1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình

71 446 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 308,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai đuôi và Ba đuôi Insecta: Aptergota: Collembola, Protura, Dipplura và Thysanura được xếp chung vào nhóm động vật Chân khớp bé Microathropoda [24].Ve giáp luôn chiếm khoảng 50% trong t

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2

• • • •

NGUYỄN THỊ XUÂN

CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI:

ORIBATIDA) Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT TRẢNG CỎ

Trang 2

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của TS Đào Duy Trinh, NCS Lại Thu Hiền, cùng các anh chị, bạn bè tong nhóm nghiên cứu Trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ và tạo điều kiện của các cán bộ bộ môn Động vật học Ban chủ nhiệm khoa Sinh- KTNN, phòng sau đại học trường ĐHSP Hà Nội 2 Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng tri ân chân thành tới gia đình, bạn bè trong khóa học 16- sinh thái học, SHTN đã luôn giúp đỡ, động viên và khích lệ để tôi vượt qua nhiều khó khăn ban đàu, hoàn thành bản luận văn này.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Xuân

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Xuân DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Kí hiêu viết tắt

c%

Độ phổ biến

Trang 3

H’ Chỉ số đa dạng loàiI-1 Tầng đất mặt 0-10 cm1-2 Tầng đất sâu 11-20 cm1-3 Tầng đất sâu 21-30 cmJ’ Chỉ số đồng đều

TCCB Trảng cỏ cây bụi

Trang 4

Lời cảm ơn Lời cam đoan

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vườn quốc gia (VQG) Cúc phương (hay rừng Cúc Phương) là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới của

3 khu vực: Tây bắc, đồng bằng Sông Hồng và bắc trung Bộ thuộc 3 tỉnh là:

Ninh Bình, Hoà Bình và Thanh Hoá VQG này có hệ động thực yật phong phú và đa dạng mang những đặc trưng của rừng mưa nhiệt đới Do đó, VQG Cúc Phương đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, của khách thăm quan du lịch trong nước cũng như khách nước ngoài Cho nên, hàng năm đã có một lượng lớn du khách đã đến vói Cúc Phương, vì vậy cũng phần nào có những tác động đến môi trường xung quanh dồng thời tác ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật trong rừng Bên cạnh đó là việc quá tập trung vào khai thác du lịch của Ban quản lý Vườn dẫn đến làm giảm hiệu quả của việc bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và nhóm động vật đất Chân khớp bé nói riêng

Động vật đất đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đất, tính chất đất, tạo dòng chu chuyển vật chất liên tục Vì chúng có số lượng lớn, chiếm khoảng 90% tổng sinh lượng động yật cạn Trong hệ động yật,

bộ Ve giáp (Oribatida) thuộc phân lớp Ve bét (Acari), lớp động yật Hình

nhện (Arachnida); Phân ngành Có kìm (Chelicerata); trong ngành Chân khớp (Arthropoda) Nhóm ve bét đa dạng và phong phú sống ừong môi trường đất và các môi trường sống liên quan với hệ sinh thái đất như: thảm

lá rừng, xác vụn thực vật, vỏ cây gỗ, đất treo, thảm rêu bám trên thân cây và trong tán lá cây xanh Nhóm Ve giáp là nhóm động yật rất nhạy cảm với những biến đổi của yếu tố khí hậu, tính chất đất nên chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ thị tính chất đất

Trong quần xã sinh vật đất, Ve bét do có kích thước cơ thể nhỏ 0,2 đến 1,0-2,0 mm, nên cùng với các nhóm Ve bét khác: Rết tơ (Chilopoda: Symphyla) và các nhóm côn trùng bậc thấp như Bọ nhảy, Đuôi nguyên thủy,

0,1-5

Trang 6

Hai đuôi và Ba đuôi (Insecta: Aptergota: Collembola, Protura, Dipplura và Thysanura) được xếp chung vào nhóm động vật Chân khớp bé (Microathropoda) [24].

Ve giáp luôn chiếm khoảng 50% trong tổng số Chân khớp bé, chúng tham gia tích cực vào mọi chu trình tự nhiên, vào các quá trình sinh học của đất, quá trình yận chuyển năng lượng và yật chất, quá trình làm sạch đất khỏi bị ô nhiễm các chất thải (hữu cơ và hóa học), chất phóng xạ Chúng làm gia tăng độ màu mỡ của đất thông qua các hoạt động sống của mình [18] Đồng thời, chúng lại rất nhạy cảm với môi trường sống về đặc điểm đất, hàm lượng mùn khoáng N, p, K trong đất, độ pH, nhiệt độ, đặc điểm cấu tạo đất, thổ nhưỡng Vì thế, Ve giáp có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ thị tính chất lý, hóa của đất; chỉ thị sinh học môi trường đất và các diễn thế của hệ sinh thái Các chỉ thị sinh học có thể được sử dụng trong đánh giá sinh thái, đặc biệt là trường hợp của nhóm quần thể chỉ thị điều kiện khu yực càn được bảo tồn Nghiên cứu đánh giá đặc điểm, sự tiến triển của quá trình cải tạo đất làm cơ sở khoa học cho việc quản lý, khai thác thế mạnh về

du lịch ở Rừng Cúc Phương cũng như bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên môi trường đất

Nhóm Ve giáp có vỏ cơ thể cứng, mật độ cá thể lớn và tương đối ổn định, thành phần loài phong phú, vùng phân bố rộng, dễ dàng thu bắt nên chúng là đối tượng nghiên cứu sinh thái, động vật và phân vùng địa lí Bên cạnh đó chúng có khả năng di chuyển nhanh và có số lượng lớn nên chúng

là nhóm phân tán và lan truyền nhiều nguồn bệnh và giun sán kí sinh Ve giáp đã có trên 60 loài là vật chủ trung gian của Sán dây họ Anoplocephadae kí sinh và gây bệnh cho gia súc

Nhóm Ve giáp là nhóm động vật có tính ổn định và bền vững, thậm chí ngay cả khi có những biến động xảy ra trong hệ sinh thái Nên chúng được chú ý nghiên cứu để làm vật chỉ thị tính đất, để đánh giá vai trò tác động của con người nên các hệ sinh thái

6

Trang 7

Vì những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Cấu trúc quần

xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đắt Trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương”.

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của để tài

Đề tài bổ sung dẫn liệu về đa dạng sinh học của quần xã Oribatida ở

hệ sinh thái (HST) đất rừng VQG Cúc Phương

Đề tài cung cấp dẫn liệu về đặc điểm phân bố và đặc trưng định lượng của quần xã Oribatida ở rừng VQG Cúc Phương, cấu trúc quần xã Oribatida

về đặc điểm phân bố và mật độ quần thể ở HST đất rừng VQG Cúc Phương được nghiên cứu và phân tích đồng bộ theo 2 mùa (mùa mưa và mùa khô)

và theo 3 tầng sâu thẳng đứng trong HST đất rừng ở khu vựa nghiên cứu gồm: độ sâu 0-10cm, ll-20cm và 21-30 vói kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x1 Ocm

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Điều tra tài nguyên đa dạng về nhóm động vật Ve giáp, đặc điểm phân bố của quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất Trảng cỏ cây

bụi ven rừng và bước đàu đánh giá vai trò chỉ thị sinh học điều kiện tự nhiên

môi trường của chúng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1 Nghiên cứu đa dạng thành phàn loài và mô tả ban đàu đặc điểm hình thái qua bộ ảnh hiển vi, mật độ của quần xã Oribatida ở vùng nghiên cứu

2 Khảo sát biến đổi cấu trúc của quần xã Oribatida theo tầng thẳng đứng và theo hai mùa khô và mưa

7

Trang 8

3 Bước đầu đánh giá vai ữò của quần xã Oribatida như yếu tố sinh học chỉ thị biến đổi điều kiện tự nhiên và khí hậu ở vùng nghiên cứu.

