Kĩ năng dạy học Kĩ năng dạy học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức tạp của một hay nhiều hành động dạy học bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THU MAI
DẠY – HỌC MÔN TOÁN LỚP 4, LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN HÒA, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THU MAI
DẠY – HỌC MÔN TOÁN LỚP 4, LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN HÒA, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Huy Lợi
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn “Dạy – học môn Toán lớp 4, lớp 5 ở trường Tiểu học Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học”, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy (cô) giáo, bạn bè và người thân
Trước hết, em xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Huy Lợi, người đã giao đề tài, trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh các trường Tiểu học Xuân Hòa, Ngọc Thanh A – thị xã Phúc Yên và trường Tiểu học Mê Linh – huyện Mê Linh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực trạng và khảo nghiệm sư phạm
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo cũng như ý kiến đóng góp của các bạn quan tâm
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Thu Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Trần Thị Thu Mai
Trang 5Chương 1: Cơ sở lí luận của việc dạy – học môn Toán ở
Tiểu học
4
1.4 Nội dung và mục tiêu dạy học trong sách giáo khoa Toán
lớp 4, lớp 5
12
Trang 61.4.1 Mục tiêu dạy học môn Toán ở Tiểu học 12 1.4.2 Phân tích nội dung sách giáo khoa Toán lớp 4, lớp 5 12
1.5 Một số kĩ năng và yêu cầu dạy học Toán ở Tiểu học 17
1.5.2 Yêu cầu chuẩn kiến thức và kĩ năng đối với giáo viên Tiểu
học trong dạy học môn Toán
19
1.6 Mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa gia đình, nhà trường,
xã hội trong dạy học môn Toán ở Tiểu học
24
1.6.2 Mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – xã hội 25
Chương 2: Thực trạng dạy – học môn Toán lớp 4, lớp 5 ở
trường Tiểu học Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
29
2.1 Khái quát về thực trạng dạy – học môn Toán lớp 4, lớp 5 ở
trường Tiểu học Xuân Hòa
29
2.1.4 Về sự quan tâm của xã hội và phụ huynh với việc học tập
của con em mình
44
2.1.5 Về sự chỉ đạo của các cấp quản lí giáo dục có liên quan đến
chất lượng môn Toán
45
2.2 Nhận xét tổng quát về chất lượng dạy học môn Toán lớp 4,
lớp 5 ở trường Tiểu học Xuân Hòa
49
Trang 72.2.2 Chất lượng học tập của học sinh 51
2.3 Kinh nghiệm dạy học môn Toán lớp 4, lớp 5 ở một số
3.1.1 Căn cứ vào đòi hỏi đối với ngành Giáo dục nói chung và
Giáo dục Tiểu học nói riêng trong xã hội hiện nay
3.2.3 Tăng cường hiệu quả học tập của học sinh 69 3.2.4 Tăng cường mối liên hệ giữa nhà trường – gia đình – xã hội 74 3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học 77
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp đã
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một đất nước được thay da đổi thịt từng ngày, một thời đại văn minh lịch sự mà ở đó mỗi con người ngoài khả năng giao tiếp cần phải có một năng lực tư duy, sáng tạo Để đào tạo được những con người như vậy, Giáo dục được xem là lĩnh vực quan trọng nhất Giáo dục là chìa khóa vàng cho mọi Quốc gia, dân tộc tiến bước vào tương lai, là một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước Đảng ta đã khảng định Giáo dục
và Đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực của con người – yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Trong hệ thống Giáo dục, cấp Tiểu học được xem là cấp học nền tảng, nơi đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành phát triển trí tuệ và nhân cách, là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho giáo dục phổ thông, đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa Chính ở cấp học này, đặc điểm tâm lí, sinh lí của trẻ em phát triển mạnh mẽ Các nền nếp và thói quen học tập, nhu cầu và hứng thú nhận thức được hình thành mạnh mẽ ở lứa tuổi này
Trong các môn học ở Tiểu học thì môn Toán có một vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng Môn Toán cung cấp cho học sinh những tri thức ban đầu và cơ bản về số học (số tự nhiên, số thập phân, phân số, các đại lượng thông dụng), một số yếu tố hình học, một số yếu tố thống kê và hình thành các kĩ năng toán học Môn Toán ở Tiểu học rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận và giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận,
có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học
Trang 9Việc học tập môn Toán không những giúp học sinh lĩnh hội những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên mà còn giúp các em bước đầu hình thành phương pháp làm việc, kĩ năng trình bày và cách giải quyết các tình huống Từ đó giúp các em phát triển tư duy, khả năng khái quát hóa và hoạt động sáng tạo
Mục tiêu của môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh có kiến thức cơ bản và năng lực thực hành vào thực tế đời sống Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập, phát triển khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng các suy luận đơn giản, góp phần rèn luyện phương pháp học tập, làm việc linh hoạt, khoa học, sáng tạo
Chương trình môn Toán ở Tiểu học được chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3) làm quen và chuẩn bị
- Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5) hình thành và phát triển
Toán 4 và toán 5 là giai đoạn phát triển cao hơn, học tập sâu hơn, giúp học sinh rèn luyện và phát triển các năng lực tư duy, sáng tạo Việc nắm vững kiến thức, có kĩ năng và phương pháp giải các dạng toán ở lớp 4, 5 giúp cho các em có những tiền đề chắc chắn, là cơ sở giúp các em học tốt môn Toán và các môn học khác trong những bậc học tiếp theo Tuy nhiên, hiện nay dạy - học Toán ở Tiểu học nói chung và dạy - học Toán lớp 4, lớp 5 nói riêng là một vấn đề còn nhiều điểm cần quan tâm, đòi hỏi giáo viên cần phải đổi mới đồng bộ phương pháp để nâng cao chất lượng dạy - học nói chung và dạy - học Toán nói riêng
Trước những nhiệm vụ và tầm quan trọng của việc dạy – học môn Toán
ở Tiểu học, việc nghiên cứu đề xuất những phương án dạy – học mới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy là một việc làm cần thiết
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về dạy – học môn Toán lớp 4 – 5, đồng thời góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng dạy học ở Tiểu học,
