1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của những quan điểm CT – XH của triết học Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

27 1,4K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của những quan điểm CT – XH của triết học Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
Tác giả Bùi Thị Hồng Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị quảng cáo
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 196 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học.

Trang 1

Mục lục

A- Lời mở đầu 2

B- Nội dung 4

І- Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của triết học Nho giáo 4

1, Nho giáo nguyên thủy: 5

2, Hán Nho: 5

3, Tống Nho: 6

II - Nội dung của triết học Nho giáo 6

1, Những tác phẩm kinh điển của Nho giáo: 6

1.1.Ngũ Kinh: 6

1.2, Tứ thư: 7

2, Nội dung cơ bản của Nho giáo: 9

2.1 Tu thân: 10

2.2 Hành đạo: 12

3, Quan điểm chính trị - xã hội của triết học Nho giáo: 13

III - Vai trò của những quan điểm CT – XH của triết học Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay: 17

1, Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam: 17

2, Ảnh hưởng của những quan điểm chính trị - xã hội của triết học Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam: 18

2.1 Trong xã hội Việt Nam cổ đại: 18

2.2 Trong xã hội Việt Nam hiện đại: 20

IV - Ảnh hưởng của triết học Nho giáo trong văn hóa kinh doanh: 22

1, Về kích thước văn hóa trong XH Khổng giáo: 23

2, Với cấu trúc xã hội và lực lượng kinh doanh: 24

C Kết luận: 26

Danh mục tài liệu tham khảo 27

Trang 2

A- Lời mở đầu

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhấttrên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại tronglịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trongnhững cái nôi của văn minh nhân loại Bên cạnh những phát minh, phát kiến vềkhoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn

có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới

Trong số các học thuyết triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nhogiáo Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “nhân” (người), đứngcạnh chữ “nhu” (cần, chờ, đợi) Nho gia còn được gọi là nhà nho, người đã đọcthấu sách thánh hiền được thiên hạ trọng dụng dạy bảo cho mọi người sống hợp vớiluân thường đạo lý Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởnghoặc trí thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thờiKhổng tử đã hệ thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết,gọi là nho học hay “Khổng học” - gắn với tên người sáng lập ra nó

Ngày nay, chúng ta thường nghe nói “nước có quốc pháp, nhà có gia phong”

là những câu nói răn dạy để giáo dục con người Việt Nam sống có phép tắc, khuônmẫu đạo đức nhất định theo tinh thần “Nho giáo”, đồng thời còn là biểu tưởng tựhào về truyền thống văn hoá dân tộc, là nguyên khí tinh thần độc lập, từ cường củamột dân tộc, là bản sắc riêng về truyền thống văn hoá

Tìm hiểu về triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội ViệtNam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc vận dụng vào thực tiễn nhất là trongvăn hóa ứng xử trong đời sống xã hội cũng như trong kinh doanh trong bối cảnhhội nhập kinh tế của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 3

Từ những ý nghĩa lí luận cũng như ý nghĩa thực tiễn to lớn của triết học Nho

giáo, em xin mạnh dạn đưa ra những nhận định của mình về đề tài: “Những quan

điểm chính trị - xã hội của triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội Việt Nam”

Do kiến thức còn hạn hẹp, thời gian có hạn, chưa quen với cách viết tiểu luậnnên bài viết khó tránh khỏi những sai sót Vậy rất mong thầy giáo chỉ bảo đóng góp

để bài viết được hoàn thiện hơn Em xin trân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 10/05/09

Trang 4

B- Nội dung

І- Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của triết học Nho giáo

Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và

tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị Nho giáo rất pháttriển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam Nhữngngười thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời

Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công

Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã

hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công

nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ

thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó

Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người

sáng lập ra Nho giáo

Khổng Tử

Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mầu Ni,Giê-xu, người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng tử một cáchtrực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do các học tròcủa ông để lại Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho" của nhà Tần, hai trămnăm sau khi Khổng Tử qua đời khiến việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tửcàng khó khăn Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệthống các tư tưởng và cuộc đời của ông

