: Cục kiểm lâm thuộc Bộ NN-PTNT : Trung tâm nghiên cứu nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường thuộc Đại học Quốc gia - Hà Nội : Viện Kinh tế sinh thái : Liên minh châu Âu : Tổ chức Q
Trang 1PHAN TICH CAC TRO NGAI
VA NHUNG YEU TO HO TRO
ĐỐI VỚI CAC DU AN
KET HOP BAO TON VOI PHAT TRIEN
Hà Nội - tháng 7 năm 2001
Trang 2Mục lục
I Mở đầu "1" 3
1-1 Thế nào là các dự án kết hợp bảo tồn với phát triểnICDP) 4
1-2 Các ICDP ở Việt nam cee 9 1-3 Cơ sở của việc phân tích các ICDP 9
1-4 Hội thao bai hoc kinh nghiệm các ICDP 10
1-5 Mục đích phân tích ICDP 12
1-6 Nguồn tài trợ cho việc phân tích ICDP 12
II Quan điểm và phương pháp luan "¬ e cerns coeees 13 2-1 Phương pháp luận 13
2-2 Trọng tâm của cuộc phân tích 14
TI, Cae troengalls sco se s vex sw 6 ee oe eee we ews Ow ews ee me ones 16 3-1 Cac nguy co “kKhac” ee eee 17 3-2 Khung chinh sach 0 ce ee eee 22 8-3: Thiết kế QƯEẤT g: pH BE SE B8 g3 BỊ E PP BE BỊ g B08 8 TỂ BS 8o v do S Bảng 9 32 IV Mười yếu tố hỗ trợ «c2 cSS2 45 Vic Ket Wang csc ce ceca swear ies ee tes ene w ene resem meres 60 VL Tài liệu tham khảo 62
VII Cac phu luc
Phụ lục 1: Danh sách những người đã phỏng vấn
Phụ lục 2: Danh mục các câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc
Phụ lục 3: Danh sách đại biểu tham dự hội thảo phân tích ICDP
Phụ lục 4: Chương trình hội thảo phân tích ICDP
Phụ lục 5: Kế hoạch công tác của nhóm phân tích ICDP
Trang 3: Cục kiểm lâm thuộc Bộ NN-PTNT
: Trung tâm nghiên cứu nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường thuộc Đại học Quốc gia - Hà Nội
: Viện Kinh tế sinh thái : Liên minh châu Âu
: Tổ chức Quốc tế về hệ thực vật và động vật : Kết hợp bảo tồn với phát triển, xét về mặt quá trình
: Dự án kết hợp bảo tổn với phát triển
:Quản lý dịch hại tổng hợp : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
: Khu bảo tồn thiên nhiên : Kế hoạch và đầu tư : Khoa học Công nghệ và Môi trường : Khu vực được bảo vệ , bao gồm các Vườn Quốc gia và các Khu Bảo
tồn , thuộc loại hình rừng đặc dụng : Lâm sản ngoài gễ
: Lâm trường quốc doanh
: Tổ chức phi chính phủ
: Ngân hàng Thế giới
: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
: Nông trường quốc doanh : Dự án của UNDP/Bộ NN-PTNT về bảo tồn ở các khu vực bảo vệ : Đánh giá nông thôn có người dân tham gia
: Đánh giá nhanh nông thôn
:Dự án EU về lâm nghiệp và bảo tồn ở Nghệ An : Tổ chức phát triển của Hà Lan
: Dự án WWF/CKL về tăng cường quản lý vùng được bảo vệ
: Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc
: Hiệp hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn : Vườn Quốc gia
: Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên
Trang 4I Mo dau
Báo cáo này nhằm phân tích, xem xét mức độ hiểu biết và nhận thức của các cán
bộ trong nước và quốc tế đang thực hiện những dự án kết hợp bảo tồn với phát triển (ICDP), nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học quý hiếm của Việt nam, đồng thời vẫn đáp ứng được các nhu cầu của con người Báo cáo sẽ điểm lại các tài liệu hiện có về kinh nghiệm [CDP của thế giới, nêu lên các nội dụng được xác định tại hội thảo về bài học rút ra từ Hội thảo ICDP tổ chức tháng 6 năm 2000 tại Hà
Nội và nêu bật các kiến thức cùng kinh nghiệm chung của 50 cán bộ công tác tại
hơn !5 dự án ICDP tại Việt nam Báo cáo này nhằm phân tích các trở ngại và những yếu tố hỗ trợ đối với các dự án ICDP đang thực hiện, nêu lên những khuyến nghị nhằm tăng cường ICDP Tài liệu này và cuộc hội thảo nửa ngày tổ chức vào ngày 22 tháng 6 năm 2001 tại Hà Nội để trình bày và thảo luận các kết quả phân tích bước đầu đã tạo nên cơ sở cho một quá trình có sự tham gia rộng rãi hơn nhằm tăng cường ICDP ở Việt nam
Báo cáo được chia thành 4 phần: Phần 1 nêu tóm tắt định nghĩa ICDP, sự tiến triển
của các tiếp cận về ICDP và tóm tắt các bước phát triển của tiếp cận về ICDP cùng
các bài học rút ra trên thế giới và ở Việt nam Phần 2 tập trung vào các quan điểm
và phương pháp nghiên cứu sử dụng để phân tích Phần 3 và 4 là các phần chính của báo cáo, nêu lên các trở ngại ở mức độ chiến lược - xem xét các ICDP ở Việt nam nói chung - và các yếu tố cần thiết để thực hiện các hoạt động ICDP Việc phân tích các trở ngại tập trung vào 3 vấn để chủ yếu: I) Các nguy cơ “khác” 2) Chính sách 3) Thiết kế dự án Các yếu tố hỗ trợ tập trung vào I0 vấn đề chủ yếu, bao g6m việc kết hợp bảo tôn với phát triển một cách trực tiếp và chặt chẽ, tức là
mối liên hệ bảo tồn - phát triển, cùng các chương trình phối hợp của cộng đồng ,
thông qua các hợp đồng với thôn bản và hộ gia đình
Tuỳ điều kiện, báo cáo phân tích sẽ được minh họa bằng cách trích dẫn các ý kiến
của những nhà hoạt động ICDP Với cách đó, báo cáo này là một sự sưu tập các
bằng chứng cụ thể, được bổ sung bằng kinh nghiệm và nhận thức của những người
đã phỏng vấn (xem phụ lục I) Mặc dầu vận dụng tiếp cận điều tra khảo sát, nhưng báo cáo phân tích không có ý định hồ nghi hoặc nói những điều không tốt đến những người được trích dẫn hoặc các tổ chức hoặc dự án mà họ là đại điện Kết qua phân tích được viết với đặc điểm của một nghiên cứu về bảo tồn ứng dụng, nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các dự án ICDP hiện nay và trong tương lai ở Việt nam
Trang 51.1 Thế nào là các dự án kết hợp bảo tôn với phát triển (ICDP)?
Nếu bạn hỏi ba người khác nhau về định T1 Ð1a mọt giếp cận, không phải là một
nghĩa ICDP, có thể bạn sẽ nhận được 3 dự án Đây là tiếp cận nhằm đáp ứng các câu trả lời khác nhau Đúng như Hughes | hướng ưu tiên phát triển xã hội và mục tiêu
và Flinton (2000) đã nêu lên trong bài | bảo tồn
tổng luận về các tài liệu ICDP rằng hầu Sajel Worah
hết những người tham gia thực hiện các Cố vấn ICDP cla WWF
ICDP đều nhất trí “ICDP là các dự án
bảo tồn đa dạng sinh học có bao gồm nội dung phát triển nông thôn Cụ thể
hon, ICDP tim cách thực hiện mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học thông qua
việc sử dụng các công cụ đầu tư về kinh tế xã hội” (Sanjayan và cộng sự, 1996)
Ross và Flinton (2000) lần tìm sự tiến hoá trong định nghĩa ICDP, mà theo đó
trong những năm gần đây đã nhấn mạnh đến các tiếp cận phân quyền về địa
phương và có sự tham gia Các tác giả này ghi nhận rằng trong những năm gần đây,
ICDP đã trở nên đồng nghĩa với phát triển bền vững, theo như minh họa trong điều
khẳng định của Sajel Worah là ICDP hướng đến việc đáp ứng các ưu tiên về phát
triển xã hội và các mục tiêu bảo tồn” Tất nhiên, “tất cả những điều để có thể phân
biệt ICDP với các dạng khác của dự án phát triển nông thôn bền vững là ở chỗ ICDP được thực hiện ở gần các khu bảo tôn (Ross và Flinton, 2000)
Chắc chắn rằng định nghĩa của Worah về ICDP đã mô tả một số trong các ICDP
lớn nhất ở Việt nam, bao gồm dự án do NHTG tài trợ 32 triệu USD tại Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên và Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBT) Chu Mom Ray và dự án do
EU tài trợ với 13,8 triéu USD tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát Cả hai dự án ICDP này đều tập trung vào “bảo vệ rừng” và “bảo tồn đa dạng sinh học” trong các mục tiêu đự án đồng thời cũng dành các nguồn lực to lớn vào các dịch vụ phổ cập về nông nghiệp và nông lâm kết hợp Vậy thì các dự án phát triển nông thôn với quy mô nhỏ hơn của OXFAM Hồng kông và của tỉnh Thừa thiên Huế với nội dung tăng cường quản lý lưu vực đầu nguồn và phát triển các phương thức sinh sống bền vững thông qua việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các vùng đệm của các khu bảo tồn Vũ Quang và Phong Điền, qua đó bảo vệ các loài động vật có vú có ý nghĩa quốc tế hiện đang có nguy cơ bị tuyệt chủng có được coi là ICDP hay không?
