TOM TAT Trên cơ sở thành công của đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sẳn xuất giống & nuôi ốc hương” đã được Bộ Thuỷ sẵn nghiệm thu xuất sắc, dự án sân xuất thử nghiệm “Phá
Trang 1
BO THUY SAN
Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản IH
33 Đặng Tất Nha Trang, Khánh Hoà
Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật Dự án:
PHÁT TRIỂN NUÔI ỐC HƯƠNG VUNG
VEN BIỂN MIỄN TRUNG
TS Nguyễn Thị Xuân Thu
Nha Trang, 6-2004
Bản thảo viết xong 4/2004
Tài liệu này được chuẩn bị trên cơ sở kết quả thực hiện Dự án cấp nhà nước,
Trang 2
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
1 TS Nguyễn Thị Xuân Thu Chủ nhiệm dự án
2 ThS Mai Duy Minh Cộng tác viên
3 KS Hoàng Văn Duật Cộng tác viên
5 KS Lé Thi Ngoc Hoa Cộng tác viên
6 KS Phan Đăng Hùng Cộng tác viên
8 KS Trần Trung Thanh Cộng tác viên
9 KTV Kiều Tiến Yên Cộng tác viên
Trang 3
MUC LUC
Mở đầu
Nội dung chính
Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu
1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2 Tình hình nghiên cứu và phát triển nghề nuôi ốc hương ở Việt Nam
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
3 Mô tả công nghệ
4 Chuyển giao công nghệ
5 Phương pháp phân tích số liệu
Chương II: Kết quả nghiên cứu
1 Hoan thiện công nghệ sản xuất giống nhân tạo ốc hương
1.1 Xây dựng mô hình trại sản xuất giống ốc hương theo qui mô hộ gia đình (2-
3 triệu giống/năm), qui mô vừa (5-7 triệu giống/năm) và qui mô lớn 910-15
triệu giống/năm)
1.2 Hoàn thiện qui trình nuôi vỗ thành thục ốc bố mẹ để chủ động sản xuất
giống quanh năm đặc biệt thời gian trái vụ sinh sẵn
1.3 Hoàn thiện kỹ thuật ương nuôi ấu trùng
1.4 Áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh cho ốc
1.5 Kết quả sản xuất giống bằng qui trình đã hoàn thiện
2 Hoàn thiện công nghệ nuôi ốc hương thương phẩm
2.1 Xây dựng mô hình nuôi ốc hương thương phẩm trong ao đất
2.2 Xây dựng mô hình nuôi ốc hương trong ding léng
3 Kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ kỹ thuật
3.1 Kết quả chuyển giao công nghệ
3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai chuyển giao và tiếp
nhận công nghệ sản xuất giống ốc hương
4 Qui trình công nghệ
4.1 Qui trình công nghệ sản xuất giống ốc hương
4.2 Qui trình nuôi thương phẩm ốc hương
5 Tổng quát hoá và đánh giá kết quả thu được
Trang 4TOM TAT
Trên cơ sở thành công của đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sẳn xuất giống & nuôi ốc hương” đã được Bộ Thuỷ sẵn nghiệm thu xuất sắc, dự án sân xuất thử nghiệm
“Phát triển nuôi ốc hương vùng ven biển Miền Trung” thuộc chương trình KC.07 đã được cấp
kinh phí thực hiện trong 2 năm (2002-2004) nhằm hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất
giống nhân tạo và nuôi thương phẩm ốc hương để phát triển thành nghề nuôi mới cho các tinh
Miền Trung Ốc hương từ chỗ là đối tượng tự nhiên hoang dã được thuẫn hoá trở thành đối
tượng nuôi xuất khẩu có giá trị
Qua hai năm thực hiện, bằng sự cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ nghiên cứu, dự án đã
hoàn thành khối lượng công việc được giao Cụ thể là đã triển khai ở nhiều qui mô trại giống
khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau để kiểm tra tính ổn định của qui trình; đã huy động các
