1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)

49 586 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 19,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)

Trang 1

( Rhizoma Drynariae bonii)

(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược s ĩ KHOÁ ỉ 9 ỹ $ ẩ Ỉ 004 )

Nguời hướng dần : PGS TS Phạm Xuai

DS Đào Thị Hằng Nơi thực hiện : Bộ môn Dược học cổ truyền-Trường

Đại học Dược Hà Nội

Bộ môn Dược lý -Trường Đại học Y

Trang 2

- r ò '7 ®cÂJlt Ơ Q l

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

- PGS TS Phạm Xuân Sinh - trưởng bộ môn Dược học cổ truyền,

Trường Đại học Dược Hà Nội, đã trực tiếp hướng dẫn tôi tận tình, chỉ bảo cho tôi những cho tôi những kiến thức quí báu trong quá trình thực nghiệm

và hoàn thành khoá luận

- ĐS Đào Thị Hằng, người đã trực tiếp chỉ bảo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực nghiệm và hoàn thành khoá luận này

- TS Nguyễn Trần Giáng Hương, BS Trần Thanh Tùng - Cán bộ

giảng dạy bộ môn Dược lý Trường Đại học Y Hà Nội, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành thực nghiệm tại bộ môn Dược lý để hoàn thành khoá luận

- Tập thể cán bộ Bộ môn Dược học cổ truyền - Trường Đại học Dược

Hà Nội

- Tập thể cán bộ Bộ môn Dược lý - Trường Đại học Y Hà Nội

Đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện khoá luận này

- Gia đình, bạn bè đã luôn ở bên tôi giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập ở trường

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2004

sv Phạm Thị Hằng

Trang 3

2.1 Nguyên vật liệu và phương pháp thực nghiệm 12

2.2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến đến thành

phần hoá học của vị thuốc cốt toái bổ 162.2.3 Kết quả nghiên cứu thử tác dụng sinh học 27

Trang 5

Chú giải chữ viết tắt

CTB : cốt toái bổ

CTBS : cốt toái bổ sống CTBTR : cốt toái bổ trích rượu

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỂ

Từ lâu, nhân dân ta đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc Ngày nay, bên cạnh sự phát triển không ngừng của nền y học hiện đại, nền y học cổ truyền ngày càng được chú trọng và phát triển Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam chỉ rõ:"Thuốc y học cổ truyền cần được phát huy và phát triển nhằm khai thác kinh nghiệm chữa bệnh cổ truyền, kế thừa các bài thuốc quý, tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thuốc y học cổ truyền Công tác phát triển Dược cần được kế hoạch hoá, xây dựng các vùng nuôi trồng cây con làm thuốc chọn lọc, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây gốc và xây dựng vườn Quốc gia về cây thuốc" [6]

Nhờ đó, nền y học cổ truyền đã góp phần không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, làm sáng tỏ nhiều kinh nghiệm chữa bệnh dân gian Theo lý luận của y học cổ truyền, các vị thuốc trước khi dùng có thể được chế biến bằng nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp chế biến đáp ứng một mục đích nhất định có thể làm tăng tác dụng chữa bệnh, có khi làm giảm độc tính hay thay đổi tính vị quy kinh, tránh mùi vị khó chịu hoặc

có tác dụng bảo quản vị thuốc Do đó, chế biến thuốc theo y học cổ truyền là giai đoạn hết sức quan trọng Trong khoá luận này, vị thuốc cốt toái bổ cũng được tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu đó Cốt toái bổ là vị thuốc được nhân dân ta sử dụng từ lâu đời để chữa bệnh xương khớp sưng đau, sai khớp, gãy xương, bong gân tụ máu Để góp phần chứng minh cho tác dụng chữa bệnh nói trên, chúng tôi tiến hành "Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền tới thành phần hoá học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ loài Drynaria bonii" Thông qua chế biến, khảo sát sự thay đổi về thành phần hoá học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ loài Drynaria bonii với ba mục tiêu:

- Tiến hành chế biến cổ truyền vị thuốc Cốt toái bổ loài Drynaria bonii bằng hai phương pháp sao vàng cách cát và trích rượu

- Nghiên cứu thành phần hoá học của vị thuốc Cốt toái bổ trước và sau khi chế

- Nghiên cứu một số tác dụng sinh học của vị thuốc Cốt toái bổ trước và sau khi chế

Trang 7

PHẦN 1: TỔNG QUAN

Chế biến thuốc cổ truyền là sử dụng các phương pháp tổng hợp để làm biến đổi vị thuốc từ trạng thái tự nhiên ban đầu thành vị thuốc sử dụng cho việc phòng và chữa bệnh Hay nói cách khác chế biến để chuyển vị thuốc từ dạng thuốc sống trở thành thuốc chín Chế biến làm cho thuốc có sự biến đổi, thay đổi nhất định về thành phần hoá học, công năng chủ trị.[20]

1.1 Ý nghĩa của chế biến cổ truyền.

