa đã có phong tục thờ cúng thần linh.

Đầu công nguyên, do ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ : Phật giáo và Ấn Độ giáo phát triển trở thành quốc giáo Ấn Độ giáo thờ thần với biểu tượng Linga, Phật giáo lấy truyền thuyết khuấy động biển sữûa tìm thuốc trường sinh, rắn thần Naga và núi vũ trụ Mêru (tudi tọa) là nơi ngự trị của các vị thần để làm tư tưởng chính xây dựng những kiến trúc đền thờ.

Nghệ thuật Khơ me là nền nghệ thuật tuyệt vời bậc nhất

Đông Nam Á, được nghiên cứu một cách có hệ thống nhất

Các nhà khoa học không ngừng quan tâm nghiên cứu

không chỉ vì tiếng tăm của những công trình lớn như các di tích thời Ăngco mà còn vì nó có sự tiến hóa đặc biệt logic và gần như không có mâu thuẫn Nhờ sự phát triển liên tục

của cả một tổng thể những phong cách mà ngày nay, người

ta có thể tái lập lại lịch sử nghệ thuật Khơ me và xác định niên đại của các tác phẩm gần chính xác.

Trang 7

II/ KIẾN TRÚC CAMPUCHIA

II.1- TỪ THẾ KỶ I– THẾ KỶ VII

II.2- TỪ THẾ KỶ VII –THẾ KỶ VIII

II.3- KIẾN TRÚC CAMPUCHIA TỪ THẾ KỶ IX – THẾ KỶ XIII

Trang 8

II.1- TỪ THẾ KỶ I– THẾ KỶ VII:

Các nhà nghiên cứu cho rằng, các phế tích kiến trúc cổ nhất

ở Đông Nam Á khai quật được phần lớn thuộc văn hóa Phù Nam hoặc thuộc nhà nước Môn cổ Dvaravati.

So với các hiện vật nghệ thụât khác, di tích kiến trúc thời kỳ này hầu như không còn Ở Óùc Eo đã phát hiện ra nhiều

chân cọc thuộc những ngôi nhà sàn xưa Một số vết tích của những kiến trúc bằng vật liệu bền (vùng này gạch đá hiếm) cũng được phát hiện, phần lớn là các kiến trúc thờ thần

thánh với các đặc điểm kiến trúc và trang trí giống kiến trúc Nam và Trung Ấn Độ Tuy nhiên, các kiến trúc này cũng

bộc lộ một khía cạnh mới rất bản địa ở kỹ thuật ghép đá.

Hiện đã tìm thấy hơn 20 tượng Phật (hơn một nửa bằng vật liệu đá, còn lại là bằng gỗ ) thuộc giai đoạn này, với phong cách mang đậm dấu ấn Phật giáo Ấn Độ Tượng thần Ấn Độ giáo cũng chiếm lượng lớn – thường là thần Visnu, anh em của thần này và các hóa thân của thần – có 4,6,8 tay Các tượng này to bằng người thật và chạm khắc cẩn thận.

Trang 9

II.2- KIẾN TRÚC CAMPUCHIA TỪ THẾ KỶ VII –THẾ KỶ VIII :

Nghệ thuật Khơ me thời kỳ này hình thành, phát triển và suy tàn cùng với sự khô cạn của nguồn “viện trợ” từ Ấn Độ.

Đây là thời kỳ Siva giáo trở nên quan trọng và tục thờ

Linga trở nên thịnh hành.

Đây là thời kỳ hình thành những định hướng đầu tiên cho nền kiến trúc Khơ me.

Trang 10

II.2.1- ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC :

Các điện thờ là “dinh thự” của thần linh (vị thần

“cư ngụ” dưới dạng tượng thờ), không phải là nơi tín đồ tụ họp cầu nguyện Không gian bên trong các điện thờ chật hẹp gồm hàng lọat kiến trúc tách biệt : 1

tháp thờ chính, các điện thờ phụ, toàn bộ được bao

quanh bằng tường có cổng vào.

