Trong nghị quyết TW II khoá VIII của Đảng về giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ đã kh ng định iáo d c cùng với khoa học công nghệ phải thực sự tr thành qu c sách hàng u Mu n xây dự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-
ĐÀO THỊ THU THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HỌC VÀ NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ NGUYỆT ĐỨC
HUYỆN YÊN LẠC – TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Tạ Thúy Lan
HÀ NỘI, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn
GS.TSKH Tạ Thúy Lan - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Sinh lý người và động vật, Khoa sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Phòng Quản lý khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo và các
em học sinh của Trường Trung học cơ sở Nguyệt Đức và Trường Tiểu học Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ để em hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Đào Thị Thu Thanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả, các số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Đào Thị Thu Thanh
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
BMI : Body mass index (chỉ số khối cơ thể)
cs : Cộng sự
CDC : Centers for Disease Control and Preveention (Trung tâm
kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh) ĐHQG : Đaih học Quốc gia
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 1 i t ng nghi n c u 3
4 2 h m vi nghi n c u 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Những đóng góp mới của đề tài 3
NỘI DUNG Chư ng 1 T NG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của trẻ em tuổi học đường 4
1.1.1 Một số kiến thức cơ bản về sinh trưởng và phát triển 4
1.1.2 Đặc điểm sinh trưởng 5
1.1.3 Đặc điểm phát triển 6
1.1.4 Phân chia các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của trẻ 7
1.2 Một số chỉ số hình thái – thể lực 8
1.2.1 Một số vấn đề chung về hình thái - thể lực 8
1.2.2 Nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực trên thế giới 10
Trang 61.2.3 Nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam 12
1.3 Trí tuệ 19
1.3.1 Các quan niệm về trí tuệ 19
1.3.2 Các học thuyết về cấu trúc trí tuệ 22
1.3.3 Các phương pháp nghiên cứu trí tuệ 24
1.3.4 Tình hình nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam 26
1.4 Trí nhớ 29
1.5 Chú ý 31
1.6 Cảm xúc 33
Chư ng 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu 36
2.2.2 Các chỉ số được nghiên cứu 37
2.2.3 Phương pháp xác định các chỉ số sinh học của học sinh 37
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số trí tuệ của học sinh 39
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu khả năng chú ý của học sinh 40
2.2.6 Phương pháp nghiên cứu trí nhớ của học sinh 40
2.2.7 Phương pháp nghiên cứu trạng thái cảm xúc của học sinh 41
2.2.8 Phương pháp xử lý số liệu 42
2.2.8 1 Xử lý thô 42
2.2.8 2 Xử lý s liệu bằng ph ơng pháp th ng k xác suất dùng cho y, sinh học 42
Chư ng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 44
3.1 Một số chỉ số hình thái thể lực của học sinh trường Tiểu học và THCS Nguyệt Đức 44
3.1.1 Chiều cao đứng của học sinh 44
Trang 73.1.2 Cân nặng của học sinh 47
3.1.3 Vòng ngực trung bình của học sinh 50
3.1.4 Chỉ số Pignet của học sinh 52
3.1.5 Chỉ số khối cơ thể (BMI) của học sinh 55
3 1 5 1 Chỉ s kh i cơ thể của học sinh 55
3 1 5 2 hân b học sinh theo m c dinh d ỡng 57
3.2 Năng lực trí tuệ của học sinh trường Tiểu học và THCS Nguyệt Đức 59
3 2 1 Chỉ s IQ của học sinh theo tuổi và theo giới tính 59
3.2.2 Phân lo i học sinh theo m c trí tuệ 62
3.3 Trí nhớ của học sinh 64
3 3 1 Trí nhớ thị giác của học sinh 64
3 3 2 trí nhớ thính giác của học sinh 66
3 3 3 So sánh khả năng ghi nhớ thị giác và thính giác của học sinh 68
3.4 Khả năng chú ý của học sinh 71
3.5 Trạng thái cảm xúc của học sinh 73
3 5 1 Cảm xúc chung của học sinh 73
3.5.2 Cảm xúc về s c khỏe của học sinh 75
3.5.3 Cảm xúc về tâm tr ng 78
3.5.4.Cảm xúc về tính tích cực 80
3.6 Mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu 83
3 6 1 M i li n quan giữa chỉ s IQ và trí nhớ thính giác 83
3 6 2 M i li n quan giữa chỉ s IQ và trí nhớ thị giác 84
3 6 2 M i li n quan giữa chỉ s IQ và khả năng chú ý 84
3 6 3 M i t ơng quan giữa chỉ s IQ và tr ng thái cảm xúc 84
K T LU N V Đ NGH 86
1 Kết luận 86
2 ề nghị 87
Trang 8T I LI U TH M KHẢO 88PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
Hình 2.1 Biểu đồ BMI của trẻ em từ 2 đến 20 tuổi 38
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh theo tuổi và
theo giới tính 54
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn mức tăng giảm Pignet của học sinh 54
Hình 3.9 Đồ thị biểu diễn BMI của học sinh theo tuổi và theo giới
tính 56
Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn mức tăng giảm BMI của học sinh theo
tuổi và theo giới tính 56 Hình 3.11 Biểu đồ biểu diễn phân loại học sinh theo các mức dinh
dưỡng 58 Hình 3.12 Biểu đồ thể hiện chỉ số IQ của học sinh theo tuổi và theo
giới tính 61 Hình 3.13 Đồ thị thể hiện mức tăng giảm chỉ số IQ của học sinh theo
tuổi và theo giới tính 62
Trang 10Hình 3.14 Biểu đồ thể hiện phân bố mức trí tuệ của học sinh theo tuổi
và theo giới tính 63
Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn trí nhớ thị giác của học sinh theo tuổi và
theo giới tính 65 Hình 3.16 Đồ thị biểu diễn mức tăng giảm trí nhớ thị giác của học
sinh 66
Hình 3.17 Biểu đồ biểu diễn trí nhớ thính giác của học sinh theo tuổi
và theo giới tính 68 Hình 3.18: Đồ thị biểu diễn mức tăng giảm trí nhớ thính giác của học
sinh theo tuổi và theo giới tính 68 Hình 3.19 Biểu đồ so sánh trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác của
học sinh theo lứa tuổi 69
Hình 3.20 Biểu đồ so sánh mức tăng giảm trí nhớ thị giác và trí nhớ
thính giác của học sinh theo tuổi 70
Hình 3 21 Biểu đồ biểu diễn khả năng chú ý của học sinh theo tuổi và
theo giới tính 72 Hình 3.22 Đồ thị biểu diễn mức tăng giảm khả năng chú ý của học
sinh theo tuổi và theo giới tính 73 Hình 3.23 Biểu đồ biểu diễn điểm cảm xúc chung của học sinh theo
tuổi và theo giới tính 75
Hình 3.24 Đồ thị biểu diễn mức tăng giảm điểm cảm xúc chung của
học sinh theo tuổi và theo giới tính 75
Hình 3.25 Biểu đồ biểu diễn điểm cảm xúc về mặt sức khỏe của
họcsinh theo tuổi và theo giới tính 77 Hình 3.26 Đồ thị biểu diễn mức tăng, giảm điểm cảm xúc về trạng
thái sức khỏe của học sinh 77
Trang 11Hình 3.27 Biểu đồ biểu diễn điểm cảm xúc về tâm trạng của học sinh
theo tuổi và theo giới tính 79 Hình 3.28 Đồ thị biểu diễn tăng, giảm cảm xúc trạng thái của học
sinh theo tuổi và theo giới tính 80
Hình 3.29 Biểu đồ biểu diễn điểm cảm xúc về tính tích cực của học
sinh theo tuổi và theo giới tính 81
Hình 3.30 Đồ thị biểu diễn tăng, giảm điểm cảm xúc về tính tích cực
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1 Phân bố đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số Pignet 38
Bảng 2.3 Phân loại chỉ số IQ và mức trí tuệ (theo Wechsler) 40
Bảng 3.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 44
Bảng 3.3 Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và theo giới tính 48
