1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may

64 341 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2005 – 2011 Đơn vị: Triệu USD Kim ngạch NK 447,156 481,797 641,677 847,878 459,783 578,341 658,471 Ngu

Trang 1

bộ công thương

báo cáo ĐáNH GIá

THựC TRạNG PHáT TRIểN NGàNH DệT MAY

và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới

thương mại

Trang 2

Môc lôc

Ph ần thứ nhất ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA NGÀNH

D ỆT MAY VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

III V ề trình độ công nghệ, máy móc thiết bị sản xuất 11

IV V ề nguồn nhân lực, công tác đào tạo và nghiên cứu phát triển khoa

3 Về công tác nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ phục vụ sản xuất 20

VII V ề thị trường tiêu thụ và hệ thống phân phối sản phẩm 29

VIII V ề cung ứng nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất 33

IX V ề vai trò, vị trí và hiệu quả sản xuất của ngành 36

Trang 3

Ph ần thứ hai ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ

TR ỌNG TÂM CẦN XEM XÉT NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG

C ẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

TH ỜI GIAN TỚI

I Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt

IV Nh ận định về những vấn đề quan trọng và hướng xử lý nhằm

nâng cao kh ả năng cạnh tranh của ngành dệt may của Việt Nam thông qua tăng cường khai thác các yếu tố liên quan tới thương

m ại thời gian tới

55

Trang 4

Ph ần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA NGÀNH DỆT MAY

VI ỆT NAM THỜI GIAN QUA

I V ề cấu trúc, qui mô và năng lực sản xuất

Ngành công nghiệp dệt may là một trong những ngành công nghiệp đầu tiên của nước ta, được hình thành bắt đầu từ Nhà máy Sợi Nam Định vào năm 1889

và đến năm 2014 sẽ đánh dấu kỷ niệm 125 năm ngành công nghiệp dệt may Việt Nam Chặng đường 125 năm ngành công nghiệp dệt may nói chung và đặc biệt trong vòng 10 năm qua nói riêng là chặng đường khẳng định sự tồn tại, phát triển của một ngành công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may luôn đứng nhất - nhì cả nước Với việc chiếm hơn 16% kim ngach xuất khẩu của cả nước, đảm bảo việc làm cho trên 2 triệu lao động, trong đó 1,1 triệu lao động công nghiệp, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu dệt may nằm trong Top 5 thế giới, ngành dệt may đã có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong định hướng phát triển kinh tế, xã hội của nước ta đến năm 2020, ngành dệt may tiếp tục là ngành sản xuất, xuất khẩu chủ chốt của nền kinh tế, giữ vị trí quan trọng trong việc góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội

- V ề qui mô và tốc độ tăng trưởng, ngành dệt may trong giai đoạn 10 năm

2001 - 2011, giá trị xuất công nghiệp của ngành chiếm bình quân 8,2 - 8,4% toàn ngành công nghiệp, tốc độ tăng trưởng toàn ngành dệt may hàng năm là khoảng 15,2% năm, trong đó tốc độ tăng trưởng ngành may luôn đạt mức cao bình quân 17,4% năm Năng lực sản xuất của ngành không ngừng được nâng cao, các nhóm sản phẩm chủ yếu đều có tốc độ tăng trưởng ở mức khá cao và cao

Bảng 1 Các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp dệt may

Lĩnh vực sản xuất Đơn vị

tính 2005 2008 2009 2010 2011 Sợi Tấn 259.245 392.915 538.299 810.151 941.591

Trang 5

Lĩnh vực sản xuất Đơn vị

tính 2005 2008 2009 2010 2011

- Ngoài Nhà nước " 184,9 404,1 479,7 322,9 364,2

- Đầu tư nước ngoài " 199,1 545,5 551,1 744,7 813,9

Quần áo Triệu cái 1.156,4 2.175,1 2.776,5 2.604,5 2.890,9

Trong đó:

- Nhà nước " 251,3 99,4 103,2 100,5 113,7

- Ngoài Nhà nước " 543,2 1.036,9 1.493,0 1.044,8 1.173,6

- Đầu tư nước ngoài " 361,9 1.038,9 1.180,3 1.459,2 1.603,6

Nguồn: Tổng cục thống kê

Biểu đồ 1.1 – Tình hình sản xuất sợi

Ngu ồn: Tổng cục thống kê

Trang 6

Biểu đồ 1.2 – Tình hình sản xuất vải

Nguồn: Tổng cục thống kê

Biểu đồ 1.3 – Tình hình sản xuất quần áo

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 7

Biểu đồ 1.4 – Tình hình sản xuất bông xơ

0 1000

Nguồn: Tổng cục thống kê và Bộ NN&PT Nông Thôn

- Về năng lực sản xuất theo một số chủng loại mặt hàng chính của ngành,

tổng chung như bảng số liệu dưới đây:

Bảng 2 Một số sản phẩm dệt may chủ yếu năm 2011

Mặt hàng Đơn vị tính Thực tế sản xuất năm 2011

Sản phẩm may các loại Triệu sản phẩm 2.800

Nguồn: Đề tài khảo sát năng lực ngành dệt năm 2011 (Viện Dệt May) và Tập

đoàn Dệt May Việt Nam

Trang 8

Trong đó:

+ Trong lĩnh vực kéo sợi, theo thống kê của Hiệp hội kéo sợi (VCOSA), chỉ

trong 10 năm từ 2000 đến 2010, ngành kéo sợi đã tăng trưởng trên 300% từ 1,2 triệu cọc sợi với tổng sản lượng 120.000 tấn lên 3,75 triệu cọc nồi khuyên

và 104.348 rotor kéo sợi có năng lực sản xuất khoảng 530.000 tấn sợi chải thô

và 150.000 tấn sợi chải kỹ/năm Có 22 doanh nghiệp chuyên sản xuất chỉ may Sản lượng các chủng loại sợi hàng năm sản xuất gồm:

• Sợi cho dệt thoi (bao gồm cho cả khăn bông và denim): 530.000 tấn/năm

• Sợi cho dệt kim: 120.000 tấn/năm

• Sợi cho chỉ may: 30.000 tấn/năm

Trong đó sản lượng sợi chải kỹ chiếm khoảng 20% So với nhiều năm trước đây, mặt hàng sợi đa dạng và phong phú hơn, chất lượng có cao hơn Ngoài ra các doanh nghiệp cũng có thử nghiệm một số mặt hàng sợi pha khác, các loại sợi lõi đàn tính, nhưng sản lượng nhỏ, không đáng kể

Hiện tại, sản phẩm sợi của Việt Nam sản xuất vẫn chưa đa dạng về chủng

loại Ngành sợi chủ yếu sản xuất các loại sợi Pes, Pe/Co, Pe/Vi và bông với dãy chi số từ Ne10 đến Ne50 Ngoài ra cũng có một tỷ lệ nhỏ các mặt hàng len, visco, acylic, Chất lượng mặt hàng sợi chủ yếu tập trung ở phân khúc mức trung bình Tỷ lệ sợi chi số cao và chất lượng đáp ứng yêu cầu cho vải dệt thoi đạt tiêu chuẩn chất lượng cho may xuất khẩu còn thấp Chính vì vậy, mà đa số lượng sợi sản xuất được xuất khẩu, trong khi đó hàng năm lại phải nhập khẩu

một lượng lớn sợi để đáp ứng yêu cầu của công đoạn dệt trong nước phục vụ cho may xuất khẩu Đây cũng là một trong những khó khăn trong việc tạo sự liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp sợi và các doanh nghiệp dệt nhuộm trong nước Đối với xơ sợi tổng hợp, cho đến thời điểm hiện nay Việt Nam có 12 nhà máy sản xuất xơ sợi polyeste, năng lực sản xuất được khoảng 220.000 tấn/năm bao gồm xơ dạng cắt ngắn (staple fibre) và sợi Filament Thiết bị và công nghệ

sản xuất xơ PES đều là thiết bị và công nghệ đồng bộ và hiện đại của châu Âu

Mới đây, Công ty cổ phần hóa dầu và xơ sợi dầu khí PVTEX Đình Vũ Hải Phòng (Tập đoàn Dầu khí VN) làm chủ đầu tư xây dựng nhà máy xơ sợi Polyeste với công suất 500 tấn/ngày tương đương với 175.000 tấn xơ sợi polyeste/năm (trong đó xơ cắt ngắn 140.000 tấn và 35.000 tấn sợi filament) đã hoàn thành vào tháng 7/2012 đang trong giai đoạn chuyển giao đưa vào sản

xuất

+ Trong lĩnh vực dệt thoi, theo thống kê của Vinatex trong lĩnh vực dệt vải,

trong đó có khoảng 15.000 máy dệt kiểu thoi, khoảng 6.800 máy dệt không thoi,

tỷ lệ máy dệt không thoi so với tổng số máy dệt là 32% Trong số máy dệt không thoi thì máy dệt kiếm chiếm 63%, máy dệt khí chiếm 28%, máy dệt thoi kẹp chiếm tỷ lệ 1,5% còn lại là máy dệt nước chiếm tỷ lệ 7,5% trong số máy dệt không thoi Năng lực sản xuất đạt khoảng 800 triệu m2 vải/năm và 65.000 tấn khăn/năm

