doanh nghiệp phải ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, quản lý và sử dụng tốt nguồn tài nguyên vật chất cũng như nhân lực của mình. Để thực hiện điều đó thì tự bản thân doanh nghiệp phải hiểu rõ được “tình trạng sức khỏe” của mình để điều chỉnh quá trình kinh doanh cho phù hợp, và không có gì khác hơn phản ánh một cách chính xác “sức khỏe” của doanh nghiệp ngoài tình hình tài chính. Có thể nói rằng tài chính như là dòng máu chảy trong cơ thể doanh nghiệp, mà bất kỳ sự ngưng trệ nào cũng ảnh hưởng xấu đến toàn bộ doanh nghiệp. Bởi vì, trong quá trình hoạt động từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, các vấn đều nảy sinh đều liên quan đến tài chính.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam từ hơn thập kỷ qua kéo theo sự thay đổi sâu sắc trong các doanh nghiệp và nhất là trong phương thức quản lý Đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tự do cạnh tranh, cùng với xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, tất yếu doanh nghiệp dù bất cứ loại hình nào cũng phải đối mặt với những khó khăn và thử thách và phải chấp nhận quy luật đào thải từ phía thị trường Thế thì doanh nghiệp phải làm gì để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt?
Đứng trước những thử thách đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, quản lý và sử dụng tốt nguồn tài nguyên vật chất cũng như nhân lực của mình
Để thực hiện điều đó thì tự bản thân doanh nghiệp phải hiểu rõ được
“tình trạng sức khỏe” của mình để điều chỉnh quá trình kinh doanh cho phù hợp, và không có gì khác hơn phản ánh một cách chính xác “sức khỏe” của doanh nghiệp ngoài tình hình tài chính Có thể nói rằng tài chính như là dòng máu chảy trong cơ thể doanh nghiệp, mà bất kỳ sự ngưng trệ nào cũng ảnh hưởng xấu đến toàn bộ doanh nghiệp Bởi vì, trong quá trình hoạt động từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, các vấn đều nảy sinh đều liên quan đến tài chính Hơn nữa, trong bối cảnh của nền kinh tế hiện nay, để kinh doanh ngày càng hiệu quả, tồn tại bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường thì mỗi doanh nghiệp phải xây dựng phương hướng, chiến lược kinh doanh và mục tiêu trong tương lai Đứng trước hàng loạt những chiến lược được đặt ra đồng thời doanh nghiệp phải đối diện với những rủi ro Do đó để lựa chọn những chiến lược phù hợp với nguồn lực của mình và hạn chế những rủi ro thì
tự bản thân doanh nghiệp phải thấy được những biến động về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp mình, trên cơ sở đ ó tiến hành hoạch định ngân
Trang 2sách tạo nguồn vốn cần thiết cho quá trình hoạt động kinh doanh Do vậy sau quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Kinh Tế và QTKD Thái Nguyên,kết hợp với thời gian thực tập tại công ty Cổ Phần Kết Cấu Thép cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô Trần Thị Ngọc Linh em đã lựa chọn
đề tài “phân tích tình hình tài chính tại công ty Cổ Phần Kết Cấu Thép Thái Nguyên” làm đề tài tốt nghiệp cuối khoá của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của vấn đề nghiên cứu là nhằm làm rõ thực trạng tài chính tại doanh nghiệp, để từ đó chỉ ra những điểm mạnh cũng diểm yếu còn hạn chế của công ty để từ đó có những hướng giải quyết cụ thể phù hợp với doanh nghiệp trong từng giai đoạn Bao gồm những nội dung sau:
- Phân tích và đánh giá tình hình tài chính của công ty
- Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tài chính doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích tài chính tại công ty Cổ Phần Kết Cấu
Thép Thái Nguyên trong 3 năm 2008 – 2009 – 2010
- Vấn đề được nghiên cứu trên góc độ của công ty
- Thời gian thực tập:
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp phân tích và tổng
hợp lý thuyết
Phương pháp thu thập thông tin:
- Điều tra thống kê: Thống kê các số liệu trong phòng kế toán và các phòng ban có liên quan để lấy được số liệu cần thiết cho vấn đề nghiên cứu
Trang 3- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn những người có trách nhiệm trong công ty để hiểu rõ tình hình hoạt động cũng như các mối quan hệ của công ty.
- Phương pháp trực quan: Tham quan các phòng làm việc, kho thị sát khu vực sản xuất để thu thập ghi chép lại thông tin cần thiết
Phương pháp xử lý và thể hiện thông tin:
Thông tin được xử lý lúc này là thông tin thứ cấp
- Xử lý bằng tay, máy tính tay đối với thông tin đơn giản
- Xử lý bằng máy tính đối với thông tin phức tạp
- Thể hiện qua bảng biểu, biểu thức toán học
5 Kết cấu khóa luận:
Khóa luận bao gồm 3 phần:
- Phần I: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính trong các doanh nghiệp
- Phần II: Phân tích và đánh giá về tình hình tài chính của công ty Cổ Phần Kết Cấu Thép Thái Nguyên
- Phần III: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính tại công ty Cổ Phần Kết Cấu Thép Thái Nguyên
Trang 4PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ tạo điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp có đầy đủ tư liệu sản xuất và sức lao động để doanh nghiệp không ngừng phát triển
Như vậy, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền
với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đặt tới mục tiêu của doanh nghiệp
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ Nói cách khác, trên giác độ kinh doanh vốn, hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn có hiệu quả
1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thân doanh nghiệp mà cả trong nền kinh tế, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia mà tại đây diễn ra quá trình sản xuất kinh doanh: đầu
tư, sản xuất, tiêu thụ và phân phối, trong đó sự chu chuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hóa
Trong hệ thống tài chính thì tài chính doanh nghiệp đóng vai trò như những tế bào có khả năng tái tạo hay còn gọi là cái gốc của nền tài chính Sự phát triển hay suy thoái của quá trình sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp đều có tác dụng trực tiếp tới nền kinh tế của đất nước
Trang 51.3 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.3.1 Khái niệm phân tích tình hình TCDN
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh
giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, qua đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài hcinhs của doanh nghiệp, để có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ
1.3.2 Mục đích và ý nghĩa của việc phân tích TCDN
1.3.2.1 Mục đích của việc phân tích TCDN
Lý do quan trọng để nhà quản trị quan tâm đến phân tích tài chính là nhằm thấy tổng quát, toàn diện về hiện trạng tài chính và hiệu quả hoạt động,
cụ thể là nhằm kiểm soát chi phí và khả năng sinh lời của vốn
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của các doanh nghiệp, các ngân hàng và thị trường vốn đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ thực sự có ích và vô cùng cần thiết
Thông qua việc tính toán các mối quan hệ tài sản, phân tích tài chính cho biết những điểm mạnh, điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai và các triển vọng của doanh nghiệp Xuất phát từ tình hình tài chính đó, nhà quản lý tài chính sẽ có những giải pháp cải thiện, phát triển tình hình tài chính doanh nghiệp trong tương lai bằng cách lập các dự báo và lập các ngân sách Không những thế, thông tin tài chính còn là mối quan tâm của nhiều đối tượng khác:
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Phân tích tài chính doanh nghiệp
giúp họ đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp trong giai đoạn đã qua như: tình hình thu chi, khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng vốn, khả năng sinh lợi và tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Trên
cơ sở đó giúp các nhà quản lý doanh nghiệp đề ra những quyết định quản lý phù hợp với tình hình doanh nghiệp như: Quyết định về đầu tư, tài trợ, phân
Trang 6phối lợi nhuận Bên cạnh đó phân tích tình hình tài chính còn là cơ sở ho dự đoán tài chính của các giai đoạn khác nhau.