1.1.1 Tinh chế thuốc, làm sạch tạp cơ học: [2],[3],[13],[20],[21]

- Loại bỏ những bộ phận không dùng làm thuốc như: bỏ hạt trong kim anh tử, bỏ vỏ tang bạch bì, bỏ rễ phụ tử

- Rửa tạp cơ học: đất, sỏi

- Một số vị thuốc có nguồn gốc khoáng vật được thu từ thiên nhiên, có tính chất thăng hoa, thường tinh chế bằng phương pháp chế sương (phương pháp nung kín) như chế lưu huỳnh, khinh phấn

1.1.2 Làm thay đổi tính, vị của vị thuốc, từ đó thay đổi tác dụng của thuốc:

- Tính, vị là đặc trưng của vị thuốc, biểu hiện xu hướng và cường độ tác dụng Chế biến theo các cách khác nhau có thể làm thay đổi tính, vị của chúng dẫn đến thay đổi tác dụng [3]

- Tăng tính ấm, giảm tính hàn bằng phương pháp hoả chế, thuỷ hoả hợp chế hoặc dùng các phụ liệu tính ôn như gừng, sa nhân, rượu [2],[3]

Ví dụ: Sinh địa (vị đắng, ngọt; tính mát) sau khi nấu với gừng, sa nhân, rượu thành thục địa (vị ngọt, tính ôn) Sinh địa có tác dụng lương huyết, thục địa có tác dụng bổ huyết.[2],[3],[20],[21]

- Giảm tính đại nhiệt hoặc đại hàn có thể chế bằng cách ngâm trong dịch nước vo gạo, cam thảo hoặc sao đen [3]

Trang 8

1.1.3 Giảm độc tính của thuốc:[2], [3]

Các vị thuốc có độc tính cao gây nguy hại đến tính mạng thường phải chế biến để giảm độc tính như rán dầu hoặc ép dầu tạo các sản phẩm giảm độc như phụ tử rán dầu, mã tiền rán dầu lạc, dầu vừng; ba đậu ép bỏ dầu

1.1.4 Giảm tác dụng không mong muôn: [2], [3],[20],[21]

Một số vị thuốc có thành phần hoá học gây tác dụng không mong muốn, việc chế biến có thể làm giảm tác dụng này

Ví dụ: Hà thủ ô đỏ chứa tanin và anthraglycosid gây táo bón và đại tiện nhiều, ngâm hà thủ ô trong nước vo gạo thì 2 chất này đều bị giảm

Mỗi vị thuốc có nhiều tác dụng khác nhau, trong bệnh cảnh của bệnh nhân này thì nó là tốt, nhưng trong bệnh cảnh của bệnh nhân khác thì trở thành tác dụng bất lợi, chế biến có thể làm giảm tác dụng này

Ví dụ: Thục địa bổ huyết, bổ âm sinh tân dịch khi dùng cho bệnh nhân tâm tỳ hư thì sẽ gây đầy chướng bụng, rối loạn tiêu hoá Nếu sao khô thì hạn chế được tác dụng này

1.1.5 Ôn định thành phần hoá học, góp phần bảo quản thuốc được tốt:

- Phương pháp sao, sấy khô ở nhiệt độ thấp khoảng 50-70°C làm giảm

độ ẩm thuốc, tránh sự phân huỷ thành phần hoạt chất, giảm hoạt động của một

Trang 9

bệnh, người xưa đã sử dụng các phương pháp chế biến khác nhau nhằm tạo cho vị thuốc có màu sắc, mùi vị tương ứng với màu sắc mùi vị của các hành trong ngũ hành với mục đích đưa thuốc đến nơi bị bệnh.

