1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4

116 1,3K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 754,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã nêu lên các cách thức học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để HS bộc lộ, hình thành, phát triển các cách thức học tập đó, một thành phần của hoạt động học tập, đó là hành

Trang 1

ĐÀO THỊ THANH THU

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN “LUYỆN TỪ VÀ CÂU” LỚP 4

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

ĐÀO THỊ THANH THU

PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN “LUYỆN TỪ VÀ CÂU” LỚP 4

Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)

Mã số : 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học : TS Bùi Minh Đức

HÀ NỘI, 2014

Trang 3

Tác giả luận văn xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong

và ngoài trường ĐHSP Hà Nội 2 – những người đã tận tình dạy bảo và động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và triển khai đề tài luận văn thạc sĩ

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới người hướng dẫn khoa học - TS Bùi Minh Đức và các thầy, cô giáo ở các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4” (áp dụng cho đối tượng học sinh ở địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc) là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả trong khóa luận này không trùng lặp với bất kì kết quả nào khác và chưa từng được ai công bố trước đây

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2014

Học viên

Đào Thị Thanh Thu

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.2.1.1.2 Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng và

cấu tạo của từ

24

Trang 6

1.2.1.2 Cấu trúc bài học “Luyện từ và câu” trong SGK và định

1.2.1.2.1 Cấu trúc bài học “Luyện từ và câu” trong SGK 26

1.2.2 Thực trạng dạy và học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4 34

1.2.3.Khảo sát thực trạng tính tích cực học tập phân môn “Luyện từ

và câu” của HS lớp 4 ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc 37

Trang 7

2.2.2.1 Tích luỹ kiến thức về đời sống và Tiếng Việt 47 2.2.2.2 Huy động kiến thức cũ, kiến tạo kiến thức mới 48 2.2.2.3 Phối hợp các hoạt động ngoài giờ lên lớp để tích luỹ vốn

2.3 Các biện pháp tổ chức các hoạt động học tập “Luyện từ và câu”

2.3.1 Các hoạt động học tập trong phân môn LTVC 50 2.3.2 Các biện pháp tổ chức hoạt động học tập tích cực 51 2.3.2.1 Tổ chức đàm thoại gợi mở để tích cực hóa hoạt động học

2.3.2.2 Tổ chức HS giải quyết các vấn đề học tập 54 2.3.2.3 Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học LTVC 54 2.4 Các biện pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS ở phân

2.4.2 Mục tiêu chi tiết cho từng nội dung kiến thức của phân môn LTVC

57

2.4.3.1.Bảng phân bố 2 chiều câu hỏi trắc nghiệm 60

2.4.4.1 Bảng phân bố 2 chiều câu hỏi tự luận 68

Trang 8

3.4 Tổ chức thực nghiệm 80 3.5 Nội dung thực nghiệm và đánh giá kết quả 80

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tính tích cực trong học tập là một trong những vấn đề khoa học cơ bản của lý luận dạy học, đồng thời là nội dung được quan tâm, nghiên cứu từ các bình diện của lý thuyết tâm lý, giáo dục Tính tích cực học tập có vai trò quyết định hiệu quả học tập của HS Học sinh chỉ có thể hiểu sâu sắc tài liệu học tập và biến nó thành giá trị riêng nếu kiên trì và nỗ lực hoạt động trí tuệ trong học tập để tự “khám phá” phát hiện ra tri thức Giải quyết thành công nhiệm vụ này trước hết sẽ tạo tiền đề chắc chắn cho việc nắm vững sâu sắc tài liệu học tập Đồng thời nó đảm bảo những điều kiện để học sinh tiếp tục rèn luyện bản thân một cách có hệ thống và không ngừng học tập

1.2 Phát huy TTC học tập của HS là một phương diện cơ bản của lý luận đổi mới dạy học Đây là nguyên tắc dạy học xuyên suốt, làm cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động dạy học cũng như huy động phương pháp, biện pháp dạy học Mặt khác trong hoạt động dạy học, TTC học tập không chỉ tồn tại như một trạng thái, một điều kiện mà nó còn là kết quả của hoạt động học tập, là mục đích của quá trình dạy học Tính tích cực học tập là một phẩm chất nhân cách, một thuộc tính của quá trình nhận thức giúp cho quá trình nhận thức luôn luôn đạt kết quả cao, giúp cho con người có khả năng học tập không ngừng

1.3 Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp sau này Là những chủ nhân tương lai của đất nước, HS không chỉ cần có vốn kiến thức cơ bản, kĩ năng phổ thông cần thiết mà còn phải có một ý thức học

quá trình học tập lâu dài sau này của các em

Trang 11

1.4 Nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học nhằm trang bị cho HS những kiến thức về hệ thống tiếng Việt, chuẩn tiếng Việt, rèn cho HS kĩ năng

sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Môn Tiếng Việt tập trung thể hiện ở bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) Đây là những kỹ năng quan trọng để HS học tập

và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Đồng thời là cơ sở để

HS tiếp thu và học tốt các môn học khác ở các lớp trên Thông qua việc dạy và học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy

Trong môn Tiếng Việt, phân môn LTVC có nhiệm vụ góp phần cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường qui nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói – viết), bên cạnh đó còn cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài Ngoài ra phân môn LTVC còn giúp HS bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần giúp HS hình thành nhân cách

và nếp sống văn hoá của con người Việt Nam Vì vậy quá trình dạy học phân môn LTVC là quá trình khái thác tiềm năng và tâm lực của HS, phát triển TTC hoạt động nhân thức và năng lực tự hoàn thiện bản thân của HS

1.5 Trong những năm trở lại đây, giáo dục và đào tạo đã liên tục đổi mới với những tư tưởng chủ đạo : Tích cực hóa hoạt động của người học, dạy học hướng vào hoạt động của người học Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định rõ, cần tập trung cải tiến giảng dạy và học tập ở các ngành, bậc học, cấp học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy tính chủ động sáng tạo và năng lực tự học của HS, xem đây là một giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dục Đó cũng chính là nội dung định hướng đổi mới chương trình, SGK sau năm 2015 tới đây được đưa ra

1.6 Thực tiễn cho thấy, HS tiểu học còn gặp nhiều khó khăn trong học tập môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4 Một trong

Trang 12

những nguyên nhân ấy chính là do TTC, chủ động, sáng tạo trong học tập của

HS chưa được cao, chưa được khuyến khích, phát huy, nuôi dưỡng

Xuất phát từ các lý do trên, tôi chọn đề tài : Phát huy tính tích cực học tập

của học sinh trong dạy học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Về tính tích cực, tính tích cực học tập

Tính tích cực trong học tập là vấn đề đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà

tâm lý, giáo dục học Trong cuốn “Dạy trẻ học”, Robert Fisher đã trình bày

10 chiến lược dạy học Xuất phát từ quan điểm “những người học thành công không chỉ giàu kiến thức mà họ còn biết phải học thế nào”; mục đích của tác giả là làm cho người học có tư duy để học tập có hiệu quả.Tác giả đã trình bày khung hình cho một chính sách học tập tích cực cho HS Đó là “1.Tư duy

