1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc (LV01269)

128 1,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là việc hướng dẫn học sinh từng bước nhận diện, làm quen, hiểu biết và sáng tạo được các sản phẩm thẩm mĩ… Với tác phẩm văn học, bồi dưỡng năng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các em n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

BÙI BÍCH PHƯỢNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC

CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Bïi bÝch ph-îng

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC

CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC

Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)

Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hoàn

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

Lời cảm ơn

Lời đầu tiên của đề tài, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo - Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn – Bộ Giáo dục và Đào tạo, người thầy đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Quý thầy cô Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã nhiệt tình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Qua đây, em cũng gửi lời chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các cô giáo chủ nhiệm và các em học sinh lớp 5 trường Tiểu học Kim Đồng- Ba Đình- Hà Nội và trường Tiểu học Nghĩa Tân- Cầu Giấy - Hà Nội đã tạo điều kiên cho em trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân – những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tác giả luận văn

Bùi Bích Phượng

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Bùi Bích Phượng

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG CẢM

THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN MÔN

1.1.1 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh lớp 5 7

1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5 7

1.1.1.2 Khả năng tri giác, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh

1.1.2.1 Khái niệm về cảm thụ văn học 9

1.1.2.2 Tiến trình và các cấp độ của cảm thụ văn học 10

1.1.3 Một số yêu cầu rèn luyện về cảm thụ văn học ở tiểu học 13

1.1.3.1 Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn 13

1.1.3.2 Tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học 14

1.1.3.3 Nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt 15

Trang 6

1.1.3.4 Rèn kĩ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học 16

1.1.4 Kĩ năng cảm thụ văn học và năng lực cảm thụ văn học 17

1.2.1.2 Cấu trúc của phân môn Tập đọc trong SGK lớp 5 19

1.2.1.3 Yêu cầu cần đạt của phân môn Tập đọc lớp 5 20

1.2.2 Mục đích của việc rèn kỹ năng cảm thụ văn học thông qua

1.2.5 Thực trạng cảm thụ văn học của học sinh lớp 5 37

1.2.6 Nhận xét của tác giả thông qua khảo sát 38

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG

CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN

2.1 Hệ thống bài tập trước khi đến lớp để rèn kĩ năng cảm thụ

văn học cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 5 40

2.1.1 Bài tập yêu cầu luyện đọc 40

2.1.2 Bài tập tìm hiểu nghĩa của từ, câu 41

2.1.3 Bài tập nhận biết ý chính của từng đoạn trong văn bản 45

Trang 7

2.1.4 Bài tập nhận biết đại ý của văn bản 47

2.2 Hệ thống bài tập tại lớp để rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho

học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 5

2.2.1 Bài tập tìm hiểu tác dụng của cách dùng từ, đặt câu sinh

động

50

2.2.2 Bài tập phát hiện những hình ảnh, chi tiết có giá trị gợi tả 53

2.2.3 Bài tập tìm hiểu và vận dụng một số biện pháp tu từ gần gũi

2.2.4 Bài tập về đọc diễn cảm sáng tạo 67

2.3 Hệ thống bài tập về nhà để rèn kĩ năng cảm thụ văn học

2.3.1 Bài tập nêu cảm xúc của bản thân về tác phẩm 75

2.3.2 Bài tập bộc lộ cảm thụ hình tượng nhân vật 79

2.3.3 Bài tập liên hệ bản thân 81

3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sƣ phạm 85

Trang 8

PHỤ LỤC

1.Giáo án đối chứng

2 Phiếu khảo sát học sinh

3 Phiếu kiểm tra chất lƣợng

4 Sản phẩm sáng tạo của học sinh lớp thực nghiệm

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

a) Mục tiêu và phương hướng giáo dục của đất nước

Kết luận 242-TB/TƯ ngày 15/4/2009 của Bộ chính trị về phương hướng phát triển giáo dục đến năm 2020 khẳng định: Giáo dục và đào tạo đã giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, chương trình và các chính sách giáo dục Tuy nhiên bên cạnh đó cũng đã nhìn nhận: Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh

Chiến lược phát triển Giáo dục 2011-2020 của Thủ tướng ban hành kèm

theo quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 nêu rõ: Phát triển Giáo đục phải

thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Mục tiêu đến năm 2020, nền Giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập Ngày 4/11/2013, tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết số 29/NQ-TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, khẳng định: Vấn đề giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực là một bộ phận rất quan trọng của chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và phải được ưu tiên và quan tâm thực sự Bên cạnh đó cũng nhìn nhận thẳng thắn những yếu kém hiện nay trong giáo dục,

đó là chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, coi nhẹ vận dụng kiến thức, thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động Chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng làm việc Chúng ta chưa chú ý đến việc giúp học sinh hình thành các kĩ năng mềm, dạy quá nặng về lí

Trang 10

thuyết

Luật Giáo dục của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ngày 14/4/2005 quy định: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với

lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Chương trình Giáo dục Tiểu học tại điều 27 của Luật Giáo dục sửa đổi xác định: Giáo dục Tiểu học là bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ

sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông Mục tiêu giáo dục Tiểu học hiện nay là hình thành cho học sinh những tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kĩ năng cơ bản mang tính đúng đắn và lâu dài để các em học tiếp Trung học cơ sở Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì mới, chất lượng giáo dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục

b) Yêu cầu thực tiễn

Để đáp ứng nhu cầu hiện nay của xã hội, cần đến nhân tài, những người

có trí tuệ sắc bén, có bàn tay vàng, có kĩ năng đặc biệt, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là việc làm thật sự cần thiết Ở Tiểu học, việc bồi dưỡng học sinh là trách nhiệm của giáo viên và nhà trường Trong hệ thống các môn học

ở Tiểu học thì môn Tiếng Việt là môn học rất quan trọng, được coi là môn học công cụ để học tốt các môn học khác Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn, trong đó phần cảm thụ văn học là phần nhằm phát triển tư duy cho học sinh, nhằm bồi dưỡng để các em có thể trở thành học sinh giỏi môn Tiếng Việt Phân môn Tập đọc là phân môn mang tính tổng hợp, ngoài chức năng rèn đọc, nó còn cung cấp cho học sinh kiến thức Tiếng Việt, kiến thức văn học, kiến thức đời sống và giáo dục tình cảm, mỹ cảm Qua bài Tập đọc, học sinh có thể cảm thụ được cái hay, cái đẹp và từ đó giáo viên có thể bồi dưỡng cho các em tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu con người Vì vậy, môn Tiếng Việt mà đặc biệt là phân môn Tập đọc có tác dụng to lớn trong việc vun đắp, bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ

Khi cảm thụ được tác phẩm văn học, con người không chỉ được thức tỉnh

về mặt nhận thức mà còn rung động về tình cảm Từ đó, con người sẽ nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, cũng như được bồi

Trang 11

dưỡng về tâm hồn Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh nhằm hướng tới việc khám phá nghệ thuật của tác phẩm Đó là việc hướng dẫn học sinh từng bước nhận diện, làm quen, hiểu biết và sáng tạo được các sản phẩm thẩm mĩ… Với tác phẩm văn học, bồi dưỡng năng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các em nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm Giúp học sinh xác định đúng nội dung chính của tác phẩm, hình thành một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Từ đó sẽ hình thành và phát triển tình cảm, tâm hồn, nhân cách cho các em Giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong văn chương và trong cuộc sống…, môn Tiếng Việt sẽ dần dần xây dựng được những tâm hồn, nhân cách theo mục tiêu giáo dục đề ra trong chiến lược phát triển con người

