Mục đích nghiên cứu của đề tài • Nghiên cứu đa dạng thành phàn loài, đặc điểm phân bố và cấu trúc của quần xã Ve giáp Acari: Oribatida ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m và chi
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐAI HOC sư PHAM HÀ NÔI 2
SINH THÁI ĐẤT RỪNG Tự NHIÊN Độ CAO 300M THUỘC VƯỜN
• Chuyênngành: Sinh thái học Mãsố: 60 42 01 20
• • •
• Ngưòi hướng dẫn khoa học: TS ĐàoDuy Trinh
HÀ NỘI,
Trang 2• LỜI CẢM ƠN
• Trong quá trình hoàn thành luận văn Thạc sĩ này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ to lớn và quý báu của các cơ quan tập, thể và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc TS.Đào Duy Trinh, người thầy ngay từ đầu đã định hướng và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi ttong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
• Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ học tập và sự tạo điều kiện tốt nhất của Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, phòng Sau đại học, các Giáo sư, Tiến sĩ và các cán bộ của bộ môn Động vật học của trường ĐHSP Hà Nội 2, nơi mà tôi đang học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng gửi lòi cảm
ơn tới Ban Giám đốc, Ban quản lý, các cán bộ, công nhân viên VQG Cúc Phương, Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong thời gian nghiên cứu Xin gửi lòi cảm ơn tới các e sinh viên thuộc lớp K37, khoa Sinh - KTNN Trường ĐHSP Hà Nội 2 cũng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu mẫu và tách lọc mẫu nghiên cứu
• Cuối cùng, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, vợ, con tôi, Ban giám hiệu cùng các đồng nghiệp nơi tôi công tác đã tạo điều kiện cho tôi
về thời gian cũng như động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn để hoàn thành chương trình học đúng thời hạn
• Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2014 Tác giả luận văn
• Trần Văn Vinh
•
Trang 3• LỜI CAM ĐOAN
• Tôi xin cam đoan rằng, tất cả các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này của tôi đều do tôi nghiên cứu để có được, số liệu hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và chưa được sử dụng để bảo
vệ bất kì một luận văn nào
• Tôi xin cam đoan mọi thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều chính xác và được chỉ rõ nguồn gốc.Mọi sự giúp đỡ, tạo điều kiện cho việc thực hiện luận văn đều được cảm ơn
• Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2014 Tác giả luận văn
• Trần Văn Vinh
Trang 4• Si • Số lượng loài theo tầng phân bố
• s • Số lượng loài chung của hai tàng đất
• ĐHSP • Đại học sư phạm
Trang 5• MỞ ĐẦU
1 Lí do chon đề tài
• Đất là tài nguyên vô cùng quý giá có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và các sinh vật khác Đồng thòi, môi trường đất là một hệ sinh thái vô cùng phức tạp nhưng lại vô cùng phong phú do có hệ vi sinh vật đất phong phú và đa dạng mà đáng kể là nhóm Ve giáp (Acari: Oribatida) Nhóm chân khớp bé này có vai trò quan trọng trong việc góp phàn nâng cao độ phì nhiêu của đất và có tác dụng cải tạo đất Do đó, nhóm chân khớp bé này có ảnh hưởng đến tính chất và hoạt tính của đất
• Nhóm chân khớp này số lượng cá thể da dạng và phong phú, đặc biệt là
ở trong đất rừng, thảm lá mục hoặc lớp rêu có trên thân cây hoặc gỗ mục, cho nên dễ thu lượm ở tất cả các thời điểm trong năm, dễ nhận dạng nhưng lại rất nhạy cảm với những biến đổi của điều kiện môi trường (Vũ Quang Mạnh, 2007) [5] Vì vậy rất thuận lợi cho việc thu mẫu ngoài tự nhiên
• Vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng nguyên sinh đặc dụng với hệ thống động thực vật đa dạng và phong phú mang đặc trưng của rừng mưa nhiệt đới.Do đó Vườn quốc gia Cúc Phương đã thu hút được một lượng lớn các công trình nghiên cứu khoa học đối với toàn bộ hệ thống vi sinh vật của Vườn Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách liên tục về nhóm sinh vật nhỏ bé này và vai trò của chúng ở trong đất Vì tất cả những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Cấu trúc quần xã Ve Giáp (Acari: Oribatỉda) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương”
2 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ỷ nghĩa khoa học
• Đề tài bổ sung thành phàn loài và cấu trúc Oribatida ở VQG Cúc Phương, cung cấp thông tin cơ bản về các giá trị định lượng ở các môi trường sống khác nhau
5
Trang 6• Đề tài cung cấp thêm bằng chứng về tính đa dạng sinh học của Oribatida
ở VQG Cúc Phương Bổ sung cho VQG Cúc Phương nhiều dẫn liệu mới về nguồn tài nguyên động vật đa dạng và phong phú
• Xác định số lượng, thành phần loài Oribatida ở các môi trường thảm mục, rêu trên các thân cây gỗ, trong đất ở các độ sâu khác nhau ở đai cao khí hậu 300m thuộc VQG Cúc Phương
2.2 Ỷ nghĩa thực tiễn
• Luận văn sẽ góp phần đưa ra những đánh giá về mức độ đa dạng thành phần loài và số lượng loài Oribatida, đánh giá về sự khác biệt về số lượng, thành phần các loài ở các môi trường khác nhau Từ đó đưa ra được những dự đoán về ảnh hưởng từ các hoạt động của con người có tác động nhiều hay ít đến môi trường đất cũng như là đến sự đa dạng trong thành phần loài của Oribatida
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
• Nghiên cứu đa dạng thành phàn loài, đặc điểm phân bố và cấu trúc của quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m và chiều sâu thẳng đứng ttong hệ sinh thái đất rừng tự nhiên ở VQG Cúc Phương
4 Nhiệm yụ nghiên cứu của đề tài
• Lập danh sách các Oribatida và phân bố của chúng sống trong đất tại thời điểm nghiên cứu, thảm lá vụn, rêu thuộc hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độ cao 300m, và chiều sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất rừng tự nhiên ở VQG Cúc Phương
• Phân tích cấu trúc quần xã Oribatida về đặc điểm phân bố, mật độ quần thể, đa dạng thành phần loài, chỉ số đa dạng loài (H’), chỉ số đồng đều (J’) ở đai cao khí hậu 300m thuộc VQG Cúc Phương Từ đó phát hiện nhóm loài Oribatida ưu thế, phổ biến ở điểm nghiên cứu
6
Trang 7• Bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị của các loài Oribatida bằng việc phân tích sự có mặt của các loài Oribatida tại điểm lấy mẫu thông qua việcphân tích
sự thay đổi các giá trị định lượng cơ bản của quần xã Oribatida
5 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
