34 1.2.1.Vai trò của việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học quốc tế, song ngữ .... Những khó khăn của việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THƯƠNG
CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT LỚP 5 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUỐC TẾ TẠI
VIỆT NAM Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI MINH ĐỨC
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập và nghiên cứu, triển khai đề tài, tác giả luận văn đã nhận được sự động viên, giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy, cô giáo, các chuyên gia trong và ngoài trường ĐHSP Hà Nội 2, của TS Bùi Minh Đức – người hướng dẫn khoa học
Tác giả xin trân trọng gửi tới các thầy, cô giáo, các nhà khoa học lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014
Học viên
Trần Thị Thương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 ở các trường tiểu học quốc tế tại Việt Nam” là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả trong luận văn này không trùng lặp với bất kì kết quả nào khác và chưa từng được ai công bố trước đây
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014
Học viên
Trần Thị Thương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT LỚP 5 13
1.1 Những tiền đề lí luận 13
1.1.1 Khái niệm học sinh giỏi và đặc điểm của học sinh giỏi 13
1.1.2 Khái niệm học sinh giỏi Tiếng Việt và đặc điểm của học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở Tiểu học 16
1.1.3 Đặc điểm tư duy, nhận thức và kĩ năng học tập Tiếng Việt của học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 20
1.1.4 Những nguyên tắc đánh, giá xác định học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 30
1.2 Những tiền đề thực tiễn 34
1.2.1.Vai trò của việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học quốc tế, song ngữ 34
1.2.2 Những khó khăn của việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt lớp 5 tại các trường tiểu học song ngữ 35
1.2.3 Thực tiễn công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 trong một số nhà trường hiện nay 36
CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT LỚP 5 41
2.1 Các biện pháp phát hiện 41
2.1.1 Căn cứ vào kết quả học tập 41
2.1.2 Căn cứ vào quá trình học tập trên lớp và ở nhà 41
Trang 62.1.3 Trao đổi trực tiếp với học sinh 42
2.1.4 Kiểm tra, đánh giá trình độ nhận thức và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh 45
2.2 Các biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 59
2.2.1 Tạo hứng thú trong dạy học Tiếng Việt 59
2.2.2 Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng học tập Tiếng Việt 80
2.2.3 Bồi dưỡng vốn sống cho HS 113
CHƯƠNG 3 BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUỐC TẾ VIỆT NAM - SINGAPORE 117
3.1 Những biện pháp phát hiện và bồi dưỡng đã áp dụng 117
3.1.1 Những biện pháp phát hiện học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 đã được áp dụng 118
3.1.2 Những biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi đã được áp dụng 119
3.2 Kết quả thu được 122
3.3 Bài học sư phạm 126
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC 131
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong lịch sử phát triển của nhân loại, ở bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào con người luôn là động lực của sự phát triển xã hội, mà động lực tiên phong thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững là do những người tài, những người
có trí tuệ tạo ra Nhân tài, nhất là các thiên tài có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài từ lâu đã được xã hội quan tâm Đặc biệt bước vào thế kỷ của nền văn minh trí tuệ, thế kỷ mà “cạnh tranh chất xám” sẽ diễn ra ngày càng gay gắt thì nhiều nước trong khu vực và trên thế giới lại càng quan tâm tới chiến lược nhân tài, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho việc đào tạo nhân tài và coi trọng nhân tài là chiến lược quyết định cho sự phồn thịnh của đất nước
1.2 Mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" ở nước
ta đã được cụ thể hoá trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước Hiện nay, chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia nhập WTO thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến bộ của KHCN của các nước trong khu vực và trên thế giới
1.3 Thực hiện mục tiêu đó, các nhà trường Tiểu học của chúng ta đang cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh Ở các trường tiểu học hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học, nâng cao chất lượng đại trà, việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi đang được nhiều cấp bộ chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhưng nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học là nền móng cho chiến lược đào tạo người tài của đất nước Vì vậy, phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi ở cấp tiểu học là việc làm cần thiết và có ý nghĩa
Trang 91.4 Trong số các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt có tầm quan trọng nhất định và có thời lượng lớn Vì vậy, công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 cần được quan tâm và chú ý đặc biệt Để có được các thành quả về giáo dục học sinh nói chung hay những thành tích cao của học sinh giỏi nói riêng, các nhà trường phải có sự quan tâm, chú ý từ các buổi học hằng ngày Việc giáo dục học sinh hằng ngày cũng như hình thức tổ chức phải phong phú và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh mới đem lại hiệu quả trong giáo dục
1.5 Trong những năm qua, các nhà trường ở tiểu học luôn chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi khối lớp 5 Thực trạng cách thức phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi khiến chúng ta chưa thực sự yên tâm Nhiều giáo viên mới chỉ chú trọng đến việc thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh mà chưa thực sự có kĩ năng phát hiện học sinh có năng khiếu cũng như chưa có biện pháp để học sinh bộc lộ hết năng khiếu của mình Bên cạnh biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi, các biện pháp phát hiện học sinh giỏi đóng vai trò quan trọng không kém nhưng nhiều giáo viên chưa đầu tư lâu dài cho việc phát hiện học sinh có năng khiếu Vì thế, việc bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt nhiều khi vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Trước thực tế trên việc nghiên cứu các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