Cuộc hội thảo của CARE về ICDP tổ chức tại Đan Mạch tháng 9 năm 1997 đã nêu
tóm tắt việc phân ra 3 nhóm ICDP là: 1) Các ICDP điển hình; 2) Các dự án vùng
đệm; 3) Các dự án lưu vực đầu nguồn (xem bảng 1) Trong lúc mà cả 3 loại ICDP đều có mặt ở Việt nam thì báo cáo phân tích này chỉ để cập đến các ICDP điển hình, những dự án này tập trung vào việc quản lý các khu vực bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 6Các hoạt động chủ yếu theo
hướng phát triển nhưng có
tác động tốt đến môi trường
và có đóng góp vào mục tiêu bảo tồn
Thường hoạt động với đối tác hoặc hợp tác với các NGO
quốc tế khác, các NGO này cũng đang đề cập đến những hoạt động có liên quan đến bảo tồn
Tập trung vào vùng đệm, xung quanh các khu vực bảo
giảm sự mất mát độ che phủ của
rừng) hơn là về bảo tồn đa dạng
sinh học
Không tập trung vào phạm ví xung quanh vùng bảo vệ cụ thể nào đấy đã được xác định mà ngược lại mở rộng các hoạt động
và tập trung theo vùng địa lý
Phong theo Blomley 1997
Vao thang 11-2000, CARE Quéc té
- một tổ chức phát triển đã đầu tư
vào hơn 20 dự án ÍCDP trên phạm
vi toàn cầu - tổ chức hội thảo về
ICDP ở Kenya để xây dựng một
bản báo cáo nêu lên quan điểm và
chiến lược của CARE đối với
ICDP Hội thảo đã dành thì giờ tập
trung thảo luận và nhất trí về định
thường là bao gồm một khu vực được bảo vệ (CARE 2001) Thêm vào đó, các
ICDP của CARE hiện đang tìm cách dung hoà lợi ích của các bên tham gia ở nhiều cấp, từ cấp địa phương đến vùng, quốc gia và quốc tế
Trang 7Điều này rất quan trọng vì nó nêu lên quan điểm rằng những “người ngoài” đang quản lý và thực hiện các hoạt động do ICDP đề xuất cũng chỉ là một trong các bên tham gia với các mối quan tâm hợp lý và mang tính cạnh tranh (Xem bảng 2) Vì vậy, các nhà hoạt động ICDP đóng vai trò có quyền lực nhưng lại bấp bênh trong việc định hướng chương trình bảo tồn của các nhà tài trợ quốc tế đồng thời cũng là những người hướng dẫn làm trung gian thoả hiệp giữa các lợi ích của các tổ chức tham gia ở cấp độ địa phương cấp tỉnh, quốc gia và cấp quốc tế Như vậy, các
chương trình nghị sự về kết hợp bảo tồn với phát triển (ICD) có chiều hướng bị chỉ phối bởi các lợi ích của bên tham gia nào nhiều quyền lợi hơn và thường thiếu đại
điện cho lợi ích của cộng đồng địa phương (Frank, thông tin cá nhân)
Bảng 2 Lợi ích của các bên tham gia thể hiện trong quá trình kết hợp bảo tồn với phát triển — Dãn chứng từ dự án CARE vé bao tén và phát triển cộng đồng ở KBT U Minh Thượng
Cộng đồng ở một vùng - _ Có tầm quan trọng về lịch Sử, là nơi trú ẩn cho các lực lượng
rộng hơn (Tỉnh Rạch Giá) cách mạng trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ
- Có thu nhập từ các rừng tràm và từ dịch vụ du lịch
- _ Thu nhập từ đánh bất cá
- Nghĩa vụ quốc gia về tham gia chương trình trồng 5 triệu ha rừng (chương trình 66 l)
- Gia tri van hoa
Cộng đồng quốc gia -_ Có tầm quan trọng lịch sử , là nơi trú ẩn cho các lực lượng
(Chính phủ và nhân dân cách mạng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Việt nam) - Di sản thiên nhiên/Du lịch
-~_ Nghĩa vụ quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học
Cộng đồng quốc tế - Báo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt ở các hệ sinh thái đầm lầy (Danida va cong đồng ngập nước, bảo vệ các loài chim và loài rái cá có lông mũi người dân thế giới) đang có nguy cơ tuyệt chủng
Trang 8các phương hướng khác nhau để giải quyết các nhu cầu cơ bản của người dân địa phương (Hughes và Flinton, 200) Hiện nay trên thế giới có hơn 300 dự án ICDP (Wells va cong su, 1999; Hughes va Flinton, 2000)
Hughes và Flinton (2000) trong khi điểm lại một cách toàn diện các tài liệu về ICDP đã nêu lên 3 giả định tiềm ẩn, làm cơ sở cho các mục tiêu của ICDP: _
I Các phương hướng đa dạng hoá sinh kế của người dân địa phương sẽ làm giảm nhẹ sức ép của con người lên đa dạng sinh học, từ đó tăng cường được mục tiêu
bảo tồn
2 Người dân địa phương với phương thức sinh sống của họ, chứ không phải là các
“yếu tố bên ngoài”, đang tạo nên các mối nguy cơ lớn đối với nguồn tài nguyên
đa dạng sinh học ở vùng đang được nghiên cứu
3 ICDP mang lại các phương sách bền vững khác nhau đối với tiếp cận bảo vệ theo truyền thống để quản lý các khu vực bảo vệ
Tại cuộc hội thảo rút bài học kinh nghiệm về ICDP tổ chức năm 2000 tại Hà nội, chị Sajet Worah đã nêu lên quá trình phát triển trong cách suy nghĩ của những
người thực hiện ICDP về các giả định đối với ICDP Theo quan sát của Hughes và Flinton (2000), sự tiến hoá này đề xuất một sự phân quyền cho địa phương, từ tiếp cận tìm cách chuyển giao các quyền lựa chọn phát triển khác nhau sang tiếp cận đáp ứng các vấn đề rộng lớn hơn thuộc lĩnh vực quyền hưởng dụng các nguồn tài nguyên và phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân” Những nghién cttu mdi day (Peters 1998: Ferraro (dang in)) đề xuất chính sách trả tiền công cho các hộ gia đình hoặc cộng đồng về hoạt động bảo tồn Ferraro (tài liệu
đang in) cho rằng phương pháp trả công cho hoạt động bảo tồn các hệ sinh thái sẽ
đem lại tác động cụ thể hơn, kịp thời hơn và tăng cường mối liên hệ giữa hoàn cảnh sống của từng người và các hoạt động của họ với việc bảo tồn sinh cảnh
Trang 9Bảng 3 Các giả định, hoạt động và bài học rút ra từ những mô hình ICDP đang triển khai
Giả định tổng thể
Chừng nào mà các nhu
cầu cơ bản của con người
chưa được đáp ứng đối
với cư dân sống trong và
xung quanh các khu vực
giàu về tính đa đạng sinh
dựa vào nguồn tài nguyên
tự nhiên hiện nay
Cộng đồng địa phương có
thể sử dụng nguồn tài
nguyên thiên nhiên “một
cách khôn ngoan” nếu
"mối liên hệ” giữa bảo
bảo tồn nguồn tài nguyên
nếu như họ được tham
gia vào quá trình ra quyết
hợp, đệt vải, nuôi ong,
đa dạng theo vùng, lập
kế hoạch và quản lý có
sự tham gia (thường chỉ
giới hạn đối với các vùng đặc biệt hoặc các
nguồn tài nguyên đặc
biệt)
Các bài học Người hưởng lợi thu động
Cần đầu tư nhiều cho đầu vào Không có mối liên hệ với bảo tồn
hoặc mối liên hệ không rõ ràng
Các mối liên hệ giữa bảo tồn và phát triển chưa chặt chế hoặc chưa được
đề cập đến một cách rõ ràng Thiếu mối liên hệ giữa sinh kế với
nguồn tài nguyên thiên nhiên làm
giảm mối qan tâm của cộng đồng đối với bảo tồn
Thất bại trong các hoạt động mới
của dự án do thiếu kinh nghiệm
Chưa giải quyết được các trở ngại về mặt pháp lý chung và về thị trường
(quyền sử dụng) Thiếu thông tin về các tác động của
Quá trình thực hiện còn yếu/kinh nghiệm còn hạn chế
Chưa giải quyết được các nguy cơ từ
Trang 10Báo cáo phân tích này sẽ sử dụng thuật ngữ “kết hợp bảo tồn với phát triển” (ICD)
để nhấn mạnh rằng việc bảo tồn có sự kết hợp là một tiếp cận trong khi đó sử dụng
thuật ngữ ICDP để chỉ một dự án hoặc chương trình về ICD Việc sử dụng thuật
ngữ ICD cũng nhằm làm rõ quan điểm của một dự án quốc tế cực kỳ lớn và nhấn
mạnh rằng ICD cũng có thể là ở quy mô nhỏ, dựa vào cộng đồng và theo tiếp cận
từ cơ sở đi lên, ICD cũng nhấn mạnh đến quan điểm rằng việc kết hợp bảo tồn với
phát triển là một quá trình lâu dài, không chỉ đơn thuần là một dự án
1-2 Các dự án kết hợp bảo tôn với phát triển (ICDP) ở Việt nam
Các ICDP được quốc tế tài trợ bắt đầu triển khai tại Việt nam từ thập kỷ 90 với những dự án ở những khu vực được bảo vệ như các VQG Ba Vì, Bạch Mã, Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang Nguồn tài trợ quốc tế cho ICDP tăng mạnh trong khoảng năm 1997 NHTG, UNDP, EU, và Chương trình môi trường toàn cầu, tất cả
đều bắt đầu tài trợ cho các dự án ICDP Vì vậy ICDP ở Việt nam hiện nay đang ở
trong giai đoạn đầu tiên
Hiện tại có hơn 15 dự án ICDP đang triển khai tại Việt nam (xem bảng 4) Hầu hết các dự án ICDP này đều có quy mô lớn, triển khai nhiều năm, được các nhà tài trợ song phương hoặc đa phương hỗ trợ kinh phí Một số sáng kiến về ICD đã nhận được tài trợ từ nhiều nguồn quy mô nhỏ (các quỹ tư nhân, công ty, sứ quán nước ngoài) Tổng hợp lại, các dự án ICDP được quốc tế tài trợ này tạo nên những công
cụ bảo tồn chủ yếu để bảo vệ nguồn da dang sinh học kỳ diệu khác thường của Việt nam
1.3 Cơ sở của việc phân tích ICDP
Việt nam có một số nguồn đa dạng sinh học rất hiếm thấy và đặc hữu, nhưng hầu hết các đa dạng sinh học này hiện đang có nguy cơ bị đe doa do mật độ dan số quá
cao và tốc độ phát triển kinh tế nhanh Tìm ra một thế cân bằng giữa bảo tồn đa
dạng sinh học và đảm bảo phương thức sinh sống bền vững cho người dân địa
phương hiện nay vẫn còn là một điều khó khăn
Trong lúc mà các kết quả của tiếp cận ICDP chưa đạt được như mong đợi thì nhiều
chứng cứ xác đáng đã củng cố cho điều nhận định rằng ICDP hiện nay chưa thành
công ở các nước khác (Peters 1998; Wells và cộng sự 1999), Các dự án ICDP do quốc tế tài trợ đóng vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm
và rất đặc hữu của Việt nam Chính phủ Việt nam, các nhà tài trợ và các cơ quan thực hiện dự án, với nghĩa vụ đối với thế hệ tương lai, đã cố gắng hết sức mình
nhằm tạo điều kiện cho các dự án ICDP có cơ hội tốt nhất để đạt được thành công.
Trang 11Tất nhiên hiện nay có một số trở ngại đối với ICDP ở Việt nam, thí dụ như thiếu chia sẻ thông tin, vì vậy mà các dự án đang học lại những bài học như nhau, mặt khác chúng ta còn thiếu các phương sách để tập hợp các nguồn lực và nhân tài về ICDP, từ đó chưa vận dụng được kinh nghiệm từ các dự án khác để tiết kiệm trong quá trình triển khai ICDP Rõ ràng cũng có những yếu tố hỗ trợ cho một số hoạt động đặc biệt của ICDP được thành công, thí dụ như việc thiết kế một số dự án được thực hiện tương đối tốt và các đối tác địa phương được tập huấn, đào tạo chu
đáo Nắm được các yếu tố then chốt này là điều kiện tiên quyết để phát triển các công cụ nhằm tăng cường ICDP ở Việt nam
1.4 Hội thảo bài học kinh nghiệm từ các ICDP
Trong 2 ngày 12 và 13 tháng 6 năm 2000, Cục Kiểm Lâm thuộc Bộ NN-PTNT và
UNDP cùng với SNV, WWF, IUCN và NHTG đã tổ chức cuộc hội thảo đầu tiên về
ICDP tại Việt nam Gần 80 chuyên gia trong nước và quốc tế hoạt động về ICDP ở Việt nam đã tham dự hội thảo Mục đích hội thảo là tạo điều kiện để chia sẻ các
bài học kinh nghiệm trong giai đoạn phát triển còn mới mẻ của ICDP tại Việt nam,
nêu các khuyến nghị nâng cao hiệu quả ICDP và tăng cường mối liên hệ giữa những người hoạt động ICDP với các bên hữu quan, nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong vận dụng kinh nghiệm, năng lực và nguồn lực
Hội thảo này đã thành công trong việc đạt được một mục đích tuy đơn giản nhưng quan trọng là tạo ra một cuộc đối thoại đầy ý nghĩa giữa những người hoạt động ICDP với nhau (Craig Leisher, thông tin cá nhân) Cuộc hội thảo 2 ngày nay bao gồm 4 báo cáo của các VQG và KBT ( Cúc Phương, Vũ Quang, Pu Mái và U Minh
Thượng), ý kiến phát biểu về các vấn đề chính yếu do các chuyên gia trong nước và
quốc tế làm việc cho dự án UNDP/PARC, ý kiến phân tích các vấn dé do một
chuyên gia quốc tế hàng đầu về ICDP trình bày, các cuộc thảo luận nhóm, bao gồm
1 cuộc phân tích tóm tắt các trở ngại hiện nay (UNDP 2000)
Mittelman (2000) trình bày tóm tắt các khuyến nghị của 4 nhóm công tác đại diện cho 4 lĩnh vực chính của các hoạt động tiếp sau hội thảo để nâng cao hiệu quả
2 Để đạt được các mục tiêu của ICDP, cần phải thể chế hoá và tạo thuận lợi để
tiếp tục quá trình đối thoại hiện nay giữa các cơ quan và tổ chức chính đang tham gia hoạt động tại những khu vực được bảo vệ và các vùng đệm
Trang 12có thể được khắc phục bằng tiếp cận phối hợp quản lý
Bảng 4 Danh sách các dự án ICDP ở Việt nam
2 KBT Kẻ Gỗ Private Foundations /CRES 1993
3 VQG Bạch Mã Ha Lan/WWF, FFI & SNV 1994-1997
5 VQG Cúc Phương BP&Statoil, ARA & Uc, Canada & 1996-2000
Vương quốc Anh /FFI
Thuong
10, KBT Phong Nha DFID/WWF 1998
I1 VQG Ba Bể & KBT IUCN/Eco-Eco & CRES 1998
15 KBT ChuMom Ray > NHTG/BO NN-PTNT 1999
17 Rừng Mù Căng Chải FFT 2001
- /KBTNa Hang
22 KBT Kẻ Gỗ Danida/Birdlife International 2001
Trang 13
1.5 Mục đích phân tích ICDP
Dựa vào động lực thúc đẩy tiến trình phát triển từ hội thảo rút bài học kinh nghiệm
về ICDP, các cán bộ chủ chốt từ những cơ quan đối tác tổ chức hội thảo (UNDP, SNV, WWE, IUCN và NHTG) và các NGO quốc tế khác có mối quan tâm đặc biệt đến ICD (CARE, Birdlife International) đã thảo luận các hoạt động tiếp theo Kết quả của việc phân tích ICDP là nhóm công tác chủ lực về ICDP đã được mở rộng
để bao gồm đại diện của FFI, EU, Dự án của Cục kiểm lâm/WWF/SPAM, Eco-
va WWE Tiép sau các cuộc thảo luận về ý tưởng tăng cường năng lực ICD với nhiều nhà hoạt động ICDP và các cơ quan có mối quan tâm trong lĩnh vực này, mọi
người đều nhất trí rằng việc phân tích ICDP này sẽ góp phần vào một quá trình rộng lớn hơn, có sự tham gia để tăng cường các ICDP ở Việt nam
Mục tiêu của việc phân tích các trở ngại và những yếu tố hỗ trợ cho ICDP ở Việt
nam được nêu lên như sau: “Phân tích các trở ngại và những yếu tố hỗ trợ cho các ICDP đang triển khai và nêu đề xuất nhằm tăng cường ICDP Việc phân
tích này sẽ tạo cơ sở cho quá trình rộng lớn hơn, có sự tham gia để tăng cường ICDP” Kết quả bước đầu của việc phân tích những trở ngại và các yếu tố hỗ trợ cho ICDP ở Việt nam đã được trình bày và thảo luận tại cuộc hội thảo nửa ngày về phân tích ICDP (Xem phụ lục 3 và 4) tổ chức ngày 22-6-2001 tại Hà Nội Có 32
đại biểu, đại diện cho các NGO trong nước và quốc tế cùng các cơ quan tài trợ
quốc tế đã tới dự Đại điện các cơ quan nhà nước (Cục kiểm lam, BO NN-PTNT .)