nguôn vốn khác cùng tham gia thực hiện dự án như vốn doanh nghiệp, tư nhân, khuyến ngư
chuyển giao công nghệ nên qui mô và địa bàn sản xuất được mở rộng và nghề nuôi phát triển nhanh chóng
Dự án đã hoàn thành vượt mức yêu câu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm
KHCN Cụ thể là: Vượt chỉ tiêu vê tỉ lệ sống: đạt tỉ lệ sống ở các giai đoạn ấu trùng đến ốc bò
là 20,6 - 61,9% và từ giai đoạn ốc bò đến ốc giống là 45,8-59,2% (chỉ tiêu là 15-20% & 50%);
Vượt chỉ tiêu về sản lượng giống: sản lượng giống thu được trong quá trình thực biện dự án là
35 triệu con (chỉ tiêu là 10 triệu con); Vượt chỉ tiêu về tỉ lệ sống và năng suất nuôi thương phẩm
trong đăng lẳng: đạt năng suất từ 1,8-5 tấn/1000 mì (chỉ tiêu 1 tấn/1000 m”); Chưa đạt chỉ tiêu
về tÍ lệ sống và năng suất nuôi thương phẩm trong ao đất: năng suất chỉ dat 1,9-3,8 tấn/ha (chỉ
tiêu 5-7 tấn/ha), nguyên nhân là do chưa kiểm soát được dịch bệnh; Vượt chỉ tiêu về sẵn lượng
ốc thương phẩm: kết quả nuôi thử nghiệm của dự án đạt trên 20 tấn, vượt 2 lần so với chỉ tiêu đề
ra
Tính mới và tính khoa học: Thông qua kết quả nghiên cứu và triển khai ting dung cia diy
án đã hình thành nghề nuôi mới ở Việt nam — nghề nuôi ốc hương xuất khẩu So với các nước khác như Thái Lan, Ấn độ, Indonesia, qui trình sản xuất giống nhân tạo ốc hương của Việt Nam tiên tiến hơn, đạt tỉ lệ sống cao hơn rất nhiều (ở Thái lan tỉ lệ sống giai đoạn ấu trùng trôi nổi
là 13,8%, giai đoạn bò lê đến 2 tháng tuổi là 6,1%; ở Ấn độ tỉ lệ này là 28,8% và 4,5%) Đến
nay, Việt Nam là nước thành công đầu tiên trong nuôi thương phẩm ốc hương trong ao đất và có sẵn phẩm ốc hương xuất khẩu từ nuôi trông thuỷ sản Năng suất nuôi đạt được trong đăng lông rất cao so với các nước khác đang có nghề nuôi ốc hương như Thái Lan, Trung Quốc
Qui trình sẵn xuất giống ốc hương đã được chuyển giao công nghệ cho hẳu hết các tinh
Miền Trung, từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận và Kiên Giang Nghề nuôi ốc hương đang phát triển mạnh ô một số tỉnh, đặc biệt là Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa và Phú Yên Sản xuất giống Ở qui
mô hộ gia đình với việc sử dụng kết hợp trại sẵn xuất giống tôm sú đã giúp cải thiện đời sống, giải quyết việc làm trong lúc sẵn xuất giống tôm gặp khó khăn; nuôi ốc hương thương phẩm
trong đăng lng ven các đảo đã giúp cho người dân các đảo giảm bới khai thác, chuyển sang
nuôi trông và tăng thu nhập, cải thiện đời sống Thành công trong nuôi ao đất sẽ tận dụng được diện tích ao nuôi tôm sú không hiệu quả chuyển sang nuôi ốc hương xuất khẩu, giúp người dân
giảm bớt khó khăn (do nuôi tôm thua lỗ), góp phân xoá đói giảm nghèo cho người dân các tỉnh
Miền Trung
Trang 5MỞ ĐẦU
Ớc hương (Babylonia areolara) là một loài động vật thân mém biển nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở biển Ấn độ - Thái Bình Dương, ở độ sâu từ 5-20 m nước, chất đáy cát hoặc bùn cát pha lẫn vỏ động vật thân mềm Do có hàm lượng dinh dưỡng cao, thịt
thơm ngon nên chúng được ưa chuộng ở thị trường các nước, đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan, Singapore Hiện nay giá ốc hương trên thị trường nội địa dao động từ 120.000-220.000 đ (tuỳ theo thời điểm), giá xuất khẩu từ 10-15 USD/kg
