Thành phần loài và phân bố của quần xã Oribatida ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Cúc Phương .... Vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng nguyên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
=======o0o=======
TRẦN VĂN VINH
CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA)
Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 300M
THUỘC VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
=======o0o=======
TRẦN VĂN VINH
CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA)
Ở HỆ SINH THÁI ĐẤT RỪNG TỰ NHIÊN ĐỘ CAO 300M
THUỘC VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
Chuyênngành: Sinh thái học
Mãsố: 60 42 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐàoDuy Trinh
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn Thạc sĩ này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ to lớn và quý báu của các cơ quan tập, thể và cá nhân Nhân dịp này,
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc TS.Đào Duy Trinh, người thầy ngay từ
đầu đã định hướng và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ học tập và sự tạo điều kiện tốt nhất của Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, phòng Sau đại học, các Giáo sư, Tiến
sĩ và các cán bộ của bộ môn Động vật học của trường ĐHSP Hà Nội 2, nơi
mà tôi đang học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc, Ban quản lý, các cán bộ, công nhân viên VQG Cúc Phương, Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong thời gian nghiên cứu Xin gửi lời cảm ơn tới các e sinh viên thuộc lớp K37, khoa Sinh – KTNN Trường ĐHSP Hà Nội 2 cũng
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu mẫu và tách lọc mẫu nghiên cứu Cuối cùng, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, vợ, con tôi, Ban giám hiệu cùng các đồng nghiệp nơi tôi công tác đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian cũng như động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn để hoàn thành chương trình học đúng thời hạn
Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Văn Vinh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, tất cả các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này của tôi đều do tôi nghiên cứu để có được, số liệu hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và chưa được sử dụng để bảo
vệ bất kì một luận văn nào
Tôi xin cam đoan mọi thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều chính xác và được chỉ rõ nguồn gốc.Mọi sự giúp đỡ, tạo điều kiện cho việc thực hiện luận văn đều được cảm ơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Văn Vinh
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa của đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Lịch sử nghiên cứu 4
1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam 6
Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 11
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 11
2.1.2 Thời gian nghiên cứu và số lượng mẫu 13
2.2 Vật liệu nghiên cứu 13
2.3 Đặc điểm tự nhiên VQG Cúc Phương 14
2.3.1 Vị trí địa lý và địa hình 14
2.3.2 Khí hậu và thủy văn 15
2.3.4 Tài nguyên động vật và thực vật 15
2.3.5 Đặc điểm dân sinh và sản xuất kinh tế 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Xác định thành phần loài bằng các phương pháp 16
Trang 72.4.2 Đánh giá cấu trúc quần xã Oribatida 21
2.4.3 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu 22
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Cúc Phương 24
3.1.1 Thành phần loài và phân bố của quần xã Oribatida ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Cúc Phương 24
3.1.2 Thành phần phân loại học quần xã oribatida ở rừng tự nhiên đai cao 300m, thuộc VQG Cúc Phương 29
3.1.3 Đặc điểm cấu trúc quần xã Oribatida theo tầng thăng đứng của sinh cảnh đất rừng tự nhiên ở đai cao 300m, thuộc VQG Cúc Phương 30
3.1.4 Bàn luận và nhận xét 31
3.2 Thành phần loài Oribatida ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên, đai cao 300m thuộc VQG Cúc Phương 33
3.2.1 Đa dạng thành phần loài 34
3.2.2 Mật độ trung bình 35
3.2.3 Chỉ số đa dạng loài H’ 36
3.2.4 Chỉ số đồng đều (J’) 36
3.2.5 Các loài Oribatida ưu thế đai ở cao 300m ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên thuộc VQG CúcPhương 37
3.2.6 Bàn luận và nhận xét 45
3.3 Cấu trúc quần xã Oribatida ở đai cao 300m, sinh cảnh đất RTN theo chiều thẳng đứng ở VQG Cúc Phương 46
3.3.1 Đa dạng thành phần loài 46
3.3.2 Mật độ trung bình 47
3.3.3 Chỉ số đa dạng loài (H’) 47
Trang 83.3.4 Chỉ số đồng đều (J’) 48
3.3.5 Các loài Oribatida ưu thế ở các tầng sâu của đất trong hệ sinh
thái đất RTN ở đai 300m, VQG Cúc phương 48
3.3.6 Bàn luận và nhận xét 49 3.4 Bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị sinh học của các loài Oribatidaở
sinh cảnh đất rừng tự nhiên, đai cao 300m thuộc VQG Cúc Phương 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất là tài nguyên vô cùng quý giá có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và các sinh vật khác Đồng thời, môi trường đất là một hệ sinh thái vô cùng phức tạp nhưng lại vô cùng phong phú do có hệ vi sinh vật đất phong phú và đa dạng mà đáng kể là nhóm Ve giáp (Acari: Oribatida) Nhóm chân khớp bé này có vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất và có tác dụng cải tạo đất Do đó, nhóm chân khớp bé này có ảnh hưởng đến tính chất và hoạt tính của đất
Nhóm chân khớp này số lượng cá thể da dạng và phong phú, đặc biệt là