Lâu nay trong các đề thi học sinh giỏi môn Tiếng Việt, thường có một câu hỏi dành cho bài tập về cảm thụ văn học Mặc dầu số điểm dành cho bài tập này thật ít ỏi, chỉ 1/10 tổng số điểm của đề thi Thế nhưng, trên thực tế, việc rèn luyện để nâng cao năng lực cảm thụ văn học là một trong những nhiệm vụ thật cần thiết đối với học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh giỏi văn Có năng lực cảm thụ văn học tốt các em sẽ cảm nhận được nhiều nét đẹp của văn thơ Những nét đẹp đó được tích lũy dần sẽ làm phong phú cho các

em về cách nói tiếng Việt sao cho thật trong sáng, thật sinh động Có năng lực cảm thụ văn học sẽ giúp các em viết văn tốt hơn, bài văn dễ đi sâu vào lòng người hơn Chính vì vậy trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi văn, việc giúp các em nâng cao năng lực cảm thụ văn học là một việc làm không thể thiếu nếu chúng ta muốn việc bồi dưỡng được đạt kết quả cao

Vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh lớp 5 là một vấn đề khó, chưa được nhiều công trình khoa học nghiên cứu Đây là vấn

đề phức tạp vì học sinh tiểu học tư duy trừu tượng đang được hình thành và phát triển, các em tiếp nhận vấn đề này tương đối vất vả Mà ở Tiểu học lại chưa có phân môn học riêng cho cảm thụ văn chương, chủ yếu giáo viên phải bồi dưỡng lồng ghép thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt như Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn… Không những thế, cảm thụ văn chương cũng được đánh giá là một vấn đề khó đối với giáo viên

Trong chương trình Tiểu học hiện nay, đặc biệt là trong phân môn Tập đọc dành cho học sinh lớp 5 vẫn chưa thật chú trọng khai thác cảm thụ văn học và chưa có một hệ thống bài tập để rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học

Trang 12

sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc Chính vì vậy, chúng tôi đề xuất nghiên cứu

“Xây dựng bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc” để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bồi dưỡng

năng lực cảm thụ văn học cho học sinh góp phần thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua tìm hiểu, vấn đề rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh đã có

nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu Có thể kể đến: “Cảm thụ văn học của học

sinh” của O.L.Nhikiphôrôva (1959); “Cảm thụ nghệ thuật” của B.X.Mailax

(1971)

Năm 1983, công trình “Cảm thụ văn học và giảng dạy văn học” của GS

Phan Trọng Luận đã cung cấp được một số hiểu biết khoa học về tính đặc thù của cảm thụ văn chương, mối quan hệ thẩm mỹ của bạn đọc đối với tác phẩm, tính chủ quan, tính khách quan, tính sáng tạo của tiếp nhận và những khái

quát về đặc điểm cũng như tiêu chí phát triển văn học ở bạn đọc

GS TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương”

(Nxb Giáo dục, 2002) đã khẳng định: “Đọc văn là một quá trình tiếp nhận và

sáng tạo Người đọc lý tưởng là người sáng tạo tác phẩm với tác giả Tác phẩm văn chương chỉ có thể mang đầy đủ giá trị nội dung và ý nghĩa của nó khi tác phẩm ấy trở thành một thực tại, một hình thức có thể cảm nhận và nắm bắt dưới mắt người đọc” Tác giả đã chỉ ra sự cần thiết cảm nhận của

người đọc nhưng chưa nêu cách rèn kĩ năng cảm thụ văn học như thế nào cho học sinh

Năm 2009, tác giả Trần Mạnh Hưởng khi tìm hiểu về “Luyện tập về cảm

thụ văn học ở tiểu học” đã nghiên cứu kĩ về vấn đề cảm thụ văn học và nhận

định: “Cảm thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những

điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm hay một bộ phận tác phẩm [11, tr.5] Tác giả cũng đã phần nào để cập đến các bài tập

cảm thụ văn học nhưng mới chỉ đề cập đến cảm thụ các tác phẩm hay trong toàn bộ chương trình Tiểu học mà không nói đến trong phân môn Tập đọc nói chung và Tập đọc lớp 5 nói riêng

Năm 2010, trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương

(theo loại thể )”, tác giả Nguyễn Viết Chữ có đề cập tới vấn đề: “Lý thuyết câu hỏi cảm thụ tác phẩm văn chương và sự vận dụng trong dạy học theo loại

Trang 13

thể như một phương tiện thiết yếu” ở phần này tác giả xây dựng cơ sở lý luận

và thực tiễn của vấn đề câu hỏi từ đó đưa ra những yêu cầu có tính nguyên tắc khi xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương và hệ thống câu hỏi cảm thụ để dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường Việt Nam để cuối cùng là vận dụng hệ thống câu hỏi vào việc dạy học thơ trữ tình hiện đại

PGS.TS Lê Phương Nga với nhiều cuốn sách về môn Tiếng Việt nói chung và môn tập đọc nói riêng cũng đưa ra nhiều bài tập rèn cảm thụ văn

học ở những văn bản ngoài ngoài sách giáo khoa như cuốn “Phương pháp dạy

học Tiếng Việt ở Tiểu học” ( Nxb ĐH Quốc Gia Hà Nội, 1999) hoặc cuốn “35

đề ôn luyện Tiếng Việt cuối cấp Tiểu học” (NXb Giáo dục Việt Nam, 2011)

TS Nguyễn Trọng Hoàn với cuốn “Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học

sinh Tiểu học” (NXB Hà Nội, 2002) và cuốn “Rèn kĩ năng Tập đọc cho học sinh lớp 5” (NXB Giáo dục, 2008) đã đưa ra một số phương án rèn kĩ năng

tập đọc cụ thể cho đối tượng học sinh lớp 5 và những gợi ý hướng dẫn về các

từ ngữ cần nhấn giọng, cách thể hiện âm điệu, cách ngắt nhịp, cách khai thác một số từ ngữ hay, hình ảnh lạ, từ đó có giới thiệu cho học sinh một cách diễn đạt cảm xúc đã được viết thành bài

Các vấn đề được nghiên cứu trên sẽ là tiền đề lý thuyết quan trọng, để từ

đó tôi có thể kế thừa trong việc nghiên cứu và thực hiện một cách đầy đủ, trọn

vẹn hơn đề tài “Xây dựng bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh

lớp 5 qua phân môn Tập đọc”

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy cảm thụ văn học qua phân môn Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học, từ đó đề xuất phương hướng và nội dung Xây dựng bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu lí thuyết về cảm thụ văn học, rèn kĩ năng cảm thụ văn học, những yêu cầu đối với cảm thụ văn học qua phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 5

- Tìm hiểu thực trạng dạy cảm thụ văn học qua môn Tập đọc lớp 5 ở các trường Tiểu học

Trang 14

- Trình bày một số bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học qua môn Tập đọc cho học sinh lớp 5

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của

đề tài

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp thống kê – phân loại

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Giả thuyết khoa học

Xây dựng được hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc một cách có hệ thống, thiết thực, khả thi thì

có thể giúp giáo viên vận dụng các bài tập này rèn kĩ năng cảm thụ văn học

cho học sinh, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai trong 3

chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu xây dựng bài

tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc

- Chương 2: Đề xuất hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho

học sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Phần cuối luận văn là danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh lớp 5

1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5

Học sinh lớp 5 đã bước vào tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh, sự phát triển cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành Hành vi và đời sống của các

em đã có những thay đổi đột biến

Nét đặc thù của nhân cách học sinh tuổi này là ý thức mình không còn là trẻ con Vì vậy tuy hành vi vẫn là trẻ con nhưng các em lại muốn tỏ ra mình

đã là người lớn Các em dễ cáu bẩn nếu bị người lớn âu yếm như trẻ con và bướng bỉnh khó bảo nếu không được tôn trọng, không được cư xử bình đẳng Tuổi này vì vậy được gọi là tuổi chuyển tiếp, tuổi “bất trị”

Do sự cân bằng cơ thể của trẻ em bị phá vỡ, sự cân bằng cơ thể người lớn còn chưa vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao L.X.Vưgôtxki

đã viết: “Những giai đoạn khủng hoảng trong đời sống con người, những thời

kì chuyển tiếp và cấu tạo lại cơ thể luôn tràn đầy những phản ứng cảm xúc và đời sống tình cảm”

Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến trẻ em tuổi này có một sự đổi thay đáng kể là: các em đã thay hoạt động sáng tạo yêu thích là vẽ ở giai đoạn trước tuổi đến trường và đầu tiểu học bằng hình thức sáng tạo lời