để học; 2.Đặt câu hỏi; 3.Lập kế hoạch; 4.Thảo luận; 5.Vẽ sơ đồ nhận thức; 6.Tư duy đa hướng; 7.Học tập hợp tác; 8.Kèm cặp; 9.Kiểm điểm; 10.Tạo nên một cộng đồng học tập” Tác giả đã nêu lên các cách thức học tập hiệu quả và một hệ thống bài tập để HS bộc lộ, hình thành, phát triển các cách thức học tập đó, một thành phần của hoạt động học tập, đó là hành động tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân [31]

Carrol.E.Jzard trong tác phẩm “những cảm xúc của người” đã công bố

công trình nghiên cứu về hệ thống thái độ của con người – thành phần không thể thiếu của TTC của con người, bởi “có thể phán đoán vị trí xã hội trên bậc thang văn minh theo mức độ phổ biến tính tò mò trong các thành viên của nó, rằng sự phát triển và sự sụp đổ của các nền văn minh có liên quan ở mức độ nào đó, đến những bộ óc vĩ đại của những nền văn minh này theo đuổi khát vọng khái quát lý luận và tìm kiếm cái mới, chứ không phải là suy ngẫm những thành tựu của quá khứ” [5] Tác giả đã trình bày ảnh hưởng chi phối

Trang 13

của cảm xúc với ý thức, mức độ phát triển cao của TTC Tác giả còn nghiên cứu sâu sắc thành phần tâm lý quan trọng của TTC của con người mà biểu hiện từ mức độ thấp là “tính tò mò” và ở mức độ cao là “khao khát nghiên cứu”, khao khát khám phá cũng như tính lựa chọn trong tri giác và chú ý… Trong tác phẩm này tác giả đã tiếp thu thành tựu của các tác giả nghiên cứu

về các hiện tượng trên một cách có chọn lọc, có phê phán như Freud, Tomkins, Murphy, Mc Dougall, Berlyne, Shand…

Đặc biệt nghiên cứu của S.Franz về những biểu hiện thái độ học tập tích cực đã được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ trên lớp chú ý nghe giảng; 2/ học bài và làm bài đầy đủ; 3/ cố gắng vươn lên học được nhiều; 4/ không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/ đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/ cố gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung thực; 7/ thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ hăng hái nhiệt tình trong giờ thảo luận

và chữa bài tập; 9/ hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc; 10/ giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận [10]

Các nhà Tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thuỷ, Hồ Ngọc Đại, Trần Hữu Luyến, Nguyễn Kế Hào, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn…tiếp cận quan điểm duy vật biện chứng và hoạt động đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách Tính tích cực của nhân cách bao gồm các thành tố tâm lý như nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng Các thành tố tâm lý này của TTC luôn tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạt động muôn màu, muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo, thế giới xung quanh, cải tạo bản thân con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình [8], [9], [13], [32], [45]

Trang 14

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng “hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Đó chính là con người đang hoạt động Tính chủ thể bao hàm trước hết TTC Đây cũng là đặc tính chung của sự sống và đến con người tính tích cực phát triển tới đỉnh cao thành tính chủ động, say mê, nhiệt tình Con người là chủ thể hoạt động, đồng thời con người càng tích cực hoạt động tính chủ thể càng phát triển cao và do đó con người sẽ dần dần hoàn thiện” Như vậy tác giả đã vạch ra được mối liên hệ chặt chẽ giữa TTC với hoạt động của con người [44]

Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc khi nghiên cứu thực trạng thái độ học tập của HS cũng đã nêu ra các chỉ số như chú ý, hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đọc thêm và làm các bài tập khác, vận dụng hay chuyển tải những gì đã học vào thực tế, hình thành và phát triển các quan hệ với thầy, với bạn nhằm mục đích giúp bản thân học tập tốt hơn Có thể nói các tác giả đã thành công trong quá trình nghiên cứu thái độ học tập – một thành phần không thể thiếu của TTC học tập của HS - bởi khi HS có thái độ học tập đúng đắn thì các em mới tích cực tìm ra các cách thức tối ưu để lĩnh hội tri thức từ đó mới chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân một cách có hiệu quả [27]

Nguyễn Ngọc Bảo khi công bố các công trình nghiên cứu của mình về

“khái niệm tính tích cực, tính độc lập nhận thức và mối liên hệ giữa chúng” cũng đã đề cập tới TTC và TTC nhận thức dưới góc độ Triết học và Tâm lý học [1], [2] , [3] Theo tác giả, TTC nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao của các chức năng tâm

lý nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức Nó vừa là mục đích học tập vừa

là phương tiện vừa là điều kiện để đạt mục đích, vừa là kết quả của học tập

Nó là sản phẩm hoạt động cá nhân

Trang 15

2.2 Về dạy học phân môn Luyện từ và câu

Ở lĩnh vực khoa học này, Phan Thiều và Lê Hữu Tỉnh – trong tài liệu

Dạy học từ ngữ ở Tiểu học - đã trình bày cơ sở lí luận chung của việc dạy từ

ngữ, phân tích những ưu điểm và hạn chế của chương trình và tài liệu dạy học

từ ngữ ở Tiểu học, đồng thời cũng đưa ra quy trình dạy học các dạng bài, trong đó có quy trình dạy học lí thuyết về từ ngữ cho HS lớp 4, 5 Tất cả những nhận xét về nội dung và đề nghị về phương pháp dạy đều dựa trên chương trình và SGK cải cách [35]

Trong Hỏi đáp về dạy - học Tiếng Việt 4 và Hỏi đáp về dạy - học Tiếng

Việt 5, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết và các cộng sự đã giúp GV nắm được

những vấn đề cần quan tâm trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt, giải đáp những băn khoăn thắc mắc của nhiều GV hiện nay về nội dung và phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt cũng như đã đưa ra quy trình, các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá vai trò của người học cũng như những điều cần lưu ý trong khi dạy và học các bài lí thuyết về từ ngữ [39], [40]

Trong khi đó, với giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu

học, GS.TS Lê Phương Nga đã nêu lên một số nguyên tắc và thủ thuật dạy

học LTVC Ngoài ra tác giả còn gợi ý về việc tổ chức dạy các kiểu bài, các thể loại theo nội dung dạy học LTVC ở tiểu học Tác giả đưa ra những ví dụ

cụ thể làm dẫn chứng, đồng thời khái quát lên thành các dạng bài để rèn luyện các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt ở Tiểu học [23]

Trần Mạnh Hưởng, trong sách Luyện từ và câu, đã đưa ra những điều

cần lưu ý về môn Tiếng Việt và phân môn LTVC ở lớp 4, từ đó giúp GV có cái nhìn bao quát hơn về phân môn này để giúp các em học tập ở nhà Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những chỉ dẫn cụ thể cho việc học từng tiết LTVC trên lớp, mỗi tiết học tác giả đưa ra mục đích, yêu cầu, hình thức luyện tập