ở trong đất rừng, thảm lá mục hoặc lớp rêu có trên thân cây hoặc gỗ mục, cho nên dễ thu lượm ở tất cả các thời điểm trong năm, dễ nhận dạng nhưng lại rất nhạy cảm với những biến đổi của điều kiện môi trường (Vũ Quang Mạnh, 2007) [5].Vì vậy rất thuận lợi cho việc thu mẫu ngoài tự nhiên
Vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng nguyên sinh đặc dụng với hệ thống động thực vật đa dạng và phong phú mang đặc trưng của rừng mưa nhiệt đới.Do đó Vườn quốc gia Cúc Phương đã thu hút được một lượng lớn các công trình nghiên cứu khoa học đối với toàn bộ hệ thống vi sinh vật của Vườn.Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách liên tục về nhóm sinh vật nhỏ bé này và vai trò của chúng ở trong đất Vì tất cả những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài
nghiên cứu “Cấu trúc quần xã Ve Giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương”
2 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài bổ sung thành phần loài và cấu trúc Oribatida ở VQG Cúc Phương,
Trang 10cung cấp thông tin cơ bản về các giá trị định lượng ở các môi trường sống khác nhau
Đề tài cung cấp thêm bằng chứng về tính đa dạng sinh học của Oribatida
ở VQG Cúc Phương Bổ sung cho VQG Cúc Phương nhiều dẫn liệu mới về nguồn tài nguyên động vật đa dạng và phong phú
Xác định số lượng, thành phần loài Oribatida ở các môi trường thảm mục, rêu trên các thân cây gỗ, trong đất ở các độ sâu khác nhau ở đai cao khí hậu 300m thuộc VQG Cúc Phương
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ góp phần đưa ra những đánh giá về mức độ đa dạng thành phần loài và số lượng loài Oribatida, đánh giá về sự khác biệt về số lượng, thành phần các loài ở các môi trường khác nhau Từ đó đưa ra được những dự đoán về ảnh hưởng từ các hoạt động của con người có tác động nhiều hay ít đến môi trường đất cũng như là đến sự đa dạng trong thành phần loài của Oribatida
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố và cấu trúc của quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m và chiều sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất rừng tự nhiên ở VQG Cúc Phương
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Lập danh sách các Oribatida và phân bố của chúng sống trong đất tại thời điểm nghiên cứu, thảm lá vụn, rêu thuộc hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m, và chiều sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất rừng tự nhiên ở VQG Cúc Phương
Phân tích cấu trúc quần xã Oribatida về đặc điểm phân bố, mật độ quần
Trang 11thể, đa dạng thành phần loài, chỉ số đa dạng loài (H’), chỉ số đồng đều (J’) ở đai cao khí hậu 300m thuộc VQG Cúc Phương Từ đó phát hiện nhóm loài Oribatida ưu thế, phổ biến ở điểm nghiên cứu
Bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị của các loài Oribatida bằng việc phân tích sự có mặt của các loài Oribatida tại điểm lấy mẫu thông qua việcphân tích sự thay đổi các giá trị định lượng cơ bản của quần xã Oribatida
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét (Acari), lớp Hình Nhện (Arachnida), phân ngành chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành chân khớp (Arthropoda), của lớp động vật (Animalia) ở độ cao 300m VQG Cúc Phương
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida, được thực hiện ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên, đai cao 300m thuộc VQG Cúc Phương
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bộ Ve giáp (Acari: Oribatida) bao gồm những nhóm ve bét đa dạng và phong phú Ngoài tự nhiên chúng sống chủ yếu trong môi trường đất và các môi trường sống liên quan với hệ sinh thái đất, như thảm lá rừng và xác vụn thực vật, trên thân cây hay dưới vỏ cây gỗ, lớp thảm rêu bám trên thân cây, đất treo trên cành cây, trong tán cây xanh (Vũ Quang Mạnh, 2007)[5]
1.2 Lịch sử nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới
1.2.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài Oribatida
Khu hệ Oribatida được nghiên cứu từ rất sớm và diễn ra ở hầu hết các nước có nền khoa học phát triển như Đức, Pháp, Ý, Nga,…Mặc dù có rất nhiều công trình và dẫn liệu về sự đa dạng và phong phú của khu hệ động vật
đất này, tuy nhiên theo Behan- Pelletier et al., 1999[25] thì số loài thực tế
hiện biết chỉ chiếm khoảng ¼ số loài có trong thực tế
Trong những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về Oribatida diễn
ra mạnh mẽ và có nhiều kết quả của các tác giả được công bố, trong đó một chuyên gia Oribatidda người Thụy Sĩ đã tổng hợp và công bố bản danh mục các loài Oribatida đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh sách gồm 543 loài Oribatida thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng Oribatida đã được thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc Trung Mỹ như: Cu
Ba (225 loài), Antiles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài),…(Schatz, 2002) [31] Hiện tại 498 loài còn ở dạng sp, cf…Số lượng loài Oribatida của Trung Mỹ, bao gồm cả Mehico là 987 loài, nếu cộng cả thêm Antiles nữa, con số này là 1238 loài (Schatz, 2002)[31]
Trang 131.2.1.2 Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Oribatida
Độ dốc theo đai cao của hệ thống núi tự nó có thể được xem là những thí nghiệm thực địa mang tính tự nhiên Những nghiên cứu thực địa theo một tuyến chạy dọc từ chân núi lên đỉnh núi là rất cần thiết để hiểu thêm về sự thay đổi khí hậu toàn cầu trong quá khứ và dự đoán sự thay đổi đó trong tương lai Khí hậu là nhân tố chính kiểm soát những kiểu cấu trúc thực vật, năng suất
thành phần loài động, thực vật toàn cầu (Shen Jing et al., 2005)[30]
