LỜI CAM ĐOAN Đề tài Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4 được chúng tôi nghiên cứu và hoà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-****** -
LÊ THỊ VÂN ANH
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH TRONG RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO HỌC SINH LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-****** -
LÊ THỊ VÂN ANH
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH TRONG RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO HỌC SINH LỚP 4
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Anh Xuân
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Có được kết quả này, trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Anh Xuân, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, các thầy
cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức chuyên ngành cần thiết và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Tiểu học Trung Tự - Quận Đống Đa và trường Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp
đỡ tôi hoàn thiện công trình nhỏ này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh
lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4 được
chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác cộng với sự cố gắng,
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Bố cục luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Cơ sở lí luận 12
1.1.1 Lí thuyết giao tiếp 12
1.1.2 Lý thuyết về câu hỏi 24
1.1.3 Lý thuyết Tâm lý học 25
1.1.4 Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh và Luyện từ và câu lớp 4 liên quan đến câu hỏi 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Thực trạng dạy học câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 4 hiện nay 29 1.2.2 Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học sinh trong nhà trường 33
Tiểu kết 1 37
Chương 2: VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO HỌC SINH LỚP 4 38
2.1 Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi dùng với mục đích để hỏi cho HS lớp 4 38
2.1.1 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng sử dụng câu hỏi nhằm mục đích để hỏi 38
Trang 62.1.2 Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn mình nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi dùng với mục
đích để hỏi cho HS lớp 4 39
2.2 Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi dùng vào mục đích khác cho HS lớp 4 48
2.2.1 Yêu cầu cần đạt của kĩ năng sử dụng câu hỏi vào mục đích khác 48
2.2.2 Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi dùng vào mục đích khác cho HS lớp 4 48
Tiểu kết 2 57
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58
3.1 Một số vấn đề chung 58
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 58
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 58
3.1.3 Cơ sở và đối tượng thực nghiệm 83
3.1.4 Thời gian và quy trình thực nghiệm 84
3.2 Tiến trình triển khai thực nghiệm 84
3.3 Kết quả thực nghiệm 85
3.3.1 Kết quả định tính (qua điều tra quan sát và phiếu hỏi) 85
3.3.2 Kết quả định lượng (qua các bài kiểm tra) 86
3.3.3 Nhận xét chung 87
Tiểu kết 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 96
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học là việc hết sức cần thiết Tiếng Việt góp phần vào việc hình thành nhân cách con người Tiếng Việt được coi là môn học trung tâm ở trường Tiểu học Việt Nam Môn Tiếng Việt
là công cụ để học sinh học các môn học khác Tiếng Việt được coi là chìa khoá của nhận thức, của học vấn, của sự phát triển đúng đắn Cái đích cuối cùng của việc dạy học Tiếng Việt là học sinh phải sử dụng được tiếng Việt một cách thành thạo trong đời sống hằng ngày Điều này sẽ đạt được hiệu quả cao hơn khi chúng ta dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Chương trình Tiếng Việt khẳng định dạy Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt hiện đại để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động phù hợp lứa tuổi Đây là quan điểm mới phù hợp với xu thế chung của thế giới trong việc dạy tiếng mẹ đẻ cũng như việc dạy ngoại ngữ
1.2 Hội thoại là một trong các nội dung giảng dạy Tiếng Việt theo hướng giao tiếp Việc phát triển kĩ năng hội thoại rất quan trọng vì hội thoại là một dạng hoạt động giao tiếp thường xuyên Nếu có kĩ năng hội thoại tốt thì học sinh sẽ dễ dàng tham gia hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả Như vậy, rèn kĩ năng hội thoại cho học sinh là rèn một kĩ năng học tập và cũng là rèn kĩ năng sống Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, kĩ năng giao tiếp được rèn qua nhiều phân môn nhưng nổi bật hơn cả là phân môn Luyện từ và câu 1.3 Thanh lịch - văn minh là nét đẹp truyền thống đã được bao thế hệ người dân Hà Nội vun đắp và gìn giữ Tuy nhiên, trước những tác động của đời sống kinh tế hiện nay, nhiều nét văn hóa tinh tế của người Hà Nội đang mai một dần Nhằm góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống Thủ đô, giáo dục cho học sinh lòng tự hào về Thăng Long - Hà Nội, chương trình “Giáo dục nếp sống văn minh, thanh lịch cho học sinh Hà Nội”
Trang 9đã được triển khai tại các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm học 2010 - 2011 Với mong muốn xây dựng phong cách học sinh Hà Nội văn minh thanh lịch, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về lối sống, đạo đức cho học sinh Những nội dung của chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh có mối liên hệ chặt chẽ với lí thuyết hội thoại nói chung và việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh (HS) lớp 4 nói riêng
1.4 Câu hỏi là loại câu có tần số sử dụng cao trong giao tiếp - hội thoại, cũng là một nội dung dạy học trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 Việc lồng ghép giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh vào dạy câu hỏi trong chương trình học của (HS) lớp 4 đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong nhận thức cũng như nội dung, phương pháp dạy học Tuy nhiên do hiểu biết
về lí thuyết Ngữ dụng học nói chung và lí thuyết giao tiếp nói riêng của giáo viên (GV) Tiểu học còn hạn chế, kinh nghiệm của GV còn ít ỏi cho nên nhiều
GV còn gặp khó khăn khi muốn dạy hiệu quả dạng bài sử dụng câu hỏi sao cho vừa đúng lý thuyết giao tiếp vừa thanh lịch - văn minh
Trên đây là những lí do cơ bản khiến chúng tôi chọn đề tài: Vận dụng lí
thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh trong rèn
kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề giao tiếp
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Từ xưa đến nay ông cha ta luôn đề cao việc giáo dục lời nói trong giao tiếp: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” Giao tiếp đóng vai trò quan trọng và xuyên suốt trong quá trình học môn Tiếng Việt Mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là hình thành và rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi
Trang 10Trong giao tiếp có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều Trong giao
tiếp một chiều, chỉ có một bên nói còn bên kia tiếp nhận Đó là độc thoại
Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại
Đó là hội thoại Đây là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của
con người Phạm vi nghiên cứu của đề tài là về sử dụng câu hỏi Thông thường khi sử dụng câu hỏi cần phải có sự hiện diện của người nói và người nghe nên đề tài tập trung nghiên cứu kĩ về lý thuyết hội thoại trong giao tiếp Hội thoại là một trong những dạng thức của lời nói, trong đó có sự hiện diện của người nói và người nghe Mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng tới người tiếp chuyện và xung quanh một chủ đề hạn chế của cuộc thoại Trong hội thoại, các phát ngôn có tính riêng biệt, ngắn gọn; có các kết cấu ngữ pháp đơn giản; sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Vì vậy lý thuyết hội thoại là một phần không thể thiếu của Ngữ dụng học Từ năm 1970, hội thoại trở thành đối tượng chính thức của một phân ngành Ngôn ngữ học, ngành phân tích hội thoại Cho đến nay thì Ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bàn đến hội thoại