Trang 9

Mặt hàng vải bông 100%, PES/Co, PES/Visco chiếm tỷ trọng chính trong các mặt hàng vải dệt thoi, chủ yếu để phục vụ may sơ mi, quần âu Nhờ có nhiều thế hệ máy dệt không thoi được đầu tư, cùng với hệ thống mắc, hồ được trang bị nên chất lượng vải ngày càng được cải thiện Mặt hàng gabadin, khaki, chéo được nhiều công ty sản xuất Trong lĩnh vực sản xuất khăn bông đã có sự tăng trưởng về số lượng, chất lượng, chủng loại, đa dạng về kích thước Mặt hàng vải

sử dụng sợi tổng hợp 100%, nhờ được đầu tư đồng bộ từ thiết bị xe sợi và hoàn tất giảm trọng, làm mềm cơ học, nên hàng năm cũng đã sản xuất đáp ứng thị trường nội địa và một phần xuất khẩu Mặt hàng vải PES/Wool cũng được sản xuất hàng triệu m/năm và vải mành cũng được sản xuất khoảng 10.000 tấn/năm

+ Trong lĩnh vực vải dệt kim, mặt hàng dệt kim chủ yếu là vải sử dụng để

may áo T-shirt, Polo-shirt, quần áo lót với các kiểu dệt single dệt trơn và dệt biến đổi, vải Interlock dệt trơn, dệt biến đổi và cài sợi ngang, vải Rib dệt trơn và vải Rib cài sợi lycra (các sản phẩm may mặc thông dụng từ vải dệt kim như áo

sơ mi các loại, quần áo lót đang là nhóm mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất tính theo cả khối lượng và giá trị; trong năm 2011, hàng may mặc dệt kim chiếm khoảng 54% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ) Đối với vải dệt kim tròn, tỷ lệ cung cấp cho may xuất khẩu đạt xấp xỉ (65 - 70)% Các mặt hàng dệt kim phẳng chủ yếu là màn tuyn, rèm Đặc biệt là màn tuyn sản lượng hàng chục ngàn tấn/năm (năm 2011 đạt 25.000 tấn)

và chủ yếu phục vụ xuất khẩu

+ Trong lĩnh vực vải không dệt, sản phẩm vải không dệt chủ yếu là các mền

xơ có khối lượng từ 40-100g/m2 được dùng làm lót cho sản phẩm may hoặc dùng may các loại túi Các đệm xơ có khối lượng khoảng 120-150g/m2 được sử

dụng làm chăn ga gối đệm Vải địa kỹ thuật được sản xuất từ nguyên liệu xơ polypropylen theo nguyên lý xuyên kim có khối lượng đến 500 g/m2 được sử dụng chủ yếu làm vải lót đường, các công trình xây dựng,…

Hiện Việt Nam có 5 nhà máy sản xuất tấm xơ và 4 nhà máy sản xuất vải địa

kỹ thuật Trong số các nhà máy sản xuất tấm xơ để dùng làm mền lót cho sản phẩm may, dây chuyền thiết bị và công nghệ chủ yếu theo nguyên lý phun keo

để liên kết màng xơ, năng lực sản xuất từ 5.000-7.000 tấn/năm, tương đương 70 triệu mét vuông/năm Bên cạnh mền xơ làm vải lót, còn có các dây chuyền sản xuất màng xơ làm đệm nằm hoặc chăn ga gối đệm với công suất tới 50.000 tấn/năm Sản phẩm vải địa kỹ thuật, được sản xuất với công nghệ và dây chuyền thiết bị theo nguyên lý xuyên kim sử dụng nguyên liệu polypropylen, có năng lực sản xuất tới 10.000 tấn/năm, tương đương với khoảng 40 triệu mét vuông/năm

+ Trong lĩnh vực may mặc, ngược lại với ngành dệt, cơ cấu sản phẩm của

ngành may trong thời gian qua đã có sự thay đổi đáng kể Các chủng loại mặt hàng may mặc như áo thun, quần, áo Jacket, áo sơ mi, áo khoác, quần short, quần áo thể thao, váy, comple, đồ lót,… đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang Hoa Kỳ,

Trang 10

EU, Nhật Bản, Hàn Quốc các nước Đông Âu,… Điều đó đã khẳng định sản phẩm may của ngành dệt may nước ta là hạt nhân trong sự phát triển của ngành

Năng lực sản xuất hiện nay của Việt Nam vào khoảng 200 triệu sản phẩm sơmi/năm; 150 triệu quần âu/năm; 120 triệu áo jacket/năm; 20 triệu sản phẩm Jeans/năm; 3 triệu bộ vét tông/năm; poloshirt/T-shirt 1.200 triệu sản phẩm/năm;

80 triệu sản phẩm dệt kim mặc ngoài/năm; 50 triệu sản phẩm đồ lót/năm; 170 triệu sản phẩm trẻ em/năm; 70 triệu sản phẩm váy/năm; 20 triệu sản phẩm đồ bơi/năm; và khoảng 400 triệu sản phẩm khác

- V ề số lượng và cơ cấu các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh trong ngành:

+ Số lượng các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh trong toàn ngành

dệt may là khá lớn, trong đó các doanh nghiệp có qui mô lớn chiếm tỷ lệ khá cao Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2011 số lượng doanh nghiệp trong toàn ngành dệt may là khoảng 5.982 doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, trong đó:

Nếu tiêu chí phân loại doanh nghiệp lớn, nhỏ theo số lượng lao động thì:

Số lao động Số lượng doanh nghiệp

Ngu ồn: Tổng cục thống kê

Nếu tiêu chí phân theo tổng giá trị tài sản thì:

Tổng giá trị tài sản (tỷ VNĐ) Số lượng doanh nghiệp Tỷ lệ (%)

• Chế biến bông: 12 doanh nghiệp

• Sản xuất xơ sợi tổng hợp: 07 doanh nghiệp

• Lĩnh vực tơ tằm: 96 doanh nghiệp

• Sản xuất sợi, chỉ may: 286 doanh nghiệp

• Sản xuất vải: 661 doanh nghiệp

• Lĩnh vực nhuộm, xử lý hoàn tất vải: 177 doanh nghiệp

Trang 11

• Lĩnh vực may: 3.832 doanh nghiệp

• Lĩnh vực sản xuất phụ liệu: 39 doanh nghiệp

• Các lĩnh vực khác: 872 doanh nghiệp

Phân lo ại doanh nghiệp theo lĩnh vực sản xuất

Bông 0,2%

Xơ sợi tổng hợp 0,1%

4,8%

Dệt 11,0%

Nhuộm hòan tất, 3,0%

May, 64,1%

Nguyên phụ liệu

0,7%

Khác 14,6%

+ Số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia ngành dệt may thuộc thành

phần kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm ưu thế và đang tiếp tục có xu hướng gia tăng Trong tổng số 5.982 doanh nghiệp của toàn ngành thì có tới 5.041 doanh nghiệp tư nhân, chiếm 84,27% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 876, chiếm 14,64%

Bảng 3 Cơ cấu loại hình doanh nghiệp

TT Loại hình doanh nghiệp Số doanh nghiệp Tỷ lệ (%)

Trang 12

+ Xét về phân bố theo vùng lãnh thổ, các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam bộ, chiếm 59,33% tổng số doanh nghiệp dệt may cả nước, tiếp đó là khu vực Đồng bằng sông Hồng, chiếm 26,53%, còn lại phân bố rải rác ở các khu vực khác trong cả nước

Bảng 4 Doanh nghiệp dệt may phân bổ theo vùng

Bắc trung bộ, Duyên hải miền trung 425 7,10

Tư Nhân84,27%

Vốn nước ngoài14,64%

Trang 13

ĐB sông hồng 27%

Tr.Du, M núi phía bắc

2%

Bắc Tr bộ, D hải

M Trung 7%

Tây nguyên 1%

Đông nam bộ 59%

ĐBS cửu long 4%

II V ề hoạt động đầu tư và phát triển sản xuất

Đầu tư trong ngành dệt may của Việt Nam thời gian qua có mức tăng mạnh nhưng không đồng đều giữa lĩnh vực dệt, nhuộm và lĩnh vực may mặc

Trong giai đoạn 2001 - 2011 theo tinh thần của Chiến lược phát triển và một

số cơ chế chính sách hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010 Nguồn vốn đầu tư phát triển cho ngành dệt may (cả khu vực nhà nước, cổ phẩn và tư nhân) đã được phê duyệt hàng trăm ngàn tỷ đồng, phục vụ cho hàng nghìn dự án lớn, nhỏ Vốn đầu tư tập trung nhiều cho lĩnh vực sợi và may, lĩnh vực dệt nhuộm là lĩnh vực cần được chú trọng, tuy nhiên do vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện và thu hồi vốn khá dài, vì vậy việc đầu tư cũng như tỷ lệ vốn dành cho lĩnh vực này nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn Thông thương phải mất khoảng 2 năm mới có thể đi vào sản xuất Khi vận hành dự án, những năm đầu cần phải tiến hành sản xuất thử, chưa thể huy động tối đa công suất thiết bị Trong đầu tư thường vốn vay nhiều nên lãi suất phát sinh cao, làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm Tình hình đầu tư trong của ngành 10 năm qua cho thấy:

- Đầu tư trong nước, trong đó chỉ xét riêng Vinatex đơn vị hàng đầu trong ngành dệt may chiếm thị phần khoảng (18 -19)% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành cho thấy số liệu đầu tư ở các giai đoạn như sau: Từ 2001 - 2005 nguồn vốn đầu tư phát triển cho ngành là 12.500 tỷ đồng trong khi ngành đã tiến hành khoảng 220 dự án với tổng mức đầu tư hơn 8.373 tỷ VNĐ, trong đó vốn cố định

là 7.184 tỷ đồng và vốn lưu động là 1.189 tỷ đồng Từ 2006 - 2010 là khoảng 9.500 tỷ đồng, trong đó thực hiện của năm 2011 là 6.750 tỷ đồng