L.X.Vưgôtxki cho rằng: “Lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần

những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động, logic, sự phức tạp của sự kiện” Vì vậy, hoạt động sáng tạo yêu thích của trẻ

em lứa tuổi này là sáng tạo văn học Điều này có thể thấy rõ qua các bài văn của trẻ em, các bài báo tường của lớp do các em tự biên tập, sáng tác Nếu được hướng dẫn viết văn theo một chương trình đúng, một phương pháp tốt thì học sinh lớp 5 rất thích viết văn, học văn Được viết những xúc động từ trong lòng, được thả sức tưởng tượng, không ít học sinh đã viết được những

Trang 16

bài văn hoàn chỉnh, hấp dẫn như sáng tác văn học trẻ em thực sự

1.1.1.2 Khả năng tri giác, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh lớp 5

Đối với học sinh lớp 5, tư duy trực quan dần được thay thế bởi tư duy trừu tượng Các em không chỉ cảm nhận cảnh vật, con người bằng các giác quan cụ thể mà còn kết hợp với sự tưởng tượng phong phú, óc sáng tạo, tư duy logic Tuy nhiên, trí tưởng tượng của các em còn rất thơ ngây và vô cùng phong phú, các em đã làm cho những bức tranh miêu tả của mình có nét gần gũi với tư duy cổ tích, tư duy huyền thoại

Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi tập trung làm rõ khả năng tri giác, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh lớp 5 bởi vận dụng các đặc điểm này vào quá trình cảm thụ văn học sẽ giúp các em có được cảm nhận tinh tế, sâu sắc, sáng tạo và sinh động, biểu cảm

Tri giác là sử dụng các giác quan để nhận biết đặc điểm của sự vật Đối với học sinh lớp 5, khả năng tri giác của các em tương đối hoàn thiện Tuy nhiên, các em mới chỉ tập trung sử dụng chủ yếu giác quan thị giác, thính giác

mà chưa sử dụng các giác quan khác như xúc giác, vị giác,…vào quan sát đối tượng miêu tả trong tác phẩm văn học

Khả năng liên tưởng là việc chuyển ý nghĩa từ sự vật này sang sự vật khác dựa trên việc quan sát Giữa hai sự vật đó phải có yếu tố tương đồng hoặc tương phản Với học sinh lớp 5, khả năng này đã bắt đầu trở thành kĩ năng Nhưng khả năng này chưa được học sinh sử dụng nhiều khi cảm thụ văn học Chỉ một số học sinh có khả năng ngôn ngữ tốt, biết diễn đạt bằng ngôn từ mới vận dụng vào viết đoạn văn, viết bài văn cảm thụ tác phẩm văn học Chính vì vậy, khi hướng dẫn học sinh lớp 5 cảm thụ văn học, giáo viên cần chú ý rèn luyện khả năng này để giúp học sinh cảm nhận tác phẩm sâu sắc hơn, giàu hình ảnh hơn

Khả năng tưởng tượng là khả năng tự tạo ra hình ảnh một sự vật dựa vào việc sử dụng những chất liệu đã có trong cuộc sống Đây là khả năng thể hiện

sự sáng tạo, phát triển tự do trí óc của học sinh, là sản phẩm của riêng con người Với lứa tuổi lớp 5, khả năng tưởng tượng còn hạn chế, không phải em học sinh nào cũng có được khả năng này Do đó, giáo viên lớp 5 cũng cần có

hệ thống bài tập nâng cao dần rèn luyện khả năng tưởng tượng để giúp học sinh sử dụng vào việc cảm thụ văn học qua các bài tập đọc

1.1.2 Cảm thụ văn học

Trang 17

1.1.2.1 Khái niệm về cảm thụ văn học

Theo đại từ điển Tiếng Việt thì “cảm thụ là nhận biết một cách tinh tế

bằng cảm tính” Tác giả Mạnh Hưởng cho rằng: Cảm thụ văn học chính là sự

cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ nhất của văn học thể hiện trong tác phẩm hay một bộ phận của tác phẩm [11, tr.5]

Khi đọc câu ca dao:

“Chiều chiều ra đứng bờ sông Trông về quê mẹ mà không có đò”

Khi đọc câu ca dao này, người đọc cảm nhận được nỗi khổ của người con gái lấy chồng xa quê Người phụ nữ ngày xưa có quan niệm “xuất giá tòng phu” (lấy chồng phải theo chồng), “lấy chồng làm ma nhà chồng” nên đã

có biết bao người lấy chồng xa quê phải ngậm ngùi, thấm thía nỗi buồn khi nhớ về quê mẹ, tác giả dân gian đã sử dụng thành công hai từ “ chiều chiều”

để diễn tả nỗi buồn trong tâm hồn người phụ nữ

Cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một bài thơ ta không những hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thực sự gần gũi, "nhập thân" với những gì đã đọc

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng từng nhớ lại thuở ấu thơ và viết như sau: “Dế mèn phiêu lưu kí giúp tôi phát hiện tình bạn như một sức mạnh

kì diệu của tâm hồn, Khi đói sắp chết thì Dế Trũi đã đưa càng cho Dế Mèn

đề nghị bạn ăn thịt mình để mà sống Tôi nhận ra rằng chính Mèn và Trũi là nhân vật trong tâm hồn tôi, đã làm tôi chảy nước mắt”

Cảm thụ văn học còn được gọi là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới ngôn từ - một hệ thống tín hiệu thứ hai của loài người Nói một cách đơn giản, cảm thụ văn học là quá trình tiếp nhận, hiểu, cảm thụ được văn chương, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn chương Đây là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mỹ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo Quá trình cảm thụ văn học mang tính chủ quan vì nó phụ thuộc vào vốn sống, kinh nghiệm, hiểu biết riêng của người cảm thụ văn học

Cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ ) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn , đoạn thơ thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu văn, câu thơ)

Trang 18

Như vậy, cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một bài thơ ta không những hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thật

sự gần gũi, “nhập thân” với những gì đã đọc Để có được năng lực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, cần có sư say mê, hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn; chịu khó tích lũy vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học; nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt phục vụ cho cảm thụ văn học

1.1.2.2 Tiến trình và các cấp độ của cảm thụ văn học

Con đường tiếp cận và tiếp nhận tác phẩm văn là một quá trình bắt đầu

từ những ký hiệu ngôn ngữ, đến lớp âm thanh, nhịp điệu, rồi đến từ vựng, ngữ điệu, đề tài, chủ đề và tư tưởng cảm xúc Chính vì thế, để cảm thụ được tác phẩm người đọc không chỉ dừng lại ở lớp vỏ âm thanh mà còn phải hiểu được nội dung, tư tưởng của tác phẩm cũng như tình cảm của nhà văn qua tác phẩm

đó Vì thế có thể nói tiến trình cảm thụ văn học này đi từ đọc hiểu đến cảm thụ

Cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở mức độ cao nhất, không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác

Để tiếp cận một tác phẩm thì việc đầu tiên của người đọc chính là phải đọc, đọc để nắm được nội dung, để tìm ra những hình ảnh, chi tiết nổi bật nhất, người đọc cần phải đọc nhiều lần mới có thể tưởng tượng ra bức tranh của tác giả muốn gửi đến người đọc, từ đó cảm nhận được nội dung của tác

phẩm, việc đọc tốt sẽ giúp ta hiểu nội dung tác phẩm dễ dàng hơn “Hiểu nội

dung tức là người đọc đã phát hiện ra các thông tin mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm, kể cả việc nhận diện các yếu tố nghệ thuật đã được sử dụng nhằm chuyển tải thông tin tới người đọc một cách ấn tượng” Khi người đọc đã

hiểu được nội dung của tác phẩm để có thể thâm nhập vào tác phẩm, hòa mình vào những cảm xúc của tác giả, người đọc cần huy động vốn sống của

mình để cảm thụ tác phẩm ấy, “Cảm thụ là quá trình người đọc nhập thân

đầy cảm xúc vào tác phẩm, suy tư về một số các câu chữ, hình ảnh, lập luận

và sống cùng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật, nhân vật trữ tình hoặc của tác giả” [4, tr.3]

Ví dụ: Bài tập đọc “Chú ở bên Bác Hồ” của nhà thơ Dương Huy

Trang 19

“Chú Nga đi bộ đội Sao lâu quá là lâu!