Trang 10tôi đã chọn đề tài: “Dạy - học môn Toán lớp 4, lớp 5 tại trường Tiểu học Xuân Hòa, Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về thực trạng việc dạy - học toán ở trường Tiểu học Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất những giải pháp để khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học môn Toán ở Tiểu học
- Nghiên cứu thực trạng của việc dạy và học Toán ở trường Tiểu học
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng việc dạy – học môn Toán lớp 4, 5 và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận, nghiên cứu thực tiễn của việc dạy – học môn Toán lớp 4, 5 trường Tiểu học Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
5 Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở hiểu được đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học kết hợp với việc phân tích thực trạng của việc dạy học môn Toán sẽ đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY – HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về dạy
- Dạy học được hiểu là một hình thức đặc biệt của giáo dục (nghĩa rộng), xem như là một trường hợp riêng của nó (của giáo dục) Dạy học là con đường đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ biện chứng và phối hợp với các con đường, các hoạt động khác trong quá trình giáo dục để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đặt ra
- Dạy học là một quá trình truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh nghiệm xã hội và nghề nghiệp cho người học nhằm hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng Dạy học bao hàm trong nó sự học và sự dạy gắn bó với nhau, trong đó sự dạy không chỉ là sự giảng dạy mà còn là sự tổ chức, chỉ đạo và điều khiển sự học
- Dạy học là một mặt của quá trình dạy và học do người giáo viên thực hiện theo nội dung, chương trình đào tạo đã định nhằm giúp người học đạt được các mục tiêu học tập theo từng bài hoặc toàn khóa đào tạo Hoạt động dạy học không chỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
- Dạy học là hoạt động của giáo viên, không chỉ là hoạt động truyền thụ cho học sinh những nội dung đáp ứng được các mục tiêu đề ra, mà còn hơn nữa là hoạt động giúp đỡ chỉ đạo và hướng dẫn học sinh trong quá trình lĩnh hội Chỉ khi nào nắm bắt được các điều kiện bên trong (hiểu biết, năng lực, hứng thú, …) của học sinh thì giáo viên mới đưa ra được những tác động sư phạm phù hợp để hoạt động học đạt kết quả mong muốn
Trang 12- Theo các nhà tâm lí học, dạy học không hướng vào trình độ phát triển
mà học sinh đã đạt được mà phải vượt trước trình độ đó một chút, bằng cách
đề ra những yêu cầu vượt quá khả năng hiện có của học sinh và trình độ hoạt động phân tích – tổng hợp mà các em đã đạt được và đã lĩnh hội tốt Dạy học không được hướng vào quá khứ mà phải hướng vào tương lai của sự phát triển của học sinh Dạy học phải được xây dựng không chỉ trên cơ sở trình độ phát triển đã được kết thúc, mà trước hết phải hướng vào cái mà chưa được hình thành hoàn hảo (và cái đang được hình thành do ảnh hưởng của sự học đó) Chính vì vậy mà người học cần có sự nỗ lực để chiếm lấy cái mình chưa
có hay để hoàn thiện cái đang hình thành
1.1.2 Khái niệm về học
- Học, theo nghĩa rộng nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động của con người, là sự lĩnh hội những “sức mạnh bản chất người” đã được đối tượng hóa trong các sản phẩm của hoạt động con người Đó là hoạt động phản ánh những mặt nhất định của hiện thực khách quan vào ý thức người học Tuy nhiên nó chủ yếu hướng người học vào lĩnh hội những chân lí đã được loài người phát hiện nhưng chúng lại là mới đối với họ
- Hoạt động học là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng
có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan
Có thể nói, hoạt động dạy – học gồm 2 mặt của quá trình đó là dạy và
học luôn đi kèm biện chứng với nhau Hoạt động dạy – học có các đặc trưng sau đây:
Là một hoạt động có mục đích rõ ràng
Có nội dung, chương trình kế hoạch cụ thể
Trang 13Diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, xưởng thực hành, phòng thí nghiệm)
Sử dụng các phương tiện đa dạng (ngôn ngữ, thiết bị, tài liệu)
Đa dạng về hoạt động: nhận thức, trí tuệ, vận động, thao tác, …
Kết quả hoạt động dạy được đánh giá thông qua kết quả hoạt động học tập 1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
Lứa tuổi học sinh Tiểu học diễn ra một sự phát triển toàn diện về quá trình nhận thức, trong đó đáng kể nhất là sự phát triển nhất về tri giác, sự tập trung, trí nhớ, tưởng tượng và tư duy
1.2.1 Về tri giác
Trong khoa học tâm lí, tri giác của trẻ em được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý, tri giác rất quan trọng trong hoạt động nhận thức của trẻ vì cảm giác tri giác là khâu đầu tiên trong nhận thức cảm tính, cảm giác chỉ đem lại những cảm nhận có tính rời rạc của các sự vật hiện tượng, nhưng tri giác thì giúp con người đạt tới nhận thức của toàn bộ sự vật
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động, do đó các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Ví dụ: Học sinh khó phân biệt cây mía với cây sậy, hình có năm cạnh với hình có sáu cạnh Học sinh thường
“thâu tóm” sự vật về toàn bộ, về đại thể tri giác
Tri giác của học sinh Tiểu học thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Những gì phù hợp với nhu cầu của học sinh, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn liền với các hoạt động của chúng, những
gì giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác
Tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi các em tri giác Tri giác trước hết là những sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây ra cho các
Trang 14em những xúc cảm Vì thế, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các
em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực cho chúng
Tri giác về đánh giá thời gian, không gian của học sinh Tiểu học còn hạn chế Về tri giác độ lớn, các em gặp khó khăn khi quan sát các sự vật có kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ Ví dụ, các em cho rằng quả đất to bằng mấy tỉnh Về tri giác thời gian, các em thấy khó hình dung “ngày xưa”, “thế kỉ”,
“kỉ nguyên”…
Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức Để hoàn thành nhiệm vụ học tập, trẻ buộc phải thực hiện những thao tác trí tuệ như phân loại, xếp hạng, phân tích,
so sánh, đối chiếu, tổng hợp Nhờ đó, tính tổng thể của tri giác dần nhường chỗ cho tri giác chính xác, tinh tế Ta thường thấy học sinh lớp 4, lớp 5 thực hiện các bài văn miêu tả rất độc đáo, sinh động nhờ năng lực quan sát có mục đích,
