1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

50 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 823,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận về cuộc khủng hoảng nợ công và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tiểu luận có nêu đầy đủ về diễn biến, phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công; từ đó tìm ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Eurozone Các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu

Eurostat Văn phòng thống kê Liên minh châu Âu

Trang 2

EMS Quỹ cứu trợ dài hạn

DANH MỤC BẢNG BIỂUBảng

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nhiều năm qua, châu Âu vẫn đang gặp vô vàn khó khăn trong việc tìm lờigiải cho những “núi nợ” công khổng lồ, có nguy cơ đổ ập xuống nền kinh tế sẵn đangtrong tình trạng trì trệ kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 Mặc dù nhờcác chương trình giải cứu quyết liệt và khổng lồ từ các chính phủ EU và IMF, cũngnhư sự xóa nợ và giãn nợ của các tổ chức tài chính tư nhân lớn thì tình hình nợ công ở

Trang 3

Hy Lạp, và rộng hơn là ở châu Âu cũng đã tạm lắng, nhưng nó rất có thể sẽ bùng pháttrở lại vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào, với cường độ có thể còn nghiêm trọng hơnrất nhiều Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia nghiên cứu cũng đã cảnh báo nợ côngcủa Việt Nam đang ở mức nguy hiểm và có xu hưởng gia tăng Có rất nhiều rủi ro tiềm

ẩn trong chi tiêu công, trả nợ công và kiểm soát nợ công ở Việt Nam, đòi hỏi phải cónhững biện pháp cấp bách và biện pháp tái cơ cấu lâu dài để bảo đảm an toàn nợ công

Trước thực tiễn đó, bài viết dưới đây phân tích cuộc khủng hoảng nợ công châu

Âu gần đây, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Đồng thời bài viếtcũng sẽ chỉ ra thực trạng nợ công hiện nay ở Việt Nam và đề xuất một số giải phápkiểm soát nợ công

CHƯƠNG 1

NỢ CÔNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

1.1 Khái niệm nợ công

1.1.1 Nợ công là gì?

Có thể nói nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp Tuy nhiên, hầu hếtnhững cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà chính phủ của mộtquốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó Hiểu theo nghĩa rộnghơn, nợ công không chỉ bao gồm khoản tiền mà nhà nước chính thức đi vay mà còn

Trang 4

bao gồm cả những khoản nợ tiềm tàng đối với dân chúng như các khoản lương hưu,khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội hay các khoản nợ do các tổ chức, công ty được nhànược bảo lãnh Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa vớicác thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Nhưng cần phân biệt rõ giữa nợcông và nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, baogồm hai bộ phận là nợ của nhà nước và nợ của tư nhân Như vậy, nợ công chỉ là một

bộ phận của nợ quốc gia

1.1.2 Tiêu chí đánh giá nợ công

Để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỉ lệ nợ công/GDP được coi làchỉ số đánh giá phổ biến nhất về tình hình nợ công của một quốc gia Mức an toàn của

nợ công được thể hiện qua việc nợ công có vượt ngưỡng an toàn tại một thời điểm haygiai đoạn nào đó hay không Tiêu chí để đánh giá mức an toàn của nợ công được thểhiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, giới hạn nợ công không vượt quá 50% – 60% GDP hoặc không vượtquá 150% kim ngạch xuất khẩu Ngân hàng Thế giới quy định ngưỡng an toàn nợ công

là 50% GDP, trong khi nhiều tổ chức quốc tế cho rằng, tỷ lệ nợ hợp lý đối với các nướcđang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP

Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch

vụ trả nợ của Chính phủ không vượt quá 10% chi ngân sách Tuy nhiên, trên thực tếkhông có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế Không phải tỷ lệ nợ công/GDPthấp là trong ngưỡng an toàn và ngược lại Mức độ an toàn của nợ công phụ thuộc vàotình trạng mạnh hay yếu của nền kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Mỹ

có tỷ lệ nợ công bằng 96% GDP nhưng vẫn được xem là ở ngưỡng an toàn bởi năngsuất lao động của Mỹ cao nhất thế giới là cơ sở bảo đảm bền vững cho việc trả nợ.Tính đến năm 2010, nợ công Nhật Bản đã xấp xỉ 200% GDP nhưng thực tế cho thấyNhật Bản chưa bao giờ phải lo lắng về vấn đề nợ công của mình Trong khi đó, nhiềunước có tỷ lệ nợ/GDP thấp hơn rất nhiều nhưng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ

Trang 5

như: Venezuela năm 1981 với tỷ lệ nợ công chỉ là 15% GDP; Thái Lan năm 1996 với

tỷ lệ nợ công là 40% GDP; Argentina năm 2001 với tỷ lệ nợ công là 45% GDP

Thứ ba, đánh giá nợ công trong mối liên hệ với các tiêu chí kinh tế vĩ mô Đểđánh giá đúng mức độ an toàn của nợ công không thể chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ/GDP,

mà cần phải xem xét nợ một cách toàn diện trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ

mô, nhất là tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổng hợp, hiệuquả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỷ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa

và mức đầu tư xã hội… Bên cạnh đó, những tiêu chí như cơ cấu nợ công, tỷ trọng cácloại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được xem xét khi đánh giá nợcông Khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi là an toàn, nền kinh tế rất

dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép cả bên trong và bên ngoài

1.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công

Nợ công phát sinh do các cấp chính quyền chi tiêu nhiều hơn thu nên phải vay

nợ để bù đắp chênh lệch thu chi Thông thường, nợ công là hệ quả trực tiếp của thâmhụt ngân sách chính phủ và qui mô nợ công đúng bằng qui mô thâm hụt ngân sách tích

tụ lại qua thời gian Về nguyên tắc, để bù đắp thâm hụt ngân sách, các chính sách đivay trong và ngoài nước chứ không phát hành tiền để tránh nguy cơ xảy ra lạm phátcao Không những vậy, ở một số nước đang phát triển, chính phủ còn vay nợ để tài trợcho các dự án đầu tư của mình, mà thường là các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.Nguồn để trả nợ công là các khoản thu trong tương lai bao gồm cả thu ngân sách và thu

từ các dự án đầu tư bằng vốn vay Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn vay của nhiều quốcgia còn thấp Việc chi tiêu vào những nhu cầu không thực sự cần thiết, những hành vivung tay quá trán là biểu hiện tiêu biểu cho việc sử dụng vốn không hiệu quả Điều đókhiên các nguồn thu tăng không kịp so với nguồn thu khiến tình trạng nợ công càngthêm trầm trọng

Ngoài ra sự thiếu minh bạch trong quản lý nợ công cũng là một nguyên nhângây ra khủng hoảng nợ công Chính phủ không kiểm soát chặt chẽ tình trạng thu chingân sách của quốc gia, gây thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, tệ nạn tham