Va’squez et al., 2007 khi nghiên cứu đa dạng của các nhóm Ve bét (Acari:
Prostigmata, Mesotigmata, Astigmata) sống trong đất ở 2 sinh cảnh đất cây bụi
và đất rừng rụng lá theo mùa ở Nam Mỹ có nhận xét: Ve bét sống ở đất rừng rụng lá theo mùa có các giá trị của chỉ số định lượng số lượng loài, chỉ số đa dạng loài H’, chỉ số đồng đều J’ (S=43; H’=2,67; J’= 0,69) đều cao hơn so với
đất cây bụi (S=36, H’= 2,12, J’= 0,52) (Va’squez et al., 2007)[28]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam
1.2.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài Oribatida
Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về Ve giáp ở Việt Nam còn chưa được chuyên sâu và đồng bộ Năm 1960, lần đầu tiên hai tác giả người Hungari là balogh J và Mahunka S nghiên cứu và giới thiệu khu hệ, danh
pháp và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp trong công trình “New oribatids from Viet Nam” Trong đó mô tả 29 loài và 4 giống mới, tiếp theo là
những nghiên cứu của tác giả Tiệp Khắc [26]
Sau năm 1975, Ve giáp Việt Nam mới được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu sâu và có hệ thống, theonhững tiêu chí cụ thể Các công trình của các tác giả như công trình của Golosova (1983, 1986), Mahunka (1987; 1988; 1989), các công trình của hai tác giả người Nhật,… Tiếp sau đó
là các công trình của các tác giả nước ngoài cộng tác với các tác giả Việt Nam như công trình của Vũ Quang Mạnh, M Jeleva, I Tsonev (1987) nghiên cứu
Trang 14về Ve giáp bậc thấp ở miền bắc Việt Nam; Vũ Quang Mạnh và I Tsonev (1987)… đã đưa ra được thành phần loài Oribatida ở khu vực nghiên cứu
(Tsonev I et al., 1987; Vũ Quang Mạnh và cs., 1985, 1987 )[7]
Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva (1987) đã giới thiệu đặc điểm phân bố và danh pháp phân loại học của 11 loài Ve giáp mới cho khu hệ Ve giáp của Việt Nam và một loài mới cho khoa học (Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva, 1987)[7] Đến năm 1977, các tác giả trong nước bắt đầu có các nghiên cứu độc lập
về Ve giáp, tác giả đi tiên phong trong việc nghiên cứu về đối tượng này là tác giả Vũ Quang Mạnh về nhóm chân khớp bé ở các vùng sinh cảnh khác nhau trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Năm 1990, Vũ Quang Mạnh và Cao Văn Thuật đã xác định được 24 loài Oribatida ở vùng đồi núi Đông Bắc Việt Nam khi tiến hành nghiên cứu định lượng của nhóm chân khớp bé ở 7 kiểu sinh thái, 5 độ cao khí hậu và 3 loại đất Theo hai tác giả, trong nhóm chân khớp bé thì Oribatida luôn là nhóm có
số lượng lớn hơn so với các nhóm khác (khoảng 70 - 80%) tổng số lượng, còn lại khoảng 10% là nhóm Bọ nhảy (Collembola) (Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật, 1990) [8]
Vương Thị Hòa, Vũ Quang Mạnh, 1995 đã lập danh sách 146 loài và phân loại Oribatida ở Việt Nam và phân tích đặc điểm thành phần loài của chúng (Vương Thị Hòa, Vũ Quang Mạnh, 1995) [9]
Năm 2002, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đã đưa ra dẫn liệu bổ sung về vai trò, cấu trúc của quần xã Oribatida ở vùng Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Có nhận xét cấu trúc quần xã Oribatida ở hệ sinh thái đất có liên quan
rõ rệt với sự suy giảm của cây gỗ rừng Nó có thể được xem xét, đánh giá như một đặc điểm sinh học, chỉ thị diễn thế của rừng Tam Đảo nói riêng và của Việt Nam nói chung Mặt khác có sự thay đổi đặc điểm đa dạng thành phần loài của quần xã Oribatida theo chiều thẳng đứng, từ thảm rêu quanh thân cây
Trang 15và vụn thực vật, nằm trên mặt đất từ 0 - 100cm, cho đến lớp thảm lá rừng phủ trên mặt đất, lớp mặt đất từ 0- 10cm và lớp đất âu từ 11- 20cm ở hệ sinh thái rừng Tam Đảo Chỉ số này có thể xem như là yếu tố chỉ thị sinh học diễn thế ở
hệ sinh thái rừng Việt Nam (Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa, 2002) [10] Năm 2006, Vũ Quang Mạnh và Đào Duy Trinh công bố 30 loài Oribatida được phát hiện ở Vườn Quốc Gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ Công bố Oribatida họ Oppidae Grandjean, 1954; phân họ Oppinidae Grandjean, 1951
và Mulltioppiinae Balogh, 1938 ở Việt Nam (Vũ Quang Mạnh và cs., 2006)[15], tiếp tục nghiên cứu và giới thiệu các phân họ Pulchroppiinae, Oppielinae, Mystrppiinae, Brachyoppiinae, Arcoppiinae ở Việt Nam (Vũ Quang Mạnh, Lê Thị Quyên, Đào Duy Trinh, 2006)[15]
Năm 2008, các tác giả Vũ Quang Mạnh, Lưu Thanh Ngọc, Nguyễn Hải Tiến, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Ve giáp trong đó có Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng Trong báo cáo tại Hội Nghị Techmart tại Tây Nguyên vào tháng 4/2008, trong công trình này các tác giả
đã trình bày về vai trò của động vật đất trong đó có Oribatida như là yếu tố chỉ thị cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất [13], [14], [16]
Năm 2010, Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu và Vũ Quang Mạnh đã nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và địa động vật khu hệ Oribatida ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Đã ghi nhận được 103 loài Oribatida thuộc 48 giống 28 họ phân bố trong 5 sinh cảnh của VQG Xuân Sơn, Phú Thọ Số loài được phân bố đều ở các giống và các họ Đồng thời đã chỉ ra được đặc điểm địa động vật khu hệ Oribatida VQG Xuân Sơn, Phú Thọ thể hiện rõ yếu tố Ấn
Độ - Mã Lai (chiếm khoảng 71,77%) (Đào Duy Trinh và cs, 2010)[17]
Năm 2012, Nguyễn Duy Bình, Trần Thùy Linh và cs đã nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp
Trang 16Thụy Vân và vùng phụ cận, thành phố Việt Trì đã chỉ ra được sự biến động thành phần loài Ve giáp dưới tác động của các nhân tố ô nhiễm đất bởi các chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ, chất phóng xạ kim loại nặng (Nguyễn Duy Bình và cs, 2012)[1]
Cũng trong năm 2012, tác giả Triệu Thị Hường và cs., nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp tại khu công nghiệp Bình Xuyên và vùng phụ cận thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ ra được sự biến động thành phần loài Oribatida ở các sinh cảnh khác nhau đó là KCN, VQN, Ruộng Kết quả ghi nhận được 38 loài trong đó có 2 loài chưa được định tên [2]
Năm 2013, Đào Duy Trinh, Nông Thị Kiều Hoa, Trần Văn Vinh nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của môi trường khu công nghiệp Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc đến sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) so với vùng phụ cận thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã ghi nhận sự có mặt của 39 loài thuộc 18 họ và 29 giống trong đó sinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loài nhiều nhất, có 3 loài xuất hiện ở cả 3 sinh cảnh [20]
Năm 2014, nhóm tác giả Đào Duy Trinh và cs., nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở khu công nghiệp Phúc Yên và vùng phụ cận thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ ra được sự biến động số lượng loài Oribatida ở các sinh cảnh khác nhau và có sự chênh lệch nhau khá rõ rệt giữa các sinh cảnh khu công nghiệp (29 loài), vườn quanh nhà (12 loài), ruộng (10 loài) [21]
1.2.2.2 Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Oribatida
Năm 2004, nhận định Ve giáp trong cấu trúc quần xã Oribatida trong
hệ sinh thái rừng VQG Ba Vì, Việt Nam cũng đã xác định được mối liên
hệ giữa đai cao khí hậu ảnh hưởng tới cấu trúc quần xã Oribatida Mật độ quần thể Ve bét ở các sinh cảnh như rừng tự nhiên và rừng nhân tác tương ứng gặp 3090 và 2200 cá thể/m2
mặt đất là nhỏ hơn so với sinh cảnh nhân
Trang 17tác, như đất, trảng cỏ cây bụi và đất canh tác, tương ứng gặp 8247 và
7580 cá thể/m2 (Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, Khiếu Thị Nhàn, 2005) [12]
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve Giáp trong cấu trúc nhóm chân khớp bé (Microathropoda) ở các đai cao địa lý ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Kết quả cho thấy ảnh hưởng của thời tiết lên
sự phân bố của nhóm chân khớp bé theo tầng là rất cao và phát hiện được 8
họ (Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006) [15]
Năm 2008, tác giả Vũ Quang Mạnh và cs., đã nghiên cứu cấu trúc quần
xã chân khớp bé trong đó có Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng ở vùng đồng bằng Sông Hồng Thành phần loài Oribatida xác định được phong phú nhất ở sinh cảnh bãi cỏ hoang với 15 loài Số lượng loài Oribatida giảm dần từ sinh cảnh rừng tự nhiên và vườn quanh nhà, đều có 9 loài; đến rừng tự nhiên và đất trồng cây gỗ lâu năm, với 7 loài; thấp nhất ở ruộng lúa cạn, với 2 loài (Vũ Quang Mạnh và cs., 2008)[14]
Năm 2012, Đào Duy Trinh và cs., đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida theo mùa ở hệ sinh thái đất rừng VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Kết quả nghiên cứu của công trình này cho thấy, khi chuyển từ mùa khô sang mùa mưa thì các giá trị số lượng loài ở các sinh cảnh khác nhau đều có sự thay đổi rõ rệt ở hầu như tất cả các chỉ số như số lượng loài, mật độ trung bình, độ đa dạng loài (H’),
độ đồng đều (J’) (Đào Duy Trinh và cs., 2012) [17]
Năm 2013, Đào Duy Trinh và cs., nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng môi trường ở khu công nghiệp Phúc Yên, Vĩnh Phúc đến sự biến động thành phần loài Ve giáp so với phụ cận thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã phát hiện được 39 loài Ve Giáp thuộc 18 họ và 29 giống Trong đó sinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loài nhiều nhất và thấp nhất là ở sinh cảnh đồng ruộng Qua
Trang 18kết quả này cho thấy rằng, số loài giảm dần theo độ sâu tầng đất và xác định được nhiều loài ưu thế(Đào Duy Trinh và cs., 2013) [20]
1.2.1.3 Nghiên cứu về vai trò chỉ thị của quần xã Oribatida
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất, chỉ thị cho tác động của thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học,…sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, hay cho môi trường đô thị…(Đào Duy Trinh, 2010) [18]
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước và quốc tế đang hướng sự chú ý nghiên cứu của mình trong việc nghiên cứu vai trò của nhóm sinh vật này đối với môi trường đất.Bằng việc phân tích các chỉ số định lượng
cơ bản của quần xã Oribatida về số lượng loài, mật độ trung bình (MĐTB), chỉ
số đa dạng loài, chỉ số đồng đều.Để từ đó đánh giá về sự có mặt của chúng trong sinh cảnh nghiên cứu và chúng là chỉ thị cho loại tác nhân nào Gần đây nhất có công trình nghiên cứu của tác giả Đào Duy Trinh, Tạ Mạnh Cường (2014), “Nghiên cứu vai trò chỉ thị của Bộ Oribatida ở đai cao trên 700m vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận sự có mặt của 12 loài ưu thế trong các tầng sâu của hệ sinh thái đất, trong đó có 5 loài ưu thế cho cả hai đai cao trên 700m mà nhóm tác giả đã nghiên cứu (Đào Duy
Trinh và cs, 2014) [21]
Trang 19Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Mẫu vật nghiên cứu được điều tra, thu thập tại VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao 300m
Hình 2.1.Vị trí Vườn quốc gia Cúc Phương trên bản đồ Việt Nam