1.6 Với xu thế hiện nay, các trường tiểu học quốc tế, song ngữ hoặc và các trường có yếu tố nước ngoài mở ra ngày càng nhiều Các em học tập trong môi trường này cũng rất đa dạng, từ học sinh người nước ngoài, học sinh có
bố hoặc mẹ là người nước ngoài tới học sinh thuần Việt Việc học tập trong những môi trường tích hợp như vậy, học sinh có điều kiện tốt để học tập các môn ngoại ngữ, các nền văn hóa khác nhau trên thế giới Nhưng ngược lại, trong những môi trường quốc tế, các em cũng gặp phải không ít khó khăn khi
Trang 10học tập Tiếng Việt Việc bồi dưỡng HSG Tiếng Việt ở các trường quốc tế tại Việt Nam còn khá mới mẻ Điều này khiến chúng tôi rất trăn trở, bản thân Tiếng Việt là một môn học khá phức tạp đối với cả người bản ngữ, việc bảo tồn phát huy sự giàu đẹp, trong sáng của tiếng Việt nếu không được chú trọng
sẽ khiến các em giảm bớt hứng thú với việc tìm hiểu và phát huy văn hóa dân tộc Việc phát hiện và bồi dưỡng HSG Tiếng Việt trong những môi trường này là hết sức cần thiết Nó tạo động lực để các em tìm hiểu, khám phá sâu, rộng, và hoàn thiện hơn vốn Tiếng Việt của mình
Chính vì những lí do trên, trong khuôn khổ luận văn này, vấn đề tôi tập
trung nghiên cứu là: “Các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi
Tiếng Việt lớp 5 ở các trường tiểu học quốc tế tại Việt Nam”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học là một vấn đề không mới Sau khi môn học tiếng mẹ đẻ được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông với tên gọi Tiếng Việt (đầu năm 1981), đặc biệt là khi các kì thi học sinh giỏi văn, tiếng Việt được mở ra, ý tưởng tìm tòi các biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt đã được nhiều nhà giáo thể hiện trong những cuốn sách tham khảo
Tác giả Lê Phương Nga với cuốn “Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt
tiểu học” đã đề cập đến các dạng bài tập tiếng Việt nâng cao và phương pháp
giải Tác giả cũng giới thiệu với bạn đọc một số đề thi học sinh giỏi toàn quốc, đề thi học sinh giỏi của một số tỉnh, thành phố và một số đề thi vào một
số trường Trung học cơ sở có thi tuyển Ngay trong lời mở đầu cuốn sách, tác giả đã nói rõ mục đích biên soạn cuốn sách như sau: “Để tạo điều kiện cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp Bốn, Năm trau dồi kiến thức và kĩ năng, phấn đấu trở thành học sinh khá giỏi môn Tiếng Việt, đồng thời giúp các em
Trang 11ôn tập, thực hành để thi vào lớp Sáu ở các trường Trung học cơ sở có thi tuyển”
Ngoài ra tác giả Lê Phương Nga còn có cuốn “Bồi dưỡng Tiếng Việt
cho học sinh lớp 5” với các đề ôn luyện được biên soạn tương ứng với các
tuần học trong sách giáo khoa Tiếng Việt Mỗi tuần có một đề tổng hợp nội dung của các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, được học trong tuần đó Các bài tập được lựa chọn kĩ càng, ngữ liệu vui tươi, thú vị phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học Ngoài các bài tập cơ bản, bộ sách còn có một số bài tập khó giúp nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh
Cũng với mục đích tương tự, tác giả Trần Mạnh Hưởng và Lê Hữu
Tỉnh đã biên soạn cuốn “Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5” đáp ứng nhu
cầu luyện tập trau dồi kiến thức và kĩ năng của những học sinh khá giỏi lớp 5 Cuốn sách gồm 35 đề dành cho học sinh luyện tập Mỗi đề gồm có 4 bài tập, được thiết kế theo mô hình đề thi hoặc kiểm tra, đánh giá học sinh khá giỏi ở Tiểu học Nội dung các bài tập nhằm củng cố vững chắc những kiến thức, kĩ năng về dùng từ, đặt câu, cảm thụ văn học, làm văn; bám sát nội dung của 35 tuần thực học được thể hiện trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5
Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt đã được đề cập trong nhiều tài liệu cũng như nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về các biện pháp phát hiện học sinh giỏi tiếng Việt cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng, đặc biệt là các trường Quốc tế Rải rác trong một số bài báo, trong một vài trang giáo trình hay chuyên đề giảng dạy đã đề cập đến vấn đề phát hiện học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học nhưng chưa mang tính hệ thống, mà chỉ nêu ra một cách chung chung có tính định hướng
Trang 12Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 6, 1999 có bài viết “Phát hiện và bồi
dưỡng HS tiểu học có năng khiếu tiếng Việt” của tác giả Hoàng Hòa Bình
Bài viết có đề cập đến các biện pháp phát hiện học sinh có năng khiếu tiếng Việt nhưng mới đưa ra một số biện pháp chung chung Trong luận án Tiến sĩ
“Các biện pháp tạo hứng thú cho HS nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” của TS Vũ Thị Lan (ĐHSP Hà Nội), các biện pháp tạo hứng
thú cho học sinh được tác giả trình bày rất cụ thể, chi tiết Đây là vấn đề có liên quan trực tiếp tới quá trình phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu tiếng Việt Tóm lại, SGK và các tài liệu tham khảo đã đề cập đến các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt nhưng chưa hệ thống, chưa hoàn chỉnh giữa các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh
Trước thực tế nghiên cứu trên, luận văn “Các biện pháp phát hiện và
bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 ở các trường tiểu học quốc tế tại Việt Nam” sẽ tiếp thu thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước,
trên cơ sở đó, xây dựng biện pháp phát hiện và bồi dưỡng HSG Tiếng Việt lớp 5 một cách hệ thống, áp dụng vào một số địa bàn dạy học cụ thể và chỉ dẫn thêm cho giáo viên cách hiện thực hóa các biện pháp vào quá trình dạy học
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích là xây dựng hệ thống các biện pháp phát hiện và các biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 và những chỉ dẫn cụ thể để áp dụng vào thực tiễn dạy học Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở khối học này trong các trường tiểu học quốc tế tại Việt Nam
Trang 134 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ
- Xác lập quan điểm lý thuyết về học sinh giỏi lớp 5 và học sinh giỏi lớp 5 môn Tiếng Việt Đề xuất bộ tiêu chí nhận diện, đánh giá HSG Tiếng Việt 5
- Tìm kiếm các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi tiếng Việt lớp 5
- Đưa ra những chỉ dẫn cụ thể cho việc áp dụng các biện pháp trên trong dạy học
- Áp dụng thử nghiệm vào một số địa bàn dạy học cụ thể