Bảng 3.2 Cân nặng của học sinh theo tuổi và theo giới tính 51
Bảng 3.4 Chỉ số pignet của học sinh theo tuổi và theo giới tính 53
Bảng 3.5 Phân loại chỉ số pignet của học sinh theo các lứa tuổi và giới tính 55
Bảng 3.6 Chỉ số khối cơ thể (BMI) của học sinh theo tuổi và theo giới tính 56
Bảng 3.7 Phân loại học sinh theo mức dinh dưỡng 58
Bảng 3.8 Điểm IQ trung bình chung của học sinh theo tuổi 60
Bảng 3.9 Chỉ số IQ của học sinh theo tuổi và theo giới tính 61
Bảng 3.10 Phân loại học sinh theo các mức trí tuệ 63
Bảng 3.11 Điểm trí nhớ thị giác trung bình chung của học sinh theo tuổi 64
Bảng 3.12 Trí nhớ thị giác của học sinh theo tuổi và theo giới tính 65
Bảng 3.13 Trí nhớ thính giác trung bình chung của học sinh theo tuổi 66
Bảng 3.14 Trí nhớ thính giác của học sinh theo tuổi và theo giới tính 67
Bảng 3.15 So sánh điểm trí nhớ thị giác - thính giác của học sinh 69
Bảng 3.16 Độ tập trung chú ý của học sinh theo tuổi 71
Bảng 3.17 Độ tập trung chú ý của học sinh theo tuổi và theo giới tính 72
Trang 13Bảng 3.18 Điểm cảm xúc chung của học sinh theo tuổi 74 Bảng 3.20 Điểm trung bình trạng thái sức khỏe chung của học sinh
tính 79
Bảng 3.24 Điểm trung bình trạng thái tích cực chung của học sinh
theo tuổi 80 Bảng 3.25 Cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và theo
giới tính 81
Bảng 3.26 Hệ số tương quanquan giữa các chỉ số nghiên cứu 83
Trang 14MỞ ĐẦU
1 L do chọn ề tài
Con người là một tổng thể tồn tại trong các mối quan hệ xã hội vô c ng phức tạp Phát triển con người là mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội, là nhân tố cơ bản để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhận thức r điều này Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến giáo dục, đào tạo Trong nghị quyết TW II khoá VIII của Đảng về giáo dục, đào tạo và khoa
học công nghệ đã kh ng định iáo d c cùng với khoa học công nghệ phải
thực sự tr thành qu c sách hàng u Mu n xây dựng ất n ớc giàu m nh, văn minh phải c con ng i phát triển toàn diện không chỉ về trí tuệ, o c
mà phải là con ng i c ng tráng về thể chất Tiếp tục phát triển tư tưởng
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định hát triển giáo d c là qu c sách
hàng u ổi mới căn bản, toàn diện nền giáo d c Việt Nam theo h ớng chuẩn h a, hiện i h a, xã hội h a, dân chủ h a và hội nhập qu c tế trong
ổi mới cơ chế quản lý giáo d c, ào t o, coi trọng giáo d c ào o c,
l i s ng, năng lực sáng t o, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp ổi mới
cơ chế tài chính giáo d c Thực hiện kiểm ịnh chất l ng giáo d c, ào t o tất cả các bậc học Xác ịnh m c ích giáo d c lành m nh, kết h p chặt chẽ giữa nhà tr ng với gia ình và xã hội (Trích T p chí cộng sản – Văn kiện
i hội XI) Muốn tạo ra những con người phát triển toàn diện, cần phải giáo
dục các em học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ trên đối tượng là học sinh, sinhviên, [3, 4, 8, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 19, 20, 25, 26, 27, 28, 29,
30, 31, 34, 36, 38, 40, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 55, 56, 62, 63, 69, 72, 80, 81, 82, Các tác giả đã cho thấy, các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của con người luôn thay đổi, nó phụ thuộc vào đối tượng và mục tiêu nghiên cứu Do
Trang 15vậy, nghiên cứu các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh cần được tiến hành thường xuyên và liên tục
Yên Lạc là một huyện đồng bằng của tỉnh Vĩnh Phúc có t lệ dân số đông với 20 trường Tiểu học và 18 trường THCS, đã nhiều năm liền là địa phương dẫn đầu trong ngành giáo dục của tỉnh Một trong số các đơn vị tạo nên thành tích đó là trường Tiểu học và THCS Nguyệt Đức với bề dày thành tích qua các năm học Ban giám hiệu hai nhà trường và các tổ chức trong trường luôn quan tâm đến các mặt giáo dục của học sinh đặc biệt là năng lực trí tuệ, trí nhớ, phản xạ Để nghiên cứu đánh giá một cách chính xác về năng lực của học sinh thông qua các chỉ số sinh học cần phải có các đề tài nghiên cứu khoa học cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào được nghiên cứu đối với học sinh trong các nhà trường này
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, trong điều kiện thời gian cho ph p chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
N h n c u t s ch s s nh h c và n n c tr tu c a h c s nh
tr n T u h c và TH S N uy t Đ c – huy n n Lạc – t nh nh húc
2 M c ti u nghi n cứu
- Đánh giá được một số chỉ số hình thái của học sinh trường Tiểu học
và THCS Nguyệt Đức - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, BMI)
- Đánh giá được các chỉ số về trí tuệ, trí nhớ, chú ý và cảm xúc của học sinh trường Tiểu học và THCS Nguyệt Đức – huyện Yên Lạc – tỉnh Vĩnh Phúc
- Đánh giá được mối tương quan giữa các chỉ số nghiên cứu
3 Nhiệm v nghi n cứu
- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái của học sinh
- Nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh
Trang 16- Nghiên cứu khả năng ghi nhớ, chú ý của học sinh
- Xác định mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu
4 Đối tư ng và phạm vi nghi n cứu
5 Phư ng pháp nghi n cứu
- Chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu đã được chuẩn hóa
và đang được sử dụng trên thế giới cũng như ở Việt Nam
6 Những óng góp mới của ề tài
Là đề tài đầu tiên nghiên cứu về học sinh từ 7 - 15 tuổi tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Các số liệu trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho việc nghiên cứu về các chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của học sinh giai đoạn từ 7 - 15 tuổi và có thể d ng làm tài liệu tham khảo trong các nghiên cứu
và giảng dạy
Trang 17NỘI DUNG
Chư ng 1 T NG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Các giai oạn sinh trưởng và phát triển của trẻ em tuổi học ường
M t s k ến th c cơ bản về s nh tr ởn và phát tr n
Đặc điểm cơ bản của cơ thể sống là sinh trưởng và phát triển Hai quá trình này xảy ra liên tục từ lúc trứng mới thụ tinh và gồm nhiều giai đoạn khác nhau [51]
Sinh trưởng là sự tăng kích thước, khối lượng và làm biến đổi hình thái của cá thể đang ở giai đoạn lớn Trong hai thông số tăng kích thước và tăng khối lượng, thì thông số tăng kích thước diễn ra có tính quy luật hơn, còn khối lượng của cơ thể có thể biến động t y theo chế độ dinh dưỡng
Quá trình sinh trưởng của cơ thể có thể nhanh hay chậm t y theo từng thời kỳ Nó diễn ra trong các bộ phận và các cơ quan không giống nhau.Một đặc điểm nổi bật của sinh trưởng là sự xuất hiện không đồng đều chức năng của các hệ thống khác nhau Quá trình sinh trưởng được thực hiện nhờ ba cơ chế: sự phân bào, sự phân hóa tế bào và sự phân bố tế bào Sự phân hóa xảy
ra từ trong thời kỳ phát triển phôi thai và đặc điểm của sự phân hóa các cơ quan là không đồng thì và không đồng tốc Cơ quan nào cần thiết thì xuất hiện trước và hoàn chỉnh sớm hơn Ngay trong c ng một cơ quan, một hệ cơ quan cũng tương tự như vậy, bộ phận nào cần thiết sớm hơn sẽ hoàn chỉnh sớm hơn và ngược lại [6, 49
Tóm lại, sinh trưởng là một quá trình k p, gồm sự phân bào tăng khối lượng cơ thể và sự phân hóa tế bào để thực hiện sự phân công chức năng trong cơ thể