• Các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét (Acari), lớp Hình Nhện (Arachnida), phân ngành chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành chân khớp (Arthropoda), của lớp động yật (Animalia) ở độ cao 300m VQG Cúc Phương
5.2 Phạm vỉ nghiên cứu
• Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần
xã Oribatida, được thực hiện ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên, đai cao 300m thuộc VQG Cúc Phương
• Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
• Bộ Ve giáp (Acari: Oribatida) bao gồm những nhóm ve bét đa dạng và phong phú Ngoài tự nhiên chúng sống chủ yếu trong môi trường đất và các môi trường sống liên quan vói hệ sinh thái đất, như thảm lá rừng và xác vụn thực vật, trên thân cây hay dưới yỏ cây gỗ, lớp thảm rêu bám trên thân cây, đất ừeo ừên cành cây, trong tán cây xanh (Vũ Quang Mạnh, 2007)[5]
1.2 Lịch sử nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatìda trên thế giới
1.2.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài Oribatida Khu hệ Oribatida được nghiên cứu từ rất sớm và diễn ra ở hàu hết các nước có nền khoa học phát triển như Đức, Pháp, Ý, Nga, Mặc dù có rất nhiều công trình và dẫn liệu về sự đa dạng và phong phú của khu hệ động vật đất này, tuy nhiên theo Behan- Pelletier et al, 1999[25] thì số loài thực tế hiện biết chỉ chiếm khoảng l Á số loài
có trong thực tế
• Trong những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về Oribatida diễn
ra mạnh mẽ và có nhiều kết quả của các tác giả được công bố, trong đó một
7
Trang 8chuyên gia Oribatidda người Thụy Sĩ đã tổng hợp và công bố bản danh mục các loài Oribatida đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh sách gồm 543 loài Oribatìda thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng Oribatida đã được thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc Trung Mỹ như: Cu
Ba (225 loài), Antiles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài), (Schatz, 2002) [31] Hiện tại 498 loài còn ở dạng sp, cf số lượng loài Oribatìda của Trung Mỹ, bao gồm cả Mehico là 987 loài, nếu cộng cả thêm Antiles nữa, con số này là 1238 loài (Schatz, 2002)[31]
1.2.1.2 Nghiên cứu về cẩu trúc quần xã Orỉbatỉda Độ dốc theo đai cao của hệ thống núi tự nó có thể được xem là những thí nghiệm thực địa mang tính tự nhiên Những nghiên cứu thực địa theo một tuyến chạy dọc từ chân núi lên đỉnh núi là rất cần thiết để hiểu thêm về sự thay đổi khí hậu toàn càu trong quá khứ và dự đoán sự thay đổi đó ừong tương lai Khí hậu là nhân tố chính kiểm soát những kiểu cấu trúc thực yật, năng suất thành phần loài động, thực vật toàn càu (Shen Jing et ai, 2005)[30]
• Va’squez et al, 2007 khi nghiên cứu đa dạng của các nhóm Ve bét (Acari: Prostigmata, Mesotigmata, Astigmata) sống trong đất ở 2 sinh cảnh đất cây bụi và đất rừng rụng lá theo mùa ở Nam Mỹ có nhận xét: Ve bét sống ở đất rừng rụng lá theo mùa có các giá tri của chỉ số định lượng số lượng loài, chỉ số
đa dạng loài H’, chỉ số đồng đều J’ (S=43; H’=2,67; J’= 0,69) đều cao hơn so với đất cây bụi (S=36, H’= 2,12, J’= 0,52) (Va’squez et ai, 2007)[28]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam
1.2.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài Orỉbatỉda Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về Ve giáp ở Việt Nam còn chưa được chuyên sâu và đồng bộ Năm 1960, làn đầu tiên hai tác giả người Hungari là balogh J và Mahunka s nghiên cứu và giói thiệu khu hệ, danh pháp và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp trong công trình “New orìbatids from Viet Nam”. Trong đó mô tả 29 loài và
4 giống mói, tiếp theo là những nghiên cứu của tác giả Tiệp Khắc [26]
• Sau năm 1975, Ve giáp Việt Nam mới được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu sâu và có hệ thống, theonhững tiêu chí cụ thể Các công trình
8
Trang 9của các tác giả như công trình của Golosova (1983, 1986), Mahunka (1987; 1988; 1989), các công trình của hai tác giả người Nhật, Tiếp sau đó là các công trình của các tác giả nước ngoài cộng tác với các tác giả Việt Nam như công trình của Vũ Quang Mạnh, M Jeleva, I Tsonev (1987) nghiên cứu về Ve giáp bậc thấp ở miền bắc Việt Nam; Vũ Quang Mạnh và I Tsonev (1987) đã đưa ra được thành phàn loài Oribatida ở khu yực nghiên cứu (Tsonev I et al.,
1987; Vũ Quang Mạnh và cs., 1985, 1987 )[7]
• Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva (1987) đã giới thiệu đặc điểm phân bố và danh pháp phân loại học của 11 loài Ve giáp mới cho khu hệ Ve giáp của Việt Nam và một loài mới cho khoa học (Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva, 1987)[7]
• Đến năm 1977, các tác giả ừong nước bắt đàu có các nghiên cứu độc lập
về Ve giáp, tác giả đi tiên phong trong việc nghiên cứu về đối tượng này là tác giả Vũ Quang Mạnh về nhóm chân khớp bé ở các vùng sinh cảnh khác nhau trên toàn lãnh thổ Việt Nam
• Năm 1990, Vũ Quang Mạnh và Cao Văn Thuật đã xác định được 24 loài Oribatida ở vùng đồi núi Đông Bắc Việt Nam khi tiến hành nghiên cứu định lượng của nhóm chân khớp bé ở 7 kiểu sinh thái, 5 độ cao khí hậu và 3 loại đất Theo hai tác giả, trong nhóm chân khớp bé thì Oribatida luôn là nhóm có số lượng lớn hơn so với các nhóm khác (khoảng 70 - 80%) tổng số lượng, còn lại khoảng 10% là nhóm Bọ nhảy (Collembola) (Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật, 1990) [8]
• Vương Thị Hòa, Vũ Quang Mạnh, 1995 đã lập danh sách 146 loài và phân loại Oribatida ở Việt Nam và phân tích đặc điểm thành phần loài của chúng (Vương Thị Hòa, Vũ Quang Mạnh, 1995) [9]
• Năm 2002, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đã đưa ra dẫn liệu bổ sung về vai trò, cấu trúc của quần xã Oribatida ở vùng Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Có nhận xét cấu trúc quần xã Oribatida ở hệ sinh thái đất có liên quan rõ rệt với sự suy giảm của cây gỗ rừng Nó có thể được xem xét, đánh giá như một đặc điểm sinh học, chỉ thị diễn thế của rừng Tam Đảo nói riêng y à của Việt Nam nói chung Mặt khác có sự thay đổi đặc điểm đa dạng thành phần
9
Trang 10loài của quàn xã Oribatida theo chiều thẳng đứng, từ thảm rêu quanh thân cây
và vụn thực yật, nằm trên mặt đất từ 0 - 100cm, cho đến lớp thảm lá rừng phủ trên mặt đất, lớp mặt đất từ 0- 10cm và lớp đất âu từ 11- 20cm ở hệ sinh thái rừng Tam Đảo Chỉ số này có thể xem như là yếu tố chỉ thị sinh học diễn thế ở
