Tính cấp thiết của đề tài Nhu cầu đầu tư xây dựng ĐTXD hạ tầng giao thông đô thị GTĐT phục vụ phát triển kinh tế ở thành phố Hà Nội là rất lớn trong khi nguồn lực từ Nhà nước lại khá hạn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
NGÔ THẾ VINH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DựNG
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐÔ THỊ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
MÃ SỐ 62.58.01.06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ
Hà Nội - 2015
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Tố Lăng
TS Nguyễn Thị Bình Minh
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thế Chinh
Phản biện 3: TS Phạm Văn Bộ
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
vào hồi giờ ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu đầu tư xây dựng (ĐTXD) hạ tầng giao thông đô thị (GTĐT) phục vụ phát triển kinh tế ở thành phố Hà Nội là rất lớn trong khi nguồn lực từ Nhà nước lại khá hạn hẹp nên việc hợp tác với Nhà đầu tư tư nhân theo hình thức đối tác công tư (PPP) là xu thế chung mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng Bên cạnh đó, việc quản lý ĐTXD công trình theo hình thức đầu tư truyền thống (ĐTTT) còn tồn tại nhiều bất cập, không chỉ thiếu kinh phí đầu tư xây dựng mà nguồn nhân lực, kỹ năng quản lý, công nghệ và nguồn vốn duy trì vận hành, khai thác công trình còn hạn chế
Thành phố Hà Nội là thủ đô của cả nước, là khu vực có nhu cầu đầu tư xây dựng hệ thống giao thông đô thị phát triển Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, ODA chỉ đáp ứng được khoảng 50% lượng vốn đầu tư cần thiết nên cần phải có giải pháp thu hút nguồn vốn từ khu vực kinh tế tư nhân vào đầu tư xây dựng Do
vậy, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng hình thức đối tác công tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô th ị” là cần thiết
và có ý nghĩa về lý luận, thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, luận án nghiên cứu việc ứng dụng hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư của khu vực kinh
tế tư nhân, nâng cao chất lượng công trình GTĐT trên địa bàn thành phố Hà Nội phù hợp với các giai đoạn phát triển trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công
trình
Trang 4b Phạm vi nghiên cứu: việc ứng dụng hình thức PPP trong quản lý
ĐTXD công trình GTĐT trên địa bàn thành phố Hà Nội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2030
và tầm nhìn đến năm 2050
- Luận án tập trung nghiên cứu công trình cầu bộ hành (một thành phần trong 6 loại hình công trình GTĐT: đường bộ, đường sắt, cầu, hầm, đường thủy và sân bay) nhằm làm sáng tỏ các luận chứng và nội dung nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng 6 phương pháp
nghiên cứu: 1) Phương pháp thống kê; 2) Phương pháp điều tra khảo sát và phỏng vấn; 3) Phương pháp phân tích tổng hợp; 4) Phương pháp đánh giá SWOT; 5) Phương pháp so sánh và đối chiếu; và 6) Phương pháp kế thừa
5 Nội dung nghiên cứu: về hình thức PPP trong quản lý ĐTXD
công trình GTĐT
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Bổ sung phương pháp luận trong việc ứng dụng hình thức PPP vào quản lý ĐTXD công trình GTĐT nhằm khai thác hợp lý và tối
ưu hóa vai trò của các bên liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả đầu
tư Nội dung nghiên cứu gắn liền với nhu cầu cấp thiết hiện nay trong việc thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTXD công trình trên địa bàn thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu
là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, nhà đầu tư, tổ chức
tư vấn và là tài liệu giảng dạy cho các cơ sở đào tạo
7 Những đóng góp khoa học và điểm mới của luận án
- Luận án đã nghiên cứu những đặc điểm của việc hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân, sự khác biệt giữa hình thức đầu tư truyền thống và đầu tư theo hình thức đối tác công tư trên cơ sở tìm hiểu thấu đáo quan niệm quốc tế, từ đó đề xuất được khái niệm tổng quát
Trang 5nhưng hàm chứa đầy đủ và rõ nét những bản chất chính của hình thức đối tác công tư.