có chủ định được hình thành
1.2.2 Về chú ý
Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả
Ở học sinh Tiểu học có hai loại chú ý là chú ý có chủ định và chú ý không có chủ định Trong đó sự chú ý có chủ định của các em còn rất hạn chế, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí rất hạn chế, còn chú ý không chủ định được phát triển, các em đặc biệt chú ý tới những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường, sự nỗ lực của ý chí chưa được phát triển trong giai đoạn này Vì thế việc sử dụng đồ dùng dạy học bằng hình ảnh, mô hình vật thật là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý Tuy vậy, cần nhớ rằng
Trang 15học sinh Tiểu học rất mẫn cảm Những ấn tượng trực quan quá mạnh có thể kìm hãm khả năng phân tích và khái quát hóa tài liệu học tập
Khả năng chú ý của học sinh tăng dần từ lớp 1 đến lớp 5 Lên lớp 4, lớp
5 không những chú ý của trẻ tăng lên trong việc hoàn thành nhiệm vụ học tập
mà những phẩm chất khác của chú ý cũng phát triển, trẻ có khả năng mở rộng khối lượng chú ý và kỹ năng phân phối chú ý đối với những dạng hành động khác nhau, độ bền vững của chú ý ngày càng hoàn thiện hơn
Sự chú ý của học sinh còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập Nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý Vì thế, trong giờ học, giáo viên cần khéo léo sử dụng đồ dùng trực quan, luôn đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đồng thời chú ý đến giọng điệu vì nó góp phần quan trọng trong việc hình thành độ bền vững của chú ý
Trang 16loại trí nhớ này một các hợp lí và có hiệu quả, đặc biệt cần hướng dẫn cho học sinh biết cách ghi nhớ có chủ định
1.2.4 Về tư duy
Tư duy là quá trình vận động của trí óc để nhận thức sự vật, tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thức khách quan
mà ta chưa biết
Tư duy của học sinh Tiểu học còn mang tính hình tượng, tư duy dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể, trong quá trình phát triển Chẳng hạn, trong những giờ toán đầu tiên ở lớp, khi giải các bài toán học sinh phải dùng que tính, dùng các ngón tay làm phương tiện Điều đó có nghĩa là việc tính toán của các em phải thông qua những vật
cụ thể Trong sự phát triển của tư duy ở học sinh Tiểu học, tính trực quan có thể được thể hiện rất rõ Ví dụ: Cô giáo đưa ra bài toán: “Nếu con vịt có 3 chân thì hai con vịt có bao nhiêu chân?” Nhiều em lúng túng, thắc mắc làm gì
có con vịt có 3 chân Như vậy, tư duy của các em chưa thoát khỏi tính cụ thể, chưa nhận thức được ý nghĩa của từ nếu Nếu con vịt có 3 chân là một giả định không có thật, các em chưa biết suy luận từ giả định này để rút ra kết luận nên các em dễ mắc sai lầm trong tư duy Trong dạy học, đặc biệt ở những tháng đầu của lớp 1, việc sử dụng những sự vật ở bên ngoài và dùng lời nói để tính toán là cần thiết, nhưng giáo viên cần hướng dẫn, luyện tập để các em nhanh chóng bỏ qua cách làm này và chuyển mức độ thực hiện các tính toán ở trong đầu (ta quen gọi là tính nhẩm)
Tư duy của học sinh Tiểu học dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Như vậy, tư duy là mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác, tri giác Nếu cảm giác, tri giác mới chỉ phản ánh
Trang 17được những mối quan hệ bên ngoài, những thuộc tính bên ngoài của các sự vật, hiện tượng, thì tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất những quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng Đối với học sinh Tiểu học, tư duy của các em cũng chỉ quan tâm đến những dấu hiệu bên ngoài, trực quan Nhờ có học tập mà trình độ nhận thức của các em được phát triển, các
em đã biết phân loại trong nhận thức Điều đó tạo khả năng tiến hành những khái quát đầu tiên, so sánh đầu tiên, xây dựng suy luận sơ đẳng Trên cơ sở
đó, học sinh dần dần học tập các khái niệm khoa học Để hình thành ở học sinh nhớ một khái niệm khoa học, cần phải dạy cho chúng cách xem xét, phân biệt những dấu hiệu, thuộc tính của đối tượng
Trong tư duy thì tư duy toán học có tác dụng rất to lớn đối với nhận thức, giúp người học suy luận được theo một sơ đồ logic; tìm ra con đường và cách thức ngắn nhất để đi đến mục đích; sử dụng chính xác các kí hiệu, ngôn ngữ toán học; lập luận và suy luận chặt chẽ; ứng dụng thực tế đời sống một cách có hiệu quả và thiết thực nhất
1.2.5 Về tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh Tiểu học Tưởng tượng là quá trình các em tạo ra kết quả mới dựa vào các biểu tượng đã có
Có hai loại tưởng tượng: tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo Đối với học sinh Tiểu học, tưởng tượng còn tản mạn, ít có tổ chức, chưa có tính bền vững, còn bị phụ thuộc vào mẫu hình có thực, chịu nhiều tác động của hứng thú và kinh nghiệm sống Học sinh cuối Tiểu học, tưởng tượng của các
em gần với hiện thực hơn, các em biết tưởng tượng sáng tạo dựa trên những hình tượng cũ và đưa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính chất khái quát hóa và trừu tượng hơn Trong dạy học, giáo viên cần tổ chức cho học sinh quan sát sự vật, hiện tượng cụ thể Mặt khác, cần hình thành biểu tượng
Trang 18qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của mình Giáo viên cần cố gắng sử dụng đồ dùng dạy học và phương tiện, tài liệu học tập,… có thể diễn tả một quá trình nào đó mà hình vẽ, biểu đồ không có khả năng thực hiện được
1.3 Năng lực học Toán của học sinh Tiểu học
Học sinh Tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp, trừu tượng hóa – khái quát hóa và những hình thức đơn giản của sự suy luận, phán đoán Như vậy, học sinh nào cũng có thể học Toán và khoa học một cách phù hợp với năng lực của bản thân Tuy nhiên, chỉ những học sinh
có năng khiếu về Toán học mới có thể đào tạo để trở thành những nhà Toán học Năng lực học Toán của học sinh biểu hiện qua các đặc trưng sau:
- Ham hiểu biết, ham thích học Toán và giải bài tập toán
- Hiểu bài nhanh, tương đối đầy đủ và chắc chắn, biết vận dụng ngay trong giải bài tập
- Có trí nhớ tốt, trí tưởng tượng phát triển
- Nhanh chóng xác lập được sự phụ thuộc giữa các dữ kiện theo hai hướng xuôi và ngược để xác định được kế hoạch giải bài toán Biết liên hệ bài toán mới với các kiến thức có trước
- Có khả năng thay đổi phương thức hành động để giải quyết vấn đề phù hợp với những thay đổi các điều kiện
- Biết học hỏi bạn và rút kinh nghiệm từ những sai lầm của chính mình
- Có óc sáng kiến, có thể đặt các câu hỏi thông minh, thường đặt và trả lời các câu hỏi: Vì sao? Do đâu?