5 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét (Acari), lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda), của Giới Động vật (Animalia)

6 Đóng góp mới của đề tài

Cung cấp dẫn liệu về đa dạng sinh học, cấu trúc quần xã Oribatida về đặc điểm phân bố, mật độ quần thể và thành phần loài ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi trong VQG Cúc

Phương, góp phần đánh giá tài nguyên động vật đất của Việt Nam.

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Ve giáp luôn chiếm khoảng trên 50% trong tổng số chân khớp bé Chúng tham gia tích cực vào mọi chu trình tự nhiên, vào các quá trình sinh học của đất, quá trình vận chuyển năng lượng và vật chất Chúng tham gia làm tăng độ màu mỡ của đất thông qua các hoạt động sống của mình

Trong hơn 30 năm qua, cho đến năm 2000 các kết quả nghiên cứu hàng năm của các chuyên gia ưên thế giới, đặc biệt là các kết quả liên quan đến khu hệ và phân bố của Ve Giáp đã được bảo tàng lịch sử tự nhiên Groltiz, CHLB Đức giới thiệu trong 31 số của ấn phẩm quốc tế Bibliographia: Oribatologica Từ năm 2001 ấn phẩm chuyên ngành này được mang tên mói là Acari: Bibliographia Acaologica: Oribatida

Các nghiên cứu về Oribatida ở Việt Nam được bắt đầu tò những năm

60 và do các tác giả nước ngoài thực hiện, sau đó được mở rộng từ những năm 80 của thế kỉ trước, trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu thuộc

“chương trình nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống” Trên cơ sở đó đã hình thành một bộ sưu tập khá phong phú về dữ liệu Oribatida ở Việt Nam

Với những thông tin trên cho thấy, việc nghiên cứu phân tích sự thay đổi các đặc trưng định lượng của Oribatida (số lượng loài, mật độ, chỉ số đa dạng H’, chỉ số đồng đều J’) theo mùa và theo độ sâu của đất được áp dụng

8

Trang 9

ở VQG Cúc Phương làm cơ sở khoa học chỉ ra những tác động tích cực cũng như tiêu cực của các nhân tố môi trường, con người đến hệ sinh yật đất.

1.2 Tổng quan tài liệu

1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới

Vai trò và hoạt động của các nhóm sinh vật sống trong đất từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Con người đã biết đến vai trò phân hủy xác mùn, phân giải chất hữu cơ và luân chuyển vật chất của nhiều nhóm sinh vật

Nghiên cứu về Ve Giáp trên thế giói bắt đàu từ rất sớm Từ cuối thế

kỷ XIX, các nhà khoa học nghiên cứu về sinh yật đất đã bắt đầu quan tâm

và tiến hành tìm hiểu, hàng loạt các công trình nghiên cứu về các nhóm sinh vật đất được thực hiện và công bố Đầu tiên, phải làn lượt kể đến các công trình nghiên cứu các nhóm sinh yật đất của các nhà khao học như: công trình nghiên cứu của H.Post (1862), B.Hasen (1877, 1882) về giun đất, công trình nghiên cứu của P.Muller ( 1879, 1882) về vai trò phân hủy xác vụn thực yật nhờ động vật [20]

Đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đồng thời mở rộng nghiên cứu đồng bộ hàu hết các nhóm sinh vật sống trong đất, bắt đàu có các công trình nghiên cứu về Chân khớp bé trong đó có Ve giáp

Năm 1905, nhà khoa học người Italia, A.berlese đã phát hiện ra phương pháp dùng hệ thống phễu lọc để phân tích động vật Chân khớp bé trong đất [20]

Năm 1917, phương pháp này đã được A.tullgren cải tiến và hoàn thiện hơn Tiếp theo đó, hệ thống phân loại Ve giáp cùng vói các quan hệ tiến hóa của chúng với các nhóm Ve bét khác được xây dựng và sắp xếp theo hệ thống của các tác giả: Willimann (1931), Grandjean (1953), Seilnick (1960), Ghilarov và Krivolutusky (1975), J.Balogh (1988, 1990, 1992) là nhưng chuyên gia nghiên cứu hệ thống học Ve giáp hiện được chấp nhận rộng rãi ttên thế giới [23]

9

Trang 10

Năm 1992, ừong công trình nghiên cứu của mình: “The Oribatid Genera of the World” hai tác giả J.Balogh và P.Balogh đã hệ thống toàn bộ các loài Ve giáp hiện đã dược phát hiện và công bố trên toàn thế giới [40].

Cho đến năm 2000, các kết quả nghiên cứu hàng năm của các chuyên gia chuyên ngành trên thế giới về Ve giáp, đặc điểm khu hệ và phân bố của

Ve giáp đã được bảo tàng lịch sử tự nhiên Görlitz, Cộng hòa liên bang Đức giới thiệu ttong 31 ấn phẩm quốc tế Bibliographia: Oribatologica Từ năm

2001, ấn phẩm chuyên ngành này được mang tên mới là Acari: Bibliogrphia Acarologica Oribatida [23]

về hệ thống phân loại Ve giáp, hiện nay trên thế giói vẫn còn chưa thống nhất Theo hệ thống phân loại thông thường, thì Ve bét thuộc bộ Ve bét(Acari) bao gồm tất cả các nhóm Ve bét khác nhau, nằm trong lớp chân khớp Hình nhện (Arachnida) Một hệ thống khác lại tách Ve bét thành nhóm phân loại bậc cao hơn, là 1 phân lớp Ve bét hay thậm chí là một lớp chân khớp Hình ve bét (Acarimorpha), thuộc phân ngành chân khớp có kìm (Chelicerata) Hệ thống sắp xếp thứ ba có quan điểm cho rằng, không nhất thiết các nhóm Ve bét phải gộp chung vào một bộ (Michael, 1988; willmann, 1931; Baker, Wharton, 1952; Grandjean, 1954; Seilnick, 1960; Balogh, 1961, 1972; Woolley, 1971, 1988; Nguyễn Kim Bằng, 1971; Ghiarov, Krivolutsky, 1975; Ghilarov, 1977, 1978; Đoàn Văn Thụ, Phan Trọng Cung, 1985; Norton, 1990; J.Balogh và P.Balogh, 1992; J.Aoki, 1999; Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ, 2001; Woas, 1990; Weigmann, 2006) [Vũ Quang Mạnh]

Ở khu yực Đông Nam Á, trước năm 1945, đã có 1 số công trình nghiên cứu về động vật đất trong đó có Ve giáp như Berlese (1913) và Sellnick (1925) nghiên cứu ở Indonexia Năm 1975 trở lại đây, xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu của các tác giả như: j.Aoki 1967, ở Thái Lan:

1

Trang 11

S.Mahunka, 1968 tại Indonexia; Balogh và S.Mahunka 1974 tại Malaixia; năm 1976 tại Hông Kong; LA.Corpus Raos (1979, 1980, 1991, 1992, ) tại Philippin У.У [Theo Vũ Quang Mạnh].