Phát triển là quá trình biến đổi không những về hình thái mà cả về chức năng theo từng giai đoạn của cuộc sống cá thể Có thể nói, phát triển là quá trình thay đổi về mặt chất lượng trong cơ thể [49 Chính những sự thay đổi
Trang 18diễn ra trong quá trình phát triển làm cho sự tác động qua lại giữa các hệ cơ quan trong cơ thể trở nên phức tạp hơn
Sinh trưởng và phát triển liên quan mật thiết với nhau Sinh trưởng và phát triển là hai quá trình diễn ra song song để cơ thể tăng trưởng về tầm vóc
và thể lực Điều này có ý nghĩa lớn đối với trẻ em lứa tuổi Tiểu học và THCS, khi có những biến đổi nhanh về tầm vóc và thể lực
Đặc đ s nh tr ởn
Theo quan niệm hiện nay, khái niệm về sự tăng tốc sinh trưởng được hiểu với nghĩa rất rộng Người ta không chỉ nói đến hiện tượng tăng tốc sinh trưởng về mặt tăng trưởng thể lực cơ thể trẻ, mà ngay cả hiện tượng tăng kích thước cơ thể và hiện tượng mãn kinh muộn ở người trưởng thành cũng được gọi là tăng tốc sinh trưởng Tốc độ sinh trưởng của cơ thể không đều, lúc chậm, lúc nhanh,lúc rất nhanh Sự tăng trưởng về chiều dài của cơ thể người nhanh nhất lúc thai nhi đạt 4 tháng tuổi và ở lứa tuổi dậy thì [7, 49
Tốc độ sinh trưởng của các bộ phận, các cơ quan, các mô khác nhau trong cơ thể cũng không giống nhau.Ở người, thân và các chi sinh trưởng nhanh hơn đầu.Đầu người ở giai đoạn bào thai lúc 2-3 tháng dài bằng ½ cơ thể; đến 5 tháng thì bằng 1/3 cơ thể, đến khi sinh bằng ¼ cơ thể và đến lứa tuổi 16-18 thì chiều dài của đầu chỉ còn bằng 1/7-1/8 chiều dài cơ thể
Trên thực tế, hiện tượng tăng tốc sinh trưởng diễn ra ngay từ thời kỳ phát triển phôi thai Việc nghiên cứu trẻ sơ sinh đã cho thấy trong vòng 30,40 năm gần đây chiều dài của trẻ sơ sinh đã tăng lên 0,5 đến 1cm, còn khối lượng tăng từ 100g đến 150g Nếu trước kia chiều cao và khối lượng của trẻ dưới 1 tuổi tăng gấp đôi vào lúc 6 tháng, thì đến nay hiện tượng này xuất hiện vào lúc 4 tháng (theo[10])
So sánh khối lượng cơ thể trẻ em 1 tuổi hiện nay và trước kia (cách đây 55-80 năm) cho thấy, có sự khác biệt về chiều dài Trẻ em 1 tuổi hiện nay cao
Trang 19hơn trẻ em trước kia khoảng 5cm Hiện tượng tăng tốc về mặt chiều cao và khối lượng cơ thể thể hiện r nhất ở lứa tuổi vườn trẻ và mẫu giáo cũng như
ở trẻ em trước và sau tuổi thành niên và cả ở người lớn [6, 49 Điều quan trọng là tốc độ sinh trưởng và tăng trọng lượng cơ thể phụ thuộc vào các yếu
tố xã hội, cũng như hoàn cảnh sống Trong điều kiện chiến tranh, thiên tai với những điều kiên sống khắc nghiệt nên khối lượng và chiều cao trung bình của trẻ em biến đổi đáng kể
Sự tăng tốc về mặt sinh dục còn thể hiện qua việc k o dài thời gian sinh
đẻ ở phụ nữ [18 Trên thực tế, thời kỳ mãn kinh của phụ nữ hiện nay xuất hiện muộn hơn so với trước kia, nếu trước kia thời kỳ mãn kinh xuất hiện lúc
45 tuổi thì hiện nay là 48 và trên 50 tuổi [89
Nói tóm lại, tăng tốc sinh trưởng là hiện tượng sinh lý có liên quan mật thiết với nhiều yếu tố khác nhau Sự hiểu biết một cách đúng đắn về vấn đề này là cơ sở để tổ chức công tác giáo dục trong nhà trường, đề ra chế độ học tập, lao động và nghỉ ngơi hợp lý nhằm nâng cao khả năng phát triển toàn diện thể lực và trí tuệ của trẻ em
3 Đặc đ phát tr n
Nếu sinh trưởng làm tăng kích thước và khối lượng do sự phân bào và lớn lên của tế bào, nghĩa là có sự biến đổi về lượng thì phát triển là tổng hợp những biến đổi liên tục về chất, những biến đổi cả về hình thái và chức năng ở tất cả các cơ thể từ lúc sinh ra cho đến lúc chết [7, 49
Như vậy, trong sự phát triển đã bao hàm sự sinh trưởng Cơ thể không thể phát triển được nếu không qua sinh trưởng Trong qua trình sinh trưởng, không chỉ diễn ra những thay đổi về cấu trúc mà có cả những biến đổi về mặt sinh lý, quá trình biệt hoá các tế bào tạo thành các mô, các cơ quan đảm nhiệm những chức năng khác nhau, những sự thay đổi này là cơ sở của quá trình phát triển
Trang 20Tuy nhiên, sinh trưởng và phát triển không đồng nhất với nhau vì có những cơ thể sinh trưởng chậm, phát triển nhanh (hiện tượng còi cọc ở trẻ em), hay ngược lại có những cơ thể sinh trưởng nhanh nhưng phát triển chậm (hiện tượng trẻ lớn nhưng chưa xuất hiện các biểu hiện của lứa tuổi dậy thì) Nhìn chung, một trong số những mốc quan trọng để đánh giá sự phát triển r rệt nhất ở người chính là lứa tuổi dậy thì của học sinh trong độ tuổi Tiểu học
và THCS Đây chính là lý do quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên đối tượng này
hân ch a các a đoạn s nh tr ởn và phát tr n c a trẻ e
Hiện nay, tồn tại nhiều cách phân chia các giai đoạn phát triển của trẻ
em Theo quan điểm chung thì nhóm học sinh THCS (từ 11 đến 15 tuổi) được xếp vào nhóm trước dậy thì và dậy thì
Martin và cộng sự (theo [10 ) phân chia các giai đoạn phát triển của cơ thể người theo các giai đoạn mọc răng và phát triển xương
Năm 1965, Bunak V.V (theo [56 ) dựa vào các dấu hiệu về hình thái và nhân chủng để phân chia các thời kỳ phát triển của con người Theo cách phân chia này, trẻ trong lứa tuổi THCS (từ 11 đến 15 tuổi) được tác giả xếp vào 2 nhóm (theo [10])
Giai đoạn từ 8-13 tuổi (nam) và 8-12 tuổi (nữ) là thời kỳ thơ ấu thứ hai.Còn giai đoạn từ 14-17 tuổi (nam) và 13-16 tuổi (nữ) là thời dậy thì
Năm 1965, Viện Hàm lâm Sư phạm Liên Xô cũ cũng đã đưa ra cách phân chia các thời kỳ phát triển của con người Về cơ bản cách phân chia này cũng giống cách phân chia của Bunak nhưng thêm thời kỳ tuổi thơ sớm Theo tài liệu này, về mặt sinh lý không có đủ cơ sở để định ra các mốc dứt khoát giữa các thời kỳ phát triển của con người Theo cách phân chia này, giai đoạn dậy thì ở học sinh trong độ tuổi THCS được giảm đi một tuổi [84
Trang 21Giai đoạn từ 8-12 tuổi (nam) và 8-11 tuổi (nữ) là thời kỳ tuổi thơ ấu thứ hai Còn từ 13-16 (nam) và 12-15 tuổi (nữ) là thời kỳ dậy thì
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả quan tâm đến cách phân chia thời kỳ phát triển của con người Nguyễn Bát Can [7 cho rằng, sự phát triển cá thể của con người có những thời kỳ khác nhau Vì vậy, có thể phân chia quá trình phát triển của con người thành các thời kỳ khác nhau Theo cách phân chia này, trẻ ở độ tuổi 11-15 thuộc thời kỳ nhi đồng III
Đoàn Yên và Trịnh Bỉnh Dy [92 nhận thấy, sự phát triển cơ thể người Việt Nam ph hợp với sơ đồ phân chia các thời kỳ phát triển cá thể ở người của rshavski I và cho rằng sơ đồ này có khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như nhân chủng học, sinh lý học, nhi khoa, sư phạm
Các tác giả thuộc bộ môn Nhi khoa, trường Đại học Y Hà Nội [6 cũng đưa ra sơ đồ phân chia các thời kỳ phát triển cá thể của con người Theo họ, trẻ em lứa tuổi THCS nói chung của Việt Nam (từ 11 - 17 tuổi) được xếp trong nhóm tuổi dậy thì [5
Tóm lại, có nhiều cách phân chia các thời kỳ phát triển của con người trong giai đoạn nhỏ tuổi Mặc d , mỗi cách phân chia đều có những đặc điểm riêng biệt nhưng nhìn chung học sinh THCS đều được xếp vào nhóm tuổi dậy thì
1.2 Một số chỉ số hình thái – thể lực
M t s vấn đề chun về hình thá - th c