Do ốc hương có giá trị kinh tế cao, khai thác đơn giản, chỉ phí thấp lại có giá bán cao nên hàng năm số ngư dân chuyển đổi từ các nghề khai thác khác sang khai thác ốc
hương rất nhiều Tính riêng tỉnh Bình Thuận đến nay đã có vài nghìn tàu chuyên đi khai thác ốc hương Sản lượng khai thác các năm giảm dẫn Năm 1998 khai thác khoảng 280-300 tấn, năm 2002 chỉ còn trên dưới 100 tấn Nếu không có biện pháp báu
vệ thì trong một vài năm nữa nguồn lợi ốc hương tự nhiên sẽ bị cạn kiệt
Để duy trì và phát triển nguồn lợi ốc hương tự nhiên và thuần hoá chúng trở thành đối tượng nuôi xuất khẩu, Bộ Thuỷ sản giao cho Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản
HI thực hiện để tài ' "Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật sẵn xuất giống nhân tạo
và nuôi thương phẩm ốc hương” trong 3 năm (1998-2000) Từ kết quả nghiên cứu của
để tài, dự án sản xuất thử nghiệm “Phát triển nuôi ốc hương vùng ven biển Miễn Trung” đã được Bộ Khoa học Công nghệ ký hợp đồng và cấp kinh phí thực hiện với các mục tiêu và nội dung sau:
Mục tiêu:
- Hoan thién qui trình công nghệ sản xuất giống và nuôi ốc hương thương phẩm để phổ biến ứng dụng sản xuất
-_ Đào tạo, tập huấn chuyên môn cho cán bộ dự án và cần bộ kỹ thuật ở các địa
phương để đưa công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc hương vào sản
xuất, phát triển nghề nuôi ốc hương ở vùng ven biển Miễn Trung
Nội dung:
I Hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất giống ốc hương:
Ổn định qui trình sản xuất với các chỉ tiêu sau:
- _ Tỉ lệ ốc thành thục và đẻ trứng : 90-100%
- Tilésdng ti Veliger-Juvenile: 15-20%
2 Hoàn thiện qui trình công nghệ nuôi ốc hương thương phẩm:
Ổn định qui trình công nghề với các chỉ tiêu
- TỈ lệ sống : >80%
Trang 6- Th@i gian nudi: 5-6 thang
- _ Kích thước con thương phẩm : 100-120 con/kg
-_ Năng suất nuôi: Itấn/ha (đăng lễng), 5-7 tấn/ha (nuôi ao đất)
3 Đào tạo đội ngũ cán bộ quần lý và kỹ thuật giỏi về sản xuất giống và nuôi ốc hương
để phục vụ cho nhu cầu chuyển giao công nghệ cho các địa phương
Sản phẩm của dự án:
-_ Qui trình công nghệ sản xuất giống (1) và qui trình công nghệ nuôi ốc hương thương phẩm (1)
- San xuat 10 triệu con giống ốc hương (kích thước 8000 - 10000 con/kg)
-_ Tạo ra mô hình nuôi ốc hương thương phẩm, thu được 10 tấn ốc thương phẩm từ các
mô hình nuôi
- Đào tạo đội ngũ kỹ thuật gồm 10 người có trình độ đại học và 10 công nhân lành nghề làm công tác chuyển giao công nghệ và vận hành sản xuất trong các trại giống và
khu nuôi
Kinh phí thực hiện đự án: 3223,25 triệu đồng
Trong đó : - Từ ngân sách SNKH:_ 1000 triệu đồng
- Từ các nguồn vốn khác: 2223,25 triệu đồng
Trang 7Chuong I:
TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU
1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Oc hudng (Babylonia; Bucinidae; Gastropoda) 1A loai déng vat than mém biển
nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở biển Ấn độ — Thai Binh Duong, ở độ sâu từ 5-20 m nước, chất đáy cát hoặc bùn cát pha lẫn vỏ động vật thân mềm Ớc hương lòai Babylonia areolata phan bố ở vịnh Thái Lan ở độ sâu từ 5-15 m, chất đáy cát bùn (Tanate
Poomtong & Jararat Nhongmeesub,1996) và một số vùng biển thuộc Xrilanca, Trung
Quốc, Nhật Bản và Việt Nam (Nguyễn Chính, 1996)