Trang 5

Lịch sử phát triển của Nho giáo được chia thành các thời kì:

1, Nho giáo nguyên thủy:

Thời Xuân Thu , Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinhgồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc

Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là NgũKinh

Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốnLuận Ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử,dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại Học

Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốnTrung Dung

Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ôngchép thành sách Mạnh Tử

Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi làNho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh" Từđây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính họcthuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo

Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ,giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành

2, Hán Nho:

Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưa

Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tưtưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phongkiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là HánNho

Trang 6

Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực củagiai cấp thống trị Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị".

3, Tống Nho:

Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận

ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầugiường của các nhà Nho

Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thườnggọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di

Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo" Điểm khác biệt của Tống nhovới Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) vàcác yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị

II - Nội dung của triết học Nho giáo

1, Những tác phẩm kinh điển của Nho giáo:

Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyênthủy Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư Hệ thống kinh điển đó hầuhết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên.Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức lànhững tư tưởng cốt lõi của Nho gia

1.1.Ngũ Kinh:

- Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tìnhyêu nam nữ Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tìnhcảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng

Trang 7

- Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng

Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quânnhư Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ

- Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm

phương tiện để duy trì và ổn định trật tự Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận ngữ).

- Kinh Dịch: nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên cáckhái niệm âm dương, bát quái, Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích cácquẻ của bát quái gọi là Thoán từ Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từnghào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch Khổng Tửgiảng giải rộng thêm Hoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện vàHào truyện

- Kinh Xuân Thu: ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử.Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nênông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục

các bậc vua chúa Ông nói, "Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách

ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này" Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất (Xuân

thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói những sự việc xảy ra.)

- Kinh Nhạc: do Khổng tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làmthành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký Như vậy lục kinh chỉ còn lại ngũkinh

1.2, Tứ thư:

- Đại Học: Sách Đại học dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên, khi bước vàobậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh vác việc nước Theo các Nho gia, sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời nói của

Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phải sửa cái đức

Trang 8

của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chổ chí thiện Muốnđược vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều) : cánh vật, trí tri, thành ý, chínhtâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Cái gốc của đạo quân tử là sự “tu thân”.Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ

tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đến thường dân, ai ai cũng đều lấy sự sửacủa mình làm gốc”)

- Trung Dung: Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra Tử Tư là học trò của Tăng Tử,cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Không Tử nói về đạo “trungdung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa,không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín,cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân

(Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh

Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư.)

- Luận Ngữ : là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Không Tử và nhữnglời nói của người đương thời

Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiênkhông có liên hệ với nhau Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách vàtính tình của Khổng Tử, nhất là về giáo dục, ông tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý củatừng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnhcủa mỗi người Như có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người mộtcách

Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng

Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo

- Mạnh Tử: Sách Mạnh Tử là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ôngnhư : Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương… ghi chép lại những điềuđối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với

Trang 9

những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như : học thuyết của Mặc

Tử, Dương Chu

Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần : Tâm học và Chính trị học

+ Tâm học : Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho Sựgiáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó đểphát triển thành người lương thiện Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người.Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể Học là để giữ cái Tâm,nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh Nhân và nghĩa vốn có sẳn tronglương tâm của người Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờtối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng nó làcái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời

+ Chính trị học : Mạnh Tử chủ trương : Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạotrong thời quân chủ chuyên chế đangthịnh hành Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấydân làm của riêng cho mình Phải duy dân và vì dân Muốn vậy, phải có luật phápcông bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó Người trịdân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân đượcsung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩalàm cơ bản để thi hành Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử vô cùng mới mẽ vàtáo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đókhông thể nào bắt bẻ được Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độquân chủ lập hiến sau này

2, Nội dung cơ bản của Nho giáo:

Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã

hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được

người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người

Trang 10

thấp kém về điạ vị xã hội; sau "quân tử" còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền) Để trở thành người

quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thân

xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo

ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh) Cần phải hiểu cơ sơ triết lí của Nho giáo mới nắm