Đối với nhà đầu tư: các nhà đầu tư là những người giao vốn của
mình cho doanh nghiệp (gồm các cổ đông, cá nhân và doanh nghiệp khác, ) Bởi vậy họ rất quan tâm đến các triển vọng hoạt động, giá trị của doanh nghiệp, đến cổ tức và giá trị sử dụng vốn Phân tích tình hình tài chính giúp các nhà đầu tư đánh giá doanh nghiệp, ước đoán giá trị cổ phiếu, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, mức độ rủi ro trong kinh doanh
Đối với nhà cung cấp: Doanh nghiệp là khách hàng của họ trong
hiện tại và tương lai Họ cần biết khả năng thanh toán có đúng hạn và đầy đủ của doanh nghiệp đối với món nợ hay không Từ đó đặt mối quan hệ lâu dài với doanh nghiệp hay từ chối quan hệ kinh doanh
Đối với người cho vay: Phân tích tình hình tài chính giúp cho họ
nhận biết được khả năng trả tiền lãi vay và vốn gốc Đối với những khaonr cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp Đối với khoản cho vay dài hạn, người cho vay sẽ cần phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp bởi việc hoàn trả vốn và lãi tùy thuộc vào khả năng sinh lời
Đối với người lao động: Đây là những người có thu nhập duy nhất
là tiền lương của doanh nghiệp trả Đối với công ty cổ phàn, ngài tiền lương được trả, người lao động còn có thể được hưởng lãi cô phần do góp vốn vào công ty Cả hai loại thu nhập này đều phụ thuộc vào kết quả hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tình hình tài chính giúp
họ định hướng việc làm ổn định của mình, trên cơ sở đó chuyên tam vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Đây là kênh thông tin cơ bản nhất giúp các cơ quan quản lý Nhà nước nắm được tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đưa ra các chính sách kinh tế phù hợp
Trang 7Như vây, bức tranh tài chính của doanh nghiệp rất sinh động, nó giúp cho những người quản lý ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu
và đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp
1.3.2.1 Ý nghĩa của việc phân tích TCDN
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, và có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kiềm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế cần phải thường xuyên, kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp Do đó phân tích tình hình tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng và nó có những ý nghĩa sau:
- Đối với doanh nghiệp: Nhờ quá trình phân tích tình hình tài chính ta mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp.Trên cơ
sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp củng cố tốt hơn hoạt động tài chính
- Đối với các tổ chức khác: Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ cho công tác quản lý của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của nhà nước, xem xét việc cho vay vốn…
1.3.3 Đối tượng phân tích TCDN
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế, sự phong phú đa dạng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, phân tích tài chính doanh nghiệp đã phát triển và trở thành một môn khoa học kinh tế độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng Nói chung lĩnh vực phân tích tài chính doanh nghiệp nghiên cứu không ngoài các hiện tượng và các sự kiện kinh tế tài chính trong doanh nghiệp.Cụ thể là: Quá trình vận động và chuyển hoá các nguồn lực tài chính trong tiến trình phân phối để tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính
Trang 8của doanh nghiệp diễn ra như thế nào, kết quả kinh tế tài chính của sự vận động và chuyển hoá ra sao, có phù hợp với mục tiêu mong muốn của các đối tượng quan tâm đến tài chính doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu cụ thể của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.3.4 Các thông tin cơ sở để phục vụ phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp
Các thông tin cơ sở để phân tích tình hình tài chính cho doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính bao gồm:
Bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng
hợp, phản ánh tổng quát giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (cuối ngày, cuối quý, cuối năm) Do đó, các số liệu phản ánh trên Bảng cân đối kế toán được sử dụng làm tài liệu chủ yêú khi phân tích tổng tài sản, nguồn vốn và kết cấu tài sản, nguồn vốn
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:Là một báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một niên
độ kế toán dưới hình thái tiền tệ Nội dung của báo cáo hoạt động kinh doanh
có thể thay đổi nhưng phải phản ánh được các nội dung cơ bản như doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, lãi, lỗ Số liệu trong báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận hay lỗ đồng thời báo cáo kết quả kinh doanh còn phản ánh tình hình sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:Là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh quá
trình hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Thông tin về lưu chuyển tiền của doanh nghiệp giúp các đối tượng sử
Trang 9dụng báo cáo tài chính có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và sử dụng các khoản tiền đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thuyết minh báo cáo tài chính:Là báo cáo trình bày những thông tin
trọng yếu mà các báo cáo tài chính khác chưa thể hiện được Thuyết minh báo cáo tài chính mô tả mang tính tường thuật và phân tích chi tiết các thông tin
đã được trình bày trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực
1.3.5 Các phương pháp phân tích tình hình tài chính Doanh nghiệp
1.3.5.1 Các bước trong quá trình tiến hành phân tích tài chính
Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nó bao gồm những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và các thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị… Trong đó những thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập chung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra
Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp những thông tin theo mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
Dự đoán và ra quyết định
Trang 10Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin
đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra
Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp những thông tin theo mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhàm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
1.3.5.2 Các phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung, phân tích tài chính nói riêng
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp đang trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với các doanh nghiệp cùng ngành
Phương pháp cân đối
Đây là phương pháp được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nếu chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng dưới dạng tổng hoặc hiệu Xác định mức độ ảnh hưởng nhân tố nào đó đến chỉ tiêu phân tích, bằng phương pháp cân đối người ta xác định chênh lệch giữa thực tế với
kỳ gốc của nhân tố ấy Tuy nhiên cần để ý đến quan hệ thuận, nghịch giiữa các nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phân tích
Trang 11 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