Trong khi đọc bài thơ này, những tín hiệu ngôn ngữ, những hình ảnh về

bé Nga xuất hiện trong tâm trí người đọc Hình ảnh bé Nga thắc mắc luôn đặt những câu hỏi khi nhớ mong chú của mình, là sự xúc động nghẹn ngào của bố

mẹ bé Nga khi nhớ đến người em đã hi sinh Tiếp tục đọc lại bài thơ, ta cảm nhận được, hình ảnh những gia đình có hoàn cảnh như gia đình bé Nga, khổ đau khi mất đi một người thân trong thời kì đất nước ta đang còn chiến tranh Muốn nhận ra được hình ảnh buồn đau của những gia đình mất đi người thân, người đọc phải có vốn hiểu biết nhất định, miền Nam trong những năm dưới chính quyền Mĩ Diệm, máy chém lê tận vĩ tuyến mười bảy, các cuộc săn lùng

“cộng sản” nổ ra rầm rộ, rất nhiều bộ đội ta đã hi sinh trong ngày tháng ấy Hồi ức, liên tưởng cho bức tranh nổi lên Tưởng tượng giúp ta nhìn rõ cái cảnh mất đi người thân, sự nhớ mong dai dẳng của đứa cháu nhỏ nhớ thương chú mình, của những người lớn nhớ mong em Từ đó mà ta càng biết ơn những người đã vì Tổ quốc mà hi sinh chính mạng sống của mình để đất nước độc lập

Năng lực cảm thụ văn học ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau do nhiều yếu tố qui định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến

Trang 20

thức, tình cảm và thái độ, sự nhạy cảm khi tiếp xúc với tác phẩm văn học…Ngay cả ở một người, sự cảm thụ văn học về một bài văn, bài thơ trong những thời điểm khác nhau cũng có nhiều biến đổi Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc

Tường đã từng nói: “Riêng bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm thì ở mỗi độ tuổi

của đời người, tôi lại cảm nhận một cái hay riêng của nó, và cho đến bây giờ, tôi cảm thấy rằng tôi vẫn chưa đi thấu tận cùng vẻ đẹp của bài học thuộc lòng thuở nhỏ ấy”

Để đảm bảo yêu cầu của cảm thụ văn học người đọc cũng phải thể nghiệm cùng với các nhân vật, tức là phải nhập thân bằng tưởng tượng vào các nhân vật để hình dung các biểu hiện của chúng, từ đó khái quát đặc điểm, tính cách… Người đọc cũng cần dùng tưởng tượng, trực giác để cảm nhận ý nghĩa biểu cảm của ngôn từ, từ đó chia sẻ, đồng sáng tạo với tác giả

Sở dĩ bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa được đánh giá cao là do tác giả

đã biết chọn lọc từ ngữ khi miêu tả, tạo hình cho cây cối, cảnh vật ở góc sân

và mảnh vườn nhà mình Người đọc biết đánh giá là người mường tượng được các trạng thái ấy qua từ ngữ, hình ảnh Chẳng hạn, trong hình ảnh Bụi tre tần ngần gỡ tóc, từ tần ngần đã diễn tả tài tình dao động chậm chạp của cả búi tre trong mưa dông, thứ dao động lừng khà lừng khừng không giống với các loài cây khác do búi tre gồm nhiều thân cây tre tạo nên, mà Trần Đăng Khoa đã phát hiện ra Khi sử dụng từ tần ngần với dụng ý nhân hóa, tác giả đã khiến cho bụi tre hiện ra như những cô gái đỏm dáng, thong thả chải từng lọn tóc dài của mình Dùng tưởng tượng và trực giác, người cảm nhận sẽ thấm điều đó và, tất nhiên, nếu đọc thành tiếng, sẽ nhấn giọng và đọc thong thả từ tần ngần này

Quá trình cảm thụ văn học chính là việc đảm bảo hiệu quả nhất mối quan

hệ giữa nhà văn - tác phẩm - bạn đọc Đến với tác phẩm văn học, người đọc muốn được hưởng thụ và bồi đắp những tình cảm thẩm mĩ, muốn được mở mang trí tuệ, bồi dưỡng thêm về tư tưởng, đạo đức, lí tưởng, học hỏi kinh nghiệm sống hoặc nhận xét, đánh giá Bằng việc cảm thụ, người đọc đã chuyển hóa văn bản thứ nhất của tác giả thành văn bản thứ hai của mình Bởi

vì, trong khi đọc tác phẩm văn học, người đọc vừa bám vào sự mô tả trong văn bản, vừa liên tưởng tới các hiện tượng ngoài đời, đồng thời cũng dựa vào cảm nghĩ và lí giải của mình, mà hình dung, tưởng tượng ra các con người, sự vật, sự việc được miêu tả Khi mối quan hệ nhà văn - tác -phẩm - bạn đọc được đảm bảo thì người đọc sẽ có được sự đồng cảm với với tác giả, khiến họ

Trang 21

yêu ghét những gì mà chính tác giả yêu ghét Trên cơ sở của sự đồng cảm, nếu người đọc tiếp tục suy ngẫm, kết hợp với chân lí của tác phẩm, liên hệ với thực tế, với bản thân, sẽ đến được với những nhận thức mới Chẳng hạn khi đọc bài ca dao cổ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Người đọc rung động trước vẻ đẹp thanh khiết của sen, đồng thời khi nghiền ngẫm kĩ ý nghĩa của câu cuối, sẽ nhận thức được một bài học triết lí: cây cỏ còn biết vươn lên khỏi bùn lầy, nở hoa thơm ngát, trắng trong, huống chi con người, sống trên cõi đời phức tạp này, nếu biết ý thức về phẩm giá, thì

có thể bảo toàn khí tiết và nhân cách của mình trong mọi hoàn cảnh, không để

“gần mực thì đen”

Sau khi đã hiểu thấu đáo nội dung một tác phẩm văn học hay, học sinh cần phát hiện tiếp các tín hiệu thẩm mĩ của văn bản nhằm tiếp cận tác phẩm ở một mức độ cao hơn, tạo mối giao tiếp gần gũi hơn với tác giả Các tín hiệu

đó có thể rất nhỏ bé, nhưng có sức gợi tưởng tượng và liên tưởng sâu xa, đem lại những rung cảm thực sự cho người đọc, cùng người khác có thể chia sẻ, thưởng thức

1.1.3 Một số yêu cầu rèn luyện về cảm thụ văn học ở tiểu học

Muốn trở thành một học sinh có năng lực cảm thụ văn học tốt, mỗi học sinh cần phải tự giác phấn đấu và rèn luyện về nhiều mặt, trong đó có các mặt sau:

1.1.3.1 Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn

Ngay từ khi còn nhỏ, hầu hết các em đều thích nghe ông bà cha mẹ hoặc người thân kể chuyện, đọc thơ Bước chân tới trường tiểu học, được tiếp xúc với những câu thơ, bài văn hay trong sách giáo khoa Tiếng Việt, nhiều em muốn đọc to lên một cách thích thú Đó chính là những biểu hiện ban đầu của hứng thú, cần gìn giữ và nuôi dưỡng để nó phát triển liên tục, mạnh mẽ đến mức say mê Một học sinh chưa thích văn học, thiếu sự say mê cần thiết, nhất định chưa thể đọc lưu loát và diễn cảm bài văn hay, chưa thể xúc động thực

sự với những gì đẹp đẽ được tác giả diễn tả qua bài văn ấy Giáo sư Lê Trí

Trang 22

Viễn đã nhận xét: “Trong thơ văn hay, chữ nghĩa ngoài cái gọi là nội dung

giao tế thông thường của nó, còn có vốn sống của cuộc đời nghìn năm bồi đắp lại Nếu không làm thân với văn thơ thì không nghe được tiếng lòng chân thật của nó” Muốn “làm thân” với văn thơ, chính ta cũng phải có tấm lòng

chân thật, có tình cảm thiết tha, yêu quí văn thơ

Có hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, các em sẽ vượt qua được khó khăn, trở ngại, cố gắng luyện tập để cảm thụ văn học tốt và học giỏi môn Tiếng Việt Tập đọc diễn cảm một bài thơ, đoạn văn, chăm chú quan sát, lắng nghe để tìm hiểu cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống quanh ta, tập dùng từ ngữ cho đúng và hay, nói và viết thành câu cho rõ ý, sinh động và gợi cảm… tất cả đều giúp các em phát triển năng lực cảm thụ văn học

Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn cũng chính là tự rèn luyện mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn học một cách tự giác, say mê – yếu tố quan trọng của cảm thụ văn học

1.1.3.2 Tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học

Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức có ảnh hưởng bởi vốn sống của mỗi người Cái “vốn” ấy trước hết được tích lũy bằng những hiểu biết và cảm xúc của bản thân qua sự hoạt động và quan sát hàng ngày trong cuộc sống

Có những cảnh vật, con người, sự việc diễn ra quanh ta tưởng chừng như rất quen thuộc, nhưng nếu ta không chú ý quan sát, nhận xét để có cảm xúc và ghi nhớ (hoặc ghi chép lại) thì thì chúng ta không thể làm giàu thêm vốn hiểu biết về cuộc sống của ta Chính vì vậy, tập quan sát thường xuyên, quan sát bằng nhiều giác quan (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi…) là một thói quen rất cần thiết cho người học sinh giỏi

Tô Hoài đã nêu lên kinh nghiệm quan sát để phục vụ cho việc tích lũy

“vốn sống” như sau:

“Quan sát giỏi là phải tìm ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được

những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề Nhiều khi không cần dàn đủ sự việc, chỉ cần chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhất như: một câu nói lột

tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên và khi thấy bật lên được thì thích thú, hào hứng, không ghi không chịu được”

Quan sát nhiều, quan sát kĩ chẳng những giúp các em viết được những

Trang 23

bài văn hay mà còn tạo điều kiện cho các em cảm nhận được vẻ đẹp của thơ văn một cách tinh tế và sâu sắc

Bên cạnh vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, các em còn cần tích lũy cả vốn hiểu biết về văn hóa thông qua việc đọc sách thường xuyên Mỗi cuốn sách có biết bao điều bổ ích và lí thú Nó giúp ta mở rộng tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ, cảm xúc, góp phần khơi dậy năng lực cảm thụ văn học ở mỗi chúng ta Việc chọn sách đọc là rất quan trọng Các em phải chọn những cuốn sách phù hợp với lứa tuổi, có ích cho việc học tập và rèn luyện Khi đọc sách, cần tập trung tư tưởng cao, luôn suy nghĩ về những điều đáng đọc để thấy cái hay cái đẹp của tác phẩm (cả về nội dung và nghệ thuật) Đọc sách đến mức say mê cũng có nghĩa là “sống” cùng với nhân vật, biết vui - buồn - sướng - khổ hay yêu - ghét…, đồng thời cảm nhận được những hình ảnh đẹp, những câu văn hay, những chi tiết xúc động…

Chăm đọc sách, đọc sách có phương pháp tốt sẽ giúp mỗi người tự học được nhiều điều thú vị từ đó mà lớn lên về cả trí tuệ lẫn tâm hồn Càng hiểu biết sâu sắc về thực tế cuộc sống và văn học, trí tưởng tượng và cảm xúc của mỗi người càng thêm phong phú, chân thực Đó chính là điệu kiện quan trọng

để cảm thụ văn học tốt Bên cạnh vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, các em còn cần tích lũy cả vốn hiểu biết về văn học thông qua việc đọc sách thường xuyên Mỗi cuốn sách có biết bao điều bổ ích và lí thú Nó giúp ta mở rộng tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ và cảm xúc, góp phần khơi dậy năng lực cảm thụ văn học ở mỗi chúng ta

Giáo viên cần xây dựng cho học sinh hứng thú và thói quen đọc sách Đọc sách, các em không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp khơi dậy năng lực hành động, bồi

dưỡng tâm hồn Người xưa nói: “Trong bụng không có 3 vạn quyển sách,

trong mắt chưa có núi sông kì lạ của thiên hạ thì chưa học được văn”

1.1.3.3 Nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt

Để trau dồi năng lực cảm thụ văn học ở tiểu học, các em cần nắm vững những kiến thức cơ bản đã học trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học

Có hiểu biết về ngữ âm, chữ viết tiếng Việt cũng như kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt, các em sẽ không chỉ nói – viết tốt mà còn có thể cảm nhận được nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động và sáng tạo

Trang 24

Ngoài những kiến thức về ngữ âm, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, qua các giờ tập đọc, kể chuyện, tập làm văn ở tiểu học, các em còn được làm quen và cảm nhận về một số khái niệm như: hình ảnh (là toàn bộ đường nét, màu sắc hay đặc điểm của người, vật, cảnh bên ngoài được ghi lại trong tác phẩm, nhờ

đó ta có thể tưởng tượng ra được người, vật, cảnh đó); chi tiết (là điểm nhỏ, ý nhỏ, khía cạnh nhỏ trong nội dung sự việc hay câu chuyện); bố cục (là sự xếp đặt, trình bày các phần để tạo nên một nội dung hoàn chỉnh)…

Một số biện pháp nghệ thuật tu từ cũng làm nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh: so sánh (là đối chiếu hai sự vật, hiện tượng có cùng một dấu hiệu chung nào đó với nhau, nhằm làm cho việc diễn tả được sinh động, gợi cảm); nhân hóa (là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những đặc điểm mang tính cách người, làm cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn); điệp ngữ (là sự nhắc đi nhắc lại một từ ngữ, nhằm nhấn mạnh một ý nào

đó, làm cho nó nổi bật và hấp dẫn người đọc); đảo ngữ (là sự thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường của câu, nhằm nhấn mạnh và làm nổi bật ý cần diễn đạt); chuyển đổi cảm giác (là dùng ấn tượng của giác quan này để miêu tả ấn tượng của giác quan khác, tạo nên những ấn tượng tổng hợp nhiều mặt về một đối tượng nào đó, gây ấn tượng mạnh khi miêu tả)…

1.1.3.4 Rèn kĩ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học

Rèn luyện để nâng cao năng lực cảm thụ văn học là một trong những nhiệm vụ cần thiết đối với mỗi học sinh tiểu học Có năng lực cảm thụ văn học tốt, các em sẽ cảm nhận được những nét đẹp của văn thơ, được phong phú thêm về tâm hồn, nói - viết tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động Chính vì vậy, để đánh giá kết quả học tập của học sinh giỏi môn Tiếng Việt ở tiểu học, ngoài những bài tập về từ ngữ, ngữ pháp, làm văn, đề thi còn có một bài tập viết đoạn văn cảm thụ văn học Tuy nhiên yêu cầu của loại bài tập này chỉ ở mức độ đơn giản, phù hợp với khả năng của học sinh tiểu học

Đoạn văn có nội dung cảm thụ văn học ở tiểu học cần được diễn đạt một cách hồn nhiên, trong sáng và bộc lộ cảm xúc; cần tránh mắc các lỗi về chính

tả, dùng từ, đặt câu, tránh diễn giải dài dòng về nội dung đoạn thơ (hay đoạn văn) hay sa vào “phân tích” quá kĩ bằng giọng văn không phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi

Nắm vững yêu cầu về cảm thụ văn học ở tiểu học, kiên trì rèn luyện từng bước (từ dễ đến khó) sẽ viết được những đoạn văn hay về cảm thụ văn học, sẽ

Trang 25

có được năng lực cảm thụ văn học tốt để phát hiện bao điều đáng quý trong văn học và trong cuộc sống của chúng ta