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Từ 2001 đến tháng 4 năm 2012 đã có 1.136

dự án dệt may có vốn nước ngoài đăng ký với tổng số vốn đăng ký là 4.316 triệu

Trang 14

USD và đã thực hiện được 1.928 triệu USD Có 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam, trong đó 3 nền kinh tế là Đài Loan, Hàn Quốc và Hồng Kông có vốn đầu tư nhiều nhất Có tất cả 35 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may, phần lớn các

dự án đều tập trung tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh Trong số các địa phương có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may thì Đồng Nai là tỉnh thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất, tiếp đến là thành phố

do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước

Trang 15

Bảng 6 Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng ngành dệt may

Việt Nam giai đoạn 2005 – 2011

Đơn vị: Triệu USD

Kim ngạch

NK 447,156 481,797 641,677 847,878 459,783 578,341 658,471

Nguồn: ITC (International Trade Centre) Website: http://www.trademap.org

Cũng qua theo dõi tình hình đầu tư phát triển trong ngành dệt may thời gian qua cho thấy:

- Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp FDI thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta;

- Trình độ công nghệ của ngành may đạt được là khá tiên tiên và có thể cạnh tranh được với nhiều nước trong khu vực, trong ngành may không còn doanh nghiệp sử dụng thiết bị chắp vá;

- Trình độ công nghệ của ngành dệt vẫn chậm hơn các nước trong khu vực hàng chục năm và còn nhiều doanh nghiệp sử dụng thiết bị thiếu đồng bộ, chắp

III V ề trình độ công nghệ, máy móc thiết bị

1 Đối với lĩnh vực kéo sợi

Thiết bị kéo sợi của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam được đánh giá là có trình độ công nghệ khá, trong đó:

- 20% thiết bị được đầu tư từ các nước có trình độ tiên tiến (Tây Âu và Nhật Bản) và được đưa vào sử dụng trong vòng (6 - 8) năm (từ năm 2005 trở lại đây)

- 54% thiết bị đã được sử dụng từ (9-10) năm, được đầu tư từ Tây Âu, Nhật

Bản hoặc Ấn Độ và Trung Quốc Thiết bị trong tình trạng tương đối tốt, tuy nhiên có sự chênh lệch lớn trong quản lý công nghệ và khai thác giữa các doanh nghiệp

- 26% thiết bị đã được sử dụng trên 10 năm, chất lượng thiết bị đã xuống cấp, cần thay thế

Công đoạn kéo sợi giữa vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công đoạn dệt may Để có thể tạo ra sự liên kết chuỗi kéo sợi, dệt nhuộm và may mặc, ngành sợi Việt Nam cần đầu tư thêm thiết bị và nâng cấp kỹ năng quản trị nhà máy để đa dạng hóa các sản phẩm sợi, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của công đoạn dệt nhuộm sản xuất vải phục vụ cho may mặc xuất khẩu

2 Đối với lĩnh vực dệt thoi

Hầu hết các doanh nghiệp có thiết bị dệt thoi ở trình độ công nghệ trung bình khá Cũng do vậy nên mặt hàng, năng suất và chất lượng là trung bình Điều này

Trang 16

dẫn đến hầu hết vải dệt thoi trong nước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu làm hàng xuất khẩu Đặc điểm nổi bật về sản phẩm vải dệt thoi của Việt Nam là:

- Sản lượng còn thấp, chủng loại mặt hàng chưa đa dạng, chất lượng thấp và không ổn định về độ đồng đều màu và độ bền màu của vải nhuộm, giá cả không cạnh tranh, khâu tiếp thị lưu thông phân phối còn yếu kém nên phần lớn chỉ tiêu thụ được ở thị trường trong nước

- Vải dệt thoi xuất khẩu và cung cấp cho may xuất khẩu còn thấp khoảng (13-14)% Những yếu kém này làm giảm hiệu quả đầu tư, kéo dài thời gian thu hồi vốn và trả nợ vay ngân hàng

- Thứ ba là ngoài việc còn tồn tại một lượng lớn các thiết bị quá lạc hậu, việc thiếu kỹ năng kỹ thuật chuyên môn ngành dệt như vấn đề quản lý kỹ thuật, công tác phát triển mặt hàng mới chưa được chú trọng, chưa tạo ra bước đột phá về chất lượng vải dệt

3 Đối với lĩnh vực dệt kim

Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ của khu vực doanh nghiệp FDI về

cơ bản ở mức cao do được đầu tư sản xuất trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, khu vực doanh nghiệp tư nhân có trình độ thấp và trung bình

Theo thống kê, số máy dệt kim trong toàn ngành là 5.239, trong đó có 1.672 máy dệt kim tròn thường và 11 máy đan tròn jacquard khổ trung bình và lớn dùng cho dệt vải; có 321 máy dệt kim đan ngang phẳng bán tự động và 56 máy đan ngang phẳng jacquard điện tử dùng cho dệt cổ áo, bo áo, cạp quần;… có 1.835 máy dệt kim phẳng đan ngang bán tự động và tự động dùng cho dệt len (chưa tính đến các máy dệt len nằm rải rác trong các hộ kinh doanh cá thể và các công ty gia đình, hợp tác xã thuộc các làng nghề truyền thống, chủ yếu điều khiển bằng tay hoặc bán tự động); có 995 máy dệt kim tròn đường kính nhỏ dùng cho dệt tất, găngtay; có 349 máy dệt kim phẳng đan dọc Vải dệt kim cung cấp cho may mặc ở nước ta chủ yếu được dệt trên các máy dệt kim tròn đan ngang đường kính vừa (14”<D<=24”) và lớn (D>24”)

Trong số 1.672 máy dệt tròn dùng cho dệt vải thì có 305 máy (tính cả 10 máy đan tròn jacquard) của các doanh nghiệp thuộc Vinatex (chiếm 18%), các doanh nghiệp FDI có 1079 máy (chiếm 65%), các doanh nghiệp tư nhân trong nước có 298 máy (chiếm 17%)

Thi ết bị dệt kim trong các doanh nghiệp FDI hầu hết được sản xuất sau năm

2000 Trên 70% số máy được nhập từ Hàn Quốc và Đài Loan, là hai nước đứng đầu về đầu tư FDI vào ngành dệt kim, số còn lại chủ yếu được nhập từ Đức, Ý

và Nhật Đa số các máy đều là máy mới, chất lượng tốt, năng suất dệt cao Máy dệt kim tròn đường kính lớn, hầu hết từ 30” trở lên, chiếm khoảng 58% Sự tăng trưởng mạnh về sản xuất vải dệt kim trong thời gian gần đây là do có sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp FDI Một số doanh nghiệp FDI đã đầu tư các nhà máy sản xuất vải dệt kim với năng lực rất lớn như Global Dyeing, Panko

Trang 17

Vina, Huge Bamboo chủ yếu để cung cấp vải trực tiếp cho các nhà máy may sản xuất hàng xuất khẩu đi Mỹ và EU của họ Trong 5 năm gần đây tổng số máy dệt kim của nước ta tăng lên khá nhiều, chủ yếu là từ các doanh nghiệp FDI

Các doanh nghi ệp thuộc Vinatex tuy có đầu tư thêm một số máy dệt kim

tròn mới nhưng tổng số đầu máy dệt lại giảm nhiều do một số máy quá cũ đã được thanh lý hoặc một số doanh nghiệp đã chuyển đổi cơ cấu sản xuất, không còn sản xuất vải dệt kim nữa; hơn nửa số máy dệt kim tại các doanh nghiệp thuộc Vinatex đã được sản xuất trên 15 năm, chất lượng xuống cấp nhiều và năng suất không đảm bảo, tiêu thụ điện năng lớn, có những máy hiệu suất sử

dụng máy rất thấp Khoảng 10% số máy dệt kim được nhập từ châu Âu, chủ

yếu là của hãng Mayer & Cie, nhưng hầu hết các máy này đều được nhập về từ trước năm 2000 Hiện nay đa số các máy vẫn đang được sử dụng để sản xuất Có khoảng 31,9% số máy được nhập từ Nhật Bản, chủ yếu là từ hãng Fukuhara cho máy dệt tròn và hãng Shima Sheiki, Matsuya cho máy dệt cổ, bo Hầu hết các máy này cũng được nhập về từ trước năm 1997 và đa số vẫn đang được sử dụng Trên một nửa số máy hiện có trong Vinatex được nhập từ Hàn Quốc và Đài Loan, một số ít nhập từ các nước khác như Trung Quốc, Singapore (chỉ cho máy

dệt đường kính <24”), trong đó Pai Lung của Đài Loan là hãng được nhập nhiều

nhất Các máy hiệu suất sử dụng thấp do năng suất và chất lượng dệt không đảm

bảo chủ yếu là các máy Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc được sản xuất trước năm 1996 Sản xuất vải dệt kim tại các doanh nghiệp thuộc Vinatex tăng không đáng kể Một số doanh nghiệp năng lực sản xuất thực tế rất thấp so với năng lực thiết kế như Công ty CP Dệt Kim Hanosimex, Công ty TNHH MTV dệt kim Đông Phương