5 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung vào các biện pháp cụ thể, chưa quy hoạch thành các chiến lược phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi môn Tiếng Việt theo đơn vị cấp học Khối lớp được chọn là lớp 5 thuộc các trường tiểu học song ngữ, quốc tế tại Việt Nam
- Luận văn chỉ khảo sát thực tiễn và tài liệu trong nước
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu chủ yếu bằng các phương pháp:
- Phương phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lý thuyết
- Phương quan sát, điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp thống kê
Trang 147 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu áp dụng một cách khoa học và linh hoạt các biện pháp mà luận văn
đề xuất, người GV tiểu học tại các trường song ngữ, quốc tế có thể phát hiện được và bồi dưỡng được những lớp HSG môn Tiếng Việt lớp 5, góp phần vào việc bồi dưỡng năng lực chuyên biệt cho các em theo định hướng phát triển năng lực
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận
Mở đầu: Nêu lí do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề, mục đích
nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi, giới hạn nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu và bố cục của luận văn
Nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Những tiền đề lý luận và thực tiễn của việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt lớp 5
Chương 2: Các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt lớp
5
Chương 3: Bước đầu áp dụng các biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt lớp 5 vào trường tiểu học Việt Nam - Singapore
Kết luận: Khái quát lại những vấn đề nghiên cứu của luận văn đồng
thời gợi ra những vấn đề sẽ tiếp tục nghiên cứu sau này
Trang 15NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI TIẾNG VIỆT LỚP 5
1.1 Những tiền đề lí luận
1.1.1 Khái niệm học sinh giỏi và đặc điểm của học sinh giỏi
1.1.1.1 Khái niệm học sinh giỏi
Việc phát hiện và bồi dưỡng HSG đã được quan tâm và chú ý từ rất lâu, không chỉ ở Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới Hầu hết các nước đều coi vấn đề phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi là chiến lược quan trọng trong giáo dục phổ thông
Nhìn chung, các nước đều dùng hai thuật ngữ chính là Gift (giỏi, có năng khiếu) và Talent (tài năng) để chỉ học sinh giỏi Luật giáo dục học sinh giỏi bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa học sinh giỏi như sau: “Học sinh giỏi
là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao, có khả năng sáng tạo thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt, đạt xuất sắc trong lĩnh vực lí thuyết, khoa học, người cần sự giáo dục đặc biệt và sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình
độ tương ứng với năng lực của người đó.” (Georgia Gifted & Talented Student Education Act)
Theo Clak (2002) ở Mỹ người ta định nghĩa: “Học sinh giỏi là những học sinh, những người trẻ tuổi có dấu hiệu về khả năng hoàn thành xuất sắc công việc trong các lĩnh vực như trí tuệ, sáng tạo nghệ thuật, khả năng lãnh đạo hoặc trong lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt Những người này đòi hỏi sự phục vụ không theo trường lớp thông thường nhằm phát triển hết năng lực của họ.” (Wikipedia, the free encyclopedia – Academy for Gifted children) Bách khoa toàn thư Encarta Encyclopedia cũng khẳng định: “Giáo dục học sinh
Trang 16giỏi là một lĩnh vực đặc biệt liên quan đến việc giảng dạy cho những học sinh
có năng lực khác thường”
Cơ quan giáo dục Hoa Kỳ miêu tả khái niệm HSG như sau: “Đó là những học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật hoặc các lĩnh vực
lý thuyết chuyên biệt Những học sinh nay thể hiện khả năng đặc biệt của mình ở các bình diện xã hội, văn hóa và kinh tế.” (Education of Gifted Students Encarta Encyclopedia.2005)
Như vậy, theo quan niệm của nhiều nước: Học sinh giỏi là những đứa
trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc các lĩnh vực lý thuyết Học sinh giỏi cần có sự phục vụ và học tập trong những điều kiện đặc biệt để phát triển các năng lực sáng tạo của
Trẻ có thể thích các công ty, các tập đoàn lớn và có thể mơ ước về một
vị trí công việc trong tương lai Nếu trẻ có những suy nghĩ, ước mơ như vậy, cha mẹ và thầy cô đừng vội cho là hão huyền, không thực tế Hãy định hướng cho trẻ con đường để thực hiện ước mơ
- Về trình độ nhận thức, tư duy
HSG có khả năng tốt để xây dựng và xử lí những vấn đề trừu tượng
Trang 17HSG, có năng khiếu thường nhận và giải mã những tín hiệu phi ngôn ngữ Chúng có thể suy luận theo một con đường khác với cách thông thường của trẻ em
Trẻ có thể làm việc độc lập từ rất sớm Song song với khả năng làm việc độc lập rất hiệu quả, trẻ cần phải có thời gian tập trung lâu hơn so với trẻ
em khác
Một số học sinh có năng khiếu lại biểu hiện bằng khả năng có năng lượng mạnh mẽ, điều đó đôi khi dẫn đến những chẩn đoán sai lầm là trẻ quá hiếu động
- Về kĩ năng học tập
Học sinh có năng khiếu thường tìm hiểu kiến thức, kĩ năng cơ bản tốt hơn, nhanh hơn và ít thực hành Họ giải quyết các vấn đề một cách có tổ chức, mục tiêu, định hướng và rất hiệu quả
HSG thường có động cơ học tập bền vững Đó là khi trẻ thực sự muốn học hỏi, muốn tìm hiểu và khám phá Trẻ thường không bằng lòng nếu chưa thực sự thỏa mãn được sự tò mò của bản thân
Một số trẻ có năng khiếu còn thể hiện khả năng học vượt cấp Điều này rất phổ biến ở các nước phương Tây
Trang 18- Về kết quả học tập
Kết quả học tập là cái được thể hiện sau quá trình học tập của học sinh Kết quả học tập tuy chưa thể phản ánh tuyệt đối chính xác về năng lực của học sinh, nhưng nó cũng thể hiện được tương đối khả năng mà học sinh có được
HSG cần thể hiện được một kết quả học tập tốt Nhiều HSG, có năng khiếu còn có khả năng học vượt cấp
1.1.2 Khái niệm học sinh giỏi Tiếng Việt và đặc điểm của học sinh giỏi
môn Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.1 Khái niệm học sinh giỏi Tiếng Việt
Từ khái niệm về HSG, chúng tôi thống nhất khái niệm: Học sinh giỏi
Tiếng Việt là những học sinh có năng lực nổi trội, có biểu hiện về khả năng hoàn thành xuất sắc các hoạt động về lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, đặc biệt là
có khả năng chuyên biệt trong học tập và nghiên cứu Tiếng Việt Như vậy học sinh giỏi Tiếng Việt có kiến thức tiếng Việt cơ bản, vững vàng, sâu sắc và hệ thống, biết vận dụng linh hoạt và sáng tạo kiến thức tiếng Việt vào tình huống mới, có năng lực tư duy khái quát và sáng tạo Đồng thời có kĩ năng thực nghiệm thành thạo và năng lực nghiên cứu tiếng Việt