- Luận án đã hệ thống hóa được những lý luận trong việc ứng dụng hình thức đối tác công tư trên cơ sở đúc kết thực tiễn về nghiên cứu kinh nghiệm (thành công và thất bại) áp dụng hình thức này trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị của một
số nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có điều kiện kinh tế, xã hội tương đồng với Việt Nam, luận án phân tích được các nguyên nhân dẫn đến áp dụng thành công hình thức đối tác công tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị
- Luận án khảo sát và đánh giá khái quát về môi trường áp dụng hình thức đối tác công tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, từ đó đề xuất những kiến nghị cụ thể để khắc phục những bất cập, tồn tại về điều kiện ứng dụng hình thức này trong thực tế Bên cạnh đó, luận án
đề xuất được 6 quan điểm và 5 nguyên tắc làm cơ sở, nhất quán trong quá trình thực hiện các dự án đối tác công tư
- Luận án đề xuất chi tiết những giải pháp đồng bộ cho việc ứng dụng hình thức đối tác công tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị gắn liền với điều kiện thực tiễn của thành phố
Hà Nội Luận án giải quyết được bài toán thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư, nâng cao chất lượng quản lý công trình giao thông cầu bộ hành trên địa bàn thành phố Hà Nội đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, Nhà đầu tư và cộng đồng xã hội
8 Khái niệm, thuật ngữ về hình thức đối tác công tư
Luận án nghiên cứu và phân tích với 14 khái niệm khác nhau về đối tác công tư của các tổ chức nghiên cứu, các học giả trên thế giới,
từ đó đưa ra được khái niệm tổng quát về hình thức PPP trong quản
lý ĐTXD công trình GTĐT là hình thức Cơ quan nhà nước và Nhà
Trang 6đầu tư tư nhân cùng thực hiện dự án ĐTXD công trình hoặc cung cấp dịch vụ công cho xã hội thông qua các cam kết, ràng buộc bằng hợp đồng dự án Trong đó các bên được coi là đối tác, có vai trò bình đẳng, cùng đóng góp những ưu điểm/thế mạnh của mình nhằm thực hiện mục tiêu chung với hiệu quả cao nhất.
9 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 3 chương nghiên cứu chính, và Phần Mở đầu, Kết luận, Kiến nghị cùng các phụ lục nghiên cứu, tài liệu tham khảo và công trình nghiên cứu trong quá trình học tập
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG
TƯ TRONG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DựNG CÔNG TRÌNH 1.1 Giới thiệu về hình thức đối tác công tư
1.1.1 Nguồn gốc của đối tác công tư
Vào khoảng năm 63 trước công nguyên, Hoàng đế Caesar Augustus thuộc Đế chế La Mã đã hợp tác với bộ tộc Salassi trongviệc quản lý tuyến đường đèo Saint Bernhard theo hình thức PPP[67] Thuật ngữ “PPP” xuất hiện lần đầu tiên tại Hoa Kỳ từ những năm 1950 trong lĩnh vực giáo dục [75, 80] Sau đó “PPP” dần được phổ biến ở nhiều nước trong
hoặc toàn bộ công việc từ
Nhà nước sang đối tác Tư
lĩnh vực hạ tầng đô thị
Hình 1.2: Sự khác nhau giữa ĐTTT và PPP
Trang 7nhân trong khi Nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu, vẫn đảm bảo chất lượng, hiệu quả khai thác, sử dụng công trình, dịch vụ công cho xã hội (hình 1.2).
1.2 Tình hình áp dụng hình thức đối tác công tư trên thế giới
Luận án nghiên cứu việc áp dụng hình thức PPP của 8 nước trên thế giới: Mỹ, Canada, Anh, Hà Lan, Trung Quốc, Ản độ, Malaysia,
và Nam Phi Luận án phân tích, đánh giá về bộ máy QLNN, văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), hình thức PPP, các lĩnh vực áp dụng PPP, của từng nước, phân tích nguyên nhân thành công cũng như thất bại trong việc ứng dụng hình thức PPP và có so sánh với điều kiện ở Hà Nội, Việt Nam hiện nay
1.3 Thực trạng quản lý ĐTXD công trình GTĐT tại Hà Nội
1.3.1 Khái quát về thành p h ố H à Nội: luận án giới thiệu về vị trí
địa lý, đặc điểm và tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng và nhu cầu ĐTXD cơ sở hạ tầng GTĐT của thành phố Hà Nội
1.3.2 Tình hình quản lý ĐTXD công trình GTĐT
1.3.2.1, về hình thức đầu tư xây dựng công trình
Trên địa bàn thành phố Hà Nội có 61 dự án đầu tư có sự tham gia của Nhà ĐTTN theo hình thức hợp đồng BOT, BT Các dự án này đã
và đang được triển khai với tổng vốn đầu tư (VĐT) khoảng 155.806
tỷ đồng, trong đó 32 DA đã lựa chọn được Nhà đầu tư (VĐT 51.318
Trang 8hay BTO hiện nay đều chưa phải là dự án PPP do chưa phản ánh đúng bản chất hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân [18].