- Chấp nhận thử thách, không nản lòng khi gặp những bài toán khó
- Trong hoạt động giải toán biết đánh giá đúng lời giải đã tìm ra, thích tìm ra những cách giải khác nhau
Vấn đề đặt ra cho giáo viên là cần phải làm gì để bồi dưỡng năng lực học Toán cho học sinh? Như vậy giáo viên cần có những việc làm cụ thể như:
Trang 19xây dựng chương trình, soạn thảo tài liệu… để làm tốt công tác phát triển năng lực học Toán cho các em
1.4 Nội dung và mục tiêu dạy học trong sách giáo khoa Toán 4, 5
1.4.1 Mục tiêu dạy học môn Toán ở Tiểu học
Dạy học môn Toán ở cấp Tiểu học nói chung và lớp 4, lớp 5 nói riêng nhằm đạt được các mục tiêu sau đây ([5], tr.13)
- Giúp cho học sinh có những kiến thức cơ bản, ban đầu về số học, các
số tự nhiên, phân số, số thập phân, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản
- Hình thành ở học sinh các kĩ năng tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống
- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp
lí và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện, giải quyết vấn đề đơn giản gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt và sáng tạo
1.4.2 Phân tích nội dung Sách giáo khoa Toán 4, 5
1.4.2.1 Nội dung Sách giáo khoa Toán 4 ([5], tr.20-22)
a Về số học và yếu tố đại số
a1 Số tự nhiên Các phép tính về số tự nhiên
- Lớp triệu Đọc, viết, so sánh các số đến lớp triệu Giới thiệu lớp tỉ
- Tính giá trị các biểu thức chứa chữ dạng:
a + b; a – b; a b; a : b; a + b + c; a b c; (a + b) c
- Tổng kết về số tự nhiên và hệ thập phân
- Phép cộng và phép trừ các số có đến 5, 6 chữ số không nhớ và có nhớ tới 3 lần Tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các số tự nhiên
Trang 20- Phép nhân các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, tích
- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9
- Tính giá trị các biểu thức có đến 4 dấu phép tính Giải các bài tập dạng:
- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các phân số
- Giới thiệu quy tắc nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự nhiên (trường hợp đơn giản, mẫu số của tích có không quá 2 chữ số)
- Giới thiệu tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số Giới thiệu phép nhân một tổng hai phân số với một phân số
- Giới thiệu quy tắc chia phân số cho phân số, chia phân số cho số tự nhiên khác 0
- Thực hành tính: tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số, phép tính không có nhớ, tử số của kết quả tính có không quá 2 chữ số; tính nhẩm về nhân phân số với phân số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của tích có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ
- Tính giá trị các biểu thức có không quá 3 dấu phép tính với các phân
số đơn giản (mẫu số chung của kết quả tính có không quá 2 chữ số)
Trang 21a3 Tỉ số
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số
- Giới thiệu về tỉ lệ bản đồ
b Về đại lượng và đo đại lượng
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo thời gian Chủ yếu nêu mối quan
hệ giữa ngày và giờ; giờ và phút, giây; thế kỉ và năm; năm và tháng, ngày
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo khối lượng; bảng đơn vị đo khối lượng
- Giới thiệu về diện tích và một số đơn vị đo diện tích (dm2; m2; km2) Nêu mối quan hệ giữa m2 và dm2; cm2; m2 và km2
- Thực hành đổi đơn vị đo đại lượng (cùng loại), tính toán với các số
đo Thực hành đo, tập làm tròn các số đo và tập ước lượng các số đo
- Giới thiệu về hình bình hành và hình thoi
- Giới thiệu công thức tính diện tích hình bình hành, hình thoi
- Thực hành vẽ hình bằng thước và ê-ke; cắt, ghép và gấp hình
d Về giải toán có lời văn
- Giải các bài toán có đến 2 hoặc 3 bước tính, có sử dụng phân số
- Giải các bài toán có liên quan đến: tìm hai số biết tổng hoặc hiệu và tỉ
số của chúng; tìm hai số biết tổng và hiệu của chúng; tìm số trung bình cộng; các bài toán có nội dung hình học đã học
e Về yếu tố thống kê mô tả
Giới thiệu bước đầu về số trung bình cộng
Trang 22- Lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu
- Giới thiệu biểu đồ Tập nhận xét trên biểu đồ
1.4.2.2 Nội dung Sách giáo khoa Toán 5 ([5], tr.22-24)
- Viết và chuyển đổi các số đo đại lượng dưới dạng số thập phân
- Các phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số thập phân:
+ Phép cộng, phép trừ các số thập phân có đến 3 chữ số ở phần thập phân Cộng, trừ không nhớ và có nhớ đến 3 lần
+ Phép nhân các số thập phân có tới 3 tích riêng và phần thập phân của tích có không quá 3 chữ số
+ Phép chia các số thập phân với số chia có không quá 3 chữ số (cả phần nguyên và phần thập phân) và thương có không quá 4 chữ số, với phần thập phân có không quá 3 chữ số
- Tính chất giao hoán của phép cộng và phép nhân, tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng các số thập phân
- Thực hành tính nhẩm:
+ Cộng, trừ không nhớ hai số thập phân có không quá 2 chữ số
+ Nhân không nhớ một số thập phân có không quá 2 chữ số với một số
Trang 23a3 Tỉ số phần trăm
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số phần trăm
- Đọc, viết tỉ số phần trăm
- Cộng, trừ các tỉ số phần trăm; nhân, chia tỉ số phần trăm với một số
- Mối quan hệ giữa tỉ số phần trăm với phân số thập phân, số thập phân
và phân số
b Về đại lượng và đo đại lượng
b1 Đo thời gian Vận tốc, thời gian chuyển động, quãng đường đi được
- Các phép tính cộng, trừ các số đo thời gian có đến hai đơn vị đo
- Các phép tính nhân, chia số đo thời gian với một số
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về: vận tốc, thời gian chuyển động, quãng đường đi được và mối quan hệ giữa chúng
b2 Đo diện tích Đo thể tích
- Đề-ca-mét vuông, hec-tô-mét vuông, mi-li-mét vuông; bảng đơn vị đo diện tích
- Giới thiệu các đơn vị đo diện tích ruộng đất: ha Mối quan hệ giữa m2
- Giới thiệu hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình cầu
- Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương
d Về giải toán có lời văn
Giải bài toán, chủ yếu là các bài toán có đến 3 bước tính, trong đó có:
Trang 24d1 Các bài toán đơn giản về tỉ số phần trăm
- Tìm tỉ số phần trăm của hai số
- Tìm một số, biết tỉ số phần trăm của số đó so với số đã biết
- Tìm một số biết một số khác và tỉ số phần trăm của số đã biết so với
số đó
d2 Các bài toán đơn giản về chuyển động đều, chuyển động ngược chiều
và cùng chiều
- Tìm vận tốc biết thời gian chuyển động và độ dài quãng đường
- Tìm thời gian chuyển động biết độ dài quãng đường và vận tốc chuyển động
- Tìm độ dài quãng đường biết vận tốc và thời gian chuyển động
d3 Các bài toán ứng dụng các kiến thức đã học để giải quyết một số vấn đề của đời sống
e Về yếu tố thống kê mô tả
- Nêu nhận xét một số đặc điểm đơn giản của một bảng số liệu hoặc một biểu đồ thống kê
- Thực hành lập bảng số liệu và vẽ biểu đồ dạng đơn giản
1.5 Một số kĩ năng và yêu cầu dạy học Toán ở Tiểu học
1.5.1 Kĩ năng dạy học Toán ở Tiểu học
1.5.1.1 Kĩ năng dạy học