Trang 6

nhũng phát triển… Từ đó dẫn đến việc nhà nước không chi trả hết được cho các khoản

nợ nên phải tuyên bố phá sản hoặc cầu cứu sự trợ giúp quốc tế

Nói như thế để thấy, nợ công là vấn đề phổ biến, tồn tại thường xuyên và lâu dài

ở nhiều nước trên trên thế giới nhưng liệu nợ công có trở thành vấn đề khủng hoảnghay không thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác

1.3 Tác động của nợ công

1.3.1 Tác động tích cực

Thứ nhất, nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cườngnguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước.Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết

để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế;

Thứ hai, nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân

cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nướcvay nợ mà những khoản tiền này được đưa vào sử dụng và đem lại hiệu quả kinh tế cho

cả khu vực công lẫn khu vực tư;

Thứ ba, nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chínhquốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọngcủa các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốnhợp tác kinh tế song phương Biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiềunguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển, nhất là cơ sở hạ tầng

1.3.2 Tác động tiêu cực

Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tàitrợ ngoài nước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sátchặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phítràn lan Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điềuquan trọng hơn là giảm thu cho ngân sách Nhận biết những tác động tích cực và tiêucực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trongxây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công

Trang 7

CHƯƠNG 2 KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở CHÂU ÂU2.1 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu

2.1.1 Những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng nợ công

2.1.1.1 Tăng trưởng GDP

Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP thực tế từ năm 2000 đến năm 2010

(% thay đổi so với năm trước)

Trang 8

Mỹ 4.1 1.0 1.8 2.5 3.5 3.1 1.7 1.9 -0.3 -3.5 3.0

Nguồn: Eurostat

Nhìn vào bảng số liệu ở trên, tăng trưởng GDP của các nước khối Eurozonetăng đều đặn từ năm 2002 đến 2008 Tuy nhiên, đến năm 2009, do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tăng trưởng GDP của các nước sử dụngđồng Euro đã giảm xuống (-4,2%) Đây là lần đầu tiên trong 10 năm kể từ khi đồngEuro được đưa vào sử dụng, tăng trưởng GDP của các quốc gia này giảm sút nghiêmtrọng như vậy Lý do khiến các quốc gia này tăng trưởng âm một phần là do tỷ lệ nợcông quá cao của các quốc gia thành viên Đến năm 2010, mức tăng trưởng GDP đãphần nào được cải thiện với mức 1,8% Tuy nhiên, điều đó cũng không giúp đượckhủng hoảng nợ xảy ra ở các nước này đang ngày một lan rộng

2.1.1.2 Lạm phát

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, các nước trong cộng đồng Châu

Âu đã giữ vững được mức lạm phát thấp trong khoảng dưới 3% trong giai đoạn

2002-2008 Tuy nhiên, trên thực tế, mức lạm phát của các quốc gia này vẫn ở mức

3,7% vào năm 2008 Vào năm 2009, tỉ lệ lạm phát là 0,9% và năm 2010 là 1,1%

2.1.1.3 Thất nghiệp

Năm 2009, tỉ lệ thất nghiệp là 9,9% và năm 2010 là 31,4 % tổng lượng laođộng Trong khi đó, quý 3 năm 2011 là 10,2% ; quý 4 năm 2011 là 4,5% Tỷ lệ thấtnghiệp dài hạn trung bình là 4,5 % trong năm 2011 Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp trongnăm 2010 của các nước này khá cao, phản ánh kinh tế tăng trưởng trì trệ, lạm phát tăngcao

Tỉ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng là dấu hiệu cho thấy nguy cơ của khủnghoảng nợ sắp xảy ra Khi các công ty và doanh nghiệp không thể vay vốn để mở rộnghoặc tiếp tục sản xuất, khi nhu cầu về hàng hóa giảm do mức sống của dân chúnggiảm, thì việc cắt giảm nhân lực là việc làm tất yếu

2.1.1.4 Nợ công của các nước Eurozone

Trang 9

Nợ chính phủ của các nước trong khối eurozone năm 2007 là 58,7% Trong năm

2008 là 61,5% Đến năm 2009, 2010, 2011, con số này tăng vọt lên mức 73% , 79,3%

và 83,7% tương ứng Tuy nhiên, con số nợ trên cao hay thấp cũng chưa đủ để thấy rằng

không?

chưa xảy ra khủng hoảng nợ công Nợ công ở Nhật Bản hiện nay đãgấp 2 lần tổng sản phẩm quốc nội, với tỉ lệ nợ cao hơn Hy Lạp đến 50%.Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là 95% nợ công của Nhật Bản

Tokyo vẫn chưa trải qua một cuộc khủng hoảng nợ công như

Hy Lạp đã trải qua năm 2010 Trong khi đó, các nhà đầu

tư nước ngoài hiện không có phương tiện gây áp lực buộc chính phủ Nhật Bản phảitiến hành tu bổ ngành tài chính Trên thực tế, mặc dù có tỉ lệ nợ công cao nhưng thếmạnh của Nhật Bản là tiết kiệm nội địa vẫn đủ sức để bù đắp cho những chi tiêu hoangphí

Bên cạnh đó, giá trị của đồng Euro cũng bị sụt giảm nghiêm trọng kể từ năm

2010 Trước cuộc khủng hoảng nợ công, đồng Euro đã từng lấn át vị thế của USD, tiếp

đó là khi khủng hoảng thị trường cho vay dưới chuẩn của Mỹ khiến cho tỷ trọng USD

và Euro được thu hẹp trong tỷ lệ dự trữ ngoại hối toàn cầu Tuy nhiên, giá trị đồngEuro lại bị suy yếu khi cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra Cụ thể, dự trữ ngoại tệ toàncầu tính bằng đồng euro so với USD năm 2008 đến 2011 lần lượt là 41,3% ; 43,1%;42,6% và 44,1% Tỷ giá hối đoái giữa Euro và USD từ năm 2008 đến năm 2011 là 1,47

; 1,39 ; 1,33 ; 1,40 Như vậy trong năm 2010, giá trị đồng Euro bị sụt giảm nghiêmtrọng nhưng đến năm 2011, đồng tiền này đang trên đà phục hồi

2.1.2 Giai đoạn bùng nổ nợ công 2010 đến nay

Trang 10

Thâm hụt ngân sách chính phủ khu vực đồng Euro là 6,2%, con số này năm

2009 là 6,4% Điều này được lý giải vì năm 2010, Hy Lạp đã dùng nhiều biện pháp đểgiảm thâm hụt ngân sách cũng như trả nợ nước ngoài Cũng trong năm 2009, nợ chínhphủ trong khu vực này là 79,8% và năm 2010 là 85,4% Trong đó, thâm hụt ngân sáchnăm 2010 của Ireland là (-31,3% ), Hy Lạp là (-10,6% ), Bồ Đào Nha là (-9,8%)