Tóm lại, vị trí phân loại các nhóm ve bét ở taxon bậc cao hiện còn có những vấn đề đang tranh luận và chưa thống nhất [23] Tuy nhiên, hệ thống phân loại của J.Balogh và P.Balogh là được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giói trong đó có Việt Nam

Ve giáp là nhóm động vật nhạy cảm vói sự thay đổi chất lượng không

khí (Andre, 1976; Weigmann et al., 1991; Weigmann et al., 1992; Steiner, 1995) Theo Steiner, ô nhiễm không khí, đặc biệt trong trường họp nồng độ

NO2 tăng cao, đã làm suy giảm độ giàu loài Ve giáp và tạo ra những quần xã đơn điệu nhiều hơn Ông cũng lưu ý rằng nhiều loài bị ảnh hưởng mạnh hơn bởi đặc trưng của vi sinh cảnh hơn là bởi mức độ ô nhiễm và sự thay đổi trong các cấu trúc quần thể [44]

Cấu trúc quàn thể, độ giàu loài và đặc điểm sinh sản của Oribatida có phản ứng âm túủi với liều cao của một số kim loại nặng ừong môi trường đô thị

Trên thế giói còn có rất nhiều hướng nghiên cứu về Oribatida nữa như, nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh; lịch sử hình thành loài; hướng tiến hóa của Oribatida; ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên lên mật độ, thành phàn loài Oribatida; vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình dinh dưỡng; nghiên cứu về quy luật và các yếu tố phát tán Oribatida; nghiên cứu về môi trường sống Ve giáp; sự đa dạng và phân bố Oribatida trên toàn cầu

1.2.2 Tĩnh hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam

Cùng vói những bước phát triển trong nghiên cứu về Oribatida trên thế giới, ở Việt Nam các nghiên cứu ưong lĩnh vực này cũng đã đạt được những hành tựu đáng kể Nhìn lại lược sử nghiên cứu, có thể chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: tò năm 1967 đến 1980 Giai đoạn 2: tò năm 1981 đến

1986 Giai đoạn 3: từ năm 1987 đến 2007

1

Trang 12

Giai đoạn 4: tò năm 2008 đến nay

Giai đoạn 1: Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam từ năm 1967 đến năm 1980

Trước năm 1967, chưa có công trình nào nghiên cứu về Ve giáp ở Việt Nam Hai tác giả Balogh J và Mahunka s., 1967 - (Hungari) đã giới thiệu khu hệ, danh pháp và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp trong đó mô tả

29 loài và 4 giống mới cho khoa học tong tác phẩm: “New oribatids from Vietnam” Tiếp theo là nghiên cứu của hai tác giả Balan A.Rajski và R.Szudrowicz (Balogh J et al., 1967; Rajski A et al., 1974) [26] Mở đầu cho các nghiên cứu tiếp theo về Oribatida ở Việt Nam

Trước năm 1975, nghiên cứu về Ve bét nói chung và Oribatida nói riêng ở Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Sau năm 1975, các tác giả trong nước bắt đầu có các nghiên cứu độc lập về Oribatida

Năm 1978, các tác giả Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Trí Tiến đã tiến hành nghiên cứu các nhóm Acarina và Collembola ở đất canh tác thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội

Sau đó phải kể đến công trình luận văn cấp I sau đại học của tác giả

Vũ Quang Mạnh, 1980 nghiên cứu thành phần loài, phân bố và biến động số lượng của các nhóm Ve bét Cryptostigmata, Mesostigmata, Prostigmata Acarina) và Bọ nhảy Collembola (Insecta) ở một số sinh cảnh Tây Nguyên

và ngoại thành Hà Nội Qua nghiên cứu này, tác giả chỉ ra rằng ở các sinh cảnh khác nhau có sự thay đổi về thành phàn và số lượng loài Oribatida [5] Trong giai đoạn này, nhìn chung các nghiên cứu về Oribatida chủ yếu do các tác giả nước ngoài tiến hành Các tác giả trong nước bắt đầu đi vào nghiên cứu về định lượng chung, thành phần loài nhưng chưa nghiên cứu chuyên sâu

Giai đoạn 2: Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam tò năm 1981

đến năm 1986

1

Trang 13

Chỉ ừong vòng 6 năm, tuy nhiên các nghiên cứu về Oribatida ở Việt Nam đã có những bước phát triển mới, rõ rệt đồng thời bổ sung đầy đủ hơn các dẫn liệu so với giai đoạn trước.

Tiêu điểm là công trình của nghiên cứu về nhóm chân khớp bé (Microathropoda) ở đất Cà Mau (Minh Hải) và Hà Nội (Từ Liêm), năm

1984 của tác giả Vũ Quang Mạnh Công trình này đã đánh giá về sự khác nhau về thành phần loài Oribatei và Collembola ở các sinh cảnh: vườn trồng lâu năm, ruộng rau xanh, đất bờ sông ổn định và sự khác nhau về thành phần loài, số lượng loài ở lớp đất 0 - 10cm [6]

Luận án Phó tiến sĩ của Vũ Quang Mạnh, 1985 về Oribatida ở các hệ sinh thái tự nhiên và đất canh tác ở miền Bắc Việt Nam

Như vậy, trong giai đoạn này các nghiên cứu về Oribatida đã có những bước phát triển hơn so với giai đoạn trước Hướng nghiên cứu, phạm

vi địa lý được mở rộng hơn so với nghiên cứu của giai đoạn trước Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn đi sâu về nghiên cứu nhóm chân khớp bé nói chung còn Ve giáp nói riêng chưa nhiều

Giai đoạn 3: Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam từ năm 1987

đến năm 2007

Nghiên cứu đánh giá mật độ, thành phần loài khu hệ Microathropoda

ở đất Cà Mau, Vũ Quang Mạnh (1987), Vũ Quang Mạnh và MJeleva (1987)

ở đất rừng Tây Nguyên; vùng đồng bằng ven biển miền Bắc Việt Nam của

Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Trí Tiến (1988, 1990) Năm 1990, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam và đưa ra danh sách 117 loài Ve giáp đã biết ở Việt Nam cho đến thời điểm đó, cùng với đặc điểm phân bố của chúng theo vùng địa lý, loại đất và

hệ sinh thái (Vũ Quang Mạnh, 1990) [7]

Tiếp đó là rất nhiều công trình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh, Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Trí Tiến, Vũ Quang Mạnh và Cao Văn Thuật, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa, Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Thanh Huyền

1

Trang 14

nghiên cứu khu hệ Ve giáp ở Việt Nam (1985, 1987, 1988, 1989, 1990a, 1990b, 1993, 1994, 1995, 1996, 1999, 2000, 2003, 2004 ).