1.5.6 Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1.5.6.1 Phân tích chung về tình hình tài chính tại công ty thông qua bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành của các tài sản đó Thông qua bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, có thể phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Các thành phần của bảng cân đối kế toán gồm:
Phần tài sản: Phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có đến
thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Căn
cứ vào số liệu này,người ta có thể đánh giá một cách tổng quát quy mô tài sản và kết cấu các loại vốn của doanh nghiệp hiện có đang tồn tại dưới hình thái vật chất Xét về mặt pháp lý, số lượng của các chỉ tiêu bên phần tài sản thể hiện số vốn đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp
Trang 12Phần nguồn vốn: Phản ánh những nguồn vốn mà doanh nghiệp quản lý
và đang sử dụng vào thời điểm lập báo cáo Về mặt kinh tế, khi xem xét phần nguồn vốn các nhà quản lý có thể thấy được thưc trạng tài chính của doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng.Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp về tổng số vốn được hình thành
1.5.6.2 Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản và nguồn vốn
Khái niệm và nội dung phân tích
Cơ cấu tài sản và nguồn vốn là tỷ trọng của từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn trong tổng số Thông qua tỷ trọng của từng nguồn vốn chẳng những đánh giá được chính sách tài chính của doanh nghiệp, mức độ mạo hiểm tài chính thông qua chính sách đó mà còn cho phép thấy được khả năng
tự chủ hay phụ thuộc về tài chính của doanh nghiệp Nếu tỷ trọng nguồn vốn của chủ sở hữu càng nhỏ chứng tỏ sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng thấp và ngược lại
Mỗi loại nguồn vốn của doanh nghiệp lại gồm nhiều bộ phận khác nhau Những bộ phận đó có ảnh hưởng không giống nhau đến mức độ độc lập hay phụ thuộc và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với từng nguồn vốn ấy cũng không giống nhau Chẳng hạn, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các khoản vay khác với các khoản chiếm dụng, yêu cầu quản lý đối với các khoản vay ngắn hạn khác với các khoản vay dài hạn, nguồn vốn kinh doanh khác các quỹ
Trang 13Việc tổ chức huy động vốn trong kỳ của doanh nghiệp như thế nào, có
đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay không được phản ánh thông qua
sự biến động của nguồn vốn và chính sự biến động khác nhau giữa các loại nguồn vốn cũng sẽ làm cơ cấu nguồn vốn thay đổi
Tổng tài sản của doanh nghiệp, bao gồm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trong từng loại tài sản đó lại bao gồm nhiều loại khác nhau, mỗi loại có tác động không giống nhau đến quá trình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Một cách chung nhất, tài sản doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng thể hiện tổng số vốn của doanh nghiệp và việc phân bổ vốn để hình thành nên tài sản như thế nào Vốn nhiều hay ít, tăng hay giảm, phân bổ cho từng khâu, từng giai đoạn hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Phân tích sự biến động và tình hình phân bổ vốn là để đánh giá tình hình tăng, giảm vốn, phân bổ vốn như thế nào
từ đó đánh giá việc sử dụng vốn của doanh nghiệp có hợp lý hay không
Như vậy, phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản và nguồn vốn gồm những nội dung như Phân tích cơ cấu của tài sản, phân tích sự biến động của tài sản, phân tích cơ cấu nguồn vốn, phân tích sự biến động của nguồn vốn, phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản
Bên cạnh việc tổ chức, huy động vốn cho hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp còn phải sử dụng số vốn đã huy động một cách hợp lý, có hiệu quả Sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quả không những giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí huy động vốn mà quan trọng hơn còn giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm được số vốn đã huy động Vì thế, phân tích tình hình
sử dụng vốn bao giờ cũng được thực hiện trước hết bằng cách phân tích cơ cấu tài sản Qua phân tích cơ cấu tài sản, các nhà quản lý sẽ nắm được tình hình đầu tư (sử dụng) số vốn đã huy động, biết được việc sử dụng số vốn đã
Trang 14huy động có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp hay không
Phân tích cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định như sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận
tài sản chiếm trong = Giá trị của từng bộ phận tài sản
Tổng số tài sản
Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định nhu cầu đầu tư, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn Doanh nghiệp có thể huy động vốn cho nhu cầu kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau
về cơ bản bao gồm hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp ban đầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh (vốn đầu tư của chủ sở hữu) Ngoài ra, thuộc vốn chủ sở hữu còn bao gồm một số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quĩ doanh nghiệp
Khác với vốn chủ sở hữu, nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh Do vậy, doanh nghiệp phải cam kết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán Thuộc nợ phải trả cũng bao gồm nhiều loại khác nhau, được phân theo nhiều cách khác nhau, trong đó phân theo thời hạn thanh toán được áp dụng phổ biến Theo cách này, toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp được chia thành nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn
Trang 15Doanh nghiệp có trách nhiệm xác định số vốn cần huy động, nguồn huy động, thời gian huy động, chi phí huy động sao cho vừa bảo đảm đáp ứng nhu cầu về vốn cho kinh doanh, vừa tiết kiệm chi phí huy động, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn và bảo đảm an ninh tài chính cho doanh nghiệp Vì thế, qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lý nắm được cơ cấu vốn huy động, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các nhà cho vay, nhà cung cấp, người lao động, ngân sách về số tài sản tài trợ bằng nguồn vốn của họ Cũng qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản lý cũng nắm được mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động.
Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn trước hết cần tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định như sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận
nguồn vốn chiếm trong = Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn
Tổng số nguồn vốnViệc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc cho phép các nhà quản lý đánh giá được cơ cấu vốn huy động vốn của doanh nghiệp
1.5.6.3 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước trong một kỳ kế toán:
- Thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giá vốn, doanh thu sản phẩm, vật tư hàng hóa đã tiêu thụ, tình hình chi phí, thu nhập của hoạt động khác và kết quả kinh doanh sau một kỳ kế toán
Trang 16- Qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh để kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước, các khoản thuế và các khoản phải nộp khác.
- Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để đánh giá xu hướng phát triển của doanh qua các kỳ khác nhau
1.5.6.4 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán.