Năm 2011, thâm hụt ngân sách của 17 quốc gia thuộc khối Eurozone là 4,1%GDP, nợ chính phủ là 87,2% GDP Trong đó, cổ phiếu chiếm 79,3% nợ chính phủ,công trái chiếm 18%, tiền mặt cũng như tiền gửi ngân hàng chiếm 2,8%

Năm 2012: thị trường chứng khoán đã có những dấu hiệu khả quan, kinh tế khuvực Eurozone đã dần đi vào ổn định Lãi suất thị trường nội địa đã hạ nhiệt Cụ thể, lãisuất 3 tháng trong quý I năm 2012 có xu hướng giảm Tháng 1/2012, lãi suất là 1,22%,trong tháng 2 và tháng 3, lãi suất này lần lượt là 1,05% và 0,86%

Năm 2013: Eurozone đã đạt tốc độ tăng trưởng 0,3% so với cùng kỳ năm ngoái.Đây là lần đầu tiên Eurozone đạt tốc độ tăng trưởng dương trong vòng 18 tháng qua

Năm 2014: Cuối tháng 02/2014, Ủy ban châu Âu (EC) đưa ra dự báo về tốc độtăng trưởng kinh tế của các nước trên thế giới, trong đó 28 nền kinh tế thuộc EU dựkiến đạt tốc độ tăng trưởng trong năm nay là 1,5% và 2% vào năm 2015

Hình 2.1: Nợ chính phủ EU trong những năm 2007-2013 (%GDP)

Trang 11

Tuy nhiên, “bài toán” nợ công mà 18 nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu(Eurozone) vẫn đang tìm lời giải, thậm chí các con số nợ công đang có chiều hướng

“phình to” trong năm 2014 Theo Văn phòng Thống kê quốc gia Italia (Istat) ngày3/3/2014, hiện nợ công của Italia đã tăng lên đến 2,07 nghìn tỷ Euro (tương đương 2,84nghìn tỷUSD), bằng 132,6% GDP năm 2013, 127% của năm 2012 Tương tự, tỷ lệ nợcông của Hy Lạp dự kiến tăng lên mức 200% GDP trong năm 2014 so với 115,2% năm

2007 Trong khi đó, Bồ Đào Nha dự kiến có tỷ lệ nợ công đạt 134,6% GDP năm 2014

so với mức 75% năm 2007 Còn nợ công của nước láng giềng - Tây Ban Nha dự báochạm ngưỡng 105% trong năm 2014 so với 42% của năm 2008

Mặc dù những nỗ lực cải cách kinh tế của các nước Eurozone đã bước đầu chothấy những tín hiệu đáng mừng nhưng dường như các chính sách "thắt lưng buộcbụng" của các nước này vẫn chưa phát huy hiệu quả, thay vào đó áp lực thuế đối vớingười dân tại các quốc gia này ngày càng lớn Các chủ nợ là EC, Ngân hàng Trungương châu Âu (ECB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã thực hiện mở rộng kỳ hạn nợ từ

Trang 12

30 năm lên 50 năm, giảm lãi suất thanh toán 0,5 điểm phần trăm và có thể tăng thêm 15

tỷ Euro vào năm 2014

2.1.2.1 Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp

Bảng 2.2: Nợ công và thâm hụt ngân sách nhóm PIIGS 2006-2011 (% GDP)

Nợ

công

Thâm hụt

Nợ công

Thâm hụt

Nợ công

Thâm hụt

Nợ công

Thâm hụt

Nợ công

Thâm hụt

Nợ công

Thâm hụt

Ngày 2/5/2010, các nước thành viên khu vực Eurozone và IMF đã thông quakhoản vay 110 tỉ Euro cho Hy Lạp, với điều kiện nước này phải thực thi các biện phápthắt lưng buộc bụng khắc nghiệt

Hơn một năm sau khi nhận được khoản hỗ trợ 110 tỉ Euro, Hy Lạp vẫn chưathoát ra khỏi nguy cơ vỡ nợ Gần đây IMF ước tính nợ quốc gia của Hy Lạp có thể lênđến 172% GDP (so với mức khoảng 120% lúc bắt đầu rơi vào khủng hoảng nợ), trongkhi thâm hụt ngân sách của nước này cao hơn dự kiến và nước này đang cần một khoản

hỗ trợ mới

Các nhà lãnh đạo châu Âu đang kéo dài cuộc tranh luận về chuyện chọn lựaphương án bởi vì các bên đều đang cố gắng lựa chọn một phương án có lợi cho mình.Chẳng hạn, một trong những đề xuất của Pháp (và được Đức ủng hộ) là các chủ nợ tư

Trang 13

nhân có thể đảo nợ, biến khoảng 90% các khoản nợ sắp đáo hạn thành các khoản nợvới kỳ hạn năm năm

Một đề xuất khác phức tạp hơn là Hy Lạp trả một phần các khoản nợ bằng tiềnmặt (khoảng 30%), phần còn lại thì được xem như là đầu tư lại vào trái phiếu kỳ hạn

30 năm của Hy Lạp Những đề xuất kéo dài thời hạn nợ hay đảo nợ kiểu này có thểkhiến các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như S&P hạ bậc tín nhiệm của Hy Lạp xuốnghạng vỡ nợ vì những giải pháp như vậy khiến chủ nợ

nhận được ít tiền hơn đáng kể so với các khoản cho vayban đầu Một số quan chức các chính phủ châu Âu

đang xem xét tới khả năng lựa chọn các đề xuất cho

vào vỡ nợ tạm thời nhưng sẽ không đủ để tạo ra một “sựkiện tín dụng”, nghĩa là không đủ để cấu thành lý do khiến các nhà phát hành các hoánđổi rủi ro tín dụng (CDS-credit default swaps) phải tiến hành chi trả, như vậy giảm bớttổn thất đối với các định chế tài chính

Nhưng phía Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) lại không muốn Hy Lạp bị

hạ xếp hạng tín nhiệm xuống khu vực vỡ nợ ECB lập luận rằng điều đó có thể phát ratín hiệu xấu về độ tin cậy của các trái phiếu do chính phủ châu Âu khác phát hành,đồng thời nếu trái phiếu chính phủ Hy Lạp bị xếp vào hạng vỡ nợ thì sẽ hạn chế khảnăng ECB chấp nhận các trái phiếu của Hy Lạp làm tài sản cầm cố trong trường hợp hỗtrợ thanh khoản cho các ngân hàng nước này Điều đó đồng nghĩa hệ thống ngân hàng

Hy Lạp gặp nguy cơ thiếu thanh khoản và có thể sụp đổ vì Hy Lạp không thể tự in tiềnra

Vào ngày 21/7/2011: lãnh đạo các nước thành viên Eurozone đã thống nhấtdành cho Hy Lạp gói cứu trợ thứ 2 trị giá 158,6 tỷ euro nhằm giúp nước này thoát khỏinguy cơ vỡ nợ Trong tổng số 158,6 tỷ euro này có 109 tỷ euro đến từ các nước thànhviên khối Eurozone và Quỹ tiền tệ thế giới IMF, trong đó 49,6 tỷ Euro còn lại do khu