hệ sinh thái rừng Việt Nam (Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa, 2002) [10]
• Năm 2006, Vũ Quang Mạnh và Đào Duy Trinh công bố 30 loài Oribatida được phát hiện ở Vườn Quốc Gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ Công bố Oribatida họ Oppidae Grandjean, 1954; phân họ Oppinidae Grandjean, 1951
và Mulltioppiinae Balogh, 1938 ở Việt Nam (Vũ Quang Mạnh và cs., 2006) [15], tiếp tục nghiên cứu và giói thiệu các phân họ Pulchroppiinae, Oppielinae, Mystrppiinae, Brachyoppiinae, Arcoppiinae ở Việt Nam (Vũ Quang Mạnh, Lê Thị Quyên, Đào Duy Trinh, 2006)[15]
• Năm 2008, các tác giả Vũ Quang Mạnh, Lưu Thanh Ngọc, Nguyễn Hải Tiến, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Ve giáp trong đó có Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng Trong báo cáo tại Hội Nghị Techmart tại Tây Nguyên vào tháng 4/2008, trong công trình này các tác giả đã trình bày về vai trò của động vật đất trong đó có Oribatida như là yếu tố chỉ thị cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất [13], [14], [16]
• Năm 2010, Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu và Vũ Quang Mạnh đã nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và địa động vật khu hệ Oribatida ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Đã ghi nhận được 103 loài Oribatida thuộc 48 giống 28 họ phân bố trong 5 sinh cảnh của VQG Xuân Sơn, Phú Thọ số loài được phân bố đều ở các giống và các họ Đồng thời đã chỉ ra được đặc điểm địa động vật khu hệ Oribatida VQG Xuân Sơn, Phú Thọ thể hiện rõ yếu tố Ấn Độ - Mã Lai (chiếm khoảng 71,77%) (Đào Duy Trinh và cs, 2010)[17]
• Năm 2012, Nguyễn Duy Bình, Tràn Thùy Linh và cs đã nghiên cứu sự biến động thành phàn loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp
1
Trang 11• Thụy Vân và vùng phụ cận, thành phố Việt Trì đã chỉ ra được sự biến động thành phần loài Ve giáp dưới tác động của các nhân tố ô nhiễm đất bỏi các chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ, chất phóng xạ kim loại nặng (Nguyễn Duy Bình và cs, 2012)[1].
• Cũng trong năm 2012, tác giả Triệu Thị Hường và cs., nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp tại khu công nghiệp Bình Xuyên và vùng phụ cận thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ ra được sự biến động thành phần loài Oribatida ở các sinh cảnh khác nhau đó là KCN, VQN, Ruộng Kết quả ghi nhận được 38 loài trong đó có 2 loài chưa được định tên [2]
• Năm 2013, Đào Duy Trinh, Nông Thị Kiều Hoa, Trần Văn Vinh nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của môi trường khu công nghiệp Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc đến sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) so với vùng phụ cận thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã ghi nhận sự có mặt của 39 loài thuộc 18 họ và 29 giống trong đó sinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loài nhiều nhất, có 3 loài xuất hiện ở cả 3 sinh cảnh [20]
• Năm 2014, nhóm tác giả Đào Duy Trinh và cs., nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở khu công nghiệp Phúc Yên và vùng phụ cận thuộc thị xã Phúc Yên, tinh Vĩnh Phúc đã chỉ ra được sự biến động số lượng loài Oribatida ở các sinh cảnh khác nhau và có sự chênh lệch nhau khá rõ rệt giữa các sinh cảnh khu công nghiệp (29 loài), vườn quanh nhà (12 loài), ruộng (10 loài) [21]
1.2.2.2 Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Orỉbatỉda Năm 2004, nhận định Ve giáp trong cấu trúc quần xã Oribatida trong hệ sinh thái rừng VQG Ba Vì, Việt Nam cũng đã xác định được mối liên hệ giữa đai cao khí hậu ảnh hưởng tới cấu trúc quần xã Oribatida Mật độ quần thể Ve bét ở các sinh cảnh như rừng
tự nhiên và rừng nhân tác tương ứng gặp 3090 và 2200 cá thể/m2 mặt đất là nhỏ hơn so với sinh cảnh nhân tác, như đất, trảng cỏ cây bụi và đất canh tác, tương ứng gặp 8247 và 7580 cá thể/m2 (Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, Khiếu Thị Nhàn, 2005) [12]
1
Trang 12• Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve Giáp trong cấu trúc nhóm chân khớp bé (Microathropoda) ở các đai cao địa lý ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Kết quả cho thấy ảnh hưởng của thời tiết lên sự phân bố của nhóm chân khớp bé theo tàng là rất cao và phát hiện được 8 họ (Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006) [15].
• Năm 2008, tác giả Vũ Quang Mạnh và cs., đã nghiên cứu cấu trúc quần
xã chân khớp bé trong đó có Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng ở vùng đồng bằng Sông Hồng Thành phàn loài Oribatida xác định được phong phú nhất ở sinh cảnh bãi cỏ hoang với 15 loài, số lượng loài Oribatìda giảm dàn từ sinh cảnh rừng tự nhiên
và vườn quanh nhà, đều có 9 loài; đến rừng tự nhiên và đất trồng cây gỗ lâu năm, với 7 loài; thấp nhất ở mộng lúa cạn, với 2 loài (Vũ Quang Mạnh và cs., 2008) [14]
• Năm 2012, Đào Duy Trinh và cs., đã nghiên cứu cấu trúc quàn xã Oribatida theo mùa ở hệ sinh thái đất rừng VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Kết quả nghiên cứu của công trình này cho thấy, khi chuyển từ mùa khô sang mùa mưa thì các giá trị số lượng loài ở các sinh cảnh khác nhau đều có sự thay đổi
rõ rệt ở hầu như tất cả các chỉ số như số lượng loài, mật độ trung bình, độ đa dạng loài (H’), độ đồng đều (J’) (Đào Duy Trinh và cs., 2012) [17]
• Năm 2013, Đào Duy Trinh và cs., nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng môi trường ở khu công nghiệp Phúc Yên, Vĩnh Phúc đến sự biến động thành phần loài Ve giáp so với phụ cận thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã phát hiện được 39 loài Ve Giáp thuộc 18 họ và 29 giống Trong đó sinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loài nhiều nhất và thấp nhất là ở sinh cảnh đồng mộng Qua kết quả này cho thấy rằng, số loài giảm dần theo độ sâu tầng đất và xác định được nhiều loài ưu thế(Đào Duy Trinh và cs., 2013) [20]
1.2.1.3 Nghiên cứu về vai trò chỉ thị của quần xã Orìbatida
• Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai tò chỉ thị sinh học của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất, chỉ thị cho tác động của
1
Trang 13thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học, sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, hay cho môi trường đô thị (Đào Duy Trinh, 2010) [18].
• Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước và quốc tế đang hướng sự chú ý nghiên cứu của mình trong việc nghiên cứu vai trò của nhóm sinh vật này đối với môi trường đất.Bằng việc phân tích các chỉ số định lượng cơ bản của quàn xã Oribatida về số lượng loài, mật độ trung bình (MĐTB), chỉ số đa dạng loài, chỉ số đồng đều.Để từ đó đánh giá về sự có mặt của chúng trong sinh cảnh nghiên cứu và chúng là chỉ thị cho loại tác nhân nào Gần đây nhất có công trình nghiên cứu của tác giả Đào Duy Trinh, Tạ Mạnh Cường (2014), “Nghiên cứu vai trò chỉ thị của Bộ Oribatida ở đai cao trên 700m vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc” Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận sự có mặt của 12 loài ưu thế trong các tầng sâu của hệ sinh thái đất, trong
đó có 5 loài ưu thế cho cả hai đai cao trên 700m mà nhóm tác giả đã nghiên cứu (Đào Duy Trinh và cs, 2014) [21]
• Chương 2
• ĐỊA ĐIẺM, THỜI GIAN, ĐẶC ĐIỂM Tự NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu Mẩu vật nghiên cứu được điều tra, thu thập tại VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao
300m
1
Trang 14• Hình 2.1.VỊ trí Vườn quốc gia Cức Phirtmg trên bản đề Việt Nam
• (Nguồn: Internet)
1
•
Trang 162.1.2 Thời gian nghiên cứu, khảo sát và thu mẫu ngoài thực địa
• Chúng tôi tiến hành khảo sát và điều tra cấu trúc quần xã Oribatida vào tháng 5 và tháng 11 năm 2013, tiến hành lấy mẫu 2 đợt tại sinh cảnh đất rừng tự nhiên, độ cao 300m, thuộc VQG Cúc Phương
• Trong đó: l.Ngày 18 - 19/5/2013 với số lượng 24 mẫu
2 Ngày 9 - 10/11/2013 với số lượng 24 mẫu
• Tổng số mẫu nghiên cứu được thu trình bày chi tiết ở bảng 2.1
• Bảng 2.1 Sổ lượng mẫu thu ở đai cao 300m, sinh
cảnh đất rừng tự nhiên tại VQG Cúc Phương
•
- Phân tích trong phòng thí nghiệm: từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2013 Từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014 xử lý số liệu và hoàn thành luận văn
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: Hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật cỡ (5x5xl0)cm, túi nilon đựng mẫu, bút dạ không xóa, sổ ghi chép, máy xác định tọa độ địa lý GPS
- Trong phòng thí nghiệm: Hệ thống lọc mẫu đất (rây lọc, phễu lọc, ); dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêu bản (đĩa petri, lam kính, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm, bông, ) và kính lúp, kính hiển vi 40x/0,65
Trang 17- Hóa chất sử dụng: Glixeron, Formandehid, cồn 90°.
2.3 Đặc điểm tự nhiên VQG Cúc Phưong (Nguồn: Ban quản lỉ VQG Cúc
- Phía Đông Nam và phía Nam được giới hạn bởi các xã Yên Quang, Văn Phương,
Kỳ Phú, Cúc Phương huyện Nho Quan
2.3.1.2 Địa hình
• Địa hình Cúc Phương chủ yếu là núi đá vôi có độ chênh cao trung bình so với mặt biển 400 - 450m, cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc
và thấp dần về hai phía Tây Nam và Đông Nam Cúc Phương có 3 dạng địa hình
chính liên quan đến hai loại sản phẩm cấu tạo đất chủ yếu vói các loại đá mẹ khác nhau
2.3.1.3 Thổ nhưỡng
• Nền địa chất của Cúc phương là một phàn đất cổ có lịch sử cấu tạo địa chất và hình thành địa hình tương đối lâu đời Do đó, đất ở Cúc phương có 2 nhóm đất chính và có những đặc điểm sau:
- Đất có hàm lượng sét tương đối thấp
Trang 18- Đất có độ ẩm tự nhiên tương đối cao, thường đạt tới 30- 50%, ít có tầng dưới 20% đối với tất cả các loại đất.
- Đất có độ xốp rất tốt, thường đạt đến 60 - 65%, có khi đạt tới 70 - 80%, thấp nhất cũng không dưới 5%
- Đất có hàm lượng mùn lớn không kể trên cao hay dưới thấp
- Đất có khả năng hấp thụ
2.3.2 Khí hậu và thủy vãn
• Khí hậu Cúc Phương nhìn chung vẫn mang những đặc điểm của miền khí hậu miền bắc Việt Nam là có hai mùa mưa và khô rõ rệt Tuy vậy, vẫn có những đặc điểm riêng của địa phương
• Cúc Phương có nhiệt độ trung bình thấp, mùa đông dài và lạnh hơn, mùa
hè ngắn và mát hơn vùng xung quanh
• Cúc Phương có lượng mưa dài hơn và lượng mưa lớn hơn các vùng xung quanh Lượng mưa bình quân ở đây dao động 1700 - 2200 ĨĨUĨ1 Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng tò tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 89,1% lượng mưa cả năm, nhiệt độ trung bình trong mùa nóng 26,4°c Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ bình quân trong mùa khô lạnh là 18,6°c
và lượng mưa chiếm 10,9% lượng mưa cả năm Mưa ít cùng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông
• Độ ẩm bình quân hàng năm khá cao
2.3.4 Tài nguyên đông vât và thưc vât
• O f t ' « O l • I
2.3.4.1 Tài nguyên thực vật
• Đen thời điểm hiện nay, thực vật bậc cao ở Cúc Phương đã thống kê được khoảng trên 2427 loài thuộc 1007 chi, 223 họ Trong đó, ngành Rêu 125 loài; Ngành Quyết lá thông 1 loài; Ngành thông đất 9 loài; Ngành Mộc Tặc 1 loài; Ngành Dương xỉ 155 loài; Ngành hạt trần 7 loài; ngành hạt kín 2139 loài
2.3.4.2 Tài nguyên động vật
Trang 19• Cho đến nay, VQG Cúc Phương đã thống kê được sự có mặt của hệ động vật ở Cúc Phương có một số điểm như sau.
- Khu hệ Thú: 136 loài thuộc 28 họ, 8 bộ
- Khu hệ chim: 336 loài chim thuộc 187 giống, 55 họ và 17 bộ
- Khu hệ bò sát: có 76 loài thuộc 52 giống, 15 họ, 2 bộ
- Khu hệ cá: Hiện nay ở Cúc Phương đã thống kê được 66 loài thuộc 48 giống, 16 họ và 7 bộ
2.3.5 Đăc điểm dân sinh và sản xuất kinh tế•
•
2.3.5.1 Đặc điểm dân sinh
• VQG Cúc Phương nằm ữong diện tích của 13 xã gồm hai dân tộc sinh sống chủ yếu, dân tộc Mường chiếm 76,6%, còn lại là dân tộc Kinh chiếm 23,4%
• Theo số liệu điều tra gần đây nhất, tổng nhân khẩu trong các xã thuộc vùng đệm VQG Cúc Phương là 74 118 người với 17 028 hộ gia đình Trong đó
có cả dân cư đang sinh sống tại 8 bản trong VQG là 2422 người với 481 hộ gia đình
2.3.5.2 Đặc điểm sản xuất kinh tể
• Theo số liệu thống kê gàn đây, tại khu vực vùng đệm của VQG Cúc Phương thì người dân sinh sống ở đây chủ yếu là làm lâm nghiệp, chiếm 54,7% còn lại là làm nông nghiệp Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Xác định thành phần loài
2.4.1.1 Thu mẫu rêu, thảm lá, đất
• Ở VQG Cúc Phương, chúng tôi tiến hành thu mẫu tầng đất, tầng rêu và thảm lá Mau đất được lấy ở độ sâu 0 -10cm (Ai) và tầng 10- 20cm (tầng A2) với kích thước mỗi mẫu thu là (5x5x10)cm Đối với thảm lá rừng phủ trên mặt đất chúng tôi tiến hành gom tất cả lá mục, cành cây, xác hữu cơ phủ trên mặt đất diện tích (20x20)cm Đối với các mẫu thảm rêu mẫu định lượng là 300g rêu bám ữên
Trang 20thân cây gỗ rừng, xác vụn thực vật trên mặt đất nằm ở độ cao từ 0 -10cm trên mặt đất Các mẫu này đều cân trọng lượng và tính trung bình theo kg.