1.3.2.2 Về vốn đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị
Trong những năm gần đây, thành phố Hà Nội đã tập trung sửdụng các nguồn vốn khác nhau để ĐTXD các công trình GTĐT, như vốn ODA, vốn ngân sách thành phố, Trong giai đoạn 2008^2013, thành phố đã đầu tư 41.677 tỷ đồng cho lĩnh vực GTĐT, chiếm 36% tổng chi đầu tư phát triển và 11,5% tổng chi ngân sách nhà nước [14] Dự kiến trong giai đoạn 2015^2030, nhu cầu VĐT xây dựng hạ tầng giao thông của thành phố Hà Nội dự kiến là 918.224 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực đường giao thông cần 442.171 tỷ đồng (48,1%), đường sắt cần 433.580 tỷ đồng (47,2%) [4], [5]
Trong khi đó, nguyên nhân 41 dự án trọng điểm của thành phố bị chậm tiến độ đề ra là do thiếu vốn Tổng nhu cầu vốn của 41 dự án trọng điểm giai đoạn 2011-2015 là khoảng 164.000 tỷ đồng, nhưng trong năm 2012, Nhà nước và Thành phố mới bố trí được 2.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 2% nhu cầu vốn đầu tư xây dựng [87] Điều đó cho thấy áp lực về vốn ĐTXD trên địa bàn thành phố Hà Nội rất lớn, trong khi Chính phủ lại đang có chủ trương cắt giảm đầu tư công
1.3.2.3 về quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị
Nội dung quản lý ĐTXD các công trình GTĐT trên địa bànthành phố Hà Nội được phân cấp theo quy mô, đặc điểm, tính chất công trình, nguồn vốn nhà nước do các chủ thể quản lý (Bộ GTVT, UBND thành phố, Sở chuyên ngành, UBND Quận huyện, .) thực hiện và chia thành 2 giai đoạn: đầu tư xây dựng và quản lý vận hành Nội dung quản lý ĐTXD được quy định tại Nghị định 12/2009/NĐ-
CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Nội dung quản lý vận hành được quy định tại Nghị định số 130/2013/NĐ-CP về sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích Ví dụ, đầu tư xây dựng
Trang 9tuyến đường giao thông đô thị khi dự án kết thúc giai đoạn xây dựng thì chủ đầu tư sẽ bàn giao lại công trình cho Sở GTVT quản lý hạng mục đường và cầu trên tuyến; Sở Xây dựng quản lý hạng mục Thoát nước, Cây xanh; Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội quản lý đèn đường, chiếu sáng Một trong những bất cập về quản lý ĐTXD công trình GTĐT hiện nay là việc phân cấp, chia giai đoạn đầu tư và đối tượng quản lý dẫn đến hiệu quả đầu tư kém, thiếu tính đồng bộ
về nguồn vốn, nhân lực, bộ máy quản lý
1.3.3 Đánh giá môi trường đầu tư ứng dụng hình thứ cP P P
1.3.31 Điều tra, khảo sát thực tế
Luận án xây dựng mẫu phiếu điều tra gồm 20 câu hỏi liên quan đến việc ứng dụng hình thức PPP và tiến hành điều tra, phỏng vấn trực tiếp với 120 đối tượng, chia thành 04 nhóm: (i) Cơ quan QLNN, (ii) Chủ đầu tư (đơn vị đại diện cho Nhà nước đầu tư các dự án xây dựng, cung cấp dịch vụ công), (iii) Nhà đầu tư tư nhân (doanh nghiệp
tư nhân-DNTN) và (iv) Đối tượng khác
1.3.3.2, Kết quả điều tra, khảo sát thực tế
- Chất lượng đối tượng điều tra: có 86,9% đối tượng được hỏi có công việc chuyên môn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hình thức PPP với mức độ quan tâm đến hình thức PPP chiếm 89%
- Môi trường đầu tư ứng dụng hình thức PPP trên địa bàn thành phố Hà Nội được đánh giá theo 5 nội dung:
+ Hành lang pháp lý: Do chưa có văn bản QPPL về PPP (thời
điểm tháng 9/2014), đã gây tâm lý e ngại trong việc ứng dụng hình thức này, 82,6% ý kiến cho rằng cần có Nghị định riêng về PPP, 17,4% ý kiến (trong đó 80% đối tượng điều tra là các DNTN) có quan điểm cần có một Luật riêng về PPP Ngày 14/2/2015 Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, tuy nhiên văn bản này cũng còn tồn tại một số bất cập