Đền thờ là hình ảnh biểu thị tín ngưỡng, trong đó các

vị thần được coi như ngự trị ở trung tâm thế giới trên núi Mêru Vì vậy, “tòa nhà hạ giới” của các thần

phải có bố cục chặt chẽ, hướng tâm và đặt theo trục, mô phỏng núi vũ trụ Mêru Các cửa chính của điện thờ đặt về phía Đông - nơi mặt trời mọc và nguồn gốc của sự sống.

Trang 11

Ý niệm Đền - Núi và hướng tâm trùng hợp với các thánh thức của hệ thống triết học tôn giáo Ấn Độ nhưng ở Cam puchia lại phát triển mạnh mẽ tạo nên những hình hài kiến trúc kỳ vĩ

Việc dùng giải pháp kỹ thuật của gỗ vào đá đã gây

ra hiệu ứng 2 mặt: vừa tạo được vẻ tinh tế cực kỳ ở các đường nét và trang trí nhưng mặt khác lại

phản khoa học về mặt kết cấu công trình Các đền đài, ngay cả Ăngco Vat về sau đã phải trả giá:

nhiều mảng trần,tường bị sụp; do kiểu liên kết của kết cấu gỗ không chịu đựng được sức nặng của

đá Ngoài ra, người ta còn dùng gạch được trát

vữa để trang trí như kiểu khắc gỗ và dùng sa thạch làm giả bộ sườn gỗ như trụ cửa, mi cửa Việc đẽo, gọt, ghép đều theo kiểu mộc đã có tác hại không

nhỏ đến công trình kiến trúc.

Trang 12

II.2.2- CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU :

* Các prasat bằng

gạch

Trang 15

* SAMBOR PREI –KUK

Đây là một tổng thể

kiến trúc lớn đầu tiên

bằng gạch của Chân

lạp, gồm 3 nhóm tháp

chính : nhóm phía

Bắc, nhóm phía Nam

và nhóm ở giữa

Cả ba nhóm tháp đều

có chung tính chất :

tháp chính ở trung

tâm, có tường bao bọc

xung quanh, trên trục

chính Đông - Tây có

tháp cổng.

Trang 16

Sambor Preikuk có 3 giá trị lớn:

Giá trị về mặt qui mô: lần đầu tiên, các prasat ở Campuchia tập họp lại thành quần thể

Giá trị về trang trí- là giá trị chủ yếu của Sambor

Giá trị về mặt lịch sử: đánh dấu sự hình thành những định hướng đầu tiên cho nền kiến trúc Campuchia

Trang 17

Nhóm tháp phía Nam :

là nhóm đẹp nhất (thể hiện

giá trị trang trí của

Sambor) có 2 lớp tường

hình chữ nhật bao bọc,

giữa có ngọn tháp chính

bằng gạch hình chữ nhật,

có 5 ngọn tháp nhỏ hình

bát giác vây quanh Bia ký

nói trong tháp chính có

chứa 1 “Siva tươi cười”

nhưng nay đã mất Giữa

cạnh các tường rào trên

trục chính có tháp cổng

với chân móng cao, thân

tường có bổå trụ được nhấn

mạnh bằng phần trang trí

Trên cùng là mái hình

thuyền.

Trang 18

Nhóm tháp nam Sambor:

Trang 19

Mi cửa trên tháp của Nam Sambor được trang trí theo kiểu vật liệu gỗ

Trang 20

Trang trí trên các mi

cửa và cột – trụ

tường của nhóm

tháp Nam Sambor

Preikuk

Trang 21

Nhóm tháp phía Bắc :

Thể hiện sự hình

thành những định

hướng cơ bản cho

những ngôi đền -núi

Campuchia với đặc

điểm bố trí theo lối ngũ

điểm: tháp chính ở

giữa cao nhất, 4 tháp 4

góc, tất cả đều trên bệ

Bố cục lối ngũ điểm sẽ

ngày càng hòan chỉnh

trong các quần thể về

sau và trở thành

khuynh hướng thống

nhất của đền đài

Campuchia

Các tháp cổng trên

trục chính xuất hiện và

ngày càng hoàn thiện.

Trang 22

II.3- KIẾN TRÚC CAMPUCHIA TỪ THẾ KỶ

IX – THẾ KỶ XIII :

Thời kỳ này mang tên thời kỳ văn minh Aêng co

Ở Campuchia có tục thờ Hari - Hara: một hình tượng

thần Ấn Độ giáo được “tổng hợp” từ thần Siva và cả

Visnu.