Trên thế giới, người đầu tiên đề cập đến hội thoại là HP Grice (1975) Trong công trình Logic and Conversation, ông đã nghiên cứu các vấn đề về hội thoại như cộng tác hội thoại, tương tác hội thoại, logic với hội thoại Mặc
dù chưa thật đầy đủ, nhưng những nghiên cứu của ông đã góp phần tạo cơ sở
lí luận cần thiết để trở thành một ngành khoa học mới Một số nhà nghiên cứu như E Schegloff, H Sack (1964), S Sinclaire và M Coulthard (1975)… lại
đi sâu vào vấn đề cấu trúc hội thoại
Lý thuyết hội thoại là lĩnh vực nghiên cứu cuối cùng của ngôn ngữ học quan tâm đến các diễn ngôn trong hoạt động, trong hoàn cảnh giao tiếp Khi
Trang 11nghiên cứu hội thoại phải vận dụng tổng hòa những tri thức về cấu trúc ngôn ngữ, những tri thức ngữ dụng và cả những tri thức xã hội học, tâm lí học, văn hóa học Mặt khác qua nghiên cứu, chúng ta mới có được hiểu biết đầy đủ, toàn diện tất cả những thành tố tạo nên ngôn ngữ và những thành phần nằm trong lĩnh vực Ngữ dụng học vốn từng được xem xét riêng rẽ trước đây Theo
cuốn Đại cương Ngôn ngữ học - tập 2 Ngữ dụng học, tác giả Đỗ Hữu Châu đã
giải thích rằng: “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong sự hành chức của ngôn ngữ”
Trong cuốn Dụng học Việt ngữ, lý thuyết hội thoại đã được tác giả
Nguyễn Thiện Giáp đưa những dẫn chứng sinh động cụ thể bằng sự sáng rõ trong phân tích, mạch lạc trong cách trình bày Đồng thời trong cuốn sách này,
để xác định lý thuyết hội thoại nên đi theo hướng nào để phát hiện và để khai thác các nhân tố văn hóa có thể có, tác giả cũng đã đề cập đến mối liên quan giữa văn hóa và ngôn ngữ Song làm thế nào để vận dụng được lý thuyết hội
thoại vào dạy học môn Tiếng Việt cho HS Tiểu học để các em có thể giao tiếp
một cách có văn hóa, thanh lịch - văn minh thì cuốn sách này chưa bàn đến Ngoài hai công trình đó còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có tính dẫn luận về Ngữ dụng học nói chung và lý thuyết hội thoại nói riêng như:
- Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục
- Đỗ Hữu Châu (2002), Giáo trình giản yếu về Ngữ dụng học, Nhà xuất
bản Giáo dục
- Đỗ Thị Kim Liên (2005), Giáo trình Ngữ dụng học, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội
Các tác giả của các công trình trên đây đã có những đóng góp đáng kể ở việc đưa khái niệm nền tảng của Ngữ dụng học đến với đông đảo bạn đọc Bên cạnh đó, họ cũng đã đề cập đến văn hóa và ngôn ngữ, hình thành cho người đọc một cái nhìn tổng thể để từ đó xác định rõ khi nghiên cứu Ngữ dụng học cần đi theo hướng nào để phát hiện, khai thác các nhân tố văn hóa
Trang 12có thể có Các công trình này đều mang tính ứng dụng cao, có tác dụng thúc đẩy Ngữ dụng học ở Việt Nam phát triển mạnh hơn, cố gắng tiến kịp với Ngữ dụng học thế giới
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Thủ đô
Năm 2010, Thăng Long - Hà Nội tổ chức lễ kỉ niệm tròn 1000 năm tuổi
Đã có rất nhiều công trình lớn được xây dựng để chào mừng Đại lễ kỉ niệm Bên cạnh đó, thực trạng văn hóa giao tiếp, ứng xử, nếp sống văn minh của người Hà Nội cũng được các nhà chức trách, nhà giáo dục và toàn xã hội quan tâm Thực tế tại thời điểm lúc bấy giờ, Hà Nội chưa có chương trình, tài liệu chính thức nào giáo dục Nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Thủ đô nói chung và cho HS Tiểu học nói riêng Vì vậy, thực hiện Chương trình 08-
CT ngày 04/8/2006 của Thành ủy Hà Nội, Kế hoạch số 55/KH-UBND ngày 29/9/2006 của UBND Thành phố Hà Nội về “Phát triển văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, thiết thực kỉ niệm 1000 năm Thăng Long
- Hà Nội”; căn cứ ý kiến chỉ đạo UBND Thành phố tại văn bản số KG&VX ngày 03/6/2009, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Nhà xuất bản
1319/VX-Hà Nội xây dựng Đề án biên soạn Bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh” để đưa vào giảng dạy cho HS các trường phổ thông ở Hà Nội
Đây là tài liệu có tính chất chuyên đề, không phải là sách giáo khoa Bộ tài liệu biên soạn cho từng cấp học bao gồm tài liệu dành cho HS và tài liệu hướng dẫn dạy cho GV Cách biên soạn bộ tài liệu đảm bảo tính đồng tâm, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông và không làm quá tải chương trình Nội dung của bộ tài liệu nhằm giúp học sinh học hỏi, khơi dậy được trong các em niềm tự hào, mong muốn kế thừa, phát huy truyền thống thanh lịch - văn minh, nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội Bộ tài liệu cũng tuyên truyền trách nhiệm của HS Thủ đô trong việc xây dựng nếp sống thanh lịch - văn minh; tạo sự chuyển biến từng bước về nhận thức và hành vi trong
Trang 13sinh hoạt đời sống hằng ngày Từ đó góp phần đào tạo, xây dựng các thế hệ người Hà Nội ngày càng thanh lịch, văn minh hơn
Bên cạnh đó, còn có thể kể ra rất nhiều tài liệu nghiên cứu về nếp sống thanh lịch, văn minh như:
- Nguyễn Viết Chức (Chủ biên) (2001), Nếp sống người Hà Nội, Viện
Văn hóa và nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội
- Thái Hà (2009), Bé học ứng xử văn minh, Nhà xuất bản Thời đại
- Hoàng Đạo Thúy (2010), Nét văn hóa thanh lịch của người Hà Nội,
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
- Giang Quân (2010), Văn hóa gia đình người Hà Nội, Nhà xuất bản
Thời đại
Nhưng tất cả các tài liệu kể trên mới dừng lại ở nói về cách ứng xử trong gia đình, ngoài xã hội sao cho thanh lịch, văn minh chứ chưa có tài liệu nào nghiên cứu về Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Thủ đô
2.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề vận dụng lí thuyết giao tiếp tích hợp nếp sống thanh lịch - văn minh trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Hiện nay, những tài liệu nghiên cứu về cách tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc dạy các môn học trong nhà trường nói chung, trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng chưa nhiều:
- Lê Thị Minh Huyền (2012), Vận dụng lí thuyết hội thoại, tích hợp nếp sống thanh lịch văn minh trong việc rèn kĩ năng đáp lời ( phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục
Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Lê Thị Minh Huyền đã có đề cập nghiên cứu về tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc dạy Tiếng Việt ở Tiểu học song lại mới dừng ở phân môn Tập làm văn lớp 2
Trang 142.4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy - học phân môn Luyện từ và câu trong trường Tiểu học
Về môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu
và thể hiện rõ quan điểm của mình qua các công trình nghiên cứu như Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Nguyễn Minh Thuyết
Tác giả Nguyễn Trí, trong một công trình cùng đồng tác giả Lê Phương
Nga - cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, đã thể
hiện chiến lược dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Đó là hướng đi đúng, có cơ sở khoa học vững chắc song tác giả chưa đi sâu vào vấn đề dạy Luyện từ và câu, đặc biệt là kĩ năng sử dụng câu hỏi cho hợp lí, văn minh - lịch sự
Với cuốn Hỏi - Đáp về dạy Tiếng Việt 4, Nhà xuất bản Giáo dục, tác giả
Nguyễn Minh Thuyết đã có phân tích được quan điểm giao tiếp được thể hiện
ở phân môn Luyện từ và câu Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nhận định chung chung
Còn ở cuốn Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh Tiểu học, tác giả
Nguyễn Trí đã đưa ra quan điểm dùng thực hành giao tiếp để hình thành các