Trang 14

vực tư nhân đóng góp Bên cạnh đó, quỹ ổn định tài chính Châu Âu (FESF) cũng tuyên

bố sẽ kéo dài thời gian trả nợ của Hy Lạp Trên thực tế, kế hoạch giải cứu này cũngkhông giúp được Hy Lạp nhiều trong việc giảm thâm hụt ngân sách và cán cân vãnglai

Thâm hụt ngân sách của Hy Lạp là 9,6% GDP và tỷ lệ nợ công là 156,8% GDP.Những con số trên cho thấy tình trạng nợ công của Hy Lạp ngày càng trầm trọng mặc

dù Hy Lạp cũng như cộng đồng quốc tế đã nỗ lực hết sức Trong 3 năm qua, kể từ năm

2009 đến 2011, nợ công của Hy Lạp tăng khoảng 59 tỷ euro, lạm phát tăng cao dẫn đếnnhững bất ổn về kinh tế, chính trị Vì vậy, năm 2012 là một thách thức lớn đối với quốcgia này

Vào tháng 3 năm 2012, Hy Lạp phải trả khoản nợ trị giá 14,5 tỷ euro và phải sửdụng đến gói cứu trợ trị giá 130 tỷ của EU, IMF và ECB Mặc dù vào ngày 21/7/2011,quỹ ổn định tài chính Châu Âu thông qua gói cứu trợ 158,6 tỷ Euro nhưng cuối cùngvào ngày 14/3/2012, các tổ chức này đã phê duyệt gói cứu trợ thứ 2 dành cho Hy Lạptrị giá 130 tỷ Euro Trong gói cứu trợ thứ nhất, Hy Lạp dùng để chi trả lãi Đối vớikhoản cứu trợ lần 2 này, 2/3 trong tổng số tiền được cứu trợ cũng dùng để trả lãi nhằmtránh nguy cơ vỡ nợ chứ không thể vực dậy nền kinh tế Điều này giải thích vì saoGDP của Hy Lạp sụt giảm liên tiếp trong 4 năm và năm 2011 giảm 6% so với nămtrước Theo dự báo của IMF, GDP năm 2012 sẽ tiếp tục giảm 4%

Hình 2.2: Tình hình nợ công ở Hy Lạp năm 2013 so với 2009 (%)

Trang 15

Nguồn: CNN Money

Năm 2013, theo văn phòng thống kê Liên minh châu Âu (Eurostat), tỷ lệ nợcông/GDP của Hy Lạp đã tăng lên đến 175,1%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ nămtrước đó là 157,2% Tỷ lệ nợ công/GDP của toàn bộ khu vực đồng euro đã lên mức cao

kỷ lục là 92,6%

2.1.2.2 Ireland

Năm 2008, thâm hụt ngân sách của Ireland là 7,35% GDP, năm 2009 là 14,3%GDP Tỷ lệ nợ công trên GDP của nước này trong năm 2007, 2008, 2009 lần lượt là25,4%; 43,9% và 64,5% Đến năm 2010, tỷ lệ này là 98,5% - đứng thứ 11 trong số cácquốc gia có tỷ lệ nợ công cao nhất thế giới

Với những nỗ lực của mình, các nước EU đã thông qua gói cứu trợ trị giá 85 tỷEuro cho Ireland thoát khỏi nguy cơ vỡ nợ Gói cứu trợ này nhằm giải quyết nhữngkhó khăn trong ngành ngân hàng mà Ireland đang gặp phải Số tiền 85 tỷ Euro được sửdụng như sau: 10 tỷ Euro chi cho việc tái huy động vốn khẩn cấp để đảm bảo thanhkhoản cho hệ thống ngân hang, 25 tỷ Euro để hỗ trợ ngân hàng trong trường hợp khẩncấp, 50 tỷ Euro để cắt giảm chi tiêu ngân sách của nước này Nếu như Hy Lạp đượccứu trợ 2 lần với số tiền là 110 tỷ euro và 130 tỷ euro thì Ireland phải lấy từ nguồn vốn

Trang 16

đệm của ngân hàng và quỹ dự trữ lương hưu 17,5 tỷ Euro để trang trải cho khoản thâmhụt ngân sách Phần còn lại 85 tỷ euro được chia đều cho quỹ bình ổn tài chính Châu

Âu và IMF Khoản vay này có lãi suất là 5,83% cao hơn mức lãi suất này dành cho HyLạp là 5,2% Do thị trường tài chính gặp nhiều bất ổn, giá trái phiếu giảm sâu, lãi suấttăng cao Tại Ireland, giá trái phiếu giảm trong khi lãi suất trái phiếu chính phủ thờihạn 10năm đã lên tới 9,17% Mức lãi suất tăng cao càng chứng tỏ sự bất ổn của nềnkinh tế đó Nếu như so sánh lãi suất trái phiếu chính phủ Đức, lãi suất của Ireland caohơn 619 điểm cơ bản tức 6,19% Vào ngày 11/11/2010, mức chênh lệch là 6,52% Tínhđến đầu năm 2010, tổng số tiền viện trợ mà Ireland nhận được là 113 tỷ USD Trongnăm 2011, với những cứu trợ từ quốc tế và nỗ lực cắt giảm chi tiêu của chính phủ,Ireland đã giảm được thâm hụt ngân sách và tăng trưởng GDP Cụ thể như sau, tăngtrưởng GDP của Ireland trong 3 quý đầu năm 2011 là 1,8% ; 1,9% ; 1,6%.Tăng trưởngtrong cả năm chỉ đạt mức 1% Thâm hụt cán cân vãng lai trong quý 2 và 3 là 8,2%GDP và 10,3% GDP Nợ chính phủ của Ireland quý 2 là 102,3% GDP và quý 3 là104,9% GDP, nợ chính phủ trong cả năm chiếm tới 107% GDP

Hình 2.3: Tỷ lệ nợ công/GDP ở một số nước châu Âu năm 2010 (%)

Tháng 3/2012: Ireland thỏa thuận tham gia chương trình hoán đổi nợ đáo hạnlấy trái phiếu chính phủ dài hạn Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, năm 2012

Trang 17

có thể Ireland sẽ chìm trong suy thoái Tăng trưởng GDP của nước này là 0,5% thay vì1,8% như dự báo trước đó.