đã được mời dự cuộc họp không chính thức này nhưng chỉ có 3 cán bộ nhà nước tới
dự
1.6 Nguồn tài trợ cho việc phân tích ICDP
Việc phân tích ICDP đã được tài trợ bởi CARE, SNV và WWF CARE Quốc tế,
thông qua dự án bảo tồn và phát triển cộng đồng ở U Minh Thượng do Danida/ CARE Đan mạch tài trợ đã bố trí một cố vấn quốc tế làm việc trong 6 tuần lễ (từ
14-5 đến 30-6-2001) SNV, tổ chức phát triển của Hà Lan, đã tài trợ cho một cố
vấn trong nước, hỗ trợ hành chính và các chi phi đi lại của các cố vấn để dự hội thảo về quản lý vùng đệm tổ chức vào ngày 22 và 23-5-2001 ở thành phố Vinh,
cùng các cuộc đi thăm và làm việc với cán bộ ICDP ở Hà Nội, Vinh, TP Hồ Chí
Minh, Đồng Nai WWF hỗ trợ địa điểm văn phòng làm việc cho cả 2 cố vấn SNV
Trang 14và CARE đồng tài trợ cho cuộc hội thảo nửa ngày về phân tích ICDP tổ chức 22-6-
2001 tại khách sạn La thành — Hà Nội
H Quan điểm và phương pháp luận
Vào tháng 5-2001, nhóm công tác về ICDP — bao gồm đại diện của UNDP cùng
với SNV, WWF IUCN, CARE, Birdlife International, và một thực tập sinh độc lập thuộc chương trình Fulbright đã xây dựng nên văn bản tham chiếu (TOR) cho một chuyên gia quốc tế ICDP và một đối tác ICDP trong nước để phân tích các trở ngại
và các yếu tố hỗ trợ ICDP ở Việt nam và đề xuất về tăng cường ICDP
Do hạn chế về thời gian (6 tuần lễ) để tiến hành cuộc phân tích ICDP — bao gồm
cả điểm tài liệu tham khảo, xây dựng kế hoạch nghiên cứu và phương pháp luận, tổ chức phỏng vấn, phân tích thông tin, viết kết quả phân tích và xây dựng báo cáo — các cố vấn và nhóm công tác đã quyết định không thực hiện ý tưởng về phương pháp nghiên cứu điểm (case study) bao gồm các cuộc đi dã ngoại tới thăm 3-5 địa điểm ICDP tại Việt nam Thay vào đó, nhóm đã quyết định rằng việc phân tích sẽ tập trung vào việc thu thập các thông tin cụ thể từ một số nhà hoạt động ICDP thông qua phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Quá trình của việc phân tích được coi là rất quan trọng đối với nhóm công tác chủ lực về ICDP bởi vì các thành viên đều quan tâm đặc biệt đến việc thu thập thông tin
từ các nhà hoạt động trực tiếp cùng các đối tác ở cơ sở và cố gắng tìm cách nắm được quan điểm và nhận thức của họ về những trở ngại, những yếu tố hỗ trợ cho
ICDP Bằng cách này, tính chất của việc phân tích là mô tả chứ không theo những quy định thông thường trong phương pháp phân tích Báo cáo phân tích cũng nêu khuyến nghị về việc xây dựng mối liên hệ với các dự án và chương trình khác (Ví
dụ chương trình WWF, SPAM, chương trình trồng 5 triệu ha rừng, các ICDP dang triển khai và đang xây dựng kế hoạch) và với quá trình xây dựng chính sách quốc gia và lập kế hoạch (thí dụ chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp) Ngoài ra, quá trình phân tích ICDP được dự kiến là một phần của một quá trình rộng lớn hơn, có
sự tham gia để xây dựng một dự án tăng cường năng lực [CDP ở cấp quốc gia
2.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận của việc phân tích các trở ngại và yếu tố hỗ trợ cho ICDP bao gồm các nội dung sau đây:
1 Điểm tài liệu
Xác định các vấn đề dựa vào việc điểm tài liệu về các bài học rút ra trên phạm vi quốc tế, từ các tài liệu thụ thập được trong quá trình hội thảo các bài học kinh
Trang 15nghiệm (Bao gồm bản trả lời 12 câu hỏi khảo sát và kỷ yếu hội thảo bài học kinh nghiệm): xây dựng một tổng quan về các tài liệu dự án
2 Phong van bán cấu trúc ( semi-structured interviews)
Tổ chức phỏng vấn bán cấu trúc (Xem phụ lục 2) với một số cán bộ đương nhiệm
và cán bộ trước đây đã tham gia hoạt động ICDP, các đối tác chính phủ và đại diện các cơ quan tài trợ
3 Thảo luận không chính thức (informal discussions)
Tổ chức các cuộc thảo luận không chính thức với một số nhà hoạt động ICDP, cán
bộ nhà nước và các nhà nghiên cứu ở Hà nội, và trong thời gian 2 ngày hội thảo về
quản lý vùng đệm tổ chức vào ngày 22 và 23-5-2001 tại thành phố Vinh
4 Các chuyến đi dã ngoại
Thực hiện các chuyến đi dã ngoại tới văn phòng làm việc của khu bảo tồn Pù Mát
và VQG Cát Tiên để thực hiện các cuộc phỏng vấn đi sâu với các cán bộ chủ yếu của dự án và các đối tác cơ quan nhà nước
2.2 Trọng tâm của cuộc phân tích
Do tính chất cực kỳ phức tạp và số lượng các vấn đề có liên hệ mật thiết với việc thiết kế, thực hiện và xác định các tác động của ICDP nên nhóm công tác chủ lực
về ICDP đã nêu các hướng dẫn để tập trung kế hoạch nghiên cứu một cách có hiệu quả và đúng thời gian Nhóm công tác cũng mong muốn tiến xa hơn việc xác định
vấn đề để đi sâu phân tích và nêu để xuất nhằm giải quyết các vấn đề đó Các nội dung và vấn để được để xuất nhằm phân tích những trở ngại và các yếu tố hỗ trợ
cho ICDP đã được thu thập từ các nguồn sau đây, và mô tả theo thứ tự thời gian
tiến triển của những ý tưởng hình thành nên nền tảng của báo cáo phân tích này
Phần này tập trung giải thích sự tiến triển theo lôgic có liên quan đến câu hỏi "Vì sao lại chọn các nội dung này?”
1 Qua điểm lại tài liệu từ hội thảo tháng 6 năm 2000, đã xác định được một số chủ
đề để tiếp tục nghiên cứu, bao gồm:
e Khung chính sách
e©_ Lập kế hoạch tổng hợp cho các khu vực bảo vệ và vùng đệm
Các mối liên hệ về mặt thể chế
Các trở ngại về quản lý
2 Ý kiến chỉ đạo từ các thành viên của nhóm công tác chủ lực về ICDP đã nêu lên
các chủ đề sau đây để phân tích:
e Khung chính sách
e© Thiết kế dựán
e- Giải quyết các nguy cơ chủ yếu
Trang 16e H6 tro cho các ICDP thông qua các mối quan hệ chặt chẽ và rõ ràng hơn giữa bảo tồn và phát triển và các tiếp cận tham gia, dựa vào cộng đồng để vận dụng vào việc lập kế hoạch và quản lý các khu vực bảo vệ
3 Nhóm công tác chủ lực của ICDP đã bố trí một cuộc họp vào ngày 24-5-2001 để đạt được sự nhất trí về các chủ đề và giả định cùng phương pháp luận cần tập trung bám sát khi tiến hành phân tích ICDP Các cố vấn đã trình bày một báo cáo thảo luận về các chủ đề nghiên cứu và các giả định, tập trung vào các nội dung sau đây:
se Xem xét các giả định về ICDP:
- Các nguy cơ "khác", ngoài những người dân nghèo ở địa phương
- Xoá đói giảm nghèo/nâng cao mức sống cho cộng đồng sẽ dẫn đến việc giảm bớt mức độ sử dụng nguồn tài nguyên rừng một cách không bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học
e Van dung các bài học kinh nghiệm đã rút ra được:
-_ Mối liên hệ giữa bảo tồn và phát triển/ các lâm sản ngoài gỗ
- _ Sự phối hợp của cộng đồng (lập kế hoạch và thực hiện có sự tham gia /quyén hưởng dụng) và các hợp đồng với cơ sở
về thời gian Thêm vào đó, trong lúc xem xét các thể chế quản lý vùng đệm ở Việt
nam, coi đây có thể tiềm ẩn một trở ngại về mặt chính sách đối với ICDP, chủ đề
này đã được để cập cụ thể trong một báo cáo phân tích chỉ tiết trước đây (Gilmour
và Nguyễn Văn Sản 1999) Đồng thời qua cuộc họp này cũng thấy rõ một điều là
mọi người mong muốn một quá trình có sự tham gia Nhóm công tác chủ lực mong rằng báo cáo phân tích sẽ nêu lên các bài học từ cơ sở chứ không phải là sự
“kê đơn” đã được xác định trước Dưới đây là những để mục chính của bản dự thảo
mục lục được hình thành có sự đóng góp qua cuộc họp của nhóm công tác chủ lực,
bản dự thảo này được bỏ ngỏ để bổ sung, thể hiện bản chất của quá trình nghiên
cứu có sự tham gia:
e_ Thông tin cơ bản/cơ sở của sự phân tích
e_ Quan điểm/phương pháp luận
e Phân tích
-_ Các trở ngại (ở tầm chiến lược, tập trung vào các ICDP, coi đây như là một
nhóm)
- _ Các yếu tố hỗ trợ (ở cấp triển khai, tập trung vào các thế mạnh của từng ICDP)
e Két qua phan tich/ y nghĩa/ các khuyến nghị
Trang 17HIL Các trở ngại
Phần này tập trung vào 2 giả định nghiên
cứu có tác động đến điều cốt lõi của việc | “Cần có một cuộc thảo luận rất thang phân tích các trở ngại của ICDP ở Việt nam | thắn về việc chúng ta có cân phải có các Mục đích của những câu hỏi trong nghiên | !CPP nong Không
cứu này có liên quan đến việc tài trợ hơn 50 Cố vấn trưởng kỹ thuật
triệu USD dưới hình thức hỗ trợ phát triển | Dự án VQG Cát Tiên do WWF tài trợ
của nước ngoài tại Việt nam, để kết hợp giữa
bảo tồn với phát triển, cùng với những nhóm công tác chiến lược lớn hơn của nhiều
cơ quan nhà nước, các NGO và những cá nhân đã hết lòng tận tuy để đạt được mục
đích của ICDP Dù sao thì các giả định cũng đã gây tranh cãi, và ý kiến thường không hoà hợp với nhau Những câu hỏi này vẫn còn ám ảnh trong tâm trí của các nhà nghiên cứu và cả những người khác trong suốt quá trình phân tích ICDP
Giả định #2:
Các ICDP được thiết kế dựa trên giả định rằng sự trợ giúp về sinh kế và các chương trình xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là các hoạt động dự án được thiết kế để tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho các cộng đồng ở trong và xung quanh các khu vực bảo vệ sẽ dẫn đến kết quả là giảm sức ép lên nguồn tài nguyên sinh học và đa dạng sinh học
ICD: 1) rang các cộng đồng nghèo đang sinh sống bên trong và xung quanh các
khu vực bảo vệ là nguy cơ chủ yếu đối với đa dạng sinh học và 2) rằng việc tăng thu nhập và nâng cao mức sống của các cộng đồng này sẽ dẫn đến kết quả giảm sức ép lên các nguồn tài nguyên sinh học quý hiếm và đa dạng sinh học Một số
học giả, kể cả Peters (1998), Bruner và cộng sự (2001) và Ferraro (tài liệu đang in)
đã nêu lên và giải quyết những vấn đề này với những bằng chứng chỉ ra rằng ICDP
Trang 18bị thất bại, không đạt được các mục đích đề ra Báo cáo phân tích này không tìm cách đánh giá những tiến bộ và thành công của ICDP ở Việt nam Tuy vậy, mở đầu
với một phân tích các giả định tiềm ẩn, - cơ sở của tiếp cận ICD - tạo ra điểm xuất phát tốt để từ đó bắt đầu công việc phân tích các trở ngại đối với ICDP ở Việt nam
Phần 3 tập trung vào các trở ngại và bao gồm các phần phụ như: các nguy cơ
“khác”, các vấn đề về chính sách và thiết kế đự án Phần 4 tập trung vào các yếu tố
hỗ trợ và nêu lên danh mục 10 yếu tố hỗ trợ chủ yếu có thể đóng góp vào sự thành công của ICDP ở Việt nam
3.1 Cac nguy cơ “khác”
1 Các giả định hiện nay về ICDP có thể không giải quyết được những
nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất, suy giảm đa dạng sinh học
Hàm ý trong thiết kế các ICDP la gia | vặn đẻ số 1 đối với ICDP là: Bạn có muốn
định rằng “người dân địa phương” và | một ICDP hay không? ICDP có thể giảm
phương pháp quan lý nguồn tài nguyên | nhẹ các nguy cơ và hiểm họa không?