1.1.2.2 Đặc điểm của học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở Tiểu học
- Về kiến thức tiếng Việt
HSG Tiếng Việt có vốn kiến thức Tiếng Việt cơ bản, vững vàng, sâu sắc và có hệ thống Các tri thức tiếng Việt được học sinh thể hiện chủ yếu qua
hai phần: Cảm thụ văn học, Tập làm văn Nhưng, HSG Tiếng Việt muốn thể
hiện tốt trong hai phần trên thì cần có kiến thức hệ thống và vững vàng trong
Trang 19phân môn Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu Đó chính là cơ sở để học sinh vận dụng trong Cảm thụ văn học và Tập làm văn
Ví dụ:
Để phát hiện ra cái hay, cái đẹp và giá trị của một đoạn thơ, văn thì các
em cần có kĩ năng phân tích từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật của văn bản
Đó là những kiến thức học sinh được tìm hiểu trong phân một Luyện từ và câu
Đối với văn kể chuyện các em phải xác định được cốt truyện, xem chúng bao gồm những sự việc gì, diễn biến và kết thúc ra sao Các nhân vật trong truyện có hành động và lời nói như thế nào Đối với văn miêu tả, các em không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng được miêu tả Mỗi đối tượng miêu tả đều có những đặc điểm khác nhau Vì vậy khi miêu tả các em cần biết lựa chọn, chắt lọc từ ngữ để làm nổi bật những nét riêng khác biệt này để bài văn vừa mang đặc điểm chung của thể loại văn miêu tả, vừa mang đặc điểm riêng của đối tượng miêu tả
Như vậy, vốn kiến thức cơ bản, vững vàng, sâu sắc và có hệ thống là đặc điểm quan trọng và là tiền đề của học sinh giỏi Tiếng Việt
- Về khả năng tư duy ngôn ngữ
HSG Tiếng Việt cần bộc lộ trình độ nhận thức cao đối với tiếng Việt,
cụ thể như sau:
+ Khả năng nhận thức tiếng Việt nhanh, rõ ràng và nhanh chóng vận dụng vào tình huống tương tự (tích hợp kiến thức)
Trang 20+ Có nhiều hứng thú trong các tiết học, đặc biệt là bài mới Có khả năng nhạy bén với ngôn ngữ
Đồng thời với quá trình nhận thức, học sinh cần bộc lộ những ưu thế trong năng lực tư duy như sau:
+ Biết phân tích các sự vật và hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng
+ Biết thay đổi góc nhìn khi xem xét sự vật hiện tượng (cái nhìn đa chiều đối với sự vật) Điều này chính là yếu tố quan trọng để học sinh có thể sáng tạo nét riêng trong bài văn
Ví dụ: Cùng một bài văn tả cảnh bình minh, nhưng một học sinh có năng lực Tiếng Việt biết miêu tả mặt trời với những hành ảnh “rất người” như sau:
Cảnh bình minh nơi đâu cũng đẹp Đó là khi mặt trời còn bẽn lẽn núp sau sườn núi, những tia nắng dịu dàng đã bắt đầu xuyên thủng màn sương bao phủ núi đồi Đó là buổi hừng đông với những tia nắng hồng nhảy nhót trên mặt biển Đó là khi tầng tầng lớp lớp bụi hồng ánh sáng đã ùa ra khắp phố phường
Nếu không có cái nhìn đa chiều đối với sự vật, chắc chắc em học sinh này không thể tạo ra những hình ảnh sinh động như thế
- Về hệ thống kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt
+ Biết cách tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết cũng như biết xây dựng những dẫn chứng, ví dụ và loại bỏ những yếu tố không cần thiết Biết quay lại điểm xuất phát để tìm ra con đường đi mới
+ Biết sử dụng thành thạo kĩ năng đọc, hiểu văn bản
Trang 21Ví dụ: Cách ngắt nhịp đúng trong câu thơ sau là:
Yêu hơn / cả cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cây cầu này / ảnh chụp xa xa
Theo cách ngắt nhịp này, ta hiểu chiếc cầu mà bạn nhỏ yêu quý nhất là chiếc cầu trong ảnh Có rất nhiều học sinh không biết ngắt nhịp mà sử dụng
cách ngắt Yêu hơn cả / cầu ao mẹ thường đãi đỗ như vậy là dẫn đến hiểu sai
về ý nghĩa của câu thơ
+ Học sinh có khả năng trình bày, diễn đạt một cách lưu loát, chính xác
và trọn vẹn vấn đề
+ Học sinh có năng lực vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết vấn
đề liên quan Điều này thể hiện rõ trong việc vận dụng các kiến thức đã học trong phân môn Chính tả, Luyện từ và câu vào làm văn
+ Biết thu gọn và sắp xếp trật tự, hệ thống các vấn đề trình bày
Ví dụ: Sắp xếp sự vật theo trình tự thời gian, trình tự không gian
- Về ý thức, thái độ khi nói, viết Tiếng Việt
+ Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những kiến thức đã thu được ngay
từ dạng sơ khởi
Ví dụ: Dùng sổ tay ghi chép lại những câu thơ hay, hình ảnh đẹp hoặc những lời cô giảng mà các em cảm thấy ý nghĩa Tìm tòi trên các nguồn tài liệu để có thêm thông tin về tác giả, tác phẩm mà em yêu thích
+ Học sinh phải có niềm yêu thích đặc biệt với môn Tiếng Việt Các em
có niềm đam mê với việc phát hiện cái hay, cái mới lạ trong việc sử dụng ngôn ngữ
Trang 22+ Có hứng thú với những vấn đề mới lạ, hình ảnh mới lạ trong văn chương
+ Có ý thức giữ gìn và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt
- Về kết quả học tập
Kết quả học tập là cái được thể hiện sau quá trình học tập của học sinh Kết quả học tập tuy chưa thể phản ánh tuyệt đối chính xác về năng lực của học sinh, nhưng nó cũng thể hiện được tương đối khả năng mà học sinh có được
HSG Tiếng Việt cần thể hiện được một kết quả học tập tốt, toàn diện ở tất cả các phân môn Tiếng Việt
1.1.3 Đặc điểm tư duy, nhận thức và kĩ năng học tập Tiếng Việt của học
sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5
1.1.3.1 Đặc điểm tư duy, nhận thức ngôn ngữ của học sinh lớp 5
1.1.3.1.1 Đặc điểm tư duy của học sinh lớp 5
Hoạt động nhận thức của con người có thể chia thành hai giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính (tình cảm và tri giác) và nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng)
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính chất quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Khả năng tư duy chính là khả năng nhận thức thế giới của con người Hoạt động tư duy mang tính độc đáo vì nó phụ thuộc vào nhu cầu, hứng thú, tâm thế và cá tính của chủ thể Hoạt động tư duy mang tính sáng tạo vì nó đem lại những sản phẩm mới
Trang 23Tư duy được chia thành ba loại như sau:
- Tư duy trực quan – hành động (tư duy thực hành);
- Tư duy trực quan – hình ảnh (tư duy hình ảnh);
- Tư duy từ ngữ – logic (tư duy lí luận)
Ba loại tư duy này có sự liên hệ mật thiết với nhau Trong đó, tư duy trực quan – hành động là tư duy ở mức độ thấp, tư duy trực quan – hình ảnh là
tư duy ở mức độ cao hơn, còn tư duy từ ngữ – logic là tư duy ở mức độ phát triển cao nhất