Trang 16

của từng bài tập trong SGV, mức độ cần rèn luyện , cách thức hướng dẫn HS làm bài tập để giúp HS học tập ở nhà tốt hơn [14]

Ở cuốn Vở Bài tập nâng cao Từ và Câu 4, GS.TS Lê Phương Nga và

TS Lê Hữu Tỉnh giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức về Từ ngữ, Ngữ pháp đã học, mặt khác giúp các em hình thành phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt Các bài tập này vừa có tính chất cơ bản, phù hợp với đa số trình độ

HS lớp 4, lại vừa mang tính chất nâng cao nhằm giúp các em mở rộng sự hiểu biết về các đơn vị kiến thưc trong từng bài học Đây là một tài liệu học tập bổ ích cho các em HS tiểu học [26]

Tuy vậy, chưa có tác giả nào nghiên cứu TTC học tập phân môn LTVC

và phát huy TTC học tập phân môn này của HS lớp 4 một cách sâu sắc, đầy

đủ các thành phần của nó Đặc biệt việc đi sâu tìm hiểu các thành phần cơ bản của TTC để từ đó kích thích HS tích cực học tập phân môn LTVC ở lớp 4 cho một địa bàn cụ thể là huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trong đề tài nghiên cứu này, một mặt, chúng tôi tiếp tục kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, mặt khác, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp cụ thể để phát huy TTC học tập của HS trong dạy học phân môn LTVC lớp 4

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục tiêu nghiên cứu là góp phần làm sáng tỏ những vấn

đề lý luận về TTC học tập của HS tiểu học, đồng thời đề xuất các biện pháp phát huy TTC học tập của các em trong phân môn “Luyện từ và câu” lớp 4

Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn này ở các trường Tiểu học, nhất là ở tỉnh Vĩnh Phúc

4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

- Luận văn chỉ tập trung vào lý thuyết về TTC trong học tập của HS từ bình diện của lý luận dạy học

Trang 17

- Phạm vi đề tài chỉ tập trung vào một phân môn ở một khối lớp là

“Luyện từ và câu” lớp 4 và tập trung ở địa bàn huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc, nhất là trường Tiểu học Gia Khánh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về TTC học tập của HS nói chung

và tính tích cực học tập trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng

- Phân tích thực trạng TTC học tập phân môn “Luyện từ và câu” của học sinh lớp 4 và nguyên nhân của thực trạng đó

- Đề xuất các biện pháp phát huy TTC học tập của HS lớp 4 trong phân môn “Luyện từ và câu”

- Thử nghiệm tác động một số biện pháp nhằm nâng cao TTC học tập phân môn “Luyện từ và câu” của HS lớp 4 trường Tiểu học Gia Khánh, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

7 Giả thuyết khoa học

Tính tích cực học tập phân môn “Luyện từ và câu” của HS lớp 4 ở các trường tiểu học, trong đó có trường Tiểu học Gia Khánh chưa cao Nếu áp dụng thành công các biện pháp dạy học theo quan điểm phát huy TTC trong học tập của HS thì chẳng những có thể cải thiện chất lượng dạy học phân môn

Trang 18

“Luyện từ và câu” lớp 4 mà còn góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt tiểu học nói chung

8 Bố cục của luận văn

Trang 19

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở triết học của tính tích cực trong học tập

Triết học Mác – Lênin là cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy học Tiếng Việt, nó quyết định phương hướng chung của phương pháp dạy học Tiếng việt Nó giúp chúng ta hiểu được đối tượng của phương pháp dạy học Tiếng Việt một cách sâu sắc, trang bị cho chúng ta phương pháp nghiên cứu đúng đắn: xem xét các quá trình dạy học Tiếng Việt trong sự phát triển và trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, trong sự mâu thuẫn và sự thống nhất, phát hiện những sự biến đổi số lượng dẫn tới những biến đổi chất lượng…

“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lênin) Luận điểm này không chỉ đơn thuần khẳng định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp mà là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện giao tiếp đặc trưng của loài người Không có ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại.Việc nắm bản chất xã hội của ngôn ngữ cho phép ta rút ra kết luận có tính chất phương pháp.Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm thì nghiên cứu nó phải nghiên cứu hệ thống hoạt động chức năng.Mục đích nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường là phải giúp HS có thể

sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao tiếp.Vì vậy phát triển lời nói là nhiệm vụ quan trọng nhất của việc dạy học tiếng trong nhà trường Tất

cả các giờ dạy Tiếng Việt, cả dạy đọc, viết, cả nghiên cứu ngữ pháp, từ ngữ… phải đi theo khuynh hướng này HS phải ý thức được chức năng của ngôn ngữ, nắm vững các phương tiện, kết cấu và quy luật cũng như hoạt động hành

Trang 20

chức của nó HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình

mà còn cho người khác, do đó ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu Đồng thời, vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếp làm phương tiện để dạy và học Tiếng Việt

Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (C.Mác).Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lôgíc, lí tính Chính trong các đơn vị và dạng thức ngôn ngữ có sự khái quát hóa, trừu tượng hóa Tư duy của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề để phát triển

tư duy Từ đây người ta rút ra những kết luận có tính chất phương pháp: kiến thức, kĩ xảo ngôn ngữ phải được xem xét như là những yếu tố của phát triển

tư duy, các hệ thống dạy học Tiếng Việt cần bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói

và tư duy Phải thường xuyên luyện tập cho HS khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau.Lời nói cần có nội dung,

đó chính là tư duy.Trong dạy tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ, ví dụ từ một ý viết thành những câu khác nhau.Phương pháp dạy học không dựa vào

sự phát triển tương hỗ giữa lời nói và tư duy là phương pháp sai lầm về phương diện triết học của mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy

Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng: Con đường biện chứng của nhận thức chân lí đi qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, đồng thời cũng chỉ ra thực tiễn là cội nguồn, động lực của nhận thức, cũng là tiêu chuẩn của chân lí, là đỉnh cao và mục đích cuối cùng của nhận thức Đây là cơ sở của nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng và cũng

là cơ sở để đề cao nguyên tắc phải tính đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ của HS trong quá trình dạy học Tiếng Việt.Khi nói về sự cần thiết của việc trẻ em nắm kiến thức ngôn ngữ một cách có ý thức, chúng ta không quên ý nghĩa của việc nhận thức các hiện tượng ngôn ngữ một cách cảm tính của chúng Đứa

Trang 21

trẻ nhận thức thế giới xung quanh một cách cảm tính, bằng mắt, bằng tai… gắn với màu sắc, âm thanh cụ thể Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của nhà trường trong dạy tiếng là phát triển những khả năng nhận thức cảm tính của trẻ em Dạy tiếng phải dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói của HS Những quan sát và ấn tượng sống của trẻ em phải là cơ sở cho bài học Tiếng Việt HS sẽ đi từ việc quan sát tiếng nói trong đời sống, thông qua việc phân tích tổng hợp để đi đến những khái quát hóa, những định nghĩa lí thuyết, những quy tắc và từ đó lại quay về thực tiễn giao tiếp lời nói sống động trong dạng nói và dạng viết Kết quả là các em tiếp nhận được những mẫu lời nói và quy tắc ngôn ngữ một cách có ý thức Cách làm việc như vậy của HS với tiếng mẹ đẻ trong nhà trường không chỉ tuân thủ những quy luật chung của quá trình nhận thức chân lí của loài người mà còn đáp ứng được những đòi hỏi của lí luận dạy học hiện đại Đó là con đường nghiên cứu phát minh – khuynh hướng của phương pháp dạy học hiện đại nói chung, của dạy học Tiếng Việt nói riêng.