Năm 1994, trong thông báo khoa học các trường đại học, Vũ Quang Mạnh đã giới thiệu danh sách 28 loài Ve giáp ở vùng đất ven biển Yên Hưng (Quảng Ninh), đảo Cát Bà (Hải Phòng) và đồng bằng sông Hồng (Hà Nội) và tác giả nêu lên mối liên hệ giữa Ve giáp vùng ven biển và vùng đảo

so với Ve giáp trong đất liền (Vũ Quang Mạnh, 1994)

Trong báo cáo khoa học tại Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ

V, tác giả Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, 2005 đã công bố khu hệ Ve giáp Việt Nam bao gồm 158 loài, thuộc 46 họ, khu hệ này mang yếu tố Ân Độ

- Mã Lai và thuộc vùng địa động vật Đông Phương Tuy nhiên, khu hệ Ve giáp Việt Nam có tính đặc hữu cao, có tới 76 loài chỉ phát hiện được ở Việt Nam Đồng thời, cũng có một số loài mang đặc điểm chung của khu hệ Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Nhật Bản và các đảo Nam Thái Bình Dương (Vũ Quang Mạnh và cs., 2005) [12]

Năm 2007, Vũ Quang Mạnh và cs đã công bố 3 loài Ve giáp thuộc giống Perxylobates Hammer 1972, hiện có ở Việt Nam [16]

Cũng trong năm 2007, Vũ Quang Mạnh đã giới thiệu hệ thống phân loại và danh pháp đày đủ nhất của 150 loài trong khoảng 180 loài Ve giáp

đã biết của khu hệ động yật Việt Nam trong công trình “Động yật chí và Thực vật chí Việt Nam”, Tập 21 “Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam” Tác phẩm này hiện nay đang được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong nghiên cứu và định loại Oribatida ở các cơ sở khoa học chuyên ngành [13]

Những nghiên cứu về cấu trúc quần xã Ve giáp như: đánh giá về đa dạng quần xã Ve giáp vùng đồi núi Đông Bắc và Bắc Kạn, Vũ Quang Mạnh,

2002 nhận định độ phong phú các loài ở các sinh cảnh khác nhau do tình trạng cấu trúc của vi sinh cảnh thấp và tính đề kháng sự khô hạn thấp và nguồn thức ăn kém (Vũ Quang Mạnh, 2002) [9]

1

Trang 15

Nghiên cứu về cấu trúc quàn xã Ve giáp ở VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vũ Quang Mạnh và cs., 2002 có sự nhận xét cấu trúc quần xã Ve giáp

ở hệ sinh thái đất có liên quan rõ rệt với sự suy giảm gỗ rừng Nó có thể được xem xét và đánh giá như một đặc điểm sinh học, chỉ thị quá trình diễn thế của VQG Tam Đảo nói riêng và của Việt Nam nói chung (Vũ Quang Mạnh và cs., 2002) [10]

Oribatida trong cấu trúc quần xã Acari ở hệ sinh thái VQG Ba Vì, Việt Nam, Phan Thị Huyền và cs., 2004 đã xác định được mối liên hệ giữa đai cao khí hậu ảnh hưởng tới cấu trúc quần xã Oribatida

Các nghiên cứu về Ve giáp như yếu tố chỉ thị sinh học cho môi trường đất cũng được đề cập Krivolutsky et al., 1997 nhận định Ve bét là vật chủ trung gian của các loài sán dây họ Anoplocephailidae Vũ Quang Mạnh và cs., 2002 đã đưa dẫn liệu bổ sung về cấu trúc và vai trò quần xã Ve giáp VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc nhận định có sự thay đổi đặc điểm đa dạng thành phần loài của quần xã Ve giáp theo chiều thẳng đứng, từ thảm rêu quanh thân cây và vụn xác thực vật, nằm trên mặt đất tò độ cao 0-100cm, cho đến thảm lá rừng phủ trên mặt đất, lớp đất mặt 0-1 Ocm và lớp đất sâu 1 l-20cm

ở hệ sinh thái VQG Tam Đảo Chỉ số này có thể xem xét như một yếu tố chỉ thị sinh học ở các diễn thế ở hệ sinh thái rừng Việt Nam (Vũ Quang Mạnh

và cs., 2002) Trong tập 2 “Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam”, tác giả

Vũ Quang Mạnh đã có những đánh giá rất cao về giá trị nguồn lọi và hiện trạng Ve giáp ở Việt Nam

Oribatida là nhóm động vật đất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu

tố môi trường đất như: nhiệt độ, độ chua, hàm lượng các chất khoáng và lượng mùn, đặc điểm cấu tạo cấu trúc quần xã Oribatida có liên quan mật thiết vói những thay đổi của điều kiện môi trường đất

Nhiều nhóm Ve giáp là nhóm gây hại trực tiếp cho cây trồng hoặc có vai trò như những vectơ mang truyền vi khuẩn, nguồn bệnh và giun sán kí sinh trong môi trường này Vì thế, qua phân tích cấu trúc các quần xã Ve

1

Trang 16

giáp giúp chúng ta có thể đánh giá và nhận biết được đặc điểm, tính chất của môi trường đất [13].

Như vậy, các nghiên cứu về khu hệ Oribatida ở Việt Nam không ngừng phát triển và ngày càng chứng tỏ tính đa dạng cho khu hệ này Việc nghiên cứu Oribatida trong giai đoạn này đã có những bước tiến mới và mang lại các giá tri to lớn cho con người trong các nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của chúng

Giai đoạn 4: Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay

Vũ Quang Mạnh, 2009 xác định thêm khu hệ Ve giáp ở Việt Nam hiện đã xác định được có đại diện của 4 giống thuộc họ Lohmanoidae Berlese, 1961 Riêng giống Papillacarus Kunst, 1959 hiện biết ở Việt Nam

có 3 loài (Vũ Quang Mạnh, 2009)

về nghiên cứu cấu trúc quần xã, tác giả Vũ Quang Mạnh và cộng sự

đã nghiên cứu cấu trúc quần xã chân khớp bé trong đó có Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối vói các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng ở vùng đồng bằng Sông Hồng Thành phàn loài Oribatida xác định được phong phú ở sinh cảnh bãi cỏ hoang, vói 15 loài, số lượng loài Oribatida giảm dần tò sinh cảnh RTN và VQN, đều có 9 loài; đến RNT và đất trồng cây gỗ lâu năm, vói 7 loài, thấp nhất ở mộng lúa cạn, với 2 loài (Vũ Quang Mạnh và cs., 2008) [16]

Trong báo cáo tại hội nghị Techmart tại Tây Nguyên tháng 4/2008, tác giả Vũ Quang Mạnh và cs chỉ ra trong cấu trúc quần xã động vật đất thì

Ve giáp chiếm ưu thế, vào khoảng 40-50%, có vai trò quan trọng trong nghiên cứu hệ sinh thái đất (Vũ Quang Mạnh và cs., 2008) [17]

Luận án Tiến sĩ Sinh học của Đào Duy Trinh, 2011 nghiên cứu về thành phàn và cấu trúc quần xã Ve giáp ở VQG Xuân Sơn (Phú Thọ) đã xác định được 102 loài và 1 phân loài Oribatida, thuộc 48 giống và 28 họ Tác giả cũng chỉ ra những thay đổi về sự phân bố thành phần loài theo đai cao khí hậu (giảm dần tò 300m đến 1600m), số loài giảm đi khi di chuyển tò

1

Trang 17

mùa khô sang mùa mưa Khẳng định rõ yếu tố Ấn Độ - Mã Lai của khu hệ Oribatida ỞVQG Xuân Sơn [21].