Tư duy của học sinh lớp 5 vẫn còn mang đậm màu sắc cảm xúc và chiếm ưu thế ở hình thức tư duy trực quan – hành động Ở các em, phẩm chất
tư duy đang chuyển dần từ tính cụ thể, trực quan sang tính trừu tượng, khái quát Năng lực tư duy của các em được phát triển tùy thuộc vào tính chất của phương thức dạy học Trong cuốn “Các dạng khái quát hóa trong dạy học” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000), V.V Đavưđôv khẳng định: Nội dung của sách giáo khoa và các tài liệu học tập cần được sắp xếp sao cho khi học sinh làm việc với chúng, các em sẽ đi đến sự khái quát hóa tương ứng Tương
tự, trong các sách hướng dẫn dạy học cần có những gợi ý, chỉ dẫn chi tiết cho giáo viên, giúp họ biết chú trọng phương pháp dạy học nêu vấn đề để phát triển tư duy cho học sinh, giúp học sinh có khả năng tư duy ở mức độ cao hơn, bộc lộ sự độc đáo và sáng tạo hơn
1.1.3.1.2 Đặc điểm tưởng tượng của học sinh lớp 5
Tưởng tượng là một quá trình xây dựng nên những biểu tượng mới dựa trên cơ sở những biểu hiện đã có Tưởng tượng là một quá trình phản ánh caí mới, cái chưa hề có trong kinh nghiệm của cá nhân người phản ánh cũng như
Trang 24toàn xã hội Sản phẩm của tưởng tượng cũng giống với sản phẩm của tư duy ở tính mới mẻ của nó Nếu tư duy phản ánh đối tượng dưới hình thức khái niệm thì tưởng tượng phản ánh đối tượng bằng cách xây dựng nên biểu tượng mới
về nó Cũng như tư duy, tưởng tượng trong hoạt động tâm lí của con người chỉ được nảy sinh khi đứng trước những đòi hỏi mới của thực tiễn mà họ chưa từng gặp
Khả năng tưởng tượng là một điều kiện của hoạt động sáng tạo của chủ thể hướng vào sự cải tổ thế giới xung quanh Có thể cho rằng tưởng tượng là một thành phần của nhân cách Việc giáo dục và bồi dưỡng trí tưởng tượng phong phú cho học sinh không chỉ là một nhiệm vụ của trí dục mà của cả đức dục nữa
Đối với học sinh tiểu học, tưởng tượng được hình thành và phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác của các em Tưởng tượng của học sinh lớp 5 đã phát triển phong phú hơn so với học sinh đầu tiểu học do bộ não đã phát triển hơn, các chức năng phân tích – tổng hợp của vỏ não đang phát triển mạnh và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện Giáo viên cần có thái độ khuyến khích các em hình dung hết khả năng những điều mà người khác mô
tả Đặc biệt những đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình minh họa, biểu đồ, sơ
đồ, băng hình, nếu được sử dụng một cách hợp lí sẽ giúp học sinh hình dung về đối tượng cần khám phá và sáng tạo trên cở sở chắp nối với những biểu tượng mới ở các em
Trang 251.1.3.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người Ngôn ngữ tồn tại dưới hai dạng: nói và viết Cùng diễn đạt một nội dung nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ, có thể sử dụng dạng nói hoặc dạng viết tùy theo yêu cầu, mục đích, đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp Tuy nhiên, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ dạng viết có những sự khác biệt Về mặt từ vựng, ngôn ngữ dạng nói thường ở dạng tỉnh lược, ngắn gọn hơn ngôn ngữ dạng viết nhưng lại thường không gọt dũa, hàm súc bằng ngôn ngữ dạng viết; về mặt ngữ pháp, cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nói thường phức tạp
và biến hóa hơn cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ viết Hai dạng ngôn ngữ này còn khác nhau ở cả những điểm nằm ngoài bản thân hệ thống ngôn ngữ: ngôn ngữ dạng viết không tận dụng được các yếu tố kèm ngôn ngữ (ngữ điệu, giọng điệu, vẻ mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, ) như ngôn ngữ dạng nói Khắc phục điều này ở mức độ nhất định, ngôn ngữ dạng viết phải dựa vào hệ thống dấu câu, các phép liên kết câu, các biện pháp tu từ về câu, Nhưng trái lại, ngôn ngữ dạng nói không chỉ ra được đường biên của câu và đoạn một cách rõ ràng, mạch lạc như ngôn ngữ dạng viết Như vậy, ngôn ngữ dạng nói
và ngôn ngữ dạng viết khác nhau về cách thức tạo ra lời nói và theo đó là cách thức tiếp nhận lời nói Người có khả năng nghe, nói tốt chưa chắc đã có khả năng đọc, viết tốt và ngược lại, nếu như không rèn luyện cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cùng với việc tiếp nhận những đơn vị kiến thức cần thiết về ngôn ngữ học
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh
và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Trang 26Tóm lại, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ Vì vậy, các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
1.1.3.1.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một sự vật hay một nhóm sự vật, hiện tượng để định hướng hoạt động , đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành hiệu quả
Chú ý được xem như một trạng thái tâm lý đi kèm với các hoạt động tâm lý khác giúp cho hoạt động của con người đạt hiệu quả Chú ý được coi là cái nền, cái phông, là điều kiện của hoạt động có ý thức, chú ý được ví như cánh cửa duy nhất mà qua đó những gì của thế giới khách quan nhập vào tâm hồn con người
Có ba loại chú ý:
- Chú ý không chủ định;
- Chú ý có chủ định;
- Chú ý sau chủ định
Trang 27Ở lứa tuổi tiểu học, chú ý có chủ định của các em con còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Đến giai đoạn cuối tiểu học (lớp 4, 5), trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Khả năng chú ý bền vững, tập trung trong học tập là rất cao Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã
có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính
cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ Nhiệm vụ của giáo viên là gây không khí học tập vui vẻ, hứng thú cho học sinh, tạo tâm thế để ghi nhớ, hướng dẫn các em thủ thuật để ghi nhớ câu chuyện, chỉ cho các em đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học, tránh để các em ghi nhớ máy móc, học vẹt, [10]
Trang 281.1.3.1.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Trí nhớ là một quá trình tâm lí phản ảnh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức các biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo sau đó ở trong bộ não những cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động hành động hay suy nghĩ trước đây
Căn cứ vào tính chất tích cực của tâm lí trong hoạt động, trí nhớ được chia thành các loại sau đây:
- Trí nhớ vận động: là loại trí nhớ phản ánh những cử động và những hệ thống cử động
- Trí nhớ cảm xúc: là loại trí nhớ phản ánh những rung cảm, trải nghiệm của con người
