1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên xã hội ở tiểu học (LV01262)

113 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy và học được thực hiện dựa trên sự tác động qua lại giữa các thành tố của quá trình dạy học các tương tác sư phạm, trong đó quan trọng nhất là sự tác động giữa người học với ngườ

Trang 3

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình truyền thụ cho em những kiến thức, các phương pháp giảng dạy ở Tiểu học giúp cho việc nghiên cứu, tiếp thu kiến thức, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của bản thân em để đạt được kết quả như mong muốn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên Phạm Quang Tiệp đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cung cấp những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu, động viên, khích lệ em hoàn thành đề tài này

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng toàn thể bạn bè, gia đình, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Do thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Chuyên

Trang 4

Tôi xin cam đoan khóa luận này không trùng với kết quả của một công trình nghiên cứu nào khác đã được công bố Tất cả các nguồn số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực

Hà Nội, tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Chuyên

Trang 5

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu: 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 5

5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5

5.3 Các phương pháp nghiên cứu khác 5

6 Giả thuyết khoa học 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI Ở TIỂU HỌC 6

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6

1.2 Quan điểm dạy học sư phạm tương tác 8

1.2.1 Khái niệm 8

1.2.2 Các thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học 10

1.2.3 Cơ sở khoa học của quan điểm sư phạm tương tác 12

1.2.4 Đặc trưng của quan điểm sư phạm tương tác 17

1.3 Môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học 21

1.3.1 Mục tiêu dạy học môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học 21

1.3.2 Cấu trúc nội dung môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học 21

1.3.3 Đặc điểm của môn Tự nhiên - Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

Trang 6

Ở TIỂU HỌC 28

2.1 Đặc điểm của hoạt động dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học 28

2.1.1 Học sinh tiểu học trong học tập môn Tự nhiên - Xã hội 28

2.1.2 Giáo viên tiểu học trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội 31

2.1.3 Môi trường dạy học môn Tự nhiên - Xã hội 31

2.2 Thực trạng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học 32

2.2.1 Mục đích điều tra 32

2.2.2 Đối tượng điều tra 32

2.2.3 Nội dung điều tra 33

2.2.4 Tiến hành điều tra 33

2.2.5 Kết quả điều tra 33

2.3 Những thuận lợi và khó khăn để vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học 37

2.3.1 Thuận lợi 37

2.3.2 Khó khăn 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 42

Chương 3: BIỆN PHÁP VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI Ở TIỂU HỌC 44

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội 44

3.1.1 Đảm bảo vai trò trung tâm của học sinh trong các mối quan hệ tương tác 44

3.1.2 Phát huy cao độ mối quan hệ tương tác giữa học sinh – giáo viên – môi trường 45

3.1.3 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh tiểu học 46

Trang 7

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc trưng của môn Tự nhiên – Xã

hội ở tiểu học 48

3.2 Một số biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học 48

3.2.1 Nhóm biện pháp thiết kế dạy học môn Tự nhiên - Xã hội theo quan điểm sư phạm tương tác 49

3.2.2 Nhóm biện pháp tăng cường tương tác trên lớp học trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội 66

3.2.3 Nhóm biện pháp đánh giá dạy học môn Tự nhiên - Xã hội theo quan điểm sư phạm tương tác 76

3.3 Thực nghiệm sư phạm 84

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 84

3.3.2 Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm 85

3.3.3 Nội dung thực nghiệm 85

3.3.4 Công tác chuẩn bị 86

3.3.5 Tiến hành thực nghiệm 86

3.3.6 Tiêu chí đánh giá hiệu quả vận dụng QĐSPTT 86

3.3.7 Kết quả thực nghiệm 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 104

Trang 8

Viết tắt Viết đầy đủ

GV Giáo viên

HS Học sinh PPDH Phương pháp dạy học QĐSPTT Quan điểm sư phạm tương tác SGK Sách giáo khoa

TN1 Thực nghiệm 1 TN2 Thực nghiệm 2

TN - XH Tự nhiên và Xã hội

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang trên đà phát triển và đổi mới từng ngày trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật Để hội nhập với xu thế phát triển của thời đại, Đảng ta đã vạch ra phương hướng chiến lược: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện chủ trương đúng đắn đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang phát triển đổi mới đồng bộ giáo dục và đào tạo trong đó có đổi mới chương trình dạy học các cấp nói chung, chương trình tiểu học nói riêng

Đáp ứng yêu cầu phát triển của nền giáo dục nước nhà, giáo dục cấp tiểu học đã được thực hiện đổi mới sách giáo khoa và nội dung chương trình dạy học ở các lớp, các môn trong đó có môn Tự nhiên - Xã hội

Điều 24 Luật giáo dục ghi rõ: “ Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người Môn

Tự nhiên và Xã hội là một trong những môn học có vị trí quan trọng ở trường tiểu học Mục tiêu môn học này là giúp các em học sinh có những hiểu biết cơ bản, ban đầu về các sự vật, hiện tượng, mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên

và xã hội con người Qua đó phát triển năng lực tư duy, lòng ham hiểu biết khoa học góp phần hình thành nhân cách cho các em Việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng

Hòa cùng với công cuộc đổi mới mạnh mẽ về phương pháp, hình thức

tổ chức dạy học trên toàn ngành, môn Tự nhiên – Xã hội cũng có những bước chuyển mình, từng bước vận dụng thay đổi linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa các hoạt động của học sinh, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, tự giải quyết, tự phát hiện các tình huống có vấn đề đặt ra trong bài học Từ đó, chiếm lĩnh nội dung mới của bài học, môn học

Trang 10

Dạy học là con đường quan trọng để nâng cao trình độ hiểu biết và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Mặc dù người thầy giữ vai trò hết sức quan trọng trong định hướng dạy học và chuyển giao tri thức, kĩ năng cho người học, nhưng phải làm sao trong mỗi tiết học cho học sinh được suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn Hơn nữa, đổi mới phương pháp giáo dục phải nhấn mạnh tương tác, hỗ trợ, cùng nhau hợp tác

đi vào con đường tiếp thu, lĩnh hội các tri thức, kĩ năng, thái độ thành vốn sống, ăn nhập vào vốn kinh nghiệm bản thân, tạo nên một tiềm năng và tiếp

đó thành nhân cách, thành năng lực hoạt động của từng người Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay là nhiệm vụ cần thiết

Hiện nay ở nước ta việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của môn Tự nhiên - Xã hội vẫn đang được quan tâm và đầu tư Môn học này tạo điều kiện thuân lợi cho việc đổi mới phát huy tính tích cực của học sinh Bởi nó là phân môn có vị trí quan trọng, là môn học gần gũi với các em học sinh Do vậy muốn cho giờ học đạt hiệu quả thì giáo viên phải thay đổi các hình thức dạy học, lựa chọn kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại để nâng cao chất lượng giờ dạy Tuy nhiên dạy học môn học này vẫn gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy Môn Tự nhiên và Xã hội là môn tích hợp nhận thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Vì vậy phương pháp học phải thể hiện được tính tích cực, chủ động học tập của học sinh Song trong thực tế, người giáo viên chưa coi trọng môn học này Đặc biệt là thiếu đồ dùng dạy học của môn trầm trọng Tình trạng dạy chay còn phổ biến Một số giáo viên không thấy được rằng dạy học theo hướng tích cực tức là tăng cường hoạt động học tập của cá nhân, tập thể, kích thích động cơ bên trong của người học làm cho người học tích cực, chủ động, tự tin phát triển khả năng suy lí, óc phê phán ra kiến thức

Trang 11

mới Do vậy học sinh rơi vào thế thụ động trong học tập Quan điểm sư phạm tương tác (QĐSPTT) là một hướng đáp ứng được những yêu cầu này Đó là một hướng dạy học đề cao vai trò tương tác giữa người học với người học, người học và người dạy, người học và môi trường Bộ ba người học, người dạy và môi trường tập hợp các tác nhân chính tham gia vào quá trình học tập

Dạy học dựa vào tương tác là chiến lược dạy học coi trọng tính tích cực, năng động của người học Việc dạy và học được thực hiện dựa trên sự tác động qua lại giữa các thành tố của quá trình dạy học (các tương tác sư phạm), trong đó quan trọng nhất là sự tác động giữa người học với người dạy, bạn học và môi trường dạy học Chính nhờ vào sự tác động qua lại ấy mà giảm bớt đi đáng kể tính một chiều, tính thụ động của người học và vai trò của mỗi thành tố trong quá trình dạy học được nâng lên xứng tầm với vị trí của nó

