Mật độ trung bình Oribatida theo mùa ở các tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu .... Nghiên cứu cấu trúc của quần xã Oribatida có ý nghĩa quan trọng trong chỉ
Trang 1- -
TRẦN BÍCH THỦY
CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA) Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG THÔNG VÙNG VEN VƯỜN QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH VŨ QUANG MẠNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Trong quá trình hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của các đơn vị và cá nhân
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc
tớiGS.TSKH Vũ Quang Mạnh người thầy hướng dẫn đã quan tâm, tận tình
chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu của TS Đào Duy Trinh,
NCS Lại Thu Hiền, cùng các anh, chị, bạn bè trong nhóm nghiên cứu
Trân trọng cám ơn sự hỗ trợ và tạo điều kiện của tập thể cán bộ ở Trung tâm nghiên cứu đa dạng sinh học, bộ môn Động vật học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, phòng Sau Đại học trường ĐHSP Hà Nội 2, BGH trường THCS Việt Hưng nơi tôi đang công tác
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng tri ân chân thành tới gia đình Bố mẹ và con trai, bạn bè, đồng nghiệp những người đã động viên tinh thần tôi, giúp tôi có động lực để hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
TRẦN BÍCH THỦY
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khoá luận này
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
TRẦN BÍCH THỦY
Trang 4 Kí hiệu viết tắt
C% : Độ phổ biến D% : Độ ưu thế H‟ : Chỉ số đa dạng loài I+1 : Tầng rêu 0-100 cm trên mặt đất I0 : Tầng thảm lá bề mặt đất
I-1 : Tầng đất mặt 0-10 cm I-2 : Tầng đất sâu 11-20 cm J‟ : Chỉ số đồng đều
Chữ viết tắt
HST : Hệ sinh thái KVNC : Khu vực nghiên cứu MĐTB : Mật độ trung bình quần thể VQG : Vườn quốc gia
VQN : Vườn quanh nhà RNT : Rừng nhân tác RTN : Rừng tự nhiên
TCCB : Trảng cỏ cây bụi
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
5 Những đóng góp mới của đề tài 3
NỘI DUNG 5
Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới 5
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam 8
Chương 2.ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Địa điểm nghiên cứu 13
2.3 Thời gian nghiên cứu 14
2.4 Dụng cụ nghiên cứu 15
2.5 Phương pháp nghiên cứu 15
2.5.1 Thu mẫu Oribatida 15
2.5.2 Phân tích và thống kê số liệu 19
Chương 3.KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 22
3.1 Đa dạng thành phần loài Oribatida ở vùng nghiên cứu 22
3.1.1 Danh sách thành phần loài Oribatida ở vùng nghiên cứu 22
3.1.2 Đặc điểm phân bố của Oribatida theo tầng và theo mùa ởvùng nghiên cứu 31
3.1.3 Bàn luận và nhận xét 32
Trang 63.2.1 Biến đổi cấu trúc quần xã Oribatida theo tầng thẳng đứng trong hệ
sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu 33
3.2.1.1 Số lượng loài 34
3.2.1.2 Mật độ trung bình 35
3.2.1.3 Độ đa dạng loài H‟ và độ đồng đều J‟ 36
3.2.1.4 Các loài Oribatida ưu thế và phổ biến trong các tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu 38
3.2.2 Cấu trúc quần xã Oribatida theo mùa ở khu vực nghiên cứu 42
3.2.2.1 Số lượng loài 42
3.2.2.2 Mật độ trung bình Oribatida theo mùa ở các tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất ở khu vực nghiên cứu 43
3.2.2.3 Độ đa dạng loài H‟ theo mùa 43
3.2.2.4 Độ đồng đều J‟ theo mùa ở khu vực nghiên cứu 44
3.2.2.5 Các loài Oribatida ưu thế và phổ biến theo mùa ở khu vực nghiên cứu 45
3.2.3 Bàn luận và nhận xét 51
3.3 Bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị sinh học của quần xã Oribatida 53
3.3.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng quần xã Oribatida như yếu tố chỉ thị sinh học 53
3.3.2 Vai trò chỉ thị sinh học của quần xã Oribatida trong môi trường đất ở khu vực nghiên cứu 54
3.3.2.1 Biến đổi cấu trúc quần xã Oribatida liên quan đến thay đổi tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất 54
3.3.2.2 Biến đổi của cấu trúc quần xã Oribatida liên quan đến thay đổi mùa trong năm 56
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 8Bảng 2.1 Số lượng mẫu thu tại rừng Thông vùng ven VQG Cúc Phương 15 Bảng 3.1 Danh sách loài Oribatida ở khu vực nghiên cứu 24 Bảng 3.2 Thành phần các họ Oribatida ở khu vực nghiên cứu 29 Bảng 3.3 Sự phân bố các bậc taxon của Oribatida theo mùa nghiên cứu 30 Bảng 3.4 Bảng giá trị các chỉ số định lượng của quần xã Oribatida
theotầng sâu thẳng đứng trong HST đất ở khu vực nghiên cứu 34 Bảng 3.5 Một số chỉ số định lượng của Oribatida theo tầng sâu thẳngđứng
trong hệ sinh thái đất và theo mùa ở KVNC 37 Bảng 3.6 Các loài Oribatida ưu thế trong các tầng sâu thẳng đứng trong