kĩ năng nói trong dạy Luyện từ và câu Tuy vậy, tác giả mới đưa ra được các bước sử dụng câu hỏi bằng nghi thức lời nói phù hợp chứ chưa đưa ra được cách sử dụng câu hỏi sao cho văn minh - lịch sự
Ngoài các công trình nói trên còn có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động giao tiếp với việc dạy Tiếng Việt ở lớp 4 nói riêng và ở Tiểu học nói chung như:
- Phan Phương Dung, Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
- Nguyễn Trí - Trần Hiền Lương - Giang Khắc Bình, Tiếng Việt cơ bản lớp 4,
Nhà xuất bản Giáo dục
Trang 15- Phan Phương Dung - Lê Phương Nga, Hướng dẫn dạy học tiếng Việt 4, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Những công trình nghiên cứu trên tuy chưa bàn đến một cách cụ thể những vấn đề mà luận văn quan tâm Song đó là những gợi ý cần thiết định
hướng cho việc nghiên cứu luận văn Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp
giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4 với các bài học cụ thể:
- Câu hỏi và dấu chấm hỏi
- Luyện tập về câu hỏi
- Dùng câu hỏi vào mục đích khác
- Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi
(Cả 4 bài học này đều thuộc phân môn Luyện từ và câu - Tiếng Việt 4) Giới hạn phạm vi thực nghiệm: Việc thực nghiệm được thực hiện tại trường Tiểu học Trung Tự - Quận Đống Đa (nội thành Hà Nội) và trường Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa lí thuyết giao tiếp và nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh với việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4
- Làm rõ sự cần thiết phải vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kỹ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4
- Làm rõ hiệu quả của việc vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh khi rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh
Trang 16lớp 4
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề lí luận làm cơ sở cho đề tài
- Điều tra thực trạng việc dạy kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện
từ và câu và thực trạng việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho HS Thủ đô
- Tìm kiếm các biện pháp vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4
- Thực nghiệm
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về lí thuyết giao tiếp để tìm ra cơ sở khoa học về giao tiếp cho việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu
- Nghiên cứu các tài liệu về chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, đặc biệt tài liệu về đổi mới phương pháp rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi
để xác định những tiền đề cho việc vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Hà Nội để tích hợp với lí thuyết giao tiếp trong việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi sao cho hiệu quả
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí lứa tuổi, đặc điểm ngôn ngữ của HS Tiểu học để xác định những tiền đề tâm lí cho việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi theo hướng vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
5.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội được vận dụng trong quá trình quan sát, dự giờ, tìm hiểu để nắm bắt tình hình học rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân
Trang 17môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học bao gồm hoạt động dạy học, chất lượng dạy học, xu thế dạy học để rút ra được những nhận định về thực trạng cũng như hướng phát triển của phương pháp rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu cho HS lớp 4 hiện nay
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này vận dụng trong việc định hượng thiết kế các bài dạy kĩ năng sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu vận dụng theo lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh; hướng dẫn GV thực hiện mô hình thiết kế, quy trình hoạt động, chọn và tổ chức dạy thực nghiệm ở trường Tiểu học có đối chứng, tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả (bằng phiếu điều tra, bài kiểm tra) của HS cả trước và sau quá trình học tập có
so sánh với lớp đối chứng
5.4 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê, phân loại các bài Luyện
từ và câu trong chương trình, các phiếu điều tra, bài kiểm tra của HS để rút ra
những kết luận cần thiết của luận văn
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về lí luận
Đề tài thực hiện thành công sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề lí thuyết giao tiếp và nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh với việc vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh lớp 4
Trang 18Tiếng Việt và hình thành tình yêu tiếng mẹ đẻ, tình yêu nét đẹp thanh lịch - văn minh trong giao tiếp ứng xử của người học sinh Thủ đô
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
Trang 20NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH – VĂN MINH TRONG RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI
CHO HỌC SINH LỚP 4 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Lí thuyết giao tiếp
1.1.1.1 Khái niệm giao tiếp
Đã có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tuỳ theo phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếp theo cách riêng và làm nổi bật khía cạnh nào đó Tuy vậy, tất cả các tác giả đã phần nào phác hoạ nên diện mạo bề ngoài của giao tiếp Giao tiếp và hoạt động không tồn tại song song hay tồn tại độc lập, mà chúng tồn tại thống nhất, chúng là hai mặt của sự tồn tại xã hội của con người Giao tiếp được coi như:
- Quá trình trao đổi thông tin
- Sự tác động qua lại giữa người với người
- Sự tri giác con người bởi con người
1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của giao tiếp
- Mang tính nhận thức
Cá nhân ý thức được mục đích giao tiếp, nhiệm vụ, nội dung của tiến trình giao tiếp, phương tiện giao tiếp Ngoài ra còn có thể hiểu đặc trưng của giao tiếp là khả năng nhận thức và hiểu biết lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp, nhờ đó tâm lý, ý thức của con người không ngừng được phát triển Nếu không giao tiếp với những người xung quanh, đứa trẻ không nhận thức được
- Trao đổi thông tin
Dù với bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan Nhờ đặc
Trang 21trưng này mà mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòi hỏi của
xã hội, của nghề nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ
- Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện qua giao tiếp người - người Con người vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạt động tích cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó
- Giao tiếp giữa các cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hội Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể, trong khung cảnh không gian và thời gian nhất định
- Sự kế thừa chọn lọc
Bản thân giao tiếp chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sáng tạo những giá trị tinh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm lưu giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm của con người
- Tính chủ thể trong quá trình giao tiếp
Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể Các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho nhau, cùng chịu sự chi phối và tác động lẫn nhau tạo thành các chủ thể giao tiếp
- Sự lan truyền, lây lan các cảm xúc, tâm trạng
Sự biểu cảm thể hiện đầu tiên bằng nét mặt có ý nghĩa tiến hoá sinh học cũng như ý nghĩa tâm lý - xã hội, phản ánh khả năng đồng cảm, ảnh hưởng lẫn nhau của con người
1.1.1.3 Chức năng của giao tiếp
- Chức năng thông tin
- Chức năng điều khiển, điều chỉnh
- Chức năng đánh giá thái độ giao tiếp
1.1.1.4 Hội thoại là một hình thức giao tiếp phổ biến của ngôn ngữ
Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện
Trang 22thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ Ngôn ngữ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội lịch sử đặc biệt, là một hệ thống kí hiệu, là phương tiện giao tiếp và công cụ của tư duy Ngôn ngữ là hệ thống các quy tắc chung cho các cá nhân tham gia giao tiếp cần tuân theo để trao đổi suy nghĩ, ý tưởng và cảm xúc
Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng vào người khác được biểu hiện bằng
âm thanh và tiếp thu bằng cơ quan thính giác Theo hình thức tồn tại, có thể phân chia thành lời nói bên ngoài và lời nói bên trong Lời nói bên ngoài nếu căn cứ theo hình thức giao tiếp được chia thành lời nói miệng và lời nói viết Nếu căn cứ vào phương thức thể hiện giao tiếp, ta có thể phân thành hai loại hình thức giao tiếp là độc thoại và hội thoại
Hội thoại là một trong những dạng thức của lời nói, trong đó có sự hiện diện của người nói và người nghe Mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng tới người tiếp chuyện và xung quanh một chủ đề hạn chế của cuộc thoại Trong hội thoại, các phát ngôn có tính riêng biệt, ngắn gọn; có các kết cấu ngữ pháp đơn giản;
sử dụng nhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Cho đến nay, ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bàn đến hội thoại
1.1.1.5 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác [7, tr.201]
Có nhiều quan điểm khác nhau về hội thoại
Nguyễn Quang Ninh trong “Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở Tiểu học theo hướng giao tiếp” cho rằng: Hội thoại là hoạt động giao tiếp
bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm theo một mục đích đã dược đặt ra
Trang 23Đỗ Thị Kim Liên quan niệm: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [21, tr.180]
Như vậy, xét từ góc độ nào thì hội thoại cũng có các đặc trưng sau đây:
- Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời
Khi hội thoại, người trao lời và người thụ lời luôn luôn đổi vai cho nhau, luân lưu nói và sự luân đổi lượt lời phải tuân thủ một cách tự nhiên theo quy tắc “quay vòng giao tiếp”, một hình thức như đã thành thói quen
Mỗi một lần hội thoại chí ít bao gồm một lượt lời của hai bên Đơn vị cấu trúc điển hình nhất của hội thoại là cặp thoại (tức là bắt đầu là lời trao và tiếp liền là lời đáp) Trong cặp thoại có thể xảy ra một vài trường hợp khác như chuỗi xen vào, có khi người thụ lời làm gián đoạn người trao lời và xuất hiện chuỗi bên cạnh hoặc lời chữa của người trao lời
- Hội thoại thường diễn ra giữa hai hay nhiều người trong một thoại trường nhất định
Số lượng nhân vật hội thoại - còn gọi là đối tác hội thoại hay đối tác - thay đổi từ hai đến một số lượng lớn Có những cuộc hội thoại tay đôi, tay ba, tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại) Những cuộc hội thoại như một cuộc hội nghị, một giờ học, một cuộc mít tinh thì số lượng người tham gia khó mà xác định được
Thoại trường (không gian, thời gian diễn ra cuộc hội thoại) có thể là nơi công cộng (hội nghị, hội thảo, cuộc mít tinh, ngoài chợ, trong tiệm ăn, quán cafe, vũ trường ) hay riêng tư (trong phòng khách giữa chủ và khách, trong phòng ngủ giữa vợ và chồng ) Thoại trường với những cần thiết của nó và với sự hiện diện của những nhân vật đang hội thoại ảnh hưởng ít hay nhiều đến cuộc hội thoại cả về nội dung, cả về hình thức
- Trong hội thoại có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ
Trang 24Trong quá trình hội thoại, vận động tương tác rất quan trọng bởi vì tương tác là vận động tác động lẫn nhau, cùng làm cho nhau biến đổi Tương tác đối với nhân vật giao tiếp sẽ giúp cho các nhân vật giao tiếp rút ngắn khoảng cách
về nhận thức, tình cảm và quan hệ Tương tác đối với chính cuộc hội thoại sẽ tạo ra sự nhịp nhàng, ăn khớp trong vận động trao đáp
- Các cuộc hội thoại có đích nhất định
Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học
có đích được xác định trước rõ ràng Những cuộc tán gẫu được xem là không
có đích Thực ra, hoạt động của con người tự chúng đã có đích nên không nên nói có những cuộc hội thoại không có đích vì những cuộc hội thoại không có đích hướng ngoại thì vẫn có đích hướng nội
1.1.1.6 Đơn vị hội thoại
Các đơn vị hội thoại gồm: cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại (lưỡng thoại); tham thoại và hành vi ngôn ngữ (đơn thoại) Liên quan đến đề tài này
là các đơn vị lưỡng thoại
Cuộc thoại
Cuộc thoại là đơn vị lớn nhất của hội thoại Cuộc thoại là sản phẩm của tình huống hội thoại Cuộc thoại giải quyết vấn đề đặt ra trong tình huống hội thoại Các tiêu chí để nhận diện một cuộc hội thoại là: nhân vật hội thoại; tính thống nhất về thời gian, địa điểm; về đề tài diễn ngôn; về ranh giới của cuộc thoại
Ví dụ: Đoạn đối thoại của mẹ và Cương [36, tr.131] là một cuộc thoại
Đoạn thoại
Về nguyên tắc, có thể định nghĩa “đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng” [7, tr.313] Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề
Cấu trúc tổng quát của một cuộc hội thoại có thể là: đoạn thoại mở thoại, các đoạn thân thoại và đoạn thoại kết thúc
Trang 25Đoạn thoại mở thoại phần lớn là công thức hoá, có tác dụng mở ra mối quan hệ giữa các nhân vật
Ví dụ (VD): Đoạn thoại mở đầu trong trong bài tập 1 như sau:
- Cương: Mẹ nói với thầy cho con đi học nghề rèn
- Mẹ Cương: Con vừa bảo gì? [36, tr.131]
Các đoạn thân thoại có thể gồm một vài đoạn thoại để phát triển nội dung đề tài cuộc thoại
- Mẹ Cương: Con muốn giúp mẹ như thế là phải Nhưng biết thầy có chịu nghe không? Nhà ta tuy nghèo nhưng dòng dõi quan sang, không lẽ bây giờ mẹ để con phải làm đầy tớ anh thợ rèn
- Cương: Mẹ ơi! Người ta ai cũng phải có một nghề Làm ruộng hay buôn bán, làm thầy hay làm thợ đều đáng trọng như nhau Chỉ những ai trộm cắp hay ăn bám mới đáng bị coi thường [36, tr.131]
Đoạn thoại kết thúc có chức năng đóng cuộc thoại
1.1.1.7 Quy tắc hội thoại
Trang 26Muốn duy trì và phát triển hội thoại, người tham gia hội thoại phải tuân theo một số quy tắc chính sau:
Quy tắc thương lượng hội thoại
Thương lượng hội thoại là sự thoả thuận giữa những người tham dự giao tiếp về đề tài, về nội dung, về vị thế giao tiếp để việc giao tiếp được tiến hành thuận lợi Giữa những người tham gia hội thoại phải có dự thống nhất về ngôn ngữ, về phong cách nói, về ngữ điệu giao tiếp Các vấn đề đưa ra hội thoại cũng phải có sự trùng lặp Việc mở đầu, kết thúc và sự luân phiên lượt lời trong hội thoại cũng có sự thương lượng ngầm ẩn Khi giao tiếp, mỗi người có một vị thế khác nhau Việc tìm hiểu vị thế đó ảnh hưởng nhiều đến thái độ nói năng, việc dùng ngôn từ và việc chủ động đề xuất đề tài hội thoại
Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời:
Trong một cuộc hội thoại phải có người nói và người nghe và ngược lại Trong cuộc hội thoại chỉ có hai người, người kia phải nói khi nhận thấy trong lời của người này có dấu hiệu kết thúc để không có sự dẫm đạp lên lời của nhau Không thể vì vội mà cả hai cùng tranh nhau nói, như vậy sẽ không đạt được hiệu quả giao tiếp Mặt khác để giao tiếp diễn ra liền mạch
Trong cuộc thoại, các lượt lời có thể được một người điều khiển phân phối hoặc do các nhân vật hội thoại tự thương lượng một cách không tường minh với nhau Người nói nên biết kết thúc lượt lời của mình đúng lúc để nhường lời cho người kia thì mới tỏ ra là người biết trò chuyện lịch sự và là người nói chuyện có duyên Lưu ý tránh tình trạng nói quá dài dòng, quá lâu
sẽ làm cho người nghe sốt ruột và sẽ ngắt lời, hoặc vì lịch sự, họ lơ đãng, không còn chú ý đến những điều mà bạn đang nói
Thông thường dấu hiệu của sự kết thúc lượt lời là sự trọn vẹn về ý, sự trọn vẹn về cú pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, các tiểu từ tình thái cuối câu hoặc
sự có mặt của các từ kiểu như: nhé, nhớ, đấy, hả, nhỉ VD: Đoạn đối thoại trong Bài tập 2 [36, tr 133]:
Trang 27- Thuở đi học, chữ Cao Bá Quát thế nào nhỉ?