Trong quá trình dạy học hiện đại, quan hệ tương tác hết sức được xem trọng Xét ở góc độ nào đó, nó phải được nhìn nhận như một nguyên tắc then chốt của dạy học hiện đại Tức là cho dù đối tượng dạy học là ai, nội dung dạy học là gì, thì để dạy và học tốt được đều cần phải có sự tương tác tích cực giữa người học với các thành tố khác

Xuất phát từ thực tế giảng dạy của GV và học tập của HS về vấn đề này vẫn còn bộc lộ nhiều khó khăn, đa số GV chưa xác định được phương pháp dạy học hiệu quả môn học này Việc vận dụng QĐSPTT hợp lý vào dạy học nội dung này sẽ khắc phục được những khó khăn và đáp ứng được mục tiêu dạy học góp phần giúp học sinh chủ động nắm được kiến thức, tự học tự phát hiện ra vấn đề

Trang 12

Từ những lí do trên, tôi đã quyết định tìm hiểu nghiên cứu đề tài: “Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học”, nhằm mục đích tìm hiểu và đề xuất một số biện pháp thiết kế dạy

học môn Tự nhiên – Xã hội nâng cao chất lượng học tập

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác dạy học môn

Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Tự nhiên - Xã hội, góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở tiểu học

- Đề xuất một số biện pháp để vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở tiểu học

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính hiệu quả của các biện pháp

đề xuất

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Giới hạn về nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu vận dụng quan điểm sư phạm

tương tác trong chủ đề thuộc môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học

Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Đề tài tiến hành điều tra thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo quan điểm sư phạm tương tác tại 5 trường Tiểu học ở 3 tỉnh là Hà Nội, Hà Nam, Vĩnh Phúc; tiến hành thực nghiệm tại 2

trường Tiểu học thuộc địa bàn Hà Nội

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích tư liệu lý luận trong và ngoài nước để tìm hiểu tình hình nghiên cứu có liên quan

- Phương pháp lịch sử và logic nhằm xây dựng quan niệm của đề tài và những quan điểm lý luận cơ bản của vấn đề nghiên cứu

5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, quan sát và phỏng vấn, bảng hỏi nhằm khảo sát thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, thực trạng vận dụng quan điểm

sư phạm tương tác trong dạy học ở tiểu học

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm để đánh giá thực trạng đổi mới PPDH, thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của giáo viên tiểu học

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của các biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác để dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học được đề xuất trong đề tài

5.3 Các phương pháp nghiên cứu khác

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia về thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học và việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn học này

- Xử lý số liệu và đánh giá bằng thống kê toán học

6 Giả thuyết khoa học

Thực tiễn cho thấy chất lượng dạy học môn Tự nhiên – Xã hội ở tiểu học hiện nay chưa thực sự tốt Nguyên nhân của thực trạng này một phần là

do thiếu tính tương tác giữa người học với giáo viên, người học với môi trường dạy học Bên cạnh đó, giáo viên tiểu học chưa có biện pháp hợp lí để gia tăng các mối quan hệ tương tác trong quá trình dạy học Chính vì vậy nếu xây dựng được các biện pháp vận dụng hợp lí quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học thì có thể nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học môn học này ở trường tiểu học

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM

SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI

Ở TIỂU HỌC

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về quan hệ tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy và học đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục nhân loại Khổng Tử (551 – 479 TCN ) đã nói: “ Thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra…” Còn Xôcơrát (469TCN) thì cho rằng: “ Cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi; cần phải giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó” [23] Như vậy cả hai tác giả đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập của người học khi

mô tả hoạt động dạy học

Trải qua các thời kì lịch sử tư tưởng giáo dục đó tiếp tục được khẳng định

và phát triển, với sự tham gia của các nhà giáo dục: J.A Cômenxki, J.Rútxô, J.H.Petxtalozi, A.Disteverg…Đặc biệt, cuộc canh tân giáo dục mạnh mẽ trong những năm cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 đã mở ra nhiều hướng mới dạy học tập trung vào hoạt động của người học và khai thác môi trường dạy học

Đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo dục là nhà giáo dục Mỹ John Deway (1916 - 1938) Với tư tưởng giáo dục đề cao vai trò của người học “Lấy người học là trung tâm” ông chủ chương xây dựng “nhà trường hoạt động” “dạy học qua việc làm” Tư tưởng giáo dục của ông đã hình thành một phong trào giáo dục hiện đại trên khắp thế giới đặc biệt là ở các nước Âu và Mỹ [22]

Trang 15

Các nhà giáo dục Xô Viết N.V.Savin [42], T.A.Ilina [38], B.P.Êxipốp [35], M.A.Đanhilốp [34]; Iu.K.Babunski [29] và không ít nhà giáo dục Việt Nam như: Đặng Thành Hưng, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Thái Duy Tuyên…đã đánh giá tính chất nhiều nhân tố trong quá trình dạy học (cấu trúc ba nhân tố: dạy - nội dung - học), khẳng định mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố dạy và học Tuy nhiên vẫn chưa bao quát hết chức năng cấu trúc của từng yếu tố, chưa nêu rõ được cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố hoạt động dạy học nên chưa có tác dụng phát huy hết tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình dạy học

Đến những năm 70 của TK XX nhóm tác giả Guy Brouseau, Claude Comiti…tại viện đào tạo giáo viên (IUFM) ở Pháp đưa thêm yếu tố môi trường trong cấu trúc hoạt động dạy học và dạy học gồm bốn yếu tố: người học - người dạy - nội dung - môi trường Yếu tố môi trường ở đây là ngữ cảnh người dạy tạo ra cho người học chiếm lĩnh nội dung dạy học…Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng cơ chế của sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học đặt cơ sở cho những hoạt động sư phạm, thúc đẩy hoạt động học của người học đến mức cao nhất [31]

Gần đây nhất là những công trình nghiên cứu của hai tác giả Jean- Marc Denomme và Made leine Roy với tác phẩm “ Tiến tới một phương pháp

sư phạm tương tác” [32] đã đề cập tới một trường phái sư phạm học tương tác cùng với nền tảng lí luận của nó Trong nghiên cứu của mình những nhà lí luận dạy học đã khẳng định yếu tố môi trường trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó hệ thống dạy học tối thiểu là sự tương tác của: thầy giáo - học trò

- môi trường đối với tri thức Như vậy trong quá trình dạy học giáo viên không tác động trực tiếp đến học sinh mà thông qua một yếu tố trung gian đó

là tri thức Trong quá trình dạy học, học sinh là chủ thể hoạt động, còn kiến thức là đối tượng Yếu tố môi trường theo nhóm tác giả này không phải là yếu

Trang 16

tố tĩnh, bất động mà là một thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học, môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người học mà quan trọng hơn là người học phải thích nghi được với môi trường Quan điểm này đưa ra được các phương tiện, công cụ để kích thích hứng thú tình huống dạy học được lựa chọn kĩ lưỡng, đặc biệt là cách thức ra tăng sự tương tác, hợp tác giữa dạy và học trong môi trường dạy học để mang lại sự thành công nhiều nhất cho người học Qua đây ta thấy các tác giả đã xác nhận các yếu tố cơ bản (hạt nhân) của quan điểm sư phạm tương tác là dạy - học - môi trường, chức năng của từng yếu tố và làm rõ các yếu tố trong quá trình dạy học Tác giả đã thành công trong việc mô tả yếu tố môi trường một cách cụ thể và trực quan, thực tế quan điểm sư phạm tương tác đã được nhiều nước trên Thế giới và Việt Nam quan tâm, ứng dụng

Nghiên cứu về quan điểm dạy học sư phạm này đã có tác giả Việt Nam nghiên cứu: Phan Thị Thanh Hồng môn Tiếng Việt ở tiểu học Tuy nhiên chưa có một tác giả nào nghiên cứu về bộ môn Tự nhiên – Xã hội Vì vậy tôi

đã nghiên cứu quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên –

Xã hội làm đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Quan điểm dạy học sư phạm tương tác