(Nguồn: Internet)
Trang 20Hình 2.2 Vườn quốc gia Cúc Phương và các điểm thu mẫu
(Nguồn: Internet)
Ghi chú:
Điểm thu mẫu ở độ cao 300m rừng tự nhiên VQG Cúc Phương
Trang 212.1.2 Thời gian nghiên cứu, khảo sát và thu mẫu ngoài thực địa
Chúng tôi tiến hành khảo sát và điều tra cấu trúc quần xã Oribatida vào tháng 5 và tháng 11 năm 2013, tiến hành lấy mẫu 2 đợt tại sinh cảnh đất rừng
tự nhiên, độ cao 300m, thuộc VQG Cúc Phương
Trong đó: 1.Ngày 18 - 19/5/2013 với số lượng 24 mẫu
2 Ngày 9 - 10/11/2013 với số lượng 24 mẫu
Tổng số mẫu nghiên cứu được thu trình bày chi tiết ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Số lượng mẫu thu ở đai cao 300m, sinh cảnh đất rừng tự
nhiên tại VQG Cúc Phương
- Phân tích trong phòng thí nghiệm: từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2013
Từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014 xử lý số liệu và hoàn thành luận văn
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: Hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật cỡ (5x5x10)cm, túi nilon đựng mẫu, bút dạ không xóa, sổ ghi chép, máy xác định tọa độ địa lý GPS
- Trong phòng thí nghiệm: Hệ thống lọc mẫu đất (rây lọc, phễu lọc,…); dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêu bản (đĩa petri, lam kính, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm, bông,…) và kính lúp, kính hiển vi 40x/0,65
Trang 22- Hóa chất sử dụng: Glixeron, Formandehid, cồn 900
2.3 Đặc điểm tự nhiên VQG Cúc Phương (Nguồn: Ban quản lí VQG Cúc
- Phía Tây Bắc- Đông Nam giáp các xã thuộc huyện Lạc Sơn, các xã thuộc huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình
- Tây Nam và Tây Bắc bị giới hạn bởi 3 xã của huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa
- Phía Đông Nam và phía Nam được giới hạn bởi các xã Yên Quang, Văn Phương, Kỳ Phú, Cúc Phương huyện Nho Quan
2.3.1.2 Địa hình
Địa hình Cúc Phương chủ yếu là núi đá vôi có độ chênh cao trung bình
so với mặt biển 400 - 450m, cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần về hai phía Tây Nam và Đông Nam Cúc Phương có 3 dạng địa hình chính liên quan đến hai loại sản phẩm cấu tạo đất chủ yếu với các loại đá mẹ khác nhau
2.3.1.3 Thổ nhưỡng
Nền địa chất của Cúc phương là một phần đất cổ có lịch sử cấu tạo địa chất và hình thành địa hình tương đối lâu đời Do đó, đất ở Cúc phương có 2 nhóm đất chính và có những đặc điểm sau:
- Đất có hàm lượng sét tương đối thấp
Trang 23- Đất có độ ẩm tự nhiên tương đối cao, thường đạt tới 30- 50%, ít có tầng dưới 20% đối với tất cả các loại đất
- Đất có độ xốp rất tốt, thường đạt đến 60 - 65%, có khi đạt tới 70 - 80%, thấp nhất cũng không dưới 5%
- Đất có hàm lượng mùn lớn không kể trên cao hay dưới thấp
- Đất có khả năng hấp thụ
2.3.2 Khí hậu và thủy văn
Khí hậu Cúc Phương nhìn chung vẫn mang những đặc điểm của miền khí hậu miền bắc Việt Nam là có hai mùa mưa và khô rõ rệt Tuy vậy, vẫn có những đặc điểm riêng của địa phương
Cúc Phương có nhiệt độ trung bình thấp, mùa đông dài và lạnh hơn, mùa
hè ngắn và mát hơn vùng xung quanh
Cúc Phương có lượng mưa dài hơn và lượng mưa lớn hơn các vùng xung quanh Lượng mưa bình quân ở đây dao động 1700 - 2200 mm Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 89,1% lượng mưa cả năm, nhiệt độ trung bình trong mùa nóng 26,40
C Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ bình quân trong mùa khô lạnh là 18,60C và lượng mưa chiếm 10,9% lượng mưa cả năm Mưa ít cùng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông
Độ ẩm bình quân hàng năm khá cao
Trang 242.3.4.2.Tài nguyên động vật
Cho đến nay, VQG Cúc Phương đã thống kê được sự có mặt của hệ động vật ở Cúc Phương có một số điểm như sau
- Khu hệ Thú: 136 loài thuộc 28 họ, 8 bộ
- Khu hệ chim: 336 loài chim thuộc 187 giống, 55 họ và 17 bộ
- Khu hệ bò sát: có 76 loài thuộc 52 giống, 15 họ, 2 bộ
- Khu hệ cá: Hiện nay ở Cúc Phương đã thống kê được 66 loài thuộc 48 giống, 16 họ và 7 bộ
2.3.5 Đặc điểm dân sinh và sản xuất kinh tế
2.3.5.1 Đặc điểm dân sinh
VQG Cúc Phương nằm trong diện tích của 13 xã gồm hai dân tộc sinh sống chủ yếu, dân tộc Mường chiếm 76,6%, còn lại là dân tộc Kinh chiếm 23,4%
Theo số liệu điều tra gần đây nhất, tổng nhân khẩu trong các xã thuộc vùng đệm VQG Cúc Phương là 74 118 người với 17 028 hộ gia đình Trong
đó có cả dân cư đang sinh sống tại 8 bản trong VQG là 2422 người với 481 hộ gia đình
2.3.5.2 Đặc điểm sản xuất kinh tế
Theo số liệu thống kê gần đây, tại khu vực vùng đệm của VQG Cúc Phương thì người dân sinh sống ở đây chủ yếu là làm lâm nghiệp, chiếm 54,7% còn lại là làm nông nghiệp Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Xác định thành phần loài
2.4.1.1 Thu mẫu rêu, thảm lá, đất
Ở VQG Cúc Phương, chúng tôi tiến hành thu mẫu tầng đất, tầng rêu và thảm lá Mẫu đất được lấy ở độ sâu 0 -10cm (A1) và tầng 10- 20cm (tầng A2)
Trang 25với kích thước mỗi mẫu thu là (5x5x10)cm Đối với thảm lá rừng phủ trên mặt đất chúng tôi tiến hành gom tất cả lá mục, cành cây, xác hữu cơ phủ trên mặt đất diện tích (20x20)cm Đối với các mẫu thảm rêu mẫu định lượng là 300g rêu bám trên thân cây gỗ rừng, xác vụn thực vật trên mặt đất nằm ở độ cao từ 0 -10cm trên mặt đất Các mẫu này đều cân trọng lượng và tính trung bình theo kg
2.4.1.2 Tách lọc mẫu Oribatida theo phương pháp phễu lọc “Berlese- Tullgren”