- Trí nhớ hình ảnh: là loại trí nhớ phản ảnh những hình ảnh, biểu tượng, thị giác, khứu giác, thính giác, vị giác của các sự vật hiện tượng đã tác động vào ta trước đây
- Trí nhớ từ ngữ logic: là loại trí nhớ phản ánh những ý nghĩ, tư tưởng của con người Hệ thống tín hiệu thứ hai giữ vai trò chính trong loại trí nhớ này Đây là loại trí nhớ giữ vai trò chủ đạo của con người, giữ vai trò chính trong việc lĩnh hội tri thức của học sinh
Đối với học sinh lớp 4, 5 trí nhớ từ ngữ logic đã phát triển, tuy nhiên do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nên trí nhớ hình ảnh vẫn còn mạnh Trẻ vẫn ghi nhớ chủ định, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Nhưng nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em tận dụng tối đa khả năng ghi nhớ Giáo viên cần giúp học sinh biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ
Trang 29ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt,
dễ thuộc Đặc biệt, giáo viên có thể kết hợp với các hình ảnh sinh động gắn với nội dung bài học, tạo ấn tượng tốt với các em nhằm tận dụng khả năng ghi nhớ hình ảnh của học sinh Từ đó hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui
vẻ khi ghi nhớ kiến thức.[10]
1.1.3.1.6 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ý chí là tính tích cực của con người nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Ý chí đòi hỏi ở con người tinh thần khắc phục khó khăn và sự nỗ lực có ý thức Ý chí ở mỗi người được hình thành và phát triển trên cơ sở hành động
có chủ định Ý chí phát triển trong hoạt động và đặc biệt bị tri phối bởi ảnh hưởng của giáo dục và tự giáo dục của mỗi cá nhân
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào
yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người
lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ
Trang 30Nói tóm lại, giai đoạn cuối tiểu học là giai đoạn học sinh đã có sự phát
triển vượt bậc về nhận thức Giai đoạn này rất phù hợp để giáo viên lựa chọn nhiều biện pháp giảng dạy nâng cao Học sinh đã biết kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy ngôn ngữ và sức bền vững của các thao tác tư duy
để vận dụng vào làm bài Tất cả đều là thử thách của học sinh, muốn học sinh vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học
1.1.3.2 Kĩ năng học tập ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh giỏi lớp 5
1.1.3.2.1 Kĩ năng đọc của học sinh lớp 5
Kĩ năng đọc là kĩ năng lĩnh hội ngôn ngữ theo dạng viết Nó có thể phát triển độc lập với kĩ năng nghe và kĩ năng nói, nhưng thường là đi cùng với nhau, nhất là trong những xã hội có truyền thống văn học phát triển mạnh Đọc có thể giúp xây dựng vốn từ để giúp cho việc nghe hiểu ở những bước cao hơn
Đối với HSG Tiếng Việt lớp 5, các em đã có khả năng nắm bắt đầy đủ các kĩ năng đọc và sử dụng một cách thành thạo:
- Giải mã văn bản: Trong hệ thống chữ la tinh hoặc ngôn ngữ phiên âm, điều này nghĩa là tạo lập mối liên hệ giữa các âm và các biểu tượng Trong hệ thống ngôn ngữ tượng hình, điều này nghĩa là liên kết ý nghĩa của từ với các hình tượng được viết ra
- Nhận ra từ vựng
- Nhận biết các từ khóa, chẳng hạn những từ giúp nhận diện chủ đề và ý chính
Trang 31- Phát hiện ra ý nghĩa của các từ, bao gồm những từ lạ, những từ ngữ được sử dụng đặc biệt trong văn bản viết
- Nhận biết các loại từ ngữ pháp: danh từ, động từ, tính từ,
- Nhận biết các bộ phận của câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ,
- Nhận biết các kiểu cú pháp cơ bản
- Tái lập và suy đoán các tình huống, mục tiêu và người tham gia
- Sử dụng kiến thức về thế giới và các phương tiện cấu kết ngữ pháp và
từ vựng để tạo lập các tiền giả định, các hàm ngôn, các suy luận và các liên kết giữa các phần của văn bản
- Nhận biết điểm chính hay thông tin quan trọng nhất
- Phân biệt ý chính từ các chi tiết phụ
- Điều chỉnh chiến lược đọc tùy theo mục đích đọc khác nhau, chẳng hạn như lướt qua để lấy ý chính hay tập trung sâu vào một vấn đề
1.1.3.2.2 Kĩ năng tạo lập văn bản
Kĩ năng viết là kĩ năng sản sinh văn bản theo kiểu viết Viết thường được coi là kĩ năng khó nhất trong 4 kĩ năng ngôn ngữ, ngay cả đối với người bản ngữ, vì nó không chỉ liên quan đến việc trình bày lời nói theo kiểu đồ họa,
mà còn liên quan đến việc trình bày các tư tưởng theo cách thức được cấu trúc Mặt khác, ngôn ngữ viết được coi là ngôn ngữ chuẩn mực
Chính vì vậy, HSG Tiếng Việt cần thể hiện được kĩ năng viết ở mức
độ đạt được các tiểu kĩ năng như sau:
- Viết chính tả một cách chính xác, bao gồm chữ viết, vần, dấu thanh và các quy tắc sử dụng dấu câu
- Sử dụng đúng các tình thái từ
Trang 32- Sử dụng đúng trật tự từ
- Sử dụng từ vựng chính xác
- Sử dụng văn phong thích hợp tùy theo thể loại và người đọc
- Tạo lập các bộ phận cấu thành câu chính như chủ ngữ, vị ngữ sao cho rõ ràng đối với người đọc
- Tạo lập các ý chính từ các ý kiến phụ, thông tin phụ
- Phán đoán mức độ tri thức nền mà người đọc có được về chủ đề
và làm rõ những điều mà bạn cho rằng người đọc không biết
1.1.4 Những nguyên tắc đánh, giá xác định học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5
Đánh giá có nghĩa nhận định giá trị Những từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường
Đánh giá kết quả của học tập là quá trình đo lường mức độ đạt được của người học so với các mục tiêu của quá trình dạy học Mô tả một cách định tính, định lượng, tính đầy đủ, chính xác và tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, có thể diễn đạt lại bằng lời nói, văn bản và ngôn ngữ chuyên môn của người học Đánh giá thái độ của người học thông qua phân tích các thông tin phản hồi từ kiểm tra, quan sát mức độ hòa thành công việc được giao, đối chiếu với các tiêu chí và yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của từng môn học
Các nguyên tắc đánh giá học sinh giỏi tiếng Việt bao gồm:
Trang 33(1) Nguyên tắc khách quan
Việc đánh giá không chứa yếu tố tình cảm, tâm lí và các yếu tố ngoại lai khác xen vào Đây là nguyên tắc quan trọng, ảnh hưởng lớn tới kết quả đánh giá Đánh giá khách quan sẽ giúp giáo viên thu được các tín hiệu ngược một cách chính xác; từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy nâng cao hiệu quả truyền đạt Đồng thời, sự khách quan tạo ra tâm lý tích cực cho người học, khuyến khích ý thức tự học, giảm các yếu tố tiêu cực của học sinh
(2) Nguyên tắc bám sát mục tiêu dạy học