Kĩ năng dạy học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức tạp của một hay nhiều hành động dạy học bằng cách lựa chọn
và vận dụng những tri thức, những cách thức, những quy trình đúng đắn, đảm bảo cho hoạt động dạy học của người giáo viên đạt kết quả cao
1.5.1.2 Kĩ năng dạy học Toán ở Tiểu học
Trên cơ sở xây dựng khái niệm về kĩ năng dạy học, có thể nhận thức kĩ năng dạy học Toán ở Tiểu học như sau: Kĩ năng dạy học môn Toán là sự thực
Trang 25hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của một hay nhiều hành động dạy học môn Toán bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những cách thức, những quy trình đúng đắn, đảm bảo cho hoạt động dạy học môn Toán của người giáo viên đạt kết quả cao
Việc dạy học môn Toán ở Tiểu học đòi hỏi người giáo viên cần có những kĩ năng dạy học cơ bản sau:
- Kĩ năng xác định mục tiêu, yêu cầu của một bài lên lớp cụ thể trong toàn bộ chương trình môn Toán ở Tiểu học
- Kĩ năng phân tích và lựa chọn nội dung bài học cụ thể trong chương trình môn Toán (Nắm được vị trí của mảng kiến thức đó trong toàn bộ chương trình và biết huy động kiến thức mà học sinh đã được học trước đó để bổ trợ cho việc nắm kiến thức mới)
- Kĩ năng lựa chọn và sử dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học phù hợp nội dung của bài học, trình độ và điều kiện học tập của học sinh
- Kĩ năng thiết kế các hoạt động học tập chủ yếu (Mục tiêu của các hoạt động, cách thức tiến hành, thời gian cho hoạt động đó)
- Kĩ năng tổ chức, giám sát các hoạt động học tập cho học sinh (tổ chức các mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và tài liệu học, giữa học sinh với nhau giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức mới và cách thức hành động mới trong tiết học toán)
- Kĩ năng dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm có thể xảy ra trong giờ học toán
- Kĩ năng tổ chức quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh
Trang 26Các kĩ năng này có quan hệ mật thiết với nhau, đan xen nhau, hỗ trợ nhau và tạo tiền đề cho nhau trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học Toán
ở Tiểu học
Để hình thành các kĩ năng trên thì cần có kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện cho giáo viên và bản thân giáo viên cũng phải thường xuyên tự rèn luyện, tìm hiểu, không ngừng học tập, bồi dưỡng để tự hoàn thiện các kĩ năng dạy học trong khi theo học các lớp tập huấn nghiệp vụ và khi dạy học ở các trường Tiểu học
1.5.2 Yêu cầu chuẩn kiến thức và kĩ năng đối với giáo viên Tiểu học trong dạy học môn Toán
1.5.2.1 Yêu cầu chuẩn kiến thức và kĩ năng đối với giáo viên dạy học các môn học nói chung
a Yêu cầu về chuẩn kiến thức
Trong Điều 6 Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học có nêu ra các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức mà người giáo viên cần đạt được ([4], tr.4-6) Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung vào yêu cầu
về kiến thức cơ bản Yêu cầu này gồm các tiêu chí sau:
- Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa của các môn học được phân công giảng dạy
- Có kiến thức chuyên sâu, đồng thời có khả năng hệ thống hóa kiến thức trong cả cấp học để nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với các môn học được phân công giảng dạy
- Kiến thức cơ bản trong các tiết dạy đảm bảo đủ, chính xác, có hệ thống
- Có khả năng hướng dẫn đồng nghiệp một số kiến thức chuyên sâu về một môn học, hoặc có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi, hoặc giúp đỡ học sinh yếu hay học sinh còn nhiều hạn chế trở nên tiến bộ
b Yêu cầu về chuẩn kĩ năng sư phạm
Trang 27Trong Điều 7 Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học có nêu ra các yêu cầu thuộc lĩnh vực kĩ năng sư phạm mà người giáo viên cần đạt được ([4], tr.6-8) Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi xin nhấn mạnh hai yêu cầu sau:
- Lập được kế hoạch dạy học; biết cách soạn giáo án theo hướng đổi mới Yêu cầu này bao gồm các tiêu chí sau:
Xây dựng được kế hoạch giảng dạy cả năm học thể hiện các hoạt động dạy học nhằm cụ thể hóa chương trình của Bộ phù hợp với các đặc điểm của trường và lớp được phân công dạy
Lập được kế hoạch tháng dựa trên kế hoạch năm học bao gồm hoạt động chính khóa và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Có kế hoạch dạy học từng tuần thể hiện lịch dạy các tiết học và các hoạt động giáo dục của học sinh
Soạn giáo án theo hướng đổi mới, thể hiện các hoạt động dạy học tích cực của thầy và trò (soạn giáo án đầy đủ với môn học dạy lần đầu, sử dụng giáo án có điều chỉnh theo kinh nghiệm sau một năm giảng dạy)
- Tổ chức và thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được tính năng động sáng tạo của học sinh Yêu cầu này bao gồm các tiêu chí sau:
Lựa chọn và sử dụng hợp lí các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính sáng tạo, chủ động trong việc học tập của học sinh; làm chủ được lớp học; xây dựng môi trường học tập hợp tác, thân thiện, tạo sự tự tin cho học sinh; hướng dẫn học sinh tự học
Đặt câu hỏi kiểm tra phù hợp đối tượng và phát huy được năng lực học tập của học sinh; chấm, chữa bài kiểm tra một cách cẩn thận để giúp học sinh học tập tiến bộ
Trang 28Có sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, kể cả đồ dùng dạy học tự làm; biết khai thác các điều kiện có sẵn để phục vụ giờ dạy, hoặc có ứng dụng phần mềm dạy học, hoặc làm đồ dùng dạy học có giá trị thực tiễn cao
Lời nói rõ ràng, mạch lạc, không nói ngọng khi giảng dạy và giao tiếp trong phạm vi nhà trường; viết chữ đúng mẫu; biết cách hướng dẫn học sinh giữ vở sạch và viết chữ đẹp
1.5.2.2 Yêu cầu chuẩn kiến thức và kĩ năng đối với giáo viên Tiểu học trong dạy học môn Toán
Những yêu cầu về chuẩn kiến thức và kĩ năng sư phạm trong dạy học các môn học nói chung được cụ thể hóa trong dạy học môn Toán như sau:
a Yêu cầu về chuẩn kiến thức
Giáo viên cần đạt các yêu cầu sau:
- Nắm được chương trình, nội dung Sách giáo khoa môn Toán ở Tiểu học, mục tiêu và nội dung dạy học môn Toán ở từng lớp; nắm được một cách
có hệ thống nội dung của từng mạch kiến thức theo chiều dọc chương trình, chuẩn kiến thức và kĩ năng môn học ở từng lớp; nhận biết được đơn vị kiến thức bất kỳ thuộc phạm vi lớp mấy
- Nắm được chương trình, nội dung Sách giáo khoa môn Toán ở lớp được phân công giảng dạy
Về chương trình, giáo viên phải nắm được số tiết/tuần, số tuần dạy học,
số tiết/năm, nội dung dạy học và các mức độ về kiến thức và kĩ năng học sinh cần đạt được ở lớp đó
Về nội dung Sách giáo khoa, giáo viên phải nắm được mục tiêu, nội dung dạy học của môn Toán ở lớp mình dạy: Nội dung đó được trình bày trong mấy bài, trọng tâm của từng bài, được chia thành mấy mạch kiến thức, nội dung cụ thể và sự phân phối thời lượng dạy cho học sinh từng mạch kiến thức
Trang 29- Nắm được mối liên hệ, sự kế thừa và phát triển giữa các mạch kiến thức trong môn Toán, giữa các đơn vị kiến thức trong một mạch kiến thức ở một lớp hay giữa các lớp