Theo nội dung và yêu cầu của phương pháp này, các dụng cụ cần thiết phải sử dụng bao gồm có phễu thủy tinh có đường kính miệng là 18cm, đường kính vòi là 1,5cm và rây lọc Bộ phễu được đặt trên giá gỗ hoặc giá tre, vòi phễu gắn với ống nghiệm bên trong có sẵn dung dịch Forrmandehid 4%, bên trong có nhãn ghi các thông tin về mẫu như thời gian đặt mẫu, tên mẫu, địa điểm, tầng đất và tên người lấy mẫu… Rây lọc hình trụ đặt trên phễu, thành cái rây lọc bằng kim loại, đường kính 15cm, cao 4cm, lưới lọc bằng nilon, kích thước mắt lưới bằng 2mm [4]
Sử dụng phương pháp truyền thống của Krivolutsky, 1975 trong việc nghiên cứu khu hệ và sinh thái động vật đất ở thực địa và trong phòng thí nghiệm[31]
Các mẫu sau khi được thu ngoài thực địa sẽ tiếp tục được tiến hành tách động vật chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc “Berlese- Tullgren”, dựa vào tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động vật đất, trong thời gian 7 ngày, đêm, ở điều kện nhiệt độ phòng thí nghiệm
Xử lý mẫu, bảo quản và định loại: các ống nghiệm chứa động vật đất thu được nhờ hệ thống phễu “Berlese- Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trên đĩa petri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa
Trang 26dung dịch Formandehid 4% Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghi đầy đủ thông tin ngày lấy mẫu, địa điểm … Toàn bộ tiêu bản định loại và các mẫu vật được bảo quản tại phòng Động vật, khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2
Đặc điểm hình thái phân loại Ve giáp
Hình 2.3.Sơ đồ cấu trúc cơ thể Oribatida
(Vũ Quang Mạnh, 2007)[5]
Camerostoma: khoang che đôi kìm và phụ miệng
Prosoma :phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, III và IV Proterosoma: phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước Hysterosoma: phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp
sinh dục (G) và 2 đôi chân sau
Opisthosoma: phần thân sau chỉ bao gồm vùng hậu môn - sinh dục Prodorsum: tấm giáp đầu ngực;
Notogaster: tấm giáp lưng
Abj, sej, dsej, và disj là các đường nối các phần khác nhau của cơ thể
Trang 27Gnathosoma: phần hàm miệng
Propodosoma: phần thân trước mang đôi chân I và II
Metapodosoma: phần thân giữa mang đôi chân III và IV
Podosoma: phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân
Anogenital region: vùng hậu môn - sinh dục bao gồm giáp hậu môn
và giáp sinh dục
Hình 2.4.Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quancủa Oribatida bậc
cao(Vũ Quang Mạnh, 2007) [5]
a Mặt lƣng, b Mặt bụng, c Mặt bên
* Ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, lm: Lông rostrum; tấm lamella
* le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus
Trang 28* Bothridium: Gốc của lông sensilus
* Exa và Exp: Lông trước gốc bothridium và lông sau gốc bothridium
* Tutorium: Tấm kitin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella
* Cuspis: phần đỉnh của tấm lamela chìa lên bề mặt cơ thể
* Prolamela: Phần tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề mặt cơ thể
* Mentotectum: tấm viền cằm; Pteromorpha: tấm cánh nối với notogaster; Custodium: tấm kitin nhọn, chạy dài từ pd4 đến pd1; Discidium tấm gốc của custodium chìa bên mặt cơ thể, nằm ở phần gốc các chân Aa, A1, A2, A3 và Ah, Al : các đôi vùng lỗ thở mặt lưng và phía bên cơ thể;; ta, te, ti,
ms, r1, r2, r3, pl, p2, p3, la, lm: Các lông notogaster ở ve giáp bậc cao
* Aspis: Vùng sau chỏm nhọn rostrum ở nhóm ve giáp bậc thấp dạng ptychoid
* c1, c2, c3, cp, d1, d2, e1, e2, f1, f2, h1, h2, h3, ps1, ps2, ps3: Các lông notogaster ở Ve giáp bậc thấp; gla: Tuyến dầu nhờn; h: Lông dưới miệng; 1a, 1b, 1c, và 2a, 3a, 3b, 3c, và 4a, 4b, 4c, 4d: Các lông của epimeres 1, 2, 3 và 4; ap1, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st.: Các mấu lồi trong apodemes; ep1, ep2, ep3, ep 4: Các gân cơ epimeres của gốc chân; pd1, pd2, pd3, pd4: Các tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ia, ih, im, ips, iad, ian: Các khe cắt lyrifissures
* G, AG: Giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: Các lông sinh
dục và lông quanh sinh dục
* AN, AD, PA: Giáp hậu môn, giáp quanh và giáp sau hậu môn
* Anl, an2, an3, và ad1, ad2, ad3: Các lông hậu môn và lông quanh
hậu môn
Oribatida là nhóm chân khớp có kìm hình nhện (Athropoda: Chelicerata), toàn bộ cơ thể của chúng được bao phủ bởi lớp vỏ kitin dày có
Trang 29màu vàng nhạt hoặc nâu đen, cơ thể thường phồng hình khối và được chia thành hai phần chính là phần đầu ngực và phần bụng Trên cơ thể mang 6 đôi
phần phụ (1 đôi kìm, 1 đôi chân xúc giác pedipalpi và 4 đôi chân bò)
2.4.1.3 Định loại Oribatida
Mẫu Oribatida trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong vỏ kitin cứng.Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt riêng Oribatida ra một lam kính lõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng Đặt lamen ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm dưới lamen chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển Oribatida vào chỗ lõm dưới lamen để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang kính hiển vi
Sau khi hoàn tất quá trình định loại Oribatida, các cá thể Oribatida được chụp ảnh và các cá thể cùng một loài được cho vào ống nghiệm có đựng sẵn dung dịch Formandehid 4%, sau đó dùng giấy can ghi đầy đủ các thông số tên loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước Ghi tất cả tên loài đã được định loại vào nhật kí phòng thí nghiệm
Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh P., 1992 [23],[24] Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả: Grandjean,