Các chỉ số hình thái thể lực của con người phản ánh mức độ phát triển tổng hợp của các hệ cơ quan trong cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất Do vậy, để đánh giá thể lực của con người không thể đánh giá qua một số chỉ số riêng biệt mà phải dựa vào mối liên quan giữa các chỉ số sinh học khác nhau Đây
là phương pháp đánh giá thể lực bằng các chỉ số Loại chỉ số đơn giản nhất được xác định dựa vào chiều cao, cân nặng như chỉ số Bruck, chỉ số Broca,
Trang 22chỉ số Kaup, chỉ sổ Lorentz, chỉ số khối cơ thể (BMI), Còn loại chỉ số phức tạp hơn dựa vào nhiều chỉ số hơn (chiều cao, cân nặng,vòng ngực, ) như chỉ
số pignet, chỉ số Vervack, Bởi vậy,đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số này [12, 13, 14, 19, 20, 62, 68, 72, 73],
Theo Nguyễn Văn Hoài và cs [26 , chiều cao là đặc điểm được nhận
x t sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân chắc học để đánh giá thể lực, sức khỏe của mỗi cá thể và của cả cộng đồng, cũng như trong công tác tuyển dụng, vào quân đội, thi hoa hậu, tuyển việc làm,
C ng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng
để đánh giá sự phát triển của cơ thể Đến đầu thế k XIX, cân nặng được coi
là tiêu chuẩn thứ hai không thể thiếu được để đánh giá sức khỏe con người Cân nặng phản ánh tình trạng dinh dưỡng đồng thời biểu thị mức độ và t lệ giữa hấp thụ với tiêu hao năng lượng của con người So với chiều cao, cân nặng của cơ thể ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn mà có liên quan chủ yếu tới điều kiện dinh dưỡng Thông thường, ở c ng một lứa tuổi, những trẻ em cao hơn thường nặng cân hơn Do có tầm quan trọng trong đánh giá sự phát triển cơ thể nên cân nặng cũng là một chỉ số được nhiều người nghiên cứu [12, 13, 14, 19, 20, 36, 49, 61, 64, 65, 66, 68, 69, 72, 73, 81, 83, 93]
Cuối thế k XIX, vòng ngực trở thành một chỉ tiêu đánh giá thể lực quan trọng sau hai chỉ tiêu về chiều cao và cân nặng Các tác giả nghiên cứu đều cho thấy, ở người kích thước vòng ngực trung bình phát triển nhiều nhất
ở lớp tuổi từ 16-25 (đối với nữ) và 26-40 tuổi (đối với nam) Ở các lớp tuổi sau, kích thước vòng ngực giảm dần [12, 13, 14, 19, 20, 36, 52, 61, 64, 65, 66,
68, 69, 72, 73, 81, 83, ]
Từ các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực có thể tính thêm được chỉ số pignet, BMI Từ chỉ số pignet, có thể đánh giá thể lực theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền [75 Chỉ số này được d ng trong đánh
Trang 23giá sự phát triển của cơ thể Chỉ số pignet càng nhỏ thì cơ thể phát triển càng tốt Dựa theo cách tính này thì chỉ số pignet có lợi cho người b o và thiệt cho người cao Trong đánh giá thể lực, chỉ số pignet vẫn là chỉ số có nhiều ưu điểm hơn cả [75 Tuy nhiên, muốn chính xác, thì khi đánh giá thể lực cần kiểm tra thêm các chỉ số khác
BMI (Body Mass Index) chính là chỉ số khối cơ thể được các bác sĩ và các chuyên gia sức khỏe sử dụng để xác định tình trạng dinh dưỡng của một người nào đó có bị b o phì, thừa cân, quá gầy hay không Thông thường, người ta d ng để xác định mức độ b o phì Chỉ số khối cơ thể cho trẻ em cũng được tính tương tự cho người lớn Mặc d , BMI được tính theo c ng một cách cho cả trẻ em và người lớn, nhưng ý nghĩa của BMI đối với trẻ em và thanh thiếu niên khác người lớn
Nhiều công trình nghiên cứu về thể lực đã cho thấy, sự khác nhau giữa trẻ em thành phố và trẻ em nông thôn, giữa nam và nữ Trên thực tế, sự phát triển trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường [4, 7, 10, 13, 42, 48, 67, 93,
3 N h n c u về ch s hình thá - th c tr n thế ớ
Từ thế k XIII, Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực Sau này các nhà giải phẫu học kiêm họa sỹ thời phục hưng (Leonard de Vinci, Mikenlangilo, Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa vào tác phẩm hội họa của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski (theo [29])
Rudolf Martin, người đặt nền móng cho nhân trắc học qua hai tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể
và xử lý thống kê” Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương
Trang 24pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn được sử dụng [26 Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho ph hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình nghiên cứu của P.N Baskirov - “Nhân trắc học”, Evan Dervael - “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, .M Uruxon.Song song với sự phát triển của các bộ môn di truyền, sinh lý học, toán học việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn Vấn đề này được thể hiện qua các công trình của X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tomner, M Sempé, G Pesdron, M.P Rog - Pernot (theo [29])
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu trong quá trình nghiên cứu
sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là các nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc [30 Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1975 Công trình này được thực hiện theo phương pháp cắt ngang (Cross - sectional study) khá phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh
và thực hiện được trên nhiều đối tượng c ng một lúc (theo [35 )
Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao của Philiuert Guenseeau de Montbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Trong
18 năm liên tục, mỗi năm được đo 2 lần, cách nhau 6 tháng Đây là một nghiên cứu tốt nhất được tiến hành cho đến nay và được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế k XIX (theo [29 )
Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick ở nh, Carlschule ở Đức, H.P Bowditch ở Mỹ; Paul Godin ở Pháp Năm 1977 Hiệp hội các nhà nghiên cứu tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới (theo [29 )
Trang 25BMI được nghiên cứu ở mọi nơi trên thế giới nhằm đánh giá tình trạng phát triển và dinh dưỡng của trẻ em Người ta đã kết hợp nhiều đại lượng tăng trưởng vào một số chỉ số chung như chỉ số Quetelet, Broca, BMI, Pignet để đánh giá được chính xác hơn T y theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả lựa chọn các chỉ số cho ph hợp với nghiên cứu của mình [80
Từ năm 1954 trở đi, bắt đầu có nhiều tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu về đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam Năm1975, công trình “Hằng số sinh học người Việt Nam” do GS Ngyễn Tấn Gi Trọng chủ biên [83 là công trình đầu tiên nêu khá đầy đủ các thông số về thể lực của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi trong đó có lớp tuổi từ 7 đến15 Đó là một công trình nghiên cứu khá công phu, hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh
lý, sinh hóa của người Việt Nam và được coi là mốc đánh dấu quan trọng trong lịch sử nghiên cứu các chỉ số Sinh học của người Việt Nam [73 Tài liệu này được sử dụng trong sách giáo khoa, các giáo trình, tài liệu dạy và học
Từ sau năm 1975, đã có nhiều tác giả nghiên cứu các chỉ số thể lực ở trẻ em Việt Nam.Các kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong các tạp chí, tài liệu chuyên ngành và trong cuốn “Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam” [12