của họ là nguyên nhân sâu xa của việc FrankMomberg -
suy thoái các nguồn tài nguyên (Hughes Giám đốc chương trình Động Dương
và Flinton 2000) Tuy nhién, gia dinh | °ử2!ổ chức quốc tế vẻ Hệ Động Thực vật
đơn giản này đã không tính đến những | Việc phân tích các vấn để khó khăn không
nguy cơ “khác”, vốn cũng là nguyên | phải là sẽ dẫn đến một ICDP
nhân tương tự hoặc trong phần lớn các Ross ee ara
trường hợp, còn là nguyên nhân quan gett Pi! MED CUED
: § nde sat cua Birdlife International
trong hon gay ra su ton that vé da dang
sinh hoc
Đúng như Mittelman (2000) đã khẳng định: đặc điểm của những người dân nghèo
ở nông thôn, do cách khai thác nguồn tài nguyên một cách không bền vững của họ
đã gây sức ép lên nguồn tài nguyên đa dạng sinh học Điều đó là có cơ sở nhưng đồng thời cũng chưa hoàn toàn đúng xét về mặt giải thích các “nguyên nhân và các hiểm hoạ, nguy cơ đối với sinh cảnh rừng và đối với đa đạng sinh học Việc thiết
kế các ICDP dựa trên cơ sở sự hiểu biết chưa thấu đáo về hàng loạt các nguy cơ
thực tế đối với đa dạng sinh học có thể được ví như những cố gắng để phòng ngừa
sự rồ rỉ từ mội con đê bằng cách chỉ bịt chặt một lỗ trong khi đó trên thực tế có đến
mấy lỗ như vậy”
Các ICDP nào không trực tiếp giải quyết các nguy cơ “khác” — những nguy cơ đòi hỏi phải bảo vệ rừng tốt hơn và cải cách chính sách — thì thành công sẽ bị hạn
chế, xét về mặt đạt được các mục tiêu tổng thể đối với bảo tồn đa dạng sinh học Hơn nữa, các hoạt động phát triển cộng đồng theo truyền thống thường vẫn được
các ICDP thực hiện (thí dụ: làm đường sá, kéo điện lưới về thôn bản, xây trạm xá
Trang 19và trường học, khuyến nông, chăn nuôi, tín dụng nông thôn v.v ) sẽ không có hoặc chỉ có rất ít tác động đối với các nguy cơ “khác”
Điểm yếu cố hữu trong giả định sâu xa của ICDP là một chủ để chiến lược vốn
không có liên quan đến cách quản lý, thực hiện hoặc phát triển ICDP với đối tác là cộng đồng người dân địa phương Đây là một thiếu sót cơ bản đối với tiếp cận ICDP do một thực tế đơn giản là những dự án này đã không được thiết kế để hướng tới những nhà hoạch định chính sách và những người ra quyết định ở cấp trung
ương của chính phủ Việt nam đối với vấn đề sử dụng đất
Wells và cộng sự (2000) đã nêu lên một “bài học” có ích, đồng thời cũng báo hiệu
về khả năng bất trắc, thông qua một cuộc xem xét toàn diện về ICDP ở một nước
khác có nguồn da dạng sinh học phong phú trong vùng: đó là Inđônêxia, việc phân tích được nêu lên như sau, tất nhiên chúng ta phải chú ý đến những điều kiện cụ
thể của Việt nam có thể có những điểm khác với Inđônêxia:
“Những khó khăn chính có vẻ như không liên quan đến bản thân quan điểm về ICPP Thay vào đó, tình hình thực tế đã gặp trong các chuyến đi dã ngoại, các nghiên cứu điểm
và các buổi phỏng vấn đã chỉ ra những thiếu sót trong các giả định cơ bản và trong việc
xây dựng kế hoạch, và một sự thất bại do không giải quyết được các nguy cơ thực tế và
các trở ngại về năng lực mà các dự án bảo tồn thường gặp tại hiện trường Hầu hết ICDP đang tiến triển theo chiều hướng như thể các khu vực bảo vệ thì đều bị thất bại mà lý do
duy nhất là bị tăng sức ép từ phía người dân địa phương mà thôi Công trình nghiên cứu
này đề xuất rằng những khó khăn ở khu vực bảo vệ có nguyên nhân sâu xa hơn và sẽ không thể được giải quyết một cách thoả đáng bởi các tiếp cận ở cấp cộng đồng mà
không có mối liên hệ với những cải cách rộng lớn hơn về mặt quản lý các khu vực bảo vệ
— và cả việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chụng”
Trang 202 Các xu hướng bên ngoài (nhu câu thị trường đối với các sản phẩm từ động vật hoang dã; di dân nội địa) và các quyền lợi mang tính cạnh tranh (ví dụ: chặt gỗ rừng, phát triển thuỷ điện, xây dựng đường sá, phát triển du lịch một cách thiếu kế hoạch) có tác động tích luỹ lớn hơn so với
tác động từ phía “những người dân địa phương” lên nguồn tài nguyên
sinh học tại các vùng thực hiện ICDP ở Việt nam
Các xu hướng bên ngoài
(nhu cầu thị trường đối với
các sản phẩm từ động vật
hoang đã; di dân nội địa)
và các quyền lợi mang tính
Jonathan Eames Giám đốc quốc gia- Chương trình Đông Dương Birdlife quốc tế
“Khó khăn không phải từ phía người dân địa phương - Đấy
là do các quyết định được ban hành từ cấp trung ương”
Fernando Potess Giám đốc dự án tại hiện trường - Scott Wilson Associates
Dự án PARC tại VQG Ba Bể và Khu bảo tồn Na Hang
từ phía “những người dân
địa phương” lên nguồn tài
nguyên sinh học tại các vùng thực hiện ICDP ở Việt nam
Ngoài ra, các xu hướng bên ngoài này và những điều có lợi thường bị bỏ quá hoặc
bị né tránh , Đây có thể do các cán bộ quản lý ICDP nhận định rằng vấn đề này
khó quá không thể giải quyết được, họ cảm thấy không đủ quyền lực để ngăn cản mối nguy cơ “từ bên ngoài”- mà điều này thường có thể xoá sổ một quyết định hoặc một kế hoạch đã được xây dựng từ cấp trung ương — hoặc do vấn đề này không thuộc phạm vị của văn bản dự án
Trang 21Bảng 5 Danh mục các nguy cơ chính tại các vùng thực hiện ICDP ở
Săn bắn động vật hoang đã; chặt gỗ quý, xâm lấm đất để sản xuất nông
nghiệp, du canh trong vùng đệm, phát triển cơ sở hạ tầng (cầu đường), du
lịch không có kế hoạch, không bên vững
Săn bắn loài khỉ đặc trưng ở địa phương, đốt rừng để thu hoạch mật ong,
phát triển du lịch không kiểm soát được
Săn bắn động vật hoang dã; thu hái củi, chặt gỗ Người dân sinh sống trong phạm vi VQG xâm lấn đất đai, sản trộm động
vật, chặt trộm cây cối, mở quán ăn với đặc sản thú rừng, mâu thuẫn trong
chính sách và quy định, di dận nội địa
San ban động vật hoang đã; bắt trộm động vật, chặt trộm cây, chặt gỗ quý,
chặt củi, làm đường sá, thu hái lâm sản ngoài gỗ
Săn bắn động vật hoang đã; chặt gỗ quý, thu hái lâm sản ngoài gỗ Đập thuỷ điện lớn, xây dựng cơ sở hạ tầng ở các bản xa xôi, săn bấn chim
thú, xâm lấn đất để canh tác, du canh Xây đựng đường HCM ở vùng đệm và đường quân sự ở KBT, săn bấn chim
thú, chặt gỗ, phát triển du lịch không bền vững, các vùng đất thấp (vùng có
đa dạng sinh học cao) vẫn nằm ngoài phạm vi quản tý của KBT và dưới sự
quản lý của một công ty tư nhân khai thác gỗ, họ khai thác cạn kiệt các loài cây quý hiếm (thí dụ song mây, cây lấy nhựa, cây thuốc)
Chặt trộm gỗ, săn bắn chim thú, tham những Cháy rừng, đất đầm lầy bị khô nẻ, bắt trộm động vật hoanh đã, chuyển đối
đất ngập nước và rừng trong vùng bảo tồn thành khu di tích chiến tranh, vùng du lịch và xây dựng đường sá, sử dụng thuốc trừ sâu
Săn bắn chim thú, chặt gỗ, thả rông trâu bò, khai thác nhựa cây và tỉnh dầu Xâm lấn đất đai để canh tác, du canh, săn bắn chim thú, chặt gỗ quý, di dân
Phạm Bình Quyền và cộng sự (2001) khẳng định rằng các nguyên nhân chính dẫn đến tổn thất đa dạng sinh học ở Tây Nguyên và dãy Trường Sơn, nơi có mức độ đa dang sinh hoc cao nhất và đặc hữu nhất ở Việt nam là : l) Ty lệ dân số cao (do di dân theo kế hoạch và di đân tự do ở vùng khác đến); 2) Khai thác gỗ xuất khẩu và xây dựng công trình và 3) mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp xuất khẩu (chủ yếu là cà phê) do đó rừng bị xâm lấn Các nguyên nhân cốt yếu này đối với tổn thất
về đa dạng sinh học thường chịu ảnh hưởng rất lớn từ cấp hoạch định chính sách quốc gia — mội phạm vi mà các ICDP ở địa phương hiện nay không có sự chuẩn
bị để tham gia vận động sửa đổi, cải cách chính sách
! Tư liệu từ các cuộc thảo luận với cán bộ các ICDP (xem phụ lục l), không phải là văn bản dự an
Trang 223 Trong số tất cả 16 địa điểm khảo sát về ICDP, việc săn bắn đông vật hoang dã được coi là một trong những nguy cơ chủ yếu và được xếp hạng
là nguy cơ hàng đầu ở hầu như tất cả các địa bàn ICDP
Săn bắn động vật hoang dã được xếp
hạng là một trong các nguy cơ chủ
yếu ở hầu hết trong số 16 địa điểm
ICDP đã khảo sát và được xếp số l
ởhầu như tất cả các địa điểm ICDP
(Xem bảng 5) Buôn bán động vật
hoang dã trong phạm vi dia ban ICDP
là do những người đi săn chuyên
nghiệp hoặc những kẻ ăn trộm chuyên
Những thợ săn này rấtquen thuộc với
từng khu rừng, họ biết rõ địa điểm nào
có những con thú gì, trong những mùa
“Người dân địa phương thường có đầu óc cơ
hội Nếu họ thấy một con rùa, họ sẽ bắt và ăn thịt Nhưng họ không săn bắn thú rừng.”
Bo Ohlsson
Chuyên gia về định cư
Dự án của EU về lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên ở tỉnh Nghệ An
“Việc mất đi những loài thú lớn và có giá trị cao ở vùng Tây Nguyên là do những thợ săn
chuyên nghiệp Mỗi buôn làng thường có một
hàng thịt, một người bán bánh và một thợ săn Mike Baltzer
Điều phối viên chương trình sinh thái
nào trong năm vùng W
Chương trình Đông Dương của WWF
Dự án của EU về lâm nghiệp xã hội
và bảo tồn thiên nhiên ở tỉnh Nghệ An là một trong số ít ICDP có tiến hành một phân tích toàn diện về tình trạng buôn bán động vật hoang dã tại vùng dự án Báo cáo của SFNC/TRAFFIC (1999) xác định 5 nhóm thực hiện săn bắn và buôn bán động vật hoang dã Đó là: 1) Các thợ săn chuyên nghiệp; 2) Thợ săn theo mùa; 3) Thợ săn hoặc người đánh bẫy mang tính cơ hội, lợi dụng thời cơ; 4) Người môi giới buôn bán, người buôn bán nhỏ và 5) Thương nhân cỡ lớn
Những thợ săn theo mùa được mô tả là những nông dân, họ nấm được giá trị thương mại của việc buôn bán lâm sản (kể cả thú rừng), họ cũng chiếm số đông nhất ở địa phương và đây quả là nguy cơ lớn nhất đối với quần thể động vật trong
vùng khảo sát (SFNC/TRAFFIC 1999),
Do hầu hết các ICDP đều tiếp cận đến bảo tồn thông qua hoạt động phát triển và phân bổ các nguồn lực hạn chế của họ theo nhiều nội dung chương trình phức tạp
nên ICDP ít khi giải quyết tình trạng săn bắn thú rừng một cách /rực tiếp và ngay
từ đầu, thông qua việc tăng cường năng lực cho hoạt động bảo vê rừng (tập huấn, trang thiết bị, lương), nâng cao ý thức bảo tồn được.nêu trong luật lâm nghiệp và có
sự phối hợp (cộng đồng tham gia tuần tra bảo vệ rừng) với cộng đồng địa phương
Không phải tất cả, nhưng hầu hết các ICDP đều hướng tới việc tăng cường năng lực cho cán bộ quản lý các khu vực bảo vệ Tuy nhiên rất hiếm khi công việc này được xếp ưu tiên hàng đầu
Trang 23Trong lúc mà tiếp cận kết hợp bảo tồn với
phát triển (ICD) gián riếp chú ý giải quyết
vấn đề những người thợ săn theo mùa và
những thợ săn mang tính cơ hội, thì ICDP
“Đóng cửa một quán ăn đặc sản thịt thú
rừng thì dễ hơn là ngăn chặn việc săn bắn thú rừng trong khu vực bảo vệ”
Trần Văn Mùi —
chú ý rất ít đến những người trung gian Giám đốc VOG Cát Tiên
môi giới ngoan cố chống đối, những tiểu
thương và thương nhân cỡ lớn, và đấu tranh tại một số điểm nóng dọc các con đường thường xảy ra buôn bán động vật hoang đã ICDP cũng thất bại trong việc giải quyết các cơ chế thị trường đang chi phối việc buôn bán động vật hoang đã -
cụ thể là việc tiêu thụ các sản phẩm này (thịt, chím thú cảnh, thuốc chữa bệnh)
Ông giám đốc VQG Cát Tiên tin tưởng rằng “Chúng tôi nhất định phải làm mạnh
hơn nữa để ngăn chặn tình trạng người tiêu đùng ăn hoặc mua các động vật hoang
đã (thịt, chim thú cảnh, thuốc chữa bệnh), không chỉ đơn thuần là ngăn những
người nghèo đang bắt những động vật này (Trần Văn Mùi, thông tin cá nhân) Điều này có nghĩa là cần phải làm nhiều việc hơn nữa để nâng cao nhận thức về bảo tồn
- đặc biệt đối với những người dân có thu nhập cao và dân thành thị ở Việt nam và Trung Quốc (tuy nhiên điều này không có nghĩa rằng bản thân ICDP phải đảm đương vai trò này) Tăng cường cơ quan thực thi pháp luật, điều phối các hoạt động
và các nguồn tài chính, tất cả cần được đi vào nẻ nếp để cho Cục kiểm lâm và hệ
thống toà án có thể chế ngự, kiểm soát được các cửa hàng ăn uống đặc sản “thịt thú
rừng” và các chợ buôn bán động vật hoang dã ở kế bên khu vực bảo vệ và tại các
trung tâm đô thị Cuối cùng cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu được sự phụ thuộc về
mặt xã hội vào săn bán, từ đó các hoạt động bảo tồn và phát triển có hướng giải quyết đúng mục tiêu
Do tiếp cận cố hữu về ICDP là tiến hành bảo
tồn thông qua phát triển cộng đồng nên
ICDP có xu hướng tập trung vào việc khắc
phục tình trạng thu lượm ở quy mô nhỏ của
hộ gia đình đối với các loại gỗ củi, gỗ xây
“Tại KBT Vũ Quang, du canh không phải
là khó khăn chính — việc khai thác, chặt
gỗ mới là nguy cơ lớn nhất.”