1.1.2 Cơ sở tâm lý học của tính tích cực trong học tập

Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt và tâm lý đặc biệt là tâm

lý học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lý của con ngưởi nói chung và ở trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển lời nói cho HS Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều kết quả của tâm lý học Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng kĩ xảo Các đặc điểm tâm lý lứa tuổi là cơ sở tâm lý cho phương pháp dạy học Tiếng Việt, xác định nội dung và cách thức tổ chức dạy học

Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt và Tâm lí học, đặc biệt

là tâm lí học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lí người nói chung và tâm lí trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS

Trang 22

Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều kết quả của Tâm lí học Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo Thầy giáo cần biết, sản phẩm lời nói được sản sinh ra như thế nào, quá trình học được thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp được hình thành ở trẻ em ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy ra sao, kĩ năng nói, viết được hình thành như thế nào…? Tâm lí học đưa ra cho phương pháp những

số liệu cụ thể về quá trình nắm lời nói, về việc nắm ngữ pháp.Những nghiên cứu tâm lí học cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập

Mặt khác, Tâm lí ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với nhiều người

Xét về mặt Tâm lý học theo quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách - giao tiếp ta có thể hiểu khái quát về TTC của cá nhân có nội dung tâm lý cơ bản là:

+ Tính tích cực gắn liền với hoạt động, hay nói khác đi TTC phải thể hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hành động, hành vi cụ thể của con người

+ Tính tích cực để chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động Yếu tố nhu cầu có mối liên hệ chặt chẽ vớ TTC i– đây chính là nguồn gốc của TTC

+ Tính tích cực để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của chủ thể để đối lập với sự bị động, thụ động

Từ sự phân tích trên tôi cho rằng TTC của cá nhân gắn liền với trạng thái hoạt động của chủ thể Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động Tính tích cực của cá nhân là một thuộc tính của nhân cách được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các

Trang 23

hành động đang diễn ra đối với đối tượng, tính “trương lực” của những trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động, tính qui định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh và tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua Tính tích cực thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động và cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể Tính tích cực được nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động

1.1.3 Cơ sở giáo dục học của tính tích cực trong học tập

Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này Giáo dục học nói chung, Lí luận dạy học đại cương nói riêng cung cấp cho Phương pháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học Có thể coi Phương pháp dạy học tiếng Việt là một khoa học sinh ra từ sự tích hợp biện chứng của Việt ngữ học và Lí luận dạy học đại cương Mục đích của Phương pháp dạy học Tiếng Việt cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của HS, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới

Quan hệ của Phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp dạy học tiếng được một hệ thống lí luận giáo dục tạo ra và làm cơ sở.Phương pháp dạy học Tiếng Việt hoàn toàn sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của giáo dục học Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do giáo dục học đề ra – phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho HS, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động Trong Phương pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lí thuyết với

Trang 24

thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học…

Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này tuỳ theo những đặc trưng riêng của mình Ví dụ nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành trong phương pháp dạy học Tiếng Việt đòi hỏi một hoạt động lời nói thường xuyên, biểu hiện ý nghĩa bằng lời nói, viết, cùng với việc thường xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết vào giải bài tập Nhiệm vụ phát triển lời nói đã quy định việc xây dựng chương trình Tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều có mục đích phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Thực hiện nguyên tắc trực quan trong giờ tiếng Việt không chỉ là việc chỉ sử dụng sơ đồ, bảng biểu, dùng chữ viết sẵn, phim ảnh mà còn là “trực quan lời nói”, bao gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa vào bài khóa trong khi nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp Tài liệu trực quan cơ bản trong giờ học Tiếng Việt là Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt trong những mẫu tốt nhất của nó: văn học dân gian, tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới

Phương pháp dạy học Tiếng Việt chọn ở giáo dục học các hình thức tổ chức dạy học như bài học và các hình thức khác Các phương pháp dạy học

cơ bản – phương pháp bằng lời, phương pháp bài tập, phương pháp dạy học nêu vấn đề… đều có mặt trong giờ Tiếng Việt

Để quá trình dạy học đạt hiệu quả cao nhất, chúng ta phải đảm bảo cho hoạt động của thầy và hoạt động của trò thống nhất với nhau Vì vậy, một mặt phải phát huy đúng mức vai trò tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của trò Chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liên hệ qua lại chặt chẽ giữa những tác động bên ngoài của GV, biểu lộ trong việc trình bày tài liệu chương trình và tổ chức công tác học tập của HS, với sự căng thẳng trí tuệ “ bên trong ” của các em mới tạo nên được cơ sở của sự học tập có kết quả

Trang 25

A.Đixtervec đã viết trong tác phẩm : Hướng dẫn việc đào tạo của GV Đức: “Không thể ban cho hoặc truyền đạt đến bất kì một người nào sự phát triển và sự giáo dục Bất cứ ai muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu bằng hoạt động của bản thân bằng sức lực của mình, bằng sự cố gắng của chính bản thân.Anh ta chỉ có thể nhận được từ bên ngoài sự kích thích mà thôi.Vì thế hoạt động tự lực là phương tiện và đồng thời là kết quả của sự giáo dục” [7]

Học sinh với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể của hoạt động học phải tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình dưới sự hướng dẫn của thầy Tuy nhiên tri thức do HS tìm ra dễ mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Vì vậy, người thầy cần tổ chức để trò được thể hiện , trình bày sản phẩm của mình ở tập thể lớp học, trao đổi thảo luận với bạn để tăng thêm tính khách quan khoa học trong tri thức do họ tìm ra Trên cơ sở ý kiến của thầy, của bạn, trò tự kiểm tra, đánh giá, sửa chữa sai sót, rút kinh nghiệm về cáh học, cách giải quyết vấn đề

Để thể hiện đầy đủ vai trò chủ thể của mình khi tham gia quá trình học, các em phải có sự hứng thú rõ rệt với tri thức thu nhận được, có ý thức trách nhiệm với việc học của mình và tham gia tích cực trong suốt quá trình học Người học phải tự tham gia nhiệm vụ học tập bằng tất cả khả năng, tất cả tri thức và kinh nghiệm sống mình đã tích lũy được Như vậy, trong quá trình dạy học hiện đại, HS vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể nhận thức, nhưng chỉ khi nào HS thực hiện tốt vai trò chủ thể thì các em mới tiếp thu một cách có ý thức và có hiệu quả sự tác động sư phậm của thầy để chiếm lĩnh tri thức và biến chúng thành tài sản cá nhân Hoạt động dạy của GV và hoạt động của HS luôn song song tồn tại, nếu thiếu một trong hai thì không còn gọi là dạy học, không còn gọi là quá trình dạy học