Trang 26Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cs đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam từ 3-10 tuổi [90 Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao đứng, khối lượng cơ thể trung bình của người Việt Nam nhỏ hơn so với người Châu Âu, Châu Mĩ ở mọi lứa tuổi Thời điểm tăng trưởng phát triển, tuổi dậy thì cũng chậm hơn Chiều cao của nữ phát triển nhanh vào lúc 12-13 tuổi, còn của nam vào lúc 13-16 tuổi để đến 23 tuổi đạt mức tối đa Khối lượng cơ thể nữ tăng mạnh lúc 13 tuổi và kết thúc lúc 19 tuổi, còn của nam lúc 15 tuổi và kết thúc lúc 20 tuổi Như vậy, thời kỳ phát triển ổn định của nữ đến sớm hơn của nam
Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [20 đã nghiên cứu về sự phát triển chiều cao đứng, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi ở 8 tỉnh thuộc 3 miền của đất nước Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ
số thu được trong công trình này đều cao hơn h n so với các chỉ số nghiên cứu trước đó Các tác giả cho thấy, chiều cao đứng ở trẻ em lứa tuổi 16 - 18 tăng từ 159,94cm lên 162,15 cm; ở nữ chiều cao đứng tăng từ 151,5 cm lên 152,73 cm Vòng ngực của nam tăng từ 74,89 cm lên 77,9 cm; ở nữ tăng từ 75,42 cm lên 79,09 cm Như vậy, ở lứa tuổi từ 16 - 18 chiều cao đứng của nam vượt lên h n so với của nữ
Từ năm 1980 đến1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp [19 đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 -17 tuổi Tác giả đã đưa ra kết luận, chiều cao của các em học sinh nam phát triển mạnh nhất lúc 13 -15 tuổi và của học sinh
nữ lúc 11 -12 tuổi Đối với chỉ tiêu cân nặng, chỉ tiêu này ở học sinh nam phát triển mạnh nhất lúc 15 tuổi và của học sinh nữ lúc 13 tuổi Ngoài ra, tác giả cũng cho thấy có sự gia tăng về chiều cao và cân nặng của học sinh Quy luật phát triển theo giai đoạn chỉ ph hợp với quy luật phát triển chiều cao, còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống với quy luật phát triển cân nặng
Trang 27Các chỉ số sinh học của người Việt Nam còn được thể hiện qua tập
“ tlas nhân trắc học ngượi Việt Nam trong lứa tuổi lao động” của tập thể tác giả do V Hưng chủ biên [32 tlas đã cung cấp số liệu về hình thái người lao động Việt Nam ở cả ba miền và còn gợi mở một nhận x t về các quy luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người lao động Việt Nam
Năm 1991, Đào Huy Khuê [36 đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về
sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh từ 6 -17 tuổi ở Hà Đông, tỉnh
Hà Sơn Bình Tác giả cho thấy, hầu hết các chỉ số sinh học đều tăng dần theo tuổi nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều Tốc độ tăng trưởng các chỉ số lớn của nam thường ở lứa tuổi 14-16, còn ở nữ ở lứa tuổi 11-15
Theo Nghiêm Xuân Thăng 1993, môi trường nóng khô và nóng ẩm có ảnh hưởng lên một số chỉ số sinh lý người Kết quả cho thấy, khí hậu khắc nghiệt v ng Nghệ Tĩnh bước đầu làm phát sinh những biến đổi về cấu trúc hình thái Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu , chỉ số pignet của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của Việt Nam Tác giả cho rằng, đây là đặc điểm đặc trưng cho sự thích nghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm [78
Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương và cs (1994) đã tiến hành điều tra một số chỉ số nhân trắc trên 1409 người trưởng thành, bình thường (từ 16 tuổi trở lên tại Thượng Đình và xã Định Công, Hà Nội) gồm 595 nam và 841 nữ Kết quả cho thấy, chiều cao của mỗi giới đều có xu hướng tăng Nam cao hơn
nữ r rệt ở mọi lứa tuổi Cân nặng ở và vòng ngực trung bình của nam cũng lớn hơn của nữ Các chỉ số BMI, Pignet của nữ tốt hơn của nam (do lợi thế về dinh dưỡng cộng với chiều cao thấp) Tác giả kết luận, các kích thước nhân trắc cũng như các chỉ số thể lực vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi 19 -
20 ở nữ và 22 tuổi ở nam [65
Trang 28Từ năm 1991 - 1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [13 đã nghiên cứu trên học sinh một số tỉnh thành Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình và nhận thấy, so với số liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [83 thì sự phát triển chiều cao của trẻ em từ 8 - 14 tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố, thị xã; còn ở khu vực nông thôn chưa thấy sự khác đáng kể
Tác giả Tạ Thúy Lan, Đàm Phượng Sào (1998) [52 đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển thể lực của học sinh từ 6 - 14 tuổi ở Vân Canh, tỉnh
Hà Tây và cho thấy, chiều cao của học sinh tăng dần theo tuổi từ 6-14 tuổi
Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan [64 nghiên cứu trên học sinh
từ 9 - 18 tuổi của các dân tộc ít người thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ đã cho thấy, chiều cao và khối lượng cơ thể của các đối tượng tăng dần theo tuổi Thời điểm tăng nhanh chiều cao và khối lượng cơ thể của nữ sinh dân tộc ít người đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [80 , nhưng muộn hơn so với học sinh Thái Bình và Hà Nội từ 1 - 2 năm
Từ năm 1999 đến 2002, tác giả Trần Thị Loan nghiên cứu trên học sinh
Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã nhận thấy, các chỉ số hình thái gồm chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả từ thập niên 80 trở về trước và lớn hơn so với học sinh các tỉnh Thái Bình, Hà Tây, ngoại thành Hải Phòng Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái thể lực của học sinh [61
Trong cuốn “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập k
90 thế k XX” [72 các nghiên cứu cũng cho thấy, ở lứa tuổi từ 7 đến 15 có
sự khác biệt khá r về các chỉ số hình thái, nhân trắc giữa nam và nữ Chiều cao đứng của nam tăng từ 111,43 lên 155,52 cm, của nữ tăng từ 110,64 lên 152,45 cm Cân nặng của nam tăng từ 17,59 lên 40,92 kg, còn của nữ tăng từ 16,91 lên 40,19 kg Vòng ngực trung bình của nam tăng từ 53,40 lên 68,92
Trang 29cm và của nữ tăng từ 52,07 lên 67,54 cm Công trình này cũng cho thấy kết quả nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc của trẻ em ở lứa tuổi 7 đến 15 cụ thể, BMI của nam tăng từ 14,22 lên 16,98 và của nữ tăng từ 13,85 lên 17,63 Chỉ
số Pignet của nam tăng từ 40,29 lên 45,19; còn của nữ tăng từ 41,56 lên 43,26
Năm 2006, Trung tâm tâm lý học và sinh lý lứa tuổi thuộc Viện chiến lược và chương trình giáo dục [78 đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số cơ bản
về sinh lý, tâm lý của học sinh phổ thông lứa tuổi từ 8 - 20.Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh nam và của nữ mọi lứa tuổi 11-15, đã phản ánh sự thoát khỏi tình trạng còi cọc Các số liệu về cân nặng cho thấy sự phân hóa sâu sắc ngay trong nhóm trẻ c ng độ tuổi Bên cạnh trẻ nhẹ cân đã xuất hiện những trẻ có dấu hiệu b o phì, đặc biệt là các trẻ ở các thành phố lớn Như vậy, đã có sự chuyển biến tích cực về mặt thể lực của học sinh trong giai đoạn hiện nay.Đồng thời, các tác giả cũng lưu ý đến BMI ở học sinh nông thôn và nhận thấy tình trạng dinh dưỡng ở nông thôn còn hạn chế
Năm 2012, Mai Văn Hưng, Ngô Thị Phương Thanh, Hà Thị Hương [31 đã tiến hành nghiên cứu 968 học sinh (453 nam và 515 nữ) có độ tuổi từ