+ Tăng tác dụng của thuốc ở tỳ, vị thì chế biến vị thuốc có màu vàng, vị ngọt Ví dụ: Hoài sơn sao vàng, hoàng kỳ trích m ật

+ Tăng tác dụng của thuốc ở thận, bàng quang thì chế biến để vị thuốc

có màu đen, vị mặn Ví dụ: hà thủ ô chế với nước đậu đen, đỗ trọng chế muối

+ Tăng tác dụng của thuốc ở phế thì chế biến để vị thuốc có màu trắng,

vị cay Ví dụ: Bán hạ, đẳng sâm chế với dịch nước gừng

+ Tăng tác dụng của thuốc ở tâm, tiểu tràng thì chế biến để vị thuốc có

màu đỏ, vị đắng Ví dụ: Xương bồ tẩm thần sa

+ Tăng tác dụng của thuốc ở can, đởm thì chế biến để vị thuốc có màu xanh, vị chua Ví dụ: Hương phụ chế với dấm

- Chế biến thuốc có thể làm tăng hiệu lực trị bệnh trên cơ sở:

+ Hiệp đồng tác dụng của vị thuốc với phụ liệu Ví dụ: Bán hạ chế sinh khương thì tăng tác dụng chống nôn; chế cam thảo thì tăng tác dụng chỉ

ho, long đờm

+Thay đổi tác dụng của vị thuốc

+ Tăng khả năng giải phóng hoạt chất khỏi vị thuốc

1.1.7 Thay đổi vê mặt hoá học của vị thuốc do đó tác dụng sinh học của vị thuốc sẽ thay đổi:[ 2], [20], [21]

- Dưới tác dụng của nhiệt độ và các phụ liệu thường làm cho thành phần hoá học của vị thuốc ít nhiều bị thay đổi, do đó ảnh hưởng đến tác dụng của vị thuốc Ví dụ: Các dược liệu chứa tinh dầu, sau khi chế biến, hàm lượng tinh dầu giảm rõ rệt

4

Trang 10

- Sau khi chế, thành phần hoá học của một số dược liệu đã biến đổi thành chất mới Ví dụ: Phụ tử sống chứa aconitin, độc A, sau khi chế biến bị thuỷ phân thành benzoylaconin, aconin có độ độc giảm rõ rệt.

+ Bồ hoàng sống có tác dụng hoạt huyết còn bồ hoàng thán có tác dụng chỉ huyết

1.1.9 Giảm tính bền vững cơ học, tăng khả năng giải phóng dược chất do

đó làm tăng hiệu lực thuô'c:[2],[20],[2ì]

- Các khoáng chất có thể chất rắn khi chế biến thường phải dùng phương pháp vô cơ hoá, nung ở nhiệt độ cao như cửu khổng,mẫu lệ

Xuyên sơn giáp, miết giáp, quy bản dạng sống rất cứng, rắn chắc, rang cách cát rồi tôi dấm sẽ cho thể chất nhẹ, xốp

- Dược liệu có thể chất rắn khi ngâm, ủ sẽ trương nở giảm độ bền cơhọc

1.1.10 Phân chia thuốc thành kích thước thích hợp thuận tiện cho việc sử dụng:[2],[3U20U2ỉ]

Qua chế biến, dược liệu thường được phân chia thành dạng phiến mỏng

và bào chế thành dạng thuốc chín có kích thước phù hợp để sử dụng dưới dạng thuốc thang, chè thuốc, thuốc bột, cao đơn hoàn tán

1.2 Các phương pháp chê biến cổ truyền:[2], [3],[20],[21]

1.2.1 Phương pháp hoả chế:

Trang 11

Là phương pháp sử dụng sự tác động trực tiếp hay gián tiếp qua các phụ liệu trung gian của nhiệt độ ở các mức độ khác nhau

- Sao gián tiếp: Là phương pháp sao nhiệt được truyền qua phụ liệu trung gian Các phụ liệu thường dùng là: Gạo, cám, cát, hoạt thạch, văn cập

■ Các phương pháp hoả chế khác: Nung, lùi, nướng, hoả phi

1.2.2 Phương pháp thuỷ chê

Là phương pháp chế biến sử dụng tác động của nước hoặc dịch phụ liệu

để đáp ứng được các mục đích khác nhau

Các phương pháp thuỷ chế thường dùng: Ngâm, ủ, tẩm, thuỷ phi

1.2.3 Phương pháp thuỷ hoả hợp chế:

Là phương pháp chế biến phối hợp nước lửa, sử dụng sự tác động của

nước ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ thường.