Trang 26

Sự thống nhất biện chứng thể hiện ở mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, dựa vào nhau phụ thuộc lẫn nhau giữa hoạt động dạy và hoạt động học, đòi hỏi xây dựng mối quan hệ đúng dắn giữa thầy và trò Trong đó, việc tôn trọng vai trò chủ thể của HS trông quá trình dạy học là rất có ý nghĩa và sẽ thúc đẩy học sinh.Chủ động tham gia vào quá trình chiếm lĩnh tri thức mới

Dạy học LTVC giúp cho học sinh nắm kiến thức trên cơ sở tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm tòi nghiên cứu chứ không phải bị động chờ thầy giáo truyền thụ cho Làm được như thế không những các em biết phương pháp , có

kĩ năng và thói quen nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo những phẩm chất quan trọng của con người hiện đại

1.1.4 Quan niệm về tính tích cực trong học tập

1.1.4.1 Khái niệm về tính tích cực

Đây là khái niệm khá phức tạp nên có nhiều quan điểm bàn về vấn đề này

Trong Từ điển tiếng Việt: TTC được hiểu theo hai nghĩa: Một là chủ

động hướng hoạt động nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển (tư tưởng tích

cực, phương pháp tích cực) Hai là hăng hái, năng nổ với công việc (tích cực

học tập, tích cực làm việc) [19]

Quan điểm của các nhà Triết học: Các nhà Triết học cho rằng mỗi một

sự vật bao giờ cũng thể hiện TTC của nó bởi vật chất luôn vận động và phát triển không ngừng

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã coi cá nhân là sản phẩm của các quan hệ xã hội và cho rằng cá nhân tích cực tác động vào đời sống xã hội và trở thành con người hoạt động làm phát triển xã hội Tính tích cực thể hiện ở sức mạnh của con người trong việc chinh phục, cải tạo thế giới

tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân mình Theo V.I Lênin TTC là thái

độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, đối với đối tượng sự vật xung quanh;

là khả năng của mỗi người đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh những

Trang 27

nhu cầu, năng lực của họ thông qua các mối quan hệ xã hội Đây là cơ sở phương pháp luận để chúng tôi nghiên cứu TTC học tập của HS tiểu học

Quan điểm của các nhà Sinh học: Xuất phát từ sự nghiên cứu trong các

lĩnh vực khác nhau, các nhà sinh học cũng giải thích khác nhau về TTC

Theo M.Kagan thì TTC của thực vật, đó là tính hướng, là sự hướng tới những yếu tố của hoàn cảnh để tạo nên sự thay đổi, vận động, hoặc thích nghi của sinh vật đối với môi trường Phát kiến của I.P.Paplôp về hệ thống tín hiệu thứ hai giúp chúng ta giải thích cơ sở sinh lý cuả TTC, hoạt động của con người mà vốn mang tính chất đặc thù, khác biệt về chất so với động vật Ông cho rằng: cơ sở sinh lý của TTC chính là hoạt động của vỏ bán cầu đại não và

hệ thống tín hiệu thứ hai Đây là sự khác biệt giữa con người và con vật Con vật chỉ bắt chước, chứ không có TTC Chỉ ở con người mới có TTC hoạt động, hành động Chẳng hạn: Con người khi đói vẫn có thể tạm thời không tiếp nhận thức ăn nếu họ thấy cần thiết phải làm như vậy Những hành động như vậy xuất phát từ ý thức về những hậu quả xa của hành vi của mình và dựa trên cơ sở hiểu biết những qui luật khách quan của hiện thực Việc thường xuyên đối chiếu các động cơ hành động với hoàn cảnh bên ngoài và với kinh nghiệm tích luỹ được sẽ gây cho con người thích ứng tốt nhất với hoàn cảnh cuộc sống xã hội và có khả năng cải tạo cuộc sống đó

Quan điểm của các nhà Tâm lý học: S.Freud (Phân tâm học) cho rằng

TTC của con người được hiểu như một sức mạnh tự nhiên, sinh vật giống như

bản năng động vật Luận điểm cơ bản của ông là: Con người gồm ba khối (cái

ấy, cái vô thức bao gồm các bản năng vô thức như ăn uống, tình dục, tự vệ

trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lí và hành vi của con người, cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thoả mãn và

đòi hỏi; cái Tôi là con người thường ngày, con người có ý thức, tồn tại theo

nguyên tắc hiện thực Cái tôi có ý thức theo ông là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề

Trang 28

ngoài của cái nhân lõi bên trong là “cái ấy”; Cái siêu Tôi là cái siêu phàm,

“cái tôi lý tưởng” không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép

Từ những quan điểm trên tôi cho rằng TTC của cá nhân gắn liền với trạng thái hoạt động của chủ thể Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động Tính tích cực của cá nhân là một thuộc tính của nhân cách được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra đối với đối tượng, tính “trương lực” của những trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động, tính qui định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh và tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua Tính tích cực thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động

và cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể Tính tích cực được nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động

1.1.4.2 Tính tích cực học tập

Hoạt động nhận thức của con người là quá trình phản ánh thế giới nhằm chiếm lĩnh các thuộc tính, qui luật, đặc điểm của sự vật hiện tượng xung quanh để cải tạo thế giới và đồng thời nhận thức và cải tạo chính bản thân mình Hoạt động nhận thức của con người tuân theo qui luật chung của quá trình nhận thức mà Lênin đã chỉ ra “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng để nhận thức hiện thực khách quan” Quá trình nhận thức của HS cũng tuân theo qui luật này nhưng khác với quá trình nhận thức chung của loài người ở chỗ là

có sự hướng dẫn của GV, nhờ vậy HS nhận thức thế giới nhanh, ngắn gọn, hiệu quả Họ không phải mò mẫm, dò dẫm quanh co như quá trình nhận thức của các nhà khoa học Chính vì hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển một cách tự giác để lĩnh hội những kiến thức, kỹ

Trang 29

năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định Cho nên khái niệm hoạt động nhận thức rộng hơn khái niệm học tập, học tập chỉ là một dạng hoạt động đặc thù của con người Khi TTC cá nhân được huy động và hướng vào một lĩnh vực, một môi trường cụ thể để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, nhằm những đối tượng và mục tiêu cụ thể thì

nó ở trạng thái chuyên biệt Vì vậy TTC cá nhân của người học, có thể phân

ra các loại sau: TTC trí tuệ, TTC nhận thức, TTC học tập

- Tính tích cực trí tuệ: là một thành tố cơ bản của TTC cá nhân ở hình thái hoạt động bên trong (sinh lý và tâm lý), thường được gọi là hoạt động trí tuệ hay trí óc (tri giác, ghi nhớ, nhớ lại, tưởng tượng, tư duy…) Trong nhận thức và học tập, hoạt động trí tuệ giữ vai trò thiết yếu vì vậy TTC trí tuệ là cốt lõi của TTC nhận thức và cùng với TTC nhận thức tạo nên nội dung chủ yếu của TTC học tập