12 đến 15 của 5 trường THCS thuộc các Quận Hai Bà Trưng, Cầu giấy và các huyện Sóc Sơn, Đông nh, thành phố Hà Nội kết quả nghiên cứu cho thấy: chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh Hà Nội cao hơn các giá trị tương ứng trong Hằng số sinh học 75 và các nghiên cứu trước đây Vòng ngực trung bình của học sinh các trường THCS Hà Nội cũng tăng dần theo tuổi với tốc độ tăng vòng ngực trung bình không đều giữa các năm Chỉ số pignet của học sinh hai giới đều giảm dần và không giống nhau ở c ng
độ tuổi vì thuộc các v ng sinh thái khác nhau Chỉ số pignet của học sinh các
v ng nội thành tốt hơn h n so với v ng nông thôn Chỉ số BMI của học sinh nam thuộc các v ng sinh thái khác nhau có sự khác biệt Trong đó, học sinh
Trang 30v ng nội thành ở hầu hết các lứa tuổi đều có chỉ số BMI nằm trong giới hạn bình thường Còn học sinh v ng nông thôn có chỉ BMI thấp hơn h n nằm trong khoảng thiếu cân độ I ở tất cả các lớp tuổi Tác giả kết luận do sự ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng nên học sinh v ng nông thôn có sức khỏe chưa tốt Còn học sinh nữ có BMI tăng dần theo tuổi ở tất cả các v ng khác nhau thuộc thành phố Hà Nội Tuy nhiên, kết quả cho thấy số BMI của học sinh nữ
v ng nội thành cao hơn h n nữ sinh v ng ngoại thành BMI đặc biệt thấp ở
v ng nông thôn Có nguy cơ thiếu cân độ I (BMI= 17,82± 1,16) ở học sinh nông thôn, còn học sinh nữ v ng nội thành cũ lại có nguy cơ b o phì hay thừa cân độ I (BMI =25.12±1,77) [31]
Năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc đã tiến hành nghiên cứu 3691 học sinh (1845 nam và 1846 nữ) lứa tuổi THCS, THPT có độ tuổi từ 11 đến 17 của học sinh dân tộc Kinh, Mường, và Sán Dìu miền núi tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, kết quả nghiên cứu cho thấy: chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh lớn hơn các giá trị tương ứng trong Hằng số sinh học 75 và các nghiên cứu trước đây Vòng ngực trung bình của học sinh 3 dân tộc Kinh, Mường, Sán Dìu cũng tăng dần theo tuổi với tốc độ tăng vòng ngực trung bình không đều giữa các năm và không giống nhau Cân nặng của trẻ
em ở mọi lứa tuổi đã tăng nhiều so với vài trục năm trước đây Theo tác giả, điều này một phần do yếu tố di truyền và một phần do điều kiện kinh tế đã được cải thiện tốt hơn nhiều so với khoảng 30 năm về trước Mặt khác, do học sinh Mường và Sán Dìu được sống và học tập tại các trường PTDT nội trú nên chế độ dinh dưỡng được cải thiện hơn kể từ khi các em bắt đầu vào trường Đồng thời với việc rèn luyện thể chất của học sinh tại các trường hiện nay được chú trọng hơn cũng là nguyên nhân dẫn đến cân nặng và chiều cao của trẻ em gia tăng Chỉ số pignet của học sinh tương đối cao, tăng nhanh trong giai đoạn từ 11-13 tuổi, còn từ 14-17tuổi thì chỉ số này giảm Chỉ số
Trang 31BMI của học sinh 3 dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu đều tăng dần theo tuổi
và đa số học sinh có thể trạng gầy Nguyên nhân là do sự tăng nhanh về chiều cao so với cân nặng Tác giả kh ng định, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự tăng trưởng các chỉ số hình thái và thể lực của học sinh Sự phát triển thể lực của học sinh trong giai đoạn này có liên quan đến tuổi dậy thì [72
Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây trên học sinh, sinh viên và thanh thiếu niên Việt Nam đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ những năm trước Đặc biệt từ sau năm 1975 đến nay, tình hình kinh tế văn hóa nước ta có nhiều thay đổi tốt hơn chắc chắn đã ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khỏe của người Việt Nam Học sinh ở thành phố thường có chỉ
số nhân trắc tốt hơn ở nông thôn [12,13 Yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống
Điều này có thể thấy qua các công trình nghiên cứu thể lực của học sinh các dân tộc ở các v ng miền khác nhau của Đào Mai Luyến [63 , Nguyễn Văn M i, Tô Như Khuê [67 , Nguyễn Thị Bích Ngọc [72 , Đỗ Hồng Cường [10 , Hoàng Quý Tỉnh [84 , Các công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của trẻ em Việt Nam khá phong phú Kết quả nghiên cứu trong các công trình có sự khác nhau ít nhiều, nhưng đều xác định được các chỉ số sinh học biến đổi theo lứa tuổi và mang đặc điểm giới tính, trong quá trình phát triển của trẻ em có giai đoạn tăng nhảy vọt Mốc đánh dấu sự nhảy vọt của các công trình tương đối thống nhất, chiều cao tăng nhanh nhất từ 13 - 15 tuổi
ở nam và 10 - 12 tuổi ở nữ, cân nặng cũng tăng nhanh nhất từ 13 - 15 tuổi ở nam và 11 - 13 tuổi ở nữ
Theo nhận định của một số tác giả, tốc độ phát triển thể lực của nam và
nữ khác nhau Từ 7 – 10 tuổi, tốc độ tăng trưởng chiều cao của nữ nhanh hơn
so với của nam, nhưng từ 11 tuổi trở lên thì tốc độ tăng trưởng chiều cao của nam lại nhanh hơn so với chiều cao của nữ Đây chính là nguyên nhân đã tạo
Trang 32ra điểm giao ch o tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất và lần thứhai lúc 11 và
14 tuổi [72
Trong thực tế, sự phát triển thể lực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, là kết quả tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường Các yếu tố môi trường và điều kiện sống đã tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em [20, 36
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về hình thái- thể lựccủa học sinh Việt Nam khá phong phú Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trong các công trình khác nhau ít nhiều, nhưng đều xác định được sự thay đổi của các chỉ số này theo lứa tuổi và theo giới tính Sự rèn luyện thể lực có tác động tốt đến chiều cao, cân nặng và một số vòng của cơ thể Các chỉ số hình thái - thể lực
có sự khác biệt giữa học sinh thành phố, thị xã và học sinh nông thôn, cũng như giữa các v ng khí hậu, các nhóm dân tộc khác nhau
1.3 Trí tuệ
3 ác quan n về tr tu
Trí tuệ là phẩm chất rất quan trọng trong hoạt động của con người, có liên quan đến cả thể chất và tinh thần [90 Bởi vậy, việc nghiên cứu trí tuệ được coi là lĩnh vực liên ngành, đòi hỏi sự kết hợp của các nhà sinh lý học, tâm lý học, toán học và các ngành khoa học khác [9, 11, 16, 47, 55, 56, ] Cho đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về trí tuệ, nhưng có
ba khuynh hướng chính
Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức,năng lực học tập của cá nhân Theo quan điểm này, con người phải học tập để phát triển nhân cách, để bảo toàn cơ thể và để kh ng định mình trong xã hội.Theo nhà tâm lý học người Nga B G nanhev [49, 50 , (theo Trần Trọng Thủy [78 ), trí tuệ là một đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc và học tập phụ thuộc vào nó Trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri
Trang 33thức, phán x t, đánh giá và sáng tạo Trí tuệ là một hệ thống tri thức có tổ chức tốt, mà trong nhận thức những tri thức đó được điều chỉnh và làm phong phú thêm, được thể hiện không phải chỉ trong những biểu tượng cụ thể về những sự vật và sự kiện riêng biệt mà còn được khái quát thành khái niệm Năng lực trí tuệ, trước hết, phải là năng lực nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn của con người Hệ thống những thuộc tính trí tuệ là những năng lực chung đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng và có hiệu quả [79 Nhiều nhà tâm lý phương Tây như và một số tác giả đã cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa trí tuệ và kết quả học tập [80 Trên thực tế, kết quả của các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa trí tuệ và kết quả học tập có mối liên hệ với nhau, nhưng không đồng nhất
Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng, quan niệm này khá phổ biến Một số nhà khoa học theo khuynh hướng này là: X.L.Rubinstein [86], L.Terman [95 , N .Menchinskaia Họ cho rằng, đặc tính ban đầu của trí tuệ là năng lực tâm thần ở mức độ cao như suy luận trừu tượng, N Menchinskaia xem đặc trưng của trí tuệ là sự tích lũy vốn tri thức
và các thao tác trí tuệ để con người tiếp thu tri thức [41 Quan niệm này đã chỉ ra được yếu tố đặc trưng hay hạt nhân của trí tuệ nhưng nếu theo cách hiểu này thì trí tuệ chỉ là tư duy trừu tượng hay chức năng của trí tuệ chỉ là sử dụng có hiệu quả các khái niệm và hình ảnh tượng trưng Khuynh hướng thứ nhất và khuynh hướng thứ hai đã đồng nhất trí tuệ với trí thông minh.Trí thông minh ở đây được hiểu là khả năng nhận thức và giải quyết các tình huống, vấn đề mang tính phức tạp
Khuynh hướng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích ứng, thích nghi của
cá nhân.Việc đánh giá trí tuệ thông qua hoạt động thích nghi là phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành Đại diện cho khuynh hướng này là R Stern [57 , đã coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người với điều
Trang 34kiện và nhiệm vụ mới trong cuộc sống Theo ông, trí tuệ là năng lực suy luận
và khả năng sáng tạo trên cơ sở kết hợp những kinh nghiệm khác nhau để giải quyết vấn đề mới D Wechsler [96 lại cho rằng, trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được thể hiện trong hoạt động có mục đích, trong sự phán đoán, thông hiểu và làm cho môi trường thích nghi với những khả năng của mình Theo H Gardner [22 trí tuệ bao gồm nhiều dạng năng lực thích ứng khác nhau.Trí tuệ là một cấu trúc gồm 7 kiểu khác nhau, mỗi kiểu trí tuệ được phát triển đến một mức độ nhất định trong mỗi người Đó là các năng lực toán học
- logic học, năng lực ngôn ngữ, năng lực âm nhạc, năng lực định hướng trong không gian, năng lực cảm giác - vận động cơ thể, năng lực liên nhân cách và năng lực nội tâm
Nhìn chung, các quan niệm trên đây về trí tuệ không đối nghịch, loại trừ lẫn nhau Sự khác nhau là do mỗi quan niệm có cách nhìn khác nhau trong việc lựa chọn dấu hiệu quan trọng nhất của trí tuệ Các quan niệm này có điểm chung là đã đồng nhất trí tuệ với trí thông minh
Bên cạnh thuật ngữ trí tuệ, còn một số thuật ngữ, khái niệm có liên
quan đến nó như: trí khôn, trí lực, trí thông minh… Các thuật ngữ này được
coi là thuộc tính của khái niệm trí tuệ thường d ng để chỉ khả năng hoạt động
trí óc của con người Trí khôn là khả năng suy nghĩ và hiểu biết, khả năng
hành động thích nghi với những biến động của hoàn cảnh thiên nhiên Khi nghiên cứu về cơ cấu của trí khôn, H Gardner [22 đưa ra học thuyết về nhiều dạng trí khôn
Trí lực thuộc bình diện năng lực hoạt động trí tuệ của cá nhân, bao gồm
óc quan sát, trí nhớ, óc tưởng tượng, tư duy Đặng Phương Kiệt [42 cho rằng, trí lực là khả năng phức hợp biết vận dụng trải nghiệm - biết vượt ra khỏi điều được tri giác và hình dung ra những khả năng biểu tượng
Trang 35Trí thông minh có hai nhận định Một là có trí lực tốt, hiểu nhanh, tiếp
thu nhanh; Hai là nhanh trí và khôn kh o, tài tình trong cách ứng đáp và đối phó Nguyễn Kế Hào [25 cho rằng, trí thông minh là một phẩm chất tổng hợp của trí tuệ nói riêng và là một phẩm chất của nhân cách nói chung, cốt l i của trí thông minh là phẩm chất tư duy tích cực, độc lập, linh hoạt, sáng tạo trước những vấn đề thực tiễn và lý luận Theo Phạm Hoàng Gia [21 , bản chất của trí thông minh là một phẩm chất cao của tư duy sáng tạo đưa đến sự giải quyết vấn đề một cách mau lẹ và thích hợp trong tình hình mới, cho nên nó không chỉ thể hiện ở sự nhận thức mà biểu hiện cả trong hành động thực tiễn
s3 ) Nhân tố “S” chỉ tồn tại đối với mỗi trắc nghiệm nhất định và không có liên quan gì đến những trắc nghiệm khác Nhân tố G giữ vai trò chủ đạo, là
sự mềm dẻo, linh hoạt của hệ thần kinh trung ương Nhân tố S mang tính riêng biệt của mỗi người Ông cho rằng, nhân tố trí tuệ chung quan trọng hơn bất kỳ một nhân tố trí tuệ riêng nào Sự tồn tại của nhân tố “G”, theo quan điểm của Spearman, đã nhận được sự ủng hộ của một số nhà nghiên cứu Phát hiện của tác giả đã mở ra một hướng nghiên cứu trí tuệ là phương pháp phân tích nhân tố [33
Lý thuyết của John Horn và Raymond (1966) cho rằng, trí tuệ có hai nhân tố đó là trí tuệ lỏng và trí tuệ kết tinh Trí tuệ lỏng phản ánh năng lực tư duy, trí nhớ và tốc độ của việc biến đổi thông tin Trí tuệ lỏng được kế thừa
Trang 36một cách rộng rãi, nó chịu ảnh hưởng một chút của luyện tập và bị giảm sút ở tuổi già Trí tuệ kết tinh phản ánh những kiến thức thu thập được qua nhà trường và kinh nghiệm hàng ngày
Thuyết ba nhân tố về trí tuệ cho rằng, trí tuệ người là một thuộc tính rộng hơn những năng lực có thể đo được bằng trắc nghiệm IQ Năm 1984, ông đã đề xướng thuyết 3 nhân tố của trí tuệ Ba nhân tố của trí tuệ theo ông
là cấu trúc, kinh nghiệm và điều kiện Nhân tố cấu trúc ban đầu của trí tuệ bao gồm 3 thành phần nhỏ: siêu cấu trúc, thực hiện và tiếp nhận Trong trường hợp này, lực đẩy của trí tuệ chính là sự thích ứng Cấu trúc này đã vạch ra những yếu tố cần xem x t trí tuệ như kỹ năng xử lý thông tin, kinh nghiệm về những thông tin và ngữ cảnh khi thực hiện bài tập gồm các điều kiện văn hóa, hoàn cảnh
Thuyết đa nhân tố của Howard Gardner cho rằng, có 7 kiểu trí tuệ khác nhau, mỗi kiểu được phát triển đến một mức độ khác nhau trong mỗi con người [22,85 Trí tuệ ngôn ngữ là năng lực diễn tả ngôn ngữ dễ dàng bằng cách nói hay viết Trí tuệ logic - toán học là năng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc, chặt chẽ Các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà toán học có loại trí tuệ này rất phát triển Trí tuệ âm nhạc là năng lực tạo ra và thưởng thức các nhịp điệu, cung bậc, âm sắc (của âm thanh); biết thưởng thức các dạng biểu cảm của âm nhạc Trí tuệ không gian bao gồm các khả năng phản ánh thế giới bằng thị giác - không gian một cách chính xác và khả năng thực hiện những biến đổi đối với sự tri giác ban đầu của mình Nó cho ph p tưởng tượng được hình dạng của các sự vật khác với người khác Trí tuệ vận động là các năng lực kiểm soát các động tác của cơ thể mình Trí tuệ về bản thân bao gồm những năng lực đánh giá các cảm xúc của bản thân, năng lực phân biệt giữa các cảm xúc và đưa chúng vào hướng dẫn hành vi Trí tuệ về người khác bao
Trang 37gồm những năng lực nhận thức r ràng và đáp ứng lại các tâm trạng, khí chất, động cơ và thèm muốn của người khác một cách ph hợp
Thuyết của J.P Guilford (1897 - 1987) đã phản đối quan niệm về một nhân tố trí tuệ chung Qua việc sử dụng phương pháp phân tích nhân tố, ông
đã đưa ra mô hình cấu trúc trí tuệ có nhiều yếu tố nhất, mang tính nhận thức Cấu trúc này gồm 120 nhân tố của trí tuệ Mỗi nhân tố đại diện cho sự tác
động qua lại các chiều mà J.P Guilford gọi là các thao tác (các quá trình t