1.1.4 Kĩ năng cảm thụ văn học và năng lực cảm thụ văn học

Theo Gs Phan Trọng Luận thì “Cảm thụ văn học là hoạt động tự giác, là

sự vận động nhiều năng lực chủ quan của con người Đọc sách là liên tưởng,

là hồi ức, là tưởng tượng,…Sức hoạt động của liên tưởng, tưởng tượng, hồi

ức càng mạnh bao nhiêu thì sức cảm thụ càng sâu sắc nhạy bén bấy nhiêu.” Theo GS Nguyễn Thanh Hùng thì năng lực có được là nhờ sự lao động thường xuyên, lâu dài, cần mẫn và đầy hứng thú

Như vậy: Năng lực cảm thụ văn học là kết quả của sự học tập bồi dưỡng lâu dài về nhiều mặt như chính trị, tư tưởng, tình cảm, vốn sống, thói quen đọc sách, thị hiếu nghệ thuật, năng lực tưởng tượng, liên tưởng và những kĩ năng cảm thụ văn học

Vậy, kĩ năng cảm thụ văn học là một phần trong năng lực cảm thụ văn học Kĩ năng cảm thụ văn học là công cụ có thể trang bị được như cách phát hiện hình ảnh nghệ thuật,… Nhờ có sự rèn luyện kĩ năng Cảm thụ văn học thì mới có thể nâng cao dần năng lực cảm thụ văn học

* Phân biệt kĩ năng cảm thụ văn học và kĩ năng đọc hiểu

- Kĩ năng đọc hiểu là các cách để đọc và hiểu nội dung văn bản

- Kĩ năng cảm thụ văn học là các cách để cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học

Như vậy, cảm thụ văn học là giai đoạn cuối của quá trình đọc hiểu, đó chính là hiểu sáng tạo, vì qua đó, học sinh không chỉ hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thực sự gần gũi, nhập thân với những gì đã học

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Phân môn Tập đọc lớp 5

1.2.1.1 Vị trí của phân môn

Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Đọc không chỉ là công việc giải quyết một

bộ mã gồm hai phần chữ viết và âm thanh, nghĩa là nó không phải chỉ là sự

“đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết, mà đọc còn là quá trình nhận thức để có khả năng hiểu được những gì đã đọc được Tập đọc

Trang 26

là cách học văn bản từ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm Tập đọc chính là việc giáo viên hướng dẫn HS hoàn thành bốn phẩm chất trên

Tập đọc là một phân môn có vị trí quan trọng trong chương trình Giáo dục Tiểu học Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau đó phải đọc để học Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập, nó cũng là công cụ để học các môn học khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ trong học tập Đồng thời nó tạo điều kiện để HS có khả năng tự học và tinh thần học Đọc là khả năng không thể thiếu của con người Trong thời đại văn minh, biết đọc sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết tư duy

Như vậy, việc dạy đọc và đọc có một ý nghĩa vô cùng to lớn vì nó bao

gồm nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển

1.2.1.2 Cấu trúc của phân môn Tập đọc trong SGK lớp 5

Phân môn Tập đọc lớp 5 gồm 66 tiết/năm, mỗi tuần có 2 tiết, 40 bài văn xuôi thuộc loại hình nghệ thuật, báo chí, khoa học, 2 vở kịch (trích), 18 bài thơ

Các bài tập đọc bao gồm các chủ điểm “Việt Nam – Tổ quốc em”, “Cánh chim hòa bình”, “Con người với thiên nhiên”, “Giữ lấy màu xanh”, “Vì hạnh phúc con người”, “Người công dân”, “Vì cuộc sống thanh bình”, “Nhớ nguồn”, “Nam và nữ”, “Những chủ nhân tương lai” Bài tập đọc lớp 5 nhằm mục đích:

- Tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc cho HS: đọc trơn, đọc thầm với tốc độ nhanh hơn, nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm Ở lớp 5, học sinh được rèn kĩ năng đọc hiểu ở mức: Nhận biết được đề tài hoặc chủ đề đơn giản của bài; nắm được dàn ý của bài, biết tóm tắt đoạn, bài; hiểu được ý nghĩa của bài; biết phát hiện và bước đầu nhận định về giá trị của một số nhân vật, hình ảnh trong các bài đọc có giá trị văn chương, làm quen thao tác đọc lướt để nắm rõ ý hoặc chọn ý Xây dựng cho HS thói quen tìm đọc sách ở thư viện, dung sách công cụ (từ điển,…) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc

- Mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho HS: Các bài học phản ánh vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất của con người, đề cập đến các vấn đề về trẻ em và quyền trẻ em, bảo vệ môi trường, giáo giục dân số, giới tính, ca ngợi tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc,…

Trang 27

Hệ thống chủ điểm của các bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 5 vừa mang tính khái quát cao vừa có tính hình tượng, góp phần cung cấp cho HS những hiểu biết về thiên nhiên, xá hội, con người trong nước và thế giới

- Qua các bài tập đọc, HS còn được cung cấp về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về các tác phẩm văn học (đề tài, cốt truyện, nhân vật,…),

từ đó nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ tiếng Việt nói riêng

- Các bài tập đọc gồm các phần: văn bản đọc, chú giải những từ ngữ khó, hướng dẫn đọc (chỉ dẫn cách đọc một số câu khó, đoạn khó, cách ngắt nhịp, nhấn giọng hoặc gợi ra những đặc điểm về nội dung, những sắc thái tình cảm được biểu hiện qua giọng đọc) Phần tìm hiểu bài gồm những câu hỏi, bài tập giúp HS hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài văn, bài thơ, ở nhiều bài có thêm yêu cầu học thuộc lòng từng đoạn, cả bài

1.2.1.3 Yêu cầu cần đạt của phân môn Tập đọc lớp 5

Phân môn Tập đọc rèn cho HS các kĩ năng đọc, nghe và nói Mục tiêu đó

đã được cụ thể hóa thành những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng đối với HS như sau:

- Nghe và nắm được đại ý, đề tài của các tác phẩm (hoặc trích đoạn) văn xuôi, thơ, kịch; bước đầu biết nhận xét về nhân vật và những chi tiết có giá trị nghệ thuật trong tác phẩm; nhớ và kể lại được nội dung tác phẩm

- Ghi được ý chính của bài đã nghe

Nói:

- Nói trong hội thoại:

+ Biết dùng lời nói phù hợp với quy tắc giao tiếp trong gia đình, trong nhà trường và ở nơi công cộng

+ Biết giải thích rõ thêm vấn đề đang trao đổi; tán thành hay bác bỏ một

ý kiến

Trang 28

- Nói thành bài:

+ Biết phát triển một chủ đề trước lớp

+ Biết cách giới thiệu về lịch sử văn hóa, về các nhân vật tiêu biểu,… của địa phương với khách

+ Thuật lại được câu chuyện đã đọc hoặc một sự kiện đã biết; bước đầu

có kĩ năng thay đổi ngôi kể

+ Biết đọc diễn cảm một bài thơ đã thuộc hoặc một đoạn văn đã học + Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 4

- Đọc hiểu:

+ Biết tìm đại ý, tóm tắt bài văn, chia đoạn, rút ra dàn ý của bài

+ Nhận ra các mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện trong bài

+ Bước đầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong các bài tập đọc có giá trị văn chương

+ Hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ, bảng hiệu…

- Kĩ năng phụ trợ:

+ Biết sử dụng từ điển

+ Biết ghi chép các thông tin đã đọc

+ Thuộc lòng một số bài văn vần và đoạn văn xuôi

1.2.2 Mục đích của việc rèn kỹ năng cảm thụ văn học thông qua phân môn Tập đọc lớp 5

- Các em sẽ hiểu và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của các bài văn, bài thơ và có được những rung động, những ấn tượng, những cảm xúc mạnh mẽ

Trang 29

khi tiếp xúc với tác phẩm văn học trong phân môn Tập đọc

- Các em sẽ được làm quen với một số nhà văn, nhà thơ cùng với những tác phẩm viết cho thiếu nhi trong môn Tập đọc, từ đó giúp các em tăng thêm vốn hiểu biết và dễ dàng tiếp cận với tác phẩm

- Phân môn Tập đọc góp phần bồi dưỡng tâm hồn các em thêm phong phú, nhạy cảm Chỉ có những tình cảm hồn nhiên, trong sáng mới tạo ra được những cảm xúc đáng yêu, đẹp đẽ