Thi ết bị dệt kim thuộc các doanh nghiệp tư nhân trong nước chiếm tỷ lệ

nhiều nhất trong tổng số máy dệt kim tại Việt Nam (55%), nhưng chủ yếu là máy dệt kim phẳng dùng cho dệt len, dệt màn tuyn và máy dệt tất, số máy dệt kim tròn dùng cho dệt vải rất ít chỉ chiếm khoảng 6% Trừ một vài công ty lớn

có đầu tư máy mới, chất lượng khá và tốt có thể sản xuất vải cho xuất khẩu, còn lại hầu hết các máy dệt kim thuộc các doanh nghiệp tư nhân trong nước đều là máy cũ, năng suất và chất lượng dệt thấp, chỉ chuyên để dệt vải cung cấp cho thị trường nội địa

4 Đối với lĩnh vực nhuộm, in hoa và hoàn tất

Hiện tại, trình độ công nghệ trong lĩnh vực này của Việt Nam được đánh giá

ở mức trung bình khá Theo thống kê, hiện nay Việt Nam có khoảng 177 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhuộm in hoa và xử lý hoàn tất vải; có khoảng

66 dây chuyền in hoa; 193 dây chuyền nhuộm liên tục, 750 máy nhuộm gián đoạn và khoảng 100 thiết bị nhuộm dạng sợi với mức độ công nghệ cụ thể như sau:

- Tập đoàn Dệt May Việt Nam có 12 nhà máy nhuộm và hoàn tất, trong đó

thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến và được đầu tư trong vòng (5 - 7) năm nay

Trang 18

chiếm khoảng 20% (tính trên sản lượng vải sản xuất) Trong đó, phải kể đến dây chuyền Benninger, Kuster và Monfort tại nhà máy nhuộm Vinafa Yên Mỹ; dây chuyền in hoa và thiết kế mẫu hoa của Buser, Stork, tại công ty Dệt Thắng Lợi; dây chuyền tiền xử lý và nhuộm liên tục của Brugman, Monfort tại công ty Dệt Việt Thắng, ngoài ra còn có một số thiết bị hoàn tất sau như chống co, làm mềm, khá hiện đại của Italy, Đức và Nhật; còn lại đa số là các thiết bị hoàn tất liên tục của Nhật, Trung Quốc, đã được trang bị trên 9 đến 12 năm có trình độ công nghệ trung bình và các thiết bị gián đoạn của các nước châu Á như Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, có trình độ trung bình

- Đối với các doanh nghiệp quốc doanh khác, tại Công ty CP X28 có dây

chuyền hoàn tất vải len và vải bông với thiết bị châu Âu có trình độ tiên tiến, ngoài ra hầu hết là dây chuyền khá cũ hoặc có trình độ trung bình

Một điểm cần được quan tâm là hầu hết các dây chuyền nhuộm hoàn tất liên tục, kể cả những dây chuyền hiện đại mới đầu tư của các doanh nghiệp quốc doanh đều chưa được quản lý và khai thác công nghệ tương xứng với tính năng thiết bị Và có lẽ đây là điểm yếu nhất của ngành dệt quốc doanh Việt Nam

- Khu vực tư nhân có năng lực nhuộm hoàn tất khá lớn, tuy nhiên, chủ yếu

chỉ tập trung vào vải dệt kim và vải dệt thoi tổng hợp với thiết bị gián đoạn có trình độ công nghệ trung bình, nhưng được khai thác khá hiệu quả

- Khu vực đầu tư nước ngoài có năng lực nhuộm và hoàn tất khá lớn, trình

độ công nghệ trung bình khá và được khai thác đạt hiệu quả tốt Cụ thể như sau: các dây chuyền tiền xử lý Kyoto (Nhật Bản), nhuộm Kuster tại Công ty Pangrim

và Công ty Choong Nam Việt Nam, tuy thiết bị đã sử dụng trên 10 năm và có trình độ công nghệ trung bình nhưng đã được quản lý và khai thác có hiệu quả tốt Các dây chuyền nhuộm và hoàn tất gián đoạn tại Công ty Formosa, Taffeta

và Công ty Hualon với hầu hết là thiết bị mới đầu tư trong phạm vi (6 - 8) năm

có trình độ công nghệ khá và khai thác có hiệu quả Ngoài ra còn phải kể đến dây chuyền hoàn tất dệt kim của Công ty Shing Viet với đa số thiết bị cũ đã sử dụng khoảng 10 năm và dây chuyền in hoa và hoàn tất khăn của Dona Bochang với thiết bị cũ nhưng đạt kết quả chất lượng sản phẩm tốt Gần đây, Công ty Hansoll Việt Nam đã đầu tư dây chuyền hoàn tất vải dệt kim có công suất đến 18.000 tấn/năm với thiết bị và công nghệ hiện đại

Riên g đối với công nghệ sử dụng trong ngành dệt nhuộm, nhìn chung có

mức độ phức tạp hơn so với công nghệ sử dụng trong ngành may Về trình độ công nghệ theo đánh giá của nhiều chuyên gia và qua số liệu khảo sát của những năm gần đây cho thấy, trình độ công nghệ trong ngành dệt nhuộm nói chung được đánh giá là chậm hơn các nước trong khu vực xung quanh khoảng (15 - 20) năm Nếu xếp theo thang điểm 10 thì trình độ công nghệ dệt nhuộm Việt Nam chỉ đạt khoảng (5 - 6) điểm, đạt mức trung bình của thế giới

Ngoài ra, việc đánh giá trình độ công nghệ có thể dựa vào tính đồng bộ của dây chuyền, hay mức độ hiện đại của công nghệ, thiết bị sử dụng Tính đồng bộ

Trang 19

của dây chuyền công nghệ sử dụng được đánh giá theo 3 mức độ (đồng bộ cao, trung bình và thấp), được xác định dựa trên mức độ bảo đảm tối đa công suất khai thác của các thiết bị trong dây chuyền và mức độ bảo đảm chất lượng sản phẩm theo chỉ tiêu đặt ra Mức độ hiện đại của công nghệ, thiết bị sử dụng trong ngành được đánh giá dựa vào thế hệ công nghệ sử dụng thuộc những năm 90,

2000 hay công nghệ hiện đại, tự động hóa Kết quả khảo sát những năm gần đây cho thấy:

Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ đồng bộ cao (15 - 20)%

Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ trung bình (65 - 70)%

Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ thấp (10 - 15)%

Về mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ sử dụng:

Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại, tự động hóa

Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ thuộc thế hệ những

Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ thuộc thế hệ những

Ngu ồn: Số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu

5 Đối với lĩnh vực may mặc

Trình độ công nghệ của ngành may hiện nay được đánh giá là khá tiên tiến

và có thể cạnh tranh được với một số nước trong khu vực Các thế hệ dây chuyền thiết bị sử dụng tương đối hiện đại và đồng bộ cao Trong những năm gần đây, trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp dệt may

đã đầu tư, tiến hành các hoạt động đổi mới công nghệ, tuy nhiên việc đổi mới giữa ngành dệt và ngành may còn chưa đồng bộ

Hiện tại, toàn ngành có 3.832 doanh nghiệp may với khoảng 1.200.000 máy may thông thường các loại, có khoảng 85.000 máy may đặc chủng, khoảng 3.700 máy giặt mài, khoảng 40.000 các thiết khác phụ trợ cho công nghiệp may

và khoảng 290 hệ thống thiết kế mẫu phục vụ sản xuất (CAD/CAM) Trong số 3.832 doanh nghiệp may có 2,660 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thông thường như sơ mi nam nữ, quần âu, áo khoác (jacket), sản phẩm dệt kim, có

25 doanh nghiệp chuyên sản xuất quần áo, găng tay bảo hộ lao động, 18 doanh nghiệp sản xuất chăn ga gối đệm, 56 doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mũ túi, 16

doanh nghiệp sản xuất quần áo lót

Ngành may có tốc độ đổi mới khá nhanh, trong vòng mấy năm trở lại đây,

đã đổi mới được khoảng 95% máy móc thiết bị, trong đó có khoảng 40% máy móc chất lượng cao, tự động hóa sản xuất như: máy cắt chỉ tự động, ráp sơ đồ tự động, trải vải tự động,… Ngành may mặc Việt Nam phát triển khá nhanh trong

15 năm nay, đặc biệt là trong những năm gần đây cùng với việc mở cửa thị trường Hoa Kỳ Trình độ công nghệ ngành may Việt Nam không cách xa với

Trang 20

mức tiên tiến trên thế giới Trình độ công nghệ trong ngành may có thể phân làm các nhóm sau:

- Nhóm 1: Trình độ tiên tiến Các xưởng may sử dụng CAD/CAM trong khâu thiết kế kỹ thuật và giác sơ đồ Có hoặc không sử dụng phần mềm trong sáng tác sản phẩm Tỷ lệ sử dụng các thiết bị may, cắt, vận chuyển nội chuyền, thiết bị, thiết bị hoàn tất chuyên dùng và có trang bị tự động và điện tử khá cao Có sử dụng một số phần mềm trong quản lý sản xuất và tiêu thụ

- Nhóm 2: Trình độ trung bình khá Có sử dụng một phần CAD/CAM trong khâu thiết kế kỹ thuật và sơ đồ Có sử dụng một phần các thiết bị chuyên dùng

và trang bị điện tử trong dây chuyền cắt, may và hoàn tất Có sử dụng một phần hoặc chưa sử dụng phần mềm trong quản lý

- Nhóm 3: Trình độ thấp và trung bình Thiết bị thông thường Chưa sử dụng phần mềm quản lý và thiết kế

Trong đó:

- Tập đoàn Dệt may Việt Nam có 126 xưởng may với 78.000 thiết bị may cắt

và hoàn tất các loại, trong đó các xưởng nhóm 1 chiếm 20%, xưởng nhóm 2 chiếm 70% và xưởng nhóm 3 chiếm 10% Một số xưởng thuộc các Tổng Công

ty CP May Việt Tiến, Tổng Công ty may Nhà Bè – Cty Cổ phần, Tổng Công ty May Đức Giang, Tổng Công ty May 10, Công ty May Phương Đông, đã có sử dụng phần mềm sáng tác mẫu và thiết bị cắt vải Robot của Mỹ, Đức, Ngoài ra còn có khoảng 200 xưởng may thuộc doanh nghiệp nhà nước khác có trình độ đa

số thuộc nhóm 2 và 3

- Khu vực tư nhân: Có khoảng 850 xưởng may với khoảng 350.000 thiết bị

và trình độ công nghệ đa số thuộc nhóm 2 và 3

- Khu vực đầu tư nước ngoài có gần 400 xưởng may với trên 400.000 thiết

bị có trình độ công nghệ hầu hết thuộc nhóm 1 và nhóm 2 Một số xưởng thuộc các Công ty như: Công ty Esquel, Công ty Chutex, Công ty Hansoll, Công ty Namyang, Công ty Shing Viet, Công ty Scavi, đã được khảo sát cho thấy dây chuyền sử dụng hầu hết là thiết bị chuyên dùng có trình độ tự động hoá cao và

áp dụng phổ biến các phần mềm quản lý và thiết kế kỹ thuật

IV V ề nguồn nhân lực, công tác đào tạo và nghiên cứu phát triển khoa

h ọc công nghệ

1 Về nguồn nhân lực

- V ề cơ bản, trong những năm gần đây nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh

v ực dệt may của Việt Nam có số lượng và chất lượng đáp ứng được tương đối

t ốt yêu cầu phát triển của ngành Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, ngành dệt

may Việt Nam vẫn đang có lợi thế về lao động cả về trình độ học vấn, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ và trình độ ngày càng được nâng cao Trong thời gian qua, để tạo ra được các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu cũng như yêu cầu của người tiêu dùng trong nước ngày càng cao, cùng với việc đầu tư

Trang 21

chiều sâu, cũng như tăng cường năng lực thiết bị mới, công nghệ mới ngành cũng đã có quy hoạch và đào tạo nguồn nhân lực tương xứng, tăng cường đào tạo trong và ngoài nước, trực tiếp mở các lớp đào tạo giám đốc doanh nghiệp, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề phục vụ ngành

Tổng số lao động trong ngành công nghiệp dệt may (không tính lao động ở các công đoạn phụ trợ như sản xuất nguyên liệu bông,…) năm 2010 là 1.039.620 người tăng 138.388 người so với năm 2008 Trong đó lao động nữ là 808.505 người chiếm 77,77% tổng số lao động (năm 2008 lao động nữ chiếm 76,08%) Lao động ngành dệt may chiếm 10,31% trong tổng số lao động của toàn ngành công nghiệp (tổng số lao động toàn ngành công nghiệp là 10.079.886 người) Mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 2005 - 2010 là 2,5%/năm trong ngành dệt và 9%/năm trong ngành may Số liệu về lao động trong ngành dệt may được thể hiện cụ thể trong bảng sau:

Bảng 7 Lao động trong ngành dệt may

Nguồn: Niên giám thống kê, 2011

Bảng 8 Tỷ lệ trình độ giám đốc theo giới tính và theo trình độ chuyên môn

Trang 22

Bảng 9 Tỷ lệ lao động theo giới tính, theo trình độ chuyên môn và theo tính

chất công việc của ngành dệt may

- Lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh 84.84 89.36

kỹ sư được đào tạo chuyên sâu của ngành (ngành cơ dệt, hóa nhuộm hầu như trắng bảng) phần lớn chỉ được đào tạo chung cho cả sợi – dệt – nhuộm Vì vậy, nguồn nhân lực cho công tác quản lý kỹ thuật nói chung, quản lý thiết bị nói riêng gặp nhiều khó khăn, nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành dệt may trong thời gian qua vừa thiếu vừa chưa đáp ứng cao được yêu cầu khách quan

- Nguy cơ thiếu hụt công nhân cho ngành trong tương lai là không nhỏ Qua tham khảo số liệu khảo sát thu được của 30 doanh nghiệp trọng yếu trong Tập đoàn Dệt May Việt Nam theo Đề án đào tạo nguồn nhân lực dệt may 2011 -

2015 của Tập đoàn Dệt May Việt Nam cho thấy:

Trang 23

Nhìn vào hiện trạng thực tế 10 năm qua, các doanh nghiệp dệt may (đặc biệt sợi, dệt, nhuộm hoàn tất) chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn của đất nước,

do đó chi phí sản xuất tăng cao (trong đó có chi phí lao động) do tốc độ tăng trưởng GDP bình quân tại các thành phố này đều tăng trưởng nằm trong top dẫn đầu của cả nước Tại các thành phố nói trên, quỹ đất ngày càng eo hẹp, đặc biệt

là các yêu cầu về tuân thủ luật bảo vệ môi trường ngày càng khắt khe, buộc các doanh nghiệp phải xây dựng phương án di dời và đang từng bước di dời, do đó các đơn vị gặp không ít khó khăn về nguồn nhân lực (thiếu hụt trầm trọng)

Trong những năm gần đây môi trường làm việc (đặc biệt là thu nhập) của ngành dệt may hoàn toàn không còn hấp dẫn đối với nhiều cán bộ kỹ thuật cũng như công nhân lao động Việc di dời các đơn vị của ngành ra khỏi các trung tâm, thành phố lớn đến các khu công nghiệp cũng đã tác động không nhỏ đến điều kiện môi trường của người lao động, trong điều kiện các chế độ chính sách đãi ngộ không thể cải thiện một sớm một chiều đã làm cho ngành dệt may nói chung, đặc biệt ngành dệt vải và nhuộm hoàn tất nói riêng gặp nhiều khó khăn

về nhân lực Biến động lao động từ năm 2001 - 2006 ít xảy ra, nhưng từ năm

2007 đến nay số lao động biến động thường xuyên hàng năm là rất lớn, số cán

bộ công nhân viên muốn gắn bó lâu dài với các công ty là rất ít (so với trước đây) do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan

- Bên c ạnh đó, một số yếu tố ngăn cản sự phát triển của ngành dệt Việt Nam

là vấn đề ý thức của người lao động Các lao động đang làm việc trong các xí

nghiệp nhà nước không hoàn toàn ý thức được tầm quan trọng của công việc Chính vì họ chỉ ý thức rằng, chỉ cần bỏ ra một khoảng thời gian là có thể hoàn thành được công việc, vì vậy mà năng suất lao động thực tế tại xưởng sản xuất

giảm sút Vấn đề này đang trở thành vấn nạn lớn làm giảm đi năng suất lao động của các doanh nghiệp Chính vì vậy phải thực hiện công việc với lòng nhiệt tình, với ý thức rằng người lao động đều là chủ nhân của nhà máy thì mới có thể góp sức vào cho sự phát triển của doanh nghiệp (vấn đề này đang từng bước được giải quyết tại các công ty cổ phần khi người lao động có cổ tức, tuy nhiên trong thực tế vẫn còn một khoảng cách)

2 Về công tác đào tạo

Xét về số lượng, các trường đào tạo các ngành nghề liên quan đến công nghệ dệt may trong cả nước hiện có: đào tạo trên đại học là 01 trường; đào tạo bậc đại học là 09 trường và đào tạo bậc cao đẳng dạy nghề là 12 trường Một thực tế là các trường đang đào tạo nhân lực cho ngành dệt may đang ngày càng gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút học sinh

Theo thống kê, hiện nay 90% học sinh sinh viên học ngành dệt may nói chung và học tại các trường thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam nói riêng có

xuất thân từ các vùng nông thôn, miền núi, có điều kiện kinh tế khó khăn Vì vậy, nếu xã hội hoá bằng cách tăng học phí để bù đắp chi phí chi thường xuyên

Trang 24

đối với các trường là không thể thực hiện được và sẽ rất khó thu hút người học Hơn nữa, ngành dệt may là khối ngành kỹ thuật, chi phí về trang thiết bị cho đào

tạo cũng như chi phí thường xuyên về vật tư, thực nghiệm, giảng viên, cho đào

tạo rất lớn, vì vậy mà rất nhiều trường không muốn đào tạo khối ngành này, nhất

là các trường xã hội hoá cao như các trường tư thục Bên cạnh đó do thu nhập

của ngành dệt may thấp hơn các ngành kinh tế khác nên rất khó thu hút học sinh sinh viên vào học mặc dù ngành có nhu cầu nhân lực lớn trong thời gian tới Do

đó, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí chi thường xuyên cho các trường đào tạo ngành dệt may theo hình thức đặt hàng đào tạo theo nhu cầu của xã hội; cũng như hỗ trợ toàn bộ kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở

vật chất cho các nhà trường trong giai đoạn tới

Nguồn nhân lực được đào tạo từ cao đẳng trở lên ở nước ngoài trong 10 năm qua hầu như không có

3 V ề công tác nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ phục vụ sản

xu ất kinh doanh

Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ của ngành còn nhiều

bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển ngành Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ chưa được quan tâm và đầu tư thoả đáng, chưa có quỹ hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học công nghệ Các kết quả nghiên cứu và phát triển (R&D) theo chuẩn mực quốc tế còn hạn chế Trang thiết bị của viện nghiên cứu, của phòng kỹ thuật và triển khai sản xuất tại các doanh nghiệp còn rất thiếu, không đồng bộ và lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến trong nước Phần lớn các doanh nghiệp chưa có bộ phận nghiên

cứu và triển khai công nghệ

Thiếu sự liên kết giữa sản xuất và nghiên cứu khoa học công nghệ; thiếu sự

hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu phát triển trong ngành với các trường đại học và các doanh nghiệp