Năm 2013: Ireland ngày 15/12 đã trở thành quốc gia đầu tiên trong Khu vực sửdụng đồng Euro (Eurozone) chính thức rời khỏi chương trình cứu trợ quốc tế của bộtam Liên minh châu Âu (EU), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệQuốc tế (IMF) được thực hiện suốt ba năm qua, sau khi tiếp nhận đợt giải ngân cuốicùng trị giá 890 triệu USD từ IMF

Ireland là nước đầu tiên trong khu vực phải xin cứu trợ và cũng trở thành quốcgia đầu tiên thoát khỏi khủng hoảng nợ công Hy vọng đây sẽ là sự “mở hàng” thuậnlợi ở Eurozone trong bối cảnh kinh tế khu vực này bắt đầu xuất hiện những “tia sángcuối đường hầm”

2.1.2.3 Bồ Đào Nha

Bồ Đào Nha thừa nhận thâm hụt ngân sách 2010 của quốc gia này ở mức 8,6%GDP, cao hơn nhiều so với mục tiêu 7,3% đặt ra trước đó Khoản nợ công của Bồ ĐàoNha năm 2010 lên tới 84% GDP Nghiêm trọng hơn, 70% các khoản nợ của Bồ ĐàoNha là nợ nước ngoài

Vào năm 2011: Tăng trưởng GDP của Bồ Đào Nha liên tục tăng trưởng âmtrong 3 quý đầu với các con số : -0,6%; -0,2%; -0,6% Trong cả năm, nước này vẫnđang giữ mức tăng trưởng âm -2,2% Thâm hụt cán cân vãng lai của nước này trongquý 2 và quý 3 năm 2011 lần lượt là 9% GDP và 3,8% GDP Nợ chính phủ trong năm

là 103,3% GDP Thâm hụt ngân sách trong năm là 4,5% GDP, Chính phủ đã giảmđược thâm hụt ngân sách từ mức 10,1% năm 2009 về 4,5% năm 2011 Điều này chothấy những nỗ lực của Bồ Đào Nha trong việc giải quyết khủng hoảng nợ đang lanrộng

Đồng thời, vào tháng 5 năm 2011, EU và IMF cũng đã thông qua gói cứu trợ tàichính lên tới 78 tỷ Euro trong 3 năm để hỗ trợ cải cách và phục hồi kinh tế Để đổi lấygói cứu trợ này, Bồ Đào Nha cũng phải thực hiện các biện pháp khắc khổ trong đó có

cả việc bán các công ty quốc doanh và cải cách thị trường lao động

Trang 18

Cũng giống như Hy Lạp, năm 2012 chính phủ Bồ Đào Nha phải cắt giảm chitiêu và duy trì tăng trưởng kinh tế Sau khi xem xét chương trình cứu trợ cho Bồ ĐàoNha vào đầu tháng 3, các nhà tài trợ quốc tế đã đồng ý giảm bớt các điều khoản đểnước này đạt được mục tiêu giảm thâm hụt công xuống 5,5% GDP năm 2013, 4% vàonăm 2014 và 2,5% năm 2015.

Nợ công của Bồ Đào Nha trong tháng 3/2014 là 220,684 tỷ Euro, trong khi con

số này vào cuối năm 2013 là 213,631 tỷ Euro Như vậy tỷ lệ nợ của chính phủ đang giatăng Mặc dù vậy, những dấu hiệu khả quan trong những tháng đầu năm cho thấy nềnkinh tế nước này đang trên đà hồi phục và triển vọng thanh toán nợ cũng tăng lên

2.1.2.4 Tây Ban Nha

Nối tiếp Hy Lạp, những con số khổng lồ về nợ công của chính phủ Tây Ban Nha

đã được phanh phui Mặc dù cùng rơi vào vòng xoáy tài chính như Hy Lạp nhưng vấn

đề nước này gặp phải không phải do chi tiêu quá tay mà do thị trường bất động sản và

tỷ lệ thất nghiệp tăng cao

Bất động sản được coi là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công tại TâyBan Nha Theo số liệu thống kê, giá trị bất động sản ở Tây Ban Nha đã tăng lên 200%

kể từ năm 1985 đến nay Năm 2008 xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tácđộng không nhỏ đến thị trường bất động sản của nước này, khiến cho thị trường bấtđộng sản dễ vỡ hơn bao giờ hết Trong thời kỳ thị trường nhà đất phát triển, các ngânhàng tăng cho vay và coi đây như một khoản lợi khổng lồ mà không xem xét đến cáckhoản vay dưới chuẩn Trong đó, có những khoản vay với thời hạn dài đến 40, 50 năm.Chính vì vậy, khi thị trường bất động sản bị khủng hoảng, các ngân hàng không cònkhả năng thu hồi vốn Không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng, khủng hoảng thịtrường nhà đất còn ảnh hưởng đến thị trường lao động nước này Tỷ lệ các công trìnhxây dựng giảm đồng nghĩa với việc tỷ lệ thất nghiệp tăng cao

Năm 2010: Ngân hàng trung ương Tây Ban Nha công bố tỷ lệ nợ công nước nàynăm 2010 là 639 tỷ Euro, tăng 6,8% so với năm 2009 Đây là tỷ lệ nợ công cao nhất

Trang 19

của nước này kể từ năm 1999 Tỷ lệ thất nghiệp tính đến quý 3 năm 2010 là 7,4% trongtổng số lao động tính từ 20 tuổi đến 64 tuổi.

Năm 2011: tăng trưởng GDP đạt mức 0,8% GDP Nợ công đạt mức 68,2%GDP, thâm hụt ngân sách ở mức 8,5% GDP vượt mục tiêu đề ra là 6% Đồng thời,ngân hàng trung ương nước này cũng cho biết, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng nước này

đã tăng hơn 6,1% lên mức 110,7 tỷ Euro, cao nhất trong 16 năm qua

Năm 2013: Ngân hàng trung ương Tây Ban Nha mới công bố số liệu cho thấy

nợ công của nước này trong năm 2013 đã tăng lên tới 961,555 tỷ Euro (1.317,426 tỷUSD), tương đương 94,02 % tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nước này Như vậy,

nợ công trong năm 2013 của Tây Ban Nha - bao gồm các khoản nợ của các chínhquyền trung ương, khu vực và địa phương - tăng 8,7 %, từ con số 884,664 tỷ euro trongnăm 2012 Theo thống kê hàng tháng, sau hai tháng liên tục giảm, nợ công của TâyBan Nha trong tháng 12/2013 đã tăng thêm 9,542 tỷ Euro so với tháng 11/2013

Ông Luis de Guindos, Bộ trưởng Kinh tế Tây Ban Nha, cho biết sức cạnh tranhcủa quốc gia này đã được phục hồi nhờ vào những cải cách của chính phủ và có nhiềukhả năng sẽ "bền vững" hơn so với những năm trước đây Từng bước phục hồi saunhững ảnh hưởng bất lợi của suy thoái kinh tế, nền kinh tế của xứ sở Bò tót đã tăngtrưởng 0,1% trong quý 3/2013 và 0,3% trong quý 4/2013

Năm 2014: Bất chấp những biện pháp khắc khổ trong nhiều năm, nợ công củaTây Ban Nha vẫn tăng cao và đã chạm ngưỡng 1.000 tỷ Euro (tương đương 1,3 nghìn

tỷ USD) Đây là lần đầu tiên nợ công của quốc gia thành viên Khu vực đồng tiền chungchâu Âu (Eurozone) này lên mức nghìn tỷ Euro