2.4.1.2 Tách lọc mẫu Oribatida theo phương pháp phễu lọc “Berlese-
Tullgren ”
• Theo nội dung và yêu cầu của phương pháp này, các dụng cụ cần thiết phải sử dụng bao gồm có phễu thủy tinh có đường kính miệng là 18cm, đường kính vòi là l,5cm và rây lọc Bộ phễu được đặt trên giá gỗ hoặc giá tre, vòi phễu gắn vói ống nghiệm bên trong có sẵn dung dịch Forrmandehid 4%, bên trong có nhãn ghi các thông tin về mẫu như thời gian đặt mẫu, tên mẫu, địa điểm, tầng đất
và tên người lấy mẫu Rây lọc hình trụ đặt trên phễu, thành cái rây lọc bằng kim loại, đường kính 15cm, cao 4cm, lưới lọc bằng nilon, kích thước mắt lưới bằng 2mm [4]
• Sử dụng phương pháp truyền thống của Krivolutsky, 1975 trong việc nghiên cứu khu hệ và sinh thái động vật đất ở thực địa và trong phòng thí nghiệm[31]
• Các mẫu sau khi được thu ngoài thực địa sẽ tiếp tục được tiến hành tách động vật chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc “Berlese- Tullgren”, dựa vào tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động vật đất, trong thời gian 7 ngày, đêm, ở điều kện nhiệt độ phòng thí nghiệm
• Xử lý mẫu, bảo quản và định loại: các ống nghiệm chứa động vật đất thu được nhờ hệ thống phễu “Berlese- Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn ừên đĩa petri để dưói kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatìda Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa dung dịch Formandehid 4% Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghi đầy đủ thông tin ngày lấy mẫu, địa điểm Toàn bộ tiêu bản định loại và các mẫu vật được bảo quản tại phòng Động yật, khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
• Đặc điểm hình thái phân loại Ve giáp
Trang 21• Hình 2.3.SƠ đồ cấu trúc cơ thể Oribatida (Vũ Quang Mạnh, 2007) [5]
• Camerostoma: khoang che đôi kìm và phụ miệng
• Prosoma :phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, III và IV
• Proterosoma: phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước
• Hysterosoma: phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp sinh dục (G)
và 2 đôi chân sau
• Opỉsthosoma: phần thân sau chỉ bao gồm vùng hậu môn - sinh dục
• Prodorsum: tấm giáp đầu ngực;
• Notogaster. tấm giáp lưng
• •Abj, sej, dsej, và disj là các đường nối các phần khác nhau của cơ thể
• Gnathosoma: phần hàm miệng
• Propodosoma: phần thân trước mang đôi chân I và II
• Metapodosoma: phần thân giữa mang đôi chân III và IV
• Podosoma: phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân
• Anogenital region: vùng hậu môn - sinh dục bao gồm giáp hậu môn và giáp sinh dục
•
Trang 22• Hình 2.4.SƠ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quancủa Oribatida
bậc cao(Vũ Quang Manh, 2007) [5] a Mặt lưng, b Mặt bụng, c Mặt
bên
* Ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, Im : Lông rostrum ; tấm lamella.
* le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus.
* Bothridỉum: Gốc của lông sensilus.
* Exa và Exp: Lông trước gốc bothridium và lông sau gốc bothrỉdium.
* Tutorium: Tấm kitin chìa ra nằm dưới và chạy song song vói lamella.
* cuspis: phần đỉnh của tấm lamela chìa lên bề mặt cơ thể
* Prolamela: Phàn tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề mặt cơ thể
* Mentotectum: tấm viền cằm; Pteromorpha: tấm cánh nối vói notogaster; Custodium: tấm kitin nhọn, chạy dài từ pd4 đến pdl; Discidium tấm gốc của custodium chìa
•
Trang 23bên mặt cơ thể, nằm ở phần gốc các chân Aa, AI, A2, A3 và Ah, Al: các đôi vùng lỗ thở mặt lưng và phía bên cơ thể;; ta, te, ti, ms, rì, r2, r3, pỉ, p2, p3, la, Im: Các lông notogaster ở ve giáp bậc cao.
* Aspis: Vùng sau chỏm nhọn rostrum ở nhóm ve giáp bậc thấp dạng ptychoỉd.
* cl, c2, c3, cp, dì, d2, el, e2, fl, f2, hl, h2, h3, psl, ps2, ps3 : Các lông notogaster ở
Ve giáp bậc thấp; gla: Tuyến dầu nhờn; h: Lông dưới miệng; la, lb, lc, và 2a, 3a, 3b, 3c, và 4a, 4b, 4c, 4d: Các lông của epimeres 1, 2, 3 và 4; apỉ, ap2, ap3, ap4, ap5,
ap se]., ap.st.: Các mấu lồi trong apodemes; epl, ep2, ep3, ep 4: Các gân cơ
epimeres của gốc chân; pdl, pd2, pd3, pd4 : Các tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ia, ih, im, ips, iad, ian: Các khe cắt lyriflssures.