Hệ thống dịch vụ khoa học công nghệ bao gồm thông tin khoa học công nghệ, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ

Thiếu cán bộ khoa học công nghệ giỏi, thiếu cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao Sự phân bố cán bộ kỹ thuật của ngành chưa hợp lý, sự hỗ trợ về công nghệ

của các cơ quan nghiên cứu, trường đào tạo đối với các doanh nghiệp còn rất hạn chế Đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế

Công tác nghiên cứu ở các doanh nghiệp là nghiên cứu đề tài phục vụ trực

tiếp cho sản xuất của doanh nghiệp Toàn ngành có ba viện nghiên cứu, 9 trường đại học có đào tạo dệt may, 12 trường cao đẳng và cao đẳng nghề có thể thực

hiện công tác nghiên cứu khoa học, thực hiện các đề tài nghiên cứu các cấp phục

vụ cho sản xuất kinh doanh của ngành, trong đó có các đề tài nghiên cứu về

Trang 25

công nghệ thuộc các sản phẩm mới và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tổ chức các lớp bồi dưỡng và đào tạo công nhân kỹ thuật cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, mới chỉ có các viện nghiên cứu thực hiện các đề tài phục vụ sản xuất, song nhiều đề tài nghiên cứu chưa được ứng dụng trong sản xuất, tính khả thi còn thấp

V V ề công tác quản lý chất lượng sản phẩm

- Công tác quản lý chất lượng sản phẩm trong ngành dệt may của Việt Nam những năm gần đây đã có những tiến bộ đáng kể nhưng vẫn chủ yếu áp dụng theo các yêu cầu của đối tác nước ngoài, Việt Nam chưa xây dựng được bộ qui chuẩn, tiêu chuẩn chung cho ngành dệt may cũng như để phục vụ cho hoạt động

xuất khẩu nói riêng

Năm năm trở lại đây, nhiều doanh nghiệp dệt may trong nước đã áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng; quy chuẩn, tiêu chuẩn trong sản xuất; nhiều doanh nghiệp trong ngành đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001- 2000; hệ thống quản lý môi trường ISO 14000; hệ thống trách nhiệm xã hội SA8000, quản lý phòng thí nghiệm ISO/IEC 17025, Gần đây, nhiều doanh nghiệp thành công trong áp dụng tích hợp 3 hệ thống: ISO 9001-

2000, ISO 14000, SA 8000, như công ty May Đức Giang, Hưng Yên, Thắng Lợi, Việc áp dụng hệ thống quản lý đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí hàng chục tỷ đồng mỗi năm

Đối với hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và phương pháp thử, phần lớn doanh nghiệp dệt may xuất khẩu sử dụng tiêu chuẩn theo yêu cầu của khách hàng Đó là các tiêu chuẩn quốc tế đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới: tiêu chuẩn châu Âu (EN); tiêu chuẩn Hoa Kỳ (ASTM và AATCC); tiêu chuẩn Nhật Bản (JIS), Việc áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn trên đã giúp cho công tác quản lý chất lượng tại các đơn vị đi vào nền nếp, cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm Công tác quản lý năng suất, chất lượng sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may thông qua các hệ thống quản lý, tiêu chuẩn,… được quan tâm, đầu tư đã mang lại hiệu quả cao hơn so với những phương pháp quản lý trước đây

Tuy nhiên, công tác quản lý chất lượng chưa được định hình ổn định, đặc biệt là cơ chế kiểm soát hàng hóa tiêu thụ trên thị trường trong nước, quản lý chất lượng hàng hóa xuất khẩu chưa được chặt chẽ Việc áp dụng tiêu chuẩn vẫn phụ thuộc vào đối tác nước ngoài Việt Nam chưa xây dựng được bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn chung cho ngành dệt may, phục vụ cho hoạt động xuất khẩu Trong những năm qua ngành dệt vải, nhất là vải dệt thoi gặp không ít những khó khăn trong khâu quản lý kỹ thuật nói chung và quản lý chất lượng sản phẩm nói riêng Khâu quản lý thiết bị, quản lý chất lượng làm chưa được tốt, do đó hiệu suất sử dụng thiết bị mới đạt khoảng (75 - 80)%, chất lượng vải mộc còn nhiều khuyết tật, chất lượng nhuộm - hoàn tất cũng gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ sản phẩm phục

vụ may xuất khẩu đạt thấp

Trang 26

- Việc quản lý chất lượng sản phẩm của ngành may diễn ra thuận lợi và có hiệu quả hơn, từng khâu trong dây chuyền sản xuất đều có quy trình quản lý chặt, vì vậy chất lượng sản phẩm xuất khẩu được các thị trường chấp nhận và có sức cạnh tranh cao so với sản phẩm của nhiều nước khác trong khu vực Doanh nghiệp dệt may cần chú trọng tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng mới, hiện đại Khuyến khích doanh nghiệp tiếp cận các thông tin về các tiêu chuẩn sản phẩm và quy trình sản xuất mới theo yêu cầu của khách hàng Ngoài

ra, các tiêu chuẩn chất lượng phải đi đôi với các chương trình quản lý và chứng nhận chất lượng, nhằm củng cố hình ảnh quốc tế và danh tiếng của các nhà sản xuất dệt may Việt Nam Đặc biệt, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các đơn vị trong việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng như: ISO 9000; ISO/IEC 17025; ISO 17020; Guide 65; ISO 14001, đồng thời nhanh chóng xây dựng và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật trong ngành dệt may

Xu hướng chung trên thế giới là sản phẩm dệt và may mặc ngày càng được

sử dụng hàng ngày trong cuộc sống và là một trong những vật dụng góp phần bảo vệ an toàn cho con người trong các điều kiện thời tiết khí hậu khác nhau Tuy vậy, một số khía cạnh về thiết kế và quá trình sản xuất chưa đúng và chưa được kiểm soát tốt lại có thể mang lại một số rủi ro cho người sử dụng như dễ cháy gây bỏng, các dây luồn trang trí và chức năng lại có thể gây rủi ro thắt chặt nghẹt thở, hoặc một số phụ kiện trang trí có thể gây hóc cho trẻ em… Bên cạnh

đó ngành dệt sử dụng rất nhiều loại hóa chất khác nhau để sản phẩm có được chất lượng, công năng, chức năng và thẩm mỹ yêu cầu Một số hóa chất có tác động xấu đến môi trường và sức khỏe của con người nên đã bị các nước phát triển cấm hoặc hạn chế sử dụng bằng luật Tiêu biểu là các nước phát triển, là thị trường xuất khẩu hàng dệt may chính của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đã có những biện pháp bảo vệ người tiêu dùng tránh những rủi ro xấu

có thể do sản phẩm dệt may mang lại Chính phủ các nước này ban hành nhiều luật để đảm bảo tính an toàn của sản phẩm dệt may như: đạo luật về tính cháy của vải may mặc (Hoa Kỳ); đạo luật cải thiện tính an toàn của hàng tiêu dùng - CPSIA (Hoa Kỳ); Quy chuẩn về Đăng ký, Đánh giá, Cấp phép và Hạn chế hóa

chất (REACH - EC 1907/2006); Luật 112 (Nhật Bản), Đạo luật tự xác nhận tính

an toàn của sản phẩm (Hàn Quốc),… Trung Quốc là nước xuất khẩu dệt may hàng đầu cũng ban hành tiêu chuẩn bắt buộc về tính an toàn kỹ thuật của sản phẩm dệt may hài hòa với các tiêu chuẩn trên thế giới để tăng tính cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu trên thị trường quốc tế và trong nước Đó là những rào cản kỹ thuật mà các nhà sản xuất dệt may trong nước phải vượt qua để có

thể xuất khẩu vào các thị trường chủ yếu trên thế giới

Ngoài ra, luật cải thiện an toàn sản phẩm tiêu dùng (CPSIA) Hoa Kỳ - 2008

đã thay đổi đáng kể yêu cầu về thử nghiệm và chứng nhận cho các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, và các nhãn tư nhân Luật áp dụng đối với mỗi sản phẩm là đối tượng chịu bất kỳ quy định thi hành của Ủy ban An toàn sản phẩm tiêu dùng (CPSC), nhằm mục đích tập trung đổi mới về an toàn sản phẩm cho người tiêu dùng và đặc biệt là cải thiện tính an toàn của các sản phẩm dành cho trẻ em

Trang 27

Ngoài yêu cầu cho các sản phẩm may mặc phải đáp ứng tiêu chuẩn hiện hành về tính cháy, nó bao gồm các hạn chế mới về chì trong các sản phẩm của trẻ em, giới hạn thấp hơn về chì trong sơn và lớp phủ bề mặt; cấm một số phtalat, yêu cầu bắt buộc về thử nghiệm bên thứ ba và tài liệu tham khảo từ một phòng thí nghiệm được CPSC công nhận Trong số này là yêu cầu về Chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC) cho nhiều loại sản phẩm tiêu dùng, bao gồm sản phẩm dệt may Bên cạnh đó, đối với các sản phẩm trẻ em cũng phải có Chứng nhận sản phẩm trẻ em (CPC) và yêu cầu về phòng thử nghiệm thứ ba theo các thời hạn và qui trình công nhận của CPSC GCC và CPC phải được ban hành bởi các nhà nhập khẩu hoặc nhà sản xuất trong nước nhập khẩu và phân phối các sản phẩm yêu cầu sự chứng nhận