1.2.1 Khái niệm

Theo “Đại từ điển Tiếng Việt”, “Tương tác’’ được hiểu như sau:

“Tương tác là tác động qua lại lẫn nhau” [28, 1769] Khái niệm này xem tương tác dưới góc độ chung nhất Nghĩa là, tương tác là quá trình dạy và quá trình học dựa trên sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh nhằm tạo sự trao đổi và biến đổi giữa các yếu tố đó

Tương tác trong dạy học được Thrmond (2003) định nghĩa như sau:

“Tương tác là những cam kết của người học trước nội dung bạn học, người dạy

và các phương tiện công nghệ sử dụng trong chương trình dạy học Những

Trang 17

tương tác theo đúng nghĩa của nó giữa người học – người học, người học – người dạy và với công nghệ sẽ tạo ra sự trao đổi lẫn nhau về thông tin Sự trao đổi này nhằm mở rộng sự phát triển tri thức trong môi trường học tập” [39, 2]

Theo Wagner: “Tương tác trong dạy học là tình huống trong đó đưa đến nhiệm vụ của người học đối với môi trường dạy học là học tập Thực hiện nhiệm vụ này giúp người học có được những phản hồi để điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với mục tiêu giáo dục Các tương tác trong dạy học cần thỏa mãn hai mục đích: kích thích và điều chỉnh người học nhằm đạt được kết quả theo mục tiêu học tập của họ” [43, tr.6 - 29]

Theo hai tác giả Jean Marc Denomme và Madeleine (1998) Sư phạm tương tác là cách tiếp cận về hoạt động dạy học giữa ba tác nhân là người dạy, người học và môi trường

Tiếp cận hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác không chỉ dừng lại ở việc xác định đúng, đủ các yếu tố cơ bản, hạt nhân của cấu trúc hoạt động dạy học, xác định đúng chức năng riêng biệt của từng yếu tố và quan hệ giữa chúng mà chủ yếu là làm rõ tác động tương hỗ giữa các yếu tố tạo thành một tập hợp liên kết chặt chẽ [25]

Như vậy quan điểm sư phạm tương tác là quan điểm dạy học tập trung trước hết vào người học, xem người học là người “thợ chính” của quá trình dạy học Mọi can thiệp sư phạm đều xuất phát từ nhu cầu, tiềm năng và trách nhiệm của người học đối với quá trình học tập của bản thân Người dạy trong quan điểm sư phạm tương tác là người hướng dẫn người học cách học, tạo ra những điều kiện thuận lợi để người học thực hiện phương pháp học của mình Môi trường là yếu tố ảnh hưởng đến cả người dạy và người học, tuy nhiên ở một mức độ nào đó thì người dạy và người học cũng có những tác động ngược trở lại đối với môi trường Quan điểm sư phạm tương tác được xây

Trang 18

dựng cơ bản dựa trên các tác nhân người dạy – người học – môi trường và các thao tác tương tác với nó

1.2.2 Các thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học

Người học (Estudiant): Khái niệm người học dùng để chỉ tất cả những

người có tham gia (thực hiện) hoạt động học “Người học là người thợ chính của quá trình đào tạo” [32, tr.22], người chịu trách nhiệm đến cùng về việc học Là người mà với năng lực cá nhân tham gia vào quá trình học để kiến tạo tri thức mới, rèn luyện kĩ năng và hình thành thái độ Bởi vậy, người học phải dùng tất cả các năng lực cá nhân của mình để tìm cách học và tìm cách hiểu tri thức để chiếm lĩnh nó

Với tư cách là một tác nhân theo quan điểm sư phạm tương tác, người học trước hết là người đi học mà không phải là người được dạy; trong quá trình nhận thức, người học phải dựa trên chính tiềm năng của mình, khai thác những kinh nghiệm, những tri thức đã được tích lũy để tiếp cận, khám phá tri thức Nhờ vào sự hứng thú, người học tham gia tích cực và biết tiếp tục quá trình học bằng cách đặt ra nhiệm vụ học tập cho chính bản thân mình và phải hoàn thành nó Đồng thời người học phải tham gia vào dự án học tập của tập thể, hoàn thành nhiệm vụ của tập thể giao phó, chia sẻ giúp đỡ, đóng góp ý kiến để tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ đặt ra

Người dạy (Enseignant): Người dạy là người được đào tạo, huấn luyện

với những chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm nhất định để có đủ phẩm chất, năng lực thực hiện chức năng của mình Người dạy là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển người học học Người dạy chỉ cho người học mục tiêu mà

họ phải đạt được, sắp xếp nội dung, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi mở, làm cho người học hứng thú học và đưa họ tới đích Theo quan điểm sư phạm tương tác người dạy không đóng vai trò là

Trang 19

“cái máy bơm đơn giản bơm tri thức vào đầu học sinh”, chức năng chính của người dạy là giúp người học học và hiểu, làm nảy sinh tri thức của người học theo nội dung và phương pháp hướng dẫn của người dạy Người dạy cần tạo

cơ hội cho người học được hoạt động, được bày tỏ, được thực hiện và tự khẳng định được mình, tránh sự áp đặt thông tin một chiều

Môi trường (Environnemnt): Môi trường là toàn bộ các yếu tố các điều

kiện xung quanh ảnh hưởng đến con người Môi trường trong quan điểm sư phạm tương tác là môi trường lớp học được tạo bởi sự hội nhập của các yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong ảnh hưởng đến con người Hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học diễn ra trong không gian, thời gian xác định và chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường Tất cả các yếu tố bên trong cũng như yếu tố bên ngoài; tạo thành môi trường của người dạy và người học Tác nhân này đóng một vai trò có ý nghĩa vì nó ảnh hưởng cả việc dạy và việc học Trong quan điểm sư phạm tương tác môi trường bao gồm: môi trường bên trong và môi trường bên ngoài

Môi trường bên trong: Chỉ các mối quan hệ nội tại bên trong của người dạy, người học như: tiềm năng trí tuệ, những xúc cảm, những giá trị của cá nhân, vốn sống, giá trị đạo đức, phong cách dạy và học, nhân cách…

Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu tố bên ngoài người học, người dạy như môi trường (không gian vật chất và tâm lí, thời gian, ánh sáng…), người dạy (hình thức bên ngoài đời sống nội tâm, kĩ năng giao tiếp…) ảnh hưởng tới người học Người học đặc biệt là tập thể học sinh với không khí học tập thi đua của lớp ảnh hưởng tới người dạy, nhà trường, tính di truyền tập tính của cha mẹ, những giá trị truyền thống, sự quan tâm của bố mẹ, xã hội, chế độ chính trị, hệ thống định hướng, chính sách kinh tế - xã hội…

Theo QĐSPTT, các yếu tố bên ngoài dễ nhận biết, tạo nên hoàn cảnh

để việc dạy học được diễn ra Còn các yếu tố bên trong thường khó nhận ra vì chúng ẩn chứa giá trị tinh thần, trí tuệ…của người dạy và người học

Trang 20

1.2.3 Cơ sở khoa học của quan điểm sư phạm tương tác

 Cơ sở tâm lí học

- Tâm lí học hoạt động

Tâm lí học khẳng định: “ Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý học người Hoạt động là tính tích cực từ bên trong (tâm lý) và bên ngoài (có ý thức ); hoạt động gắn liền chặt chẽ với nhận thức và ý trí, dựa hẳn vào chúng và không thể xảy ra được nếu thiếu chúng’’ [6, tr.44] Hoạt động sinh ra từ nhu cầu nhưng lại được điều chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được

Hoạt động có hai đặc trưng bản chất đó là tính có chủ thể (gọi tắt là tính chủ thể) và tính có đối tượng (gọi tắt là tính đối tượng) Tính chủ thể và tính đối tượng trong hoạt động thâm nhập vào nhau, tương tác với nhau, sinh thành ra nhau và tạo sự phát triển của hoạt động Con người muốn tồn tại không chỉ cần thích nghi với ngoại giới một cách sinh vật (trực tiếp) mà còn phải chiếm lĩnh lấy thế giới bên ngoài đó, biến chúng thành học vấn của riêng mình Quá trình lĩnh hội nền văn hóa nhân loại của mỗi người thực chất là quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách ở họ (người học)