* G, AG: Giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: Các lông sinh dục và lông quanh sinh dục
* AN, AD, PA: Giáp hậu môn, giáp quanh và giáp sau hậu môn
* Anl, an2, an3, và adl, ad2, ad3: Các lông hậu môn và lông quanh hậu môn
• Oribatida là nhóm chân khớp có kìm hình nhện (Athropoda: Chelicerata), toàn bộ cơ thể của chúng được bao phủ bởi lớp vỏ kitin dày có màu vàng nhạt hoặc nâu đen, cơ thể thường phồng hình khối và được chia thành hai phàn chính
là phàn đầu ngực và phàn bụng Trên cơ thể mang 6 đôi phần phụ (1 đôi kìm, 1 đôi chân xúc giác pedipalpi và 4 đôi chân bò)
2.4.1.3 Định loại Orỉbatỉda Mau Oribatida trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong vỏ kitin cứng.Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt riêng Oribatida ra một lam kính lõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng Đặt lamen ở bên ttái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm dưới lamen chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển Oribatida vào chỗ lõm dưới lamen để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang kính hiển vi
Trang 24• Sau khi hoàn tất quá trình định loại Oribatida, các cá thể Oribatida được chụp ảnh và các cá thể cùng một loài được cho vào ống nghiệm có đựng sẵn dung dịch Formandehid 4%, sau đó dùng giấy can ghi đày đủ các thông số tên loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước Ghi tất cả tên loài
đã được định loại vào nhật kí phòng thí nghiệm
• Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh p., 1992 [23],[24] Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả: Grandjean, 1954 [32]; Willmann, 1931 [31]; Vũ Quang Mạnh, 2007[5]; Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006 [13], tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã được phân tích, định loại đã được TS Đào Duy Trinh kiểm tra và xác nhận
2.4.2 Đánh giá cấu trúc quần xã Oribatida
• Cấu trúc quần xã Oribatida ở VQG Cúc Phương chúng tôi tiến hành lấy mẫu nghiên cứu, phân tích và đánh giá đối với 4 chỉ số định lượng cơ bản là:
• Số lượng loài; MĐTB; chỉ số đa dạng loài (H’); chỉ số đồng đều (J’) Đồng thời phân tích sự thay đổi các giá trị của 4 chỉ số định lượng này ở sinh cảnh rừng tự nhiên độ cao 300m, theo các thời điểm lấy mẫu trong nămvà theo
độ sâu tầng đất (tầng 0 -10cm, 11- 20cm)
2.4.3 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu
• Để đánh giá được sự đa dạng loài trong quần xã, sự phong phú trong cấu trúc quần xã Oribatida, tôi đã sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và
xử lý số liệu theo Kết hợp với phần mềm Prime - E, 2001 [28], phàn mềm Excell 2003
• Số Lượng loài:
• Số lượng loài được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên cứu ở tất cả các lần thu mẫu
Trang 25• Mật độ trung bình: Được tính bằng số lượng cá thể có ừong lkg đối với mẫu rêu; số lượng cá thể có trên lm2 đổi vói mẫu đất và mẫu lá, sau đó tính trung bình ở tất cả các làn thu mẫu của điểm nghiên cứu.
• Độ Ưu thế (D): tính theo công thức
• Trong đó: na- Số lượng cá thể của loài a
• N- Tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay
• theo địa điểm
• Độ ưu thế được được đánh giá ở 4 mức độ tính theo giá trị %
• Rất ưu thế: > 10.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
• Ưu thế: 5 - 9,99% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
• Ưu thế tiềm tàng: 2 - 4,99.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
• Không ưu thế: < 2.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
• Loài ưu thế là loài có D> 5% (Eromilov and Chistikov, 2007) [27]
• Phân tích chỉ số đa dạng loài (H’)
• i~ V y
• Chỉ số (H’) Shannon - Weaner: Được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng loài trong quàn xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong quần xã
• Trong đó: Iii - là số lượng cá thể của loài thứ i
• N - Tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu
• Giá trị H’ dao động từ 0 đến + 00 Chỉ số Chỉ số này của quần xã phụ thuộc vào số lượng loài và sự phong phú của các loài có trong quần xã
• Phân tích chỉ số đồng đều (J’)
• Trong đó: H’ - chỉ số đa dạng loài
• s - số loài có trong sinh cảnh
Trang 26• Giá trị J’ dao động từ 0 đến 1.
• Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN3.1 Thành phần loài Ve giáp (Acarỉ: Orỉbatỉda) ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên độ cao 300m thuộc VQG Cúc Phương
3.1.1 Thành phần loài và phân bố của quần xã Oribatìda ở sinh cảnh đẩt rừng tự nhiên độ cao 30Om thuộc VQG Cúc Phương
• Nghiên cứu về cấu trúc quàn xã Oribatida ở VQG Cúc Phương, tôi đã tiến hành thu mẫu ở hai tầng đất (tầng Ai: 0- 10cm; tàng A2: 11- 20cm) theo chiều thẳng đứng; tầng thảm lá rừng, xác vụn thực vật phủ trên mặt đất; tầng xác vụn thực vật và thảm rêu trên mặt đất và thân cây thuộc đai cao khí hậu 300m của sinh cảnh đất rừng tự nhiên Trong hai lần thu mẫu tại điểm nghiên cứu (tháng 5 năm 2013 và tháng 11 năm 2013) Ket quả nghiên cứuđã ghi nhận được sự có mặt của 59 loài thuộc 41giống của 30 họ (Bảng З.1.) Trong bảng 3.1 giới thiệu
về thành phần loài và sự phân bố của Oribatida ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên của đai cao 300m của VQG Cúc Phương theo 4 tầng phân bố theo chiều thẳng đứng (Ai: tầng đất tò 0- 10cm; tàng A2: tầng đất từ 11- 20cm; 0: tầng thảm lá rừng, xác vụn thực vật phủ trên mặt đất; +1: tàng xác vụn thực vật và thảm rêu từ 0 -100cm trên mặt đất)
• Thành phần loài Oribatida trong bảng 3.1 được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Vũ Quang Mạnh, 2007[5] và tác giả J Balogh và p Baogh, 1992[25]
• Khi so sánh khu hệ Oribatida ở hai làn lấy mẫu trong năm, thì số loài thu được ở mỗi lần lấy mẫu có sự chênh lệch nhau không đáng kể ở cả 4 tầng phân bố
• Bảng 3.1 Thành phần loài Oribatỉda theo các tầng phân bốở độ cao 300m,
• thuộc VQG Cúc Phưong
Trang 29• Ghi chú:
• X: Loài xuất hiện ở tầng phân bố Ai: Tầng đất 0 - 10cm
Trang 303.1.2 Thành phần phân loại học quần xã oribatỉda ở rừng tự nhiên đai cao 300m, thuộc VQG Cúc phương
• Kết quả bảng 3.1 cho thấy, trong số các họ đã được ghi nhận có một số họ
có số lượng loài và giống tương đối lớn chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số các loài
và các giống đã thu được tại khu vực nghiên cứu Cụ thể:
• Họ Otocepheidae Balogh, 1961 có 3 giống, 8 loài chiếm tỷ lệ cao nhất trong các họ đã thu được (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống, 13.5% tổng số loài đã thu được); Họ Xylobatidae J Balogh et p Balogh, 1984 cũng bao gồm 3 giống nhưng chỉ có 7 loài (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống và 11.86% tổng
số loài); Tiếp theo là Họ Lohamanniidae berlese, 1916 cũng bao gồm 3 giống nhưng chỉ có 5 loài (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống và 8,47% tổng số loài); Họ Scheloribatidae Grandjean, 1953, cũng đã ghi nhận được 3 giống với 4 loài (chiếm tương ứng 7.3% tổng số giống và6.77% tổng số loài); HọCarabodidae C L Koch, 1837; Tectocepheidae Grandjean, 1954; Họ oppiidae Grandjean, 1954 là ba họ đều có 2 giống và 2 loài (chiếm tương ứng 4.8% tổng
số giống và 3.38% tổng số loài); có 4 họ mà mỗ họ chỉ có 1 giống và 2 loài là Họ Euphthiracaridae Jacot, 1930;HọHermaimiidae Sellnick, 1928; Họ Eremobelbidae Balogh, 1961; Họ Nothridae Berlese, 1896 (chiếm tương ứng 3,5% tổng số loài), các họ còn lại chỉ bao gồm 1 giống và 1 loài chiếm số lượng khá cao (19 trên tổng số 30 họ chiếm 63% tổng số họ thu được tại khu vực nghiên cứu)
• Trong số 59 loài mà chúng tôi ghi nhận được qua hai lần thu mẫu tại đai cao 300m ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên thuộc VQG Cúc Phương, có 2 loài mà chúng tôi chưa định loại được tên loài là Cultroribula sp.và Liebstadia sp trên cơ
sở các mẫu yật đã thu được ở vùng đã nghiên cứu, các mẫu vật đã lưu trữ trong phòng thí nghiệm, các bộ sưu tập mẫu vật, các tài liệu và thông tin lưu trữ của
GS TSKH Vũ Quang Mạnh và TS Đào Duy Trinh thì chúng tôi có thể khẳng định rằng hai loài chưa được định tên có thể là loài mới cho khoa học Tuy nhiên
Trang 31trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, do hạn chế về thời gian cũng như các ừang thiết bị hỗ trợ nên chứng tôi chưa định rõ tên của hai loài này Hy vọng trong tương lai không xa thì hai loài này sẽ được định loại một cách cụ thể.