Ý nghĩa và mục đích phân tích
Sức mạnh tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng chi trả các khoản cần phải thanh toán, các đối tượng liên quan trực tiếp hay gián tiếp luôn đặt ra câu hỏi: liệu doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản
nợ tới hạn hay không, mối quan hệ kết quả kinh doanh với khả năng chi trả ra sao, tình hình thanh toán của doanh nghiệp như thế nào
Trong kinh doanh, việc chiếm dụng và đi chiếm dụng vốn là điều bình thường do luôn phát sinh các quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đối tượng như nhà nước, khách hàng, nhà cung cấp … Điều làm các nhà quản trị doanh nghiệp lo ngại là các khoản nợ dây dưa, lòng vòng, khó đòi, các khoản phải thu không có khả năng thu hồi vàcác khoản phải trả không có khả năng thanh toán Để nhận biết điều đó cần phân tình hình công nợ và khả năng thanh toán để thấy được tính chất hợp lý của các khoản công nợ
Phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp
Công nợ của doanh nghiệp bao gồm các khoản phải thu và phải trả, các chỉ tiêu này được thể hiện trên bảng cân đối kế toán cuat doanh nghiệp Khi phân tích thông thường ta xem xét riêng các khoản phải thu và các khoản phải trả, sau đó phân tích mối quan hệ giữa chúng thông qua các tỷ lệ thể hiện mức độ phụ thuộc giữa các chỉ tiêu tổng quát hoặc các bộ phận cấu thành nên chỉ tiêu với nhau
Phân tích các khoản phải thu : Để phân tích ta tiến hành so sánh mức độ tăng, giảm cả về số tuyệt đối và số tương đối của cuối kỳ so với đầu
Trang 17kỳ của tổng các khoản phải thu Sau đó phân tích sự biến động của các chỉ tiêu cấu thành nên tổng thể hai giác độ chính xác là thời hạn thanh toán và mức độ trọng yếu của từng chỉ tiêu
Phân tích các khoản phải trả: Khi phân tích các khoản phải trả ta tiến hành so sánh tổng nợ cuối kỳ so với đầu kỳ để thấy được mức độ hợp lý của các khoản doanh nghiệp phải trả Bên cạnh đó tiến hành phân tích sự biến động của các chỉ tiêu tổng quát để thấy được mức độ hợp lý của các khoản phải trả
cả về số tiền và thời hạn thanh toán
Để đánh giá chính xác hơn về tình hình công nợ của doanh nghiệp, ta xét thêm một số chỉ số liên quan đến các khoản phải thu, các khoản phải trả ảnh hưởng đến tình hình công nợ của doanh nghiệp:
- Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả (%): Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng so với các khoản đi chiếm dụng và được tính theo công thức sau:
Tỉ lệ các khoản nợ phải thu so với các
khoản nợ phải trả
Nợ phải trảNếu tỷ lệ này trả lớn hơn 100%, chứng tỏ số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng lớn hơn số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 100%, chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhỏ hơn số vốn đi chiếm dụng Thực tế cho thấy, số vốn đi chiếm dụng lớn hơn hay nhỏ hơn số vốn bị chiếm dụng đều phản ánh tình hình tài chính không lành mạnh
- Số vòng quay các khoản phải thu: Số vòng quay các khoản phải thu là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh doanh, các khoản phải thu quay được mấy vòng Như đã phân tích ở trên, do số nợ phải thu trong các doanh nghiệp chủ yếu phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nên số vòng quay các khoản phải thu thường chỉ tính cho số tiền hàng bán chịu Tuy
Trang 18nhiên các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có thể sử dụng doanh thu thuần
về bán hàng Số vòng quay các khoản phải thu được tính theo công thức:
Số vòng quay các
khoản phải thu
= Tổng số tiền hàng bán chịu (hoặc DTT)
Số dư bình quân các khoản phải thuTrong đó:
Số dư bình quân
các khoản phải thu =
Các khoản phải thu đầu kỳ + Các khoản phải thu
cuối kỳ2 Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc thu hồi nợ Nếu số vòng quay của các khoản phải thu lớn, chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, số vòng quay các khoản phải thu nếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ (chủ yếu là thanh toán ngay trong thời gian ngắn)
- Kỳ thu tiền bình quân: Kỳ thu tiền (còn gọi là thời gian quay vòng các khoản phải thu hoặc thời gian thu tiền bình quân) là chỉ tiêu phản ánh thời gian bình quân thu các khoản phải thu ngắn hạn Chỉ tiêu này được tính như sau:
Kỳ thu tiền
bình quân
= Thời gian của kỳ phân tích (360 ngày)
Số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn Thời gian thu tiền càng ngắn, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Ngược lại, thời gian thu tiền càng dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều Tuy nhiên, thời gian thu tiền ngắn quá sẽ gây khó khăn cho người mua, không khuyến khích người mua nên sẽ ảnh hưởng đến tốc độ bán hàng
Phân tích khả năng thanh toán
Trang 19Khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho biết năng lực tài chính trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao, năng lực tài chính càng lớn, an ninh tài chính càng vững chắc và ngược lại, khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng thấp, năng lực tài chính càng nhỏ và an ninh tài chính sẽ kém bền vững.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến tình hình thanh toán Để thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện nay và tương lai ta cần đi sâu phân tích nhu cầu thanh toán và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khi phân tích nhu cầu thanh toán cần dựa vào tài liệu hạch toán có liên quan đế sắp xếp các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán theo một trình tự nhất định Trình tự sắp xếp phải thẩ hiện được nhu cầu thanh toán ngy, chưa thanh toán ngay cũng như khả năng huy động
để thanh toán trong thời hạn tới
Tình hình tài chinha doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan được phản ánh qua khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của doanh nghiệp biểu hiện bằng số tiền và tài sản mà doanh nghiệp hiện có có thể trang trải các khoản công nợ của doanh nghiệp
Để hiểu rõ hơn về khả năng thanh toán của công ty ta cần tiến hành phân tích cụ thể một số hệ số thanh toán của công ty:
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng nợ phải trả
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Trang 20tài sản hiện có của doanh nghiệp không đủ trả các khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời :
Đó là tỷ lệ giữa tổng tài sản lưu động và đầu tư ngắng hạn so với các khoản nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán hiện thời thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn Các khoản nợ ngắn hạn
là các khoản nợ phải trả trong một thời gian ngắn (thường < 1 năm) Doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền Trong tổng số tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng thì có tài sản ngắn hạn trong kỳ là có khả năng chuyển đổi thanh tiền một cách đẽ dàng hơn khi chuyển đổi thành tiền Do đó, hệ số khả năng thanh toán hiện thời được xác định theo công thức:
Hệ số khả năng thanh toán hiện
thời Hht (lần)
Tổng số nợ ngắn hạn
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh :
Hệ số khả năng thanh toán
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả nang thanh toán thực sự của doanh nghiệp và được tính toán dựa trên các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để đáp ứng yêu cầu thanh toán cần thiết
1.5.6.5 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn.
Ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn :
Hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là chỉ tiêu được sự quan tâm đặc biệt của chủ sở hữu vốn và là thước đo năng lực của nhà quản trị doanh nghiệp Trong nền kinh tế hiện đại khi mà các nguồn lực mỗi ngày hạn hẹp đi và chi phí cho việc sử
Trang 21dụng chúng ngày càng cao, vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn lực ngày càng trở nên cấp thiết Để đánh giá xem tài sản của công ty đã sử dụng tốt đến mức độ nào để sinh ra lợi nhuận ta phân tích một số chỉ tiêu sau:
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn thông qua các chỉ tiêu hoạt động:
Số vòng quay tài sản ( số vòng quay vốn):
Số vòng quay tài sản là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của tài sản đầu tư, thể hiện qua doanh thu thuần sinh ra từ tài sản đó Ý nghĩa của nó cho ta biết cứ mỗi một đồng đầu tư vào tài sản nói chung có khả năng tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Ta có:
Tốc độ luân chuyển vốn ngắn hạn:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn ngắn hạn không ngừng vận động Nó lần lượt mang nhiều hình thái khác nhau, như: tiền, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm và qua tiêu thụ sản phẩm nó lại trở thành hình thái tiền tệ nhằm đảm bảo cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp Khả năng luân chuyển vốn ngắn hạn chi phối trực tiếp đến vốn dự trữ và vốn trong thanh toán của doanh nghiệp Khả năng luân chuyển được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
- Số lần luân chuyển vốn ngắn hạn (số vòng quay vốn ngắn hạn)
- Kỳ luân chuyển bình quân vốn ngắn hạn
Số vòng quay tài sản
Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân
Trang 22 Số vòng quay hàng tồn kho
- Vòng quay hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một loại tài sản dự trữ với mục đích nhằm đảm bảo cho sản xuất được tiến hành một cách bình thường, liên tục và đáp ứng được nhu cầu thị trường Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá là càng tốt
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
- Số ngày một vòng quay hàng tồn kho (kỳ luân chuyển hàng tồn kho)
Số vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay các khoản phải thu:
- Vòng quay các khoản phải thu
Đây là quan hệ tỉ lệ giữa doanh thu với số dư bình quân các khoản phải thu của khách hàng trong kì
Trang 23- Kì thu tiền bình quân :
Kì thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu) Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kì thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại
Công thức tính :
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn thông qua các chỉ tiêu về lợi nhuận:
Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu (doanh lợi doanh thu)
Tỉ suất này phản ánh cứ một đồng doanh thu (hoặc doanh thu thuần) thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỉ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (doanh lợi tổng vốn)
Số dư bình quân các khoản phải thu
x 360 Doanh thu
Tỉ suất lợi nhuận trên
doanh thu
Lợi nhuận (trước thuế hoặc sau thuế)Doanh thu thuần
Tỉ suất lợi nhuận vốn
kinh doanh
Lợi nhuận (trước thuế hoặc sau thuế)Vốn kinh doanh bình quân
Trang 24Chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận vốn kinh doanh được các nhà quản trị tài chính sử dụng nhiều hơn cả, vì nó là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lợi của đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp Và chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận còn lại mà doanh nghiệp thực sự được sử dụng sinh ra do sử dụng bình quân 1 đồng vốn kinh doanh.
Tỉ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (doanh lợi vốn chủ sở hữu).
Đây là chỉ tiêu được các chủ sở hữu quan tâm nhất vì họ bỏ vốn đầu tư chỉ với
hy vọng đơn giản là sẽ thu được lợi nhuận cao Chỉ tiêu này cho biết nếu bỏ ra
1 đồng vốn chủ sở hữu để tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Công thức tính :
Tỉ suất lợi nhuận vốn
chủ sở hữu
Lợi nhuận (trước thuế hoặc sau thuế)Vốn chủ sở hữu bình quân
Trang 25PHẦN II:
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA CÔNG TY CP KẾT CẤU THÉP THÁI NGUYÊN
2.1 Tổng quan về Công ty.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CP kết cấu thép TN
Tên và địa chỉ của công ty
- Tên Công Ty:
Tên giao dịch trong nước: Công ty Cổ phần kết cấu thép Thái Nguyên
Tên giao dịch quốc tế: Thai Nguyen Construcion & Steel Structure Joint Stock
Tên viết tắt: Comess Thai Nguyen
- Trụ sở giao dịch:
Địa chỉ: Phường Tân Lập- Thành phố Thái Nguyên- Tỉnh Thái Nguyên
Điện thoại: 0280 847562 Fax: 0280 847417
Trang 26 Thời điểm thành lập và các mốc lịch sử quan trọng
Công ty Cổ phần kết cấu thép Thái nguyên là đơn vị trực thuộc Tổng
công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước có nhiều năm kinh nghiệm trong thi công các công trình xây lắp công nghiệp trong phạm vi cả nước Tiền thân là Xí nghiệp kết cấu thép cơ giới xây dựng được thành lập từ những năm 1970 phục vụ sản xuất thi công cho công trình trọng điểm là Công ty Gang Thép Thái Nguyên
Công ty được thành lập dưới hình thức chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước thành Công ty Cổ phần, tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh theo luật doanh nghiệp số 60/2005/HQ11 được quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và các luật khác có liên quan
Công ty CP kết cấu thép Thái Nguyên được thành lập căn cứ theo quyết định số 543/ QĐ-HĐQT ngày 28 tháng 12 năm 2007 của hội đồng quản trị công ty CP kết cấu thép Thái Nguyên
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, Công ty đã tham gia vào các công trình trọng điểm của nền kinh tế quốc dân như: Sản xuất thi công khu liên hiệp Gang thép Thái nguyên, các nhà máy Nhiệt điện, Nhà máy xi măng, các nhà máy chế biến thực phẩm, các công trình có vốn đầu tư nước ngoài như Nhà máy kết cấu thép Zamil, Nhà máy sản xuất Honda, nhà máy sản xuất Ôtô Toyota, Thiết bị phi tiêu chuẩn của các nhà máy thức ăn gia súc Công ty có thể thiết kế, chế tạo, thi công lắp dựng hoàn chỉnh các Nhà thép tiền chế cho mọi khẩu độ cho các dự án: Nhà máy sản xuất, nhà xưởng, nhà kho, các khu trung tâm thương mại vui chơi giải trí
Chế tạo các loại thiết bị phi tiêu chuẩn như Thùng phễu cho các nhà máy thức ăn gia súc, các thiết bị đường ống chịu áp lực, Trạm trộn Bêtông, các Xe gòng cho các nhà máy gạch Tuynen… Chế tạo các thiết bị nâng hạ cầu trục từ 1 đến 100 tấn cho các nhà máy thép, nhà máy chế tạo, kho
Trang 27xưởng Ngoài ra Công ty còn đảm đương xây dựng các Công trình Nhà ở, khu văn phòng, trụ sở làm việc như: Trụ sở làm việc của Huyện Văn quan- Lạng sơn, Bệnh vịên A Thái nguyên…
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty.