- Công tác cung cấp thông tin, hướng dẫn về hợp chuẩn và an toàn đối với

chất lượng sản phẩm xuất khẩu cũng như áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu còn nhiều hạn chế

Một thực tế là tại Việt Nam việc hỗ trợ và tư vấn cho các nhà sản xuất dệt

may khi muốn xuất hàng vào thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,… đảm bảo tuân thủ hoàn toàn trong suốt chuỗi cung ứng còn bị hạn chế trong việc tiếp cận thông tin về an toàn sản phẩm và dịch vụ thử nghiệm hợp chuẩn Bên cạnh đó, cũng chưa có một phòng thí nghiệm nào thuộc Chính phủ có khả năng đáp ứng đầy đủ thử nghiệm tuân thủ cho các sản phẩm dệt may xuất khẩu vào các thị trường này

Mặt khác, hàng dệt may do các công ty trong nước sản xuất ngày càng được cải tiến về chất lượng và thẩm mỹ, chiếm thị phần tăng dần ở thị trường nội địa Hàng dệt may xuất khẩu đều phải tuân thủ các yêu cầu an toàn chất lượng sản

phẩm của từng thị trường đích còn hàng dệt may được sản xuất hoặc được nhập

khẩu để bán ở thị trường nội địa mới chỉ được điều chỉnh bằng Thông tư 32/2009/TT-BCT của Bộ Công Thương về “Giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm gây ung thư có thể giải phóng ra trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may” Các yêu cầu an toàn về khía cạnh vật lý như tính cháy, dây luồn, các phụ kiện sắc nhọn hoặc về khía cạnh hóa chất như dư lượng các phthalat, các hợp chất hữu cơ thiếc, các kim loại nặng có thể chiết được, chì, các

hợp chất xử lý hoàn tất chậm cháy,… đều chưa được kiểm soát bằng luật

Do đó trong thời gian tới cần thiết tập trung nghiên cứu về các rào cản kỹ thuật thương mại, cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời chính xác về các thay đổi của các thị trường nhập khẩu cũng như nâng cao năng lực thử nghiệm và mở rộng phạm vi thử nghiệm của các phòng thí nghiệm đáp ứng được các yêu cầu pháp lý mới đối với các sản phẩm dệt may là rất cần thiết; đồng thời Nhà nước

cần có chính sách hỗ trợ về cơ sở vật chất, đào tạo nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật để các trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm được nước ngoài công nhận là phòng thử nghiệm thứ ba đáp ứng các tiêu chí kiểm soát chất lượng sản phẩm hàng dệt may hợp chuẩn, giúp ngành công nghiệp dệt may đáp ứng với các rào

Trang 28

cản, qui định mới của thế giới, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành dệt may Việt Nam

VI V ề công tác bảo vệ môi trường

- D ệt may là một trong những ngành có khả năng tạo ra nhiều tác động

t ới môi trường sinh thái từ quá trình sản xuất Có thể tóm lược các yếu tố cơ

bản tác động tới môi trường trong quá trình sản xuất ngành dệt may như sau:

Sơ đồ quy trình sản xuất của ngành dệt may:

Với quy trình tóm tắt như trình bày ở trên, có thể tóm lược lại những yếu tố

cơ bản tác động đến môi trường của ngành dệt may như sau:

Tiền xử lý, nhuộm, in hoa, hoàn tất

Vải, phụ liệu Cắt

May (Giặt mài), là

- Thuốc nhuộm

- Các hóa chất trợ

- Nhiệt ẩm

Ghép

Máy sợi thô

Máy sợi con

Hoàn tất sản phẩm

Giặt, vắt, sấy Đóng kiện sản phẩm

Trang 29

Trong quy trình sản xuất các sản phẩm dệt may, từ trồng trọt, hay sản xuất

xơ sợi, kéo sợi, dệt vải, nhuộm, in hoa & hoàn tất tới cắt may và hoàn thiện đã

sử dụng hàng ngàn hợp chất hóa học Ngày nay số lượng các hợp chất này đã được biết hoặc nghi ngờ là chất có hại cho sức khỏe con người và môi trường Sản xuất hàng dệt tác động tới môi trường, ô nhiễm sông và nước ngầm, sự ô nhiễm này ở một số nơi ngày càng được cộng đồng quan tâm

Trong những năm gần đây, bên cạnh lợi ích to lớn về kinh tế xã hội mà sự phát triển của ngành dệt may đem lại, cũng gây nên những áp lực đối với môi trường Các yếu tố tác động đến môi trường chính là:

• Do mở rộng quy mô sản xuất phục vụ xuất khẩu mặt hàng dệt may;

• Việc tác động đến môi trường còn do gia tăng công suất sử dụng máy móc, thiết bị, năng lượng, nước;

• Do gia tăng diện tích và quy mô nuôi, trồng nguyên liệu;

• Do gia tăng nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, hóa chất, thuốc nhuộm, phụ gia,…

• Do các yếu tố khác

- Th ực tế tình trạng ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất của ngành

d ệt may Việt Nam thời gian qua như sau:

+ Ô nhiễm không khí:

Trong các công đoạn sản xuất của ngành dệt may thường phát sinh các loại bụi bông, các loại hơi khí, khí vô cơ, các loại hơi hóa chất, những khí thải này thường làm cho tiêu chuẩn không khí trong nhà xưởng và môi trường xung quanh không đạt các tiêu chuẩn về môi trường và vệ sinh lao động, trong đó:

+ Ô nhi ễm bụi:

Tại các cơ sở dệt may, bụi phát tán vào môi trường không khí chủ yếu là các bông hao bay có kích thước nhỏ (xấp xỉ 5 – 7 µm) Bụi bông trong các công đoạn kéo sợi, dệt vải, cắt may và tạo thành do đốt cháy nhiên liệu tại khu vực các lò hơi có thể gây cho người lao động những bệnh liên quan đến đường hô hấp

từ các thiết bị hở và từ hệ thống dẫn nước thải, gây ô nhiểm không khí;

• Các thiết bị làm lạnh và điều hòa trung tâm trong nhà máy kéo sợi, dệt vải

và trong các dây chuyền may thường sử dụng các chất tẩy rửa công nghiệp, các dung môi làm lạnh như amonic, CFC, CH3Cl, CH3Br,… Do thiết bị thường đã

Trang 30

cũ nên trong quá trình vận hành và bảo dưỡng, lượng dung môi chất làm lạnh rò

rỉ tới (15 – 20)%, gây tác động ngay đến sức khỏe của người lao động và làm suy giảm tầng ôzôn

Tất cả những dạng ô nhiễm nói trên cho đến nay vẫn còn tồn tại vì chỉ mới

có một số giải pháp tạm thời như khử bụi từ quá trình sản xuất, xử lý khí thải bằng các thiết bị hấp thụ khí thải khác nhau Tuy nhiên do hạn chế về công nghệ nên hiệu quả xử lý ô nhiễm không khí do bụi và các hơi khí độc hại chưa cao Cho đến nay ở nhiều nhà máy dệt nhuộm các chất khí thải vẫn thải tự do qua các ống khói ra môi trường

+ Ô nhiễm nước:

Ô nhiễm do nước thải sản xuất có thể được coi là dạng ô nhiễm chủ yếu và đáng được quan tâm hàng đầu của ngành công nghiệp dệt may Các số liệu thống kê cho thấy, để xử lý hóa học hay xử lý hoàn tất một tấn hàng dệt may phải tiêu tốn từ (70 – 300)m3 nước (tùy theo công nghệ xử lý) và cũng khoảng gần chừng đó nước thải sẽ chảy vào nguồn nước mặt gây ô nhiễm nguồn nước (nếu không được xử lý tốt) Đến nay, tình hình ô nhiễm môi trường ngành dệt may, trước hết là ô nhiễm nước thải ở nhiều khu vực vẫn chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ Theo số liệu thống kê, toàn ngành dệt may thải ra môi trường hàng năm trung bình khoảng 70 triệu m3 nước thải Trong đó mới có khoảng 45% tổng lượng nước thải đã qua xử lý (mặc dù mức độ xử lý vẫn chưa triệt để),

số còn lại thải thẳng ra cống thoát hoặc mương thoát

Qua số liệu của nhiều cơ quan chức năng về đánh giá tác động môi trường ở các doanh nghiệp có thể kết luận rằng nước thải chưa qua xử lý của ngành dệt nhuộm đều vượt quá các tiêu chuẩn Nhà nước về môi trường:

• PH của nước thải sau công đoạn tiền xử lý thường có giá trị (9 – 12), giá trị này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của các loài thủy sinh Tuy nhiên, trong lĩnh vực nhuộm, nước thải thường tổng hợp của các công đoạn xử lý trước, nhuộm, in hoa, giặt, hoàn tất nên giá trị tổng hợp thường chỉ khoảng pH tương đương 8