Trang 25

II.3.1- GIAI ĐOẠN 1 : THỜI KỲ TIỀN ĂNGCO (thế kỷ IX- X)

Thời kỳ Ăngco đánh dấu bằng việc trở về từ Java của vua Jayavarman II Ông đã sống khá lâu dưới triều vua núi Sailendra ở Java-Indonexia Đầu tiên, ông lập thủ đô ở Indrapura Sau đo,ù năm 802 xây dựng thủ đô ở Mahendraparvata trên vùng núi

Kulen – nơi được coi là chỗ ở của các vị thần linh,

ý nghĩa biểu dương mình như các triều vua núi

Java.

Jayavarman II đã thiết lập một hình tượng tôn giáo mới là thờ thần cũng là thờ vua - thống nhất sức mạnh vương quyền với thần quyền

Trang 26

Hệ tư tưởng này đã hình thành nên tín ngưỡng độc đáo của người Khơ me: tín ngưỡng thần – vua

(Devaraja) được bảo lưu và truyền từ đời này qua

đời khác Từ đó, hình thành thể loại kiến trúc đền

- núi nổi tiếng của người Khơ me

Đền- núi thể hiện núi vũ trụ Meru - là trung tâm của quốc gia và cũng là nơi ngự trị của các vị thần Trong đền , Linga là biểu tượng vương quyền của nhà vua, đặt ở trung tâm đền Ngoài chức năng tín ngưỡng, ngôi đền còn có chức năng kinh tế do các hệ thống hào nước bao quanh vừa biểu tượng cho các đại dương xung quanh núi Meru vừa là một hệ thống tưới và thoát nước cho đồng ruộng.

Trang 27

CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU :

+ ĐỀN BAKONG : Xd năm 881 tại trung tâm thủ đô Hariharalaia

do vua Indravarman (cháu của JayavarmanII) khởi xướng.

quả núi nhân tạo

bằng đá ong, mặt

ngoài phủ sa

thạch, có 3 vòng

tường bao quanh

Vòng tường ngoài

Trang 28

Đền chính được dựng

trên một nền kim tự tháp

đá ong 5 tầng cạnh đáy

65mx67m và 20mx18m

ở đỉnh Nền thượng lát

đá cao 14m Khối tháp

chính nằm ở trung tâm

có mặt bằng hình

vuông.Các tháp đều có

cửa quay về hướng

Đông

Đặc biệt, ở đền Bakong

còn có một số phòng

phụ được kéo dài nằm ở

sân trong cùng đối xứng

qua trục Đông -Tây, sau

này phát triển thành

những dãy hành lang

bao quanh đền thay

tường

Trang 29

Hiện điện thờ

trên cùng đã mất.

Lần đầu tiên

trong kiến trúc

Khơ me, trên các

trục chính và

giữa các tường

rào có các kiến

trúc kiểu cổng

phòng -tháp

cổng, 2 bên lan

can lối vào chính

là hình tượng rắn

Naga nhiều đầu

Hào nước bao

quanh công trình

được nối với hệ

thống thủy nông

thuộc thủ đô.

Trang 30

+ PHNOM BAKHENG :

Xd vào cuối thế kỷ IX ở trung tâm thủ đô mới là Iasoharapura do con trai vua Indravarman khởi xướng.

Công trình là đền thờ

quốc gia được làm

hoàn toàn bằng đá sa

thạch mang sắc thái

hoàn toàn khác so với

các prasat (tháp đặc

xây bằng gạch) thời kỳ

Aêngco và là công trình

tiêu biểu cho giai đoạn

này.

Trang 31

Lần đầu tiên trong

kiến trúc kiểu đền

núi xuất hiện tháp

bằng đá có cấu trúc

5 tầng duyên dáng,

đỉnh hình hoa sen,

bình đồ nhiều cạnh

gần như tròn, trông

xa như một chồi

cây Kiểu kiến trúc

này được phát triển

và hoàn thiện thêm

vào các giai đoạn

sau.