Chức năng: Công ty CP kết cấu thép Thái Nguyên có chức năng sử
dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển nguồn vốn cổ phần và các nguồn lực khác của công ty để tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm Kết cấu thép phục vụ trong ngành công nghiệp và dân dụng đem lại lợi nhuận cao nhất cho công ty
Nhiệm vụ
Chấp hành nghiêm chỉnh các nghị quyết, quyết định của HĐQT
Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương, thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách pháp luật của Nhà nước
về công tác tài chính như chế độ báo cáo các thông tin định kỳ
Hoạch định, nghiên cứu và xây dựng các kế hoạch, chương trình, chính sách và tổ chức điều hành việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Quản lý nguồn lực con người, các trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng,
cơ sở vật chất, quản lý và sử dụng nguồn vốn kinh doanh có hiệu quả nhằm đạt lợi nhuận tối đa, đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định và đáp ứng yêu cầu của khách hang
2.1.3 Đặc điểm hoạt động của Công ty
Doanh nghiệp hoạt động với tư cách pháp nhân là một công ty cổ phần cho nên cũng mang những đặc điểm của loại hình này Công ty được tổ chức
và hoạt động sản xuất kinh doanh theo luật doanh nghiệp do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005
Công ty cổ phần là loại hình công ty có tư cách pháp nhân, vốn của công
ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần
Trang 28gọi là cổ đông, là thành viên của công ty cổ phần, họ chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty.
Với 36% vốn nhà nước, hoạt động theo luật doanh nghiệp, nghành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu là sản xuất kinh doanh các sản phẩm kết cấu thép và cơ khí, nhà thép tiền chế, thép dầm tổ hợp…Công ty sản xuất kết cấu thép theo đơn đặt hàng Do đó để hoàn thành một dự án đầu tư theo yêu cầu của khách hàng, công ty phải trải qua các công đoạn như sau:
Trang 29Sơ đồ 01: Các công đoạn để hoàn thành một dự án đầu tư theo yêu
cầu của khách hàng.
Sau khi Công ty nhận được phiếu yêu cầu của khách hàng, nếu có kèm
theo bản vẽ đã được thiết kế sẵn, công ty sẽ chuyển sang cho bộ phận kế hoạch kỹ thuật, (trong trường hợp khách hàng không gửi kèm theo bản thiết
ĐẤU THẦU (BÁO GIÁ)
Bóc khối lượng chi tiết / tính giá thành
để đấu thầu (Báo giá)
Trang 30kế, công ty sẽ phải thực hiện công việc thiết kế theo đúng yêu cầu và khả năng của công ty, bản thiết kế sau khi hoàn thành được chuyển sang Bộ phận
kỹ thuật) Tại đây, các kỹ thuật viên sẽ dựa vào năng lực chuyên môn và kinh nghiệm của bản thân, đọc và bóc tách và cụ thể hóa bản vẽ thành các con số tính toán và các nguyên liệu, vật liệu theo yêu cầu của bản vẽ, từ đó sẽ lập lên cao các định mức nguyên vật liệu (chính, phụ) và định mức lượng, định mức giá Dựa vào đó Bộ phận kế toán sẽ làm nhiệm vụ xây dựng định mức giá thành cho sản phẩm để lập nên bảng báo giá Công ty sẽ gửi hồ sơ đấu thầu và bảng báo giá này lại cho khách hàng( Bên A) Nếu khách hàng cảm thấy thỏa mãn về các yêu cấu của mình và các điều kiện trong hồ sơ đấu thầu, hai bên
sẽ tiến hành ký hợp đồng Dưới sự chỉ đạo trực tiếp từ giám đốc, phó giám đốc điều hành sản xuất sẽ cùng với bộ phận kế hoạch kỹ thuật chỉ đạo các phân xưởng, tổ đội hoàn thành sản phẩm theo như kết cấu và yêu cầu của bản
vẽ Trong giai đoạn hoàn thiện sản phẩm, công ty sẽ phải kiểm tra, theo dõi, nghiệm thu và nhập kho sản phẩm giao cho bộ phận kho Đến thời gian giao nhận sản phẩm, bên A sẽ nghiệm thu lại sản phẩm một lần nữa trước khi ký biên bản giao nhận hàng sau khi xuất kho đồng ý nhận hàng, Bên A sẽ có trách nhiệm thanh toán hợp đồng, Bên A có thể thanh toán 100% hoặc từ 60% trở lên nếu muốn giữ lại để yêu cầu công ty có trách nhiệm bảo hành
Trong giai đoạn triển khai sản xuất tại công ty, quy trình tiến hành các bước công việc như sau:
Trang 31Sơ đồ 02: Quy trình sản xuất của công ty.
Trong quá trình thiết kế sản phẩm của mình công ty luôn lấy mục tiêu khách hàng là quan trọng nhất Công ty đã đạt được chứng nhận iso 9001:2008 cho chất lượng sản phẩm và quy trình hoạt động của mình Các sản phẩm của công ty sản xuất ra với chất lượng đảm bảo và giá cả cạnh tranh Với đội ngũ nhân viên thiết kế chuyên nghiệp các sản phẩm mang tới khách hàng đạt giá trị và hàm lượng công nghệ cao Một quy trình sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn và yêu cầu đề ra Trong quá trình phát triển đất nước công ty CP Kết cấu thép Thái Nguyên vững vàng tiến bước và thành công
2.1.4 Hình thức tổ chức sản xuất của Công ty CP kết cấu thép.
Do đặc điểm công nghệ sản xuất các sản phẩm của công ty bao gồm
nhiều công đoạn và được tiến hành ở nhiều bộ phận của phân xưởng nên hình thức tổ chức sản xuất của công ty là có một xưởng sản xuất tiến hành sản xuất theo từng tổ đội sản xuất Trong nhà máy có 4 tổ đội sản xuất bao gồm: Tổ phôi, tổ gá hàn tổ hợp, tổ hàn hoàn thiện và tổ sơn
BỘ PHẬN LẤY DẦU
Trang 322.1.5 Đặc điểm lao động của Công ty.