hệ sinh thái đất ởkhu vực nghiên cứu 40 Bảng 3.7 Các loài Oribatida phổ biến trong các tầng sâu thẳng đứng ở
khu vực nghiên cứu 41 Bảng 3.8 Các loài Oribatida ưu thế theo mùa ở khu vực nghiên cứu 47 Bảng 3.9 Các loài Oribatida phổ biến theo mùa ở khu vực nghiên cứu 50
Trang 9Hình 2.1 Bản đồ du lịch tỉnh Ninh Bình 13
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida 17
Hình 2.3 Cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan của Ve giáp bậc cao 18
Biểu đồ 3.1 Số lượng loài Oribatida theo tầng sâu thẳng đứng trong hệsinh thái đất ở khu vực nghiên cứu 35
Biểu đồ 3.2 Chỉ số đa dạng loài H‟ và chỉ số đồng đều J‟theo chiều sâu thẳng đứng trong HST đất ở khu vực nghiên cứu 36
Biểu đồ 3.3 Số lượng loài Oribatida theo mùa 42
Biểu đồ 3.4 Mật độ trung bình Oribatida theo mùa 43
Biểu đồ 3.5 Độ đa dạng loài H' theo mùa 44
Biểu đồ 3.6 Độ đồng đều J' theo mùa 44
Biểu đồ 3.7 Sự thay đổi giá trị các chỉ số mật độ trung bình, độ đa dạng loài H‟ và độ đồng đều J‟ của Oribatida trong khu vực nghiên cứu 55
Biểu đồ 3.8 Cấu trúc ưu thế Oribatida ở tầng sâu thẳng đứng 55
Biểu đồ 3.9 Loài ưu thế theo mùa ở tầng đất 11-20cm (I-2) 56
Biểu đồ 3.10 Loài ưu thế theo mùa ở tầng đất 0-10cm (I-1) 57
Biểu đồ 3.11 Loài ưu thế theo mùa ở tầng thảm lá (I0) 57
Biểu đồ 3.12 Loài ưu thế theo mùa ở tầng rêu (I+1) 57
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng, ta có thể gặp hầu hết các đại diện của ngành động vật không xương sống và động vật có xương sống Động vật sống trong đất có số lượng và sinh khối lớn, chiếm hơn 90% tổng sinh khối sinh vật cạn và 50% tổng số động vật trên trái đất, nên chúng là thành phần quan trọng tạo nên tính đa dạng của sinh giới Động vật có vai trò
vô cùng quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không thể thay thế trong các quá trình sinh học trong đất và sinh quyển Nhiều nhóm sinh vật đất có vai trò quan trọng trong việc chỉ thị điều kiện sinh thái của môi trường, góp phần làm sạch môi trường, tiêu diệt hoặc mang truyền một số nhóm kí sinh trùng hay nguồn bệnh khác Đại diện chính của nhóm này là động vật Chân
khớp bé (Microarthropoda)trong đó có Oribatida
Chúng là một trong những nhóm Ve bét đa dạng và phong phú nhất Oribatida tham gia tích cực trong sự phân hủy vật chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và trong quá trình tạo đất Chúng ăn cả thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán dây (sán sơ mít), một vài loài là động vật ăn thịt Do có mật độ quần thể lớn, có thể đạt tới vài trăm nghìn cá thể trong 1m2 đất, thành phần loài đa dạng, nên việc phát hiện đầy đủ nhóm động vật này sẽ góp phần làm chủ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, đánh giá đặc điểm khu hệ và tính chất địa động vật
Nghiên cứu cấu trúc của quần xã Oribatida có ý nghĩa quan trọng trong chỉ thị sinh học, các quá trình diễn thế sinh thái, là cơ sở cho việc quản lý tài nguyên môi trường đất Do số lượng cá thể phong phú, dễ thu lượm, dễ nhận dạng laị rất nhạy cảm với những biến đổi của các điều kiện môi trường sống Đặc biệt là các tác động của con người vào môi trường đất tự nhiên
Trang 11nênOribatida được sử dụng như đối tượng nghiên cứu mẫu, phục vụ công tác quản lí, kiểm tra chất lượng đất và sự ô nhiễm, thoái hóa đất
Cho đến nay, khu hệ Ve giáp thế giới hiện biết khoảng 10000 loài nằm trong hơn 1000 giống khác nhau (chiếm khoảng 20%) và số loài Oribatida thực tế có thể vào khoảng 50.000 loài đến 100.000 loài [49] Các nghiên cứu
về cấu trúc quần xã động vật đất trên thế giới và ở Việt Nam, về sự phân bố, sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến thành phần loài và cấu trúc quần xã, cũng như vai trò chỉ thị của Oribatida ở hệ sinh thái đất rừng còn chưa đầy đủ
Rừng Thông vùng ven Vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo vệ có giá trị sử dụng toàn diện về các mặt bảo vệ thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích văn hóa và phục vụ tham quan du lịch Nguồn tài nguyên sinh học nơi đây được nghiên cứu khá kỹ nhưng chủ yếu tập trung vào khu
hệ động vật có xương sống, nấm, côn trùng và thực vật Các nhóm động vật không xương sống trong đất hầu như biết đến rất ít, đặc biệt là Oribatida (hiện biết 29 loài) [14]
Với tất cả các lý do trên, tôi đã thực hiện nghiên cứu: “Cấu trúc quần
xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất Rừng Thông vùng ven Vườn Quốc gia Cúc Phương”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cấu trúc quần xã Oribatida vềđặc điểm phân bố và mật độ quần thể
ở HST đất rừng Thông vùng ven VQG Cúc Phươngđược nghiên cứu và phân tích đồng bộ, theo 2 mùa (mùa mưa và mùa khô) và theo 4 tầng sâu
Trang 12thẳng đứng trong HST đất rừng ở khu vực nghiên cứu gồm: tầng rêu trên mặt đất (I+1); tầng thảm lá bề mặt đất (I0); tầng đất 0-10 cm (I-1); tầng đất sâu 11
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của quần xã Ve
giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng Thông vùng venVườn Quốc
gia Cúc Phương, và bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị sinh học điều kiện tự
nhiên môi trường của chúng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1 Nghiên cứu đa dạng thành phần loài, và bước đầu giới thiệu đặc
điểm hình thái qua bộ ảnh hiển vi và mật độ của quần xã Oribatida ở vùng nghiên cứu
4.2 Khảo sát biến đổi cấu trúc của quần xã Oribatida theo bốn tầng thẳng đứng và theo hai mùa nghiên cứu
4.3.Bước đầu đánh giá vai trò của quần xã Oribatida như yếu tố sinhhọc chỉ thị biến đổi điều kiện tự nhiên và khí hậu ở vùng nghiên cứu
5 Những đóng góp mới của đề tài
5.1 Luận văn cung cấp số liệu về đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của Oribatida ở HST đất rừng Thông vùng ven VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình theo 4 tầng sâu thẳng đứng và theo 2 mùa nghiên cứu
Trang 135.2 Luận văn cung cấp dẫn liệu về cấu trúc quần xã Oribatida gồm các chỉ số: mật độ trung bình (MĐTB) quần thể, độ ưu thế (D%), độ phổ biến (C%), chỉ số đa dạng loài H‟, chỉ số đồng đều J‟
5.3 Luận văn đưa một số nhận định về tác động của một số yếu tố tự nhiên đến quần xã Oribatida ở HST đất rừng Thông vùng ven VQG Cúc Phương
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Trên thế giới, các nhóm động vật không xương sống nói chung và Oribatida nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm Ở Đức từ năm 1804 với công trình của Hermann J.F; ở Ý với công trình nghiên cứu của Canestrini G & Fanzago F.;…Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây Khu hệ Oribatida thế giới hiện nay đã mô tả khoảng 10.000 loài và thực tế có thể lên tới 100.000 loài [6]
Theo Balogh J và Balogh P (1992), số lượng giống Oribatida trên thế giới đã tăng từ 700 giống đến hơn 1000 giống chỉ trong 20 năm gần đây (Balogh J và Balogh P., 1992) [15]
Theo hệ thống phân loại của Ghilarov và Krivolutsky đề xuất (1975), Oribatida là một nhóm phân bộ Ve bét thực (Acariformes), phân lớp Ve bét
có lỗ thở ẩn (Cryotostigmata), phân lớp Ve bét (Acari), lớp Hình nhện (Arachnida) [21] Còn theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh P đề xuất vào năm 1992 hiện đang được các chuyên gia chuyên ngành Oribatida học trên thế giới sử dụng rộng rãi, Oribatida được nâng lên thành bộ, thuộc lớp Ve bét (Acari), liên lớp động vật Hình nhện (Arachnida), phân ngành có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda) (Balogh J., 1963; Balogh
J and Balogh P., 1992; Vũ Quang Mạnh, 2007) [7], [14], [24]
Trong công trình nghiên cứu của Acari trước đây, các công trình của Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt.Ông là người quan tâm đến Ve bét ở Châu Âu sớm nhất Chỉ từ năm 1981 đến năm 1923, ông đứng tên một mình, hoặc là đồng tác giả của 73 công trình nghiên cứu về
Trang 15Acari, Microarthropoda, Scorpiones Trong đó, ông đã mô tả khoảng 120 loài Oribatida Tuy nhiên tất cả các loài do Berlese mô tả (hầu hết là loài mới cho khoa học)viết bằng tiếng la tinh, rất ngắn gọn, chỉ gồm một vài nét gạch đầu dòng vì thế sau này, các loài do Berlese mô tả đã được Hammen (2009) tu chỉnh, sắp xếp lại dựa trên hệ thống phân loại của Grandjean (1954) và công
bố trong công trình “Berlese‟s primitive Oribatida mites”
Cùng với kết quả nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh chủng loại, khu
hệ, hệ thống học Oribatida, các nghiên cứu về sinh học Oribatida cũng thu được nhiều kế quả có giá trị, trong đó việc nghiên cứu sự phát triển, sinh trưởng trong mối quan hệ với các yếu tố tác động lên chúng là một hướng quan trọng được nhiều tác giả chú ý Bản chất và thời gian phát triển, sinh trưởng của nhóm động vật này còn chưa được điều tra một cách cẩn thận và đầy đủ Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiểu rằng các nhân tố môi trường (như nhiệt độ, đọ pH, hàm lượng mùn, số lượng và chất lượng thức ăn…) và mật độ của các nhóm Chân khớp khác có thể ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của hầu hết Oribatida (Ermilov và Lochynska, 2008) [31]
Oribatida có kích thước từ 0,1- 3mm.Vòng đời của Oribatida bao gồm một giai đoạn hậu phôi hoạt động, tiền nhộng, hậu nhộng, nhộng tuổi 3 và nhộng trưởng thành (Behan – Pelletier, 1999; Ermilov và Lochynska, 2008) [31], [45]
Song song với hướng nghiên cứu khu hệ, sinh học Oribatida, hướng nghiên cứu các đặc điểm sinh thái,đa dạng sinh học và vai trò chỉ thị của Oribatida cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
Oribatida tham gia tích cực trong sự phân huỷ vật chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và trong quá trình tạo đất Tất cả các giai đoạn trong chu kì sống của chúng đều ăn một phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán dây
Trang 16(sán sơ mít), một vài loài là động vật ăn thịt,không có loài nào sống kí sinh (Krants, 1978) [14] Oribatida tham gia vào quá trình phân huỷ mùn và cấu trúc đất bằng cách nghiền nát các hợp chất hữu cơ.Phân của chúng dưới dạng viên đã bổ xung một diện tích bề mặt lớn trong quá tình phân huỷ và lại trở thành phần trọn vẹn trong tầng hữu cơ của đất.Oribatida là nhóm quan trọng nhất trong số các động vật thuộc lớp Hình nhện có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và duy trì cấu trúc đất [8];[11]
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay quần
xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón (Oribatida chịu ảnh hưởng có chọn lọc đối với thuốc trừ sâu)…Sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, chỉ thị cho môi trường đô thị…[7];[8]
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ thị trong việc đánh giá chất lượng sinh thái trên cạn là ở chỗ: chúng có độ đa dạng cao, thu lượm với một số lượng lớn một cách dễ dàng, ở tất cả các mùa trong năm, trong nhiều sinh cảnh, việc định loại cá thể trưởng thành tương đối
dễ, hầu hết chúng sống trong tầng hữu cơ của lớp đất màu mỡ Chúng bao gồm các taxon được đặc trưng bởi sự sinh sản nhanh, thời gian sống của các con non trưởng thành dài, khả năng tăng quần thể chậm…(Behan – Pelletire, 1999) [12]
Linden et al, (1994) đã lập ra một danh sách các loài động vật đất mà
các loại này có thể sử dụng như những sinh vật chỉ thị tiềm tàng trong việc đánh giá chất lượng đất Chúng bao gồm những đặc trưng ở mức độ cá thể riêng lẻ (ví dụ: tập tính, sự phát triển), ở mức độ quần xã (ví dụ: độ giàu loài, các nhóm dinh dưỡng, các nhóm chức năng) và ở mức độ các quá trình sinh học (ví dụ: quá trình tích lũy sinh học, quá trình biến đổi chất)
Trang 17Việc sử dụng những đặc trưng ở mức độ cá thể ở Oribatida như sinh vật chỉ thị cho việc đánh giá chất lượng đất vẫn còn đang ở giai đoạn khởi đầu.Trong 15 năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về phản ứng sinh thái và sinh sản của các loài Oribatida với những biến đổi của môi trường
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu Oribatida đã có từ rất lâu trên thế giới, được nghiên cứu một cách có hệ thống về cả khu hệ, sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị.Nhưng ở Việt Nam thì hướng nghiên cứu về nhóm này mới chỉ bắt đầu trong thời gian gần đây
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam
Ở Việt Nam động vật Chân khớp bé ở đất đã được nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỉ XX Ban đầu là các nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả ngoài kết hợp nghiên cứu cùng các nhóm sinh vật khác
Năm 1967, lần đầu tiên trong công trình “New from Viet Nam” hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka S đã giới thiệu khu hệ, danh pháp học và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp, trong đó đã mô tả 29 loài,
4 giống mới cho khoa học
Sau năm 1975, Oribatida mới được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu sâu Ban đầu có những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Manhunka (1987) [5], Behan- Pelletier (1999) [31]…Tiếp theo còn
có một số công trình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh, Jeleva M., Tsonev I (1987) nghiên cứu về Oribatida ở miền Bắc Việt Nam
Đến năm 1977, các tác giả trong nước bước đầu đã tiến hành các nghiên cứu độc lập về Oribatida Đầu tiên là công trình nghiên cứu của tác giả
Vũ Quang Mạnh về nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau (Minh Hải) và Từ Liêm (Hà Nội) năm 1980, 1984 [6], [7]
Năm 1990, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam cho đến thời điểm đó Tác giả đã rút ra kết
Trang 18luận về thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Microarthropoda, nêu lên một số quy luật sinh thái quyết định sự hình thành cấu trúc của quần xã Oribatida ở đất Tác giả đưa ra danh sách 117 loài Oribatida đã biết đến ở Việt Nam cho đến thời điểm đó, cùng với phân bố của chúng theo vùng địa lí, loại đất và hệ sinh thái [12]
Năm 1994, trong thông báo khoa học các trường Đại học, Vũ Quang Mạnh đã giới thiệu danh sách 28 loài Oribatida sống ở vùng đất ven biển Yên Hưng (Quảng Ninh), đảo Cát Bà (Hải Phòng) và đồng bằng sông Hồng (Từ Liêm- Hà Nội) Tác giả cũng nêu lên mối quan hệ giữa Oribatida vùng ven biển và vùng đảo so với Oribatida sống ở đất liền [14]
Năm 1995, trong hội thảo báo cáo khoa học Phục hồi và Quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, Vũ Quang Mạnh đã giới thiệu đặc điểm phân bố, mật độ thành phần Chân khớp bé ( Microarthropoda), trong đó có Oribatida ở hệ sinh thái đất ven biển Việt Nam Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa (1995) đã giới thiệu danh sách 146 loài và phân loài Oribatida ở Việt Nam cùng với đặc điểm phân bố của chúng [13] Khi nghiên cứu vai trò chỉ thị của Chân khớp bé ở đất vùng rừng thị trấn Tam Đảo, tập trung vào ve bét
và bọ nhảy, Vương Thị Hòa đã nhận định nhóm Microarthropoda có thể được khảo sát như một yếu tố chỉ thị sự suy kiệt của thảm thực vật rừng Các chỉ số phong phú, thành phần phân loại học, cấu trúc nhóm Microarthropoda, đặc biệt là số lượng giữa các nhóm Oribatida và Collembola, tỷ lệ nhiễm sán dây Cestoda của Oribatida là có quan hệ rõ rệt nhất với sự suy kiệt thảm thực vật
ở vùng rừng thi trấn Tam Đảo
Năm 1996, Vũ Quang Mạnh, Lạc Văn Tạc, Nguyễn Văn Sức đã nghiên cứu quần xã động vật chân khớp bé (Microarthropoda) và động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ cỏ Sofit cho lúa [15]
Trang 19Năm 2005, trong báo cáo khoa học tại Hội nghị Côn trùng học toàn Quốc lần thứ V , Vũ Quang Mạnh và Nguyễn Xuân Lâm đã công bố khu hệ Oribatida Việt Nam, xác định được 158 loài thuộc 46 họ mang tính chất Ấn
Độ - Mã Lai thuộc vùng địa động vật Đông Phương Song khu hệ Oribatida ở Việt Nam có tính chất chuyên biệt cao và có nhiều đặc điểm chung với các khu hệ Thái Lan, Indonesia, Malaisia, Nhật Bản và các đảo Nam Thái Bình Dương (Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, 2005) [13]
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh và cộng sự công bố Oribatida họ Oppidae Grandjean, 1954; phân họ Oppiinae Gradjean, 1951 và Multioppiinae Balogh,
1983 ở Việt Nam [21]
Năm 2007, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết và giới thiệu toàn bộ các loài Oribatida đã phát hiện từ trước tới nay ở Việt Nam của các tác giả trong và ngoài nước trong công trình Động vật chí Việt Nam Ông đã giới thiệu hệ thống phân loại và danh pháp đầy đủ nhất của 150 loài trong khoảng 180 loài Oribatida đã biết của khu hệ động vật Việt Nam.[15]
Những nghiên cứu về Chân khớp bé ở Việt Nam cho thấy: việc nghiên cứu Microarthropoda đã đề cập một cách toàn diện và có hệ thống kết quả cao Tuy nhiên đây chỉ là những kết quả của bước đầu, để tìm hiểu thấu đáo vai trò của nhóm động vật Chân khớp bé sống trong môi trường đất, đưa
Microathropoda ứng dụng vào các lĩnh vực khoa học và thực tiễn thì việc
nghiên cứu cần đẩy mạnh trong các năm tiếp theo
Vũ Quang Mạnh, 2009 xác định thêm khu hệ Ve giáp ở Việt Nam hiện đã xác định được có đại diện của 4 giống thuộc họ Lohmanoidae Berlese, 1961 Riêng giống Papillacarus Kunst, 1959 hiện biết ởViệt Nam có
3 loài (Vũ Quang Mạnh, 2009)
Về nghiên cứu cấu trúc quần xã, tác giả Vũ Quang Mạnh và cs
đã nghiên cứu cấu trúc quần xã chân khớp bé trong đó có Oribatida,
Trang 20về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng ở vùng đồng bằng Sông Hồng Thành phần loài Oribatida xác định được phong phú ở sinh cảnh bãi cỏ hoang, với 15 loài Số lượng loài Oribatida giảm dần từ sinh cảnh RTN và VQN, đều có 9 loài; đến RNT và đất trồng cây gỗ lâu năm, với 7 loài, thấp nhất ở ruộng lúa cạn, với 2 loài (Vũ Quang Mạnh và cs., 2008) [17]
Trong báo cáo tại hội nghị Techmart tại Tây Nguyên tháng 4/2008, tác giảVũ Quang Mạnh và cs chỉ ra trong cấu trúc quần xã động vật đất thì Ve giáp chiếm ưu thế, vào khoảng 40 – 50%, có vai trò quan trọng trong nghiên cứu hệ sinh thái đất (Vũ Quang Mạnh và cs., 2008) [18]
Luận án Tiến sĩ Sinh học của Đào Duy Trinh, 2011 nghiên cứu vềthành phần và cấu trúc quần xã Ve giáp ở VQG Xuân Sơn (Phú Thọ) đã xác định được 102 loài và 1 phân loài Oribatida, thuộc 48 giống và 28 họ Tác giảcũng chỉ ra những thay đổi về sự phân bố thành phần loài theo đai cao khí hậu (giảm dần từ 300m đến 1600m), số loài giảm đi khi di chuyển từ mùa khô sang mùa mưa Khẳng định rõ yếu tốẤn Độ- Mã Lai của khu hệ Oribatida ởVQG Xuân Sơn [22]
Một công trình khác nghiên cứu về Oribatida ở VQG Phong Nha – KẻBàng (Quảng Bình) của Nguyễn Hải Tiến, Vũ Quang Mạnh Các tác giảnghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của cấu trúc quần xã Ve giáp với sựthay đổi điều kiện môi trường ở khu vực nghiên cứu Các tác giả đã ghi nhận: vào mùa khô ở tầng đất 0-10cm số lượng loài Oribatida giảm theo thứ tự: RTN trên núi đá vôi > RTN trên núi đất > RNT trên núi đất > RNT trên núi đá vôi Vào mùa mưa, số lượng loài giảm theo thứ tự: RTN trên núi đá vôi >RNT trên núi đất > RTN trên núi đất > RNT trên núi
đá vôi Như vậy, sốlượng loài Oribatida có sự biến đổi theo từng loại đất, theo độ che phủ của thực vật và mức độ tác động của con người Đây là cơ
Trang 21sở sử dụng nhóm động vật này như một chỉ thị sinh học đối với sự biến đổi môi trường [21]
Trong các công trình được công bố gần đây thì có thểnói công trình có mức độ chuyên sâu và toàn diện nhất là công trình nghiên cứu về hệ thống địa động vật Oribatida về hình thái và vai trò trong HST của tác giả Vũ Quang Mạnh, các kết quả được trình bày trong luận án Tiến sĩ khoa học năm 2013 của tác giả Trong công trình này ghi nhận 316 loài và 4 phân loài, thuộc 163 giống, 60 họ và 2 phân họ Trong đó, có 111 loài (34,68%) đặc trưng chỉ phát hiện ở Việt Nam, 155 loài (chiếm 48,44%) lần đầu tiên được phát hiện chokhu hệ Ve giáp Việt Nam [20]
Trong công trình này, tác giảcòn nghiên cứu và tổng kết vai trò phân hủy xác thực vật, cấu trúc quần xã của chúng liên quan đến việc sử dụng cácthành phần hữu cơ và phân bón hóa học khác nhau trong sản xuất nông nghiệp Do vậy, những cấu trúc này có thểsửdụng như các chỉthịsinh học tiềm năng cho sự phát triển bền vững của HST nông nghiệp
Tóm lại, trong giai đoạn này các nghiên cứu vềOribatida tiếp tục được các tác giả đặc biệt là các tác giả trong nước đi sâu và mở rộng nghiên cứu vềcác hướng: khu hệ, cấu trúc quần xã, … đặc biệt là vai trò chỉ thị sinh học đối với sự thay đổi các điều kiện môi trường
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhóm Ve giáp (Acari: Oribatida) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lớp Ve bét (Acari)
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tôi thực hiện nghiên cứu tại rừng Thông thuộc khu du lich Hồ Đồng Chương vùng ven VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
Hình 2.1: Bản đồ du lịch tỉnh Ninh Bình [48]
Ghi chú: Địa điểm thu mẫu
Hồ Đồng Chương là một hồ nước ngọt thiên nhiên nằm giáp ranh giữa
hai xã Phú Lộc và Phú Long huyện Nho Quan, tỉnhNinh Bình
Hồ nằm uốn lượn quanh các vạt đồi thông và có chu vi dài gần 8 km
So với hồ Đồng Thái và hồ Kỳ Lân thì hồ Đồng Chương nằm xa các trung
Trang 23tâm đô thị hơn (khu vực đệm của vườn quốc gia Cúc Phương), nên khung cảnh hồ khá hoang sơ và tĩnh lặng
Xung quanh hồ là những vạt đồi thông soi bóng tạo nên một không gian trong mát và thơ mộng giữa núi rừng đại ngàn
Cách trung tâm thị xã Ninh Bình 30km, khu du lịch hồ Đồng Chương toạ lạc trên diện tích 450ha rừng thưa, đồi thông và hồ nước, thuộc địa phận hai xã Phú Lộc và Phú Long, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chương được triển khai đầu tư nhằm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, kéo dài thời gian lưu trú của khách Khu du lịch sinh thái hồ Đồng Chương bao gồm: khu vui chơi giải trí cho thiếu nhi, khu thể dục thể thao, khu cắm trại, dã ngoại xen lẫn rừng thưa, sân golf chín lỗ
Hồ Đồng Chương là một hồ nước rộng, nước trong xanh, xung quanh
hồ là những đồi thông xanh mướt reo vi vút soi bóng xuống mặt hồ làm cho cảnh sắc nơi đây thật thơ mộng Du khách có thể đi thuyền dạo quanh hồ, thả hồn hoà cùng thiên nhiên.Cảnh sắc cứ hiện dần ra như những bức tranh thuỷ mặc
Gần hồ Đồng Chương còn có thác Ba Tua và dòng chín suối Sau khi ngồi thuyền, du khách có thể leo lên đồi thông để xem Ao Trời Ao ở trên đỉnh đồi cao, nước trong xanh và không bao giờ cạn
Người ta ví hồ Đồng Chương và đồi thông Ninh Bình là Đà Lạt ở miền Bắc
2.3 Thời gian nghiên cứu
Trong năm 2013, chúng tôi đã tiến hành 2 đợt nghiên cứu và thu mẫu ngoài thực địa, tương ứng với 2 mùa đầu mùa mưa và đầu mùa khô
Đợt 1: tháng 5/2013
Đợt 2: tháng 12/ 2013
Trang 24Tổng sốmẫu định lượng (ĐL) và định tính (ĐT) ở 2 tầng đất, thảm lá, tầng rêu tại rừng Thông thể hiện trong bảng:
Bảng 2.1 Số lượng mẫu thu tại rừng Thông vùng ven VQG Cúc Phương
Tầng đất
(0 - 10 cm)
Tầng đất (11 - 20 cm)
Dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:
Hệ thống lọc mẫu đất (rây lọc, phễu lọc,…)
Dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêu bản: đĩa petri, lam kính, lamen, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm, bông
Kính lúp Olympus SZ40; Kính hiển vi Olympus CH2; Chụp ảnh Oribatida ở kính Olympus có độ phóng đại từ 40 - 100 lần
Hoá chất sử dụng: Glixerol, Formol, Cồn tuyệt đối
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Thu mẫu Oribatida
Thu mẫu đất, lá và rêu
Ở VQG Cúc Phương, Ninh Bình chúng tôi tiến hành thu mẫu tầng đất, tầng rêu và thảm lá, định lượng theo các sinh cảnh nghiên cứu khu hệ và thu
Trang 25lặp lại theo lịch thu mẫu trong năm Mẫu đất được lấy ở độ sâu 0 - 10 cm và
11 – 20cm với kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x10 cm
Đối với thảm lá rừng phủ trên mặt đất, chúng tôi tiến hành gom tất cả lá mục, cành cây, xác hữu cơ phủ trên mặt đất có diện tích (20cm x 20cm),
đem cân và ghi lại trọng lượng, sau đó tính trung bình để biết trên 1m2diệntích có trọng lượng thảm lá rừng là bao nhiêu
Đối với các mẫu thảm rêu mẫu định lượng là từ 200 – 300 gram rêubám thân cây gỗ rừng, xác vụn thực vật ở trên mặt đất nằm ở độ cao từ0- 100 cm trên mặt đất Các mẫu này đều cân trọng lượng mỗi mẫu và tính trung bình theo kg
Để xử lý mẫu, bảo quản và định loại: Các ống nghiệm chứa động vật thu được nhờ phễu “Berlese - Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trong đĩa petri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa dung dịch định hình là cồn tuyệt đối Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghiđầy
đủ ngày thu mẫu, địa điểm Toàn bộ tiêu bản định loại và các mẫu vật được bảo quản tại Phòng Động vật, Khoa Sinh – KTNN, Đại học sư phạm Hà Nội
Trang 26 Đặc điểm hình thái phân loại
Hình 2.2: Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida
(từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [14]
Prosomalà phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, III và IV Proterosomalà phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước Hysterosoma là phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp
sinh dục (G) và 2 đôi chân sau
Prodorsum là tấm giáp đầu ngực; Notogaster là tấm giáp lưng
Gnathosoma là phần hàm miệng
Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và II
Metapodosoma là phần thân giữa mang đôi chân III và IV
Podosoma là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân
Trang 27Hình 2.3 Cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan của Ve giáp bậc cao
a Mặt lưng b Mặt bụng c Mặt bên
(từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [14]
Ro: chóp đỉnh rostrum
Ro, lm: Lông rostrum, tấm lamella
Le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus
Bothridium: Gốc của lông sensilus
Exa và Exp: lông trước gốc Bothridium và lông sau gốc Bothridium Tutorium: Tấm kitin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella Cuspis : Phần đỉnh của tấm lamella, không chìa lên trên bề mặt cơ thể Mentotectum: Tấm viền cằm
Pteromorpha: tấm cánh nối với notogaster
Custodium: là của tấm kitin nhọn, chạy dài từ pd4 đến pd1
Discidium: là tấm gốc của Custodium chìa lên mặt cơ thể, nằm ở phần
gốc các chân
c
Trang 28 Định loại Oribatida
Mẫu Oribatida, trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong
vỏ kintin cứng Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ
bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng Đặt lamel ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm dưới lamel chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng
và bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang ở kính hiển vi
Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh; tất cả các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định hình bằng formol 4% Dùng giấy can ghi các thông số tên loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm được đặt chung vào lọ thuỷ tinh lớn chứa formol 4% để bảo quản lâu dài Ghi tất cả các tên loài đã được định loại vào nhật ký phòng thí nghiệm
Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh P.,
1992
Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả: Baker E et al., 1952; Grandjean, 1954; Ghilarov M., et al, 1975; Norton R A., 1990; Willmann, 1931; Vũ Quang Mạnh, 2007
2.5.2 Phân tích và thống kê số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên nền phần mềm Primer 6; phần mềm Excell 2003 và các công thức tính toán:
Trang 29 Mật độ trung bình (M)
Mật độ trung bình (M) được tính số lượng cá thể trung bình có ở tất cả các lần thu mẫu của điểm nghiên cứu
Trong đó:
M : Mật độ trung bình
N : Tổng số cá thể trong KVNC
V (S) : Thể tích hoặc diện tích của KVNC
Độ ưu thế (D) tính theo công thức:
100
a
n D N
Trong đó:
na : số lượng cá thể của loài a
N : tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay địa điểm
Độ thường gặp(C)
Trong đó:
Na : Số lượng mẫu thu có chứa loài a
N : Tổng số lượng mẫu của sinh cảnh nghiên cứu Loài phổ biến là loài có độ thường gặp (C) có giá trị từ 50% trở lên
Độ đa dạng loài (H’)- Chỉ số Shannon- Weaver
Trang 30N : Tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu Giá trị H‟ dao động từ 0 đến ∞
Độ đồng đều (J’)- Chỉ số Pielou
Trong đó:
H‟ : Độ đa dạng loài
S : Số loài có trong sinh cảnh Giá trị J‟ dao động từ 0 đến 1
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đa dạng thành phần loài Oribatida ở vùng nghiên cứu
3.1.1 Danh sách thành phần loài Oribatida ở vùng nghiên cứu
Khu hệ Oribatida ở hệ sinh thái đấtrừng Thông vùng ven Vườn Quốc gia Cúc Phương,đã xác định được 52 loài, thuộc 29 giống, 15 họ (bảng 3.1) Các họ đó là: Haplochthoniidae Hammer, 1959; Euphthiracaridae Jacot 1930; Lohmanniidae Berlese, 1916; Eremulidae Grandjean, 1965; Basilobelbidae Balogh, 1961; Tectocepheidae Grandjean, 1954; Otocepheidae, Balogh, 1961; Oppiidae Grandjean, 1954; Xylobatidae J Balogh et P Balogh, 1984; Haplozetidae Grandjean, 1936; Scheloribatidae, Grandjean, 1953; Oripodidae Jacot, 1925; Austrachipteriidae Luxton, 1985; Galumnellidae Piffl, 1970; Galumnidae Jacot, 1925
Trong số 52 loài Oribatida đã xác định được ở vùng nghiên cứu có 3
loài ở dạng sp (mới định loại đến giống), các loài đó là: Lanceoppia sp.;
Peloribates sp.; Pergalumna sp Bổ sung 33 loài cho khu hệ Ve giáp
Cúc Phương (so với thống kê của Vũ Quang Mạnh, 2007) [14]
Do việc thu mẫu còn nhiều hạn chế, thời gian ngắn nên chúng tôi chắcrằng số loài biết đến còn khá ít so với số lượng loài thực tế ở khu vực này Vìvậy cần có nhiều đợt thu mẫu hơn nữa
Kết quả phân tích bảng 3.1 cho thấy: trong 15 họ, có số giống và số loài cao nhất là: Oppiidae Grandjean, 1954(8 giống, 9 loài), tương ứng 27,5% và 17,3 % tổng số giống, loài; và 6,6 % tổng số họ Họ này cũng được xác định là đa dạng thành phần loài nhất.Bên cạnh đó, họ Lohmanniidae Berlese, 1916có 5 giống, nhưng số loài ít hơn (có 5 loài, chiếm 9,6 % tổng
số loài).Họ Scheloribatidae, Grandjean, 1953 có 2 giống, 8 loài (chiếm 6,8%
và 15,3 % tổng số giống, loài) Họ Xylobatidae J Balogh et P Balogh,
Trang 321984có 2 giống, 5 loài (chiếm 6,8 % và 9,6 % tổng số giống, loài) Họ có 2 giống, 2 loài (chiếm 6,8 % và 3,8% tổng số giống, loài) đó là các họ Haplochthoniidae Hammer, 1959; Oripodidae Jacot, 1925 Họ, Otocepheidae, Balogh, 1961 có 1giống, 6 loài (chiếm 3,4 % và 11,5 % tổng số giống, loài) HọHaplozetidae Grandjean, 1936 có 1 giống, 5 loài (chiếm 3,4 % và 9,6 % tổng số giống, loài) Họ Eremulidae Grandjean, 1965và Galumnidae Jacot, 1925đều có 1 giống và 3 loài, tương ứng 3,4 % và 5,7 % tổng số giống, loài Còn lại 5họ chỉ có 1 giống và 1 loài (chiếm 33,3% tổng số họ)
Đó là các họ: Euphthiracaridae Jacot 1930; Basilobelbidae Balogh, 1961; Tectocepheidae Grandjean, 1954; Austrachipteriidae Luxton, 1985; Galumnellidae Piffl, 1970
Trang 33Bảng 3.1 Danh sách loài Oribatida ở khu vực nghiên cứu
Trang 348 GiốngEremulusBerlese, 1908
Trang 3521 Lanceoppia sp x
Trang 3635 Peloribates ratubakensis (Hammer, 1979) x
Trang 3749 Galumnella subareolata (Mahunka, 1969) x x x x x
Ghi chú:
I-2: Tầng đất 11-20 cm I0: Tầng thảm lá trên bề mặt đất I-1: Tầng đất 0-10 cm I+1: Tầng rêu từ 0-100 cm trên mặt đất
Trang 38Bảng 3.2 Thành phần các họ Oribatida ở khu vực nghiên cứu
Trang 39Bảng 3.3 Sự phân bố các bậc taxon của Oribatida theo mùa nghiên cứu
Trang 403.1.2 Đặc điểm phân bố của Oribatida theo tầng và theo mùa ở vùng nghiên cứu
Các kết quả phân tích đặc điểm phân bố của Oribatida được thể hiện ở bảng 3.1 và bảng 3.3
Số loài Oribatida cả khu vực nghiên cứu là 52 loài, trong đó 37 loài có mặt vào mùa mưa, 27 loài có mặt vào mùa khô (bảng 3.1)
Về sự phân bố Oribatida theo mùa, kết quả phân tích bảng 3.1 cho thấy:
- 25 loài chỉ có mặt vào mùa mưa (chiếm 48,1% tổng số loài ở khu vực nghiên cứu)
- 15 loài chỉ có mặt vào mùa khô (chiếm 28,8% tổng số loài ở khu vực nghiên cứu)
- 12 loài có mặt ở cả hai mùa (chiếm 23,1 % tổng số loài ở khu vực nghiên cứu)
Sự phân bố theo tầng sâu thẳng đứng trong HST đất ở KVNC:
- Tầng rêu (I+1)
+ Số loài: xuất hiện ở mùa mưa là 8 loài và ở mùa khô là 8 loài
+ Số loài chung xuất hiện ở cả hai mùa là 2 loài: Eremulus flagellifer Berlese, 1908, Scheloribates laevigatus (C L Koch, 1836)
- Tầng lá (I0)
+ Số loài xuất hiện ở mùa mưa là 13 loài và ở mùa khô là 17 loài
+ Số loài xuất hiện ở cả hai mùa là 2 loài: Scheloribates
laevigatus (C L Koch, 1836), Pergalumna longisetosa (Balogh, 1960)
- Tầng đất 0-10 cm (I-1)
+ Số loài xuất hiện ở mùa mưa là 18 loài, ở mùa khô là 15 loài
+ Số loài xuất hiện ở cả hai mùa là 7 loài: Lohmannia javana Balogh,
1961, Eremulus flagellifer Berlese, 1908, Brasilobates rhomboideas (Hammer, 1972), Peloribates kaszabi Mahunka, 1988, Scheloribates