đốn gỗ quy mô lớn là mối nguy cơ nghiêm trọng hơn nhiều đối với nguồn tài nguyên sinh học so với việc thu hái gỗ củi quy mô nhỏ ở cấp hộ gia đình tại địa
bàn ICDP ở Việt nam Cũng như đối với việc săn băn động vật hoang dã, việc chặt
đốt gỗ quy mô lớn cần được chặn đứng và khống chế bằng cách tăng cường năng
Trang 24lực và có cơ chế phù hợp để buộc mọi người phải tuân theo luật lệ lâm nghiệp và tăng cường sự có mặt thường xuyên của các nhóm tuần tra bảo vệ rừng
Đặc điểm các hoạt động chặt gỗ bén /rong phạm vi vùng bảo vệ ở Việt nam hoặc trong phạm vi rừng đặc dụng là có sự chọn lựa rất cao và thâm nhập khắp mọi nơi, xẩy ra thường xuyên trên các cánh rừng rộng lớn Thợ đốn gỗ thường nhằm vào việc chặt hạ những cây gỗ cực kỳ quý hiếm, có giá trị đặc biệt cao (thí dụ Pơ mu,
Trầm ), chặt hạ có chọn lọc các cây gỗ to rồi cưa xẻ thành những hộp gỗ, súc gỗ và kéo những hộp gỗ, súc gỗ này ra khỏi rừng Tại VQG Yok Đôn, những thương
nhân từ nơi khác đến đã trả tiền công cho những người am hiểu kiến thức bản địa
biết xác định xem những cây gỗ nào là có giá trị nhất và chặt hạ, đưa các cây gỗ đó
ra khỏi rừng cho họ (Oxvel, thông tin cá nhân) Hầu hết các khu rừng tự nhiên bên ngoài khu vực bảo vệ ở Việt nam được thiết kế là “rừng sản xuất” nghĩa là không thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý của ban quản lý VQG hoặc KBT Trong phạm
vi vùng rừng sản xuất, việc chặt hạ gỗ có đặc điểm là khai thác trên quy mô thương
mại với mức độ cơ giới cao để sản xuất ra các sản phẩm từ gỗ cho thị trường trong
nước và xuất khẩu Ở phía bắc và phía nam của vùng Tây Nguyên, nhiều vùng rừng
rộng lớn bao gồm cả rừng tự nhiên, đều thuộc quyên kiểm soát của các lâm trường
quốc doanh Hiện nay có II0 trong số 405 lâm trường quốc doanh ở Việt nam đã
được cấp hạn ngạch (quota) (Geiger 2001, thông tin cá nhân) Những LTQD này
đã không lồng ghép yếu tố tác động môi trường vào trong kế hoạch quản lý rừng của họ Vì vậy, các LTQD hoạt động trong vùng lân cận với rừng đặc dụng vẫn còn
là một mối nguy cơ nghiêm trọng đối với đa đạng sinh học ở Việt nam Hầu hết các ICDP ở Việt nam hiện nay chưa giải quyết được tình trạng đối đầu với các LTQD Ngoài ra, do sự đa dạng và phức tạp của các nguy cơ có tác động đến những khu vực bảo vệ này nên ICDP có xu hướng tập trung vào các vấn đề được coi là nằm trong “lĩnh vực và phạm vi ảnh hưởng” của mình và, do các lý do có tính thực tế nên ICDP đã thất bại trong việc giải quyết các nguy cơ bắt nguồn từ
cấp trung ương như việc cải cách các LTQD
4.1 Khung chính sách
1 Sự mâu thuẫn trong các chính sách ở cấp trung ương và cấp tỉnh theo chiêu hướng thiên về sự tăng thêm lợi nhuận trước mắt trong phát triển
kinh tế hơn là hướng tới những lợi ích
lâu đài thu được từ việc bảo vệ môi | “Ở Việt nam, có rất ít động lực
Hiện tại một số địa điểm thực hiện ICDP
đang bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các dự án phát triển quy mô lớn đang thực thi hoặc đang trong giai đoạn lập kế hoạch, các dự án này có sự đối lập với
Trang 25các mục tiêu bảo tồn của các VQG, KBT trong việc chuyển đối các vùng đất rộng lớn có sinh cảnh đa dạng về mặt thiên nhiên và sinh học sang hướng đầu tư mới Các dự án đầu tư này tạo ra những nguy cơ thực sự đối với các quần xã các động thực vật hoang đã cùng các cảnh quan thiên nhiên hiếm có và đặc hữu ở Việt nam
Một cách tổng quát, những điều này chứng tỏ rằng các cơ chế ra quyết định nói
chung là chưa thoả đáng và mâu thuẫn với các chính sách và luật pháp của Việt nam đang khuyến khích sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa đạng sinh học
Những mâu thuẫn trong các chính sách bao gồm ít nhất là các nội dung sau đây: e_ Xây dựng con đường cao tốc Hồ Chí Minh đi qua 7 khu bảo tồn dọc theo vùng
đa đạng sinh học rất cao ở biên giới Việt nam, Lào và Campuchia
Xây dựng một con đường quân sự qua KBT Phong Nha
Xây dựng một chiếc cầu lớn và một con đường rải đá đi qua VQG Cát Tiên Các dự án xây dựng đập nước ở các KBT Na Hang và Pù Mát
Xây dựng I vùng 200 ha làm khu du lịch, di tích lịch sử có đường sá vào trung
tâm KBT U Minh Thượng
®_ Phát triển du lịch không tổ chức và không bền vững tại VQG Ba Bể, bao gồm cả
việc chuyển đổi các vùng núi đá vôi thành nơi xây khách sạn, xây dựng các
đường vòng xuyến và một cây cầu qua hồ Ba Bể hoang sơ
e Phat trién du lịch không kiểm soát được tại VQG Cát Bà
e Xay dựng cảng cá quy mô lớn trong vùng biển thuộc VQG Côn Dao
Việc xây dựng dường sá và phát triển cơ sở hạ tầng gắn với du lịch là một ví dụ cụ
thể về việc các nhà hoạch định chính sách đã quan niệm rằng phát triển kinh tế
không ảnh hưởng gì, mà là hài hoà với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên Nhưng thực
ra, việc xây dựng đường sá vào trong và xung quanh các khu vực bảo vệ là rất có hại cho đa đạng sinh học do những tác động tích tụ đối với môi trường Thí dụ, tác động trực tiếp của việc làm đường bao gồm những tổn thất về diện tích rừng,
chuyển đổi cảnh quan thiên nhiên, thay đổi khả năng tự phát triển của các hệ sinh
thái (tức là phân chia sinh cảnh trên phạm vi rộng ở kế cận con đường đó) và tăng
nhu cầu về củi, lương thực cho những công nhân làm nghề xây dựng đường sá từ nơi khác đi chuyển đến công trường Tác động gián tiếp của việc xây dựng đường
sá là quá trình bế trí lại đân cư thường là kéo dài, chuyển đổi một số đất đai sang canh tác nông nghiệp, dễ gây ra cháy rừng, đưa vào các giống cây dễ lấn át giống
cây bản địa, tăng khả năng săn bắn trộm các động vật hoang dã và tăng số người
làm nghề đốn gỗ Các dự án phát triển khác, ngoài xây dựng đường sá cũng tạo ra những nguy cơ tương tự đối với nguồn tài nguyên sinh học do chuyển đổi đất đai
và tăng khả năng tiếp cận cho những người thợ săn bắn thú rừng, thợ đốn gỗ, thêm người đến định cư và tăng nguy cơ cháy rừng cho những vùng mà trước đây là nơi hẻo lánh xa xôi
Trang 262 Tăng cường hỗ trợ cho những nỗ lực như dự án UNDP/Bộ KHĐT về phối hợp lồng ghép các yếu tố môi trường vào việc lập kế hoạch đầu tư bảng các
chính sách triển khai ở cấp ngành và cấp tỉnh
3 Các phương tiện truyền thông tăng cường và thường xuyên có chương trình về nâng cao nhận thức cho cộng đồng và thông tin cho các nhà hoạch định chính sách về hậu quả môi trường lâu đài của các dự án phát triển
không bền vững
4 Hỗ trợ việc tăng cường năng lực cho các tổ chức phi chính phủ trong nước đang tập trung hoạt động về giáo dục môi trường, vận động chính sách và tập huấn các kỹ năng ICD
2 Thiếu sự điều phối giữa các cơ quan nhà nước để đạt được sự thoả
thuận
Hiện nay khung thể chế ở Việt nam tỏ ra chưa thuận lợi cho ICDP, đặc biệt là thiếu các hệ thống lập kế hoạch tổng hợp trong phạm vi các cơ quan nhà nước và các quá trình thể chế hoá để chia sẻ thông tin, phối hợp và đạt được thoả thuận về các kế hoạch giữa cơ quan nhà nước, các bên tham gia (nhà tài trợ, NGO, cán bộ nghiên cứu, khu vực tư nhân .) và cộng đồng địa phương Sự kết hợp giữa bảo tồn với phát triển là một guá trình và phân lớn quá trình này cần tập trung vào việc phối kết hợp Ö Việt nam, việc thiếu các hệ thống lập kế hoạch có sự phối kết hop theo chiêu ngang giữa các cơ quan và theo chiều dọc của từng cơ quan là một trở ngại lớn cho ICDP
Mâu thuẫn về chính sách kết hợp với những rào cản về chia sẻ thông tin và điều phối trong phạm vi Bộ NN-PTNT với các Sở NN-PTNT và giữa các cơ quan khác
(thí dụ Bộ KHDT, Bộ KHCNMT) dẫn đến kết quả là các cơ quan cấp Bộ và các
Cục, Vụ trong từng Bộ thực hiện những chương trình phát triển riêng rẽ, thiếu sự phối hợp với các chương trình bảo tồn Những mâu thuẫn về chính sách và thiếu sự điều phối trong từng cơ quan hoặc giữa các cơ quan khác nhau hiện nay xảy ra ở cả hai cấp: Cấp trung ương và cấp tỉnh Ở cấp tỉnh, điều thương gặp là các Sở như Sở NN-PTNT và Sở KHCNMT — hai cơ quan với các mối quan tâm về bảo vệ môi
trường — thường thiếu các khung thể chế để có thể điều phối và chia sé thong tin
Trang 27Ngoài 1, Go cau chi dao từ trung | «ở Việt nam, dòng thông tin từ cơ sở đi lên
ương xuống địa phương tỏ ra không ‡ chưa tạo được nhiều hiệu qua”
phù hợp với hoạt động của các ban Fernndo.Potess
quản lý VQG và KBT, vì họ không Giám đốc dữ án tai địa phương
được cung cấp đầy đủ các thông tin và Scdtt Wilson Associates
hướng dẫn cần thiết đối với các kế
hoạch đầu tư có tác động ảnh hưởng đến vùng trọng tâm (khu vực bảo vệ) và vùng đệm (vùng phụ cận với khu vực bảo vệ) Thí dụ ở VQG Cát Tiên, giám đốc VQG không được hỏi ý kiến về việc xây dựng một đập nước trong phạm vi vườn đã tiến hành gần đây Tại KBT U Minh Thượng, ban quản lý KBT và tất nhiên cả tỉnh nữa
đều tổ ra bất lực không thể gây ảnh hưởng đến một quyết định từ trung ương về
việc xây dựng một khu di tích lịch sử và du lịch ở trung tâm của KBT, mặc dầu luật của nhà nước đã tạo ra cơ sở pháp lý cho ban quản lý KBT và tỉnh được quyền xem xét các kế hoạch phát triển trong các rừng đặc dụng theo quyết định số 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tình hình thực tế tại chỗ cho thấy các
ý kiến đóng góp từ Ban quản lý lên cấp trên dựa chủ yếu vào “khả năng lãnh đạo” của Giám đốc vườn, ông này thường là một cán bộ cao cấp trong bộ máy Nhà nước Tuy nhiên, quá trình này phần lớn là không chính thức và không được thể chế hoá (Hoàng Hoa Quế, thông tin cá nhân; Trần Văn Mùi, thông tin cá nhân) Đối với các quyết định được quyết định từ Hà Nội, rất xa khu vực bảo vệ, thì sự liên hệ không chính thức nêu trên là hoàn toàn không thể có hiệu quả được
nhiên, trên thực tế, có rất ít VQG và KBT ở Việt nam đã nghiên cứu kỹ càng về
tính khả thi của phát triển du lịch, thực tế và tiểm năng, nhu cầu thị trường và các tiếp cận bền vững để quản lý du lịch trong phạm vi các khu vực bảo vệ Bài học rút