1954 [32]; Willmann, 1931 [31]; Vũ Quang Mạnh, 2007[5]; Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006 [13], tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã được phân tích, định loại đã được TS Đào Duy Trinh kiểm tra và xác nhận
2.4.2 Đánh giá cấu trúc quần xã Oribatida
Cấu trúc quần xã Oribatida ở VQG Cúc Phương chúng tôi tiến hành lấy mẫu nghiên cứu, phân tích và đánh giá đối với 4 chỉ số định lượng cơ bản là:
Trang 30Số lượng loài; MĐTB; chỉ số đa dạng loài (H’); chỉ số đồng đều (J’) Đồng
thời phân tích sự thay đổi các giá trị của 4 chỉ số định lượng này ở sinh cảnh
rừng tự nhiên độ cao 300m, theo các thời điểm lấy mẫu trong nămvà theo độ
sâu tầng đất (tầng 0 -10cm, 11- 20cm)
2.4.3 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu
Để đánh giá được sự đa dạng loài trong quần xã, sự phong phú trong cấu
trúc quần xã Oribatida, tôi đã sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán
và xử lý số liệu theo Kết hợp với phần mềm Prime - E, 2001[28], phần mềm
Excell 2003
Số Lượng loài:
Số lượng loài được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên cứu
ở tất cả các lần thu mẫu
Mật độ trung bình: Được tính bằng số lượng cá thể có trong 1kg đối
với mẫu rêu; số lượng cá thể có trên 1m2 đổi với mẫu đất và mẫu lá, sau đó
tính trung bình ở tất cả các lần thu mẫu của điểm nghiên cứu
Độ Ưu thế (D): tính theo công thức
Trong đó: na- Số lượng cá thể của loài a
N- Tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay
theo địa điểm
Độ ưu thế được được đánh giá ở 4 mức độ tính theo giá trị %
Rất ưu thế: > 10.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
Ưu thế: 5 - 9,99% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
Ưu thế tiềm tàng: 2 - 4,99.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
Không ưu thế: < 2.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
Loài ưu thế là loài có D≥ 5% (Eromilov and Chistikov, 2007)[27]
Trang 31Phân tích chỉ số đa dạng loài (H’)
1
s
i i i
n n H
N N
Chỉ số (H’) Shannon - Weaner: Được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng loài trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong quần xã
Trong đó: ni - là số lượng cá thể của loài thứ i
N - Tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu Giá trị H’ dao động từ 0 đến + ∞ Chỉ số Chỉ số này của quần xã phụ thuộc vào số lượng loài và sự phong phú của các loài có trong quần xã
Phân tích chỉ số đồng đều (J’)
S
H J
ln
'' Trong đó: H’ - chỉ số đa dạng loài
S - số loài có trong sinh cảnh
Giá trị J’ dao động từ 0 đến 1
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Cúc Phương
3.1.1 Thành phần loài và phân bố của quần xã Oribatida ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Cúc Phương
Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Oribatida ở VQG Cúc Phương, tôi đã tiến hành thu mẫu ở hai tầng đất (tầng A1: 0- 10cm; tầng A2: 11- 20cm) theo chiều thẳng đứng; tầng thảm lá rừng, xác vụn thực vật phủ trên mặt đất; tầng xác vụn thực vật và thảm rêu trên mặt đất và thân cây thuộc đai cao khí hậu 300m của sinh cảnh đất rừng tự nhiên Trong hai lần thu mẫu tại điểm nghiên cứu (tháng 5 năm 2013 và tháng 11 năm 2013) Kết quả nghiên cứuđã ghi nhận được sự có mặt của 59 loài thuộc 41giống của 30 họ (Bảng 3.1.) Trong bảng 3.1 giới thiệu về thành phần loài và sự phân bố của Oribatida ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên của đai cao 300m của VQG Cúc Phương theo 4 tầng phân bố theo chiều thẳng đứng (A1: tầng đất từ 0- 10cm; tầng A2: tầng đất từ 11- 20cm; 0: tầng thảm lá rừng, xác vụn thực vật phủ trên mặt đất; +1: tầng xác vụn thực vật và thảm rêu từ 0 -100cm trên mặt đất)
Thành phần loài Oribatida trong bảng 3.1 được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Vũ Quang Mạnh, 2007[5] và tác giả J Balogh và P Baogh, 1992[25]
Khi so sánh khu hệ Oribatida ở hai lần lấy mẫu trong năm, thì số loài thu được ở mỗi lần lấy mẫu có sự chênh lệch nhau không đáng kể ở cả 4 tầng phân bố
Trang 33Bảng 3.1 Thành phần loài Oribatida theo các tầng phân bốở độ cao 300m,
thuộc VQG Cúc Phương
Giống loài
1 Eniochthonius minutissimus Berlese, 1904 x
2 Cosmochthonius lanatus (Michael, 1887) x
3 Rhysotritia ardua (C L Koch, 1841) x x
4 Rhysotritia duplica (Grandjean, 1953) x x
5 Javacarus kuehnelti Balogh, 1961 x
6 Lohmannia javana Balogh, 1961 x
7 Papilacarus aciculatus (Berlese, 1905) x x
8 Papilacarus arboriseta Vu et Jeleva, 1987 x
9 Papilacarus undrirostratus Aoki, 1964 x x
10 Nothrus baviensis Krivolutsky, 1998 x x
11 Nothrus montanus Krivolutsky, 1998 x x
12 Archegozetes longisetosus Aoki, 1965 x x x x
13 Nanhermannia thainensis Aoki, 1965 x x x x
Trang 3414 Phyllhermannia gladiata Aoki, 1965 x x
15 Phyllhermannia similis Balogh et Mahunka, 1967 x
16 Hermanniella thani Mahunka, 1987 x x
17 Belba corynopus (Hermann, 1804) x x
18 Sphodrocepheus tuberculatus Mahunka, 1988 x
19 Eremulus evenifer Berlese, 1913 x
20 Eremobelba bellicosa Balogh et Mahunka, 1967 x
21 Eremobelba capitata Berlese, 1912 x x
22 Zetochestes saltator Oudemans, 1915 x
23 Cultroribula lata Aoki, 1961 x x x x
24 Cultroribula sp x
25 Ceratoppia crassiseta Balogh et Mahunka, 1967 x
26 Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967 x x x x
27 Aokiella florens Balogh et Mahunka, 1967 x x x x
28 Austrocarabodes szentivanyi (Balogh et Mahunka, 1967 x
Trang 3522 Giống Tectocepheus Berlese, 1913
29 Tectocepheus cuspidentatus Knulle, 1954 x x
30 Acrotocepheus duplicornutus Aoki, 1965 x
31 Acrotocepheus triplicornutus Balogh et Mahunka, 1967 x
32 Dolicheremaeus aoki (Balogh et Mahunka, 1967) x x