Trích: Trích là phương pháp tẩm vào vị thuốc một hay nhiều loại dịch phụ

liệu, ủ đến khi thấm đều thì sao hoặc nướng

6

Trang 12

- Phương pháp trích rượu nhằm mục đích: Cải thiện tính dược, dẫn thuốc lên trên; tăng cường tác dụng bổ can thận; tăng cường tác dụng hoạt huyết, thông lạc; trừ mùi hôi tanh khó chịu[13].

- Tuỳ vào mục đích điều trị mà trích với các dịch phụ liệu khác như: trích giấm, trích mật, trích gừng, trích cam thảo, trích đậu đen, trích muối

Ngoài ra, có một số phương pháp khác như: chưng, đồ, nấu, sắc

1.3 Chê biến cổ truyền cốt toái bổ:

1.3.1 Vài nét về vị thuốc cốt toái bổ:

1.3.1.1 Hình thái thực vật:

Ảnh 1: Loài Drynaria bonii được thu hái ở Lạng Sơn

Tên khoa học của một số loài Cốt toái bổ ở Việt Nam: [1],[8],[14],[27]

- Drynaria bonii Chirst

- Drynaria fortunei J.Sm

- Drynaria quercifolia (L) J.Sm

- Drynaria propinqua (Wall, ex Mett.) J.Sm

Họ Ráng: Polypodiaceae

Trang 13

Trong số các loài trên, Drynaria bonii hiện đang được sử dụng nhiều ở

Việt Nam còn có tên là Tắc kè đá[l],[8],[9],[14],[27], Ráng đuôi phụng Bon [8], [9],[14]

Drynaria bonii là cây sống phụ sinh trên các cây gỗ hay trên các vách

đá Thân rễ giống củ gừng, mọc bò dài, mọng nước, có lông màu vàng nâu

Lá có hai loại : lá hứng mùn hình trái xoan, rộng 10cm gần như ôm lấy thân, thường khô và có màu nâu; lá thường có phiến màu xanh, dài 25- 45 cm chẻ thuỳ sâu thành 3-7 cặp thuỳ lông chim, trục lá có cánh, cuống lá dài 10-20

cm, các ổ túi bào tử nhỏ, rải rác khắp mặt dưới lá [1], [8], [9], [14], [27]

Thân rễ tương đối thẳng, ít phân nhánh, dài 5-17 cm, rộng 0,6-1 cm, lông dạng vảy màu vàng nâu, dễ rụng để lộ thân rễ màu vàng nâu hoặc nâu nhạt, thể cứng, mặt gãy màu vàng [7]

Cây thường mọc trên triền đá các vùng rừng Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Trị, Đồng Nai, Lâm Đồng, An Giang Ngoài ra, còn mọc ở Lào, miền trung và nam Trung Quốc [1] [8],[9]

Thân rễ được thu hái quanh năm nhưng thường từ tháng 4 đến tháng 9, cắt bỏ rễ con, cạo sạch lông, thái phiến nhỏ phơi khô, đốt nhẹ cho cháy hết lông nhỏ phủ trên thân rễ [1],[27]

1.3.1.2 Thành phần ho á học:

Hiện nay, chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về thành phần hoá học của thân rễ cốt toái bổ Loài Drynaria fortunei có Flavonoid là Hesperidin [8],[18], naringin [8],[17]; tinh bột chiếm từ 25 - 34,89% [17],[18],

Theo Trần Văn Kỳ[17], loài Drynaria bonii có chứa naringin

R = RutinoseHesperidin

8

Trang 14

Naringin R = Neohesperidose

OH

Naringenin

1.3.1.3 Tác dụng sinh học của cốt toái bổ:

Cốt toái bổ là cây thuốc dễ kiếm, rẻ tiền, được sử dụng nhiều trong đông y và kinh nghiệm dân gian Cho đến nay, cốt toái bổ vẫn chưa được nghiên cứu sâu về tác dụng dược lý Theo nghiên cứu của Trần Thanh Tùng (2003) [24] cho thấy, dạng cao lỏng 2:1 của cốt toái bổ loài Drynaria fortunei

có tác dụng giảm đau, chống viêm cấp và mạn tính

Theo Gu Sui Bu [25], bột cao 5 :1 của cốt toái bổ loài Drynaria fortunei còn được sử dụng như một thức ăn bổ sung