Một công trình khác nghiên cứu về Oribatida ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) của Nguyễn Hải Tiến,Vũ Quang Mạnh Các tác giả nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của cấu trúc quàn xã Ve giáp với sự thay đổi điều kiện môi trường ở khu vực nghiên cứu Các tác giả đã ghi nhận: vào mùa khô ở tầng đất 0-1 Ocm số lượng loài Oribatida giảm theo thứ tự: RTN trên núi đá vôi > RTN trên núi đất > RNT trên núi đất > RNT trên núi đá vôi Vào mùa mưa, số lượng loài giảm theo thứ tự: RTN trên núi

đá vôi >RNT trên núi đất > RTN trên núi đất > RNT ừên núi đá vôi Như vậy, sốlượng loài Oribatida có sự biến đổi theo từng loại đất, theo độ che phủ của thực vật và mức độ tác động của con người Đây là cơ sở sử dụng nhóm động vật này như một chỉ thị sinh học đối vói sự biến đổi môi trường [20]

Trong các công trình được công bố gàn đây thì có thể nói công trình

có mức độ chuyên sâu và toàn diện nhất là công trình nghiên cứu về hệ thống địa động vật Oribatida về hình thái và vai trò trong HST của tác giả

Vũ Quang Mạnh, các kết quả được trình bày trong luận án Tiến sĩ khoa học năm 2013 của tác giả Trong công trình này ghi nhận 316 loài và 4 phân loài, thuộc 163 giống, 60 họ và 2 phân họ Trong đó, có 111 loài (34,68%) đặc trưng chỉ phát hiện ở Việt Nam, 155 loài (chiếm 48,44%) làn đầu tiên được phát hiện cho khu hệ Ve giáp Việt Nam [19].Trong công trình này, tác giả còn nghiên cứu và tổng kết vai ttò phân hủy xác thực yật, cấu trúc quần

xã của chúng liên quan đến việc sử dụng các thành phần hữu cơ và phân bón hóa học khác nhau trong sản xuất nông nghiệp Do yậy, những cấu trúc này có thể sử dụng như các chỉ thị sinh học tiềm năng cho sự phát triển bền vững của HST nông nghiệp

Tóm lại, trong giai đoạn này các nghiên cứu về Oribatida tiếp tục được các tác giả đặc biệt là các tác giả ừong nước đi sâu và mở rộng nghiên

1

Trang 18

cứu về các hướng: khu hệ, cấu trúc quần xã, đặc biệt là vai trò chỉ thị sinh học đối với sự thay đổi các điều kiện môi trường.

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐẶC ĐIỂM Tự NHIÊN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu và sổ lượng mẫu

Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành ở vườn Quốc gia Cúc Phương với sinh cảnh trảng cỏ cây bụi ven rừng

Trong năm 2013, chúng tôi đã tiến hành 2 đợt nghiên cứu và thu mẫu ngoài thực địa, tương ứng với 2 mùa đầu mùa mưa và đầu mùa khô

1

Bảng 2.1 Thống kê số lưọng mẫu tại VQG Cúc Phưong

5 mâu x2

5 mâu x2

36 mẫu

Trang 19

rộng 10 km với tọa độ địa lý: Từ 20°14 đến 20°24 vĩ độ Bắc; Từ 105°29 đến 105°44 kinh độ Đông

Địa hình VQG Cúc Phương bao gồm 2 dãy núi đá vôi chạy song song

và thung lũng giữa hai dãy đó, kéo dài ừên 20km theo hướng tây bắc - Đông Nam, độ cao trung bình so với mặt biển 300 - 400 m, cao nhất là đỉnh Mây Bạc (648 m)

* Khí hâu

Nhiệt độ trung bình thấp hơn, mùa đông dài và lạnh hơn, mùa hè ngắn

và mát hơn vùng xung quanh

Cúc Phương có mùa mưa dài hơn và lượng mưa lớn hơn các vùng xung quanh Lượng mưa bình quân hàng năm ở đây dao động 1700-2200

mm Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 89,1% lượng mưa cả năm, nhiệt độ trung bình trong mùa nóng 26,4°c Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ bình

quân trong mùa khô lạnh 18,6°c và lượng mưa chiếm 10,9% lượng mưa cả năm Mưa ít cộng vói nhiệt độ thấp làm cho khí hậu Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông

* Thuỷ văn

Dưới lòng đất VQG Cúc Phương là địa hình núi đá vôi bị nước ăn mòn dần, tạo thành những hang động mà trên mặt đất có nhiều lỗ hút lớn nhỏ thu gom trong rừng sau những trận mưa Vì yậy trong VQG có nhiều suối cạn, chỉ có nước tạm thời sau nhưng trận mưa Vì trong VQG có nhiều con suối cạn, chỉ có nước tạm thời trong vài giờ trong và sau cơn mưa, hoặc

1 đến 2 ngày nếu mưa to kéo dài Trừ sông Bưởi và sông Ngang ở phía tây bắc

Trang 20

- Đất có độ ẩm tự nhiên tương đối cao.

- Đất có độ xốp rất tốt

- Đất có hàm lượng mùn lớn không kể trên cao hay dưới thấp

- Đất có khả năng hấp thụ cao biểu thị ở tổng cation trao đổi cao

Đa dang về khu hê đông vât

Các nhà nghiên cứu đã thống kê được: 125 loài thú, hơn 308 loài chim, 110 loài bò sát và lưỡng cư, 65 loài cá, gàn 2000 loài côn trùng Trong đó, có nhiều loài động vật đặc hữu chỉ có ở Cúc Phương như: cá Niết hang, Sóc bụng đỏ Cùng nhiều loài động yật quý hiếm có tên trong sách

đỏ Việt Nam và thế giới như: Báo gấm, Báo lửa, báo ngựa

2.3 Dụng cụ nghiên cứu

Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật cỡ (5x5x10) cm Túi nilong dựng mẫu, bút dạ không xóa, sổ ghi chép, Máy xác định tọa độ địa lý GPS là thiết bị thu và xử lý tín hiệu từ các vệ tinh địa tĩnh để xác định tọa độ địa lý của bất kì địa điểm nào ừên trái đất

Dụng cụ nghiên cứu ưong phòng thí nghiệm:

Hệ thống lọc mẫu đất (rây lọc, phễu lọc,

Dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêu bản: đĩa petri, lam kính, lamen, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm, bông

Kính lúp Olympus SZ40; Kính hiển vi Olympus CH2; Chụp ảnh Oribatida ở kính Olympus có độ phóng đại từ 40-100 làn

Hoá chất sử dụng: Glixerol, Formol, cồn tuyệt đối

2.4 Phương pháp nghiền cứu

2

Trang 21

2.4.1 Thu mẫu Oribatida

Thu mẫu đất

Ở VQG Cúc Phương, Ninh Bình chúng tôi tiến hành thu mẫu tầng đất định lượng theo các sinh cảnh nghiên cứu khu hệ và thu lặp lại theo lịch thu mẫu trong năm Mau đất được lấy ở độ sâu 0-10 cm, 10-20 cm và 20-30 cm với kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x10 cm