Giáo dục (dạy học) có chức năng vĩ đại là giúp người học chiếm lĩnh nền văn hóa nhân loại, tạo nên cấu trúc mới, hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách để xứng đáng là người công dân bình đẳng trong xã hội Quá trình dạy học gồm hai quá trình bộ phận là quá trình dạy – hoạt động người dạy và quá trình học – hoạt động người học Trong hoạt động dạy thì chủ thể

là giáo viên và đối tượng của người dạy là sự phát triển tâm lý của người học Trong hoạt động học thì đối tượng là “vấn đề học tập” hay “bài học” mà người học cần chiếm lĩnh và chủ thể là người học Người học hoạt động vươn tới chiếm lĩnh “ vấn đề bài học” hay “ bài học” mà người học cần chiếm lĩnh

và chủ thể là người học Theo lý thuyết hoạt động thì việc hình thành hoạt động phải trải qua các giai đoạn sau [13, tr.110]:

Trang 21

- Hình thành động cơ học tập mà động cơ đó được hiện thân ở chính đối tượng của hoạt động học – “vấn đề học tập”

- Hình thành mục tiêu học

- Hình thành các hành động học

Như vậy, nếu người dạy trong phương pháp sư phạm của mình tác động tới các giai đoạn của hoạt động học, tạo điều kiện thúc đẩy người học hành động nhiều hơn, vận động nhiều hơn…sẽ giúp người học tích cực, chủ động hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, thực hiện tốt hoạt động học đem lại hiệu quả cao trong học tập

 Cơ sở giáo dục học

Theo QĐSPTT, người dạy với vai trò là người hướng dẫn, xác định kiến thức mới cần phải thu lượm, người học với vai trò là người thợ chính của việc học, họ cố gắng để gặt hái được tri thức được quy định bởi chương trình môn học Trong suốt quá trình học, người dạy lo lắng quan tâm đánh giá bước

đi của người học và đánh giá kết quả của người học với mục đích thu thập những thông tin phản hồi từ người học để đưa ra những điều chỉnh đúng đắn hoặc thực hiện một việc học khác Vì vậy, việc xây dựng kế hoạch đối với người dạy có nghĩa là vạch ra những mục tiêu học và đánh giá kết quả của người học Người dạy trong QĐSPTT là người lập kế hoạch và là người hướng dẫn Người dạy có trách nhiệm xác định mục tiêu phải đạt và đánh giá người học có đạt được hay không Trên cơ sở giáo dục học, QĐSPTT vận động vào quá trình tổ chức dạy học cho thấy việc xác định kế hoạch dạy, chỉ

rõ vai trò của mục tiêu học, làm sáng tỏ các biện pháp và công cụ, xem xét tầm quan trọng của đánh giá là hết sức quan trọng và cần thiết

 Cơ sở sinh lí học

Về mặt sinh học, người ta cho rằng quá trình dạy học về bản chất là quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện Giống như những động vật khác, con người sinh ra đã có sẵn một kiến thức làm cơ sở cho hành động, được điều khiển bởi những phản xạ không điều kiện (bẩm sinh, di truyền)

Trang 22

Quá trình học là quá trình hình thành các hành vi, các tác động phản xạ

có điều kiện, tác nhân kích thích là những hệ quả của các hành vi đó Cơ chế học là cơ chế hình thành các hành vi tác nhân phản xạ có điều kiện trong môi trường sống của chủ thể Trên cơ sở sinh học, QĐSPTT đặc biệt quan tâm đến

bộ máy – cơ sở sinh học của hoạt động học, đó cũng là cơ sở cho những tác động sư phạm của người dạy khi điều khiển hoạt động học của người học Bộ máy học được mô tả bởi sơ đồ sau:

Hệ thống thần kinh, nơi đối tượng tri thức được thiết lập, bao gồm hai

bộ phận: hệ thống thần kinh trung ương, hệ thống thần kinh ngoại biên Hệ thống thần kinh ngoại biên được cấu thành từ hai bộ phận: 5 giác quan và các nơron thần kinh Chính hệ thống thần kinh thiết lập sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài Các giác quan lấy thông tin ngoài chủ thể và truyền vào não qua các nơron trung gian Hệ thống thần kinh trung ương được hình thành từ ba chồng đặt lên nhau, biểu thị ba thời kỳ phát triển của nó: thời kỳ cổ nhất được gọi là vỏ não nguyên thủy (archicoritex), thời kỳ thứ hai gọi là vỏ não cổ (paleocortex) và thời kỳ mới nhất gọi là não người (neocortex) Như vậy, hệ thống thần kinh trung ương trải qua quá trình tiến hóa của các thời kỳ khác nhau từ bò sát, thời kỳ động vật có vú đến não người

Những thông tin trong quá trình học của người học được năm giác quan của bộ máy học tiếp nhận, các thông tin này được các nơron ẩn đi và cảm ứng năng lượng Nơron chuyển năng lượng theo hai hướng: ngoại vi vào não

và ngược lại Những thông tin nhận được thông qua việc truyền vào não sẽ được phân tích thành các thành phần khác nhau của cảm giác và của các sợi nhánh của hai nơron (hiện tượng dị diệt) Nơron thần kinh cũng thông qua các khớp nối các sợi nhánh của hai nơ ron gặp nhau, không để cho mọi thông tin đều được đi qua, nó sàng lọc chỉ cho những thông tin (dưới dạng năng lượng) có ích vào não (hiện tượng tương đồng) Nhờ chức năng mang

Trang 23

đến và mang đi, di diệt và tương đồng, các nơron thần kinh đã giúp cá thể làm chủ được các kích thích và tạo thành những phản ứng cùng với những kích thích cần phản ứng

Khoa học thần kinh xác định có sự phân hóa chức năng của bán cầu não phải và bán cầu não trái về việc học và trí nhớ Bán cầu não phải chú ý đến cái tổng thể, tích hợp các yếu tố lại trong cấu trúc hay trong quan hệ, xử

lý thông tin một cách đồng thời bằng phép loại suy và biểu hiện thông tin bằng hình ảnh trong không gian Bán cầu não trái thiên về phân tích, chú ý đến yếu tố, xử lý thông tin theo từng chuỗi thời gian và quy về các yếu tố bằng lời

Tính năng động của não người trong việc học không thể thu hẹp lại duy nhất ở những chức năng đồng nhất và chức năng không đồng nhất, được phân một cách riêng rẽ cho bán cầu phải và bán cầu trái Nhưng nếu các chức năng này hoạt động một cách hoàn toàn độc lập với nhau thì không có tri thức, kiến thức mới nào có thể ra đời được Nhất thiết là hai bán cầu phải bổ xung lẫn nhau và tạo nên một sự cân đối giữa chúng, chỉ có sự tương hỗ này mới có thể nảy nở một đối tượng tri thức mới Qua đó có thể rút ra ý nghĩa trong thực

hành sư phạm: trong quá trình dạy học cần kích thích được cả hai bán cầu não trái và phải của người học, đặc biệt là kích thích một trong hai bán cầu

để người học phát triển tốt khả năng hoạt động trí tuệ nào đó

Bộ máy học dựa trên hệ thống thần kinh nhưng quá trình học diễn ra qua môi giới của một cảnh được khởi động bởi các kích thích, các kích thích này kích thích các giác quan; các tri giác qua môi giới tiềm năng hành động đạt tới thể vành (limbique); thể vành này đánh giá sự cần thiết tiếp tục học và nếu đánh giá là tích cực, có hứng thú; bán cầu phải của não nhận các thông tin; trạng thái thứ ba xuất hiện khi đạt tới ngưỡng các dữ liệu; trong giai đoạn cuối cùng của bán cầu trái thừa nhận giải pháp được đưa ra [24, tr.60 – 61]

Trang 24

Bộ máy học có vai trò rất lớn đối với quá trình học tập và tiếp nhận những kiến thức mới Để nâng cao hơn nữa hiệu quả trong dạy học, các nhà giáo dục

đã vận dụng sáng tạo bộ máy học vào quá trình dạy học, đó là ưu điểm vượt trội của QĐSPTT