Trang 10+ Bộ máy QLNN: Thành phố chưa có cơ quan chuyên trách về
PPP, tháng 3/2013 Thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PPP (hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm), tuy nhiên kết quả điều tra cho thấy
có 87% đối tượng được hỏi chưa biết hoặc biết rất ít về Ban chỉ đạo PPP này, chỉ có 13% đối tượng được hỏi biết về Ban chỉ đạo PPP
+ Về n ng lực của hà đầu tư đánh giá trên hai tiêu chí nhân lực
và tài chính cho thấy: 92% doanh nghiệp được điều tra chưa có các cán bộ, chuyên gia có kiến thức, kinh nghiệm thực hiện dự án PPP
Về năng lực tài chính: 83% doanh nghiệp được điều tra là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Các doanh nghiệp này hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng thương mại
+ về nhận thức đối với hình thức PPP: kết quả điều tra cho thấy
phần lớn các đối tượng được hỏi đều hiểu “chưa đúng” về PPP, họ cho rằng đây là hình thức “xã hội hóa” hay là “tư nhân hóa” Có 83,69% đối tượng được hỏi cho rằng hình thức BOT, BT, BTO không phải là hình thức PPP Ngay cả trong một số văn bản QPPL của cơ quan Nhà nước (CQNN) cũng chưa hiểu đúng về PPP (ví dụ Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 10/2013/TT-BXD của Bộ Xây dựng, Quyết định số 9/2012/QĐ- UBND của thành phố Hà Nội, Văn bản số 135/QĐ-KH&ĐT của Sở KH&ĐT Hà Nội, .)
+ Về thời điểm áp dụng hình thức PPP: có 29% đối tượng được
hỏi cho rằng có thể áp dụng ngay hình thức PPP; 59% ý kiến cho rằng chỉ có thể áp dụng trong tương lai khi Nhà nước hoàn thiện thêm các quy định pháp lý, văn bản hướng dẫn về PPP; 12% ý kiến cho rằng khó ứng dụng hình thức này trong thực tế do khó cân bằng chi phí và lợi ích của Nhà đầu tư và Nhà nước Bên cạnh đó, 60% DNTN chưa s n lòng tham gia thực hiện dự án PPP, họ có quan tâm
và sẽ tham gia hình thức này trong một tương lai gần
Trang 111.4 Các nghiên cứu khoa học về h nh thức đối tác công tư
Luận án nghiên cứu, tổng hợp 16 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến việc ứng dụng hình thức PPP trong lĩnh vực GTĐT Các công trình nghiên cứu này đóng góp vào cơ sở lý luận, thực tiễn cho luận án trong việc đề xuất giải pháp ứng dụng hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT phù hợp với điều kiện của Tp Hà Nội, Việt Nam
1.5 Những vấn đề còn tồn tại cần nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ khái niệm về hình thức PPP;
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc ứng dụng hình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT;
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá mô hình đối tác công tư phù hợp với mục tiêu quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông đô thị gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ỨNG DỤNG HÌNH THỨC PPP TRONG QUẢN LÝ ĐTXD CÔNG TRÌNH GTĐT 2.1 Cơ sở lý thuyết về hình thức đối
2.Ĩ.Ĩ.Đ ặc điểm của đối tác công tư
Đặc điểm của đối tác công tư (PPP)
là các bên (Nhà nước và Tư nhân)
cùng tham gia thực hiện dự án, cung
cấp dịch vụ công phục vụ người dân
(đối tượng hưởng lợi) với mục tiêu đạt
hiệu quả đầu tư cao nhất (hình 2.1)
Hình thức PPP phân định hợp lý các
trách nhiệm và nghĩa vụ của các đối
tác tham gia dự án phải thực hiện trên cơ sở năng lực và nguồn lực của mình Sự tham gia và hỗ trợ của nhà nước giúp nâng cao hiệu
tác công tư
Hình 2.1 : Bản chất của hình thức đối tác công tư
Trang 12quả của dự án mà không làm tăng chi ngân sách đầu tư là yếu tố then chốt để so sánh hình thức PPP với các hình thức đầu tư khác.