Theo Trần Văn Kỳ [17], cốt toái bổ có tác dụng tăng cường sự hấp thu canxi của xương, nâng cao lượng phospho của canxi trong máu, giúp cho chóng liền xương; thuốc có tác dụng giảm đau, an thần; đồng thời có tác dụng phòng ngừa Lipid huyết cao và phòng ngừa được chứng xơ mỡ mạch

Trên cơ sở những tác dụng sinh học đã được nghiên cứu về cốt toái bổ, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về thành phần hoá học và ảnh hưởng của các phương pháp chế biến đến thành phần hoá học và tác dụng sinh học của loài Drynaria bonii, từ đó góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa khoa học của phương pháp

Trang 15

chế biến cổ truyền, góp phần xây dựng phương pháp chế biến vị thuốc để việc

sử dụng thuốc cổ truyền hiệu quả và an toàn

1.3.2 Chế biến cốt toái bổ:

Ở nước ta, cốt toái bổ là vị thuốc còn được dùng chủ yếu trong phạm vi nhân dân để chữa các bệnh về xương khớp Việc chế biến cốt toái bổ cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu một cách khoa học Nhân dân chủ yếu thu lấy thân rễ, loại bỏ cuống lá, lông, rửa sạch, thái phiến rồi phơi khô, có thể sao vàng để sắc uống; có khi được dùng sống để đắp các vết thương[18]

Việt Nam là nước có khí hậu nóng ẩm, do đó cốt toái bổ cũng như các vị thuốc khác có nguồn gốc dược liệu rất dễ bị mốc gây khó khăn cho việc bảo quản

Các phương pháp ch ế biến cốt toái bổ: [20]

+ Sao vàng cách cát : Rang cát nóng già (ở nhiệt độ 220°C), cho cốt

toái bổ phiến vào, đảo đều đến khi mặt phiến bắt đầu phồng lên ngả màu vàng hơi

sém, đổ ra sàng bỏ cát và lông còn sót lại

+ Sao vàng' Đem cốt toái bổ phiến sao đến khi mặt phiến hơi phồng,

có màu vàng hơi đen là được

+ Trích rượu: Đem cốt toái bổ phiến tẩm với rượu theo tỷ lệ 1 kg tẩm

200 ml rượu 30°, ủ lgiờ cho ngấm hết rượu Tiến hành sao đến khi mặt phiến

có màu vàng đậm là được

1.3.3 Công dụng và cách dùng:

Theo y học cổ truyền, cốt toái bổ có vị đắng, tính ấm, quy vào hai kinh can và thận, có khả năng bổ thận, tiếp cốt, hoạt huyết tán ứ dùng chữa phong thấp, đau lưng, thận hư, đau răng, trẻ em cam tích, đòn ngã, thần kinh suy nhược, ứ huyết gây đau [1], [8],[9]

10

Trang 16

Có thể dùng thân rễ tươi giã nát gói vào lá chuối nướng cho mềm, rồi đắp lên chỗ đau chữa đòn ngã, ứ huyết gây đau, bong gân Ngày làm 2 - 3 lần

Các vị thuốc tán bột, để An tức hưởng riêng, trộn mật, cho An tức hương vào sau làm hoàn Ngày uống 8-12g với nước nóng pha rượu

Tác dụng: Thắt lưng co rút, đau không ngừng

Trang 17

PHẦN 2 : THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 2.1 Nguyên vật liệu và phương pháp thực nghiệm:

2.1.1 Đôi tượng và thiết b ị :

* Đôi tượng:

- Thân rễ của loài cốt toái bổ Drynaria bonii Christ được thu hái tại

Lạng Sơn vào tháng 9

- Cao lỏng 2:1 của loài cốt toái bổ sống và trích rượu

- Dịch chiết saponin toàn phần của cốt toái bổ chưa chế

* Trang thiết bị, máy móc:

- Bộ đo thể tích (plethysmometer) loại N°.7140 của hãng UGO BASILE-Italy

- Cân phân tích Sartorius -BP221S

- Mâm nóng (hot plate) mode-DS37 SOSCREL loại N° 7280 hãng UGO BASILE-Italy

- Máy phân tích độ ẩm Precisa PH 60 - Thuỵ sĩ

-Tủ sấy Memmenrt

* Súc vật thí nghiệm:

- Chuột nhắt trắng chủng Swiss cả 2 giống khoẻ mạnh, nặng từ 18-22g; chuột cống trắng cả 2 giống khoẻ mạnh nặng từ 150-170g do Viện vệ sinh dịch tễ cung cấp và được nuôi trong điều kiện đầy đủ thức ăn và nước uống của phòng thí nghiệm Bộ môn Dược lý-Trường Đại học Y Hà Nội

* Dung môi hoá chất:

+ Hoá chất đủ tiêu chuẩn phân tích:

Trang 18

+ Dung môi hoá chất dùng để thử tác dụng dược lý:

- Acid acetic 1%J — Carrageenin 1%

2.1.2.2 Nghiên cứu sự thay đổi thành phần hoá học của vị thuốc cốt toái

bổ trước và sau khi chế.

+ Định tính các thành phần hoá học bằng các phản ứng theo phương pháp chung [4],[5],[12], [23]

+ Sắc ký lớp mỏng với bản mỏng silicagel GF254(Merck) đã tráng sẵn

Nghiên cứu tác dụng giảm đau

■ Tác dụng giảm đau trung ương

Phương pháp mâm nóng (Hot plate)

Chuột nhắt trắng được chia làm 5 lô:

- Lô l(lô chứng): uống NaCl 0,9% -2ml/0,lkg chuột

- Lô 2: Uống aspegic (lysin acetyl salicylat 0,09g/kg) tương đương aspirin 0,05g/kg

- Lô 3: Uống cao cốt toái bổ sống 4gCTB/kgTT

- Lô 4: Uống cao cốt toái bổ trích rượu 4gCTB/kgTT

Trang 19

- Lô 5: Uống dịch chiết saponin toàn phần của cốt toái bổ tương đương 4gCTB/kgTT

Cho chuột uống thuốc thử 3 ngày liền vào một giờ nhất định, riêng lô uống aspirin chỉ uống vào ngày thứ 3 Đến ngày thứ 3, sau khi uống thuốc thử

60 phút, đặt chuột lên mâm làm nóng được duy trì ở 56°c Theo dõi thời gian chuột phản ứng với nhiệt độ, là thời gian tính từ lúc đặt chuột lên "mâm nóng" đến khi chuột liếm chân sau Loại bỏ những chuột phản ứng quá sớm (dưới 8 giây) hoặc quá chậm (trên 30 giây)

■ Tác dụng giảm đau tại chỗ:

Phương pháp gây quặn đau bằng acid acetic[26]

Thực nghiệm được tiến hành theo phương pháp Koster, chuột nhắt trắng được chia làm 5 lô:

- Lô l:(lô chứng) Uống NaCl 0,9% -2ml/0,lkg

- Lô 2:Uống aspegic (lysin acetyl salicylat)0,09g/kgTT tương đương aspirin 0,05g/kgTT

- Lô 3: Uống cao cốt toái bổ sống 4gCTB/kgTT

- Lô 4: Uống cao cốt toái bổ trích rượu 4gCTB/kgTT

- Lô 5: Uống dịch chiết saponin toàn phần của cốt toái bổ tương đương 4gCTB/kgTT

Cho chuột uống thuốc thử 3 ngày liền vào một giờ nhất định, riêng lô uống aspirin chỉ uống vào ngày thứ 3 Đến ngày thứ 3, sau khi uống thuốc thử

60 phút, tiêm màng bụng acid acetic l%-0,2ml/con, đếm số lần quặn đau của từng chuột trong từng 5 phút, đến phút thứ 20

Nghiên cứu tác dụng chống viêm

■ Thử tác dụng chống viêm cấp

+ Gây phù viêm lòng bàn chân chuột cống trắng bằng carrageenin[28]

Chuột cống trắng cả 2 giống khoẻ mạnh nặng từ 150-170g được chia ngẫu nhiên thành 5 lô, mỗi lô 10 con

14

Trang 20

- Lô l(lô chứng): Uống NaCl 0,9%-2ml/0,lkgTT

- Lô 2: Uống aspegic (lysin acetyl salicylat) 0,09g/kgTT tương đương aspirin 0,05g/kgTT