Tách lọc Oribatida

Sử dụng phương pháp truyền thống trong nghiên cứu khu hệ và sinh thái động yật đất ở thực địa và trong phòng thí nghiệm theo Krivolutsky, 1975

Các mẫu đất sau khi thu ở thực địa về, sẽ tiếp tục tiến hành tách động vật chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc “Berlese - Tullgren”, dựa theo tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động yật đất trong thời gian 7 ngày đêm, ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm

Để xử lý mẫu, bảo quản và định loại: Các ống nghiệm chứa động vật thu được nhờ phễu “Berlese - Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trong đĩa petri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa dung dịch định hình là cồn tuyệt đối Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghi đầy đủ ngày thu mẫu, địa điểm Toàn bộ tiêu bản định loại và các mẫu vật được bảo quản tại Phòng Động yật, Khoa Sinh - KTNN, Đại học sư phạm Hà Nội

2

Trang 22

Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc cơ thể của OribatidaĐặc điểm hình thái phân loạỉ (từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [13]

Prosoma là phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, n, III và IV.Proterosoma là phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước.Hysterosoma là phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp sinh dục (G) và 2 đồi chân sau

Prodorsum là tấm giáp đầu ngực; Notogaster là tấm giáp lưng

Gnathosoma là phần hàm miệng

Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và n

Metapodosoma là phần thân giữa mang đôi chân III và IV

Podosoma là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân

Định loại Oribatida

Mầu Oribatída, trước khỉ được định loạỉ cần được tẩy màu, làm trong

vỏ kintin cứng Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng Đặt lamel ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axỉt nhỏ vào chỗ lõm dưới lamel chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhau theo

2

Trang 23

hướng lưng và bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang ở kính hiển vi.

Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh; tất

cả các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định hình bằng formol 4% Dùng giấy can ghi các thông số tên loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm được đặt chung vào lọ thuỷ tinh lớn chứa formol 4% để bảo quản lâu dài Ghi tất cả các tên loài đã được định loại vào nhật ký phòng thí nghiệm

Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh p., 1992 Các loài trong một giống được sắp xếp theo vàn a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả: Baker E et al., 1952; Grandjean, 1954; Ghilarov M., et al, 1975; Norton R A., 1990; Willmann, 1931 ; Vũ Quang Mạnh, 2007

Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên nền phần mềm Primer 6; phần mềm Excell 2003

Trong đó: na - số lượng cá thể của loài a

N - tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay theo địa điểm

Độ ưu thế được phân ra bốn mức như sau:

- Rất ưu thế: D>10% ữong tổng số cá thể của sinh cảnh

2

Trang 24

- Ưu thế: 5,1 - 10% trong tổng số cá thể của sinh cảnh

- Ưu thế tiềm tàng: 2,0 - 5,0% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu

- Không ưu thế: D< 2,0% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu Loài ưu thế là loài có số lượng cá thể riêng chiếm từ 5% trong tổng số

cá thể chung của quần xã trở lên

Phân tích chỉ số đa dạng loài (H’)

Chỉ số (H’) Shannon - Weaner: được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng loài trong quàn xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong quần xã

Trong đó: s - số lượng loài;

ĩiị - số lượng cá thể của loài thứ i

N - tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu Giá tri H’ dao động trong khoảng 0 đến QO

Phân tích chỉ số đồng đều (J’) - Chỉ số Pielou

ln s

Trong đó: H’- chỉ số đa dạng loài

s - số loài có trong sinh cảnh

Giá tri J’dao động trong khoảng từ 0 đến 1

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Đa dạng thành phần loài Oribatida ở vùng nghiên cứu

ORIBATIDA Ở

VÙNGNGHIÊN CỨU

2

Trang 25

HAPLOZETIDAE GRANDJEAN, 1936

5 Giống Peloribates Berlese, 1908

10 Peloribates gutta toides (Hammer,

1979)

X

III OTOCEPHEIDAE BALOGH, 1961

6 Giống Dolicheremaeus Jacot, 1938

18 Scheloribates parvus (Pletzen, 1963) X X X X

19 Schelorỉbates laevigatus (C L Koch,

2 Giống Perxylobates Hammer, 1972

2 Perxylobates guehoi (Mahunka, 1978) X

3 Giống Xylobates Jacot, 1929

3 Xylobates monodactylus (Haller, 1984) X

4 Giống Brasilobates Pe’rez - Inỉgo et

Baggio, 1980

4

Brasỉlobates bỉsculpturatus (Mahunka, 1988)

X

5 Brasolobates bỉpilus (Hammer, 1972) X

6 Brasỉlobates acutus (Hammer, 1979) X

7 Brasilobates maximus (Mahunka,

Trang 26

16 Giống Xylobates Jacot, 1925

34 Xylobates paracapucỉnus (Mahunka,

1988)

XIII STICTOZEDEA BERLESE, 1916

17 Oribata (Stictozetes) scaber Berlese,

1916

35 Stỉctozetes scaber (Berlese, 1961) X

XIIII LAURITZEDEA HAMMER, 1958

18 Giống Incabates ( Lauritzenỉa)

9 Giống Lamellobates Hammer, 1958

23 Lameỉỉobates puỉustris Hammer,

10 Giống Gibbicepheus Balogh, 1958

25 Gỉbbỉcepheus novus (Hammer, 1973) X X X X X

26 Gibbicepheus baccanensỉs Jeleva et

Vu, 1987

X

VII TECTOCEPHEUS BERLESE, 1896

11 Giống Tegeozetes Berlese, 1913

28 Tegeozetes tunicatus breviclava Aoki X

VIII FURCOPPIADEA BALOGH ET

13 Giống Oppidae Grandjean, 1954

31 Crypotopia brevisetinger (Zaigen

Trang 27

44 Pergalumna striata (Perez - Inigo et

22 Giống Galumna Heyden, 1862

48 Galumna armatifera (Mahunka,

49 Galumna mariae (Balogh, 1961) X

50 Galumna basilewekyi (Balogh, 1959) X

23 Giống Pilogalumna, Grandjean,

1956

51 Pỉlogalumna variabiỉis (Engel

brecht, 1972)

X

Trang 28

Bảng 3.3 Sự phân bổ các bậc taxon của Oribatida theo mùa nghiên

Trang 29

Các kết quả phân tích đặc điểm phân bố của Oribatida được thể hiện

ở bảng 3.1 và bảng 3.3

Số loài Oribatida cả khu vực nghiên cứu là 51 loài, trong đó 43 loài

có mặt vào mùa mưa, 17 loài có mặt vào mùa khô (bảng 3.1)

* về sự phân bố Oribatida theo mùa, kết quả phân tích bảng 3.1 cho

+ Số loài xuất hiện ở mùa mưa là 31 loài, ở mùa khô là 15 loài

+ Số loài xuất hiện ở cả hai mùa là 5 loài: Schelorỉbates parvus (Pletzen, 1963); Scheloribates laevigatus (C L Koch, 1836); Ischelorỉbates

lumỉnosus (Hammer, 1961); Lamellobates pulustris Hammer, 1958; Gỉbbỉcepheus novus (Hammer, 1973)