Trang 32

Công trình được xây

dựng trên một quả đồi

thiên nhiên cao 60m,

được bao quanh bởi hào

và đập với chu vi 650m x

440m ;có bốn cổng xuyên

trục Đông-Tây, Nam-Bắc

dẫn tới đền

nhau Tầng nền dưới

cùng có kích thước 76m x

76m, tầng nền trên cùng

có kích thước

47mx47m ,nổi lên trên đó

là 5 ngọn tháp được bố trí

theo lối ngũ điểm: tháp

chính ở giữa, 4 tháp ở

bốn góc

nhỏ nằm trên các tầng

nền đối xứng qua các

trục và 46 tháp nằm

trong sân Các ngọn tháp

đều có hướng chính quay

sang hướng đông.

Trang 33

Ý nghĩa tượng trưng của công trình:

là sự thể hiện cụ thể núi vũ trụ Mê ru gồm đại

dương bao quanh và 108 ngọn tháp bao quanh tháp chính ở trung tâm Từ mỗi phía nhìn vào chỉ thấy hiện lên 33 ngọn tháp biểu tượng cho 33 vị thần

ngự trị núi Mê ru theo thần thoại Ấn Độ.

là tấm lịch bằng đá khổng lồ của dân tộc Khơ me:

108 ngọn tháp là con số vũ trụ trong thần thoại Ấn Độ, phù hợp với 4 chu kỳ tuần trăng ( mỗi tuần

trăng là 27 ngày) là số tháng của một chu kỳ lịch.

Trang 34

+ ĂNGCO PRERUP :

Xd vào năm 961 bởi vua Rajendravarman II

tại Aêngco (dời đô về Aêngco).

Thời kỳ xây

dựng vùng

Aêngco bắt

đầu từ quần

thể Pre Rup

này Việc xây

Trang 35

Là 1 kiến trúc

có 4 dãy bậc

cấp dẫn lên

đền chính.

Trang 36

Toàn bộ công trình

được bao bọc bởi tường

đá ong chu vi

120mx103m Bốn

hướng đều có 4 cổng

phòng dạng gopuram

Tầng nền thứ nhất có

12 tháp nhỏ được xây

dựng bằng gạch, phía

Đông có 2 tu viện đối

xứng nhau qua trục

Nam- Bắc.

Đặc biệt, xuất hiện các

công trình phụ ở dạng

các ngôi nhà dài tách

rời làm hành lang kín

vây quanh, mái lợp

ngói hoặc gỗ

Trang 37

Nhìn chung, kiến trúc quần thể công trình mang tính

hòanh tráng cao bởi sự hài hòa trong giải pháp mặt bằng cùng với sự tương phản màu sắc giữa đỏ sẫm và xám nhạt của đá sa thạch trên các ngọn tháp.

Cùng với Aêngco Prerup, nhà vua còn xây dựng hồ nước Đông Mebon để phục vụ tưới tiêu đồng ruộng.

Trang 38

+ ĐỀN BANTAY SREI:

do một vị Bà la môn giáo là Yajnarvaraha x ây dựng

vào cuối thế kỷ X- vào khoảng năm 968.

Đây là một

công trình

được đánh

giá là vĩ đại

về điêu khắc

của kiến trúc

Khơme vào

thế kỷ thứ X

Trang 39

tuyệt mỹ, phong

phú và sáng tạo

Kiến trúc lớn

nhất chỉ cao

9,3m; rộng

9,4mx9,4m, bao

quanh khu đền

là 3 vòng rào với

các cổng phòng

gopuram ở 4

hướng.

Trang 44

Công trình được mệnh danh là 1 “tràng hoa bằng đá” của nghệ thuật Khơ me, là mẫu mực của sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và điêu khắc.

Trang 45

II.3.2/ GIAI ĐOẠN 2: THỜI KỲ CỔ ĐIỂN – THỜI KỲ ĂNGCO (từ thế kỷ X-thế kỷ XII):

Đặc điểm văn hóa xã hội:

Nhà nước Aêngco tập quyền đã đạt đến sự cực thịnh của nó: Đế quốc Aêngco hùng mạnh chiếm cả miền Đông Nam bán đảo Đông Dương, phía Tây chiếm cả vùng hạ lưu sông Mê Nam chảy qua Bangkok, phía Nam kéo dài đến eo biển

thuộc bán đảo Malaxka.