ra trên phạm vi toàn cầu đã chứng tỏ rằng các lợi ích từ du lịch thiên nhiên thường
là được ước lượng quá cao Hơn nữa, có rất ít lợi ích từ du lịch dựa vào thiên nhiên được giữ lại cho VQG hoặc cho cộng đồng địa phương Việc phát triển lập kế hoạch quản lý du lịch sinh thái sẽ đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn cho các Ban quản lý khu vực bảo vệ về khả năng mở mang du lịch tối đa, phân vùng với những nơi đặc biệt trong phạm vi VQG dành cho khách du lịch (những con đường thiên nhiên, chỗ ăn nghỉ của khách, các cây to và thác nước, các thắng cảnh .) và việc thu phí đối với khách tham quan VQG Hiện nay chỉ có một số rất ít VQG như Ba
Bé/Na Hang, Bach Ma, Cát Tiên và Côn Đảo — có các kế hoạch quản lý du lịch
sinh thái được chính phủ chấp thuận
Trang 28Khuyến nghị
1.Các hoạt động phát triển ở vùng đệm và các vùng phụ cận cần được thảo luận với Ban quản lý khu vực bảo vệ ngay từ lúc bất đầu quá trình khởi thảo
kế hoạch do các tác động lâu dài và không thể đảo ngược được của việc phát
triển không bền vững đối với đa đạng sinh học
2 Việc thiết kế ICDP - và đặc biệt là các kế hoạch hoạt động - cần nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ được xây dựng và quá trình phát triển
hệ thống lập kế hoạch có sự phối hợp Việc đưa ra mô hình mới về lập kế hoạch có sự phối hợp vào hệ thống điều hành hiện nay cần có thời gian để đi vào nền nếp Các bản thiết kế và lập kế hoạch công tác cho ICDP cần nhìn nhận rằng các giám đốc dự án và cố vấn kỹ thuật cần tập trung thời gian và
sự quan tâm đến các quá trình quan trọng và không hướng tới các định mức đầu ra này
3 Do môi trường chính sách mà theo đó các VQG tiêu biểu cho tiềm năng
du lịch hiện nay chưa được khai thác, nên các ICDP cần xây dựng các kế hoạch quản lý du lịch sinh thái để thông tin cho các đối tác quốc gia về việc
sử dụng bền vững nguồn tài nguyên sinh học một cách phù hợp với môi trường và có trách nhiệm với xã hội
3 Việc đưa ra quyết định ở cấp trung ương và cấp tỉnh thiếu sự phối hợp, lỏng ghép giữa các yếu tố môi trường vào kế hoạch sử dụng đất và
kế hoạch đầu tư (tức là thiếu đánh giá tác động môi trường)
Tuy hiện nay ở Việt nam đã có khung
pháp lý để phối hợp các mối quan tâm
về môi trường và xã hội vào các kế
hoạch đầu tư, như được nêu trong
thông tư số 490 do Bộ KHCNMT ban
Cuộc nghiên cứu khả thi về xây dựng đập
nước tiến hành trước khi triển khai dự án PARC đã không đẻ cập đến việc vùng này là một khu bảo tồn thiên nhiên Dự án xây
dựng đã được phê duyệt Cho đến nay, vẫn
chưa có kế hoạch để tiến hành một cuộc
hành ngày 29-4-I99§ nhưng một số dự
án đầu tư quy mô lớn trong phạm vi
các khu vực bảo vệ vẫn tiếp tục được
lập kế hoạch và xây dựng mà không
cần có sự chú ý thích đáng và đầy đủ
đối với những tác động lên đa đạng
sinh học Bằng cách cung cấp thông tin
về sinh học và kinh tế xã hội cùng với những sự lựa chọn khác nhau đối với một kế hoạch phát triển, các cuộc đánh giá tác động môi trường có thể giúp các nhà lập kế hoạch và ra quyết định bằng cách nêu bật các tác động tích cực có liên quan với phát triển kinh tế và giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường Khi được tiến hành vào lúc bắt đầu quá trình lập kế hoạch, việc đánh giá tác động môi trường
đánh giá tác động môi trường
Trang 29có thể là một công cụ lập kế hoạch hữu ích hơn là một kế hoạch để khác phục các hậu quả xấu đến môi trường
Tại cấp tỉnh, việc thiếu các khung thể chế và sự hạn chế về khả năng của Sở KHCNMTT về thu thập thông tin và điều phối/giám sát các quy trình đánh giá tác động môi trường — do thiếu năng lực kỹ thuật và thiếu nguồn tài chính — là một trở ngại để thực hiện các bước đánh giá tác động môi trường Vì vậy, tình hình thực
tế tại địa phương cho thấy việc đánh giá tác động môi trường — vốn là một công
cụ lập kế hoạch, vẫn chưa hoàn toàn thoả đáng; nếu như việc đánh giá này có được
triển khai đi nữa Ngoài ra, khi việc đánh giá tác động môi trường được đề xuất thì
Sở KHCNMT ở cấp tỉnh thiếu “quyền lực” để xem xét và gây ảnh hưởng đến
những chương trình đầu tư được soạn thảo và quyết định từ cấp trung ương Những thí dụ về các dự án đầu tư quy mô lớn nhưng thiếu đánh giá tác động môi trường có thể nêu như việc xây dựng đường cao tốc Hồ Chí Minh đi qua 7 khu vực bảo vệ ở Việt nam; một con đường quân sự ở khu bảo tồn Phong Nha, một đập thủy điện ở KBT Na Hang và một dự án xây dựng khu di tích lịch sử, khu du lịch và làm đường
sá ở KBT U Minh Thượng
Khuyến nghỉ
1 Khuyến khích việc sớm tiến hành đánh giá tác động môi trường ngay
trong quá trình chuẩn bị lập kế hoạch phát triển Tăng cường năng lực cho
Cục Môi trường của Bộ KHCNMT và các Sở KHCNMT thông qua việc tập huấn đánh giá tác động môi trường và hỗ trợ việc thực hiện quyết định 490 Hoạt động cần thực hiện là: liên hệ với dự án do UNDP tài trợ và do Bộ
KHĐT/Bộ KHCNMTT thực hiện về việc phối hợp các nội dung bảo vệ môi trường với lập kế hoạch phát triển Tổ chức tập huấn về đánh giá tác động
môi trường tại các địa điểm thực hiện ICDP mà hiện nay đang cần sự hỗ trợ
về đánh giá tác động môi trường ở cấp tỉnh
2 Khuyến khích các hệ thống lập kế hoạch có sự phối hợp thí dụ như các cuộc thảo luận giữa các Sở với nhau về kế hoạch phát triển trong phạm vi địa
ban ICDP
3 Cần có sự tham gia tích cực thay mặt cho các nhà tài trợ để khuyến nghị Chính phủ và những người ra quyết định sẽ tạm dừng các dự án phát triển thuộc phạm vi trong vùng hoặc xung quanh vùng ICDP mà có thể có tác
động gây tổn hại đến môi trường và xã hội
Trang 304 Các chính sách khuyến khích sự di dân tới những vùng biên giới, thường là trong phạm vỉ hoặc xung quanh các vùng rừng đặc dụng,
thường có mâu thuẫn với mục tiêu bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên
Hầu hết các vùng rừng đặc dụng ở Việt nam — vùng cốt lõi của hệ thống các khu vực bảo vệ (VQG và KBT) được thiết kế từ cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỹ 90 Cùng với việc thiết kế các khu vực bảo vệ, Chính phủ Việt nam khuyến khích người dân đến định cư ở các vùng này, thông qua các biện pháp hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp để giảm nhẹ áp lực dân số từ các vùng đông dân và các các vùng nghèo đói tới những nơi thưa dân thuộc các “vùng biên giới” này Các khu kinh tế mới được xây dung sau nam 1975 phù hợp với chủ trương khai phá đất hoang và định cư người dân từ các vùng đông dân của đất nước (Gilmour và Nguyễn Văn San, 1999), Vì vậy, nhiều “người nghèo” sống trong phạm vi hoặc kế cận với các khu bảo vệ của Việt nam đã đến định cư trong các vùng này trong một thời gian
chưa dài Việc nhà nước hỗ trợ định cư cho người Kinh và các cộng đồng dân tộc
thiểu số vào trong và xung quanh các khu vực bảo vệ đã xảy ra tại VQG Bạch Mã, VQG Cat Tiên, KBT U Minh Thượng, KBT Vũ Quang và các VQO khác
Tại VQG Cát Tiên, những người dân bản địa thuộc các dân tộc thiểu số, trong lúc
phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của VQG mà hiện nay đã ở xung quanh nơi họ sống, nhưng họ không bị coi là nguy cơ chính đối với đa đạng sinh học Nguy cơ chính từ người đân ở địa phương lại đến từ những người dân tộc thiểu
số mới di cư từ các tỉnh phía Bắc vào (bao gồm người Tày, Mường .) và những người Kinh do sức ép gia tăng dân số đã dẫn đến sự di dân từ các vùng xung quanh đến (Vũ Ngọc Long, thông tin cá nhân) Do việc tái định cư những người mới đến nay đã dẫn đến một sự lựa chọn quá phức tạp và phi thực tế nên ban quan ly VQG này đã quyết định thay đổi đường ranh giới của VQG mà theo đó các làng bản mới này sẽ không còn nằm trong phạm vi của VQG nữa (Polet, thông tin cá nhân) Quyết định này đã tác động mạnh đến kế hoạch tạo ra một “hành lang xanh” nối
khu bảo tồn tê giác Cát Lộc với vùng rừng Nam Cát Tiên rộng lớn hơn (Trần Văn
Mùi, thông tin cá nhân)
Một nguyên nhân cơ bản của việc di
dân đến trong vùng hoặc xung quanh Di dân đến các tỉnh Kon Tum và Dak Lic cũng vẫn ảnh hưởng đến VQG Cát Tiên (mặc
khu vực bảo vệ ở Tây nguyên là do
việc phát triển thuỷ điện ở vùng miền
nuí đông dân phía Bắc Việc xây dựng
dù vườn ở cách xa 100-300km về phía nam
các tỉnh nêu trên)
Giám đốc VQG Cát Tiên
một đập thủy điện 3600MW ở miền
Bắc Việt nam đã được lên kế hoạch sẽ bắt đầu triển khai vào năm 2003 Việc thực
hiện công trình này sẽ phải di đời khoảng 100.000 người thuộc các dân tộc thiểu số
từ các tỉnh Sơn La và Lai Châu và tái định cư họ ở vùng Tây Nguyên, nơi mà làn sóng di cư trong 20 năm qua đã làm cho các tỉnh ở đây đánh giá rằng đây là một
Trang 31trong các nguyên nhân chủ yếu gây ra sự bất ổn về mặt xã hội gần đây do một số
người dân tộc thiểu số gây ra (Thông tấn xã Đức, 2001) Chỉ riêng ở Đắk Lắc, số
đân toàn tỉnh đã tăng gấp 6 lần kể từ năm 1975 tới nay (Thông tấn xã Đức, 2001)
Việc gia tăng sức ép về đất đai ở Đák Lắc không báo trước điểm hay cho tương lai
của VQG Yok Đôn, nơi triển khai dự án ICDP của UNDP và GEF
Khuyến nghị
1 Sẵn sàng tổ chức thảo luận về chính sách có liên quan đến chiến lược lập
kế hoạch sử dụng đất toàn quốc, đặc biệt là trong điều kiện dân số Việt nam
có thể sẽ tăng gấp đôi từ 75 triệu hiện nay lên 150 triệu người sau 50 năm
nữa Các quyết định có liên quan đến những hậu quả về xã hội và môi trường
từ hoạt động phát triển sẽ có tác động lâu dài đến di sản thiên nhiên của Việt nam trong tương lai
2 Vận động chính sách di dân nên ưu tiên đưa dân tới các vùng có mức độ
đa đạng sinh học thấp Điều này có thể thực hiện được bằng cách phát triển
các trung tâm thương mại và công nghiệp theo vùng để thu hút người nghèo
để họ không định cư ở các vùng biên giới, có mức độ đa đạng sinh học cao
và nông nghiệp tản mát
3 Khuyến khích việc triển khai các cuộc đánh giá tác động xã hội và môi
trường đối với tất cả các dự án đầu tư quy mô lớn