- Cao Bá Quát viết chữ rất xấu
Qui tắc chi phối cấu trúc hội thoại
Trong hội thoại các lượt lời phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau về cả nội dung lẫn hình thức Một cuộc hội thoại không phải là sự lắp ghép ngẫu nhiên, tùy tiện các phát ngôn, các hành động ngôn ngữ Trước hết, các lượt lời phải thống nhất về đề tài, nghĩa là cùng hướng tới một nội dung nhất định Cuộc hội thoại không thể duy trì nếu mỗi người tham dự nói tới một đề tài khác nhau, về hình thức, việc sử dụng các phép thế, phép lặp, phép nối chính là những dấu hiệu liên kết hội thoại Nguyên tắc này không chỉ chi phối các ngôn bản đơn thoại mà chi phối cả các lời tạo thành một cuộc hội thoại Nếu giữa các lời của các nhân vật hội thoại không có liên kết thì sẽ dẫn đến
tình trạng“ông nói gà, bà nói vịt”
Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ, giữa các đơn vị hội thoại ở cả hai phương diện nội dung và hình thức
Qui tắc điều hành nội dung hội thoại
Cuộc hội thoại nào cũng có nội dung Các nội dung này lại được thể hiện trong nội dung các lượt lời Về nội dung, các lượt lời phải thống nhất về đề tài, nghĩa là cùng hướng tới một nội dung nhất định Quy tắc luân phiên lượt lời bảo đảm sự kế tiếp các lượt lời về mặt hình thức để sự phát triển hội thoại được liên tục và hợp lí Còn quy tắc điều hành nội dung hội thoại sẽ điều hành quan
hệ và nội dung giữa các lượt lời Sự điều hành này đòi hỏi mỗi người tham gia hội thoại phải đảm bảo hai yêu cầu: Lời nói của họ phải đúng với đề tài và nội dung cuộc thoại ở thời điểm họ tham gia; lời nói của họ phải phù hợp với đích của hội thoại
Vì vậy, để duy trì cuộc hội thoại người tham gia hội thoại phải thực hiện
Trang 28bốn phương châm sau:
- Phương châm về chất: Phương châm này khuyên người nói đừng nói những điều gì không đúng hoặc chưa có đủ bằng chứng xác thực Không nên nói cả những điều mình không tin lắm Khi có vấn đề gì đó chưa rõ, chưa xác định thì nên có sự tìm hiểu, kiểm tra lại thông tin hoặc tra cứu lại cẩn thận
- Phương châm về lượng: Phương châm này đòi hỏi người tham gia hội thoại phải nói những gì có quan hệ đến nội dung cuộc thoại Không nên nói quá ít hoặc quá nhiều những điều không đúng với đích cuộc thoại Nói vừa
đủ, ngắn gọn, rõ ràng Tránh nói quá nhiều sẽ khiến người nghe mệt mỏi dẫn đến lơ đãng, không còn chú ý đến cuộc thoại
- Phương châm về cách thức: Tránh nói tối nghĩa, nói mập mờ gây khó hiểu cho người nghe Nên nói một cách rõ ràng, mạch lạc, có hệ thống và có tính lôgic chặt chẽ để người nghe dễ nhận ra ý mà người nói định nói Tránh lời nói mập mờ, tối nghĩa, gây sự hiểu lầm
- Phương châm về quan hệ (còn gọi là phương châm quan yếu): cần trình bày sao cho câu chuyện của bạn có quan hệ với câu chuyện đang diễn ra
Qui tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại - phép lịch sự
Theo cách hiểu thông thường, lịch sự có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là thái
độ của người tham gia hội thoại phải phù hợp với quan niệm và phép tắc xã
giao của xã hội như: thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, VD: nói năng lịch
sự Nghĩa thứ hai là đẹp một cách sang trọng và trang nhã, VD: ăn mặc lịch
sự Trong hai nghĩa trên, nghĩa thứ nhất gắn với các hoạt động giao tiếp, hội
thoại [40; tr 189]
Theo các nhà Ngữ dụng học, lịch sự là một qui tắc quan trọng của lí thuyết hội thoại liên quan đến phương diện liên cá nhân trong các cuộc giao tiếp, trò chuyện Quan hệ liên cá nhân trong hội thoại luôn được duy trì hay
Trang 29phát triển theo hướng lợi ích các bên tham gia hội thoại được hài hòa hay bị tổn thất
Lịch sự có liên quan đến thể diện những người tham gia hội thoại Theo cách hiểu thông thường, thể diện là những cái làm cho người ta coi trọng
mình khi tiếp xúc (nói tổng quát), VD: giữ thể diện cho gia đình [40, tr 189]
Lịch sự trong giao tiếp đòi hỏi khi giao tiếp, các đối tác cần nói sao giữ được thể diện cho mình nhưng cũng nói sao để giữ được thể diện cho người nghe Khi có hành vi ở lời hoặc hoạt động nào có nguy cơ làm mất thể diện của đối tác thì cần có hành vi cứu vãn thể diện Hoạt động cứu vãn thể diện là
“tất cả những điều mà một người phải làm để nhằm làm sao cho hành động của anh ta không làm mất thể diện cho ai, kể cả thể diện của chính mình.”(Goffman) Nếu làm được như vậy khiến cho người nói và người nghe
gần gũi nhau hơn, thông cảm với nhau hơn và cũng vì thế hiệu quả giao tiếp cũng tốt hơn
Lưu ý: Phép lịch sự trong hội thoại có quan hệ mật thiết với đặc thù văn
hóa từng dân tộc VD: Người phương tây, khi giao tiếp, cấm kị việc hỏi tuổi (nhất là với phụ nữ) Với người phương đông thì ngược lại Hỏi tuổi chứng tỏ
sự quan tâm tới người đối thoại với mình
Khi hội thoại không nên nói về mình quá nhiều, không đề cao, tán dương bản thân Điều này sẽ khiến cho người nghe khó chịu Tuy nhiên không phải lúc nào khiêm tốn cũng là lịch sự Tự khen mình quá hoặc tự chê mình quá lời cũng đều là không lịch sự vì đó đều là cách đề cao cái tôi, đều thiếu khiêm tốn do đó thiếu lịch sự
Trang 30hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra là dành cho mình
Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là điều tất yếu Sự có mặt của Sp1 thể hiện
ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình, cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm của Sp1 trong nội dung lượt lời trao; ở dấu hiệu bổ sung cho lời nói (điệu bộ, cử chỉ )
Sự có mặt của Sp2 thể hiện qua những yếu tố ngôn ngữ tường minh như lời hô gọi, chỉ định, những lời thưa gửi và các từ nhân xưng ngôi thứ 2; những yếu tố hàm ẩn như những tiền giả định giao tiếp, những biểu hiện mà Sp1và Sp2 đã có chung; ở hứng thú hoặc tâm trạng của Sp2 mà Sp1 đã nhận biết trước khi trao lời
Vận động trao đáp: là vận động mà khi Sp2 đáp lời Sp1, có sự lần lượt