- Hiểu được ý đồ sư phạm khi xây dựng các chương trình Sách giáo khoa và sự phân bố nội dung dạy học hay đưa ra chuẩn kiến thức và kĩ năng đối với học sinh qua từng lớp, có kiến thức về cơ sở toán học trực tiếp có liên quan đến một số nội dung dạy học ở Tiểu học
- Nắm được nội dung kiến thức cụ thể, trọng tâm trong từng bài học; biết cách lựa chọn các yêu cầu, bài tập phù hợp để giao cho từng đối tượng học sinh giúp phát huy năng lực của học sinh giỏi và giúp đỡ học sinh yếu trở nên tiến bộ
b Yêu cầu về chuẩn kĩ năng
Trong dạy học môn Toán ở Tiểu học, người giáo viên cần đạt những yêu cầu và chuẩn kĩ năng sau:
- Kĩ năng lập kế hoạch dạy học và soạn giáo án theo hướng đổi mới Giáo viên cần đạt các yêu cầu sau:
+ Xây dựng kế hoạch dạy học cả năm học, từng học kì, từng tuần lễ nhằm cụ thể hóa, thực hiện đầy đủ chương trình và đáp ứng được các yêu cầu
về chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Toán ở lớp được phân công giảng dạy; soạn được giáo án cho từng bài cụ thể theo quy định, có hiệu quả
+ Lập được kế hoạch dạy học và kế hoạch từng bài học có dự kiến một số phương án thực hiện đặc biệt phương án khai thác Sách giáo khoa (về phần hình thành kiến thức và phần bài tập) theo đặc điểm của từng đối tượng học sinh trong lớp
+ Soạn giáo án theo hướng đổi mới, thể hiện tính chủ động, linh hoạt trong phân phối thời lượng, nội dung dạy học phù hợp với điều kiện cụ thể của lớp học, có thể thực hiện những hỗ trợ cần thiết cho những học sinh gặp
Trang 30khó khăn, lựa chọn được những nhiệm vụ cụ thể cho từng đối tượng học sinh đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực học toán của các em
Giáo án thể hiện các hoạt động dạy học tích cực của thầy và trò, phản ánh mối quan hệ giữa các mục tiêu, nội dung, phương pháp và kiểm tra đánh giá theo từng nội dung kiến thức
- Kĩ năng tổ chức và thực hiện các hoạt động học trên lớp nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh
+ Lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học Toán hợp lí tùy theo mục tiêu, nội dung từng bài; sử dụng các thiết bị dạy học Toán theo quy định nhằm khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động trên lớp
+ Vận dụng một cách sáng tạo các phương pháp dạy học, sử dụng các thiết bị dạy học Toán để thông qua đó học sinh tự huy động kiến thức và kinh nghiệm đã có để chiếm lĩnh được kiến thức mới, gây hứng thú học tập cho các em
+ Đặt câu hỏi, bài tập kiểm tra phù hợp với nội dung đối tượng
+ Lời nói rõ ràng, trình bày bảng khoa học để giúp học sinh hiểu rõ hơn nội dung bài học
- Kĩ năng phân tích chương trình, nội dung Sách giáo khoa, xác định mục tiêu bài học
+ Xác định được cấu trúc chương trình, nội dung Sách giáo khoa, cấu trúc nội dung môn Toán ở lớp được phân công giảng dạy
+ Xác định được mục tiêu bài học theo quy định Xác định được kiến thức và kĩ năng cơ bản, trọng tâm, mức độ yêu cầu của bài; mối liên hệ giữa các kiến thức trong bài với các kiến thức cũ
+ Hiểu được mục tiêu bài dạy được nêu trong sách giáo viên
+ Xác định được mục tiêu bài học theo từng đối tượng học sinh
+ Xác định mục tiêu tổng hợp, lồng ghép của bài học
Trang 311.6 Mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong dạy học môn Toán ở Tiểu học
1.6.1 Mối quan hệ giữa thầy và trò
- Trong dạy học các môn học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng, mối quan hệ giữa thầy và trò luôn chặt chẽ, không thể tách rời nhau Bởi trong mỗi hoạt động đều có sự xuất hiện của thầy và trò Cả thầy và trò đều phải có ý thức thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm trong hoạt động dạy – học, cả hai đều phải chủ động và tích cực hoạt động thì mới góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong dạy – học
- Sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học (giữa thầy và trò) là quy luật cơ bản của quá trình dạy học Tiểu học:
D H
“Ở đây, mũi tên chiều đi ( ) đề cập quá trình truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội loài người từ phía thầy (GV) đến trò (HS); mũi tên chiều ngược ( ) là sự phản ánh kết quả đạt được từ phía trò (HS) đến thầy (GV)
để giáo viên biết được kết quả học tập của học sinh mình, từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học sao cho phù hợp; còn bản thân học sinh, thông qua đó,
tự điều chỉnh phương pháp học tập của mình Như vậy, nếu thiếu sự tác động qua lại giữa thầy và trò thì sẽ không có quá trình dạy học” ([12], tr.101)
“Trong thực tiễn ở cấp Tiểu học, sự tác động qua lại giữa dạy và học, giữa thầy và trò được diễn ra theo cấu trúc sau:
+ Phát lệnh: Thầy phát lệnh, đề ra yêu cầu, trò thực hiện
Trò tự phát lệnh, chịu lệnh của thầy
+ Thực hiện lệnh: Trò thực hiện lệnh, tức là:
Ý thức được lệnh: hiểu được lệnh và có nhu cầu thực hiện lệnh
Giải quyết mâu thuẫn: dưới vai trò chỉ đạo của thầy
Thực tiễn dạy học ở Tiểu học chứng tỏ rằng, trong quá trình thực hiện lệnh, trò có khả năng giải quyết các tình huống vấn đề ở các mức độ khác
Trang 32nhau nhằm thu được những tri thức mới và cách thức hành động mới phát triển được năng lực hoạt động trí tuệ, nhất là năng lực tư duy” ([12], tr.102)
- Thông qua hoạt động dạy và hoạt động học với các vai trò của thầy và trò, chúng ta nhận thấy:
Thầy và trò đều là các nhân tố trung tâm, là chủ thể của hoạt động; mối quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ giữa chủ thể - chủ thể Thầy là người định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên hoạt động học tập của học sinh Trò là người tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh kiến thức Trò phải trực tiếp đối mặt với các đối tượng học, nội dung học vấn được hoạch định trong chương trình, nội dung môn học Thầy chỉ là tác nhân giúp người học khắc phục những trở ngại chủ quan và khách quan nảy sinh trên con đường chinh phục đối tượng, thầy không làm thay cho trò bất cứ điều gì
Như vậy, người học trò dưới sự hướng dẫn của thầy có thể tìm ra, khám
phá những tri thức mới mà bản thân chưa biết, hình thành những thói quen tư duy độc lập, sáng tạo; đồng thời phát triển toàn diện các kĩ năng sống và những phẩm chất đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội
- Trong dạy học môn Toán ở Tiểu học, thầy sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học hợp lí để dẫn dắt học sinh hiểu được các khái niệm, chiếm lĩnh được kiến thức, nắm được các quy tắc, công thức và biết vận dụng tri thức đó vào làm bài tập, đồng thời giúp học sinh thực hành, luyện tập để củng cố, khắc sâu kiến thức
1.6.2 Mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – xã hội
1.6.2.1 Nhà trường
- Nhà trường có một vai trò quan trọng trong việc giảng dạy và giáo dục học sinh bởi những kiến thức, kĩ năng các em tiếp thu được trong trường học là những kiến thức đã được chuẩn hóa, đạt trình độ chính xác cao và có tính định hướng
Trang 33Trong nhà trường, người trực tiếp truyền thụ kiến thức và người định hướng, dẫn dắt, chỉ lối giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học chính là đội ngũ giáo viên