Hình thức PPP có 4 đặc điểm chính [36]: (i) Quan hệ bình đẳng giữa các đối tác, (ii) Đóng góp nguồn lực, (iii) Chia sẻ rủi ro, và (iv) Hợp đồng dự án PPP Hình thức PPP có ưu điểm: Đẩy nhanh tiến độ
thực hiện dự án, tiến độ huy động vốn; Nâng cao hiệu quả đầu tư; Quản lý rủi ro; Nâng cao chất lượng dịch vụ; Nâng cao năng lực quản lý dịch vụ công; Hình thức PPP có nhược điểm: tăng chi phí chuẩn bị đầu tư; Lợi ích đầu tư khó xác định; Khó khăn trong đàm phán hợp đồng; Chịu rủi ro về môi trường đầu tư [34, 36, 50, 71]
2.1.2 Các hình thức hợp tác trong đối tác công tư
Một số học giả trên thế giới, như là Idelovitch (1995), Faulkner (1997) đã phân loại sự hợp tác giữa Nhà nước và Tư nhân trong hình thức PPP theo 4 hình thức: Hình thức dịch vụ; Hình thức quản lý và vận hành; Hình thức ủy thác; và Hình thức nhượng quyền [26]
2.1.3 Hợp đồng đối tác công tư
Hợp đồng dự án PPP phải đảm bảo được mối quan hệ hợp tác lâu dài trong đó trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên được xác định tương ứng với việc đóng góp, chia sẻ nguồn lực thực hiện dự án Trong phạm vi dự án, hợp đồng dự án PPP có tính pháp lý cao để ràng buộc các bên, đặc biệt là đối tác tư nhân về quyền và nghĩa vụ thực hiện các cam kết đối với Nhà nước [51]
2.1.4 B ộ máy quản lý chuyên trách về đối tác công tư
Một trong những nguyên nhân áp dụng thành công hình thức PPP tại nhiều nước trên thế giới là do việc thành lập các cơ quan, đơn vị chuyên trách về PPP Cơ quan này tùy theo chức năng của mình mà
có vai trò khác nhau trong quá trình thực hiện dự án, sẽ giúp hướng dẫn thủ tục, tư vấn, giám sát quá trình thực hiện hoặc có đầy đủ thẩm quyền để phê duyệt, cấp phép cho các dự án PPP
Trang 132.1.5 Quản lý rủi ro
Một số học giả trên thế giới đã có những nghiên cứu liên quan đến rủi ro và quản lý rủi ro trong hình thức PPP Theo nghiên cứu Nguyễn T.B.M (2002), ADB (2003), các dự án PPP thường có 6 loại rủi ro chủ yếu là: Rủi ro thương mại; Rủi ro pháp lý/hợp đồng; Rủi
ro chính trị; Rủi ro kỹ thuật; Rủi ro về môi trường; Rủi ro không được cộng đồng chấp nhận [57] Để giảm thiểu tác động tiêu cực đến
dự án PPP thì các bên đối tác Nhà nước, Tư nhân phải tiến hành quy trình quản lý rủi ro trong hình thức PPP theo 5 bước cơ bản, đó là: Xác định rủi ro; Đánh giá, phân tích rui ro; Phân bổ rủi ro; Giảm nhẹ
và khắc phục rủi ro và Giám sát, điều chỉnh rủi ro [76]
2.2 Những vấn đề chung về quản lý ĐTXD công trình GTĐT
2.2.1 Đặc điểm quản lý đầu tư xây dựng công trình
Quản lý ĐTXD công trình GTĐT được các chủ thể quản lý (Cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thực hiện đối với khách thể (công trình GTĐT) hoặc giữa các chủ thể với nhau liên quan đến khách thể đảm bảo tính hiệu quả khi thực hiện dự án trong điều kiện ràng buộc
về nguồn lực đầu tư Các mối quan hệ này được xem xét trên các khía cạnh: quy mô, tính chất ĐTXD công trình (giao thông tĩnh, giao thông động); mục đích (giao thông đối ngoại và giao thông đối nội); nguồn vốn để ĐTXD công trình hoặc loại hình công trình (đường bộ, đường thủy, đường sắt, )
2.2.2.H ình thức PPP trong quản lý ĐTXD công trình GTĐT
Hình thức PPP bao gồm nhiều mô hình hợp tác giữa Nhà nước và
Tư nhân tùy thuộc vào mục đích và nội dung hợp tác Mô hình PPP thể hiện đặc điểm về sự hợp tác giữa các bên đối tác, theo đó 1 phần hoặc toàn bộ công việc được chuyển giao cho Tư nhân thực hiện với
sự hỗ trợ của Nhà nước [24] Bảng 2.1 thể hiện đặc điểm của 5 mô hình PPP