2.1.2.5 Italia

Sau Hy Lạp, Ý cũng trở thành mối quan tâm của thị trường tài chính cũng nhưbáo chí Trước hết, lãi suất trái phiếu chính phủ của Ý đột nhiên được thị trường đẩylên quá nhanh Cụ thể là đợt đấu giá 1,25 tỉ Euro trái phiếu thời hạn năm năm gần đâycủa Ý đã có lợi suất trung bình là 4,93%, cao hơn nhiều so với mức 3,9% của thángtrước

Trang 20

Việc lãi suất trái phiếu chính phủ Ý tăng cao do nhà đầu tư lo ngại diễn biếnphức tạp về nợ công có thể tạo ra một hiệu ứng biến Ý trở thành nạn nhân tiếp theo.Trong cấu trúc nợ khoảng 1.600 tỉ Euro của Ý (gấp nhiều lần so với khoản nợ 350 tỉcủa Hy Lạp), có đến hơn 800 tỉ Euro là các khoản nợ sẽ đáo hạn trong vòng năm năm

và hơn 250 tỉ trong số đó là nợ sẽ đáo hạn trong vòng một năm Nghĩa là nếu lãi suấttiếp tục giữ ở mức hiện tại thì chi phí phát hành mới trái phiếu để tài trợ cho các khoản

nợ cũ sẽ tăng rất nhiều Ví dụ, với hơn 250 tỉ Euro trái phiếu kỳ hạn một năm của Ý thìtrước đây lãi suất trung bình là 1,8%, hiện tại là gần 2,3%, đồng nghĩa với việc lãi phảitrả hàng năm của Ý sẽ tăng lên khoảng hơn 1 tỉ Euro so với hiện tại

Một số liệu ước tính của Evolution Securities cho thấy nếu mặt bằng lãi suất vẫnnhư hiện tại thì tổng chi phí trả lãi vay của Ý sẽ tăng thêm gần 17 tỉ Euro (khoảng 1%GDP) vào năm 2015 Với mức thâm hụt ngân sách khoảng 4-5% GDP hiện tại của Ý,thêm 1% GDP chi phí lãi vay này sẽ đẩy nước này tới gần hơn bờ vực khủng hoảng nợ

2.2 Nguyên nhân

2.2.1 Nguyên nhân cuộc khủng hoảng nợ công bùng nổ ở châu Âu

Với cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, nó bắt đầu từ nửa sau năm 2009 với sựgia tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ireland, Italia, Hy Lạp và TâyBan Nha) Một trong những tác động ban đầu gây nên sóng gió nợ công này đó là cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra vào năm 2008 xuất phát từ khủng hoảng tín dụng

và nhà đất ở Mỹ, sự tác động mạnh mẽ tới các nước thành viên EU Để cứu vãn nềnkinh tế, các quốc gia đều phải tăng chi tiêu công, biến các khoản nợ tư nhân thành nợcông Hệ quả là sau thời điểm này, nợ công của EU có xu hướng tăng vọt, điển hình là

ở Hy Lạp và Italia đều ở mức trên 115% vào năm 2009 Và nguyên nhân chính dẫn đếncuộc khủng hoảng nợ công là do chính sách tài khóa thiếu bền vững và sự mất cân đốitrong việc vay nợ của các quốc gia Để phân tích rõ ràng về cuộc khủng hoảng này nênxét ở nhiều khía cạnh và nhiều nguyên nhân khác nhau

2.2.1.1 Nguyên nhân bên trong

Trang 21

Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ Hy Lạp: Chính phủ Hy Lạp phạm sai lầm trongquản lý và không trung thực khi thông báo số liệu kinh tế trong nhiều năm Khoảng30% hoạt động của nền kinh tế đều có gian lận, 90% người có thu nhập cao khai thunhập dưới 30000 Euro/năm nhằm tránh nộp thuế Chính sự mất niềm tin làm cho HyLạp khó khăn trong giải quyết khủng hoảng, bất kì quyết định nào của chính phủ liênquan đến ngân sách đều bị hoài nghi Tiếp đó là việc Hy Lạp miễn thuế cho các Nhàthờ, các Nhà thờ ở đây không phải chi trả bất cứ một đồng nào trong việc sử dụng đấtđai mặc dù diện tích đó là rất lớn.

Chính sách tín dụng dễ dãi trong khu vực EMU trong suốt một thập kỉ trước khidiễn ra khủng hoảng: Vào thời kì này, việc các nước thành viên có cơ hội thu hút cáckhoản vốn lớn với lãi suất thấp đã kích thích các quốc gia áp dụng chính sách đòn bẩytài chính cao, tín dụng liên biên giới phát triển mạnh, khuyến khích hoạt động vay vàcho vay với rủi to cao (David Cayla, 2013) Lãi suất của nhiều quốc gia giảm mạnh,với lãi suất thời hạn 3 tháng giảm từ 22% xuống 3% ở Hy Lạp, từ 15% xuống 3% ởTây Ban Nha và Italia Lãi suất thấp đã dẫn đến hoạt động cho vay quá mức và cáckhoản chi tiêu hào phóng trong suốt gần một thập kỷ.Các nhà kinh tế đều cho rằngkhủng hoảng nợ công châu Âu là do chi tiêu của chính phủ quá lớn, thậm chí là chi tiêuquá mức so với tiềm lực và sự tăng trưởng kinh tế của nước mình Việc chi tiêu quá lớntrong hệ thống an ninh xã hội và lao động, nghỉ hưu sớm hay mức lương cao cho cácnhà chính trị , công chức… đã tạo ra thâm hụt ngân sách và khủng hoảng nợ công

Một nguyên nhân nữa dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu là sự hạnchế trong cơ chế phối hợp điều hành trong khu vực sử dụng đồng tiền chung(Eurozone), nhất là giữa tiền tệ và tài khóa Các quốc gia trong khu vực chủ yếu hợptác trong các chính sách tiền tệ, nhằm bảo đảm duy trì giá trị đồng Euro, trong khi cácchính sách tài khóa lại chưa có được một sự đồng thuận và hài hòa tương ứng Rõ ràng,mặc dù đã có những quy định cụ thể về mức thâm hụt ngân sách cũng như nợ công,nhưng lại không có một cơ chế giám sát và quản lý hiệu quả đối với từng quốc giathành viên Chính vì vậy, sự kiện vỡ nợ tại một quốc gia là Hy Lạp đã kéo theo khủng

Trang 22

hoảng niềm tin lan sang các quốc gia có chính sách tài khóa lỏng lẻo khác Bên cạnh

đó là việc thiếu cơ chế phối hợp ứng phó giữa các quốc gia trong khu vực Hầu hết cácquốc gia đều cố gắng thực hiện những chính sách của riêng mình và khi không thể giảicứu được nền kinh tế mới nhờ đến sự viện trợ của EU và IMF, mà không hề có nhữngcảnh báo sớm với một chiến lược xử lý về dài hạn được đưa ra