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty là gia công kết cấu thép với đặc điểm của sản phẩm là nặng và cồng kềnh nên số lượng lao động trực tiếp chiếm tỷ lệ cao và đa số là lao động nam
* Về phân loại lao động:
Công ty phân loại lao động theo nhiều tiêu thức khác nhau như phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất, theo trình độ lao động, theo giới tính.Sản xuất kết cấu thép là một công việc nặng đòi hỏi lao động phải có sức khỏe tốt nên đội ngũ lao động sản xuất trực tiếp của công ty đa số còn trẻ tuổi
và có sức khoẻ Đội ngũ cán bộ quản lý của công ty có bằng đại học chiếm tỉ
lệ cao, đội ngũ công nhân lao động trực tiếp trong nhà máy đa số là trung cấp
và công nhân kỹ thuật
Cơ cấu lao động cụ thể được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 01: Cơ cấu lao động tại Công ty cổ phần kết cấu Thái Nguyên
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 2010/2009 So sánh Số
người
Cơ cấu (%)
Số người
Cơ cấu (%)
Trang 33- Nữ 43 26,06 44 26,35 1 2,33
Trang 34Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng số lao động năm 2009 tăng 2 người so
với năm 2008, tương ứng tăng 1,21% Xét về trình độ lao động nhìn chung có trình độ cao trong đó, lao động có trình độ Đại học, Cao đẳng trở lên tăng 8,33% tức tăng 2 người; trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, lao động phổ thông không đổi
* Về công tác quản lý lao động:
Công ty luôn quan tâm đến việc nâng cao trình độ tay nghề của người lao động, trình độ chuyên môn của các bộ công nhân viên chức trong toàn Công ty bằng việc thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, trình độ chuyên môn Tổ chức xây dựng chương trình thi đua, phối hợp chuyên môn với các tổ chức đoàn thể xây dựng tổ đội có năng suất cao
Mọi lao động trong Công ty đều được huấn luyện về an toàn lao động,
vệ sinh lao động để hạn chế tai nạn nghề nghiệp ở mức thấp nhất
Công ty còn trang bị đầy đủ cho công nhân các thiết bị bảo hộ và bắt buộc phải sử dụng trong khi làm việc Ngoài ra Công ty còn đảm bảo các phương tiện y tế để chăm sóc cho người lao động khi ốm đau, hoặc cấp cứu kịp thời nếu có tai nạn xảy ra
2.1.6 Phương hướng sản xuất kinh doanh năm 2011
Chi tiêu cơ bản kế hoạch năm 2011:
Trang 35 Biện pháp thực hiên:
Đứng trước những thách thức và vận hội mới, thị trường khách hàng ngày càng khó tính, cạnh tranh về giá thành, đòi hỏi về chất lượng sản phẩm, quản lý chất lượng của nhà sản xuất, tiến độ thi công nhanh Để đảm bảo một
số chỉ tiêu cho thị trường tới, HĐQT Công ty đã quyết định những chỉ tiêu mới về đầu tư cho năm 2011 giá trị ước tinh 1,2 tỷ đồng biểu tính như sau:
+ Phát hành cổ phiếu năm 2011 là 500 triệu đồng
+ Huy động vốn là 300 triệu đồng
+ Vay vốn ngân hàng là 400 triệu đồng
- Công tác quản lý chất lượng và thương hiệu sản phẩm Công ty: thuê công ty tư vấn tổ chức dạy học và hướng dẫn làm quản lý chất lượng sản phẩm và công việc theo ISO 9000:2000
- Tổ chức ĐHĐ cổ đông thường liên vào tháng 4 năm 2011
2.1.7 Cơ Cấu bộ máy quản lý của công
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Trước đây, khi còn là xí nghiệp Công ty cũng đã hạch toán độc lập, đầy
đủ tư cách pháp nhân được mở tài khoản, thu chi tín dụng tại ngân hàng, có con dấu riêng và đăng ký kinh doanh theo quy định của Nhà nước.Đến nay, sau khi sắp xếp lại Công ty có một cơ cấu tổ chức, sắp xếp lao động hợp lý cho nên tình hình hoạt động rất ổn định và vững chắc Chính vì vậy trong điều kiện khó khăn chung của nhà nước, với đội ngũ quản lý cán bộ vững chắc, giàu kinh nghiệm, có học vấn cao, có tổ chức bộ máy gọn nhẹ nên Công ty vẫn không ngừng vươn lên, đứng vững và cạnh tranh trong cơ chế thị trường
Trang 36Sơ đồ 03: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần kết cấu thép Thái Nguyên
Nhiệm vụ bộ máy quản lý Công ty
* Chức năng, nhiệm vụ của bộ phận lãnh đạo Công ty
Giám đốc Công ty: Giám đốc công ty CP kết cấu thép Thái Nguyên do Hội đồng quản trị Công ty bổ nhiệm, là đại diện theo pháp luật của Công ty,
là người có quyền điều hành hàng ngày cao nhất Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị Công ty và pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao
Phân xưởng cơ khí
Trang 37Giám đốc là chủ tài khoản công ty, phụ trách công tác đầu tư xây dựng
cơ bản, công tác tổ chức cán bộ, công tác tài chính kế toán, chỉ đạo công tác
Kế hoạch - Kỹ thuật sản xuất kinh doanh, chủ tịch hội đồng thi đua khen thưởng của công ty
+ Phó giám đốc chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp từ giám đốc, được giám đốc Công ty phân công ủy quyền điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Công ty Phó giám đốc chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ được Giám đốc Công ty phân công và uỷ quyền
Phó giám đốc có nhiệm vụ: Chỉ đạo công tác kế hoạch kỹ thuật sản xuất chất lượng sản phẩm, là chủ tịch hội đồng khoa học kỹ thuật, chủ tịch hội đồng kỷ luật, hội đồng an toàn lao động và vệ sinh môi trường Quản lý thiết
bị đầu tư mở rộng sản xuất, chỉ đạo về sản xuất kết cấu thép, chỉ đạo hoạt động của các đội lắp dựng và xây lắp, chỉ đạo công các nâng lương, nâng bậc, công tác lao động tiền lương, thanh tra bảo vệ tự vệ quản lý đất đai nhà ở và các thiết bị văn phòng, chỉ đạo hoạt động khối cơ quan công ty…
*Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
- Phòng tổ chức hành chính: Có chức năng nhiệm vụ là bố trí sắp xếp