• Tổng lượng chất thải rắn lơ lửng và hòa tan có thể gây ra ách tắc dòng chảy Nếu giữ nguyên ở dạng huyền phù, chúng sẽ làm đục nước và cản trở sự xuyên thấu ánh sáng và quang hợp của hệ thực vật Tùy thuộc bản chất, chúng

có thể gây ra mùi khó chịu và làm tăng hàm lượng BOD, COD của nước thải

• BOD: Đây là chỉ số xác định khả năng làm giảm lượng oxy của nước thải

do hoạt động của các vi sinh vật trong quá trình phân hủy chất hữu cơ có trong

đó

• COD: Đây là chỉ số đo khả năng phản ứng hóa học của chất thải, là khả năng phá hủy hàm lượng oxy có trong nước Ngoài ra có nhiều chất độc hại như thuốc nhuộm khó phân giải, các chất hoạt động bề mặt có chứa AOX, AP,

Trang 31

APEO, PCP, … và các kim loại nặng như Cd, Cr, Cu, Pb, As, Mn,… đặc biệt là mội số muối hòa tan với nồng độ cao đủ khả năng tiêu diệt các loại vi sinh vật

• Màu nước thải nhuộm với nồng độ cao làm giảm tính thẩm mỹ và ngăn cản các quá trình quang hợp của các sinh vật trong nước

Tất cả những yếu tố nói trên đều tiềm ẩn cơ hội để nước thải dệt nhuộm ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm và đất xung quanh hệ thống mương dẫn, gây hậu quả lâu dài

+ Ô nhiễm đất, chất thải rắn:

Trước thực trạng ô nhiễm nước thải ngành dệt may chưa được kiểm soát hoàn toàn như nêu trên, ngoài việc ảnh hưởng đến mạch nước ngầm và đề lại những hậu quả lâu dài, thì một hậu quả khác là khả năng gây ô nhiêm đất do quá trình ngấm và nước mưa làm chảy tràn các nguồn nước thải ô nhiễm cuốn theo dầu mỡ, thuốc nhuộm và hóa chất cũng như nhiều chất thải rắn trên mặt đất

Đối với ngành dệt may, chất thải rắn chủ yếu bao gồm các loại bao gói nguyên vật liệu, thùng đựng hóa chất trợ, thuốc nhuộm, bông, vải vụn, các chi tiết hư hỏng qua các công đoạn sản xuất, các loại bụi bông thu được từ hệ thống lọc bụi, bùn lắng của hệ thống xử lý nước thải và nhìn chung có mức độ ô nhiễm không cao như nhiều ngành công nghiệp khác

+ Ô nhiễm tiếng ồn, nhiệt ẩm:

Trong các cơ sở dệt may, tiếng ồn luôn là mối quan tâm của nhiều người Mặc dù hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đã được đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại hơn, nhưng tiếng ồn vẫn đang là một vấn đề đáng lo ngại đối với công nhân, người lao động trực tiếp sản xuất Bên cạnh đó, ô nhiễm nhiệt ẩm là một trong những dạng ô nhiễm cũng rất đáng quan tâm của ngành dệt may Nhiệt ẩm tại các lò hơi, các thiết bị sử dụng hơi của hệ thống dẫn hơi, lượng nhiệt tỏa ra từ quá trình vận hành thiết bị, máy móc, hệ thống chiếu sáng

là các nguồn gây ô nhiễm

- V ề trình độ công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường của ngành:

Trong ngành dệt may hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã di dời đến khu tập trung nên đã có các trung tâm xử lý nước thải hiện đại, tuy nhiên số lượng nhà máy dệt - nhuộm nằm trong khu vực này là chưa nhiều Hầu hết các doanh nghiệp còn lại vẫn chỉ áp dụng các biện pháp xử lý nước thải thô sơ, nước thải sau xử lý vẫn chứa phần lớn các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt

là các khu công nghiệp làng nghề vẫn chưa có hệ thống xử lý Trong các nhà máy xí nghiệp dệt may hiện đã áp dụng nhiều công nghệ xử lý như: khử bụi từ quá trình sản xuất, xử lý khí thải bằng các thiết bị kiểu buồng lắng, lọc bụi tĩnh điện, các thiết bị hấp phụ khí thải,… trình độ cán bộ chuyên môn về quản lý môi trường của ngành hiện nay vẫn còn yếu, toàn ngành chỉ mới có khoảng hàng chục doanh nghiệp được chứng nhận đạt quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14.000

Trang 32

- Đánh giá tác động môi trường hiện tại của ngành:

+ Đối với nhóm các yếu tố môi trường chịu tác động bởi các chất thải hòa tan hoặc phân tán trong nước:

Các số liệu cụ thể hiện nay cho thấy nước thải của ngành dệt may như sau:

• Độ màu, BOD, COD, chất thải rắn lơ lửng (SS) cao Kết quả quan trắc ở nhiều cơ sở cho thấy: Trong ngành dệt may, nước thải tại cống chung của cơ sở trước khi đổ vào nguồn nước mặt có độ pH dao động từ 7,31 – 8,58

COD từ (270 – 700)mg/m3 ; BOD từ (123 – 220)mg/m3 ; Chất rắn lơ lửng từ (110 – 264)mg/m3 ; Độ màu ở mức rất cao

• Ngoài những chất trên, các chất còn lại như , , , tổng phốt pho, đồng, chì, kẽm, sắt, crom, mangan đều có nồng độ thấp hơn tiêu chuẩn cho phép

+ Đối với nhóm các yếu tố môi trường chịu tác động bởi các chất thải rắn:

Hiện tại, các chất thải rắn tạo ra từ các cơ sở dệt may trong nước có mức độ

ô nhiễm không lớn vì nhiều loại có thể tái sử dụng lại hoặc tái chế để sử dụng cho những mục đích khác Tuy nhiên, thực tế tại một số cơ sở dệt may cho thấy việc thu gom, phân loại các chất thải rắn chưa tốt Khả năng thu gom, tận thu và tái chế các loại chất thải rắn này trong ngành dệt may hiện nay ước tính ở mức khoảng 55% xỉ than, (70 – 80)% vải vụn, bông phế liệu,…

+ Đối với nhóm các yếu tố môi trường chịu tác động bởi các chất thải dạng khí, dạng hơi:

Đối với ngành dệt may, các yếu tố ô nhiễm về bụi, hơi, khí và nhiệt ẩm là những yếu tố có mức ảnh hưởng lớn tới môi trường Trong đó, ô nhiễm bụi ở các nhà máy sợi, nhà máy dệt thường có mức độ cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần và là yếu tố rất đáng quan tâm Nồng độ bụi trung bình ở các nhà máy sợi đo được từ (0,14 – 2,14)mg/m3

Trong các nhà máy dệt là từ (0,4 – 4,29)mg/m3 Đối với các nhà máy may, thông thường ô nhiễm bụi chỉ đáng quan ngại ở một số khu vực cắt và vắt sổ bằng máy, còn ở các khu vực khác nồng độ bụi nhìn chung không đáng kể, thấp hơn mức cho phép Ngoài ra các yếu tố về hơi khí, nhiệt ẩm trong các cơ sở dệt may nhìn chung không tạo ra tác động lớn đến chất lượng môi trường

- Tình hình triển khai áp dụng và đáp ứng các quy định tiêu chuẩn môi trường quốc tế về sản phẩm thân thiện với môi trường của ngành:

+ Hiện nay việc ban hành và triển khai áp dụng các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường trong ngành dệt may của Việt Nam đã và đang được áp dụng

và từng bước hoàn thiện;

Ngày đăng: 07/09/2015, 14:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp dệt may - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
Bảng 1. Các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp dệt may (Trang 4)
Bảng  3.  Cơ cấu loại hình doanh nghiệp - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
ng 3. Cơ cấu loại hình doanh nghiệp (Trang 11)
Bảng  4.  Doanh nghiệp dệt may phân bổ theo vùng - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
ng 4. Doanh nghiệp dệt may phân bổ theo vùng (Trang 12)
Bảng  8.  Tỷ lệ trình độ giám đốc theo giới tính và theo trình độ chuyên môn - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
ng 8. Tỷ lệ trình độ giám đốc theo giới tính và theo trình độ chuyên môn (Trang 21)
Bảng 9. Tỷ lệ lao động theo giới tính, theo trình độ chuyên môn và theo tính - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
Bảng 9. Tỷ lệ lao động theo giới tính, theo trình độ chuyên môn và theo tính (Trang 22)
Sơ đồ quy trình sản xuất của ngành dệt may: - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
Sơ đồ quy trình sản xuất của ngành dệt may: (Trang 28)
Bảng  10.  Kim ngạch XK hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2001  – 2006 phân - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
ng 10. Kim ngạch XK hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 phân (Trang 33)
Bảng 11. Sản lượng bông trong nước năm 2011 và 2012 - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
Bảng 11. Sản lượng bông trong nước năm 2011 và 2012 (Trang 39)
Bảng 12. Sản lượng bông trong nước theo vùng  Khu vực - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
Bảng 12. Sản lượng bông trong nước theo vùng Khu vực (Trang 40)
Bảng  14.  Giá trị SXCN theo giá thực tế phân theo ngành công nghiệp - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
ng 14. Giá trị SXCN theo giá thực tế phân theo ngành công nghiệp (Trang 41)
Bảng  15.  Cơ cấu SXCN theo giá thực tế phân theo ngành công nghiệp - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
ng 15. Cơ cấu SXCN theo giá thực tế phân theo ngành công nghiệp (Trang 41)
Bảng  16.  So sánh một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp ngành Dệt May so - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
ng 16. So sánh một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp ngành Dệt May so (Trang 42)
Bảng 18. Tỷ lệ giá trị gia tăng so với giá trị sản xuất ngành công nghiệp - Báo cáo đánh giá thực trạng và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may
Bảng 18. Tỷ lệ giá trị gia tăng so với giá trị sản xuất ngành công nghiệp (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w