được logic phát triển và tồn tại của nó

2.1 Tu thân:

Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức để

làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội

Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo

Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo

Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, TamTòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình

a, Tam Cương: Tam là ba; Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ:Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ)

- Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thànhmột dạ

- Phụ tử: Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vâng phụccha và khi cha già thì phải phụng dưỡng

Trang 11

- Phu thê: Trong quan hệ chống vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ, vợvâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng.

b, Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phảihằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín

- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật

- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải

- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người

- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai

- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy

c, Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"

- Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha

- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,

- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con"

d, Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải

có, là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh

- Công: khéo léo trong việc làm

- Dung: hòa nhã trong sắc diện

- Ngôn: mềm mại trong lời nói

- Hạnh: nhu mì trong tính nết

* Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân :

- Đạt Đạo: Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà ngườiquân tử phải thực hiện trong cuộc sống "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạovua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (sách Trung Dung),tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu" Đó chính làNgũ thường, hay Ngũ luân

Trang 12

Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là "trung dung" Tuy nhiên, đến Hán nho ngũluân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tamthường hay còn gọi là Tam tòng.

- Đạt Đức: Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng" Khổng Tử nói: "Đứccủa người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lo buồn, người tríkhông nghi ngại, người dũng không sợ hãi" (sách Luận ngữ)

Về sau, Mạnh Tử thay "dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức:

"nhân, nghĩa, lễ, trí" Hán Nho thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là:

"nhân, nghĩa, lễ, trí, tín" Năm đức này còn gọi là ngũ thường

- Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức", người quân tửcòn phải biết "Thi, Thư, Lễ, Nhạc" Tức là người quân tử còn phải có một vốn vănhóa toàn diện

2.2 Hành đạo:

Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính

trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, bìnhthiên hạ" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc,

và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ nam chomọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:

- Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người vàcoi người như bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tửnói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừng làm chongười khác" (sách Luận ngữ) Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức,Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thìnhạc mà làm gì?" (sách Luận ngữ)

- Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi ngườiphải làm đúng chức phận của mình "Danh không chính thì lời không thuận, lờikhông thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ) Khổng tử nói với vua Tề Cảnh

Trang 13

Công: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con

ra con" (sách Luận ngữ)

*Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo,chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Vàđến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ,nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà khôngcần phải có quyền Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thìđược gọi là tiểu nhân (như dân thường)

3, Quan điểm chính trị - xã hội của triết học Nho giáo:

* Thứ nhất : Xã hội là một tổng thể những quan hệ xã hội giữa con người

với con người

Nho giáo coi những quan hệ chính trị - xã hội là những nền tảng của xã hội,

đề cao vai trò của những quan hệ ấy và thâu tóm những quan hệ này vào 3 rườngmối chủ đạo ( gọi là tam cương ) Trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua -tôi, cha– con, vợ - chồng Nếu xếp theo “tôn ty trên – dưới” thì vua ở vị trí cao nhất, cònnếu xếp theo chiều ngang thì vua - cha - chồng xếp ở hàng làm chủ Điều này phảnánh tư tưởng chính trị quân quyến và phụ quyền Nho gia

Để giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội mà trước hết là mối quan hệ

“tam cương” Khổng Tử đã đề cao tư tưởng “chính danh” Để thực hiện chính danhKhổng Tử đặc biệt coi trong “nhân trị” chứ không phải “pháp trị”

*Thứ hai: Xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến,

một xã hội đầy những biến động, loạn lạc và chiến tranh Lý tưởng của Nho giáo làxây dựng một “xã hội đại đồng”

Đó là một xã hội có trật tự trên dưới, có vua sáng - tôi hiền, cha từ - con thảo,trong ấm - ngoài êm; trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua

Ngày đăng: 17/04/2013, 08:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

І- Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của triết học Nho giáo - Vai trò của những quan điểm CT – XH của triết học Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
l ược quá trình hình thành và phát triển của triết học Nho giáo (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w