4 Tổ chức hội thảo quốc gia về chính sách và biện pháp bổ cứu trong vấn để
đi dân với cán bộ một số tỉnh bao gồm những tỉnh có khu vực bảo vệ và các tỉnh lân cận
5 Có những điểm yếu trong hiệu lực thi hành pháp luật do tồn tại nhiều quy định mâu thuẫn, lần lộn nhau trong cách thức thực thi các luật đó,
kết quả là nảy sinh ra những trái ngược giữa một bên là những quy định
chặt chẽ với bên kia là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không kiểm
soát được tại các khu rừng đặc dụng
Cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý các khu vực bảo vệ hiện đang đối mặt với những thách thức lớn trong việc thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao (Mittelman, 2000) bao gồm việc thiếu đào tạo, thiếu phương tiện trang thiết bị (xe đạp, radio .) và sự động viên về tài chính (thí dụ lương thấp), uy thế thấp (thí dụ
nhân viên kiểm lâm không được coi trọng như giáo viên; hoặc kiểm lâm viên ở
Việt nam không được coi trọng bằng kiểm lâm viên ở An Ðộ) Hiện nay tình hình càng trở nên phức tạp thêm do sự yếu kém trong việc thực thi luật pháp do có quá
nhiều quy định đôi khi mâu thuẫn nhau, đồng thời có sự lẫn lộn, lúng túng trong
cách thực thi các luật đó Kết quả đã nảy sinh những sự trái ngược, mâu thuẫn nhau giữa một bên là các quy định rất chặt chẽ còn bên kia là việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên không kiểm soát được trong phạm vi các rừng đặc dụng Điều này tạo ra những trở ngại đối với việc thực thi luật tại các địa bàn ICDP
Trang 32Như ông giám đốc VQG Cát Tiên đã nêu rõ, hiện nay có không dưới 77 quy định/nghị định/thông tư khác nhau mà VQG có trách nhiệm thực thi (Trần Văn Mùi, thông tin cá nhân) Nhiều quy định mâu thuẫn nhau hoặc đơn giản là khó
quá, không thực thi nổi, bao gồm một số các thí dụ nêu sau đây:
- Nếu một thợ đốn gỗ bị bắt gặp với một cây gỗ có đường kính dưới 10cm thi cán bộ kiểm lâm có thể bắt giữ nhưng trong trường hợp này không thể khởi
tố trước pháp luật được
-_ Sự không chắc chắn, sự bấp bênh trong các quy định về cấm buôn bán động
vật hoang dã, thí dụ như: những loại động vật nào được coi là hoang dã, làm
thế nào để xác định chúng là hoang dã, và các mức độ bảo vệ chúng cụ thể
ra sao
- Quyết định 286 và 287 theo các hướng dẫn của NHTG đối với việc tái định
cư các hộ gia đình ra khỏi khu vực bảo vệ nhưng Nhà nước thiếu các nguồn
lực tài chính để thực hiện các quyết định này
Kết quả là nhân viên kiểm lâm không chỉ thiếu năng lực (do thiếu được tập huấn đào tạo, thiếu phương tiện, trang thiết bị .) để thực thi các luật về lâm nghiệp — một trọng tâm của các ICDP — mà còn thiếu một sự hiểu biết về cách thức thực thi những quy định và luật còn mâu thuẫn nhau Điều này rõ ràng là vượt quá khả năng giải quyết của cả ban quản lý các khu vực bảo vệ và các ICDP
Ngoài ra, việc cải cách luật pháp cũng nêu lên vấn đề về tính thực tế của việc tuyệt
đối cấm sử dụng bất cứ một loại lâm sản nào trong các vùng rừng đặc dụng Tình
hình ở Việt nam tương tự như những điều mà Joe Peters mô tả về Madagascar, theo
đó tác giả nhận xét rằng “trong lúc mà các quy định hiện hành cấm ngặt việc khai thác lâm sản từ rừng đặc dụng, thì các nguồn tài nguyên trong những khu rừng này vẫn lâm vào tình trạng nguy ngập, do trong một thời gian đài cộng đồng địa
phương gồm hầu hết là những người nghèo khổ, vẫn sử dụng các nguồn tài nguyên
đó Điều này dẫn đến việc các cơ quan kiểm lâm có quan điểm khoan dung, nương nhẹ khi vận dụng các luật về lâm nghiệp” (Joe Peters 1998, được Mittelman, 2000 trích dẫn) Andrew Mittleman (2000) khẳng định thêm rằng “thay vì một môi trường điều chỉnh có dự kiến, trong thực tế, các nguồn tài nguyên rừng đang được quản lý theo cách thức chủ yếu là “mở cửa rừng để mọi người đều có quyền sử dụng” Ngay cả khi các ICDP thành công trong việc tạo ra những sự lựa chọn để nâng cao thu nhập nhằm chấm dứt việc săn bắt và hái lượm động thực vật trong rừng thì việc thực thi luật một cách nghiêm túc vẫn là cần thiết để thay đổi hành vi của cộng đồng, vốn trong lịch sử đã từng phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng để làm kế sinh nhai”,
Trang 33Cuối cùng, việc buôn bán có lợi nhuận cao đối với các động vật hoang dã và nhiều loại gỗ có giá trị cao đã tạo ra một thách thức to lớn cho các cơ quan kiểm lâm và ICDP trong việc loại trừ nạn tham nhũng Các kiểu “trả tiên ăn chia” và “nạp thuế không chính thức” một cách bất hợp pháp hiện nay không phải là hiện tượng mới ở Việt nam Ngoài ra với đồng lương tương đối thấp của nhân viên kiểm lâm và công chức thực thi pháp luật (trung bình khoảng 33 USD/tháng hoặc 500.000đ/tháng) chỉ tạm đủ để nuôi sống một gia đình bốn người, không có ý nghĩa gì khi so sánh
với giá một con gấu ở thị trường địa phương (30 triệu đồng) hoặc một con rắn hổ
mang chúa (400.000đồng/kg) (Grieser-John, thông tin cá nhân) Các ICDP, trong lúc tìm cách tăng cường hiệu lực và nâng cao đạo đức của nhân viên kiểm lâm, có
thể đầu tư vào các kế hoạch khuyến khích bằng cách bồi đưỡng cho nhân viên kiểm lâm dựa vào các hợp đồng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và việc giám sát một
cách công khai (Geiger, thông tin cá nhân)
vệ rừng cho cán bộ ban quản lý các khu vực bảo vệ và nhân viên kiểm lâm
2 Tham khảo nhiều hơn nữa ý kiến giữa các nhà hoạch định chính sách và cán cán bộ cơ sở, trước khi ban hành các nghị định/thông tư mới
3 Chính sách hiện nay khuyến khích việc phân cấp các ban quản lý VQG cho cấp tỉnh quản lý nên được xem xét thêm để đảm bảo rằng các nguồn tài chính và nhân lực không làm hạn chế khả năng của cán bộ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng một cách có hiệu quả
4 Tập huấn, đào tạo cho nhân viên kiểm lâm và cán bộ nhà nước ở cấp tỉnh
và cấp huyện để họ nắm vững hơn và thực thi tốt hơn các quy định hiện nay
và các quy định mới -
3 Tiến hành chiến dịch chống tham nhũng, tăng cường các kế hoạch thưởng công cho cán bộ nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ
Trang 346 Các luật hiện nay tuyệt đối cấm cộng đồng sử dụng nguồn tài nguyên
rừng trong phạm vỉ các khu rừng đặc dụng có thể vừa phi thực tế, vừa hạn chế các kế hoạch sáng tạo về việc cho phép sử dụng ở mức độ hạn chế, cho phép cộng đồng nghèo, sinh sống bên trong hoặc xung quanh các khu vực bảo vệ, được phép sử dụng có hạn chế các nguồn tài nguyên
Hiện may viet main on thiếu mot “Các khu rừng đặc dụng tạo ra tiềm năng lớn để
khung pháp lý W©-QUAT lý tài nguyên quản lý nguồn tài nguyên đựa vào cộng đồng, tuy
dựa vào cộng đồng trong phạm vi | nhiên khung pháp lý lại ít ủng hộ nhất”
các khu rừng đặc dụng Theo khung Mike Nurse - Chuyên gia về quản lý
pháp lý hiện nay về việc bảo vệ tài nguyên dựa vào cộng đồng -
nghiêm ngặt các khu rừng đặc dụng, Dư án KBT Pù Luông đo FFI tài trợ
các ICDP đang gặp trở ngại trong việc xây dựng những kế hoạch sáng tạo với cộng
đồng địa phương để họ có thể được phép sử dụng ở mức độ hạn chế các nguồn tài
nguyên rừng trong khu vực bảo vệ Bởi vậy, các ICDP hiện nay bị hạn chế đối với các hoạt động ngoài lâm nghiệp —tao thu nhập theo các phương thức có lựa chon (thí dụ trồng cây hàng hoá như rau, cây ăn quả, đệt vải, nuôi ong .) cho các cộng
đồng địa phương Điều này là phi thực tế vì hầu như tất cả những người dân nghèo
địa phương sinh sống trong phạm vi và xung quanh khu vực bảo vệ hiện đang phụ
thuộc vào nguồn tài nguyên rừng để hỗ trợ cho cuộc sống của mình và những nhân
viên kiểm lâm thì không có khả năng cấm đoán các hoạt động bất hợp pháp trong phạm vi các khu rừng rộng lớn này
Về các khuyến nghị để giải quyết tình trạng này có rất nhiều ý kiến khác nhau Những người chủ trương bảo vệ một cách cứng rắn thì đề xuất việc thự thi rất chặt
chẽ, (bao gồm cả việc sử dụng những người tuần tra rừng có trang bị vũ khí do bên
ngoài tài trợ) trong lúc các nhà hoạt động bảo tổn mong muốn đề ra thể chế (thông
qua các hợp đồng có sự thương thuyết với hộ gia đình hoặc thôn bản) để cộng đồng địa phương có quyền sử dụng một cách hạn chế các nguồn tài nguyên rừng thuộc các khu vực bảo vệ, đặc biệt là ở những nơi mà dân địa phương đang gặp khó khăn
về thiếu lương thực trong những tháng giáp hạt và vì vậy họ vẫn phải phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng để sinh sống
Với sự khởi đầu của một số chương trình sáng tạo ở Việt nam có sự phối hợp của công đồng (xem phần 4) các nhà hoạch định chính sách, với sự giúp đỡ của nhóm công tác ICDP sẽ mạnh dạn xem xét lợi ích và những điểm bất thuận của các quy
định hạn chế phi thực tế hiện nay về nguồn tài nguyên trong các khu vực rừng đặc
dụng Để giúp các nhà hoạch định chính sách xem xét lại và cải cách các luật về
lâm nghiệp hiện nay, ICDP có thể cung cấp các kết quả nghiên cứu điểm đã nêu tóm tắt các kế hoạch cho phép sử dụng hạn chế (thí dụ: hợp đồng với cộng đồng về
thu thập các đàn ong rừng cho các hộ gia đình nuôi lấy mật ở VQG Cát Bà)
Trang 35Khuyến nghị
1 Xem xét, đánh giá lại chính sách về quy định tuyệt đối cấm sử dụng tài nguyên rừng đối với rừng đặc dụng
2 ICDP có thể tiến hành các nghiên cứu điểm, nêu tóm tắt các sáng kiến, và
kế hoạch cho phép sử dụng tài nguyên có hạn chế, thông qua sự hợp tác của
cộng đồng để hợp đồng với thôn bản và hộ gia đình, cùng kế hoạch thưởng
công hoàn thành tốt nhiệm vụ
3.3 Thiết kế dự án
Phần này của báo cáo cung cấp thông tin cho các nhà tài trợ, các giám đốc dự án và
cố vấn về một trở ngại lớn đối với sự thành công của ICDP - đó là việc thiết kế dự
án Đại bộ phận các ICDP ở Việt nam đã không thành công trong việc lồng ghép nhiều trong số các yếu tố nêu trên vào quá trình thiết kế dự án Việc khắc phục những trở ngại này tốt nhất là nên tiến hành trong các giai đoạn thiết kế và bắt đầu