- Tính tích cực nhận thức: là trạng thái hay dạng phân hoá của TTC cá nhân được hình thành và thực hiện trong quá trình nhận thức của chủ thể Nó

là TTC chung được huy động để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và nhằm đạt các mục tiêu nhận thức Hình thái bên trong của TTC nhận thức gồm các hoạt động trí óc, tâm vận, các chức năng cảm xúc, ý chí, các phản xạ thần kinh cấp cao, các biến đổi của nhu cầu, hứng thú, tình cảm… Hình thái bên ngoài gồm các hoạt động quan sát, khảo sát, ứng dụng thực nghiệm, đánh giá, thay đổi, dịch chuyển đối tượng…

- Tính tích cực học tập: là TTC cá nhân được phân hoá và hướng vào việc giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập để đạt các mục tiêu học tập Tính tích cực học tập bao gồm hai hình thái bên trong và bên ngoài Hình thái bên trong của TTC học tập chủ yếu bao hàm những chức năng sinh học, sinh lý, tâm lý, thể hiện rõ ở đặc điểm khí chất, tình cảm, ý chí, các chức năng và đặc điểm nhận thức như mức độ hoạt động trí tuệ, tư duy, tri giác, tưởng tượng… và các chức năng vận động thể chất bên trong (các

Trang 30

nội quan, các quá trình sinh lý, sinh hoá) Hình thái bên ngoài của TTC học tập bao hàm các chức năng, khả năng, sức mạnh thể chất và xã hội, thể hiện ở những đặc điểm hành vi, hành động di chuyển, vận động vật lý

và sinh vật, nhất là hành động ý chí, các phương thức tiến hành hoạt động thực tiễn và tham gia các quan hệ xã hội Nó được hình thức hoá bằng các yếu

tố cụ thể như cử chỉ, hành vi, nhịp điệu, cường độ hoạt động, sự biến đổi sinh lý… chúng ta có thể quan sát, đo đạc, đánh giá

Khi xem xét TTC nhận thức của HS có nhiều ý kiến khác nhau Một số tác giả coi TTC học tập là một dạng của TTC nhận thức Chẳng hạn họ xem

“sự học tập là trường hợp riêng của sự nhận thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên”.Vì vậy, nói tới TTC học tập, thực chất là nói tới một dạng của TTC nhận thức.“Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập” Một số tác giả lại cho TTC nhận thức như trạng thái của hoạt động Chẳng hạn:

Trần Bá Hoành xem TTC nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức

của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao

trong quá trình nắm vững kiến thức [12] Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người

đã tích luỹ được Tuy nhiên, trong học tập HS cũng phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân mình Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạt động của bản thân Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có những cố gắng trí tuệ

Trang 31

V.Ôkôn cho rằng “Tính tích cực là lòng mong muốn hành động được

nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động” [30]

I F.Kharlamôp xem TTC là trạng thái hoạt động của chủ thể nghĩa là

của người hành động “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” [18]

Một số tác giả khác lại cho tính tích cực học tập là một hành động ý chí

hay một phẩm chất nhân cách: Chẳng hạn R.A.Nizamôp: Cho TTC học tập là

một hành động ý chí, một trạng thái hoạt động đặc trưng bởi sự tăng cường nhận thức của cá nhân Mà biểu hiện của nó là hứng thú toàn diện, sâu sắc đối với kiến thức, với nhiệm vụ học tập, sự cố gắng bền bỉ, tập trung chú ý, huy động thể lực, trí tuệ để đạt mục đích Nhìn chung tác giả đã thiên về chiều hướng coi tính tích cực là hành động ý chí

Một số tác giả khác như B.P.Êxipôp, S.V.Chiukhchin, A.I.Secbacôp,

Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, L.Aistôva thì lại xem TTC nhận thức là

thái độ cải tạo của chủ thể đối với thế giới khách quan Họ cho rằng: TTC nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua huy động

ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện vừa là điều kiện

để đạt mục đích vừa là kết quả của hoạt động.Nó là phẩm chất hoạt động của

cá nhân

A.M.Machiukin cho rằng những thành phần cơ bản của TTC nhận thức

là nhu cầu nhận thức và khả năng tự điều chỉnh hoạt động tìm kiếm L.Aristôva cho rằng các yếu tố cấu thành TTC nhận thức bao gồm: thái độ lựa chọn đối tượng; xác định mục đích, nhiệm vụ, cách thức tác động và hành động cải tạo đối tượng

Trang 32

Dưới góc độ Tâm lý học trên quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách - giao tiếp thì các nhà Tâm lý học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Ánh Tuyết… đều thống nhất cho rằng TTC là một phẩm chất nhân cách điển hình của con người Các thành tố tâm lý của TTC là nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng Bởi vậy đã nói tới TTC có nghĩa nói tới tính chủ thể trong hoạt động, nói tới tính tương đối ổn định và bền vững của thuộc tính tâm lý này TTC là đặc trưng hoạt động của con người Từ sự phân tích của các tác giả trên, chúng tôi hiểu:

Tính tích cực học tập của HS là sự ý thức tự giác của HS về mục đích học, thông qua đó HS huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý để giải quyết các nhiệm vụ học tập có hiệu quả

Như vậy TTC nhận thức là khái niệm có phạm vi rộng nhất trong các khái niệm được nêu ở trên, nếu coi học tập là một quá trình nhận thức đặc biệt của HS thì TTC học tập và TTC nhận thức đều phải tiến hành các thao tác trí tuệ cũng như sự tham gia của toàn bộ nhân cách HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức nhân loại chuyển thành tâm lý, ý thức của bản thân TTC nhận thức, TTC trí tuệ, TTC học tập đều là tính tích cực cá nhân nên đều thể hiện ở hình thái bên ngoài và hình thái bên trong

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1.1 Nội dung chương trình

Phân môn LTVC lớp 4 được dạy trong 62 tiết Trong đó có 32 tiết của học

kì 1 và 30 tiết của học kì 2 và được chia thành các mảng kiến thức sau:

1.2.1.1.1 Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ

Ở phần này được chia thành 19 tiết Từ ngữ mở rộng và hệ thống hóa vốn từ trong phân môn LTVC lớp 4 bao gồm các từ thuầnViệt, Hán Việt và tục ngữ phù hợp với chủ điểm học tập của từng đơn vị học tập

Trang 33

- Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ theo các chủ điểm:

Ở học kì I: Các chủ điểm có tên gọi là:

+ Thương người như thể thương thân (Nhân hậu – Đoàn kết) + Măng mọc thẳng ( Trung thực – Tự trọng)

+ Trên đôi cách ước mơ ( Ước mơ) + Có chí thì nên ( Nghị lực)

+ Tiếng sáo diều ( Đồ chơi – Trò chơi)

Ở học kì II: Các chủ điểm có tên gọi là :

+ Người ta là hoa đất ( Tài năng)

+ Vẻ đẹp muôn màu ( Cái đẹp)