Bài kiểm tra đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học, nghĩa là phải xác định rõ mục tiêu tiên quyết cần đạt của quá trình đánh giá nằm ở mức độ nào Mục tiêu đánh giá không phải do giáo viên tự đặt ra mà phải xuất phát từ mục tiêu chung của chương trình dạy học Đánh giá phải dựa trên đặc thù môn học, cần đạt được kiến thức, kĩ năng, thái độ cụ thể nào, nội dung, phương pháp thể hiện ra sao
(3) Nguyên tắc toàn diện
Đánh giá phải hàm chứa nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cần đạt được là gì? Tư tưởng, thái độ và sự biểu hiện của học sinh ra sao Nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên phải vận dụng tốt trong quá trình phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi
(4) Nguyên tắc đánh giá phải theo kế hoạch
Các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và mọi hoạt động khác đều vận động và thay đổi không ngừng Hoạt động giáo dục – đào tạo cũng không tách khỏi quy luật khách quan này Vì lẽ đó, kết quả kiểm tra đánh giá chỉ thực sự có giá trị tại thời điểm đánh giá Việc đánh giá phải được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt
Trang 34Giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra đánh giá rõ ràng, hình thức và thời gian phải thích hợp
(5) Nguyên tắc đánh giá phải có tính cải thiện phương pháp và chương trình
Dựa vào kết quả các bài kiểm tra đánh giá, giáo viên và nhà quản lí giáo dục sẽ phải phân tích và tìm ra nhân tố tích cực để duy trì và phát huy loại bỏ những nhân tố tiêu cực và cải thiện nhược điểm đang tồn tại Từ đây tiến hành cải tiến phương pháp, chỉnh lý chương trình, giáo trình, đổi mới mục tiêu cho phù hợp
Để đánh giá kết quả giáo dục, người ta thường sử dụng công cụ trắc
nghiệm Trắc nghiệm, theo Từ điển Tiếng Việt, là “khảo sát và đo lường khi
làm các thí nghiệm khoa học trong phòng” Trong dạy học, trắc nghiệm là
khảo sát, đo lường để có bằng chứng xác nhận trình độ học tập của học sinh
Có nhiều cách phân loại trắc nghiệm Theo Harold S.Madsen, trong
trắc nghiệm chương trình tiếng Anh ESL, có 7 cặp trắc nghiệm đối lập như
sau:
- Trắc nghiệm kiến thức – trắc nghiệm kĩ năng
-Trắc nghiệm chủ quan – trắc nghiệm khách quan
- Trắc nghiệm sản sinh – trắc nghiệm tiếp nhận
- Trắc nghiệm kĩ năng ngôn ngữ – trắc nghiệm kĩ năng giao tiếp
- Trắc nghiệm riêng lẻ – trắc nghiệm tích hợp
- Trắc nghiệm theo trình độ – trắc nghiệm theo tiêu chuẩn
- Trắc nghiệm thành tích – trắc nghiệm tiến bộ
Trang 35Trắc nghiệm kiến thức cho biết học sinh nắm các sự kiện ngôn ngữ như
thế nào, còn trắc nghiệm kĩ năng giúp đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ của
học sinh
Trắc nghiệm chủ quan giúp đánh giá kĩ năng ngôn ngữ tự nhiên của
học sinh giống như nó diễn ra trong thực tế đời sống Tuy nhiên, chấm bài
trắc nghiệm chủ quan thường là chậm và không phải bao giờ cũng chính xác
Bù lại, trắc nghiệm khách quan (ví dụ: trắc nghiệm lựa chọn và trắc nghiệm
đối chiếu) cho kết quả nhanh và nhất quán nhất
Trắc nghiệm sản sinh (ví dụ: bài kiểm tra nói) đòi hỏi học sinh phải có
câu trả lời tích cực và sáng tạo, trong khi đó trắc nghiệm tiếp nhận (ví dụ: bài
tập nhận diện ngôn ngữ) giúp đánh giá nhận thức của học sinh
Trắc nghiệm kĩ năng ngôn ngữ giúp đánh giá những thành tố riêng rẽ
của ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp và phát âm còn trắc nghiệm kĩ năng
giao tiếp giúp đánh giá cách sử dụng ngôn ngữ của học sinh trong trao đổi tư
tưởng và thông tin
Trắc nghiệm riêng lẻ sử dụng mỗi câu hỏi kiểm tra một khía cạnh đặc
thù, còn trắc nghiệm tích hợp có thể kiểm tra nhiều kĩ năng ngôn ngữ khác
nhau như cách người ta sử dụng ngôn ngữ trong thực tế
Trắc nghiệm theo trình độ đối chiếu mỗi học sinh với bạn cùng lớp còn trắc nghiệm theo tiêu chuẩn đối chiếu mỗi học sinh với những tiêu chuẩn nhất
định, bất kể trình độ của những học sinh khác thế nào
Cặp đối lập cuối cùng là trắc nghiệm thành tích và trắc nghiệm tiến bộ
Trắc nghiệm thành tích đánh giá toàn bộ khả năng ngôn ngữ của học sinh ở
một thời điểm nhất định Trong khi đó, trắc nghiệm tiến bộ đánh giá sự phát
triển khả năng của học sinh ở từng mặt
Trang 36Cách phân loại như trên của Harold S.Madsen có rất nhiều phương diện trắc nghiệm trong một chương trình dạy ngôn ngữ Để kiểm tra đánh giá toàn diện kết quả học tập của học sinh cần phối hợp nhiều cặp trắc nghiệm Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi phân loại trắc nghiệm trong lĩnh vực dạy học
phân môn tiếng Việt theo cặp phạm trù trắc nghiệm khách quan và trắc
nghiệm chủ quan hay trắc nghiệm tự luận Mỗi trắc nghiệm khách quan hay trắc nghiệm tự luận đều có thể là trắc nghiệm kiến thức hoặc kĩ năng, trắc nghiệm kĩ năng ngôn ngữ hoặc kĩ năng giao tiếp, trắc nghiệm sản sinh hoặc trắc nghiệm tiếp nhận
1.2 Những tiền đề thực tiễn
1.2.1 Vai trò của việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt
tại các trường tiểu học quốc tế, song ngữ
Các em học sinh được học tập trong môi trường song ngữ, quốc tế rất
đa dạng, từ học sinh người nước ngoài, học sinh có bố hoặc mẹ là người nước ngoài tới học sinh thuần Việt Việc học tập trong những môi trường tích hợp như vậy, học sinh có điều kiện tốt để học tập các môn ngoại ngữ, các nền văn hóa khác nhau trên thế giới Hầu hết các em đều hình thành lối tư duy năng động, sáng tạo và linh hoạt trong xử lý tình huống Nhưng ngược lại, trong những môi trường quốc tế, các em cũng gặp phải không ít khó khăn khi học tập Tiếng Việt Việc bồi dưỡng HSG Tiếng Việt ở các trường quốc tế tại Việt Nam là rất cần thiết
Tiếng Việt là một môn học khá phức tạp đối với cả người bản ngữ, việc bảo tồn phát huy sự giàu đẹp, trong sáng của tiếng Việt nếu không được chú trọng sẽ khiến các em giảm bớt hứng thú với việc tìm hiểu và phát huy văn hóa dân tộc Phát hiện và bồi dưỡng HSG Tiếng Việt trong những môi trường quốc tế là không chỉ đơn thuần là giúp các em có được kiến thức cao về tiếng Việt mà nó còn là động lực để các em tìm hiểu, khám phá sâu, rộng, và hoàn
Trang 37thiện hơn vốn Tiếng Việt của mình Từ đó, thêm yêu, thêm tự hào về dân tộc Việt Nam
1.2.2 Những khó khăn của việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng
Việt lớp 5 tại các trường tiểu học song ngữ
Công tác bồi dưỡng HSG nhằm xây dựng đẩy mạnh phong trào HSG thường gặp những khó khăn như:
Về thời gian: Giáo viên dạy bồi dưỡng vẫn phải hoàn tất công tác giảng