Vai trò của các giác quan đối với người học: Nhờ vào các giác quan

mà người học thu lượm tiếp nhận thông tin cho kiến thức mới và cần sử dụng thường xuyên các giác quan của mình để sử dụng tốt hơn tiềm năng đã thu được Không có một giác quan nào là không quan trọng đối với việc học Các giác quan kích thích bộ nhớ làm việc, làm xuất hiện ở bộ nhớ một loạt các dữ liệu tạo nên mối liên hệ với việc học mới Việc sử dụng gia tăng các giác quan làm thuận lợi cho việc tiếp nhận vào bộ nhớ và giúp cho phát triển bộ nhớ [32, tr.64 - 65]

Vai trò của các giác quan đối với người dạy: Người dạy điều chỉnh

phương pháp tiến hành sư phạm của mình theo đường đi bình thường mà người học chọn trong quá trình học của mình Người học cần sử dụng các giác quan, người dạy cần hướng dẫn chu đáo người học; giúp đỡ người học trong thao tác này Chính vì vậy, người dạy sẽ cố gắng “đập” vào các giác quan của người học hoặc gợi ý hoặc khơi dậy ở người học nhớ về kinh nghiệm đã qua Nếu người dạy kích thích được nhiều các giác quan thì sẽ làm phong phú các kinh nghiệm, các dấu ấn ở người học Nếu tất cả người học đều được tác động vào các giác quan thì họ sẽ hứng thú và nâng cao được hiệu quả học tập

Như vậy, QĐSPTT có cơ sở vững chắc là dựa trên sự phát triển của ngành khoa học thần kinh và được ứng dụng vào giáo dục

Trang 25

1.2.4 Đặc trưng của quan điểm sư phạm tương tác

QĐSPTT trong dạy học có các đặc trưng cơ bản sau:

- Quá trình dạy học tập trung vào người học

Trong dạy học, người học – đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới nhằm bộc lộ

và phát huy tiềm năng sáng tạo Trong dạy học cần chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, khơi dạy nội lực vốn có của mỗi người, và sự

nỗ lực tự học, trách nhiệm, hứng thú, chủ động của học sinh trong học tập nhằm đạt được kết quả cao

Theo QĐSPTT, trong dạy học, người học là người thợ chính của phương pháp học, người quyết định thực hiện mục tiêu học, quyết định sự phát triển nhân cách bản thân Vì vậy mọi yếu tố trong dạy học xét cho cùng

là phải xuất phát từ người học, vì người học và phải khơi dạy, duy trì tính tích cực của người học trong suốt quá trình học

Trong dạy học sự hứng thú của học sinh được thể hiện ở sự tập trung,

cố gắng trong học tập và sự nỗ lực khắc phục khó khăn, trở ngại để chủ động giải quyết các nhiệm vụ đặt ra Muốn được như vậy, thì tình huống đó, vấn đề

đó phải là đối tượng mà họ quan tâm, đam mê nhằm vượt qua thử thách, khó khăn để chinh phục vượt qua chính mình để đạt được mục đích đề ra

Quá trình tham gia tích cực của người học vào quá trình học chính là sự thể hiện vai trò người thợ chính của phương pháp học đem đến sự thay đổi, phát triển trong nhân cách người học [32, tr.27] QĐSPTT cho rằng vấn đề trước hết là chính người học phải tự ý thức và mong muốn được tham gia tích cực vào phương pháp học của mình, một thử thách của chính mình mà thử thách đó dựa trên cơ sở nhu cầu, sở thích thu lượm kiến thức hay sự thỏa mãn một lợi ích nào đó của cá nhân họ Đồng thời, dự án đó của họ phải nằm trong

Trang 26

dự án tập thể, của nhóm mà anh ta theo đuổi hoàn thành Trong quá trình đó phải có sự cộng tác, phối hợp với những người học khác dưới sự hướng dẫn của người dạy để dự án hoàn thành tốt đẹp Nghĩa là người học phải được đặt trong tình huống có vấn đề nhằm thực hiện mục tiêu học tập dưới sự cộng tác, hướng dẫn của người dạy

Ngoài ra để thực hiện tốt quá trình học thì cần phải nói đến trách nhiệm của người học Điều đó được thể hiện ở khả năng tự chủ, độc lập, ý thức, trách nhiệm của người học đối với bản thân, với việc học của chính mình Chẳng hạn: đôi khi có những vấn đề mà họ cần phải học nhưng bản thân họ không thích, nhưng nó cần thiết cho cuộc sống, bằng sức mạnh, ý chí họ tham gia quyết tâm tìm ra vấn đề Hoặc những vấn đề đó không nằm trong nội dung

họ tìm hiểu, nhưng họ lại say mê, hứng thú tìm hiểu vấn đề đó Dạy học theo QĐSPTT cho rằng: người học cần có ý thức, trách nhiệm trong suốt quá trình học Người học phải chứng tỏ khả năng tự chủ, không ỷ lại Chịu trách nhiệm cũng có nghĩa là đòi hỏi người học tham gia để khẳng định mình “dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm” và bởi bên cạnh họ luôn có sự cộng tác, trợ giúp, động viên, khích lệ kịp thời của những người dạy, người học khác cùng đồng hành

Môi trường dạy học là nơi diễn ra hoạt động của người học, người dạy Trong đó môi trường học tập của người học trên lớp và ngoài trời cũng có sự ảnh hưởng không nhỏ tới sự hứng thú, niềm say mê và tinh thần trách nhiệm của người học đối với quá trình học Ngoài ra sự cởi mở, thân thiện, tôn trọng người học, người dạy sẽ tạo ra cho học sinh một cảm giác tự tin, sẵn sàng bộc

lộ, hợp tác với người dạy Từ đó giúp người học có hứng thú tham gia vào hoạt động học

Trang 27

- Sự quan tâm và thúc đẩy các mối quan hệ tương tác trong dạy học

Trong dạy học việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của người học trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của người thầy Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự đánh giá để điều chỉnh cách học Giáo viên cho học sinh tương tác, đánh giá lẫn nhau Phương pháp này giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức học sinh chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt mục tiêu, kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu chương trình

Quá trình dạy học luôn vận động và phát triển không ngừng trên cơ sở

sự vận động của từng thành tố dạy học trong mối quan hệ tương tác đa chiều

Do đó xác định được các tương tác, vai trò của các yếu tố trong hệ tương tác, nội dung, phương thức, phương tiện thực hiện các tương tác, đảm bảo sự tương tác bình đẳng về chức năng của các yếu tố dạy học…sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các tương tác tích cực cộng hưởng nâng cao hiệu quả dạy học QĐSPTT đặc biệt quan tâm chú ý tới các mối tương tác trong dạy học

Các tương tác được thể hiện ít nhất ở ba cấp độ khác nhau đó là: + Tương tác qua lại bên ngoài (động thái bên ngoài, hành vi dạy học ban đầu) giữa con người và các yếu tố vật chất, giữa người và người ở phương diện vật lý, người dạy học và thông qua những vận động sinh học, ngôn ngữ, phương tiện trực quan…giữa các nguồn lực vật chất với nhau

+ Tương tác khách quan - chủ quan và ngược lại ( bước chuyển của hành

vi học tập do ảnh hưởng của tương tác bên ngoài): Đây là tương tác giữa các kinh nghiệm và các chức năng tâm lý được huy động với các nhân tố bên ngoài

+ Tương tác bên trong (hoạt động học tập ở cấp độ cá nhân): đối thoại

và suy ngẫm nội tâm, hay là tự học, tự giáo dục

QĐSPTT xác lập các mối tương tác cơ bản trong dạy học bao gồm: người dạy - người học, người dạy - môi trường, người học - môi trường,

Trang 28

người học - người học và trong đó mỗi yếu tố giữ một vai trò, chức năng riêng trong hệ tương tác

Như vậy, để tăng cường các tương tác đa chiều trong dạy học đòi hỏi mỗi yếu tố dạy học phải ý thức được vai trò chức năng của mình trong dạy học, có tâm thế sẵn sàng chia sẻ, cộng tác trong các nhiệm vụ, hoạt động dạy học, năng động và có khả năng thích ứng, chấp nhận môi trường làm việc thực tế Với vai trò chủ đạo, người dạy hoàn toàn có thể chủ động tổ chức sự vận hành các tương tác dạy học thông qua các phương pháp sư phạm, hình thức tổ chức dạy học lựa chọn theo hướng tăng cường tương tác tích cực thúc đẩy hoạt động học của người học trong điều kiện cụ thể