thay đổi vai nói, vai nghe giữa các nhân vật giao tiếp là trao đáp Chỉ khi Sp2 hồi đáp lại lượt lời của Sp1 thì mới thực sự có vận động trao đáp, hội thoại mới chính thức được hình thành Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Các nhân vật tham gia hội thoại là người nói và đồng thời là người nghe Tính hai chiều trong cuộc giao tiếp được bộc lộ rõ Các lời trao và lời đáp tương tác với nhau tạo nên tính hoàn chỉnh
Sự hồi đáp có thể bằng các hành động ngôn ngữ tương thích với hành động dẫn nhập lập thành cặp như hỏi - trả lời, chào - chào, cầu khiến - nhận lời ; cũng có thể được thực hiện bằng những hành động bất kì, không tương thích với hành động dẫn nhập
Ngay cả những hành động tự thân không đòi hỏi sự hồi đáp như hành động cảm thán vẫn cần được hồi đáp
Vận động tương tác: là kết quả sự phối hợp của các nhân vật giao tiếp trong suốt quá trình diễn ra cuộc thoại Các nhân vật sẽ tác động qua lại lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau
Trang 31Trước khi hội thoại, giữa các thoại nhân có sự khác biệt đối lập, thậm chí trái ngược nhau về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm )
Trong hội thoại và qua hội thoại, khoảng giao nhau giữa các mặt của người đối thoại mở rộng dần và một cuộc hội thoại thành công là cuộc thoại
mà sau đó sự khác biệt nói trên bị mất đi (dĩ nhiên có những cuộc hội thoại không thành công, khoảng bất đồng vẫn y nguyên, thậm chí còn mở rộng ra) Trong hội thoại, một lời nói bị chấm dứt khi người kia không tỏ ra chú ý đến nội dung của nó, lảng xa nó Lúc này người nói phải tìm cách hòa phối lại cuộc hội thoại bằng cách kéo đối phương trở lại câu chuyện và khi thấy rằng
đã kéo lại được rồi thì cần khởi động lại câu chuyện
Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Hễ có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời chỉ là một trong những dạng tương tác giữa người với người Có tương tác bằng lời mà cũng
có tương tác không bằng lời Giữa tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời có những yếu tố đồng nhất: đầu tiên là khái niệm lượt lời Trong hội thoại, điều quan trọng là người trong cuộc phải tuân theo những quy tắc nhất định thì mới có sự phân chia “lượt” Nếu người này nói tranh phần của người kia (cướp lời người khác) thì gọi là vi phạm “lượt lời”, còn nếu cả hai người đối thoại tranh nhau nói hoặc ngắt quãng không chịu nói thì dẫn tới sự “trật khớp” về lượt Ngoài ra giữa tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời còn có sự đồng nhất về cặp khái niệm kế cận được điều khiển bởi quy tắc giữ
sự cân bằng trong tương tác
Cuối cùng, trong tương tác còn có những cặp trao đáp củng cố và sửa chữa Trao đáp củng cố nhằm thiết lập hay làm vững chắc quan hệ giữa người trong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả Khi chúng ta xúc phạm hoặc cho rằng mình xúc phạm đến người cùng tham gia vào một hoạt động xã hội với mình, chúng ta thực hiện cặp trao đáp sửa chữa Sự sửa chữa có thể bằng lời: xin lỗi, tỏ ra ân hận, mà cũng có thể không bằng lời: cười, đưa quà tặng, tự
Trang 32tay sửa chữa lại cái mình làm hỏng
Ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho một cuộc thoại Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu là vận động tương tác
1.1.2 Lý thuyết về câu hỏi
1.1.2.1 Khái niệm câu hỏi
Câu hỏi hay còn gọi là câu nghi vấn được dùng để nói lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu hỏi VD: - Con tên gì? [36, tr 152]
1.1.2.2 Các dạng câu hỏi trong giao tiếp
- Câu hỏi tu từ: Là câu hỏi được sử dụng khi Sp1 dùng để hỏi chính mình VD: - Sao mình lại làm bài bất cẩn thế nhỉ? [36, tr 143]
- Câu hỏi tổng quát: là dạng câu hỏi được sử dụng khi Sp1 chưa biết một chi tiết nào về sự tình trong câu hỏi và hỏi về toàn bộ sự tình đó
VD: - Thuở đi học, Cao Bá Quát viết chữ như thế nào? [36, tr 131]
- Câu hỏi lựa chọn: là loại câu hỏi trong đó đặt ra những khả năng khác nhau cho người trả lời lựa chọn mà trả lời
VD: - Cô thích xem phim hay đọc sách vào lúc rảnh rỗi? [36, tr.152] Kiểu câu hỏi này được dùng khi Sp1 cần sự xác nhận của Sp2 về một trong hai đáp số mà mình đưa ra
Trang 33- Câu hỏi giả thiết: là loại câu hỏi đưa ra một giả thiết ít nhiều đã có tính chất khẳng định
VD: - Có phải chú bé Đất trở thành Đất Nung không? [36, tr 137]
Mặc dù tính khẳng định đã được người hỏi áp đặt khá rõ trong câu hỏi nhưng kiểu câu hỏi giả thiết này vẫn thường được dùng khi Sp1 cần xác định tính đúng sai của một mệnh đề mà anh ta đã giả định là không phi lý
Ngoài ra về mặt hình thức, câu nghi vấn trong Tiếng Việt còn được cấu tạo bằng các phương tiện sau:
- Các tiểu từ tình thái nghi vấn: à, ư, hả, hở, chăng, nhỉ, nhé vị trí các tiểu từ này thường là cuối câu:
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi học sinh lớp 4
Trong quá trình học Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, mỗi độ tuổi khác nhau, việc tiếp nhận kiến thức của trẻ em đều chịu sự chi phối của đặc điểm tâm sinh lí khác nhau Dạy Tiếng Việt nói chung, dạy Luyện từ và câu nói riêng, việc hiểu
rõ đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh sẽ giúp giáo viên có căn cứ, cơ sở và phương hướng trong việc đề ra các biện pháp, trong đó có tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho học sinh
Các em đã có khả năng phân tích, tách các dấu hiệu, các chi tiết nhỏ của đối tượng, tuy nhiên, sự phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc ở các em còn yếu Khi nhận thức, các em thường “thâu tóm” sự vật một cách toàn bộ, đại thể
Tri giác của các em lại thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ Những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các em thường
Trang 34gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của trẻ thì mới được các em nhận thức Những kiến thức nào phù hợp, sát với nhận thức của học sinh sẽ được các
em hăng hái tiếp thu Học sinh rất khó hào hứng với những gì nằm ngoài vốn sống của mình Nếu giáo viên ra một bài tập giao tiếp với chủ đề quá khó và xa