- Qua việc cảm thụ tác phẩm, các em biết lựa chọn hình ảnh, chi tiết đặc sắc, biết cách dùng từ đặt câu để có được những bài văn hay, sinh động

- Cảm thụ văn học ở đây được hiểu là một yêu cầu được đặt ra với những văn bản nghệ thuật hoặc các văn bản có các yếu tố ngôn ngữ văn chương

1.2.3 Nhận xét về các tác phẩm nghệ thuật trong phân môn Tập đọc 5

a Thống kê các văn bản nghệ thuật trong phân môn Tập đọc 5

8 Bài ca về trái

Trang 30

5 9 Một chuyên gia

Sự sụp đổ của chế độ a-pac-thai

Những mẫu chuyện LSTG

12

Tác phẩm của si-le và tên phát xít

9 17 Cái gì quý nhất Trịnh Mạnh Truyện

18 Đất Cà Mau Mai Văn Tạo Văn xuôi 13

22 Hành trình của bầy ong

Trang 31

24 Trồng rừng ngập mặn

Phan Nguyên Hồng

Trang 32

Trương Hữu Quýnh – Trung Lưu

38 Tiếng rao đêm Nguyễn Lê

23 41 Phân xử tài tình Nguyễn Đổng

48 Hội thổi cơm thi

ở Đồng Vân Minh Phương Văn xuôi

27 49 Tranh làng Hồ Nguyễn Tuân Văn xuôi 39

Nam

và nữ

Trang 33

b Xác định các yếu tố nghệ thuật trong các bài Tập đọc thuộc văn bản nghệ thuật

- Tình yêu quê hương tha thiết của tác giả

- Những hình ảnh đối lập ở khổ cuối, tác giả đã gửi đến chúng ta một thông điệp: hãy xua tan chiến tranh để hành tinh này luôn vang mãi tiếng cười

6 Một chuyên

gia máy xúc

- Dáng vẻ thân mật, giản dị của A-Lếch-xây đã để lại

ấn tượng sâu đậm trong tâm trí tác giả

- Cái bắt tay của hai đồng nghiệp thể hiện sự hợp tác với bạn bè các nước

Trang 34

11 Kì diệu rừng

xanh

- Nghệ thuật sử dụng phép liên tưởng so sánh để miêu tả vẻ đẹp của thành phố nấm

- Cách dùng từ miêu tả rừng hợp với các sắc vàng độc đáo

12 Trước cổng

trời

- Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và của cuộc sống lao động của người dân vùng cao

13 Đất Cà Mau - Mối liên hệ giữa thời tiết, cây cối và con người của

vùng đất mũi tận cùng của Tổ Quốc

- Ý nghĩa của câu “Đất lành chim đậu”

Trang 35

sắc trong tâm trí tác giả

16 Mùa thảo quả

- Nghệ thuật sử dụng từ ngữ miêu tả hương thơm

- Sự pháy triển rất nhanh của cây thảo quả

- Nghệ thuật dùng từ ngữ gợi tả kết hợp với biện pháp so sánh đọc đáo đã toát lên được vẻ đẹp của rừng thảo quả khi thảo quả chín

17 Hành trình

của bầy ong

- Hành trình vô tận của bầy ong và công việc thầm lặng của chúng

- Phẩm chất quý báu của bầy ong và tác dụng to lớn của bầy ong với con người

18 Người gác

rừng tí hon

- Sự thông minh, lòng dũng cảm của bạn nhỏ trong việc phối hợp cùng các chú công an bắt được bọn trộm gỗ

- Ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ tài sản quốc gia của các bạn nhỏ

20 Hạt gạo làng

ta

- Biện pháp lặp từ “có” ở khổ thơ đầu đã cho thấy giá trị của hạt gạo Đó là hương vị của quê hương, của bao công sức lao động của bao người nông dân

- Sử dụng hình ảnh đối lập cua lên bờ >< mẹ xuống cấy để thấy tình cảm mà nhà thơ dành cho người

vẻ đẹp của ngôi nhà đang xây Bên cạnh đó, biện

Trang 36

pháp nhân hóa đã làm cho hình ảnh của ngôi nhà trở lên sống động và gần gũi

22 Thầy thuốc

như mẹ hiền

- Hai việc cứu chữa người bệnh đã diễn ra trong hoàn cảnh khác nhau, kết quả không như nhau nhưng cho thấy lương tâm, trách nhiệm và tấm lòng nhân ái của người thấy thuốc

24,25 Người công

dân số 1

- Câu chuyện cho thấy lòng yêu nước thương dân đã thể hiện trong suy nghĩ và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành

26 Thái sư Trần

Thủ Độ

- Sự nghiêm mình, chính trực của thái sư Trần Thủ

Độ trong việc giữ nghiêm kỉ cương – phép nước

29 Lập làng giữ

biển

- Cuộc trò chuyện của ông và bố Nhụ về kế hoạch lập một làng chài mới đã thể hiện khát vọng, ý chí, nghị lực của con người trong công việc chinh phục thiên nhiên để có một cuộc sống thanh bình

30 Cao Bằng

- Bằng cách sử dụng điệp từ “vượt” và liệt kê tên các đèo, tác giả đã miêu tả địa thế của Cao Bằng một tỉnh địa đầu vùng đồi núi phía Bắc ; bằng biện pháp

Trang 37

so sánh, tác giả đã nói lên sự nồng hậu, mến khách

và long yêu nước của người dân Cao Bằng

31 Phân xử tài

tình

- Câu chuyện thể hiện được cái tài của quan xử kiện

và ý nghĩa của hai vụ án được rút ra là: chỉ có những người nào chăm chỉ lao động thì mới thực sự biết quý trọng của cải do mình làm ra và những người làm điều ác, trái với lương tâm thì phải luôn sống trong tâm trạng hồi hộp, lo lắng

32 Chú đi tuần

- Biện pháp nhân hóa và sử dụng hình ảnh đối lập, tác giả đã cho thấy hình ảnh vất vả của các anh chiến sĩ ngày đêm canh giữ cuộc sống bình yên cho nhân dân – Tình cảm yêu thương và niêm tin của các anh với các em học sinh nhỏ Miền Nam

33 Hộp thư mật - Công việc hoạt động bí mật của các chiến sĩ cách

mạng đối với ựu nghiệp bảo vệ tổ quốc

34 Cửa sông

- Bằng cách sử dụng biện pháp đảo ngữ và cách chơi chữ độc đáo, tác giả đã giới thiệu cửa sông – một vùng sóng nước mênh mông rộng lớn; bằng biện pháp lặp từ và nhân hóa, tác giả đã mô tả địa điểm cửa sông, nơi đã gắn bó với cuộc sống con người từ bao đời nay Đặc biệt ở khổ cuối, tác giả đã gửi gắm tình cả của mình với quê hương, với nguồn cội

35 Nghĩa thầy

trò

- Tình cảm của thầy giáo Chu Văn An với người thầy

cũ đã cho thấytinh thần tôn sư trọng đạo – một truyền thống lâu đời và đáng quý của dân tộc ta

Trang 38

định một cách mạnh mẽ chủ quyền của dân tộc và thể hiện được niềm hân hoan vui sướng của tác giả khi cách mạng thắng lợi

38 Một vụ đắm

tàu

- Tình bạn cao đẹp giữa Ma-ri-ô và Giu-li-ét-ta

- Quyết định nhường bạn xuống xuồng cứu nạn đã cho thấy hành động cao quý đầy tình người của Ma-ri-ô

- Hình ảnh ở đoạn cuối câu chuyện đã thực sự gây xúc động cho tất cả mọi người

- Niềm tự hào của bố mẹ khi Mơ là một cô bé can đảm, dũng cảm câu chuyện đã cho thấy quan niệm hoàn toàn sai lầm khi phân biệt giữa con trai và con gái