Đặc điểm kiến trúc:

Kiến trúc ngôi đền núi Khơ me đã phát triển đến mức độ hoàn chỉnh bao gồm các yếu tố: sự tổ hợp các tháp nhỏ, sự tập trung của dãy hành lang với các tháp góc, tháp cổng … Tổ hợp các tháp thường đứng trên 1 tầng nền nhân tạo như đỉnh núi.

Trang 46

CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU:

+ĐỀN TAKEO: (xây dựng vào đầu thế kỷ XI)

Thập niên đầu thế kỷ XI, triều đại phong kiến Mặt Trời

do vua Suyarvarman I đứng đầu có uy lực xã hội và chính trị phát triển cao Ông đã cho xây dựng một số công trình được đánh giá là khởi đầu cho thời kỳ cổ điển của nghệ

thuật Khơme, tiêu biểu là đền Takeo.

Công trình được xem là đã pháp qui hóa những công thức mà người Khơ me tìm kiếm trong nhiều năm về kiến trúc đền núi

Trang 47

Aêngco Takeo

Đền được xây dựng

hoàn toàn bằng sa

thạch với 5 ngọn tháp

theo lối ngũ điểm trên 2

tầng nền Nền dưới

nhô ra để che các bậïc

thang Các dãy hành

lang được nối liền với

nhau liên tục bao xung

quanh sân trong.

Trang 49

+ ĐỀN ĂNGCO VAT:

Cuối thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XII là thời kỳ phát triển cao nhất, huy hoàng nhất của kiến trúc Khơ me với kiệt tác Ăngco Vat Đây là quần thể kiến trúc vĩ đại trong lịch sử nhân lọai nằm ở Đông nam Yasodharapura do vua

Suryavarman II xây dựng.

Trang 51

xung quanh có

hào nước rộng

200m Đây là

kiến trúc đền

núi duy nhất ở

Khơ me có lối

vào chính ở

phía Tây.

Trang 53

Trục chính phía Tây được lát đá tảng sa thạch nặng 4-6 tấn.

Trang 54

Hình tượng

rắn Naga 7

đầu

Trang 55

Cổng chính được kéo

dài nối tiếp với hành

lang bên trong được bố

trí theo lối chữ thập tạo

thành 4 sân nhỏ, phía

ngoài xây tường bao

bọc Đây là 1 giải pháp

mang tính kiến tạo.

hình vuông 75mx75m

cao 25 m so vưới mặt

nền Tại đây đặt quan

tài của nhà vua Các

tháp còn lại đặt ở góc

Tất cả đưọc hoàn thiện

tinh vi với dáng mái

hình búp sen, trước đây

có giát vàng.

Trang 56

Công trình là một kim tự tháp có 4 tầng Tầng dưới cùng nền thoáng, 3 tầng trên có các dãy hành lang nối liền bao bọc Các thư viện nằm đối xứng qua trục chính.

Trang 57

Aêngco Vat đã kết hợp hài hòa những ngọn tháp cao vươn lên bầu trời với những hành lang yên tĩnh bên dưới Công trình còn là sự kết hợp hữu cơ giữa điêu khắc, trang trí và kiến trúc: điêu khắc Aêngco Vat đóng vai trò kiến tạo nhấn mạnh ý nghĩa của kiến trúc.

Ngày đăng: 08/09/2015, 12:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình chữ nhật bao bọc, - LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG - KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
Hình ch ữ nhật bao bọc, (Trang 17)
Hình kim tự - LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG - KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
Hình kim tự (Trang 35)
Hình vuoâng 75mx75m - LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG - KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
Hình vuo âng 75mx75m (Trang 55)
Hình bằng đá ở Bayon, - LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG - KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
Hình b ằng đá ở Bayon, (Trang 63)
Hình chữ thập bao quanh - LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG - KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
Hình ch ữ thập bao quanh (Trang 64)
Hình chữ thập bao quanh - LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG - KIẾN TRÚC CAMPUCHIA
Hình ch ữ thập bao quanh (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w