-Tàng đất 11-20 cm (1-2)

+ Số loài xuất hiện ở mùa mưa là 15 loài, ở mùa khô là 8 loài

+ Số loài xuất hiện ở cả hai mùa là 3 loài (chiếm 15% tổng số loài của tầng): Schelorìbates laevigatus (C L Koch, 1836); Ischeloribates luminosus (Hammer, 1961); Gibbicepheus novus (Hammer, 1973)

- Tầng đất 21-30 cm (1-3)

+ Số loài xuất hiện ở mùa mưa là 8 loài, ở mùa khô là 4 loài

+ Số loài xuất hiện ở cả hai mùa là 1 loài (chiếm 8,33%) tổng số loài của tầng): Ischelorỉbates luminosus (Hanuner, 1961)

2

Trang 30

Khu hệ Oribatida ở hệ sinh thái trảng cỏ cây bụi thuộc VQG Cúc Phương, đã xác định được 51 loài, thuộc 23 giống, 15 họ (bảng 3.1) Các họ

đó là: họ Xylobatidae J Balogh et p Balogh, 1984; họ Haplozetidae Grandjean, 1936, họ Otocepheidae Balogh, 1961; Galumnidae Jacot, 1925; Scheloribatidae Grandjean, 1953; Austrachipteriidae Luxton, 1985; Carabodidae C.L.Koch, 1837; Tectocepheus berlesel896; Furcoppia Balogh

et Mahunka, 1969; Crytophia Csiszael961; Tegoribatidae Grandjeanl954;

Trong số 51 loài Oribatida đã xác định được ở vùng nghiên cứu có 5 loài ở dạng sp (mới định loại đến giống), các loài đó là: Brasilobates sp.;

Gibbicephues sp.; Schelorỉbates sp.; Incabates sp.; Furcoppia sp.; Bố sung 33

loài cho khu hệ Ve giáp Cúc Phương (so với thống kê của Vũ Quang Mạnh, 2007)

Kết quả phân tích bảng 3.1 cho thấy: trong 15 họ, 23 giống; họ có số giống và số loài cao nhất là: Galumnidae Jacot, 1925 (5 giống, 15 loài), tương ứng 21,7% và 28,3% tổng số giống, loài Họ này cũng được xác định

là đa dạng thành phần loài nhất Bên cạnh đó, họ Scheloribatidae Grandjean, 1953 có 3 giống, nhưng số loài ít hơn (có 10 loài, chiếm 18,9% tổng số loài) Họ Xylobatidae J.Balogh et P.Balogh, 1984 có 3 giống, 9 loài (chiếm 17,4% và 17,6% tổng số giống, loài) Họ Carabodidae C.L.Koch có

1 giống, 3 loài (chiếm 4,3% và 5,7% tổng số giống, loài); họ Otocepheidae Balogh, 1961; họ Austrachipteriidae Luxton, 1985; họ Furcoppia Balogh et Mahunka, 1969 có 1 giống, 2 loài (chiếm 4,3%và 3,8% tổng số giống, loài)

Còn lại 8 họ chỉ có 1 giống và 1 loài (chiếm 45,45 % tổng số họ) Đó là các họ: họ Haplozetidae Grandjean, 1936; Tectocepheus Berlese, 1896; họ Oppidae Grandjean, 1954; họ Tegoribatidae Grandjean, 1954; họ Mochlozetidae Grandjean 1960; họ Crytophia Csiszael961; họ Lauritzenia Hammer, 1958 và họ Hemileius Berlese, 1926

Như yậy, khu hệ Oribatida ở hệ sinh thái trảng cỏ cây bụi, thuộc VQG Cúc Phương có số họ (15 họ) và độ đa dạng loài (51 loài) không cao ở hai mùa và theo tầng nghiên cứu

3

Trang 31

Theo mùa nghiên cứu, thì thành phần loài giảm dần từ mùa mưa > mùa khô

Sự phân bố theo tầng sâu thẳng đứng trong HST đất khác nhau ở hai mùa; số lượng loài phong phú, đa dạng nhất ở tàng 1-1 (tàng đất 0-10 cm )

Do việc thu mẫu còn nhiều hạn chế, thòi gian ngắn nên chúng tôi chắc rằng số loài biết đến còn khá ít so với số lượng loài thực tế ở khu yực này Vì vậy cần có nhiều đợt thu mẫu hơn nữa.

3.2 Cấu trúc quần xã Oribatida ở hệ sinh thái trảng cỏ cây bụi, thuộc vườn quốc gia Cúc Phưong, tỉnh Ninh Bình

sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu

Cấu trúc quần xã Oribatida ở HST trảng cỏ cây bụi thuộc VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình được tìm hiểu thông qua phân tích một số chỉ số định lượng của quàn

xã như: số lượng loài (S), chỉ số Margalef (d), chỉ số đa dạng loài Shannon (H’), chỉ

số đồng đều - chỉ số Pielou (J’).

Các kết quả phân tích các chỉ số của quần xã Oribatida theo tầng sâu và theo mùa được thể hiện ở bảng và biểu đồ.

3

Trang 32

Bảng 3.4: Bảng giá trị các chỉ số định lượng của quần xã Oribatida theo tầng sâu

thẳng đứng trong HST đất ở khu vực nghiên cứu

Ghi chú:

1-1,1-2.1-3: tầng đất (O-lOcm), tàng đất (10-20 cm), tầng đất (20-30 cm)

3.2.1.1 Số lượng loài

Theo kết quả phân tích ở bảng 3.4 và biểu đồ 3.1 ta thấy: số loài Oribatida

ở các tầng dao động từ 11 đến 41 loài, số lượng loài tập trung nhiều nhất ở tầng 1-1 (tầng đất 0-10 cm) với 41 loài, số lượng loài thấp nhất ở tàng 1-3 với số loài là 11

Số lượng loài giảm dần theo thứ tự sắp xếp tầng sâu thẳng đứng trong rừng tự nhiên là: tầng đất 0-10 cm > tàng đất 10-20 cm > tàng đất 20-30 cm (số loài tương ứng là 41, 20, 11).

số lượng loài

45-1 40- 35- 30- 25-

20 15-

-10 5- 0-

-Biểu đồ 3.1: Số lưạng loài Oribatida theo tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái

đất ở khu vực nghiên cứu

Trang 33

3.2.1.2 Mật độ trung bình

Mật độ trung bình của Oribatida ở các tầng dao động ữong khoảng 176 con/m 2

ở tầng 1-3 mang giá tộ thấp nhất, đến đất (tầng 1-2) và đạt giá trị cao nhất là 1192 con/m2 ở đất (tầng 1-1) Xu hướng giảm dàn từ tầng đất 0 - 1 0 cm > 10 - 20 cm > 20- 30cm (bảng 3.5).