33 Dolicheremaeus bartkei Rajski et Szudrowice, 1974 x
34 Dolicheremaeus ornata (Balogh et Mahunka, 1967) x
35 Dolicheremaeus inaequalis Balogh et Mahunka, 1967 x x x
36 Dolicheremaeus lineolatus Balogh et Mahunka, 1967 x x x
37 Fissicepheus elegans Balogh et Mahunka, 1967 x x
38 Eremella vestita Berlese, 1913 x x x x
27 Giống Pulchroppia Subias et Balogh, 1989
39 Pulchroppia vietnamica (Balogh et Mahunka, 1967) x
40 Arcoppia longisetosa Balogh, 1982 x x x x
41 Limnozetes pastulatus (Mahunka, 1987) x
42 Scapheremaeus foveolatus Mahunka, 1987 x
43 Unguizetes clavatus Aoki, 1967 x x
XXV XYLOBATIDAE J BALOGH et P BALOGH, 1984
32 Giống Brasilobates Pérez-Inigo et Baggio, 1980
44 Brasilobates maximus Mahunka, 1988 x x x
45 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988 x x
Trang 3646 Perxylobates vermiseta (Balogh et Mahunka, 1968) x
47 Xylobates capucinus (Berlese, 1908) x
48 Xylobateslophotrichus (Brerlese, 1904) x
49 Xylobates gracilis Aoki, 1962 x
50 Xylobates monodactylus (Haller, 1804) x
51 Liebstadia humerata Sellnick, 1928 x x x x
52 Liebstadia sp x x
53 Cordiozetes olahi (Mahunka, 1987) x
54 Euscheloribates samsinaki Kunst, 1958 x x
55 Scheloribates fimbriatus Thor, 1930 x
56 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1916) x x
57 Oripoda excavata Mahunka, 1988 x
58 Allozetes pusillus Berlese, 191 x x x x
59 Punctoribates punctum (C L Koch, 1839) x
Ghi chú:
X: Loài xuất hiện ở tầng phân bố
A1: Tầng đất 0 - 10cm
A2: Tầng đất 11 - 20cm
Trang 373.1.2 Thành phần phân loại học quần xã oribatida ở rừng tự nhiên đai cao 300m, thuộc VQG Cúc phương
Kết quả bảng 3.1 cho thấy, trong số các họ đã được ghi nhận có một số
họ có số lượng loài và giống tương đối lớn chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số các loài và các giống đã thu được tại khu vực nghiên cứu Cụ thể:
Họ Otocepheidae Balogh, 1961 có 3 giống, 8 loài chiếm tỷ lệ cao nhất trong các họ đã thu được (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống, 13.5% tổng
số loài đã thu được); Họ Xylobatidae J Balogh et P Balogh, 1984 cũng bao gồm 3 giống nhưng chỉ có 7 loài (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống và11.86% tổng số loài); Tiếp theo là Họ Lohamanniidae berlese, 1916 cũng bao gồm 3 giống nhưng chỉ có 5 loài (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống và 8,47% tổng số loài); Họ Scheloribatidae Grandjean, 1953, cũng đã ghi nhận được 3 giống với 4 loài (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống và6.77% tổng
số loài); HọCarabodidae C L Koch, 1837; Tectocepheidae Grandjean, 1954;
Họ Oppiidae Grandjean, 1954 là ba họ đều có 2 giống và 2 loài (chiếm tương ứng 4.8% tổng số giống và 3.38% tổng số loài); có 4 họ mà mỗ họ chỉ có 1 giống và 2 loài là Họ Euphthiracaridae Jacot, 1930;HọHermanniidae Sellnick, 1928; Họ Eremobelbidae Balogh, 1961; Họ Nothridae Berlese, 1896 (chiếm tương ứng 3,5% tổng số loài), các họ còn lại chỉ bao gồm 1 giống và 1 loài chiếm số lượng khá cao (19 trên tổng số 30 họ chiếm 63% tổng số họ thu được tại khu vực nghiên cứu)
Trong số 59 loài mà chúng tôi ghi nhận được qua hai lần thu mẫu tại đai cao 300m ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên thuộc VQG Cúc Phương, có 2 loài
mà chúng tôi chưa định loại được tên loài là Cultroribula sp.và Liebstadia sp
trên cơ sở các mẫu vật đã thu được ở vùng đã nghiên cứu, các mẫu vật đã lưu trữ trong phòng thí nghiệm, các bộ sưu tập mẫu vật, các tài liệu và thông tin lưu trữ của GS TSKH Vũ Quang Mạnh và TS Đào Duy Trinh thì chúng tôi
Trang 38có thể khẳng định rằng hai loài chưa được định tên có thể là loài mới cho khoa học Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, do hạn chế về thời gian cũng như các trang thiết bị hỗ trợ nên chúng tôi chưa định rõ tên của hai loài này Hy vọng trong tương lai không xa thì hai loài này sẽ được định loại một cách cụ thể
3.1.3 Thành phần loài quần xã Oribatida theo tầng thẳng đứng của sinh cảnh đất rừng tự nhiên ở đai cao 300m, thuộc VQG Cúc Phương
Bảng 3.1 còn cho chúng ta thấy được sự thay đổi về cấu trúc thành phần loài Oribatida ở các tầng phân bố theo chiều thẳng đứng của khu vực nghiên cứu ở cả hai lần lấy mẫu: A1: tầng đất mặt từ 0 -10cm; A2: tầng đất sâu 11- 20cm; 0: tầng thảm lá, xác vụn thực vật phủ trên mặt đất rừng; +1: tầng xác vụn thực vật và thảm rêu từ 0 - 100cm trên mặt đất rừng
Trong 59 loài ghi nhận ở đai cao 300m, sinh cảnh đất rừng tự nhiên thuộc VQG Cúc Phương, đã xác định được 9 loài xuất hiện ở cả 4 tầng phân
bố chiếm tương ứng 14,03%, bao gồm các loài: Archegozetes longisetosus Aoki, 1965 giống Archeozetes Grandjean, 1931;Nanhermannia thainensis Aoki, 1965 thuộc giống Nanhermannia Berlese, 1913; Cultroribula lata Aoki, 1961 giống Cultroribula Berlese, 1908; Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967 thuộc giống Ceratoppia Berlese, 1908; Aokiella florens Balogh et Mahunka, 1967 giống Aokiella Balogh et Mahunka, 1967; Arcoppia longisetosaBalogh, 1982 của giống PulchroppiaSubias et Balogh, 1989; cuối cùng là loài Liebstadia humerata Sellnick, 1928;Allozetes pusillus Berlese,
1910 Có 3 loài xuất hiện ở 3 trong 4 tầng phân bố, bao gồm: Dolicheremaeus inaequalis Balogh et Mahunka, 1967; Dolicheremaeus lineolatus Balogh et Mahunka, 1967 và Brasilobates maximus Mahunka, 1988 Có 18 loài phân bổ
ở hai tầng phân bố, 32 loài còn lại chỉ phân bố ở 1 tầng phân bố
Ở tầng đất A1 có số lượng loài nhiều nhất là 25 loài qua hai lần lấy mẫu