- Tâm trạng nhớ thương mẹ da diết của anh chiến sĩ

- Hình ảnh mẹ hiện ra trong tâm trí của anh chiến sĩ

có ý nghĩa vô cùng đẹp đẽ và sâu sắc bằng cách dùng từ so sánh tác giả đã thể hiện tình cảm mẹ con thắm thiết sâu nặng

- Với cách nói “chưa bằng”, anh chiến sĩ đã ca ngợi

sự hi sinh vất vả của người mẹ

Trang 39

con lên bảy

- Bài thơ ca ngợi thế giới hồn nhiên trong sáng của tuổi thơ

- Khi được đến trường, thế giới tuổi thơ với những suy nghĩ ngây ngô sẽ hoàn toàn thay đổi Lớn lên, con người cần phải cố gắng đi tìm hạnh phúc cho bản thân

trên đường

- Rê-mi là cậu bé có tâm hồn và tinh thần hiếu học,

dù hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn nhưung Rê-mi vẫn cố gắng học tập

47

Nếu trái đất

thiếu trẻ con

- Niềm vui của chú Pô-pốp khi xem những bức tranh các bạn nhỏ vẽ mình

- Qua các nội dung các bức tranh, các bạn nhỏ đã thể hiện ước muốn về một thế giới hòa bình, tràn đầy tình bạn bè và muốn chinh phục vũ trụ bao la

- Trẻ con là sự sống của con người, của cuộc sống chúng ta

c Nhận xét về các bài tập trong các văn bản nghệ thuật Tập đọc lớp 5

Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ hình thành năng lực đọc cho học sinh, giúp các em có kĩ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản, giáo dục các em lòng ham đọc sách, giúp các em làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học, bồi dưỡng các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các em cách suy nghĩ logic và tư duy hình ảnh Các mục đích và nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện thông qua hệ thống các bài tập

Trang 40

(và câu hỏi) tương ứng

Trình bày hệ thống bài tập dạy đọc hiểu với một sự phân loại chặt chẽ, logic là một việc làm khó Khi xem xét các tiêu chí phân loại bài tập, xem xét các bình diện yếu tố của văn bản, kĩ năng đọc hiểu với các kĩ năng khác

Có nhiều cách phân loại hệ thống bài tập:

- Phân loại theo các bước trên lớp: bài tập kiểm tra bài cũ, bài luyện tập, bài tập kiểm tra đánh giá

- Phân loại theo hình thức thực hiện: trả lời miệng, bài tập trả lời viết (tự luận), bài tập, thực hành đọc, bài tập trắc nghiệm

- Phân loại theo mức độ tính độc lập của học sinh: bài tập tái hiện, bài tập suy luận, bài tập sáng tạo

- Phân loại theo đối tượng thực hiện bài tập: bài tập dùng chung, bài tập theo nhóm, bài tập cho cá nhân

Hệ thống bài tập Tập đọc lớp 5 có thể được phân loại, miêu tả theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, để phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng bài tập, tôi căn cứ theo mục đích, nội dung dạy học, các công việc cần làm phân loại các bài tập thành các kiểu như sau:

+ Nhóm bài tập có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ văn bản

Nhóm bài tập này chưa yêu cầu cao tính làm việc độc lập của học sinh Các em chỉ cần nhận diện, ghi nhớ, phát hiện ra các từ ngữ, câu, đoạn, chi tiết của văn bản

Bài tập có tính chất tái hiện được sử dụng nhằm mục đích làm cầu dẫn

để đi đến giải quyết các vấn đề có tính chất phát hiện và sáng tạo Nhóm bài tập này được dùng khi học sinh tham gia quá trình đọc giải mã, nhận diện các đơn vị ngôn ngữ, tái hiện hình tượng, nhận diện nhân vật (qua ngôn ngữ và cử chỉ của nhân vật), nắm bắt tình tiết và hình dung bức tranh miêu tả trong văn bản nghệ thuật Tuy nhiên, loại bài tập này nên sử dụng ở mức độ nhất định

và được dùng đan xen với các loại bài tập khác

+ Nhóm bài tập làm rõ nghĩa ngôn ngữ của văn bản

Nếu như bài tập tái hiện, nhận diện là giai đoạn tiếp xúc ban đầu đối với văn bản nghệ thuật thì nhóm bài tập này yêu cầu nỗ lực của người đọc ở mức

độ cao hơn, yêu cầu giải nghĩa từ, làm rõ nghĩa và cái hay của từ, câu, đoạn,

Ngày đăng: 07/09/2015, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Hoàng Hòa Bình (1997), Dạy văn cho học sinh Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho học sinh Tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
[2].Trần Hòa Bình, Lê Hữu Tỉnh (2003), Những đoạn văn hay của học sinh Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đoạn văn hay của học sinh Tiểu học
Tác giả: Trần Hòa Bình, Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[3]. Phạm Thị Thu Hà (2009), Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 5 (tập 1,2) , NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 5
Tác giả: Phạm Thị Thu Hà
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
[4]. Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh (2007), Cảm thụ Văn Tiểu học 4,5, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm thụ Văn Tiểu học 4,5
Tác giả: Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
[5]. Nguyễn Trọng Hoàn (2001), Rèn luyện tƣ duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tƣ duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[6]. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh Tiểu học, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2002
[7]. Nguyễn Trọng Hoàn (chủ biên), Nguyễn Thị Thu Hương (2008), Rèn kĩ năng Tập đọc cho học sinh lớp 5, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng Tập đọc cho học sinh lớp 5
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[8]. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn và dạy văn, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn và dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
[9]. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
[10]. Nguyễn Thanh Hùng (1994), Văn học và nhân cách, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và nhân cách
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1994
[12]. Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Phan Phương Dung, Nguyễn Duy Hà, Nguyễn Thị Ly Kha (2012), Bài soạn Tiếng Việt 5 (tập 1), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài soạn Tiếng Việt 5 (tập 1
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Phan Phương Dung, Nguyễn Duy Hà, Nguyễn Thị Ly Kha
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
[13]. Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Phan Phương Dung, Nguyễn Duy Hà, Nguyễn Thị Ly Kha (2012), Bài soạn Tiếng Việt 5 (tập 2), Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài soạn Tiếng Việt 5 (tập 2)
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Phan Phương Dung, Nguyễn Duy Hà, Nguyễn Thị Ly Kha
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
[14]. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb ĐH Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
[15]. Lê Phương Nga (2011), 35 đề ôn luyện Tiếng Việt cuối cấp Tiểu học, NXb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 đề ôn luyện Tiếng Việt cuối cấp Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
[16]. Lê Phương Nga, Dương Trần Bình, Ông Thị Vỹ Hiệp (2014), Ôn luyện thi vào 6 môn Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn luyện thi vào 6 môn Tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga, Dương Trần Bình, Ông Thị Vỹ Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
[17]. Phan Trọng Luận (2006), Văn học giáo dục thế kỉ XXI, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học giáo dục thế kỉ XXI
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2006
[18]. Z.I.A Rez (1983), Phương pháp luận dạy học văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận dạy học văn
Tác giả: Z.I.A Rez
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
[19]. Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam (1987), Lý luận văn học (tập 1, 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học (tập 1, 2)
Tác giả: Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
[20]. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Hoàng Hòa Bình, Trần Mạnh Hưởng, Trần Thị Hiền Lương, Nguyễn Trí (2006), Tiếng Việt 5 (tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 5 (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Hoàng Hòa Bình, Trần Mạnh Hưởng, Trần Thị Hiền Lương, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[21]. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Hoàng Hòa Bình, Trần Mạnh Hưởng, Trần Thị Hiền Lương, Nguyễn Trí, (2006), Tiếng Việt 5 (tập 2), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 5 (tập 2)
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Hoàng Hòa Bình, Trần Mạnh Hưởng, Trần Thị Hiền Lương, Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng nhóm - Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc (LV01269)
Bảng nh óm (Trang 100)
Hình ảnh - Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc (LV01269)
nh ảnh (Trang 101)
Hình ảnh  cái Trình - Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc (LV01269)
nh ảnh cái Trình (Trang 105)
Hình ảnh  Trành - Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc (LV01269)
nh ảnh Trành (Trang 106)
Bảng  nhãm - Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua phân môn tập đọc (LV01269)
ng nhãm (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w