dạy như các giáo viên khác, đôi khi còn kiêm nhiệm nhiều công tác khác như: chủ nhiệm, tổ trưởng bộ môn, thư ký hội đồng trường, công đoàn… đó là một thực tế do Ban giám hiệu lúc nào cũng muốn giao công tác cho những giáo viên tốt, giỏi, có uy tín và Học sinh phải học đủ tất cả các môn theo chương trình quy định Do đó, cả thầy và trò đều cần có thời gian đầu tư cho hoạt động này
Về nội dung: Không có chương trình dành cho lớp bồi dưỡng HSG, thiếu
định hướng và thiếu tính liên thông trong hệ thống chương trình Tất cả giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn, tự nghiên cứu và tự sưu tầm tài liệu Với đặc thù của các trường tiểu học có yếu tố nước ngoài, học sinh trường tiểu học song ngữ, quốc tế thường có thời gian học tập bằng tiếng Việt ít hơn
so với học sinh các trường khác Thông thường các em được học tập ½ ngày bằng tiếng Việt và ½ ngày bằng tiếng nước ngoài Do vậy, khả năng vận dụng tiếng mẹ đẻ của các em có phần hạn chế hơn
Các em học trong môi trường song ngữ được học tập với học sinh nước ngoài và giáo viên nước ngoài nhiều dễ dẫn đến một phản xạ là dùng nhiều từ tiếng Anh trong khi nói hoặc viết tiếng Việt Một số em học sinh còn gặp khó khăn khi học tập tiếng Việt vì có bố hoặc mẹ là người nước ngoài
Trang 38Vì được học đồng thời cả hai ngôn ngữ nên các em dễ bị lẫn những cấu trúc câu của tiếng Anh sang tiếng Việt
Ví dụ: “A flower is beautiful”, tương tự cách viết câu như vậy có rất nhiều học sinh đặt câu trong bài văn là “Bông hoa là đẹp” thay vì sử dụng câu “Bông hoa rất đẹp”
1.2.3 Thực tiễn công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt
lớp 5 trong một số nhà trường hiện nay
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng khá nhiều đến quan niệm về dạy Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông Nhiều người không mặn mà với việc bồi dưỡng HSG Tiếng Việt vì suy nghĩ tiếng Việt không đem lại kết quả trực tiếp, lợi ích trực tiếp cho người học như các môn học thuộc khoa học tự nhiên Nhất là trong cuộc sống cũng như trong thi
cử của học sinh thời nay Ở nhà trường tiểu học hiện nay việc dạy học Tiếng Việt cũng chỉ được quan niệm là khâu dạy tiếng Nghĩa là, người dạy chỉ truyền đạt hết những kiến thức, kĩ năng về Tiếng Việt làm sao cho HS đọc thông viết thạo là được, còn vấn đề bồi dưỡng dưỡng HSG Tiếng Việt ở tiểu
học đang là vấn đề nan giải và ít được quan tâm
1.2.3.1 Về chương trình bồi dưỡng
Hiện nay, chưa có một khung chương trình chung nào cho việc bồi dưỡng HSG Tiếng Việt lớp 5 Thực trạng này xuất phát từ một thực tế là các cuộc thi chọn HSG Tiếng Việt rất hạn chế Trong khi hàng năm các nhà trường đều đặn tổ chức các cuộc thi chọn học sinh giỏi như ViOlympic (môn Toán) và Olympic English (môn Tiếng Anh)
và thu hút một lượng lớn học sinh tham gia, thì số lượng các cuộc thi HSG môn Tiếng Việt ở tiểu học rất ít Các nhà trường chủ yếu làm
Trang 39công tác bồi dưỡng HSG Tiếng Việt để chuẩn bị kiến thức cho học sinh thi vào các trường chuyên, lớp chọn bậc trung học cơ sở
Để làm tốt công tác bồi dưỡng HSG Tiếng Việt, các nhà trường dựa theo điều kiện của nhà trường và năng lực của học sinh để tự biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng cho học sinh của mình Chương trình càng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng mảng kiến thức, rèn các kỹ năng ngôn ngữ thì càng đạt hiệu quả cao trong việc bồi dưỡng học sinh
1.2.3.2 Về tài liệu bồi dưỡng
Thông thường, đề thi HSG thường có yêu cầu cao hơn so với chương trình bình thường cùng cấp lớp Điều đó có nghĩa là ngoài việc học bình thường, học sinh cần phải được học nâng cao Để việc bồi dưỡng HSG Tiếng Việt đạt kết quả cao, ngoài việc sử dụng các phương pháp, biện pháp, các hình thức tổ chức dạy học thì các dạng bài tập nâng cao có vài trò rất quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng cho các em Các bài tập là phương tiện hữu ích để các em lĩnh hội những giá trị nghệ thuật của các tác phẩm văn học và cũng là phương tiện để qua đó các em có thể thể hiện những năng lực cảm thụ văn học của mình
Có rất nhiều nguồn tài liệu tham khảo như các sách tham khảo và các đề thi những năm trước Giáo viên tìm tòi, sưu tầm, xây dựng các bài tập tương
tự dựa vào nội dung kiến thức trong các đề thi HSG, thông qua trao đổi chuyên môn giữa thầy cô trong trường và các trường lân cận… Song, việc thiết kế và sử dụng các dạng bài tập này như thế nào trong quá trình bồi dưỡng HSG Tiếng Việt ở tiểu học đang là vấn đề trăn trở của rất nhiều GV khi đứng lớp
Thông thường, các giáo viên lựa chọn từ rất nhiều nguồn tài liệu tham khảo để chắt lọc những dạng bài tiêu biểu nhất chứ không tuân theo một tài
Trang 40liệu chính thống nào Điều này đảm bảo sự phong phú, đa dạng trong nội dung ôn tập, mặt khác cũng giúp học sinh có sự cọ xát nhiều dạng bài tập Nhưng điều này sẽ tốn rất nhiều thời gian, công sức của giáo viên
Bồi dưỡng HSG phải là một quá trình, để GV và HS không bị quá sức trong việc dạy học, do phải học một lượng kiến thức lớn, thì kế hoạch bồi dưỡng phải rải đều trong cả năm học Chứ không phải chỉ trong một, hai tháng
1.2.3.3 Về trình độ, kĩ năng bồi dưỡng của giáo viên
Về đội ngũ giáo viên, có thể nói đây là một đội ngũ có yếu tố quyết định quan trọng về kết quả bồi dưỡng HSG Điều này dễ nhận thấy ở các bộ môn thể dục thể thao và võ thuật Ở đâu có huấn luyện viên giỏi, võ sư giỏi, ở
đó thường có những đệ tử giỏi Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng không nằm ngoài quy luật đó Điều này được chứng minh tại một số trường ở thành phố trong những năm vừa qua Do đó, Ban Giám hiệu các trường nghiên cứu, xem xét và bằng mọi cách phải thuyết phục cho được giáo viên giỏi, có kinh
nghiệm của trường tham gia công tác bồi dưỡng HSG
1.2.3.4 Về sự hứng thú, hợp tác của học sinh
Hứng thú là một hiện tượng tâm lí rất phức tạp Hứng thú của học sinh đối với quá trình học tập trong trường học được gọi là hứng thú học tập Những học sinh có nguyện vọng đi sâu tìm hiểu nội dung bài học, môn học có thái độ tích cực trong việc tìm kiếm những phương pháp học tập hiệu quả, cần thiết nhằm tiếp thu kiến thức cho tốt đều được xem như có hứng thú học tập Trong hứng thú học tập Tiếng Việt thì chủ thể của hứng thú là học sinh, đối tượng của hứng thú là toàn bộ quá trình học tập Tiếng Việt (bao gồm nội dung tiếng Việt và cách thức lĩnh hội nó) Từ quan niệm về hứng thú, có thể suy ra điều kiện tổng quát để học sinh hứng thú trong học tập Tiếng Việt: Quá trình