Áp lực của các nhóm tài phiệt: các nhà đầu cơ, tổ chức tài chính lớn và trungtâm quyền lực kinh tế đã thuyết phục được các chính phủ hỗ trợ các ngân hàng và chocác hoạt động kinh tế nhằm cứu ngân hàng và kinh tế không bị đổ vỡ, việc đó tốn hàng

tỷ Euro nên không tránh khỏi việc nợ công gia tăng Trong khi đó các ngân hàng tưnhân nhận tiền với lãi suất thấp khoảng 1% từ ngân hàng trung ương với mục đíchcung cấp tài chính cho doanh nghiệp và tư nhân nhưng lại dùng tiền đó để mua nợ của

ác chính phủ với lãi suất 4-5%

Vấn đề chính sách kinh tế: Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng cuộc khủnghoảng nợ công này là do chính sách kinh tế sai hướng, niềm tin quá mạnh mẽ vào sứcmạnh của thị trường tự do với nguồn tín dụng giá rẻ dồi dào đã dẫn đến sự tích tụ thiếubền vững của nợ tư nhân (Ai-len, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) và nợ công (Hy Lạp

và Bồ Đào Nha) Theo phân tích của các nhà kinh tế học muốn thoát khỏi khủng hoảngcần nghiên cứu chính sách đúng đắn phù hợp, điển hình là chính sách kinh tế củaKeynes- chính sách kích cầu Duy trì được sự ổn định tài chính vĩ mô, giám sát chặtchẽ các hoạt động của hệ thống tài chính

Sự thiếu minh bạch trong việc quản lý: Vào tháng 3/2000, theo tiêu chuẩn kếtoán mới, người ta đã phát hiện ra rằng, thâm hụt thực sự của Hy Lạp vào năm 1998 là3,2% chứ không phải 2,5% Đến năm 2004, một báo cáo khác lại chỉ ra con số thâmhụt của Hy Lạp vào năm 1998 là 4,3% bởi Hy Lạp đã nhập nhằng tiền chi tiêu muasắm công với viện trợ chính phủ tới 2 tỉ Euro Không những vậy, Hy Lạp còn cố ýkhông hạch toán một số khoản chi cho quân sự cũng như y tế Ngược lại, quốc gia nàylại xem một số khoản viện trợ từ châu Âu là các khoản thu của chính phủ Tháng3/2004, Hy Lạp công bố thâm hụt ngân sách là 2,6 tỉ Euro tương đương 1,7%, thấp hơn

Trang 23

nhiều so với mức trung bình của EU là 2,7% Nhưng cuối cùng, dưới áp lực từ châu

Âu, Hy Lạp đã công bố là bị thiếu hụt 3,2% Bốn tháng sau đó, quốc gia này cũng thừanhận đã bỏ qua một số khoản chi tiêu quân sự, tính cao lên giá trị thặng dư an sinh xãhội cùng lãi suất thấp đi, nên con số thực phải là 4,6%

2.2.1.2 Nguyên nhân bên ngoài

Chiến dịch tấn công làm suy yếu đồng Euro: Ngay từ tháng 02/2010, Bộ trưởngxây dựng Tây Ban Nha José Blanco cho rằng có một chiến dịch tấn công đồng Eurotrên các thị trường thế giới mà mục tiêu là nhằm vào Tây Ban Nha Giới đầu cơ đangthực hiện chiến dịch hạ thấp đồng Euro và kiếm lời.Họ chủ yếu đầu cơ trong ngắn hạn

Các cơ quan đánh giá rủi ro trái phiếu vào thi trường tài chính: trong khi lãi suấttrái phiếu chính phủ của các nước đang ổn định ở mức thấp thì chỉ trong vài tuần đã có

sự biến động mạnh Cơ quan đánh giá Standard & Poor’s và Fitch bắt đầu đánh giá nợcủa Hy Lạp, hạ thấp trái phiếu của nước này thành trái phiếu rác Kể từ đó, lãi suất tráiphiếu của chính phủ Hy Lạp không ngừng tăng, thị trường chứng khoán Hy Lạp liêntục giảm Cuối tháng 04/2010 Moody’s cảnh báo nợ công của chính phủ Hy Lạp và hạtrái phiếu của Hy Lạp Trái phiếu 10 năm lãi suất tăng lên 8,74% và trái phiếu lãi suất 2năm tăng lên 10%, sau đó là Standard& Poor’s tiếp tục hạ trái phiếu chính phủ làmtăng lãi suất trái phiếu 10 năm lên 10 % Joseph Stiglitz cho rằng các cơ quan đánh giárủi ro này đã góp phần vào sự bất ổn của các thị trường, đẩy các nước vào khủnghoảng

Hoạt động đầu cơ tài chính: Các nước Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, hayItalia đều gặp phải nguy cơ đầu cơ tài chính rất cao Mục đích của đầu cơ là làm tănglãi suất của trái hiếu chính phủ cao nhất có thể để thu lời

2.2.2 Nguyên nhân khiến châu Âu vẫn đang vùng vẫy trong khủng hoảng nợ công

Việc châu Âu có những giải pháp tạm bợ về kinh tế, những biện pháp đưa ramang tính chữa cháy ngắn hạn và không đồng bộ với nhau đã khiến châu lục này savào một cuộc khủng hoảng khó tìm ra lối thoát Người dân châu Âu, nhất là nhữngngười đang sống tại các nền kinh tế gặp khó khăn như Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây

Trang 24

Ban Nha đang lo âu khi tỉ lệ thất nghiệp đang ở mức cao khó chấp nhận và tiếp tụctăng; kinh tế tiếp tục suy giảm ở mức kỉ lục mới vào năm 2012; đói nghèo tiếp tục giatăng; việc di cư sang các nước mạnh hơn thuộc khu vực đồng Euro như Đức đang đikèm với luồng vốn ra cao hơn.