- Trong thời đại thông tin hiện nay, có rất nhiều nguồn cung cấp tri thức thì vai trò truyền bá kiến thức từ nhà trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Bởi nhà trường không chỉ là nơi truyền thụ tri thức văn hóa mà còn có nhiệm vụ giáo dục rèn luyện học sinh về mặt phẩm chất, đạo đức để học sinh không chỉ có kiến thức mà còn có cách sống, cách ứng xử văn hóa
- Trong dạy học môn Toán nói chung và dạy học môn Toán ở Tiểu học nói riêng, vai trò của nhà trường rất quan trọng, tạo môi trường học tập cũng như trang bị phương tiện, thiết bị dạy học và định hướng, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp để phát huy được năng lực học toán của học sinh và đạt kết quả cao
1.6.2.2 Gia đình
- Gia đình có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Gia đình là nơi sản sinh, nuôi dưỡng và là trường học đầu tiên của trẻ Ngành giáo dục đã xác định được rằng từ gia đình, các em học sinh đã đước đầu được làm quen, học hỏi những kiến thức đơn giản, hình thành những chuẩn mực đạo đức, thói quen lao động, cách suy nghĩ, thái độ và quan hệ với các hiện tượng
và sự vật xung quanh; nói chung đã hình thành những ý niệm đầu tiên về kiến thức, những giá trị mà gia đình thừa nhận và thực hiện trong cuộc sống hàng ngày Gia đình còn là đối tác tích cực nhất của nhà trường trong tổ chức việc học tập ở nhà theo yêu cầu của nhà trường (gia đình lo góc học tập, lo đồ dùng học tập; sắp xếp giờ giấc học tập, làm bài tập, học bài, chuẩn bị bài học mới của con em mình)
- Trong dạy học môn Toán ở Tiểu học, gia đình là nhân tố quan trọng, hướng dẫn cho học sinh những nhận biết ban đầu về các kiến thức Toán học:
Trang 34nhận biết các con số, các phép tính đơn giản đồng thời giúp học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà theo yêu cầu của giáo viên
1.6.2.3 Xã hội
Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao Do đó, muốn thực hiện được sự giáo dục toàn diện học sinh, phải coi trọng cả giáo dục nhà trường lẫn giáo dục gia đình và xã hội Đặc biệt là trong bối cảnh nhiều năm ngành Giáo dục và Đào tạo đã loay hoay cải cách, đổi mới chương trình sách giáo khoa mà chưa có đột phá thì toàn xã hội và sức mạnh trí tuệ của toàn dân
là quan trọng trong việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
Xã hội là môi trường thực tế giúp học sinh hoàn thiện một số kĩ năng cuộc sống, chi phối một phần rất lớn trong suy nghĩ và hành động của học sinh
Vì vậy, giáo dục xã hội cũng đóng một vai trò quan trọng đối với học sinh
Trong môn Toán, lực lượng xã hội tham gia tích cực vào quá trình dạy học, đặc biệt thông qua các hoạt động xã hội hóa giáo dục để khích lệ học sinh có ý thức phấn đấu học tập tốt hơn, đồng thời tạo ra những “sân chơi” bổ ích để giúp các em có thể trải nghiệm những kiến thức toán học mình được lĩnh hội
Như vậy, gia đình – nhà trường – xã hội có vai trò rất quan trọng đối
với việc hình thành kiến thức và nhân cách của học sinh Do vậy, để giá trị giáo dục được bền vững cần có sự kết hợp chặt chẽ, toàn diện và hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và xã hội Mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình
là mối qua hệ hai chiều phải được quan tâm thường xuyên và giải quyết kịp thời theo từng bước phát triển của xã hội Nghị quyết Trung ương VIII (khóa XI) về đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo… đã tiếp tục khảng định: “Giáo dục nhà trường kết hợp giáo dục gia đình và xã hội” Chỉ riêng nhà trường, chỉ riêng ngành Giáo dục thì không thể làm tốt công tác giáo dục được Đúng như Bác Hồ đã nói: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần,
Trang 35còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy; nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
Trong dạy học nói chung và dạy học môn Toán ở Tiểu học nói riêng, sự kết hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội hết sức cần thiết, giúp cho học sinh phát huy hết năng lực học toán; tạo hứng thú, niềm đam mê yêu thích khoa học
Kết luận chương 1
Mục tiêu của chương này là tìm hiểu về những cơ sở lí luận của việc dạy – học môn Toán ở Tiểu học Cụ thể là đã đề cập đến các vấn đề sau:
Tìm hiểu về khái niệm dạy – học
Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
Nêu những năng lực học toán của học sinh Tiểu học
Mục tiêu và nội dung dạy học Toán trong Sách giáo khoa lớp 4, 5
Một số kĩ năng và yêu cầu dạy học Toán ở Tiểu học
Mối quan hệ tác động qua lại giữa thầy – trò, nhà trường – gia đình –
xã hội trong dạy học Toán ở Tiểu học
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY – HỌC MÔN TOÁN LỚP 4, LỚP 5
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN HÒA, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC Trường Tiểu học Xuân Hòa nằm trên địa bàn phường Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là ngôi trường được biết đến với truyền thống hiếu học và nhiều thành tích đáng kể trong học tập cũng như các hoạt động phong trào Cơ sở vật chất của nhà trường khá khang trang với đầy đủ các phòng học và phòng bộ môn: Âm nhạc, phòng Đội, phòng Thư viện… Đặc biệt là khung cảnh sư phạm ở đây thật tốt, đảm bảo là ngôi trường “Xanh, sạch, đẹp” với những bồn hoa cây cảnh quanh năm xanh mát, thắm tươi
Nhà trường có đội ngũ cán bộ giáo viên giàu nghị lực, tâm huyết với nghề, có trình độ đào tạo đạt chuẩn và phần nhiều là trên chuẩn trong đó có nhiều giáo viên có kinh nghiệm lâu năm trong công tác Các em học sinh đều rất chăm chỉ, ngoan ngoãn, hiếu học, có ý thức học tập và rèn luyện đạo đức tốt Trường luôn đạt được kết quả cao trong hoạt động dạy – học nói chung và dạy – học môn Toán nói riêng Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi xin được nghiên cứu về thực trạng dạy – học môn Toán lớp 4, lớp 5 của trường 2.1 Khái quát về thực trạng dạy – học môn Toán lớp 4, lớp 5 ở trường Tiểu học Xuân Hòa
2.1.1 Về công tác quản lí của nhà trường
2.1.1.1 Khái quát về đội ngũ quản lí của nhà trường
Ban Giám hiệu trường gồm 3 người với thâm niên công tác đều trên
20 năm
Về trình độ chuyên môn: Đại học: 2; Cao đẳng: 1
Có thể nói, các thành viên trong Ban Giám hiệu của trường đều là những người có năng lực chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có nhiều năm
Trang 37kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và quản lí Luôn có trách nhiệm cao trong công việc, quản lí tốt các hoạt động dạy – học trong nhà trường
Bên cạnh Ban giám hiệu, tổ chuyên môn 4 – 5 có rất nhiều nỗ lực trong việc quản lí và thực hiện các hoạt động dạy học của tổ, khối
2.1.1.2 Thực trạng công tác quản lí hoạt động dạy – học môn Toán lớp 4, lớp 5
a Quản lí việc thực hiện nội dung, chương trình dạy – học môn Toán lớp 4, lớp 5
- Quản lí kế hoạch, chương trình dạyhọc môn Toán lớp 4, lớp 5