+ Những người quả cảm ( Dũng cảm)

+ Khám phá thế giới ( Du lịch – Thám hiểm)

+ Tình yêu cuộc sống ( Lạc quan – Yêu đời)

1.2.1.1.2 Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng và cấu tạo của từ: được chia thành 14 tiết

- Cấu tạo của tiếng

- Cấu tạo của từ:

Trang 34

Đối với mỗi nội dung trên luôn có những bài dạy lí thuyết cấu tạo tiếng, cấu tạo từ , từ loại và loại bài hướng dẫn thực hành để mở rộng và hệ thống hóa vốn từ

1.2.1.1.3 Kiến thức về câu, rèn luyện kĩ năng đặt câu và sử dụng dấu câu (29 tiết)

- Các kiểu câu: Cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ giản về cấu tạo, công dụng và cách sử dụng các kiểu câu

+ Câu hỏi : câu hỏi là gì, dùng câu hỏi vào mục đích khác, giữ phép lịch sự khi hỏi

+ Câu kể : câu kể là gì, cách dùng câu kể, câu kể Ai là gì?, chủ ngữ và

vị ngữ trong câu kể Ai là gì ?, câu kể Ai thế nào ?, chủ ngữ và vị ngữ trong câu Ai thế nào?, câu kể Ai là gì?, Chủ ngữ và vị ngữ trong câu kể Ai làm gì?

+ Câu khiến : câu khiến là gì, cách đặt câu khiến, giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu đề nghị

+ Câu cảm

- Thêm trạng ngữ cho câu:

+ Trạng ngữ là gì?

+ Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu

+ Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu

+ Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu

+ Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu

+ Thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu

- Các dấu câu: Ôn luyện kiến thức về công dụng và luyện tập sử dụng một số dấu câu:

+ Dấu chấm hỏi

+ Dấu gạch ngang

+ Dấu hai chấm

Trang 35

+ Dấu ngoặc kép

+ Dấu chấm than

1.2.1.2 Cấu trúc bài học “Luyện từ và câu” trong SGK và định hướng tổ

chức dạy học

1.2.1.2.1 Cấu trúc bài học “Luyện từ và câu” trong SGK

Cấu trúc kiểu bài lí thuyết gồm 3 phần:

Cấu trúc kiểu bài thực hành gồm:

+ Tên bài

+ Các bài tập từ 3-5 bài có mối quan hệ chắt chẽ với nhau

Cách tổ chức dạy học

Hướng dẫn HS làm bài tập (dạy dạng bài thực hành)

- Giúp HS nắm vững yêu cầu của bài tập;

- Hướng dẫn chữa một phần của bài tập để làm mẫu;

- Hướng dẫn HS làm bài tập vào vở (hoặc bảng con, vở nháp, vở bài tập,…) theo các hình thức phù hợp: cá nhân, cặp đôi, nhóm, trò chơi,…

Trang 36

- Tổ chức cho HS trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm cần ghi nhớ về tri thức

Hướng dẫn HS hình thành kiến thức mới (dạy dạng bài lí thuyết lớp 4)

Các bài học LTVC thuộc loại hình thành kiến thức mới đều gồm có 3 phần: Nhận xét, Ghi nhớ và Luyện tập

- Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu có liên quan đến nội dung bài học

và nếu câu hỏi, bài tập gợi ý cho HS phân tích nhằm để các em tự hình thành kiến thức GV tổ chức khai thác ngữ liệu ở phần nhận xét theo các hình thức:

+ Trao đổi chung cả lớp;

+ Trao đổi theo từng nhóm;

+ Tự làm bài cá nhân

Qua đó, HS tự rút ra kết luận theo các điểm cần ghi nhớ về kiến thức

- Ghi nhớ là phần chốt lại những điểm cốt lõi về kiến thức được rút ra

qua việc phân tích ngữ liệu Cần hướng dẫn HS ghi nhớ kiến thức như sau:

+ HS tự rút ra những điểm chính cần ghi nhớ qua phân tích ví dụ

+ Đọc lại phần ghi nhớ trong SGK

+ Nêu những điểm chính cần ghi nhớ (không nhìn SGK)

- Luyện tập là phần bài tập thực hành nhằm củng cố và vận dụng những

kiến thức đã học GV tổ chức cho HS làm bài tập theo các hình thức cá nhân, cặp đôi, nhóm, trò chơi học tập,…Lưu ý hướng dẫn HS làm các bài tập theo các bước:

+ Hướng dẫn HS tìm hiểu kĩ yêu cầu của bài tập

+ Chữa mẫu một bài hoặc một phần của bài tập

+ Hướng dẫn HS làm bài tập vào bảng con, bảng lớp, giấy nháp, phiếu bài tập,…

+ Hướng dẫn HS tự kiểm tra hoặc đổi bài cho bạn để tự kiểm tra

Trang 37

1.2.1.2.2 Định hướng tổ chức dạy học LTVC

a Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ về câu

Phân môn LTVC mang tính chất thực hành nên các kiến thức lí thuyết

ở đây chỉ được đưa đến cho HS ở mức sơ giản và tập trung chú trọng đến các quy tắc sử dụng từ, câu

Giáo viên phải có biện pháp dạy học để HS không phải học thuộc lòng

mà ghi nhớ những hiểu biết chắc chắn Ngay cả dạy phần này, GV cũng không nên đi sâu vào giảng giải lí thuyết

Phần Luyện tập và trọng tâm của giờ dạy.Phần này giúp HS củng cố và vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào những bài tập cụ thể Các bài tập này có hai nhiệm vụ ứng với hai dạng bài tập : bài tập nhân diện và bài tập vận dụng

- Bài tập nhận diện : giúp HS nhận ra hiện tượng về từ và câu cần nghiên cứu ở mức độ thấp, những hiện tượng này được nêu sẵn trong các ngữ liệu khác

Ví dụ : “Tìm các danh từ chung và danh từ riêng trong đoạn văn sau: Nước Việt Nam có muôn ngàn cây lá khác nhau Cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý nhưng thân thuộc nhất vẫn là cây tre nứa Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ Lũy tre thân mật làng tôi, đâu dâu

ta cũng có nứa tre làm bạn”

Ở mức yêu cầu cao hơn, HS phải tự tìm các hiện tượng về từ vừa học trong vốn tiếng Việt của mình (không tìm trong đoạn văn)

Ví dụ: : “Tìm các từ chỉ trạng thái của các sự vật : dòng thác, lá cờ” Đây cũng chính là kiểu bài tập hệ thống hóa vốn từ trong các bài tập làm giàu vốn từ

Dựa vào các nội dung lí thuyết về từ, có thể chia thành các bài tập nhận diện thành các bài tập cấu tạo từ, bài tập về từ loại

Trang 38

- Bài tập vân dụng: tạo điều kiện cho HS sử dụng những đơn vị từ ngữ, ngữ pháp đã học vào hoạt động nói năng của mình

Ví dụ: “Hãy viết một câu kể có sử dụng tính từ để nói về một người bạn hoặc người thân của em”