triển khai dự án nhưng cũng có thể được lồng ghép vào thiết kế dự án trong giai
đoạn thực hiện, thông qua các kỹ thuật quản lý phù hợp với điều kiện cụ thể của
ICDP
1 Quá trình thiết kế dự án - một giải pháp khẩn trương để thành công?
Bản thân quá trình thiết kế các ICDP là một trở ngại cho việc thành công của ICDP ở Việt nam Nói chung quá trình này bao gồm việc “những người ngoài” (hầu như luôn luôn là người nước ngoài) đành ra một thời gian ngắn (một vài tuần lễ) tại hiện trường và tiếp đó hoàn thành văn bản thiết kế dự án trong một thời gian
tương đối ngắn (một vài tháng) tại một văn phòng xa địa bàn dự án Thỉnh thoảng
các cố vấn phải làm việc dưới sức ép cực kỳ lớn về thời gian để kịp nạp văn bản dự
án đến nỗi họ phải đình hoãn hoàn toàn việc đi thăm hiện trường Nói chung, các
cố vấn người nước ngoài này chẳng những không am hiểu tường tận các điều kiện
cụ thể ở địa phương (môi trường, điều kiện kinh tế, xã hội, cách chỉ đạo, quản lý)
mà họ còn thiếu thời gian cần thiết để có thể thực hiện một cách đây đủ việc
nghiên cứu, thảo luận, tư liệu hoá và thương thuyết các hoạt động dự án trước khi
nạp văn bản xin tài trợ kinh phí Vì vậy, nhiều ICDP đã mạo hiểm xây dựng một
văn bản không rõ ràng và thiếu chính xác về đặc điểm sử dụng các nguồn tài
nguyên và do vội vã, đã thiết kế các nội dung và hoạt động dự án không phù hợp và chưa đầy đủ Thêm vào đó, những sai sót này trong quá trình thiết kế dự án đã không được bổ cứu, điều chỉnh trong giai đoạn xem xét, phê duyệt và thực hiện dự
án, đo nhiều lý do khác nhau
Tuy nhiên các cố vấn chỉ đơn thuần là người giơ đầu chịu tội trong công việc này Các giám đốc dự án và nhà tài trợ thường xuyên thiếu chú ý dành đủ nguồn lực -
Trang 36nhân lực, tài chính và thời gian - cho quá trình thiết kế dự án và, thay vào đó, luôn tập trung vào kết quả đầu ra - đó là văn bản thiết kế dự án Quá trình thiết kế bao
gồm những cuộc thảo luận kỹ càng với các đối tác chính phủ có tiềm năng, đi sâu
phân tích các nguyên nhân chủ yếu của việc tổn thất đa đạng sinh học và các nguy
cơ chính đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa đạng sinh học tại địa bàn dự
án và thương thuyết một cách cởi mở với các đối tác chính về những mục tiêu để xuất cho dự án, kết quả đầu ra và các hoạt động của dự án Thông thường các dự án thiếu chú ý thực hiện các bước quan trọng trong quá trình này do điều kiện thời gian quá eo hẹp, vì vậy nhóm thiết kế dự án chỉ tập trung đáp ứng các yêu cầu cơ bản của bản hướng dẫn lập văn bản xin tài trợ (thí dụ cần tiến hành PRA, lập khung logic, thảo luận về các thông tin chính, chỉ tiết về kinh phí, chữ ký của các đối tác ) nhưng chưa chú ý xây dựng một khung vững chắc về kiến thức, các mối quan hệ và lòng tin- những yếu tố hỗ trợ chủ yếu cho cdc ICDP
2 Thiếu tổ chức lấy ý kiến đóng góp của đối tác và các bên tham gia
Một điểm yếu của nhiều ICDP thường | “Tôi đã không có cơ hội để đóng góp ý kiến được nêu lên là việc nhóm thiết kế chưa | vào văn bản dự án, nhưng tôi chịu trách
chú ý tổ chức việc xin ý kiến đóng góp Ip MEANS ER Rout độn 70A „
của tất cả các bên tham gia, đặc biệt là | Trần Văn Mùi, Giám đốc VQG Cát Tiên các đối tác chính phủ và cán bộ chủ chốt
của ban quản lý dự án Việc thiếu tham gia ý kiến này có thể dẫn đến tình trạng thiết kế đự án làm chưa tốt, kết quả là không nhận được tài trợ hoặc tuy có được tài trợ nhưng hoạt động yếu Những điểm yếu này có thể là do thiếu sự hỗ trợ từ phía các đối tác chính phủ, các mục tiêu dự án không thoả đáng để giải quyết các vấn để thực tế và khẩn cấp, hoặc các hoạt động tỏ ra phi thực tế đối với các điều kiện địa phương
Trong trường hợp một nhóm cố vấn gần đây thực hiện việc thiết kế dự án (mà một trong 2 tác giả báo cáo này có tham gia), người nhóm trưởng quyết định bỏ qua việc mời các cán bộ đối tác tham gia thực hiện việc đánh giá nông thôn có người
dân tham gia (PRA), tin tưởng rằng nhiều thông tin chính xác sẽ có thể thu nhận
khi không có sự hiện diện của một cán bộ nhà nước trong các cuộc phỏng vấn với người dân địa phương Việc làm thiếu rõ ràng này của người đại diện nhóm thiết kế
đã đưa đến hậu quả là cơ quan đối tác quyết định không chia sẻ thông tin về một bản dự thảo kế hoạch để nâng cấp và mở rộng KBT thành VQG — một nguồn thong tin có tầm quan trọng sống còn cho nhóm thiết kế Xây dựng lòng tin cậy giữa một tổ chức phi chính phủ quốc tế với đối tác ở khu vực bảo vệ có vị trí ở gần biên giới, bản thân việc này là một thách thức đối với ICDP Xây dựng được mối quan hệ tốt giữa các đối tác của ICDP với nhau ngay từ khi bắt đầu giai đoạn thiết
kế là điều quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hợp tác tương lai giữa các đối
tác với ICDP Việc thiếu mối quan hệ khăng khít giữa ban quản lý dự án “ngoại
Trang 37quốc” và cơ quan đối tác địa phương có thể coi là một trở ngại nghiêm trọng, như
đã được nêu lên trong một báo cáo đánh giá thẳng thắn việc thiết kế dự án (CARE 2000) Cuộc đánh giá này do ICDP của CARE ở U Minh Thượng tiến hành
3 Điểm yếu của nhóm công tác thiết kế dự án
Những điểm yếu của nhóm công tác thiết kế đã tạo ra một số trở ngại trong quá trình thiết kế dự án Trước hết, cán bộ được giao thiết kế dự án đôi khi thiếu kinh nghiệm thực tế về cách thức thiết kế một dự án Trong khi tập trung vào thu thập thông tin với thời gian tương đối ngắn, nhóm công tác thiết kế mà nhóm trưởng là người nước ngoài thường thiếu thời gian và kỹ năng giao tiếp để xây dựng mối quan hệ mật thiết với các đối tác cơ quan nhà nước, để thảo luận một cách cởi mở các phương pháp quản lý phù hợp và hiệu qủa và để đánh giá khả năng thành công cùng mức độ rủi ro, dựa theo các nội dung hoạt động đề xuất trong khi lập kế hoạch dự án Cuối cùng, thông thường nhóm thiết kế nên tranh thủ có sự tham gia của các chuyên gia địa phương, những người này có thể đóng góp nhiều ý kiến bổ ích cho quá trình thiết kế
4 Việc vận dụng PRA còn yếu
Đánh giá nông thôn có sự tham gia cuả người dân địa phương (PRA) là một quá trình để nhanh chóng chia sẻ thông tin trong cộng đồng địa phương (2-6 tuần lễ) và tạo điều kiện cho họ tham gia quá trình ra quyết định Cả PRA và RRA (đánh giá nhanh nông thôn) thu thập thông tin chủ yếu thông qua các cuộc phỏng vấn về các giá trị xã hội, các hành vi, biện pháp sản xuất và kiến thức bản địa cùng các tư liệu thứ cấp về các mặt kinh tế xã hội, văn hoá và sinh thái môi trường (Salm và Clark
2000) PRA khác với RRA ở chỗ PRA chú trọng nhiều đến sự tham gia (dòng thông tin 2 chiều) trong lúc RRA chú ý nhiều đến khai thác thông tin (dòng thông tin | chiéu) (Nurse 2001) PRA va RRA đều có ích trong việc phát hiện ra chiều
hướng, mâu thuẫn và các khó khăn khi những vấn đề này dễ bị bỏ qua Hiểu được các công cụ phổ cập PRA và RRA sẽ củng cố mạnh mẽ khả năng của ICDP để
hiểu và xây dựng các hoạt động dự án
Rủi thay, các nhóm thiết kế dự án thường thiếu kinh nghiệm và ít được tập huấn về
kỹ thuật PRA và RRA Điều này dẫn đến việc thực hiện PRA với các kế hoạch nghiên cứu không đúng theo thứ tự và kém về thực hành Tại một địa điểm ICDP, một nhóm thiết kế đã không thực hiện việc hỏi ý kiến ông giám đốc khu vực bảo vệ trong quá trình PRA trong khi ở một ICDP mới thiết kế gần đây, một cuộc PRA với kế hoạch nghèo nàn đã tiến hành các cuộc phỏng vấn với chưa đến 10 hộ gia đình trong một vùng đệm với tổng dân số ước tính khoảng 25 000 người thuộc 4 xã ,trải rộng trên nhiều sinh cảnh khác nhau Khi được tiến hành một cách chu đáo và
Trang 38thích hợp, PRA tỏ ra không những là một công cụ hữu ích để lập kế hoạch mà còn
là một hình thức “kiểm tra thực tế” đối với các hoạt động đề xuất cho ICDP Thí dụ trong giai đoạn đầu tiên của một thiết kế dự án ICDP đo NHTG tài trợ và FFI thực hiện, những kết quả tìm tòi ban đầu của PRA chỉ ra rằng việc trồng đâu nuôi tằm
có thể là một hoạt động phát triển có ích Tuy nhiên tại cùng nơi tiến hành PRA này, khi thực hiện một cuộc khảo sát về các nguy cơ chủ yếu, dân bản địa phương
đã chỉ ra rằng trồng dâu nuôi tằm cũng là một nguy cơ đối với rừng, do người dân cần thêm nhiều gỗ củi để sưởi ấm cho tằm và ngài (bướm) trong những tháng mùa
đông Nếu không có những cuộc PRA được tiến hành chu đáo như vậy thì ICDP đã
có thể tạo ra điều có hại nhiều hơn là điều lợi
5 Thiếu thông tin và thiếu phân tích các chủ đề chính
Việc thiết kế dự án thường gặp khó khăn về thiếu các thông tin đầy đủ và chính xác
đối với nguồn tài nguyên sinh học, điều kiện kinh tế xã hội, hướng ưu tiên phát triển và điều quan trọng nhất là sự sử dụng của con người đối với các nguồn tài
nguyên sinh học và sự đa dạng sinh học Những thông tin quan trọng đó thường không có sẵn và do hạn chế về thời gian, các nhóm thiết kế dự án không thể thu thập và phân tích thông tin một cách day đủ Trong trường hợp lý tưởng nhất, các
cuộc thiết kế ICDP nên điểm qua tình hình tổng thể ở vùng dự án, mô tả các đặc
điểm môi trường, kinh tế, xã hội, văn hoá, lịch sử cách mạng và ý nghĩa quan trọng của vùng đối với an ninh quốc gia (đặc biệt ở các vùng biên giới) Thông tin bổ sung có thể bao gồm các chương trình chính của nhà nước trong vùng đệm (thí dụ các chương trình định canh định cư và xoá đói giảm nghèo) và những thông tin hữu
ích từ các dự án bảo tồn hoặc phát triển khác hoạt động tại vùng ICDP
Kết quả của tình trạng thông tin không đầy đủ là việc thiết kế dự án thiếu sự phân
tích sâu sắc về các vấn đề chủ yếu, có thể gây ra những vấn đề đau đầu trong giai
đoạn thực hiện dự án Thí dụ cán bộ của một dự án do NHTG tài trợ ở VQG Cát
Tiên ghỉ nhận rằng khi thiết kế dự án, do thiếu phân tích chu đáo về vấn đề di dân
và tái định cư cuả đồng bào các dân tộc thiểu số trong phạm vi VGQ nên về sau đã
gây sự chậm trễ hoặc rủi ro trong thực hiện dự án (Turtle, thong tin cá nhân) Trong một thí dụ khác, một cựu cán bộ từ dự án ICDP của WWF ở VGQ Cát Tiên
nhận xét rằng việc thiết kế dự án thiếu sự am hiểu tường tận về các dân tộc thiểu số
sinh sống trong VQG (sinh thái nhân văn, kiến thức bản địa, hành vi ứng xử, kinh
tế xã hội và cấu trúc, tiêu chí về quản lý trong làng), vì vậy việc thực hiện các nội dung hoạt động dự án trở nên phức tạp, trục trặc Các công trình nghiên cứu chỉ tiết về cách sử dụng rừng hiện nay của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong phạm vi các khu vực bảo vệ có thể chỉ ra rằng người dân địa phương không phải là trở ngại chính và rằng các chương trình tốn kém và phức tạp để tái định cư những
cộng đồng này vào vùng đệm sẽ khó đạt được kết quả cải thiện tình hình
Trang 39Hiện nay 3 ICDP ở Việt nam là dự án WWE ở KBT Phong Nha, dự án EU ở KBT
Pu Mat và dự án FFI ở KBT Pu Luông đã vận dụng được những thông tin từ các cuộc nghiên cứu ứng dụng dài hạn về nhân chủng học và thực vật học dan tộc, đối với việc sử dụng các nguồn tài nguyên địa phương, đặc biệt là sinh thái nhân văn của các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống trong phạm vi các khu vực bảo vệ tương
đối mới này Nhờ vận dụng được những nghiên cứu dựa vào cộng đồng về các nhu
cầu cụ thể của người dân địa phương, các hệ thống tín ngưỡng và các hệ thống
quản lý theo truyền thống nên các ICDP sẽ có thêm nhiều thông tin để dé xuất các
quyết định đúng về quản lý dự án và xây dựng được kế hoạch quản lý khu vực bảo
vệ một cách công bằng hơn về mặt xã hội
6 Thiếu am hiểu về các nguy cơ chủ yếu đối với đa dạng sinh học
Có tương đối ít các ICDP ở Việt nam đã tiến hành một cuộc phân tích tường tận về những mối nguy cơ, hiểm hoa trong các giai đoạn thiết kế, xem xét hoặc thực hiện
“Việc đảm bảo rằng ICDP đáp ứng được các nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng
nguồn tài nguyên một cách không bền vững về mặt sinh thái là điều rất quan.trọng
để dự án thành công.” (Hughes và Flinton 2000)
Một số cán bộ ICDP nêu lên rằng thông qua các kiến thức tổng hợp của tất cả các cán bộ dự án, họ đã để xuất được hướng giải quyết các nguy cơ chủ yếu, nhưng những nguy cơ mà họ cảm nhận được lại không được sự nhất trí ủng hộ của các công trình nghiên cứu và phân tích đi sâu tại hiện trường
Các ICDP khác - bao gồm cả các dự án được thiết kế đặc biệt với tiếp cận cảnh quan vùng - đã đề cập chưa đầy đủ, chưa thoả đáng đến các nguy cơ “khác” (như
đã đề cập đến ở phần trên) trọng phạm vi địa bàn dự án Ngoài ra, có rất it dự án tiến hành đánh giá mức độ và đặc điểm sử dụng tài nguyên rừng mà đây lại là điều kiện tiên quyết để xây dựng các nội dung hoạt động bảo tồn một cách có cơ sở, hướng tới sự tham gia của cộng đồng địa phương Đối với những địa bàn ICDP ở các vùng rừng trên cao nguyên, với dân cư là các dân tộc thiểu số — những người
sử dụng rừng theo truyền thống — thì những cuộc đánh giá như vậy về tác động
của con người đến các nguồn tài nguyên sinh học và đa dạng sinh học tỏ ra có tầm quan trọng quyết định đến việc lập kế hoạch quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
7 Nhiều ICDP thiếu một giai đoạn khởi đầu
Khang định những nhận xét nêu trên của Andrew Mittelman (2000), hầu hết các ICDP ở Việt nam đã không bao gồm một giai đoạn khởi đầu — một khoảng thời gian sau khi các cán bộ chủ chốt của dự án đã được tuyển khi mà bản thiết kế gốc của dự án được viết từ 1-4 năm trước đó, nay được đem ra xem xét, bổ sung với sự tham gia đầy đủ của các đối tác dự án Nhiều người hoạt động cho ICDP tin rằng
cần một giai đoạn mở đầu ít nhất là 6 tháng