- Lô 3: Uống cao cốt toái bổ sống 4gCTB/kgTT

- Lô 4: Uống cao cốt toái bổ trích rượu 4gCTB/kgTT

- Lô 5: Uống dịch chiết saponin toàn phần của cốt toái bổ tương đương 4gCTB/kgTT

Cho chuột uống thuốc thử 3 ngày liên tục vào một giờ nhất định Ngày thứ 3 sau khi uống thuốc 1 giờ, tiến hành gây phù viêm bằng cách tiêm vào dưới da gan bàn chân sau bên phải của chuột dung dịch carrageenin 1 % (trong nước muối sinh lý)-0,05ml/chuột, thể tích chân chuột được đo bằng dụng cụ chuyên biệt plethysmometer loại N°7140 của hãng UGO BASILE Italy trước

và sau khi gây phù viêm bằng carrageenin ở các thời điểm sau gây phù viêm 2-4-6-24giờ

Phần trăm độ tăng thể tích chân chuột được tính như sau:

dụng chống phù viêm được biểu thị bằng tỉ lệ % ức chế phản ứng phù viêm.

Tỉ lệ phần trăm ức chế phản ứng phù viêm (1%) được tính như sau:

AVC% -A V ,%

A v„ %Trong đó:

Trang 21

AVc%: Trung bình % độ tăng thể tích chân ở lô chứng

AVt%: Trung bình % độ tăng thể tích chân ở lô thuốc

■ Xử lý sô liệu: Các kết quả nghiên cứu được trình bày theo:

Số trung bình ± độ lệch chuẩn (M ± SD) và được xử lý bằng thuật toán thống kê T-test Student [11]

22.1.2 C hế biến cổ truyền:

Nguyên liệu là cốt toái bổ phiến khô

+ Sao vàng cách cát:

- Xử lý cát: Cát được làm sạch bằng cách cho cát vào trong nước rửa kỹ

rồi gạn bỏ nước, làm như vậy nhiều lần rồi đem phơi khô cát

- Cho cát đã được xử lý vào chảo gang đảo đến khi cát nóng già ở nhiệt

độ khoảng 200- 220°c (được xác định bằng cách để tờ giấy lên mặt cát thì tờ giấy chuyển màu vàng cháy), cho cốt toái bổ phiến vào, đảo đều đến khi mặt phiến bắt đầu hơi phồng lên ngả màu vàng đậm, đổ ra sàng xát bỏ cát và lông còn sót lại

+ Trích rượu: Đem cốt toái bổ phiến tẩm với rượu (1 kg cốt toái bổ

phiến với 200ml rượu 30° ), ủ 1 giờ cho ngấm hết rượu, rồi đem sao tới khi mặt phiến có màu vàng đậm là được

2.2.2 Nghiên cứu sự ảnh hưởng của phương pháp chế biến đến thành phần hoá học của vị thuốc cốt toái bổ

16

Trang 22

Các mẫu nghiên cứu: cốt toái bổ sống, sao vàng cách cát, trích rượu.

2.2.2.1 Định tính saponin:

+ Chiết xuất:

Cân 2g bột cốt toái bổ cho vào bình nón 250ml, thêm 20ml cồn 80°, đun sôi cách thuỷ 10 phút, lọc nóng, để nguội Đem dịch lọc làm các phản ứng sau:

- Phản ứng phân biệt saponin steroid và saponin triterpenoid:

Cho vào 2 ống nghiêm lớn, mỗi ống lm l dịch chiết cồn, ống 1 thêm 5ml NaOH 0,1N (pH=13) và ống 2 thêm 5 ml HC1 0,1N (pH=l) Lắc mạnh dọc theo chiều thành ống nghiệm trong 2 phút Quan sát thấy cột bọt tạo thành

ở ống nghiệm thứ 1 cao hơn cột bọt tạo thành ở ống nghiệm thứ 2

Sơ bộ kết luận, thân rễ cốt toái bổ có chứa saponin steroid

- Phản ứng Vanilin 1%/cồn trong H2S 0 4đặc:

Cho 1 ml dịch chiết cồn vào một ống nghiệm, thêm 0,5 ml Vanilin

1%/cồn trong H2S 04đặc, thấy xuất hiện màu âỏ.(Phản ứng dương tính ở cả 3 mẫu)

Trang 23

Cân 5g bột cốt toái bổ (sống hoặc chế) cho vào các bình nón 250ml khác nhau Thêm 100ml nước cất, đun sôi cách thuỷ 30 phút, lọc nóng sau đó

để nguội, cho vào bình định mức 100ml, thêm nước cất đến vạch, lấy 50ml dịch chiết pha thành 100ml để xác định chỉ số tạo bọt