- Yếu tố môi trường dạy học thực sự được quan tâm

QĐSPTT đặc biệt chú ý tới tác động của yếu tố môi trường trong dạy học Môi trường dạy học diễn ra hoạt động dạy (người dạy) và hoạt động học (người học) Nó có ảnh hưởng không nhỏ tới người dạy và người học Cần phải tạo môi trường thân thiện, hòa nhập trong hoạt động học tập Môi trường học tập ấy được tạo bởi các điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện tài liệu học tập thuận lợi, số lượng người học…để có thể các tương tác giữa người dạy - người học và người học - người học được tăng cường Sự tương tác của các yếu tố bên trong (sức khỏe, tâm lý, trí tuệ, các giá trị, vốn kinh nghiệm…) và bên ngoài (phương thức hoạt động, thái độ, hành vi giao tiếp ứng xử, ngôn ngữ…) của người dạy và người học cũng góp phần tạo nên môi trường tinh thần của lớp học can thiệp vào tất các hoạt động dạy và học theo chiều hướng tích cực hay không

Sự quan tâm, ý thức những ảnh hưởng của môi trường tới từng thành

tố của dạy học, tới hiệu quả dạy học sẽ giúp cho các yếu tố tham gia vào dạy học nỗ lực tạo dựng, cải thiện môi trường dạy học theo hướng năng động, thân thiện, hòa nhập, đồng thời học cách chấp nhận, thích nghi với môi trường thực tế nhằm thực hiện các mục tiêu dạy và học Trong đó, người dạy đóng

Trang 29

vai trò quan trọng trong việc chủ động khởi xướng, điều chỉnh tính chất môi trường lớp học: từ khâu chuẩn bị chu đáo môi trường vật chất, môi trường thân thiện, cởi mở….tạo dựng bầu không khí tâm lý tích cực Vì vậy đòi hỏi người dạy phải ý thức, quan tâm xây dựng môi trường học tập thuận lợi nhằm thúc đẩy tính tích cực hoạt động học của người học nâng cao hiệu quả dạy học

1.3 Môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học

1.3.1 Mục tiêu dạy học môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học

Môn Tự nhiên – Xã hội ở tiểu học nhằm giúp học sinh:

Có một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:

+ Con người và sức khỏe: cơ thể người, cách giữ vệ sinh cơ thể và phòng tránh bệnh tật, tai nạn

+ Một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội

+ Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn

+ Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và

xã hội

Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi:

+ Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng

+ Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương

1.3.2 Cấu trúc nội dung môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học

Nội dung chương trình môn Tự nhiên – Xã hội được cấu trúc đồng tâm

từ lớp 1 đến lớp 3 theo ba chủ đề lớn: Con người và sức khỏe, Xã hội và Tự nhiên Các chủ đề này được mở rộng và nâng cao theo nguyên tắc từ gần đến

Trang 30

xa, từ đơn giản đến phức tạp giúp học sinh có cách nhìn về con người, thiên nhiên và cuộc sống xung quanh dưới dạng tổng thể đơn giản

Phân phối chương trình từ lớp 1 đến lớp 3 như sau:

Lớp 1: Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội đã được thay đổi theo hướng

tích cực cả nội dung của môn giáo dục sức khỏe từ năm 2002 – 2003 Chương trình gồm 35 bài (32 bài học và 3 bài ôn tập) được chia làm 3 chủ đề: Con người và sức khỏe; xã hội; tự nhiên Khi học xong lớp 1 học sinh biết: Sơ lược về cơ thể người, cách vệ sinh cá nhân, các thành viên trong gia đình, lớp học, và quan sát một số cây cối, con vật, thời tiết…

Thời lượng học tập được phân phối của lớp 1 là 1 tiết/ tuần, tổng số tiết là 35

Lớp 2: Tiếp nối chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, môn Tự nhiên và Xã

hội lớp 2 cũng được xây dựng theo hướng tích hợp nội dung kiến thức của môn giáo dục sức khỏe Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 gồm 35 tiết, trong

đó có 31 tiết bài học mới và 4 bài ôn tập, được phân phối theo 3 chủ đề:

 Con người và sức khỏe (10 bài )

+ Cơ quan vận động: cơ xương và khớp xương; một số cử động vận động; phòng chống cong vẹo cột sống; tập thể dục và vận động thường xuyên để cơ

+ Trường học: Các thành viên trong nhà trường và công việc của họ; cơ sở vật chất, an toàn khi ở trường

+ Huyện hoặc Quận nơi đang sống: cảnh quan tự nhiên, nghề chính của nhân dân, các đường giao thông, phương tiện giao thông, một số biển báo giao thông, an toàn giao thông (quy tắc đi những phương tiện giao thông công cộng)

Trang 31

Thời lượng học tập được phân phối của lớp 2 là 1 tiết/ tuần, tổng số tiết là 35

Lớp 3: Nội dung chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 3 có 3 chủ đề gồm 70

tiết của 35 tuần Trong đó có 63 bài học mới và 7 bài ôn tập được phân phối:

 Con người và sức khỏe: 16 bài mới và 2 bài ôn tập

+ Cơ quan hô hấp: vệ sinh hô hấp, phòng bệnh đường hô hấp

+ Cơ quan tuần hoàn, cơ quan bài tiết nước tiểu, cơ quan thần kinh

 Xã hội: 18 bài mới và 3 bài ôn tập, kiểm tra

+ Gia đình: Các thế hệ trong gia đình, họ nội; họ ngoại, thực hành về mối quan hệ họ hàng, phòng cháy khi ở nhà

+ Trường học: Các hoạt động ở trường học

+ Tỉnh nơi bạn đang sống, các hoạt động công nghiệp; nông nghiệp; thương mại

 Tự nhiên: 29 bài mới và 2 bài ôn tập kiểm tra

+ Thực vật và động vật: một số đặc điểm thân cây, lá cây, rễ cây, hoa quả, con côn trùng, tôm, cua cá

+ Mặt trời, Trái đất, hiện tượng ngày và đêm, mùa và khí hậu

Thời lượng học tập được phân phối của lớp 3 là 2 tiết/ tuần, tổng số tiết là 70

Sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 và lớp 2 và lớp 3 đều được chia làm 3 chủ đề, với mọi chủ đề được phân bằng những dải màu khác nhau, sách có kênh hình chiếm ưu thế đã thực sự là nội dung học tập chính Những hình ảnh trong sách giáo khoa đóng vai trò kép, vừa làm nhiệm vụ cung cấp thông tin, vừa làm nhiệm vụ chỉ dẫn học tập Kênh chữ ngắn gọn chủ yếu là các lệnh đưa ra một cách ngắn gọn xúc tích, dễ hiểu, dễ nhớ Cách trình bày một bài và các “ lệnh” chỉ dẫn cho học sinh một chuỗi các trình tự học tập như quan sát thực hành, liên hệ thực tế và trả lời để học sinh chiếm lĩnh

Trang 32

kiến thức mới Nội dung kiến thức được phát triển theo nguyên tắc từ gần đến

xa, dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia đình, trường học, từ cuộc sống xã hội xung quanh đến thiên nhiên rộng lớn, từ những cây cối, con vật thường gặp đến Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao…Nội dung kiến thức trong chủ đề đều được tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe một cách hợp

lý nhuần nhuyễn; đi từ sức khỏe cá nhân đến sức khỏe cộng đồng…

1.3.3 Đặc điểm của môn Tự nhiên - Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học

Chương trình được xây dựng theo tư tưởng tích hợp

Chương trình môn TNXH tích hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như: sinh học, sức khỏe, dân số, môi trường, kĩ năng sống Tùy theo trình độ nhận thức của học sinh ở từng giai đoạn mà chương trình có cấu trúc cho phù hợp, cụ thể:

+ Chương trình môn TNXH lớp 1, 2,3 cấu trúc thành 3 chủ đề lớn: con người và sức khỏe, xã hội, tự nhiên Chương trình được cấu trúc đồng tâm và được mở rộng dần qua từng lớp

Như vậy, đặc điểm này giúp cho học sinh tích lũy được nhiều kiến thức khác nhau của nhiều lĩnh vực Điều này thuận lợi cho việc các em học tập trao đổi kiến thức, học hỏi, hợp tác, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm được với nhau góp phần tạo môi trường học tập đa tương tác