đội ngũ cán bộ trong công ty một cách hợp lý theo trình độ khả năng của mỗi người, giải quyết các chế độ, chính sách, công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật được Giám đốc phê duyệt cho cán bộ công nhân viên, tuyển dụng lao động của Công ty Tổ chức đào tạo, nâng lương, nâng bậc cho cán bộ công nhân viên, thực hành công tác tổ chức lao động, bảo vệ, y tế, thanh tra pháp chế, thực hiện mọi hoạt động về lĩnh vực hành chính quản trị Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về mọi hoạt động của phòng
- Phòng kế toán tài chính: Phòng có chức năng tham mưu cho lãnh đạo
và giám đốc công ty những vấn đề trong lĩnh vực tài chính – kế toán
Tổ chức công tác quản lý tài chính, công tác hạch toán của toàn công ty, cân đối nguồn tài chính của công ty phục vụ sản xuất kinh doanh, quản lý
Trang 38theo dõi thu chi và thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách của Nhà nước, phản ánh, cập nhật dữ liệu hàng ngày kịp thời, chính xác Phân loại tổng hợp
số liệu, các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhằm cung cấp thông tin chính xác cho Giám đốc, chủ trì trong việc kiểm tra tiếp nhận vật tư hàng hoá
- Phòng kế hoạch tổng hợp: Là bộ phận giúp việc Giám đốc với nhiệm
vụ trọng tâm là tổ chức xây dựng và chỉ đạo việc thực hiện công tác kế hoạch,
kỹ thuật của đơn vị một cách toàn diện, xây dựng dự toán giá cả nhằm năng cao hiệu quả kinh tế của các mặt hoạt động
* Chức năng, nhiệm vụ của các phân xưởng
- Xưởng cơ khí: Chịu trách nhiệm về tổ chức sản xuất theo đúng tiến độ
và đảm bảo kỹ mỹ thuật Khi có khó khăn vướng mắc phải có trao đổi lại với các phòng ban chức năng Trong sản xuất phải đảm bảo an toàn về người thiết
bị Tổ chức sản xuất hoàn thành tốt nhất công việc được giao
- Đội lắp ráp: Chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Công ty về việc tổ chức thi công lắp dựng các công trình Đảm bảo tiến độ, an toàn lao động, trong khi thi công chấp hành tốt các biện pháp thi công do Công ty ban hành, hoàn thành tốt công việc được giao
- Quan hệ giữa các phòng ban, phân xưởng, đội lắp ráp trong toàn Công
ty là quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhiệm vụ chung là giúp việc cho Giám đốc, tạo mọi điều kiện để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo cho bộ máy quản ký được hoạt động thông suốt đồng bộ Phòng ban có nhiệm vụ chỉ đạo cho các đơn vị xưởng, đội
2.1.8 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán – tài chính của công ty.
Cơ cấu bộ máy kế toán của Công ty.
Từ đặc điểm, quy mô sản xuất, trình độ và yêu cầu quản lý Công ty cổ phần kết cấu thép Thái Nguyên thực hiện tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung, tức là toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được tập trung xử lý tại phòng kế toán
Bộ máy kế toán của Công ty được thể hiện trong sơ đồ sau:
Trang 39Sơ đồ 04: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
Phòng kế toán của công ty gồm 04 người, khối lượng công việc được phân công phù hợp với trình độ chuyên môn của mỗi người
+ Trưởng phòng tài chính kế toán (kế toán trưởng):
Kế toán trưởng là người được tổng giám đốc công ty bổ nhiệm, có chức năng tham mưu, giúp giám đốc trong công tác quản lý tài chính, tổ chức công tác kế toán thống kê tại công ty và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về tổ chức lãnh đạo công tác kế toán tại công ty
- Trực tiếp phân công chỉ đạo công việc cho từng cán bộ trong phòng thực hiện
- Trực tiếp làm công tác kế toán tổng hợp
- Tổ chức quản lý công tác nghiệp vụ và kiểm soát toàn bộ hoạt dộng kinh tế của Công ty
- Tiếp nhận, từ chối nhân viên được bổ sung, đình chỉ mọi nhân viên không hoàn thành nhiệm vụ
Kế toán trưởng
Kế toán vật tư kiêm thủ quỹ
Kế toán TM,
TGNH
Kế toán TSCĐ kiêm KT thanh toán, Kế toán giá thành
Trang 40- Đề xuất với Giám đốc về các lĩnh vực Tài chính - Vật tư và tham gia công tác quản lý nội chính của công ty.
+ Kế toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng: Phản ánh, ghi chép tổng hợp
về tình hình biến động về tiền mặt và tiền gửi ngân hàng Mặt khác theo dõi các khoản tiền vay ngân hàng, các khoản công nợ, đồng thời theo dõi tình hình huy động vốn giúp kế toán trưởng xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của Công ty
+ Kế toán TSCĐ kiêm kế toán thanh toán và kế toán giá thành:
- Theo dõi, ghi chép, quản lý chặt chẽ tình hình sử dụng và thay đổi của TSCĐ trong Công ty Tính và phân bổ khấu hao cho các bộ phận sử dụng hợp lý, tham gia lập kế hoạch và theo dõi tình hình sửa chữa TSCĐ
- Ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ thanh toán, theo dõi toàn bộ công
nợ, các khoản phải thu, phải trả từng ngày để kế toán trưởng và giám đốc có
kế hoạch chi tiêu một cách hợp lý theo dõi quá trình thanh toán quỹ tiền mặt, lập báo cáo thu chi hàng ngày
- Định kỳ nhận các báo cáo từ các bộ phận sản xuất, tổng hợp phiếu chế biến và số lượng vật liệu tiêu hao, tổ chức tổng hợp, phân bổ chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm
+ Kế toán vật tư kiêm thủ quỹ: Hàng ngày thu – chi tiền, đối chiếu với
kế toán tiền mặt để có số dư, tồn quỹ thu nhập Kiểm tra toàn bộ thông tin liên quan đến quá trình nhập – xuất, phân bổ nguyên vật liệu, cung cấp thông tin phục vụ cho công việc tính giá thành
Hình thức kế toán
+ Hệ thống tài khoản và chứng từ của Công ty cổ phần kết cấu thép Thái
Nguyên thực hiện theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định 15/2006/QĐ/QĐ-BTC
+ Công ty cổ phần kết cấu thép Thái Nguyên hạch toán theo hình thức Nhật ký chung (NKC) Việc hạch toán được thực hiện trên máy vi tính và