Lấy 10 ống nghiệm(16 X l,6cm), đánh số thứ tự từ 1 đến 10 và bố trí thí nghiệm theo bảng sau:

Kết quả:

CSBus = 2 ! ^ = 66,7

5.6

18

Trang 24

Cân 5 g bột cốt toái bổ(sống hoặc chế) cho vào bình nón dung tích 250

ml, thêm 20 ml cồn 80°, đun sôi cách thuỷ 10 phút, lọc nóng, bốc hơi cách thuỷ thu được cắn, đem cắn hoà tan với 20 ml nước cất đã được đun nóng, lọc, cho dịch lọc vào một bình gạn 150 ml, thêm 10ml CHC13, lắc, gạn lấy lớp nước, làm như vậy 3 lần Dịch nước thu được, thêm 10 ml ethylacetat, lắc, gạn lấy lớp ethylacetat, làm như vậy 3 lần, gộp dịch chiết ethylacetat bốc hơi cách thuỷ tới cắn, hoà tan cắn bằng lOml cồn 80° để làm các phản ứng:

■ Phản ứng Cyanidin: Cho vào ống nghiệm nhỏ 1 ml dịch chiết cồn thêm

một ít bột Mg kim loại, nhỏ từng giọt HC1 đặc (4-5 giọt) để trên cách thuỷ

sôi vài phút, thấy xuất hiện màu đỏ (phản ứng dương tính ở cả 3 mẫu)

■ Phản ứng với kiềm: Nhỏ một giọt dịch chiết lên giấy lọc, hơ khô rồi để lên miệng lọ amoniac đậm đặc đã mở nắp thấy xuất hiện màu đỏ cam(phản ứng dương tính ở cả 3 mẫu)

■ Phản ứng với FeCls 5%: Lấy 1 ml dịch chiết 1 cồn, lắc đều cho tan rồi thêml ml FeCl3 thấy xuất hiện tủa màu xanh đen (phẩn ứng dương tính ở 3

m ẫu )

■ Sắc ký lớp mỏng:

- Chuẩn bị dịch chấm sắc ký: Lấy 5ml dịch chiết ethylacetat ở trên cho

vào ống nghiệm nhỏ, bốc hơi dung môi thu được cắn, hoà cắn bằng lml cồn 80°, dùng dịch này để chấm sắc ký

- Chất hấp phụ: Bản mỏng bằng nhôm tráng sẵn Silicagel GF254 của hãng Merck đã được hoạt hoá ở nhiệt độ 110°c trong 1 giờ

Ngày đăng: 07/09/2015, 10:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.3.1.1. Hình thái thực vật: - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
1.3.1.1. Hình thái thực vật: (Trang 12)
Bảng 2.2  :  Kết quả khai triển sắc ký lớp mỏng của hệ 2: - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Bảng 2.2 : Kết quả khai triển sắc ký lớp mỏng của hệ 2: (Trang 25)
Bảng 2.3:  Kết quả định tính các thành phần hoá học - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Bảng 2.3 Kết quả định tính các thành phần hoá học (Trang 27)
Sơ đồ 2.1. Qui trình chiết xuất flavonoid toàn phần - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Sơ đồ 2.1. Qui trình chiết xuất flavonoid toàn phần (Trang 29)
Bảng 2.4.  Kết  quả  định  lượng  Flavonoid  toàn  phần  của  cốt  toái  bổ - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Bảng 2.4. Kết quả định lượng Flavonoid toàn phần của cốt toái bổ (Trang 30)
Sơ đồ 2.2. Qui trình chiết xuất saponin toàn phần - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Sơ đồ 2.2. Qui trình chiết xuất saponin toàn phần (Trang 32)
Bảng 2.6  :  Thời gian chuột phản ứng với nhiệt độ (giây): - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Bảng 2.6 : Thời gian chuột phản ứng với nhiệt độ (giây): (Trang 33)
Bảng 2.7. Số cơn quặn đau của từng lô chuột sau tiêm acid acetic. - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Bảng 2.7. Số cơn quặn đau của từng lô chuột sau tiêm acid acetic (Trang 35)
Bảng 2.8  :  Tác dụng chống viêm cấp của cốt toái bổ trước và sau khi chế - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế biến cổ truyền đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cốt toái bổ (rhizoma drynariae bonii)
Bảng 2.8 : Tác dụng chống viêm cấp của cốt toái bổ trước và sau khi chế (Trang 37)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w