duy: nhận th c, trí nhớ, t duy phân kỳ, t duy hội t , ánh giá) các nội dung
(thông tin mà con ng i ang suy nghĩ gồm hình ảnh ký hiệu, ngữ nghĩa,
hành vi) và các sản phẩm (các kết quả của sự suy nghĩ về các thông tin, các
ơn vị, các lớp (lo i), các m i li n hệ, các hệ th ng, các biến ổi, các ẩn ý)
Gần cuối đời J.P Guilford đã phát hiện thêm những nhân tố mới, nâng các nhân tố trí tuệ lên 180 [39
3.3 ác ph ơn pháp n h n c u tr tu
Đánh giá năng lực trí tuệ của con người là một vấn đề phức tạp Để nghiên cứu và chẩn đoán trí tuệ có nhiều phương pháp khác nhau như quan sát điều tra, thực nghiệm, trắc nghiệm, tìm hiểu biến đổi điện - hoá trong hệ thần kinh và cơ thể [16 Tuy nhiên, phương pháp phổ biến hơn cả là dựa vào trắc nghiệm tâm lý.Trong đó trắc nghiệm về năng lực trí tuệ được d ng khá phổ biến
Mục đích của trắc nghiệm trí tuệ (intelligence test) là xác định chỉ số
IQ, mức trí tuệ Tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực này phải kể đến là F Galton (1822 - 1911) Ông cho rằng, trí thông minh do di truyền quyết định và có thể
đo đạc được Ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ "test" có nghĩa là "thử" hay "ph p thử" [37
Năm 1905, lfred Binet và T Simon đã công bố phương pháp trắc nghiệm có thể đánh giá năng lực trí tuệ tổng quát Thang điểm của Binet -
Trang 38Simon được áp dụng khá phổ biến ở trường học cho ph p đánh giá mức trí tuệ hay tuổi trí tuệ Tuổi trí tuệ (mental age) thể hiện những đặc trưng về năng lực trí tuệ của một đứa trẻ ở tuổi thực (actual age) Nếu tuổi trí tuệ thấp hơn tuổi thực của đứa trẻ thì bị xem là k m thông minh và ngược lại Như vậy, trắc nghiệm này giúp phân biệt trẻ học k m bình thường và trẻ học k m do trí tuệ chậm phát triển Đến năm 1916, trắc nghiệm của Binet và Simon đã được sửa vài lần Thang điểm của Binet cũng được Lewis Terman [95 và các tác giả khác cải tiến thành thang điểm Standfor - Binet Từ đó trắc nghiệm này trở nên nổi tiếng thế giới Với trắc nghiệm mới này, L Terman đã xây dựng được cơ sở cho quan điểm về chỉ số thông minh hay chỉ số khôn (IQ) do W Stern đề xuất năm 1914 IQ là chỉ số đo nhịp độ phát triển trí tuệ đặc trưng cho mỗi trẻ và được tính theo công thức, trong đó M (Mental ge) là tuổi trí tuệ, C (Chronlogical ge) là tuổi đời hay tuổi thực
Giá trị IQ cho biết sự vượt lên trước hay chậm lại của trí khôn so với tuổi đời Ngay sau đó trắc nghiệm Standfor - Binet trở thành công cụ chuẩn trong tâm lý lâm sàng, tâm thần học và tư vấn giáo dục [37 Đồng thời, trắc nghiệm này còn được d ng làm kiểu mẫu để phát triển nhiều trắc nghiệm khác như: trắc nghiệm phân tích nghiên cứu trí tuệ của R Meili (1928), trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của J.C Raven (1936), trắc nghiệm trí tuệ đa dạng của R Gille (1944), trắc nghiệm trí tuệ d ng cho trẻ 6 - 12 tuổi WISC (1949) và trắc nghiệm d ng cho người lớn W IS của D Wechsler [96
D.Wechsler đã không chấp nhận cách giải thích truyền thống về cách tính IQ qua mối tương quan giữa tuổi trí khôn và tuổi đời do Stern và Binet đưa ra Theo công thức trên, sẽ tồn tại mối tương quan tuyến tính giữa trí khôn và tuổi đời.Trong khi đó, sự phát triển trí tuệ lại diễn ra một cách không đều trong suốt đời người
Trang 39Như vậy, mỗi trắc nghiệm sẽ có một điểm IQ tương ứng.Trên cơ sở điểm IQ Wechsler phân loại thành 7 mức trí tuệ
Cách tính IQ mới khắc phục được các nhược điểm so với cách tính IQ
cũ Nó loại trừ được khái niệm tuổi trí khôn (Mental ge) hết sức mơ hồ; loại trừ được sự phụ thuộc của trí khôn do công thức toán học đem lại khỏi khái niệm tuổi đời mà vẫn phản ánh được sự phụ thuộc bản chất giữa hai yếu tố Thực tế cho thấy, người chậm khôn chiếm t lệ gần 2% so với toàn bộ loài người, điều này ph hợp với cách tính IQ mới
Trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn (Test Raven) được J.C Raven [96 xây dựng vào năm 1936 và được sử dụng phổ biến Đây là trắc nghiệm phi ngôn ngữ d ng để đo năng lực trí tuệ trên bình diện rộng Những năng lực được trắc nghiệm là năng lực hệ thống hoá, năng lực tư duy logic, và năng lực vạch ra mối liên hệ tồn tại giữa các sự vật hiện tượng Test Raven có ưu điểm
là có tính khách quan và khả năng loại trừ những khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá của đối tượng nghiên cứu Kỹ thuật sử dụng đơn giản, ít tốn
k m, sử dụng cho cả cá nhân và nhóm Nhược điểm của trắc nghiệm này là chỉ cho biết kết quả mà không cho biết quá trình đi đến kết quả.Mặt khác, trắc nghiệm này đòi hỏi tư duy cao, nên khi sử dụng cho các đối tượng có tư duy
k m sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác của nghiên cứu [23 Chính vì vậy, khi sử dụng test Raven cần phải có sự kết hợp các phương pháp khác như quan sát, thực nghiệm hay các trắc nghiệm khác Tuy nhiên, với ưu điểm nổi trội, phương pháp trắc nghiệm này vẫn được sử dụng rộng rãi để đánh giá trí tuệ của học sinh trên thế giới và ở Việt Nam [1
3 Tình hình n h n c u tr tu ở t Na
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về trí tuệ và các vấn đề có liên quan bắt đầu muộn hơn so với thế giới Trước năm 1975, nghiên cứu về trí tuệ còn hạn chế, chỉ thường d ng trong ngành y tế do các cán bộ ngành y thực hiện, nhằm
Trang 40mục đích chẩn đoán bệnh tâm thần ở một số bệnh viện lớn như Bạch Mai và nhi Thụy Điển [47 Từ thập k 80 của thế k XX đến nay, các công trình nghiên cứu trí tuệ ngày càng nhiều
Năm 1989, Trần Trọng Thu [78 đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học cơ sở bằng test Raven Kết quả nghiên cứu cho thấy,
sự phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra theo chiều hướng chung giữa các lứa tuổi, các khối lớp, riêng trình độ "rất tốt" giảm theo lứa tuổi; điểm test trung bình tăng dần theo lứa tuổi Từ kết quả của mình, tác giả đã kh ng định tính hiệu quả của test Raven với đối tượng học sinh Việt Nam và năng lực trí tuệ của học sinh Việt Nam không thua k m học sinh nước ngoài
Năm 1991, Ngô Công Hoàn [27 nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh thành phố Huế và Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự chênh lệch về mức độ phát triển trí tuệ giữa học sinh thường và học sinh chuyên toán
Năm 1993, Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng [87] nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Hà Nội có độ tuổi 10 - 14 Kết quả cho thấy, sự phát triển trí tuệ tăng theo lứa tuổi và có sự phân hóa từ tuổi 11 trở đi, trong đó trí tuệ của nam có xu hướng cao hơn của nữ
Tạ Thuý Lan và V Văn Toàn [53 , 54, 55, 56 đã nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở Hà Nội và Quy Nhơn bằng test Raven và điện não đồ đã cho thấy, trí tuệ phát triển theo lứa tuổi và năng lực trí tuệ của học sinh Hà Nội cao hơn của học sinh Quy Nhơn Bên cạnh đó, tác giả còn tìm hiểu mối tương quan giữa năng lực trí tuệ của trẻ em với quá trình hoàn chỉnh hoá nhịp α ở thuỳ chẩm và nhịp β ở v ng trán
Tạ Thúy Lan - Trần Thị Loan [58, 66 , nghiên cứu trí tuệ của học sinh nông thôn và thành phố Hà Nội bằng test Raven Kết quả cho thấy, điểm trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đồng đều, năng