Để chuẩn bị dạy một kiến thức lí thuyết về từ và câu, chúng ta cần đặt khái niệm cần dạy trong hệ thống chương trình để thấy rõ vị trí của nó, đồng thời phải nắm chắc nội dung khái niệm, nghĩa là những dấu hiệu bản chất của

nó Đây cũng chính là nội dung dạy học mà chúng ta cần đưa đến cho HS Chúng ta cần hiểu rằng trước một hiện tượng ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học

có thể có những cách lí giải, những giải pháp khác nhau.Dựa vào mục tiêu dạy học của mình, các tác giả SGK đã chọn giải pháp phù hợp

Đặc biệt, do tính chất thực hành cũng như để phù hợp với đối tượng học sinh nhở, nhiều khi nội dung khái niệm ngữ pháp ở tiểu học không hoàn toàn trùng với cách trình bày khái niệm của khoa học tương ứng - Ngôn ngữ học Chúng ta phải thấy rõ tính “mức độ” này khi tìm hiểu nội dung khái niệm Mỗi GV cần lập một bảng thứ tự các kiến thức lí thuyết về từ và câu được dạy ở tiểu học, nội dung của chúng để có một cái nhìn tổng quát, chính xác và có “mức độ”

Sau khi đã xác định vị trí nội dung kiến thức và kĩ năng cần cung cấp cho học sinh, GV cần nắm được các bước lên lớp Chúng ta cùng làm rõ cách dạy bài lí thuyết về từ qua ví dụ sau:

Ví dụ 1: Dạy bài Từ ghép và từ láy tuần 4 lớp 4

Trước hết ta xem xét cách trình bày những nội dung này của SGK để thấy dụng ý của các tác giả và biện pháp dạy học cần chọn khi tổ chức quá trình dạy học

Từ có thể phân loại theo nhiều cách: phân loại dựa vào ý nghĩa khái quát và hoạt động ngữ pháp của từ- ta có các lớp từ theo từ loại, phân loại dựa

Trang 39

vào nghĩa – ta có các lớp từ theo chủ đề, tiểu chủ đề, phân loại theo nguồn gốc – ta có từ thuần Việt, Hán Việt, phân loại theo phậm vi sử dụng – ta có được từ địa phương, từ toàn dân…

Đặt trong hệ thống , bài Từ ghép và từ lấy là bài lí thuyết về từ thứ hai của chương trình Tiếng Việt mới sau bài Từ dơn và từ phức Từ đơn, từ phức,

từ ghép, từ láy là kết quả của một cách phân loại từ - phân loại theo cấu tạo Sách giáo khoa quan niệm “tiếng cấu tạo nên từ Từ gồm một tiếng gọi là từ đơn Từ gồm hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức” Từ phức được phân loại thành hai kiểu: từ ghép và từ láy

Để phân loại các kiểu từ phức, SGK nhấn mạnh vào cách thức cấu tạo chứ không miêu tả kết quả phân loại:

M: săn sóc, khéo léo, luôn luôn

(Tiếng Việt 1 – Tập 1 – trang 39)

Cách trình bày như trên mang tính hành dụng, phù hợp hơn với yêu cầu rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho HS, bởi nó đã chỉ dẫn cách thức tạo

từ để những tiếng (hình vị) cho sẵn , HS dễ dàng tạo ra những từ ghép, từ láy

Bước đầu tiên của giờ học là bước nhận xét, thực chất là phân tích ngữ liệu với mục đích làm rõ những dấu hiệu của khái niệm từ ghép, từ láy Tùy vào các nép dấu hiệu được đưa ra, GV cần chọn thao tác phân tích cho phù hợp Để giúp HS nhận diện được từ ghép và từ láy, GV yêu cầu các em xác định mỗi tiếng trong từ có nghĩa hay không có nghĩa Nếu cả hai tiếng đều có nghĩa thì đó là từ ghép Nếu có ít nhất một tiếng không có nghĩa và các tiếng

Trang 40

trong từ có sự phối âm (chúng giống nhau hoặc là phụ âm đầu, hoặc là vần, hoặc là cả phụ âm đầu và vần) thì đó là từ láy

Phần ghi nhớ không trình bày như một kết quả có sẵn mà GV chỉ đưa

ra thuật ngữ và bằng phương pháp đàm thoại, gợi mở, tiếp tục hướng dẫn HS chuyển những kết quả phân tích ở phần nhận xét thành những dấu hiệu cần ghi nhớ về từ ghép và từ láy

Trong thực tế, những bài tập làm giàu vốn từ không tách rời với các mạch kiến thức về các lớp từ, cấu tạo và từ loại của từ Đó là các bài tập mở rộng vốn từ theo lớp đồng nghĩa, trái nghĩa, kiểu cấu tạo và từ loại, dạy sử dụng từ không thể tách rời với việc đặt câu

Trong các bài tập theo các mạch kiến thức, dạng bài tập thuần túy về từ hay câu ít được sử dụng Ví dụ kiểu bài tập khá phổ biến như:

+ Đặt câu với một từ cùng nghĩa với từ trung thực hoặc một từ trái nghĩa với từ trung thực (Tiếng Việt 4 – tập 1 – trang 48)

+ Viết một đoạn văn khoảng 5 câu về một loại trái cây mà em thích, trong đoạn văn có dùng một số câu kể “ Ai thế nào?” (Tiếng Việt 4 – tập 2 – trang 37)

Vừa là bài tập về từ, vừa là bài tập về câu.Và cũng không hiếm những bài tập có cả đặc tính phân tích và tổng hợp

b Tổ chức dạy bài thực hành – Bài tập làm giàu vốn từ:

Làm giàu vốn từ còn được gọi là mở rộng vốn từ, là nhiệm vụ của các bài học có tên gọi : Mở rộng vốn từ”

Nhiệm vụ làm giàu vốn từ bao gồm các công việc dạy nghĩa từ, hệ thống hóa vốn từ và tích cực hóa vốn từ Đó cũng chính là căn cứ để chia các bài tập làm giàu vốn từ thành ba nhóm lớn: Bài tập nghĩa từ, Bài tập hệ thống hóa vốn từ, Bài tập sử dụng từ ( tích cực hóa vốn từ)

b1 Bài tập dạy nghĩa từ:

Ngày đăng: 07/09/2015, 15:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các hình thức tổ chức dạy học của GV - Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4
Bảng 1 Các hình thức tổ chức dạy học của GV (Trang 48)
Bảng 4: Các tiêu chí đánh giá về giáo án của GV - Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4
Bảng 4 Các tiêu chí đánh giá về giáo án của GV (Trang 51)
2.4.4.1. Bảng phân bố 2 chiều câu hỏi tự luận - Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4
2.4.4.1. Bảng phân bố 2 chiều câu hỏi tự luận (Trang 77)
Bảng  đối  chiếu  kết    quả  đo  nghiệm  lớp  4C  và  lớp  4D  trường  tiểu  học Gia Khánh – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc - Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4
ng đối chiếu kết quả đo nghiệm lớp 4C và lớp 4D trường tiểu học Gia Khánh – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w