Chương trình có cấu trúc đồng tâm và phát triển qua các lớp

Trong chương trình môn TNXH, các kiến thức được trình bày từ gần đến xa, từ dễ đến khó nhằm phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Những cái đã biết, đã học là cơ sở, là điểm tựa cho việc học tập những kiến thức tiếp theo

Nội dung chương trình được lựa chọn cần thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với học sinh, giúp các em có thể áp dụng các kiến thức khoa học vào cuộc

Trang 33

sống hàng ngày Chương trình chú trọng đến việc hình thành và phát triển kĩ năng trong học tập và kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống

Đặc điểm này giúp cho quá trình tương tác giữa giáo viên, học sinh, môi trường thuận lợi hơn Cụ thể là giúp cho học sinh vận dụng kiến thức đã học, đã có tìm ra kiến thức một cách dễ dàng hơn, tạo động cơ, động lực học sinh học tập

Kiến thức môn học gần gũi với cuộc sống xung quanh các em

Nội dung chương trình được lựa chọn thiết thực gần gũi và có ý nghĩa với HS giúp các em có thể áp dụng được các kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng ngày Chương trình chú trọng đến việc hình thành và phát triển các

kĩ năng trong học tập và kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống

Đối tượng học tập của môn học chính là các sự vật hiện tượng cụ thể, gần gũi với học sinh (với các môn học khác thì chúng chỉ là phương tiện)

Các sự vật hiện tượng này các em đã được tiếp xúc từ trước khi tới trường từ nhiều nguồn khác nhau: gia đình, các phương tiện thông tin đại chúng, cộng đồng, bạn bè…

Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tạo tình huống trong dạy học nhằm gắn kiến thức với thực tiễn và liên hệ tới vốn sống của học sinh Đồng thời tạo được bầu không khí học tập thân thiện, cởi mở trong lớp học giúp học sinh tích cực, chủ động hơn trong hoạt động học tập của mình

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Dựa vào những kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên – Xã hội, chúng ta

có thể rút ra được kết luận sau:

Quan điểm sư phạm tương tác là một hướng tiếp cận dạy học tổng hợp, khoa học, cơ bản và năng động: tập trung vào người học và cơ bản dựa trên tác động qua lại: người dạy – người học – môi trường, làm tăng giá trị các mối quan hệ tương tác dạy học Quan điểm sư phạm tương tác không phải là một hình thức, kỹ thuật, biện pháp hay phương pháp dạy học mà nó thuộc trào lưu sư phạm mở và phỏng theo quan niệm tổ chức các hoạt động sư phạm Yếu tố môi trường thực sự được quan tâm mang lại cho người học sự thành công nhiều nhất trong việc học thực hiện mục tiêu dạy học

Trong quan điểm sư phạm tương tác, vai trò người học có tính chất quyết định Người học là người kiến tạo tri thức cho bản thân bằng sự huy động tiềm năng của chính mình: vốn kinh nghiệm, trí tuệ dưới sự tác động của người dạy và môi trường Để làm tròn trách nhiệm học đòi hỏi người học phải có sự hứng thú, tham gia tích cực và có trách nhiệm vào quá trình học Người dạy với vai trò là người hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện người học thực hiện hoạt động học theo những mục tiêu xác định theo chương trình học thông qua các phương pháp sư phạm của mình Môi trường dạy học có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới người dạy, người học mà chính họ cũng góp phần để tạo dựng để rồi cũng chịu ảnh hưởng, cùng biến đổi và cùng thích nghi

Quan điểm sư phạm tương tác có cơ sở sinh học, tâm lý học và cơ sở giáo dục học Xét về góc độ sinh học, quan điểm sư phạm tương tác đề cao vai trò vận hành của bộ máy học, về góc độ giáo dục học đề cao việc xây dựng kế hoạch dạy, chỉ rõ vai trò của mục tiêu học, làm sáng tỏ các phương pháp và công cụ sư phạm, chú ý tầm quan trọng của đánh giá

Trang 35

Muốn việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác đat hiệu quả, trong quá trình dạy học phải tạo ra các tương tác phù hợp giữa người dạy, người học, môi trường và nội dung kiến thức để các tương tác không chỉ diễn ra giữa người dạy và người học mà ngược lại còn diễn ra giữa người học và người dạy, người học và môi trường, người dạy tác động đến môi trường, môi trường tác động đến người học – người học tác động đến người dạy và ngược lại

Dựa vào mục tiêu môn học, cấu trúc nội dung và đặc trưng môn học

Tự nhiên – Xã hội, tôi nhận thấy, dạy học môn Tự nhiên – Xã hội theo quan điểm này là rất cần thiết và phù hợp Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên – Xã hội đáp ứng được mục tiêu dạy học hiện nay và phù hợp với yêu cầu đổi mới dạy học Ngoài ra vận dụng được quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên – Xã hội tạo điều kiện tích cực hóa hoạt động học của học sinh, kích thích được khả năng sáng tạo, ham hiểu biết của học sinh Muốn vận dụng tốt quan điểm này thì giáo viên phải có kiến thức và kỹ năng dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác, phải

có cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, phương tiện dạy học đa dạng, phong phú Người học phải có ý thức động cơ học tập đúng đắn và cần có sự tham gia tích cực trong hoạt động học tập Làm được như vậy hiệu quả giờ học sẽ được nâng cao, phù hợp với chương trình đổi mới hiện nay

Trang 36

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM

SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI

Ở TIỂU HỌC 2.1 Đặc điểm của hoạt động dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học

2.1.1 Học sinh tiểu học trong học tập môn Tự nhiên - Xã hội

Học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển, đây là giai đoạn đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển của các giai đoạn tiếp theo Trong giai đoạn hiện nay lứa tuổi học sinh tiểu học từ 611 tuổi là một giai đoạn phát triển có những đặc trưng riêng với hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo

Đặc điểm cơ bản của sự chú ý của học sinh tiểu học là chú ý không chủ định, khả năng điều khiển chú ý còn hạn chế Sự chú ý của học sinh tiểu học vẫn còn gắn với một động cơ ngắn chẳng hạn: chăm phát biểu để được cô giáo khen, được điểm 10 để bố mẹ thưởng, chỉ chú ý trong những giờ học có

đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều hình ảnh Đặc điểm chú ý ở lứa tuổi này chưa bền vững do quá trình ức chế còn yếu Vì vậy mà đối với học sinh tiểu học các em không thể tập trung chú ý lâu vào công việc mà rất

dễ bị phân tán Sự chú ý tốt nhất (tập trung) của học sinh tiểu học chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định Đối với học sinh lớp 1, 2, 3 là 2025 phút Đối với học sinh lớp 4 - 5 là 3035 phút Vì vậy trong quá trình dạy môn Tự nhiên

- Xã hội ở tiểu học, để việc học tập của học sinh đạt kết quả tốt đòi hỏi bản thân các em phải thường xuyên được rèn luyện chú ý có chủ định Để làm được điều này thì trong quá trình dạy học giáo viên cần tổ chức, điều khiển sự chú ý của của các em một cách tự giác sao cho trẻ tập trung hoạt động, học tập không chỉ vì cái các em thích mà còn vì cả những cái các em không thích bằng việc sử dụng tối đa các phương tiện dạy học có thể như: tranh ảnh ,vật thật, các phương tiện nghe nhìn để thu hút tối đa sự chú ý của học sinh

Trang 37

Ở học sinh tiểu học phát triển cả trí nhớ có chủ định lẫn trí nhớ không chủ định Tuy nhiên việc ghi nhớ không chủ định vẫn đóng vai trò quan trọng (các em chỉ dễ nhớ và nhớ lâu, nhớ nhanh những gì mình thích, những gì gây ấn tượng, cảm xúc mạnh mẽ) Các em thường có khuynh hướng học thuộc tài liệu theo đúng từng câu, từng chữ Ở giai đoạn này giáo viên cần hướng dẫn cho các em ghi nhớ một cách hợp lý, tránh học vẹt để tăng hiệu quả ghi nhớ Trí nhớ có chủ định dần phát triển ở các lớp trên, năng lực ghi nhớ tăng dần, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định phụ thuộc vào mức độ hoạt động trí tuệ Đối với môn Tự nhiên - Xã hội là môn học gần gũi, sử dụng nhiều vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh, nên học sinh rất hứng thú tham gia xây dựng bài học Nhất là khi học sinh được tham gia vào các giờ học ngoại khóa ngoài giờ, tham quan Tuy nhiên do đặc điểm tâm lí của học sinh

dễ nhớ nhưng cũng dễ quên nên giáo viên cần tổ chức cho học sinh biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em biết đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú vui vẻ khi ghi nhận kiến thức