lạ, các em sẽ không có khả năng thực hiện được, hơn nữa còn cảm thấy khó hiểu và lo lắng
Ngoài ra, với HS lớp 4 tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi các em tri giác
Do đó khi học hội thoại, các em thực hiện tốt những bài tập có nội dung sát với thực tế, với những chủ đề trong cuộc sống hàng ngày các em thích thú, mến yêu: một bộ phim hay đang chiếu trên ti vi, một câu chuyện thú vị trong sách, việc học tập ở nhà, vấn đề bảo vệ môi trường Những chủ đề khô khan
và xa lạ không mấy gây hứng thú cho học sinh Cái trực quan, cái rực rỡ, sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực cho chúng
Đối với học sinh lớp 4, giai đoạn cuối của bậc Tiểu học, năng lực học tập của học sinh đã được hình thành, tư duy của học sinh đã dần chuyển sang tư duy trừu tượng Học sinh có thể phân loại dựa trên những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng; có thế tiến hành các thao tác trí tuệ mà không cần đến
sự trợ giúp của các vật liệu cụ thể Do vậy, khi dạy học, giáo viên cần chú ý
để giúp học sinh tước bỏ tính cụ thể trong suy nghĩ, cần tạo nhiều cơ hội để học sinh giải thích và trình bày khái niệm bằng lời lẽ riêng của mình
Những đặc điểm trên của học sinh chính là cơ sở quan trọng để giáo viên giúp học sinh, đặc biệt là các em học sinh lớp 4 có những kĩ năng học tập thích hợp, nhờ đó việc học tập môn Tiếng Việt của các em đạt kết quả tốt hơn
Vì vậy để có phương pháp dạy đúng đắn, khoa học, phù hợp với trình độ của
HS và bài giảng có sức cuốn hút, người GV cũng cần nắm chắc những đặc điểm tâm lí nổi bật của lứa tuổi Như vậy, việc dạy - học Luyện từ và câu sẽ đạt được kết quả tốt như mong muốn
Trang 351.1.3.2 Khả năng ngôn ngữ của học sinh lớp 4
Hầu hết trẻ bước chân đến trường Tiểu học đã có ngôn ngữ nói thành thạo Các em đã biết diễn đạt bằng lời nói những suy nghĩ của mình cũng như
có thể thông hiểu ngôn ngữ nói của người khác
Đến lớp 4, ngôn ngữ viết của HS đã tương đối thành thạo và đang dần hoàn thiện phát triển ở cả ba mặt: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân mà không cần sự giúp đỡ trực tiếp của GV Ngôn ngữ phát triển đã trở thành điều kiện cho các quá trình nhận thức của trẻ Tiểu học phát triển mạnh Tư duy, tưởng tượng chỉ có thể mang tính khái quát
và trừu tượng khi dựa trên phương tiện ngôn ngữ Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho HS là nhiệm vụ cực kì quan trọng của GV và nhà trường Tiểu học Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý: chuẩn xác trong phát âm, tìm biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ, rèn luyện ngôn ngữ nói, viết cho các em ngay từ lớp 1, uốn nắn kịp thời những sai sót trong ngôn ngữ của HS, đặc biệt là những thói quen như nói ngọng, nói lắp, nói trống không, Muốn vậy bản thân GV phải có ngôn ngữ chuẩn mực, trong sáng, ngữ điệu phù hợp khi dạy học - giao tiếp với các em
1.1.4 Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch văn minh
và Luyện từ và câu lớp 4 liên quan đến câu hỏi
Chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Thủ đô tập trung vào 5 nội dung chính:
Nội dung 1: Khái niệm thanh lịch - văn minh
Nội dung 2: Phong cách thanh lịch - văn minh
Nội dung 3: Giao tiếp thanh lịch - văn minh
Nội dung 4: Ứng xử thanh lịch - văn minh nơi công cộng
Nội dung 5: Ứng xử thanh lịch - văn minh với thiên nhiên, môi trường
Trang 36Với những nội dung trên thì ở lớp 4 tập trung chỉ dẫn HS về cách giao tiếp, ứng xử sao cho thanh lịch - văn minh với những người xung quanh, với thiên nhiên môi trường Các nội dung đề cập mới chỉ dừng ở mức nêu hiện tượng, tình huống cụ thể về những hành vi ứng xử đúng sai để HS nhận thức, rút ra nhận xét, từ đó hực hiện những hành vi đúng mà không cần đi sâu giải thích phân tích kĩ Trong những nội dung trên, ở chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh của lớp 4 hầu hết tất cả các bài đều liên quan đến
kĩ năng sử dụng câu hỏi:
Lớp 1
Bài 1 Em hỏi và trả lời
Bài 2 Lời chào
Bài 3 Bữa ăn trong gia đình
Bài 4 Bữa ăn bán trú
Lớp 2
Bài 1 Ý kiến của em
Bài 2 Tôn trọng người nghe
Bài 3 Bữa ăn cùng khách
Bài 4 Sinh nhật bạn
Lớp 3
Bài 1 Em biết lắng nghe
Bài 2 Nói lời hay
Bài 3 Cử chỉ đẹp
Lớp 4
Bài 1 Chia sẻ với ông bà, cha mẹ
Bài 2 Trò chuyện với anh chị em
Bài 3 Đến nhà người quen
Bài 4 Thân thiện với hàng xóm
Bài 5 Nói chuyện với thầy, cô giáo
Trang 37Bài 6 Trò chuyện với bạn bè
Bài 7 Giao tiếp với người lạ
Bài 8 Gặp mặt người nước ngoài
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy học câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu Lớp
4 hiện nay
1.2.1.1 Qua dự giờ
Chúng tôi đã dự giờ Luyện từ và câu dạy học kĩ năng sử dụng câu hỏi:
Câu hỏi và dấu chấm hỏi (tuần 13); Dùng câu hỏi vào mục đích khác (tuần14); Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi (tuần 15) ở hai trường Tiểu học
Trung Tự - Quận Đống Đa (nội thành Hà Nội) và trường Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2014 - 2015 Các vấn đề chúng tôi tập trung theo dõi trong các tiết dự giờ là: Quy trình dạy học Luyện
từ và câu, kĩ năng sử dụng câu hỏi của HS, mối liên hệ giữa nội dung bài học
và nội dung chương trình nếp sống thanh lịch - văn minh đã được học, giữa
HS với GV, giữa HS với HS Nói chung cách thức dạy học đã có những chuyển biến theo hướng tăng cường hoạt động của HS Mục tiêu dạy học giao tiếp thể hiện qua nội dung các bài Luyện từ và câu này rất rõ Cụ thể: Câu hỏi
là gì? (Bài Câu hỏi và dấu chẩm hỏi SGK TV4 tập 1, tuần 13, trang 131) Ở
bài này, học sinh được biết câu hỏi dùng để làm gì, để hỏi ai, dấu hiệu nhận
biết câu hỏi Trong bài Luyện tập về câu hỏi (SGK TV4 tập 1, tuần 14, trang
137), học sinh được luyện tập nhận biết một số từ nghi vấn và đặt câu hỏi với các từ nghi vấn ấy, bước đầu nhận biết một dạng câu hỏi có từ nghi vấn nhưng không dùng để hỏi,
- Dùng câu hỏi vào mục đích khác (bài Luyện từ và câu SGK TV4 tập 1
tuần 14, trang 142) Học sinh được dạy dùng câu hỏi không nhằm mục đích
Trang 38hỏi mà để thể hiện:
+ Thái độ khen, chê
+ Sự khẳng định, phủ định
+ Yêu cầu mong muốn
- Giữ phép lịch sự khi hỏi (Bài Giữ phép lịch sử khi đặt câu hỏi SGK
TV4 tập 1, tuần 15, trang 151) Ở bài này, học sinh được biết và thực hành thưa gửi, xưng hô cho phù hợp với quan hệ giữa mình và người được hỏi, tránh những câu hỏi làm phiền lòng người khác
Các GV khi dạy kĩ năng sử dụng câu hỏi trong giờ Luyện từ và câu nhìn chung đã nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của việc dạy học giao tiếp, bước đầu biết tổ chức cho HS tham gia vào hoạt động giao tiếp trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể nhưng chưa biết uốn nắn cho HS khi dùng câu hỏi có sai sót Một số phương pháp dạy học có nhiều ưu thế trong dạy học hội thoại thì chưa được giáo viên sử dụng rộng rãi Một đặc điểm tâm lí khá phổ biến của
GV khi dạy Luyện từ và câu là rất ngại dạy kĩ năng nói, mà kĩ năng sử dụng câu hỏi đòi hỏi HS phải được thực hành nói rất nhiều Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là GV chưa được trang
bị đầy đủ những lí thuyết về giao tiếp đầy đủ để rèn luyện cho HS giao tiếp hiệu quả Trên thực tế hiện nay, đa phần giáo viên mới chỉ nắm được những vấn đề mang tính lí thuyết thực sự khoa học về hội thoại còn những vấn đề lí thuyết của sự đúc kết kinh nghiệm giảng dạy cũng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Ngoài ra, vốn sống, vốn hiểu biết của HS về thanh lịch - văn minh còn chưa nhiều, đa số HS còn nhút nhát chưa có thói quen hoạt động độc lập Chính vì vậy, trong phần rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi của phân môn Luyện từ
và câu lớp 4, còn nhiều HS chưa thể vận dụng vốn ngôn ngữ, kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt để mạnh dạn, tự tin trình bày ý kiến của mình và thực hành đặt câu hỏi theo tiêu chí thanh lịch - văn minh đã được học ở chương trình
Trang 39Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh Ngoài ra, đôi khi GV còn áp đặt coi hoạt động sử dụng câu hỏi là một cuộc hỏi đáp trong đó GV là người hỏi, HS
là người trả lời Vì vậy, người học thụ động không quan tâm đến việc vận dụng những nghi thức lời nói ấy ở ngoài đời thường sao cho phù hợp, chính xác chứ chưa nói đến thanh lịch - văn minh nên việc dạy chúng trở nên hình thức và sáo rỗng
1.2.1.2 Qua phiếu hỏi
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát 50 HS và 4 cô giáo ở hai trường: trường Tiểu học Trung Tự - Quận Đống Đa (nội thành Hà Nội) và trường Tiểu học Cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2014 - 2015 theo phiếu hỏi
Đối với HS, chúng tôi tập trung khảo sát xem khi học các bài rèn kĩ năng
sử dụng câu hỏi, HS được tham gia những hoạt động nào và trong quá trình học, HS chú ý của vào vấn đề nào liên quan đến việc sử dụng câu hỏi Đặc biệt phiếu nhằm khảo sát còn nhằm để nắm được xem sự hiểu biết của các em
về nội dung Nếp sống thanh lịch - văn minh có liền quan đến kĩ năng sử dụng câu hỏi đó trong tiết Luyện từ và câu qua Nội dung phiếu hỏi (Phụ lục 1 - Phiếu 1) gồm 5 câu hỏi Kết quả là rất ít HS lựa chọn câu đáp án c của câu hỏi
1, 4, 5 là những câu nhằm khai thác hiểu biết về hoạt động hội thoại trong giờ Luyện từ và câu của HS Trong khi đó, với câu hỏi 2, 3 có rất nhiều em đã lựa chọn đáp án b Qua khảo sát cho thấy trong khi học Luyện từ và câu, HS vẫn còn thụ động chưa có nhu cầu giao tiếp và ngại không muốn giao tiếp
Nội dung phiếu hỏi (Phụ lục 1 - Phiếu 2) dành cho GV gồm 5 câu hỏi Chúng tôi muốn khảo sát xem khi dạy nội dung câu hỏi trong các giờ LT- C ở lớp 4, mối quan tâm của GV đối với hiệu quả của việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi, khảo sát xem họ thường gặp khó khăn gì cũng như họ có những mong muốn nào và điều tra hiểu biết của họ về nội dung Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh có liên quan Kết quả là đa số GV đã lựa chọn đáp án a
Trang 40cho câu hỏi 1, 2, 4, 5 Ở câu hỏi 3 thì hầu hết GV đều lựa chọn đáp án c Điều
đó chứng tỏ ngay cả với người dạy, họ cũng không chú ý lắm đến việc dạy cho HS sử dụng câu hỏi sao cho thành thạo, đúng theo quy tắc hội thoại, đặc biệt là cho hay (thanh lịch - văn minh) mà chỉ quan tâm xem HS của mình đã biết cách đặt câu hỏi chưa để dạy
1.2.1.3 Nhận xét
Từ kết quả khảo sát, chúng tôi khẳng định việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi cho HS sao cho đúng quy tắc giao tiếp và thanh lịch - văn minh rất cần thiết được chú trọng trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 Dạy ra sao để HS
có kĩ năng sử dụng câu hỏi đúng và thanh lịch - văn minh là tâm điểm chú ý,
là nơi để người GV chứng tỏ năng lực sư phạm của mình Và trong thực tế giảng dạy cũng như qua các tiết dự giờ, chúng tôi nhận thấy việc rèn kĩ năng
sử dụng câu hỏi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 vẫn còn tồn tại một số nhược điểm
Nhược điểm thứ nhất: Người dạy coi việc dạy kĩ năng sử dụng câu hỏi
chỉ là một cuộc hỏi - đáp Ở đó, HS chỉ cần đặt được câu hỏi theo nội dung yêu cầu và người GV chưa quan tâm đến hứng thú và sự chú ý của HS với những điều mình hỏi, có đúng quy tắc giao tiếp không và đã thanh lịch - văn minh chưa? Kiểu dạy này khiến cho HS đặt câu hỏi một cách dễ dàng theo khuôn mẫu sẵn có, chứ chưa được tham gia luyện tập vào các tình huống đặt câu hỏi trong thực tế đời thường là có thể hoàn thành bài tập Hoạt động chủ yếu của HS là đặt câu hỏi theo nội dung có sẵn HS sẽ nghe những tình huống thầy đưa ra, rồi thầy làm mẫu và HS chỉ việc làm theo mẫu Phương pháp này không đúng với quan điểm dạy học trong giao tiếp
Nhược điểm thứ hai: Người dạy coi việc rèn kĩ năng sử dụng câu hỏi chỉ
là việc làm bài tập Khi đó, người GV giao bài tập cho HS viết các câu hỏi lời của mình vào vở Lúc này, cuộc hỏi - đáp không diễn ra và chính vì vậy người