Sự ổn định kinh tế của châu Âu vẫn khó đạt được vì một nguyên nhân đơn giản:các chính phủ vẫn không tìm ra được cách nào để tạo ra sự tăng trưởng về mặt kinh tế,việc làm và ổn định tài chính Các nhà lãnh đạo khu vực đồng tiền chung châu Âu(Eurozone) vẫn đang tranh luận về cách tốt nhất phục hồi tăng trưởng kinh tế Trongkhi các nhà lãnh đạo Pháp và Italia cho rằng nên nới lỏng các hiệp ước tài chính cứngnhắc thì lãnh đạo các nước Bắc Âu thuộc khu vực Eurozone nhấn mạnh việc tiếp tụcthúc đẩy cải cách cơ cấu một cách ngiêm túc hơn Khó khăn chồng chất đối với EU khicác nước thành viên không thể tìm được tiếng nói chung Đức muốn đẩy Hy Lạp rakhỏi khu vực đồng Euro, nhưng Pháp cho rằng nếu không cứu Hy Lạp đồng Euro sẽtan rã và đó là do lỗi của Đức

Sự lây lan khó khăn kinh tế đang lan ra ngoài 17 quốc gia thuộc khu vực đồngEuro Cuộc khủng hoảng của các nước này dang phá hoại sự hợp tác trong liên minhchâu Âu EU gồm 27 thành viên, dẫn đến thất bại của hội nghị cấp cao về ngân sách củaEU.Bẫy nợ quốc gia đang trong một vòng luẩn quẩn Nợ công và nợ tư nhân cao đãhạn chế sự lựa chọn chính sách của chính phủ, khiến tăng trưởng chậm hơn và do đócũng khó thoát khỏi nguy cơ nợ nần

Một sai lầm nghiêm trọng nữa là sự giả định rằng Ngân hàng Trung ương châu

Âu ECB có thể tạo ra ổn định kinh tế lâu dài ECB không làm được điều này Nếu cácchính phủ vẫn tiếp tục tranh cãi, điều lớn nhất mà ECB có thể làm là trì hoãn kịch bảnxấu nhất các chính phủ châu Âu đang được khuyến cáo sử dụng “thỏa thuận ngừngbắn” tài chính mà ECB đang muốn hỗ trợ họ Việc cho phép thỏa thuận này hết hạn màkhông đạt được sự tiến bộ hướng tới sự ổn định lâu dài có thể khiến châu Âu vấp phảinhững gián đoạn, sẽ làm giảm đáng kể những triển vọng cho sự ổn định kinh tế, tăngtrưởng và tạo việc làm lâu dài

Trang 25

2.3 Tác động của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu

2.3.1 Đối với các quốc gia thành viên

2.3.1.1 Khủng hoảng hệ thống ngân hàng

Cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu hiện nay nổ ra mà điển hình tại Hy Lạp là

do giới ngân hàng và bảo hiểm mua những giấy nhận nợ của chính phủ để cung cấpnguồn tín dụng dồi dào cho hoạt động chi tiêu của nhà nước Do nhà nước không cókhả năng trả được khoản nợ này, nợ công bùng nổ Hậu quả là các ngân hàng trongnước không thể thu hồi được khoản cho vay của mình và phải cắt giảm nắm giữ tráiphiếu chính phủ quốc gia có tỷ lệ nợ công cao bằng cách bán tháo trái phiếu Khi sự cắtgiảm này áp dụng đối với quốc gia nào thì lãi suất trái phiếu chính phủ quốc gia đótăng lên để thu hút nguồn vốn Như vậy, khủng hoảng nợ công làm cho khả năng hútvốn của chính phủ giảm, chi phí khoản vay tăng lên, lại gây áp lực lên lãi suất thịtrường

Khủng hoảng ngân hàng đã nổi lên như nguy cơ mới đối với sự liên kết của khuvực đồng Euro và Liên minh châu Âu (EU) Cộng hòa Síp, một trong những thành viênnhỏ nhất của EU đã thừa nhận có thể phải tìm kiếm một khoản cứu trợ cho các ngânhàng của họ, cùng với Tây Ban Nha, Síp đang sa vào khủng hoảng ngân hàng do nềnkinh tế và các ngân hàng của họ phụ thuộc nặng nề vào Hy Lạp

2.3.1.2 Sự tổn thương đồng Euro

Nếu như năm 2008, 1 Euro đổi được gần 1,6 USD do tăng trưởng kinh tế khuvực Eurozone cao cũng như tình hình tài chính Mỹ suy yếu thì đến năm 2009, 1 eurochỉ đổi được 1,5 USD và đến năm 2010, 1 euro chỉ đổi được 1,37 USD Đây là hệ quảcủa khủng hoảng nợ công đang bùng nổ tại khu vực Có hai luồng ý kiến về hậu quảcủa sự giảm giá đồng Euro Trước hết, đồng Euro mất giá gây tâm lý hoang mang chogiới đầu tư nắm giữ đồng tiền này Hiện tại, USD và Yên Nhật mới là những lựa chọnhàng đầu của các nhà đầu tư Tuy nhiên, có ý kiến nhận xét rằng, việc trải qua khủnghoảng nợ công như hiện nay là một thách thức lớn cho EU để làm tăng sức mạnh khuvực đồng Euro Khi đồng Euro giảm giá, hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn, hàng nhập

Ngày đăng: 07/09/2015, 10:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP thực tế từ năm 2000 đến năm 2010 - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP thực tế từ năm 2000 đến năm 2010 (Trang 7)
Bảng 2.2: Nợ công và thâm hụt ngân sách nhóm PIIGS 2006-2011 (% GDP) - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.2 Nợ công và thâm hụt ngân sách nhóm PIIGS 2006-2011 (% GDP) (Trang 12)
Hình 2.3: Tỷ lệ nợ công/GDP ở một số nước châu Âu năm 2010 (%) - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 2.3 Tỷ lệ nợ công/GDP ở một số nước châu Âu năm 2010 (%) (Trang 16)
Hình 2.4: Biểu đồ tỷ giá giữa Euro so với USD từ tháng 2/2006 đến 2010 - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 2.4 Biểu đồ tỷ giá giữa Euro so với USD từ tháng 2/2006 đến 2010 (Trang 26)
Hình 2.5: Tỉ lệ thất nghiệp ở châu Âu tháng 8/2009 (%) - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 2.5 Tỉ lệ thất nghiệp ở châu Âu tháng 8/2009 (%) (Trang 27)
Hình 2.6: Nguồn vốn FDI vào các nước Eurozone giai đoạn 2004-2012 - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 2.6 Nguồn vốn FDI vào các nước Eurozone giai đoạn 2004-2012 (Trang 29)
Hình 2.7: Giá trị xuất khẩu hàng hóa sang EU (nghìn USD) - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 2.7 Giá trị xuất khẩu hàng hóa sang EU (nghìn USD) (Trang 30)
Hình 2.8: Dòng vốn đầu tư vào Việt Nam giai đoạn 1994-2012 (triệu USD) - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 2.8 Dòng vốn đầu tư vào Việt Nam giai đoạn 1994-2012 (triệu USD) (Trang 31)
Hình 3.1: Tăng trưởng GDP thực tế của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2014 - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 3.1 Tăng trưởng GDP thực tế của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2014 (Trang 42)
Hình 3.2: Tình hình nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam 2001-2010 (tỉ USD) - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 3.2 Tình hình nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam 2001-2010 (tỉ USD) (Trang 43)
Hình 3.3: Mức nợ công ở Việt Nam năm 2014 - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 3.3 Mức nợ công ở Việt Nam năm 2014 (Trang 44)
Hình 3.4: Tình hình trả nợ và viện trợ của Việt Nam 2006-2010 (%GDP) - Khủng hoảng nợ công châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hình 3.4 Tình hình trả nợ và viện trợ của Việt Nam 2006-2010 (%GDP) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w