3.2 L3 Độ đa dạng loài H’ và độ đỏng đều J’

H*

Bảng 3.5 Một số chỉ sấ định lượng của Oribatida theo tầng sâu thẳng đứng

trong hệ sỉnh thái đất và theo mùa ở KVNC

Ghi chứ: a, b: chỉ số riêng theo mùa mưa và khô ã b

c: chỉ số chung cho cả hai mùa c

2

ôiéũ đồ 3.2: Chỉ 5ố da dạng loÁỈ H' wà chl sổ dâng dầu J' ih«o chiều sáu

thẳng đứng trong HST đất khu Mực nghiẽn cửu

Trang 34

Qua kết quả ở biểu đồ 3.2 và bảng 3.5, ta có thể thấy độ đa dạng loài H’ có sự thay đổi: I-2>I-1> 1-3 (H’=2,29>2.82>2.094) Độ đồng đều J’ lại có sự thay đổi: cao nhất ở tàng 1-3, rồi giảm xuống thấp hơn ở tầng 1-2; sau thấp nhất ở tầng 1-1 (J’= 0,8732> 0,7727> 0,6825).

3.2.1.4 Các loài Orỉbatỉda ưu thể và phổ biển trong các tầng sâu thẳng đứng trong

hệ sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu Các loài Oribatida ưu thế:

Đã thống kê được 6 loài Oribatida ưu thế ttong các tầng sâu thẳng đứng ừong HST đất ở khu vực nghiên cứu Độ ưu thế dao động trong khoảng từ 6,08% đến 31,81% (bảng 3.6).

Trong đó có 3 loài ưu thế ở 2/3 tầng đó là: Gibbỉcepheus novus (Hammer, 1973), Ischelorỉbates lumỉnosus (Hammer, 1961), Bỉschelorỉbates praeincisus

(Berlese, 1913).

Còn lại 3 loài ưu thế ở 1 tầng nhất định:

Tầng đất 0-1 Ocm: Lamellobates pulustris Hammer, 1958 Tầng đất

ll-20cm: Scheloribates coroỉevuensis ( Hammer, 1971)

Tầng đất 21-30cm: Xylobates paracapucinus (Mahunka, 1988)

Tầng có nhiều loài ưu thế nhất là tầng đất 10-20 cm (1-2) và tầng đất 20-30 cm

(4 loài) trong đó có loài ưu thế nhất là Ischeloribates luminosus (Hammer, 1961), Sau

đó là tầng đất 0-10 cm có 3 loài ưu thế.

Bảng 3.6 Các loài Oribatỉda ưu thế trong các tầng sâu thẳng đứng trong

hệ sinh thái đất ởkhu vực nghiên cứu

Đô ưu thế Di %)

1 Gibbỉcepheus novus ( Hammer, 1973) 30,04 21,84 18,18

2 Scheloribates corolevuensis ( Hammer, 1971) 11,49

3 Lamellobates pulustris Hammer, 1958 6,08

4 Ischeloribates lumỉnosus ( Hammer, 1961) 23,65 27,59 31,81

5 Bischeloribates praeincisus (Berlese, 1913) 9,19 9,09

6 Xyỉobates paracapucinus ( Mahunka, 1988) 9,09

Trang 35

Các loài Oribatida phổ biến Bảng 3.7 Các loài Oribatida phổ biến trong các tầng sâu thẳng đứng ở

khu vực nghiên cứu

Có 3 loài Oribatida phổ biến ở hai mùa trong các tàng sâu thẳng đứng ừong HST đất ở khu vực nghiên cứu Trong đó có 2 loài phổ biến ở 2 tàng đất I- 1 và 1-2 Tầng đất 20 - 30 cm không có loài phổ biến ở cả 2 mùa nghiên cứu (số lượng mẫu thu

có loài a/tổng số 10 mẫu <50%) Tầng đất 1-2 có cả 3 loài phổ biến.

Đối chiếu bảng 3.6 với bảng 3.7 ta thấy: 3 loài Oribatida phổ biến đồng thời cũng chính là loài ưu thế trong các tầng sâu thẳng đứng ở khu vực nghiên cứu.

1 Gibbicepheus novus (Hammer, 1973) 45 19

2 Schelorỉbates corolevuensỉs (Hammer, 1971) 10

3 Ischeloribates lumỉnosus (Hammer, 1961) 35 24

Ngày đăng: 07/09/2015, 16:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida Đặc điểm hình thái phân loạỉ (từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [13] - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida Đặc điểm hình thái phân loạỉ (từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [13] (Trang 22)
Bảng 3.2. Thành phần các họ Oribatida ở HST trảng cỏ cây bụi - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Bảng 3.2. Thành phần các họ Oribatida ở HST trảng cỏ cây bụi (Trang 27)
Bảng 3.5. Một số chỉ sấ định lượng của Oribatida theo tầng sâu thẳng đứng - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Bảng 3.5. Một số chỉ sấ định lượng của Oribatida theo tầng sâu thẳng đứng (Trang 33)
Bảng 3.6. Các loài Oribatỉda ưu thế trong các tầng sâu thẳng đứng trong - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Bảng 3.6. Các loài Oribatỉda ưu thế trong các tầng sâu thẳng đứng trong (Trang 34)
Bảng 3.8. Các loài Oribatida ưu thế theo mùa ở khu vực nghiên cứu - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Bảng 3.8. Các loài Oribatida ưu thế theo mùa ở khu vực nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.9: Các loài Oribatida phổ biến theo mùa ở khu vực nghiên cứu - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Bảng 3.9 Các loài Oribatida phổ biến theo mùa ở khu vực nghiên cứu (Trang 39)
Hình 3. Brasỉỉobates bisculpturatus (Mahunka, 1988) - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 3. Brasỉỉobates bisculpturatus (Mahunka, 1988) (Trang 55)
Hình 11.  Scheloribates coroỉevuensis  (Hammer, 1971) - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 11. Scheloribates coroỉevuensis (Hammer, 1971) (Trang 59)
Hình 14. Bỉscheỉorìbates praeỉncisus (B erlese, 1913) - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 14. Bỉscheỉorìbates praeỉncisus (B erlese, 1913) (Trang 60)
Hình 20. Dimigogalumna comoroensis (Mahunka, 1994) - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 20. Dimigogalumna comoroensis (Mahunka, 1994) (Trang 62)
Hình   26.     Lameỉlobates puỉustris   Hammer,   1958 - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
nh 26. Lameỉlobates puỉustris Hammer, 1958 (Trang 65)
Hình 30. Hemiỉeius microcỉava   (Hammer,   1961)Hình 29. Seto xylobates foveolatus  Balogh et Mahunka, 1967 - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 30. Hemiỉeius microcỉava (Hammer, 1961)Hình 29. Seto xylobates foveolatus Balogh et Mahunka, 1967 (Trang 66)
Hình 33. Pergalumna montana   (Hammer,   1961) - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 33. Pergalumna montana (Hammer, 1961) (Trang 67)
Hình 41. Đoỉicheremaeus omata (Balogh et Mahunka, 1967) - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 41. Đoỉicheremaeus omata (Balogh et Mahunka, 1967) (Trang 70)
Hình 45.  Pergcầtmna pưnctuỉatus  Balogh et Mahunka, 1967 - Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở hệ sinh thái đất trảng cỏ cây bụi ven rừng, thuộc rừng quốc gia cúc phương, tỉnh ninh bình
Hình 45. Pergcầtmna pưnctuỉatus Balogh et Mahunka, 1967 (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w