Đối với học sinh tiểu học tình cảm có vai trò đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền với nhận thức và hoạt động của các em Đối tượng gây cảm xúc cho học sinh tiểu học thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, sinh động Do đó những bài giảng khô khan, khó hiểu, nặng về lý luận thường gây cho các em sự mệt mỏi, chán trường Nói chung, hoạt động trí tuệ của các em đượm màu cảm xúc các em suy nghĩ bằng hình thức "xúc cảm", "âm thanh"; các quá trình nhận thức của các em đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc Tình cảm của các em chưa bền vững, chưa sâu sắc, các em đang ưa thích đối tượng này nhưng lại dễ dàng bị lôi cuốn vào một đối tượng khác hấp dẫn hơn và quên mất đối tượng cũ Vì vậy trong quá trình dạy học môn Tự nhiên

Trang 38

– Xã hội có thể khơi dậy ở các em xúc cảm học tập thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập cá nhân, nhóm phong phú, đa dạng thông qua đó phát huy tính tích cực, sáng tạo trong nhận thức của các em, nâng cao hiệu quả dạy học

Học sinh tiểu học thường dễ bị kích động bởi những kích thích bên trong và bên ngoài Do vậy các em thường có những hành động bột phát, các

em ở lứa tuổi này thường hồn nhiên trong mối quan hệ với người lớn, với thầy

cô, bạn bè Chính vì vậy các em tin vào sách vở, tin vào người lớn, bạn bè, tin vào năng lực bản thân, nhưng niềm tin đó chưa có lý trí soi sáng Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên – Xã hội cần tạo điều kiện cho học sinh có nhu cầu trao đổi hiểu biết của mình cho người khác và lĩnh hội những hiểu biết của người khác

Ở học sinh tiểu học việc đánh giá còn nặng về cảm tính chứ chưa đi sâu vào tiêu chuẩn hiện thực Với các em thầy cô giáo là thần tượng, lời thầy cô là chân lý, việc làm của thầy cô là chuẩn mực Vì vậy trong quá trình dạy học cần giúp các em biết đánh giá và tự đánh giá là hết sức quan trọng bởi nó sẽ là sức mạnh tinh thần để giúp các em cố gắng tự mình vượt lên mọi khó khăn trong học tập và cuộc sống

Tư duy của học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh đầu cấp còn mang tính trực quan, cụ thể hoạt động phân tích, tổng hợp còn mang nhiều dấu vết của tư duy trẻ mẫu giáo như khi đọc bài các em hay đọc to, lên lớp 3 - 4 trẻ có thể đọc bài mà không cần đọc to thành tiếng Trong hoạt động khái quát hoá học sinh lớp 1, 2 thường căn cứ vào dấu hiệu bên ngoài cụ thể: trực quan để phân loại và khái quát Học sinh lớp 4, 5 tư duy trừu tượng phát triển hơn, trẻ

đã biết căn cứ vào các dấu hiệu bản chất bên trong, những dấu hiệu chung của hàng loạt sự vật, hiện tượng để khái quát thành khái niệm

Trang 39

2.1.2 Giáo viên tiểu học trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội

Giáo viên tiểu học là người có vị trí quan trọng, hướng dẫn học sinh

tham gia các hoạt động học tập Giáo viên trong môn Tự nhiên – Xã hội là

những người có lòng yêu nghề, có kiến thức chuyên môn truyền thụ nội dung kiến thức cho học sinh và là người có tâm huyết với nghề Qua thực tế tìm hiểu, kết hợp trao đổi với giáo viên trong các trường học tôi thấy trình độ giáo viên ở các trường tiểu học đều đạt chuẩn và trên chuẩn, đây là một yếu tố rất thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo viên Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về trình độ đào tạo cũng như năng lực giảng dạy, hiện nay trong các trường tiểu học giáo viên đã theo học các lớp đào tạo để nâng cao trình độ hiểu biết của mình Các trường Tiểu học hiện nay đều tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các thầy cô được học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên trong nhà trường Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của cấp Tiểu học hiện nay và ảnh hưởng đến phương pháp dạy học của giáo viên Có trình độ cao giáo viên mới nắm vững được tri thức, phương pháp dạy học phù hợp đạt hiệu quả cao Từ đó giúp giáo viên yêu nghề và có tâm huyết với nghề hơn Tất cả các giáo viên trong các trường Tiểu học đều thấy được rằng tầm quan trọng của môn Tự nhiên – Xã hội Đây là một nhận thức đúng đắn, vì chúng ta biết môn Tự nhiên - Xã hội trong nhà trường Tiểu học có nhiệm vụ cung cấp những tri thức cơ bản ban đầu về các sự vật hiện tượng trong tự nhiên xã hội và các mối quan hệ trong đời sống thực tế của con người xảy ra xung quanh các em Chính vì vậy mà việc dạy học môn Tự nhiên - xã hội cho học sinh rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách, hiểu biết về thế giới xung quanh của các em sau này

2.1.3 Môi trường dạy học môn Tự nhiên - Xã hội

Môi trường dạy học môn Tự nhiên – Xã hội là toàn bộ các yếu tố , các điều kiện xung quanh ảnh hưởng đến h ọc sinh tiểu học Môi trường dạy học bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài

Trang 40

Môi trường bên ngoài như: phòng học, bàn ghế, ánh sáng, âm thanh phải phù hợp với học sinh tiểu học về chiều cao của bàn ghế, độ sáng của phòng học Nếu môi trường học tập thoáng mát , không gian rộng , điều kiện vật chất đầy đủ trang thiết bị sẽ tạo cho học sinh sự hứng thú trong quá trình tham gia môn học

Môi trường bên trong: Chỉ các mối quan hệ nội tại bên trong của học sinh tiểu học và giáo viên như: tiềm năng trí tuệ, những xúc cảm, những giá trị của cá nhân, vốn sống, giá trị đạo đức, phong cách dạy và học, nhân cách…Môi trường bên trong chính là động lực giúp học sinh hứng thú , ham học hỏi Nó cũng giúp cho học sinh có thái độ tích cực , tự giác phát huy tính tích cực của bản thân Để có được độ ng lực đó một phần phụ thuộc vào khả năng thích khám phá , tìm hiểu của học sinh đối với các sự vật , hiện tượng xung quanh, một phần cũng phụ thuộc vào khả năng tác động của giáo viên , gia đình để giúp học sinh yêu thích môn học

2.2 Thực trạng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học

2.2.2 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra là học sinh tại 5 trường Tiểu học ở 3 tỉnh: Hà Nội,

Hà Nam, Vĩnh Phúc Cụ thể là ở Hà Nội có 2 trường: Trường Tiểu học Thành Công A (Ba Đình – Hà Nội), Trường Tiểu học Nam Thành Công (Đống Đa –

Hà Nội) Hà Nam có 2 trường: Trường Tiểu học Lê Hồng Phong (Phủ Lý –

Hà Nam), Trường Tiểu học Đinh Xá (Phủ Lý – Hà Nam) Vĩnh phúc có 1 trường: Trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân (Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc)

Ngày đăng: 07/09/2015, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Nhận  thức  của  giáo  viên  về  bản  chất  tương  tác  trong  dạy  học môn Tự nhiên – Xã hội - Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên   xã hội ở tiểu học (LV01262)
ng 1: Nhận thức của giáo viên về bản chất tương tác trong dạy học môn Tự nhiên – Xã hội (Trang 42)
Bảng 2: Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của mối quan hệ  tương tác trong dạy học môn Tự nhiên – Xã hội - Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên   xã hội ở tiểu học (LV01262)
Bảng 2 Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của mối quan hệ tương tác trong dạy học môn Tự nhiên – Xã hội (Trang 43)
Bảng 3: Thực trạng dạy học môn Tự nhiên – Xã hội ở tiểu học theo  QĐSPTT - Vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn tự nhiên   xã hội ở tiểu học (LV01262)
Bảng 3 Thực trạng dạy học môn Tự nhiên – Xã hội ở tiểu học theo QĐSPTT (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w