3.1.3 Thành phần loài quần xã Oribatida theo tầng thẳng đứng của sinh cảnh đất rừng tự nhiên ở đai cao 300m, thuộc VQG Cúc Phương
• Bảng 3.1 còn cho chúng ta thấy được sự thay đổi về cấu trúc thành phần loài Oribatida ở các tầng phân bố theo chiều thẳng đứng của khu vực nghiên cứu
ở cả hai lần lấy mẫu: Ai: tầng đất mặt từ 0 -lOcm; A2: tầng đất sâu 11- 20cm; 0: tầng thảm lá, xác vụn thực yật phủ trên mặt đất rừng; +1: tầng xác vụn thực vật
và thảm rêu từ 0 - lOOcm trên mặt đất rừng
• Trong 59 loài ghi nhận ở đai cao 300m, sinh cảnh đất rừng tự nhiên thuộc VQG Cúc Phương, đã xác định được 9 loài xuất hiện ở cả 4 tầng phân bố chiếm tương ứng 14,03%, bao gồm các loài: Archegoietes longisetosus Aoki, 1965 giống
Archeozetes Grandjean, \93\,Nanhermannia thainensis Aoki, 1965 thuộc giống
Nanhermannỉa Berlese, 1913; Cultroribula lata Aoki, 1961 giống Cultrorìbula
Berlese, 1908; Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967 thuộc giống Ceratoppia
Berlese, 1908; Aokiella florens Balogh et Mahunka, 1967 giống Aokỉella Balogh et Mahunka, 1967; Arcoppia longisetosaBalogh, 1982 của giống PulchroppiaSubisLS
et Balogh, 1989; cuối cùng là loài Liebstadia humerata Sellnick, 1928\Allozetes pusillus Berlese, 1910 Có 3 loài xuất hiện ở 3 trong 4 tầng phân bố, bao gồm:
Dolicheremaeus inaequalis Balogh et Mahunka, 1967; Dolicheremaeus lỉneolatus
Balogh et Mahunka, 1967 và Brasilobates maximus Mahunka, 1988 Có 18 loài phân bổ ở hai tầng phân bố, 32 loài còn lại chỉ phân bố ở 1 tầng phân bố
• Ở tầng đất Ai có số lượng loài nhiều nhất là 25 loài qua hai lần lấy mẫu
• Trong đó ghi nhận sự xuất hiện của 10 loài chỉ có mặt ở tầng này là:xy lobates Vermisetaựavacarus kuehnelti; Cultrorỉbula sp; Lohamannỉa javana; Xylobates Gracilis; Ceratoppia crassiseta; Zetochestes Santator; Phylhermannỉa similis;Pulchroppỉa vietnamica;Perxylobates vermiseta.
Trang 32•Có 5 loài được ghi nhận chỉ xuất hiện ở tầng Ả2'Cosmochthonius lanatus; Sphodrocepheus tuberculatus; Acrotocepheus duplỉcomutus; Scapheremaeus foveolatus; Punctorỉbates punctum.
• Có 9 loài chỉ xuất hiện ở tầng thảm lá và xác vụn thực vật phủ trên mặt đất rừng ở cả hai lần lấy mẫu 1 ầ:Eniochthonius mỉnutỉssỉmus Berlese, 1904;
Austrocarabodes szentivanyi (Balogh et Mahunka, 1967; Acrotocepheus triplicomutus Balogh et Mahunka, 1967;Scapheremaeus foveolatus Mahunka, 1987;
Xylobates capucinus (Berlese, 1908y,Xylobateslophotrichus (Brerlese, 1904);Cordiozetes olahi (Mahunka, 1987); Orìpoda excavata Mahunka, 1988
• Ở tầng rêu không ghi nhận loài nào xuất hiện riêng đơn lẻ mà các loài phân bố ở tầng rêu thì phân bố ở cả các tầng còn lại
3.1.4 Bàn luân và nhân xét
• Kết quả nghiên cứu, phân tích và định loại Oribatida ở sinh cảnh đất rừng
tự nhiên, đai cao 300m tại VQG Cúc Phương Qua hai lần thu mẫu trong năm, chứng tôi đã ghi nhận sự có mặt của 59 loài, thuộc 41 giống của 30 họ Trong đó
đã định loại được tên của 57 loài, còn hai loài chưa định loại được tên và để ở dạng sp là Liebstadỉa sp.,Cultroribulasp. (Bảng 3.1.)