Quản lí kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán nói chung và môn Toán lớp 4, lớp 5 nói riêng là một công việc không hề dễ, đòi hỏi cần phải huy động các lực lượng giáo dục trong nhà trường, phân công theo dõi nắm tình hình thực hiện chương trình, kế hoạch hàng tuần, tháng thông qua kiểm tra lịch báo giảng, sổ dự giờ, sử dụng thời khóa biểu
Việc quản lí kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán lớp 4, lớp 5 của Ban Giám hiệu và tổ chuyên môn nhận xét là thường xuyên và kết quả thực hiện khá tốt Nhà trường tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán theo học kì, năm học (cả kế hoạch chương trình học chính khóa và kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu) Kế hoạch, chương trình đều được Ban Giám hiệu xét duyệt trước khi tổ, khối thực hiện
Ban Giám hiệu thường xuyên phối hợp với tổ trưởng chuyên môn để quản lí việc thực hiện kế hoạch, chương trình của giáo viên Hàng tuần, kế hoạch và chương trình dạy học đều được kiểm tra và xét duyệt trước khi giáo viên tiến hành chuẩn bị bài dạy (soạn giáo án) để lên lớp Điều đó giúp Ban Giám hiệu vừa quản lí được chương trình, nội dung của từng giáo viên định giảng dạy trong các tiết học đồng thời có thể hướng dẫn, giúp giáo viên điều chỉnh nếu như chưa phù hợp
Tuy nhiên, Ban Giám hiệu chưa thường xuyên tổ chức các buổi cho giáo viên học tập, thảo luận về kế hoạch, chương trình môn Toán ở từng khối
Trang 38lớp Như vậy, phần nào đó cũng làm cho việc thực hiện đúng chương trình, kế hoạch dạy học môn Toán của giáo viên và quản lí kế hoạch, chương trình chưa thực sự đạt hiệu quả cao
- Quản lí việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy môn Toán lớp 4, lớp 5
Để quản lí tốt tiết dạy trên lớp của giáo viên, cán bộ quản lí cần kiểm tra kế hoạch bài dạy của giáo viên dựa trên cơ sở nghiên cứu kĩ chương trình dạy học môn Toán mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn định, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và trình độ học sinh của các lớp
Thực trạng quản lí việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy môn Toán lớp 4, lớp
5 trường Tiểu học Xuân Hòa được thực hiện thường xuyên Nhà trường đã hướng dẫn, đưa ra những quy định và yêu cầu chung về việc lập kế hoạch và chất lượng đối với kế hoạch của từng bài dạy Phối hợp cùng tổ chuyên môn chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch bài dạy thống nhất về mục tiêu, nội dung và phương pháp Thường xuyên kiểm tra và duyệt kế hoạch của giáo viên vào đầu tuần trước khi giáo viên lên lớp
Tuy nhiên, việc tổ chức cho giáo viên thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy môn Toán chưa được thực hiện thường xuyên, chất lượng chưa cao Việc thảo luận, trao đổi về bài dạy chỉ được làm sơ sài, xen kẽ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ (2 tuần/ lần) và mang tính hình thức Như vậy đôi khi có những bài dạy khó giáo viên chưa có điều kiện trao đổi, thống nhất về phương pháp dạy
- Quản lí việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Toán lớp 4, lớp 5
Quản lí việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Toán của giáo viên sẽ góp phần tác động gián tiếp đến hiệu quả hoạt động dạy – học trên lớp Vì vậy, cán bộ quản lí phải tạo điều kiện để giáo viên phát huy hết khả năng và nhiệt tình của họ, đồng thời phải có những biện pháp tác động đến giờ lên lớp của giáo viên làm cho hoạt động dạy học môn Toán nói chung và môn Toán lớp 4,
Trang 39lớp 5 nói riêng đi vào nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường
Công tác quản lí việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Toán lớp 4, lớp 5 của trường được Ban Giám hiệu quan tâm chú trọng Ban Giám hiệu đã thực hiện quản lí thông qua các việc làm sau:
Quản lí giờ dạy của giáo viên thông qua thời khóa biểu, kế hoạch dạy học, lịch báo giảng
Tổ chức dự giờ và phân tích giờ dạy của giáo viên Trong từng học kì, Ban Giám hiệu đã dự giờ một số lớp bằng nhiều hình thức: dự giờ qua các tiết hội giảng, chuyên đề và dự giờ đột xuất Sau mỗi tiết dự giờ đều có sự đánh giá, rút kinh nghiệm cụ thể đối với từng giáo viên về cả nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
b Quản lí việc đổi mới phương pháp, phương tiện và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán lớp 4, lớp 5
Đổi mới phương pháp, phương tiện và ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học là những việc làm cần thiết trong dạy học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng Vì vậy quản lí tốt các yếu tố này sẽ có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Toán trong nhà trường
Nhận thấy được sự quan trọng của những yếu tố này, Ban Giám hiệu trường Tiểu học Xuân Hòa cũng thường xuyên quản lí việc đổi mới phương pháp, phương tiện và ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán nói chung và môn Toán lớp 4, lớp 5 nói riêng qua những việc làm sau:
- Quán triệt cho giáo viên về định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán qua các buổi họp, sinh hoạt chuyên môn
- Tổ chức tốt các đợt Hội giảng: Mỗi năm trường đều thực hiện 2 đợt Hội giảng, các tiết dạy được định hướng chú trọng vào 2 môn Toán và Tiếng Việt Sau mỗi tiết dạy, Ban Giám hiệu và giáo viên trong tổ cùng trao đổi, rút
Trang 40kinh nghiệm cụ thể về cả phương pháp, hình thức và mục tiêu cần đạt trong mỗi bài Từ đó, giáo viên có thể tích lũy kinh nghiệm, học hỏi thêm về phương pháp dạy
- Tổ chức các chuyên đề về môn Toán, đặc biệt năm học 2012 – 2013,
tổ 4– 5 đã thực hiện chuyên đề “Các bài toán về dãy số” cấp Thị xã Trong mỗi chuyên đề, giáo viên được nghe trình bày lí thuyết và được thực tế dự giờ
1 hoặc 2 tiết dạy mẫu Như vậy, giáo viên vừa có thể hiểu sâu về kiến thức môn Toán vừa có thể tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy
- Để giúp cho giáo viên nâng cao trình độ tin học và biết cách ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy học, đặc biệt là việc soạn, thiết kế bài giảng, Ban Giám hiệu đã tổ chức buổi tập huấn về kiến thức tin học cho giáo viên
Tuy nhiên, qua tìm hiểu, quan sát thực tế cho thấy việc quản lí các hoạt động này một phần chưa thực sự được hiệu quả Việc tổ chức quán triệt cho giáo viên về định hướng đổi mới phương pháp dạy học vẫn mang tính chất chung còn cụ thể, chi tiết trình tự các bước thiết kế bài dạy thì ít đề cập mà chủ yếu do giáo viên tự tìm hiểu Nhà trường chưa làm tốt việc tổ chức, hướng dẫn thiết kế bài dạy theo hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán dẫn đến khâu thiết kế bài giảng theo hướng đổi mới chưa được thường xuyên, hiệu quả chưa cao
c Quản lí hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu
Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4, lớp 5 được Ban Giám hiệu trường Tiểu học Xuân Hòa hết sức quan tâm vì kiến thức môn Toán lớp 4, lớp 5 có yêu cầu cao hơn so với các khối lớp dưới, đòi hỏi học sinh phải có sự tập trung và tư duy nhiều hơn
Hằng năm, việc quản lí các hoạt động này đều được nhà trường thực hiện thường xuyên thông qua các việc làm cụ thể sau: