LỜI CAM ĐOAN Đề tài Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-
BÙI THỊ VĨ THU
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP
GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH TRONG RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÁC NGHI THỨC LỜI NÓI
CHO HỌC SINH LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-
BÙI THỊ VĨ THU
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP
GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH TRONG RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÁC NGHI THỨC LỜI NÓI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Có được kết quả này, trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Anh Xuân, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học, các thầy
cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức chuyên ngành cần thiết và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp trường Tiểu học Trung Tự - quận Đống Đa (nội thành Hà Nội) và trường Tiểu học Đại Mỗ
- huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp
đỡ tôi hoàn thiện công trình này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói (phân môn Tập làm văn) cho học sinh lớp 2 được tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ
sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác cộng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân
Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác đã công bố
Bùi Thị Vĩ Thu
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Giả thuyết khoa học 8
7 Bố cục luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Cơ sở lí luận 10
1.1.1 Lí thuyết giao tiếp 10
1.1.2 Lý thuyết về nghi thức lời nói 18
1.1.2 Tích hợp nếp sống thanh lịch - văn minh (lịch sự) thông qua giao tiếp 21
1.1.4 Cơ sở lí luận Tâm lí HS lớp 2 24
1.1.5 Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS lớp 1, 2 liên quan đến kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Thực trạng dạy - học kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong phân môn TLV lớp 2 hiện nay 28
1.2.2 Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học sinh trong nhà trường 31
Tiểu kết 35
Chương 2 VẬN DỤNG LÍ THUYẾT GIAO TIẾP, TÍCH HỢP GIÁO DỤC NẾP SỐNG THANH LỊCH - VĂN MINH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG CÁC NGHI THỨC LỜI NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2 36
2.1 Các nghi thức lời nói trong chương trình tiếng việt tiểu học 36
2.1.1 Các bài TLV liên quan đến kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói cho HS lớp 2 36
Trang 62.1.2 Mục tiêu cần đạt của các bài TLV liên quan đến kĩ năng sử dụng
các nghi thức lời nói cho HS lớp 2 38
2.2 Vận dụng lý thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch- văn minh trong việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói cho học sinh lớp 2 39
2.2.1 Vận dụng lý thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch thanh lịch văn minh trong việc rèn kĩ năng sử dụng nghi thức lời nói Chào cho học sinh lớp 2 39
2.2.2 Vận dụng lý thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch thanh lịch văn minh trong việc rèn kĩ năng sử dụng nghi thức lời nói Tự giới thiệu cho học sinh lớp 2 43
2.2.3 Vận dụng lý thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch thanh lịch văn minh trong việc rèn kĩ năng sử dụng nghi thức lời nói Cảm ơn cho học sinh lớp 2 49
2.2.4 Vận dụng lý thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch thanh lịch văn minh trong việc rèn kĩ năng sử dụng nghi thức lời nói Xin lỗi cho học sinh lớp 2 55
Tiểu kết 60
Chương 3: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG THỬ NGHIỆM 63
3.1 Định hướng thiết kế giáo án 63
3.2 Tiến trình tổ chức các hoạt động trên lớp 64
3.3 Nội dung dạy học cơ bản 65
3.3.1 Nghi thức lời nói chào 65
3.3.2 Nghi thức lời nói tự giới thiệu 75
3.3.3 Nghi thức lời nói cảm ơn 83
3.3.4 Nghi thức lời nói xin lỗi 90
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC
Trang 8Quan điểm giao tiếp là một trong những mục tiêu chính để xây dựng chương trình môn Tiếng Việt cải cách giáo dục ở Tiểu học Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, kĩ năng giao tiếp được rèn qua nhiều phân môn nhưng nổi bật hơn cả là phân môn Tập làm văn (TLV) Trong đó, Nghi thức lời nói (NTLN):
chào, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi rất quan trọng và phổ biến trong giao tiếp
hàng ngày của cuộc sống Đây cũng là một nội dung quan trọng trong việc dạy
và học trong chương trình môn Tiếng Việt - phân môn TLV
Trong đó việc dạy NTLN có điều kiện tích hợp với dạy văn hóa ứng xử, dạy đạo đức, dạy kĩ năng sống… là những vấn đề đang được ngành giáo dục
và xã hội quan tâm Với những thành tựu khoa học kĩ thuật, khoảng cách giữa các dân tộc, quốc gia và con người ngày càng thu hẹp Giao tiếp văn hóa của mọi dân tộc đều có đặc điểm chung là mở rộng, du nhập lẫn nhau nhưng mặt trái của việc cởi mở, hội nhập này dễ dẫn đến văn hóa giao tiếp, cử chỉ, cách xưng hô cũng ảnh hưởng, pha trộn, vay mượn của nhau - nhất là trong giới trẻ
- đã làm mất đi những nét văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam Giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt Sử dụng tiếng Việt, tiếng Anh và các thứ tiếng, xưng hô chào hỏi thế nào cho đúng bản sắc dân tộc hay cho có văn hóa - là vấn đề nhà trường bắt buộc phải quan tâm Chính vì vậy, việc dạy sử dụng các
Trang 92 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề giao tiếp
Giao tiếp là mối quan hệ giữa con người với con người Trong giao tiếp diễn ra mối quan hệ giữa chủ thể với chủ thể nên tất cả các mối quan hệ không phải giữa chủ thể đều không được gọi là giao tiếp Trong quá trình giao tiếp nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý được biểu hiện ở quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau Khi có sự tiếp xúc giữa một người với một người khác (hoặc với một nhóm người khác) thì người ta thông báo cho nhau những thông tin Nội dung thông báo có thể là các hiện tượng trong đời sống sinh hoạt, cuộc sống )
Giao tiếp là một kĩ năng rất cần thiết đối với mỗi chúng ta Kĩ năng giao tiếp tốt thể hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác, tinh tế Lê-Nin đã từng nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” Một trong những nội dung của việc dạy tiếng Việt ở tiểu học là dạy như dạy một công cụ giao tiếp: mục đích, nội dung, phương pháp dạy học và cách thức đánh giá kết quả đều phải xây dựng trên quan điểm này
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy, hình thức tổ
chức dạy học môn tiếng Việt ở tiểu học như Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học của tác giả Lê Thị Thanh Bình, Một số vấn đề dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu học tác giả Nguyễn Trí, Bàn về hệ thống bài tập dạy học tiếng Việt theo nguyên tắc giao tiếp tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp Các công trình
Trang 103
nghiên cứu về dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp trên đã trình bày những vấn đề của lí thuyết giao tiếp bằng những dẫn chứng sinh động cụ thể, trong phân tích và đã được áp dụng trong thực tế
Dựa trên cơ sở nghiên cứu của các tác giả và hướng nghiên cứu trong các cuốn sách trên, đã có nhiều ứng dụng trong việc sử dụng, vận dụng và tích hợp lý thuyết giao tiếp thông qua một số nghi thức lời nói: chào, xin lỗi, cám ơn Song làm thế nào để vận dụng được lí thuyết giao tiếp đó vào việc dạy
và học môn Tiếng Việt phân môn TLV cho HS Tiểu học để các em có thể giao tiếp một cách có văn hóa, thanh lịch Ngoài ra, nhiều GV trong quá trình giảng dạy chưa có cái nhìn sâu sắc về vấn đề trên nên hiệu quả dạy và học môn Tiếng Việt nói chung và việc rèn kỹ năng sử dụng các NTLN nói riêng chưa cao Đó là một thực tế mà trong luận văn này, sẽ phân tích và trình bày sâu hơn
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Thủ đô
Sau kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nhiều chương trình
về giáo dục nếp sống Thanh lịch - văn minh đã được triển khai rộng khắp thành phố và đạt được nhiều thành công Chương trình 04-CTr/TU - 2014 của Thành ủy Hà Nội (khóa XV) với ba nội dung: Phát triển văn hóa - xã hội; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô; xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh đã được triển khai đồng bộ trên địa bàn Thủ đô Trước đó, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Nhà xuất bản Hà Nội xây dựng Đề án biên soạn Bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh” để đưa vào giảng dạy cho HS các trường phổ thông ở Hà Nội Bộ tài liệu đã được áp dụng trong việc giảng và dạy tại các trường tiểu học trong thành phố và ngày càng được hoàn thiện thông qua các việc dạy và học cũng như các sáng tạo và áp dụng trong thực tế Bộ tài liệu biên soạn cho từng cấp bao gồm tài liệu dành cho HS
Trang 114
và tài liệu hướng dẫn giảng dạy cho GV Bên cạnh đó, còn có thể kể ra rất nhiều tài liệu nghiên cứu về nếp sống thanh lịch, văn minh như:
- Nguyễn Viết Chức (Chủ biên) (2001), Nếp sống người Hà Nội, Viện
Văn hóa và nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội
- Hoàng Đạo Thúy (2010), Nét văn hóa thanh lịch của người Hà Nội,
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
- Thái Hà (2009), Bé học ứng xử văn minh, Nhà xuất bản Thời đại
- Giang Quân (2010), Văn hóa gia đình người Hà Nội, Nhà xuất bản Thời đại
Các tài liệu kể trên mới nói về cách ứng xử trong gia đình, ngoài xã hội sao cho thanh lịch, văn minh, chưa đưa ra các bài học và thực tiễn trong cách tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc dạy phân môn TLV lớp 2 Thực tế trong việc tích hợp lý thuyết giao tiếp với giáo dục nếp sống văn minh thanh lịch trong rèn kỹ năng sử dụng nghi thức lời nói, mà cụ thể ở đây là phân môn TLV với nghi thức lời nói: chào, cảm ơn, xin lỗi
2.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề dạy - học về NTLN hiện nay
Về phân môn TLV trong trường Tiểu học đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và thể hiện rõ quan điểm của mình qua các công trình nghiên cứu như Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Nguyễn Minh Thuyết
Tác giả Nguyễn Trí trong một công trình cùng đồng tác giả Lê Phương
Nga cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt đã thể hiện chiến lược dạy học
Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Đó là hướng đi đúng, có cơ sở khoa học vững chắc song tác giả chưa đi sâu vào vấn đề dạy TLV, đặc biệt là kĩ năng
sử dụng một số nghi thức lời nói
Tác giả Phan Phương Dung với đề tài luận án “Các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện tính lễ phép trong giao tiếp tiếng Việt”đã nghiên cứu một cách
có hệ thống các phương tiện ngôn ngữ biểu thị tính lễ phép và đã đưa ra một
số mẫu bài tập dạy lời nói văn hóa cho học sinh tiểu học và học sinh trung học
cơ sở Trong bài viết “Về vấn đề dạy lời nói văn hoá trong giao tiếp ngôn ngữ
Trang 125
cho học sinh qua môn Tiếng Việt” đã đề cập một cách cụ thể các phương tiện
từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp và việc ứng dụng từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Cuốn Trò chơi học tập Tiếng Việt 2 do Trần Mạnh Hưởng (chủ biên) -
Nguyễn Thị Hạnh - Lê Phương Nga biên soạn phần trò chơi TLV có đưa ra một số trò chơi khi dạy phân môn TLV bộ môn Tiếng Việt, nhằm đa dạng hoá hình thức tổ chức hoạt động học tập trong giờ Tập làm văn Tuy nhiên việc áp dụng trò chơi vào trong tiết học thường ít được áp dụng do thời gian và tâm lý ngại thay đổi của giáo viên
Trong đề tài KH&CN“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng
nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt” của Viện Khoa học Giáo dục
Việt Nam tác giả Trần Thị Hiền Lương đã xác định được các biện pháp dạy học rèn kĩ năng nói cho học sinh xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học, từ lý luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường thực hành, luyện tập Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra các biện pháp rèn luyện kĩ năng nói như rèn kĩ năng phát âm, rèn kĩ năng nói độc thoại, nói hội thoại trong đó có kĩ năng sử dụng NTLN cho học sinh tiểu học
Xét về phạm vi tìm hiểu, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên đã bàn đến mục tiêu, nội dung, biện pháp phát triển NTLN hoặc rèn kĩ năng sử dụng NTLN cho học sinh song các NTLN và cách sử dụng các NTLN ấy mới chỉ được nói một cách khái quát ở chương cuối của các công trình hoặc chỉ được đề cập có giới hạn về một vài khuôn mẫu trong các bài viết mà chưa được đặt thành một vấn đề lớn để hình thành nên một công trình nghiên cứu về rèn luyện NTLN cho học sinh một cách hoàn chỉnh Do vậy, việc vận dụng lý thuyết giao tiếp nâng cao hiệu quả kĩ năng sử dụng NTLN cho học sinh tiểu học là một việc làm cần thiết, nhằm hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình dạy học nội dung mới này
Trang 136
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc vận dụng lí thuyết giao tiếp,
áp dụng một số nhóm biện pháp giảng dạy, kết hợp với các hình thức tổ chức hoạt động giao tiếp trong các bài giảng cho HS lớp 2 về giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh, thông qua việc sử dụng các nghi thức lời nói: chào, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi (phân môn TLV lớp 2)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Tích hợp lý thuyết giao tiếp với nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong trường học thông qua các bài TLV dạy kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói: lời chào, đáp lời cảm ơn, xin lỗi
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Chứng minh việc vận dụng lý thuyết giao tiếp tích hợp nếp sống thanh lịch văn minh qua các NTLN sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả giảng dạy, kỹ năng sử dụng các NTLN lời chào hỏi, tự giới thiệu; lời cảm ơn, xin lỗi
- Phân tích mối liên hệ chặt chẽ giữa lí thuyết giao tiếp và nội dung giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh với việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong phân môn TLV lớp 2 lời chào hỏi, tự giới thiệu; lời cảm ơn, xin lỗi
- Tổ chức các tình huống, trò chơi và các bài thi trắc nghiệm rèn kĩ năng giao tiếp: Để giúp HS luyện tập các nghi thức lời nói và phát triển được ngôn ngữ nói
- Xây dựng giáo án mở, kết hợp cả học kỳ 1 và học kỳ 2.Áp dụng sáng tạo trong giáo án thực tế (giáo án thực nghiệm) để xây dựng quy trình vận dụng lý thuyết giao tiếp để làm nổi bật phép lịch sự, văn minh thông qua các nghi thức lời nói: chào, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi…
Trang 147
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những ván đề lí luận làm cơ sở cho đề tài
- Điều tra thực trạng việc dạy kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong phân môn TLV và thực trạng việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho HS Thủ đô
- Tìm ra các biện pháp vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh vào việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong phân môn TLV lớp 2
- Thiết kế bài giảng theo đề xuất của luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp nghiên cứu lí luận được vận dụng khi:
- Nghiên cứu các tài liệu về lí thuyết giao tiếp để tìm ra cơ sở khoa học về giao tiếp cho việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói (phân môn TLV)
- Nghiên cứu bộ tài liệu chuẩn của Sở Giáo dục và Đào tạo về giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh, các biện pháp rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói (phân môn TLV) cho HS lớp 2
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Hà Nội để tích hợp với lí thuyết giao tiếp trong việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói (phân môn TLV) sao cho hiệu quả
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lí lứa tuổi, đặc điểm ngôn ngữ của HS Tiểu học để xác định những tiền đề tâm lí cho việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói theo hướng vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn được vận dụng trong quá trình quan sát,
dự giờ, tìm hiểu để nắm bắt tình hình rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói (phân môn TLV) ở trường Tiểu học bao gồm hoạt động dạy học, chất lượng dạy
Trang 158
học, các trò chơi và học…, để rút ra được những nhận định về thực trạng, kế thừa và chọn lọc các nhóm biện pháp trong việc giảng dạy rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói (phân môn TLV) cho HS lớp 2 hiện nay
6 Giả thuyết khoa học
6.1 Về lí luận
Đề tài thực hiện thành công sẽ làm sáng tỏ thêm thành công trong việc vận dụng lí thuyết giao tiếp và nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh trong việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong phân môn TLV cho HS lớp 2
- Phối hợp nhịp nhàng các hoạt động ngoại khóa khác để phát triển kỹ năng nói, hình thức tổ chức hoạt động học tập Làm mới các chủ điểm, chủ đề luyện
kỹ năng giao tiếp phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi HS lớp 2
- HS có khái niệm riêng với việc rèn luyện các nghi thức lời nói trong các ngữ cảnh và hoạt động xung quanh Làm cơ sở cho việc áp dụng đầy đủ các nội dung, quy tắc trong bộ tài liệu chuẩn về giao dục nếp sống văn minh thanh lịch của TP Hà Nội: khái niệm thanh lịch, văn minh; phong cách thanh lịch văn minh: ăn uống, đi đứng, ngồi nhìn, nghe nói…; giao tiếp văn minh, thanh lịch giữa con người với con người: ông bà, cha mẹ, họ hàng gần xa, làng xóm, thầy trò, bạn bè; ứng xử với môi trường, tự nhiên, với di tích danh thắng…,
Trang 169
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói cho HS lớp 2
Chương 3: Thiết kế bài giảng thử nghiệm
Trang 1710
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Lí thuyết giao tiếp
1.1.1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài người Có nhiều phương tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất, cơ bản nhất
Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác giữa các thành viên trong xã hội với nhau Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ Mỗi cuộc giao tiếp tối thiểu phải có hai người và phải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định
1.1.1.2 Hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin) và kí
mã (phát thông tin); trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể thực hiện bằng hai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết)
Theo quan điểm giao tiếp, mục đích của việc dạy bất kì ngôn ngữ nào cũng phải hình thành và phát triển cho người học cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Trước hết, căn cứ vào hai cực đối lập của sự giao tiếp (phát thông tin- nơi thu nhận thông tin), sẽ có hai hoạt động cơ bản là phát và nhận Theo kiểu loại ngôn ngữ (ngôn ngữ nói- ngôn ngữ viết) làm phương tiện giao tiếp thì các hoạt động phát và nhận lại được phân làm hai, là viết và đọc Như vậy,
là có bốn loại hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Ở phương diện cách thức hoạt động, nói và viết đi theo lộ trình từ ý đến lời, tạo nên lời để phát ra Nghe
và đọc đi theo lộ trình từ lời đến ý Đứng ở góc độ hoạt động của người sử dụng ngôn ngữ, nói và viết là hoạt động chủ động hay là kĩ năng sản sinh, trong đó nghe và đọc là hoạt động bị động hay kĩ năng tiếp nhận
Trang 1811
Mô tả Sản sinh/ chủ động Tiếp nhận/ thụ động
Có thể hình dung theo sơ đồ sau:
Quan điểm dạy học tiếng Việt hiện nay phải chú ý phát triển cả bốn kĩ năng này cho HS, để các em có thể tham gia chủ động và tích cực vào tất cả các hoạt động giao tiếp Rèn cho HS nói và viết là rèn cho HS cách tự phát ra lời nói Rèn cho HS nghe và đọc là rèn cho HS tiếp nhận để hiểu người khác Muốn tham gia vào hoạt động giao tiếp, HS vừa phải biết tiếp nhận, vừa phải biết sản sinh ra văn bản (bao gồm cả nói và viết) Nhưng các kĩ năng đó phải có sự biến đổi, chuyển hóa về chất tức là tạo ra và làm giàu năng lực sử dụng lời nói của cá nhân Vì dạy giao tiếp chính là dạy lời nói Theo hướng này, người học sẽ ít quan tâm đến các quy tắc ngôn ngữ, quan tâm đến việc tạo ra câu nói, lời nói cụ thể Lời nói thì vô cùng phong phú, sinh động, vô hạn, biến đổi trong các hoàn cảnh sử dụng (giao tiếp) khác nhau
Trang 1912
1.1.1.3 Đặc điểm của Giao tiếp
Giao tiếp là hành động tiếp xúc giữa con người với con người trong xã hội thông qua một phương tiện nhất định, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết, tuy nhiên dạng nói là phổ biến và chủ yếu Trong giao tiếp dạng nói thì hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến
Tính liên tục - Là diễn ngôn liên tục do một
người viết ra
- Là những diễn ngôn ngắt quãng, cài răng lược vào nhau Nội dung - Tuân theo một chiến lược được
người viết định ra từ đầu và theo đuổi chiến lược đó đến hết
- Không thể định hướng trước được hoặc nếu có thì phải thường xuyên thay đổi theo hoạt động đối thoại
Đặc điểm của văn nói và văn viết (hội thoại) trong giao tiếp
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức căn bản này
Cấu trúc tổng quát của một cuộc hội thoại có thể là: đoạn thoại mở thoại, các đoạn thân thoại và đoạn thoại kết thúc
Đoạn thoại mở thoại phần lớn là công thức hoá, có tác dụng mở ra mối quan hệ giữa các nhân vật Người mở thoại thường tránh sự xúc phạm đến thể
diện của người nghe, chuẩn bị một “mức độ thành công” cho cuộc thoại
VD: Đoạn thoại mở đầu trong Bài tập 3 (Tiết TLV Đáp lời chào, lời tự giới thiệu - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 12) như sau:
- Mẹ Sơn: Chào cháu
- Nam: Cháu chào cô ạ
Các đoạn thân thoại có thể gồm một vài đoạn thoại để phát triển nội dung đề tài cuộc thoại
Trang 2013
VD: Đoạn thoại kế tiếp trong Bài tập 3 (Tiết TLV Đáp lời chào, lời tự giới thiệu - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 12) là đoạn thân thoại:
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Nam không?
- Nam: Vâng ạ, cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
- Mẹ Sơn: Tốt quá Cô là mẹ bạn Sơn đây
- Nam: Thế ạ
- Mẹ Sơn: Sơn bị sốt Cô nhờ cháu chuyến giúp cô đơn xin phép cho Sơn nghỉ học
- Nam: Vâng ạ Cháu sẽ chuyển
Đoạn thoại kết thúc có chức năng đóng cuộc thoại
Cặp thoại
Một cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập) và một lời đáp (lời hồi đáp) Đó là cặp thoại điển hình sau:
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Nam không?
- Nam: Vâng ạ, cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
Quy luật thông thường là trao gì, đáp nấy Tuy vậy cũng có trường hợp
có cặp thoại chỉ có lời trao mà không có lời đáp mà thay thế vào đó là hành động cụ thể
VD: Trong đoạn thoại trên, sau khi Nam nhận mình đúng là người mẹ Sơn cần tìm thì mẹ Sơn có thể gật đầu đưa luôn cho Nam lá đơn xin phép nghỉ ốm của Sơn
Sơ đồ xác định mức độ thành công - “kỳ vọng” của giao tiếp trong cặp thoại
Ngôn từ 8%
Giọng nói 38%
Lời chào 56%
Trang 2114
Qua cặp thoại giao tiếp dựa trên phân tích xác nhận lời chào “Chào cháu” và
“Cháu chào cô ạ” đã mang lại quy tắc giao tiếp thành công 56% cho cặp thoại
Bên cạnh đó tạo được ngữ cảnh: “xây dựng” tương tác qua thực thể đối tượng cặp thoại từ đó xác định mục đích giao tiếp và tiếp tục tương tác thành công
Xác định tiếp theo cho cặp thoại là 38% thành công cặp thoại là giọng nói và 8% là ngôn từ tiếp theo trong ngữ cảnh
Trong giao tiếp thì hội thoại là hình thức giao tiếp chính kết hợp với các ngôn ngữ hình thái cảm xúc và hành thái hành động, cử chỉ Trong đó Hội thoại tuân thủ theo các quy tắc sau:
1.1.1.4 Quy tắc hội thoại
Quy tắc hội thoại là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hội chấp nhận và những người tham gia giao tiếp phải tuân theo khi thực hiện các vận động giao tiếp để cho cuộc thoại vận động như mong muốn
Các quy tắc hội thoại:
a) Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời:
Một cuộc hội thoại phải có người nói và người nghe Người nói có người nghe và ngược lại Khi có hai người hội thoại, người kia phải nói khi người này nhường lời cho anh ta theo cách lời người này kể tiếp lời người kia, không có sự dẫm đạp lên lời của nhau Không thể vì vội mà cả hai cùng tranh nhau nói, như vậy sẽ không đạt được hiệu quả giao tiếp
Các lượt lời có thể được một người điều khiển phân phối hoặc do các nhân vật giao tiếp tự thương lượng một cách không tường minh với nhau Người nói nên biết kết thúc lượt lời của minh đúng lúc để nhường lời cho người khác thì mới tỏ ra là người, biết trò chuyện lịch sự và là người nói chuyện có duyên Tránh tình trạng nói quá dài, quá lâu sẽ làm cho người nghe sốt ruột và sẽ ngắt lời, hoặc vì lịch sự, họ lơ đãng, không còn chú ý đến những điều mà bạn đang nói
Trang 2215
Dấu hiệu của sự kết thúc lượt lời là sự trọn vẹn về ý, sự trọn vẹn về cú pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, các tiểu từ tình thái cuối câu “nhé”, “nghen” VD: Đoạn đối thoại trong phần a của Bài tập 2 (Tiết TLV Đáp lời đồng
ý - sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 66):
- Hương cho tớ mượn cái tẩy nhé
- Ừ
- Cảm ơn cậu nhé
b) Qui tắc chi phối cấu trúc hội thoại
Một cuộc hội thoại không phải là sự lắp ghép ngẫu nhiên, tùy tiện các phát ngôn, các hành động ngôn ngữ Các phát ngôn, các hành động ngôn ngữ trong một cuộc hội thoại phải liên kết với nhau Nguyên tắc này không chỉ chi phối các ngôn bản đơn thoại mà chi phối cả các lời tạo thành một cuộc hội thoại Nếu
giữa các lời của các nhân vật giao tiếp không có liên kết thì một “cuộc hội thoại giữa những người điếc” sẽ xảy ra, trong đó “ông nói gà, bà nói vịt”
Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ, giữa các đơn vị hội thoại ở cả hai phương diện nội dung và hình thức
c) Qui tắc điều hành nội dung hội thoại
Cuộc hội thoại nào cũng có nội dung Các nội dung này lại được thể hiện trong nội dung các lượt lời Sự phát triển của nội dung hội thoại để đạt đến đích của cuộc hội thoại phụ thuộc rất nhiều vào nội dung các lượt lời Quy tắc luân phiên lượt lời bảo đảm sự kế tiếp các lượt lời về mặt hình thức để sự phát triển hội thoại được liên tục và hợp lí Còn quy tắc điều hành nội dung hội thoại sẽ điều hành quan hệ và nội dung giữa các lượt lời Sự điều hành này đòi hỏi mỗi người tham gia hội thoại phải đảm bảo hai yêu cầu: Lời nói của
họ phải phù hợp với đề tài và nội dung cuộc thoại ở thời điểm họ tham gia; lời nói của họ phải phù hợp với đích của hội thoại
Trang 2316
Vì vậy người tham gia hội thoại phải thực hiện bốn phương châm sau:
- Phương châm về lượng: Phương châm này đòi hỏi lời nói phải có nội dung Không nên nói quá ít hoặc quá nhiều những điều không đúng với đích cuộc thoại Nếu nói quá nhiều sẽ làm người nghe mệt mỏi dẫn đến lơ đãng, không còn chú ý đến cuộc thoại
- Phương châm về chất: Phương châm này khuyên người nói: Hãy nói những điều anh tin rằng đúng hoặc có bằng chứng xác thực Không nên nói những điều không có căn cứ chắc chắn, mình không tin lắm Khi có vấn đề gì
đó chưa rõ, chưa xác định thì nên có sự tìm hiểu, kiểm tra lại thông tin hoặc tra cứu lại cẩn thận
- Phương châm về cách thức: Nên nói một cách rõ ràng, mạch lạc, có hệ thống và có tính lôgic chặt chẽ để người nghe dễ nhận ra ý mà người nói định nói Tránh lời nói mập mờ, tối nghĩa, gây sự hiểu lầm
- Phương châm về quan hệ (còn gọi là phương châm quan yếu): cần trình bày sao cho câu chuyện của bạn có quan hệ với câu chuyện đang diễn ra
1.1.1.5 Các vận động hội thoại
Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp và tương tác
Vận động trao lời: là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và
hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra là dành cho mình
Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là điều tất yếu Sự có mặt của Sp1 thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình, cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm của Sp1 trong nội dung lượt lời trao; ở dấu hiệu bổ sung cho lời nói (điệu bộ,
cử chỉ gãi đầu, vỗ ngực, đập bàn )
Sự có mặt của Sp2 thể hiện qua những yếu tố ngôn ngữ tường minh như lời hô gọi, chỉ định, những lời thưa gửi và các từ nhân xưng ngôi thứ 2; những
Trang 2417
yếu tố hàm ẩn như những tiền giả định giao tiếp, những biểu hiện mà Sp1và Sp2 đã có chung; ở hứng thú hoặc tâm trạng của Sp2 mà Sp1 đã nhận biết trước khi trao lời
Vận động trao đáp: là vận động mà khi Sp2 đáp lời Sp1, có sự lần lượt
thay đổi vai nói, vai nghe giữa các nhân vật hội thoại là trao đáp Chỉ khi Sp2 hồi đáp lại lượt lời của Sp1 thì mới thực sự có vận động trao đáp, hội thoại mới chính thức được hình thành
Sự hồi đáp có thể bằng các hành động ngôn ngữ tương thích với hành động dẫn nhập lập thành cặp như hỏi - trả lời, chào - chào, cầu khiến - nhận lời ; cũng có thể được thực hiện bằng những hành động bất kì, không tương thích với hành động dẫn nhập
Ngay cả những hành động tự thân không đòi hỏi sự hồi đáp như hành động cảm thán vẫn cần được hồi đáp
Vận động tương tác: là kết quả sự phối hợp của các nhân vật hội thoại trong suốt quá trình diễn ra cuộc thoại Các nhân vật sẽ tác động qua lại lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau
Trước khi hội thoại, giữa các thoại nhân có sự khác biệt đối lập, thậm chí trái ngược nhau về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm )
Trong hội thoại và qua hội thoại, khoảng giao nhau giữa các mặt của người đối thoại mở rộng dần và một cuộc giao tiếp thành công là cuộc thoại
mà sau đó sự khác biệt nói trên bị mất đi (dĩ nhiên có những cuộc giao tiếp không thành công, khoảng bất đồng vẫn y nguyên, thậm chí còn mở rộng ra) Trong hội thoại, một lời nói bị chấm dứt khi người kia không tỏ ra chú ý đến nội dung của nó, lảng xa nó Lúc này người nói phải tìm cách hòa phối lại cuộc hội thoại bằng cách kéo đối phương trở lại câu chuyện và khi thấy rằng
đã kéo lại được rồi thì cần khởi động lại câu chuyện
Trang 2518
Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Hễ có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời chỉ là một trong những dạng tương tác giữa người với người Có tương tác bằng lời mà cũng
có tương tác không bằng lời Giữa tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời có những yếu tố đồng nhất: đầu tiên là khái niệm lượt lời Trong hội thoại, điều quan trọng là người trong cuộc phải tuân theo những quy tắc nhất định thì mới có sự phân chia “lượt” Nếu người này nói tranh phần của người kia (cướp lời người khác) thì gọi là vi phạm “lượt lời”, còn nếu cả hai người đối thoại tranh nhau nói hoặc ngắt quãng không chịu nói thì dẫn tới sự “trật khớp” về lượt Ngoài ra giữa tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời còn có sự đồng nhất về cặp khái niệm kế cận được điều khiển bởi quy tắc giữ
sự cân bằng trong tương tác
Cuối cùng, trong tương tác cồn có những cặp trao đáp củng cố và sửa chữa Trao đáp củng cố nhằm thiết lập hay làm vững chắc quan hệ giữa người trong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả Khi chúng ta xúc phạm hoặc cho rằng mình xúc phạm đến người cùng tham gia vào một hoạt động xã hội với mình, chúng ta thực hiện cặp trao đáp sửa chữa Sự sửa chữa có thể bằng lời: xin lỗi, tỏ ra ân hận, mà cũng có thể không bằng lời: cười, đưa quà tặng, tự tay sửa chữa lại cái mình làm hỏng
Ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho một cuộc thoại Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu là vận động tương tác
1.1.2 Lý thuyết về nghi thức lời nói
1.1.2.1 Khái niệm về các nghi thức lời nói
NTLN là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thời gian gần đây NTLN là những quy tắc và quy ước ứng xử bằng lời trong những tình huống giao tiếp mang tính nghi thức, có liên quan đến đặc điểm dân tộc, sự quy định của xã
Trang 2619
hội, thói quen, phong tục tập quán lưu hành trong giai đoạn lịch sử nhất định Với cách hình dung này, có thể kể ra các hành động ngôn ngữ như: chào, giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu, khen, chê, từ chối… đều thuộc về NTLN Trong chương trình cho HS tiểu học, cần đạt kĩ năng nói đối với học sinh là: “Biết dùng các từ ngữ để giới thiệu một cách đơn giản về bản thân trong đời sống hàng ngày Biết nói những câu chào đơn giản với bạn bè, với các thành viên trong gia đình, những người quen, các thầy cô giáo và những người khác trong đời sống hàng ngày”, hay “Sử dụng các từ ngữ dùng để thể hiện sự ủng hộ, sự từ chối, hoặc sự hòa giải, lưu tâm đến tình huống, hoàn cảnh của người nghe Yêu cầu đưa vào chương trình giáo dục cơ sở các tiết học về “cách cư xử văn minh” Một trong số những bài học chính cho học sinh tiểu học là phải nói năng lịch sự, tuân thủ quy tắc giao thông, tôn trọng người già và cộng đồng người thiểu số Trẻ lớn tuổi hơn sẽ được học về phép
xã giao khi nói chuyện điện thoại, viết thư và cách trò chuyện lịch sự với nhiều lứa tuổi và đối tượng khác nhau Việc sử dụng nghi thức nói giúp trẻ em ngay từ khi còn nhỏ đã rất tự tin trong việc trình bày bằng lời nói những suy nghĩ, ý tưởng của mình trước người khác bởi các em đã được rèn luyện kĩ năng nghe và nói ngay từ những năm học đầu tiên và kĩ năng nói có mặt ở 3 trong 4 yêu cầu cần đạt của các lớp bậc Tiểu học: chiến lược nghe và nói, nghe hiểu, tổ chức và trình bày, thực hành nói Trong chiến lược nghe và nói vấn đề ngữ điệu lại rất được quan tâm và chú ý Học sinh phải biết kết hợp lời nói, điệu bộ, cử chỉ, động tác với việc trình bày suy nghĩ, ý tưởng của
mình Như các nghi thức lời chào, xin lỗi, cám ơn trở thành quen thuộc với
tất cả HS Việt Nam, cũng như trên thế giới Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi xin đề cập đến việc vận dụng lí thuyết giao tiếp, tích hợp giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh vào việc rèn một số NTLN
cơ bản cho HS lớp 2 như: Chào, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi
Trang 2720
1.1.2.2 Đặc điểm về các nghi thức lời nói trong chương trình cho HS tiểu học
Ở tiểu học, các em được học hầu hết các NTLN của tiếng Việt Tuy nhiên, đa số cấu trúc ngữ pháp của phát ngôn NTLN tiếng Việt thường là khuôn hình câu dưới bậc nên thường khuyết chủ ngữ, trong khi phạm vi giao tiếp của HS tiểu học chủ yếu là gia đình, nhà trường; ở gia đình, các em thường giao tiếp với ông bà, cha mẹ, cô, dì, chú, bác, anh chị em ở trường, đối tượng giao tiếp của các em là thầy cô giáo, bạn bè cùng lớp, anh chị lớp trên, các em lớp dưới, bác bảo vệ Dù giao tiếp ở gia đình hay nhà trường,
HS tiểu học cũng cần sử dụng đúng các khuôn NTLN theo những yêu cầu vừa trang trọng, lịch sự vừa lễ phép thông qua đại từ nhân xưng ở chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp là bề trên Khi đối tượng giao tiếp là bạn bè bằng tuổi hoặc các em nhỏ hơn thì khuôn NTLN được rút lại ngắn gọn, nhưng vẫn cần đảm bảo sự lịch sự
Dạy HS tiểu học giao tiếp, NTLN đóng vai trò đáng kể trong việc hình thành nhân cách của các em Thái độ lễ phép, giao tiếp, ứng xử bằng lời nói lễ phép là những yêu cầu không thể thiếu được đối với nhân cách của một đứa trẻ
Sự lễ phép được hình thành từ nhiều con đường khác nhau Một trong những con đường ấy là ngôn ngữ Việc sử dụng đúng NTLN, kèm theo là phép lịch sự trong từng tình huống giao tiếp là một bài học cần thiết của mọi người
Xét về đặc tính giao tiếp, thì NTLN trong tiếng Việt có các đặc điểm sau:
- Các NTLN có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú, đa dạng và nhiều cách thể hiện
- Các NTLN trong giao tiếp của tiếng việt đề cao thái độ, nâng cao giá trị truyền thống
- Trong các quan hệ và cách thức giao tiếp, các NTLN lấy tính nhường nhịn, tình cảm, sự tế nhị, hòa thuận làm nguyên tắc ứng xử
- Đối với đối tượng giao tiếp, các NTLN thể hiện qua sự tìm hiểu, quan sát, đánh giá, coi trọng danh dự Đề cao đối tượng giao tiếp
Trang 2821
Trong quá trình giao tiếp của tiếng Việt, chủ thể giao tiếp thì các NTLN Việt Nam có tính “lễ nghĩa” Như qua NTLN lời chào, ý tứ “lời chào cao hơn mâm cỗ” hay cháu bé có lời chào to, rõ ràng “cháu chào bác ạ” mới thể hiện
ý lịch sự hay cháu bé ngoan Hay đã thân nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần chăng nữa, lúc gặp vẫn chào hỏi nhau Chào hỏi không còn là nhu cầu công việc (như ở phương Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ Ví dụ như “chào bác, bác có khỏe không” được sử dụng thường xuyên trong NTLN như một thái độ thăm hỏi và mang nhiều ý nghĩa xây dựng quan hệ
Chào hỏi là nghi thức cơ bản và được sử dụng phổ biến nhất trong các nghi thức giao tiếp Chào người quen, chào người muốn làm quen, thậm chí là người lạ, người dưng vẫn chào hỏi nhau Chào hỏi giúp chúng ta thu hút sự chú ý, bắt đầu quá trình giao tiếp, rút ngắn khoảng cách với đối tác giao tiếp
và tạo bầu không khí cho cả quá trình giao tiếp
Nghi thức lời nói xin lỗi, cám ơn trong tiếng Việt cũng rất phong phú
Do truyền thống tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như phương Tây Với mỗi
trường hợp có thể có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: Con xin chú (cảm
ơn khi nhận quà), Chị chu đáo quá (cảm ơn khi được quan tâm), Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được đón tiếp), Quý hóa quá (cảm ơn khi khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được khen), Cháu được như hôm nay là nhờ cô đấy (cảm ơn khi được giúp đỡ)
1.1.3 Tích hợp nếp sống thanh lịch - văn minh (lịch sự) thông qua giao tiếp
1.1.3.1 Định nghĩa giao tiếp lịch sự
Nghiên cứu về NTLN, lịch sự là một nhân tố quan trọng Lịch sự trong tiếng Việt là sự kết hợp hài hòa giữa hai bình diện: lịch sự chiến lược (khiêm nhường, khéo léo) và lịch sự chuẩn mực (lễ phép, đúng mực) Nếu người ta
Trang 2922
coi NTLN là hành vi cần phải thực hiện để duy trì tiếp xúc xã hội thì cũng có nghĩa là ta đã công nhận mọi giao tiếp nghi thức đều là những cuộc giao tiếp theo chiều hướng tích cực và lịch sự là tiêu chuẩn để đánh giá tính đúng đắn của các NTLN và là yêu cầu tất yếu khi sử dụng các NTLN đó
Những giao tiếp nhằm duy trì hay thay đổi quan hệ liên cá nhân Giao tiếp được người nói dùng để hoàn thành các mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa
Phương thức giao tiếp để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn , làm cho cuộc tương tác được thuận lợi
1.1.3.2 Các chiến lược lịch sự
Lịch sự quy ước: Có những phương tiện ít nhiều quy ước, bị quy định bởi những nguồn gốc xã hội, bắt buộc đối với người sử dụng, bao gồm:
Phép lịch sự vị thế (theo quan hệ dọc, quan hệ quyền thế)
Phép lịch sự thân - sơ (theo quan hệ ngang, quan hệ thân cận)
Lịch sự chiến lược: Liên quan tới những cái xảy ra trong một cuộc hội thoại, tới sự sử dụng các hành động ở lời và với những đề tài được đưa vào hội thoại Lịch sự âm tính: Phép lịch sự hướng vào thể diện âm tính của người tiếp nhận, gồm:
- Lảng tránh: Không dùng hành động đe dọa thể diện, có thể gián tiếp hóa hành động đe dọa thể diện bằng những hành động khác
- Bù đắp: Bù đắp lại những tổn thất về thể diện, có thể dùng biện pháp nhằm làm dịu hóa như các biểu thức nói giảm, xin lỗi, thanh minh, vuốt ve v.v…
- Lịch sự dương tính: Phép lịch sự nhằm vào thể diện dương tính của người nhận Tôn vinh thể diện người nhận và khiêm tốn, tránh nói đến mình, tránh đề cao mình
1.1.3.3 Qui tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong giao tiếp - phép lịch sự
Theo cách hiểu thông thường, lịch sự có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi tiếp xúc, phù hợp với quan niệm và phép tắc xã
Trang 3023
giao của xã hội, VD: nói năng lịch sự Nghĩa thứ hai là đẹp một cách sang trọng và trang nhã, VD: ăn mặc lịch sự Trong hai nghĩa trên, nghĩa thứ nhất gắn với các hoạt động giao tiếp
Theo cuốn Ngữ dụng học 2 - Đỗ Hữu Châu, lịch sự là một qui tắc quan trọng của lí thuyết giao tiếp liên quan đến phương diện liên cá nhân trong các cuộc giao tiếp, trò chuyện Quan hệ liên cá nhân trong giao tiếp luôn được duy trì hay phát triển theo hướng lợi ích các bền tham gia giao tiếp được hại hòa hay bị tổn thất
Lịch sự có liên quan đến thể diện những người tham gia giao tiếp Theo cách hiểu thông thường, thể diện là những cải làm cho người ta coi trọng mình khi tiếp xúc (nổi tổng quát)
Nói đến qui tắc lịch sự trong giao tiếp là nói đến hành vi đe dọa thể diện hay tôn vinh thể diện Trong giao tiếp, giao tiếp, hầu hết các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đến các thể diện kể trên Lịch sự trong giao tiếp đòi hỏi khi giao tiếp, các đối tác cần giữ thể diện cho mình và cho người Khi có hành vi ở lời hoặc hoạt động nào có nguy cơ làm mất thể diện của đối tác thì cần
có hành vi cứu vãn thể diện Hoạt động cứu vãn thể diện là “tất cả những điều
mà một người phải làm để nhằm làm sao cho hành động của anh ta không làm mất thể diện cho ai, kể cả thể diện của chính mình.” (Goffman)
Phép lịch sự trong giao tiếp có quan hệ mật thiết với đặc thù văn hóa từng dân tộc VD: Người phương Tây, khi giao tiếp, cấm kị việc hỏi tuổi (nhất là với phụ nữ) Với người phương Đông thì ngược lại, hỏi tuổi chứng tỏ sự quan tâm tới người đối thoại với mình
Phép lịch sự trong giao tiếp liên quan đến đức tính khiêm tốn Tuy nhiên không phải lúc nào khiêm tốn cũng là lịch sự Tự khen mình quá hoặc tự chê mình quá lời cũng đều là không lịch sự vì đó đều là cách đề cao cái tôi, đều thiếu khiêm tốn do đó thiếu lịch sự
Trang 3124
Trong thực tế, khi rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói ở phân môn TLV lớp 2, có trường hợp HS không chịu nói lời nói: chào, cám ơn, xin lỗi hoặc hoàn toàn “im lặng”
1.1.4 Cơ sở lí luận Tâm lí HS lớp 2
1.1.4.1 Đặc điểm về nhận thức
HS ở cấp tiểu học thường chịu sự chi phối của những điều kiện và quy luật như ở những giai đoạn khác nhưng sự phát triển về mặt tâm lý của các em vẫn có những đặc trưng riêng Tuổi tiểu học là thời kỳ của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kỳ mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này - sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy cô giáo), sự nhạy cảm, sự lưu tâm đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối với các đối tượng mà các em được tiếp xúc
Ở đầu tuổi tiểu học có khả năng chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo gần gũi, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu Sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
HS lớp 2 chưa biết phân tích có hệ thống những thuộc tính và phẩm chất của các đối tượng tri giác Trình độ tri giác phát triển nhờ vào những hành
Trang 3225
động học tập có mục đích, có kế hoạch HS lớp 2 biết chú ý vào tài liệu học tập cũng như vào việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập Ghi nhớ có chủ định được hình thành và phát triển dần trong quá trình học tập và được hình thành
rõ nét ở HS lớp 2 Hai hình thức ghi nhớ chủ định và ghi nhớ không chủ định tồn tại song song, chuyển hóa, bổ sung cho nhau Ở những thời gian cuối của
độ tuổi này, trí nhớ có sự tham gia tích cực của ngôn ngữ Đặc biệt về trí tưởng tượng, HS lớp 2 tưởng tượng còn hạn chế có khi chưa phù hợp với đối tượng Điểm khác nhau căn bản về tưởng tượng của HS lớp 2 là ở chỗ với độ tuổi lớp 2 các em có ý thức rõ rệt về tính thuần túy, qui ước về những điều tưởng tượng của mình Về sự phát triển của tư duy: ở giai đoạn này, tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế HS học chủ yếu bằng phương pháp so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng hoặc những hình ảnh trực quan
Những khái quát của HS về sự vật hiện tượng ở giai đoạn này chủ yếu dựa vào những dấu hiệu cụ thể nằm trên bề mặt của đối tượng hoặc những dấu hiệu thuộc công dụng và chức năng Tư duy còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tổng thể Tư duy phân tích ban đầu hình thành nhưng còn yếu Đời sống cảm xúc, tình cảm khá phong phú, đa dạng và cơ bản mang tính tích cực Tính kiềm chế và tự giác được tăng cường Trạng thái cảm xúc ổn định Đặc biệt tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài
1.1.4.2 Đặc điểm về ngôn ngữ
Hầu hết HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi HS vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Ở vào độ tuổi lớp 2, cơ bản các em đã biết đọc, biết viết Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà các em có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của các em, nhờ có
Trang 3326
ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của HS phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của các em ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của các em
Ở lứa tuổi này các em đã sử dụng được những câu từ phức tạp hơn, đã sử dụng các loại câu tường thuật để miêu tả sự vật, hiện tượng, con người, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu hô ứng Để cố gắng hiểu được thế giới xung quanh, các em không ngừng đặt câu hỏi Có thể nói câu gồm 4-5 chữ; biết dùng các từ “lóng” và các tự tự học qua môi trường xung quanh
Do một số trường dạy Tiếng Anh từ lớp 1, nên HS lớp 2 cũng đã có thể có nhiều từ độc đáo, những lời nói bày tỏ được cảm xúc hoặc nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân Các em cũng biết sử dụng lời nói để thoả thuận, trao đổi, hợp tác, chỉ dẫn bạn bè trong hoạt động vui chơi hay kể về một sự việc, hiện tượng nào đó để người nghe hiểu được, kể lại được nội dung chuyện đã nghe theo đúng trình tự
Các em bắt đầu thích dùng và diễn giải các ký hiệu, biểu tượng Hầu hết
HS ở độ tuổi này rất nghiêm túc muốn học hỏi, và một số có thể học các cơ chế đọc viết nhanh hơn những đứa khác Ví dụ, khi cả gia đình đi ăn, các em thích tự mình đọc menu và gọi món, diễn giải các biển báo giao thông, tự viết danh sách các món đồ cần mua, và tự viết tên lên nhãn tập hoặc các bức tranh
do chúng vẽ Chúng có thể hình dung ra trong đầu những vấn đề đơn giản và
có thể nắm bắt khái niệm cộng trừ, dù có thể chúng phải xòe tay ra đếm trước khi trả lời
Đặc biệt các em đã biết lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp Khi sử dụng
ngôn ngữ trong giao tiếp, lúc này các em đã biết kiên nhẫn chờ đến lượt trong giao tiếp, trò chuyện, thảo luận (không nói leo, không ngắt lời người khác) Các em cũng biết hỏi lại hoặc có những biểu hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt
Trang 3427
khi không hiểu người khác nói Thậm chí đã biết cảm ơn, xin lỗi, xin phép, thưa, vâng ạ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp Đôi lúc, các em sẽ làm bạn ngạc nhiên bởi cái cách cư xử như một người lớn
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho các em trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của em vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho các em nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Tất cả đều có thể giúp em có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng
1.1.5 Nội dung chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS lớp 1, 2 liên quan đến kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói
Chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho HS Thủ đô tập trung vào 5 nội dung chính:
Nội dung 1: Khái niệm thanh lịch - văn minh
Nội dung 2: Phong cách thanh lịch - văn minh
Nội dung 3: Giao tiếp thanh lịch - văn minh
Nội dung 4: Ứng xử thanh lịch - văn minh nơi công cộng
Nội dung 5: Ứng xử thanh lịch - văn minh với thiên nhiên, môi trường Với những nội dung trên thì ở lớp 1 và lớp 2 tập trung chỉ dẫn hành vi cá nhân cụ thể về ăn, mặc, nghe, nói, cử chỉ cơ bản Các nội dung đề cập ở mức
độ sơ đẳng nhất, chỉ nêu hiện tượng đúng sai để HS nhận thức từ đó làm theo cái đúng mà không cần giải thích phân tích kĩ Trong những nội dung trên, ở chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh của lớp 1 và lớp 2 chỉ
có những bài sau liên quan đến kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói:
Trang 3528
Lớp 1 Bài 1 Em hỏi và trả lời
Bài 3 Bữa ăn trong gia đình Bài 4 Bữa ăn bán trú
Lớp 2 Bài 1 Ý kiến của em
Bài 2 Tôn trọng người nghe Bài 3 Bữa ăn cùng khách Bài 4 Sinh nhật bạn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy - học kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong phân môn TLV lớp 2 hiện nay
1.2.1.1 Qua dự giờ
Chúng tôi đã dự giờ TLV dạy học kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói:
Chào hỏi, tự giới thiệu (Tuần 2); Cảm ơn, xin lỗi (Tuần 4); Đáp lời chào, tự giới thiệu (Tuần 19) ở hai trường Tiểu học Trung Tự - Quận Đống Đa (nội
thành Hà Nội) và trường Tiểu học Đại Mỗ - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2013 - 2014 Các vấn đề tôi tập trung theo dõi trong các tiết dự giờ là: Quy trình dạy học TLV, kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói của HS, mối liên hệ giữa nội dung bài học và nội dung chương trình nếp sống thanh lịch - văn minh đã được học, giữa HS với GV, giữa HS với HS Cách tổ chức các hoạt động giao tiếp trong giờ dạy và các biện pháp áp dụng thông qua trò chơi, bài trắc nghiệm
Nói chung cách thức dạy học đã có những chuyển biến theo hướng tăng cường hoạt động của HS Các GV khi dạy kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong giờ TLV nhìn chung đã biết tổ chức cho HS tham gia vào hoạt động giao tiếp trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể nhưng chưa dành thời gian cho HS thực hành và khi đáp lời có sai sót Một đặc điểm tâm lí khá phổ biến của GV khi dạy TLV là rất ngại dạy kĩ năng nói, mà kĩ năng sử dụng các nghi thức lời
Trang 3629
nói đòi hỏi HS phải nói rất nhiều Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là GV chưa được trang bị đầy đủ những vấn đề lí thuyết về giao tiếp đủ để rèn luyện cho các em hiệu quả Các vấn đề mang tính lí thuyết thực sự khoa học chứ không phải là những vấn đề lí thuyết của
sự đúc kết kinh nghiệm giảng dạy cũng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Ngoài ra, vốn sống, vốn hiểu biết của các em về thanh lịch - văn minh còn chưa nhiều, đa số HS còn nhút nhát chưa có thói quen hoạt động độc lập Chính vì vậy, trong phần rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói của phân môn TLV lớp 2, nhiều HS chưa thể vận dụng vốn ngôn ngữ, kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt để mạnh dạn, tự tin trình bày ý kiến của mình và thực hành đáp lời theo tiêu chí thanh lịch - văn minh đã được học ở chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh Các GV còn áp đặt coi hoạt động đáp lời là một cuộc hỏi đáp trong đó GV là người hỏi, HS là người trả lời Do vậy, người học thụ động không quan tâm đến việc vận dụng những nghi thức lời nói ấy ở ngoài đời thường
ra sao nên việc dạy chúng trở nên hình thức và sáo rỗng
1.2.1.2 Qua phiếu hỏi
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát 50 HS và 4 cô giáo ở hai trường: Tiểu học Trung Tự - Quận Đống Đa và trường Tiểu học Đại Mỗ - Huyện Từ Liêm trong năm học 2013 - 2014 theo phiếu hỏi Nội dung phiếu hỏi (Phụ lục 1 - Phiếu 1) dành cho HS gồm 5 câu hỏi tập trung khảo sát xem có những hoạt động nào diễn ra, HS chú ý của vào vấn đề nào khi học các bài rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói và đặc biệt khảo sát sự hiểu biết của các em về nội dung Nếp sống thanh lịch - văn minh có liền quan đến kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói đó trong tiết TLV Kết quả là rất ít HS lựa chọn câu đáp án
c của câu hỏi 1, 4, 5 là những câu nhằm khai thác hiểu biết về hoạt động giao tiếp trong giờ TLV của HS Đối với câu hỏi 2, 3 có rất nhiều em đã lựa chọn đáp án b Điều đó cho thấy HS vẫn còn thụ động chưa có nhu cầu giao tiếp và không muốn giao tiếp trong khi học TLV
Trang 3730
Đối với GV, tôi khảo sát qua bài trắc nghiệm để dánh giá hiểu biết của
họ về lý thuyết giao tiếp, cách thức tuân thủ các quy tắc và hoạt động của lý thuyết giao tiếp (phụ lục 1- phiếu 2), nhưng kết quả đa số điểm đúng là 5/10 điểm, và hầu hết không tuân thủ quy tắc hội thoại và hoạt động giao tiếp Ngoài ra qua phiếu hỏi (Phụ lục 1 - Phiếu 3), tôi quan tâm của họ đối với hiệu quả của việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói cũng như hiểu biết của họ về nội dung Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh có liên quan
và khảo sát xem họ thường gặp khó khăn gì cũng như họ có những mong muốn nào khi dạy nội dung Đáp lời trong các giờ TLV ở lớp 2 (Phụ lục 1 -
Phiếu 3) Kết quả là đa số GV đã lựa chọn đáp án a cho câu hỏi 1, 2, 4, 5 Ở
câu hỏi 3 thi hầu hết GV đều lựa chọn đáp án c
Như thế chứng tỏ ngay cả người dạy cũng không chú ý lắm đến việc dạy cho HS đáp lời sao cho đúng (quy tắc giao tiếp), cho hay (Nếp sống thanh lịch - văn minh) mà chỉ quan tâm xem HS của mình đã biết cách đáp lời chưa để dạy
1.2.1.3 Nhận xét
Từ kết quả khảo sát, tôi khẳng định việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói cho HS sao cho đúng quy tắc giao tiếp và thanh, lịch - văn minh rất được chú trọng trong môn TLV lớp 2 Dạy để các em có kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói đúng và thanh lịch - văn minh là tâm điểm chú ý, là nơi để người
GV chứng tỏ năng lực sư phạm của mình Và trong thực tế giảng dạy cũng như qua các tiết dự giờ, tôi nhận thấy việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói trong phân môn TLV lớp 2 vẫn còn tồn tại một số nhược điểm:
Nhược điểm thứ nhất là: Người dạy coi việc dạy kĩ năng sử dụng các
nghi thức lời nói là một cuộc hỏi - đáp Ở đó người GV xuất hiện với tư cách người hỏi, còn HS là người trả lời ở đó, người GV không quan tâm đến hứng thú và sự chú ý của HS với những điều mình hỏi, cũng không quan tâm cách đáp lời của HS như thế nào, có đúng quy tắc giao tiếp không và đã thanh lịch
- văn minh chưa? Kiểu dạy này khiến cho HS dễ dàng đáp lời theo khuôn mẫu sẵn có, không cần tham gia luyện tập vào các tình huống đáp lời trong đời
Trang 3831
thường là có thể hoàn thành bài tập Hoạt động chủ yếu của HS là nghe và trả lời HS sẽ nghe những điều thầy hỏi và chỉ việc nói theo Cách “dạy” này không đúng với quan điểm dạy học trong giao tiếp
Nhược điểm thứ hai là: Người dạy coi việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi
thức lời nói là việc làm bài tập Khi đó, người GV giao bài tập cho HS viết các câu đáp lời của mình vào vở Lúc này, cuộc đáp lời không diễn ra và vì vậy người học không được rèn luyện kĩ năng sử dụng một số nghi thức lời nói trong giao tiếp để biết đáp lời sao cho thanh lịch - văn minh
Thêm nữa, do tác động của “phong trào” đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường hoạt động của HS, đòi hỏi người GV phải biết sử dụng thiết bị dạy học và biết ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy nên
dù có rất nhiều ưu điểm thì thiết bị dạy học cũng cần được sử dụng hợp lí Bởi
vì, mặt mạnh của kĩ năng sử dụng một số nghi thức lời nói là phản xạ và cảm xúc từ tình huống thực tế chứ không phải cứng nhắc áp dụng một công thức giống nhau trong các tình huống tương tự
Từ thực tế trên, tôi thấy yêu cầu đặt ra cho việc rèn kĩ năng sử dụng các nghi thức lời nói (phân môn TLV) là để xác định các thao tác, xây dựng các
đề bài gắn với tình huống đáp lời, tổ chức hoạt động giao tiếp giữa HS với
HS, HS với các hoạt động giả định để người học thấy hứng thú, có nhu cầu đáp lời một cách có văn hóa và tích hợp được với chương trình Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh đã được học, để từ đó vận dụng có hiệu quả trong cuộc sống
1.2.2 Thực trạng về tình hình giáo dục đạo đức, nhân cách của học sinh trong nhà trường
1.2.2.1 Qua khảo sát
Ngày 1/8/2008, ngành Giáo dục và đào tạo Hà Nội chính thức triển khai thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính Cùng với sự phát triển của Thủ đô, quy mô mạng lưới trường lớp của Giáo dục và đào tạo Hà Nội cũng được mở rộng, phân bổ từ thành phố đến các
Trang 3932
huyện vùng sâu, vùng xa Vì vậy, sự hợp nhất mặt bằng chất lượng và điều kiện cơ sợ vật chất của các đơn vị cơ sở không đồng đều Đặc biệt, trong xu thế hội nhập quốc tế về giáo dục, một vấn đề được đặt ra cho ngành giáo dục Thủ đô là cần phải đào tạo thế hệ HS không chỉ có tri thức về các ngành khoa học cơ bản mà còn được trang bị kiến thức về mọi mặt để phát triển toàn diện
về đức - trí - thể - mỹ, vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, vừa theo kịp xu hướng của thời đại
Trong những năm qua, công tác giáo dục đạo đức, xây dựng nhà trường văn hóa, HS thanh lịch luôn được các cấp, ban ngành quan tâm chỉ đạo Bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ Phần lớn các em HS có nhận thức đúng về phẩm chất tốt đẹp của con người Thủ đô Hà Nội như: HS phải học giỏi, ngoan, lễ phép với mọi người, không mắc tệ nạn xã hội, phải sống tốt với mọi người, luôn tiếp thu học hỏi những kiến thức mới của thời đại, trang phục đẹp, nói năng hòa nhã, hiếu khách, lịch sự trong quan hệ với người nước ngoài Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế cho thấy ngành Giáo dục và đào tạo Thủ đô đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ Những năm gần đây, xuất hiện những biểu hiện chưa lành mạnh trong nhà trường: một số HS lười học, thiếu trung thực, chưa lễ phép, thiếu về kĩ năng sống và văn hóa sống Tệ nạn xã hội cũng đã thâm nhập vào trường học: nói tục, chửi bậy, bạo hành, nghiện hút, tham gia đua xe máy, cờ bạc Mặt trái của nền kinh tế thị trường phần nào làm phong hóa, lu mờ nhiều nếp sống đẹp của người Tràng An xưa; nét đẹp thanh lịch văn minh, nhất là trong giao tiếp ứng
xử không còn là nếp sống tự giác, phổ biến, chưa thành thói quen của người dân; việc giáo dục xây dựng những giá trị tốt đẹp trong quan hệ xã hội còn bị buông lỏng; một bộ phận thanh thiếu niên nhận thức lệch lạc, thiếu lòng tự hào và ý chí vươn lên Nguyên nhân của những yếu kém trên là do tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh, kèm theo những vấn đề xã hội nảy sinh chưa được quan tâm, giải
Trang 4033
quyết đúng mức Các lực lượng xã hội chưa thực sự quan tâm cùng ngành Giáo dục và đào tạo trong công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho HS; đặc biệt sự quan tâm giảo dục trong các gia đình có phần lơi lỏng, thiếu sát sao, những giá trị truyền thống gia đình chưa được các bậc phụ huynh quan tâm giáo dục con em Ngoài những lí do trên còn phải kể đến môi trường xã hội ngày càng phức tạp mà bản thân HS chưa có ý thức tự giác rèn luyện, chưa hiểu rõ thế nào là người HS Thủ đô văn minh, thanh lịch; trong nhà trường còn thiếu các biện pháp đồng bộ, chưa tích cực và triệt để; môn học Đạo đức và Giáo dục công dân chưa được coi trọng đúng mức, nội dung, phương pháp còn nặng về lí thuyết, mang tính hàn lâm, chưa kịp thời đổi mới
để thích ứng với điều kiện hiện tại ; GV chưa tâm huyết; tài liệu về nếp sống thanh lịch - văn minh chưa có; mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường chưa chặt chẽ Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng tới công tác giáo dục trong nhà trường, làm hạn chế hiệu quả giáo dục đạo đức và pháp luật cho HS
1.2.2.2 Qua phiếu hỏi
Chúng tôi cũng khảo sát 50 HS và 4 cô giáo ở hai trường: Tiểu học Kim Đồng - Quận Ba Đình (nội thành Hà Nội) và Tiểu học cầu Diễn - Huyện Từ Liêm (ngoại thành Hà Nội) trong năm học 2011 - 2012 theo phiếu hỏi Nội dung phiều hỏi dành cho HS (Phụ lục 1 - Phiếu 3) gồm 4 câu hỏi tập trung khảo sát sự hiểu biết của các em về những vấn đề đạo đức, phát triển nhân cách của mình và bạn mình trong thòi buổi hiện nay, xem các em có hứng thú
gì khi học môn học Đạo đức và cố thấy cần thiết phải áp dụng những điều được học vào thực tế cuộc sống không Còn nội dung phiếu hỏi dành cho GV cũng gồm 4 câu (Phụ lục 1 - Phiếu 4) nhằm khảo sát sự đánh giá của GV về nội dung chương trình môn Đạo đức xem đã phù hợp chưa, nội dung ấy có giúp HS nắm được những chuẩn mực đạo đức để phát triển nhân cách của các
em không và nhận xét của họ về tình hình đạo đức, phát triển nhân cách của