• Kết quả nghiên cứu và ghi nhận, thành phàn loài của quàn xã Oribatida ở đai cao 300m, sinh cảnh đất rừng tự nhiên, thuộc VQG Cúc Phương khá đa dạng
và phong phú về số họ, giống cũng như là số loài Trong đó, có nhiều loài thích nghi và phân bố ở cả bốn tầng phân bố và ở cả hai lần lấy mẫu như Archegozetes longisetosus;Nanhermannia thainensis; Cultrorìbula lata; Furcoppia parva;Aokỉella florens; Arcoppia longisetosa; Lỉebstadia humerata; Allozetes pusillus. Còn lại các loài đa số là có mặt ở 3 tầng hoặc hai tầng phân bố, có rất ít loài chỉ xuất hiện ở một tàng phân bố Như vậy, có thể nói rằng ở đai cao 300m, sinh cảnh đất rừng
tự nhiên của VQG Cúc Phương không những phong phú và đa dạng về số loài
mà các loài này còn có sự thích nghi khá tốt với hầu như tất cả các loại môi trường ở các tầng phân bố theo chiều thẳng đứng mà chúng có thể sinh trưởng và
Trang 33phát triển được Đồng thời có thể thấy rằng, số loài tuy không quá lớn so với một
số vùng nghiên cứu khác như ở Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc hay Xuân Sơn, Phú Thọ mà tác giả Vương Thị Hòa, 1996 (63 loài, 39 giống, 25 họ)[2] và Đào Duy Trinh, 2011 (103 loài, 48 giống và 28 họ) [22] nhưng số loài của các giống thuộc các họ đã ghi nhận lại được phân bố đều ở các sinh cảnh, không có sự bủng nổ về
số lượng cá thể hay số loài ở từng tầng nghiên cứu Từ đó có thể thấy rằng công tác quản lý, bảo vệ ở VQG Cúc Phương luôn được sự quan tâm, giữ gìn và bảo
vệ, ít bị tác động của con người cho nên các loài vẫn gần như tự chiếm cứ lấy vùng sống tự nhiên của riêng mình Tuy nhiên, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự
đa dạng và phong phú về số lượng họ, giống và loài ở khu vực nghiên cứu thuộc VQG Cúc Phương, là do VQG Cúc Phương có hệ thống thảm thực vật đa dạng với nhiều kiểu khác nhau như rừng tự nhiên, rừng trồng Đồng thời, nơi đây còn
là khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng nguyên sinh đặc dụng được thành lập từ rất sớm Do đó, nơi đây gần như ít bị tác động của con người cho nên nó vẫn có giá trị cao về mặt sinh học Mặt khác, VQG Cúc Phương vói hệ thống thảm thực vật rừng mưa nhiệt đới che phủ phần lớn diện tích rừng, cho nên tầng đất mặt thường
có tỉ lệ mùn khá cao, tầng rêu ở các thân cây gỗ già hoặc cây gỗ đã chết cũng tương đối dày và phân bố rộng khắp Chính những yếu tố tự nhiên vô cùng thuận lợi như vậy, cho nên đã tạo điều kiện cho các loài Oribatida có sự phân bố
đa dạng về số loài cũng như số lượng mỗi cá thể có trong loài
• Nhìn chung, về cơ bản ở đai cao 300m, sinh cảnh đất rừng tự nhiên thuộc VQG Cúc Phương, số loài phân bố ở 4 tầng có sự chênh lệch nhau không đáng
kể Số loài tập trung nhiều nhất ở tầng lá 0 có 37 loài (chiếm tương ứng 62.71% tổng số loài); tiếp theo là tầng đất Ai có 25 loài (chiếm tương ứng 42.37%); thứ
ba là tầng rêu có 25 loài (chiếm tương ứng 42.37% tổng số loài) và thấp nhất là ở tầng đất A2 có 24 loài và chỉ chiếm tương ứng 40.67% trong tổng số 59 loài được ghi nhận ở khu vực nghiên cứu Như vậy, sự phân bố của oribatida theo độ sâu tầng đất có chiều hướng giảm từ tầng 0 cho đến tầng A2
Trang 34• Cũng từ kết quả ở bảng 3.1 cho thấy sự phân bố của Oribatida tại khu vực nghiên cứu thuộc VQG Cúc Phương là sự tập trung nhiều loài ở tầng thảm lá và xác vụn thực vật, tàng thảm rêu và xác vụn thực vật phù hợp vói quan sát thực địa tại điểm thu mẫu có thảm lá dày, thảm rêu phát triển tốt, có độ ẩm cao, ít chịu
sự tác động của con ngưòi Sự phân bố số lượng loài ở hai tầng sâu của đất là gần như nhau Ở tầng đất mặt (tầng Ai) có số loài nhiều hơn ở tầng đất sâu (tầng A2),
do đó theo nhận định chủ quan của chúng tôi, thì kết quả này phản ánh khá chính xác về sự thích nghi của Oribatida ở các tầng đất khác nhau có điều kiện tự nhiên
và điều kiện sống khác nhau thì khác nhau
cao 300m thuộc VQG Cúc Phương
• Để đánh giá đặc điểm cấu trúc quần xã Oribatida đai cao 300m, sinh cảnh đất rừng tự nhiên, thuộc VQG Cúc Phương, tôi tiến hành phân tích 4 chỉ số định lượng cơ bản của Oribatida đối với 4 chỉ số định lượng cơ bản của Oribatida đối với kết quả của từng thời điểm lấy mẫu trong năm và với từng tầng phân bố Các chỉ số định lựng cụ thể: số lượng loài, mật độ trung bình (số cá thể /m2 đối vói mẫu đất và mẫu lá; số cá thể/kg đối vói mẫu rêu), chỉ số đa dạng loài (H’: chỉ số Shannon-Waever) và chỉ số đồng đều (chỉ số J’: chỉ số Pielou) Đồng thòi phân tích sự thay đổi các giá trị của 4 chỉ số định lượng này ở 4 tàng phân bố và ở mỗi thời điểm thu mẫu Kết quả phân tích các chỉ số này sẽ phản ánh được đặc điểm khu hệ Oribatida của khu vực lấy mẫu như sau:
• Có thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái của môi trường đến cấu trúc định lượng của quần xã Oribatida
• Đánh giá mức độ đa dạng loài của Oribatida ở các tầng phân bố theo chiều thẳng đứng của mỗi lần lấy mẫu và chung của các lần lấy mẫu
• Ket quả phân tích còn phản ánh mức độ thích nghi của các loài trong quàn
xã tương ứng vói sự thay đổi liên tục của điều kiện môi trường
Trang 35• Phản ánh mức độ đồng đều của các quần xã Oribatida ở từng thời điểm và
ở từng tầng phân bố của đai nghiên cứu
• Như vậy, từ kết quả định loại, phân tích ở trên và phân tích mối quan hệ qua lại giữa quàn xã Oribatida với môi trường để chỉ ra được những nét đặc trưng cơ bản của quần xã, quần thể hay cá thể
3.2.1 Đa dạng thành phần loài
• Kết quả ghi nhận về số loài thu được ở 4 tàng phân bố theo chiều thẳng đứng ở sinh cảnh đất rừng tự nhiên ở đai cao 300m, thuộc VQG Cúc Phương qua hai lần thu mẫu có sự chênh lệch nhau không đáng kể (24 loài ở tầng đất sâu A2;
25 loài ở tàng đất mặt Ai; 25 loài ở tầng rêu (tầng +1) và 37 loài ở tầng lá (tầng 0) Trong đó, tầng có số lượng loài nhiều nhất là tầng lá
Trang 36• Đối với mẫu thu vào thời điểm của mùa mưa (5/2013), nhìn chung số lượng các loài Oribatida của lần lấy mẫu này có số lượng loài và giống ít hơn so vói các mẫu được thu vào thời điểm của mùa khô (11 năm 2013) Đồng thời ở các tầng phân bố của sinh cảnh này, số lượng các loài ở mỗi tầng phân bố cũng
có sự chênh lệch Tuy nhiên sự chênh lệch này là không đáng kể Cụ thể như sau: Những mẫu thu vào mùa mưa (ngày 18/5/2013) tầng đất Ai- 19loài; tầng đất A2-
8 loài; Tầng 0- 13 loài; Tầng lá - 14 loài Mùa khô (9/11/2013) tàng đất A2- 13 loài; tàng đất Ai - 13 loài; tàng rêu (+1) - 16 loài; tấng lá (0) - 19 loài
• Bảng 3.2 Một sổ chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatỉda theo tầng
phân bố ở đai cao 300m, VQG Cúc Phương
•
• Số lượng loài theo tàng phân bố
• Số lượng loài theo mùa