Do ốc hương có giá trị kinh tế cao nên việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học,
sinh thái để phát triển nuôi ốc hương được nhiều nhà khoa học quan tâm Jamila
Patterson Edward và cộng tác viên (1994) nghiên cứu khả năng chịu mặn của ốc con
và ốc trưởng thành ở các thang độ mặn từ 5 — 35 %ø (mỗi thang cách nhau 2%o) Tac
giả cho biết ốc con có khả năng chịu đựng sự thay đổi độ mặn tốt hơn ốc trưởng thành
Ơc con chết toàn bộ ở độ mặn dưới 15%ø sau Í ngày, sống 100% trong khổỏang độ mặn
từ 21-35 %o, 70% ở 19%ø, 60% ở 17%o và 10% ở 15% Toàn bộ ốc trưởng thành chết
sau 24 giờ ở độ mặn dưới 19%, séng 70% ở 19%ø, 90% trong khoảng 21-29%o va 100% trong 30-35%o Tác giả cũng cho rằng đây là loài rộng muối (Patterson J E.,T Shanmugaraj, K Ayyakkannu, 1994)
Ở Ấn Độ, thí nghiệm nuôi ốc hương trong đăng lưới được tiến hành tại cửa sông Vellar trong 3 tháng trước mùa mưa Ơc giống tự nhiên có chiều dài vỏ trung bình
27,5mm, trọng lượng 6,42g được thả nuôi với mật độ 38 con/m° Bãi nuôi được đóng
cọc, vây lưới nylon có mắt lưới 2,5 cm, chất đáy gồm 75% cát, 19% bùn, 6% sét Các yếu tố thủy hóa: Nhiệt độ nước từ 29-33°C, độ mặn từ 30-36,3%ø, pH 7-8,!, oxy hòa
tan từ 3,7-5,9 mg/lít, độ sâu mực nước từ 10-1 14 cm Thức ăn cho ốc là nghêu (Meretrix
meretrix) cho ăn 7% khối lượng Kết quả nuôi sau 3 tháng tăng trưởng chiều đài là 3,2mm, trọng lượng là 4,03g Tỷ lệ sống giảm dân và chết hòan tòan sau 105 n¿ày
nuôi Nguyên nhân chính là do: Ốc chưa thích nghỉ được với điều kiện mới vào những
ngày đầu; ốc thoát ra khỏi đăng nhốt; nước bị ô nhiễm, không thông thoáng do sinh vật bám trên lưới; gió mạnh gây đục nước và sự lắng đọng của cát đã gây ra sự ngột ngạt ở
bãi nuôi; sự hình thành H;§, độ mặn và thất thoát do địch hại (cua và cá dữ) (Patterson
Edward J K., A Benny, K Ayyakkannu, 1995)
Raghunathan và cộng tác viên (1994) nghiên cứu tốc độ tăng trưởng và tiêu thụ thức ăn của loài Babylonia spirata trong 10 thang Oc con duge lựa chọn (12 cá thể), cho thích nghỉ trong điểu kiện thí nghiệm 15 ngày, sau đó nuôi riêng trong các bình nhựa tròn thể tích § lít Môi trường nước được giữ trong sạch và duy trì các yếu tố trong khoảng sau: Nhiệt độ nước 21+ 1°C, độ muối 34 + 1%o, oxy 4,5 + 0,5 mg/l va pH 8,1
Trang 8+ 0,1, Lượng thịt ngao tươi (Meretrix meretrix) tiêu thụ được tính toán hàng ngày
Sau 10 tháng nuôi, chiểu dài trung bình của ốc tăng lên 8,2mm, chiểu rộng tăng lên
5,6mm, trong lượng tăng lên 6,4g Thức ăn tiêu thụ tăng từ 1,51g/ngày lên 1,93g/ngày
Tác giả cho biết sự tăng trưởng nói trên thấp hơn so với một số loài chân bụng khác
(Raghunathan C., J K Patterson Edward, K Ayyakkannu, 1994)
Ở An Độ, nghiên cứu về sinh sản và phát triển ấu trùng ốc hương (lòai Babylonia spirata) được tiến hành trong phòng thí nghiệm Các tác giả đã mô tả hoạt
động đẻ trứng, hình thái và quá trình phát triển phôi và ấu trùng Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi ốc cái (chiều dài trung bình 5-6 cm) dé 24-35 bọc trứng, mỗi bọc trứng
chứa khoảng 900 trứng có đường kính khoảng 400 uụm Tỷ lệ nở sau 10 ngày ấp là 80%
Au tring veliger được ương nuôi với thức ăn là các lòai tảo đơn bào Cheatoceros sp., Nitzschia sp, Rhizosolenia sp., Pleurosigma sp Thoi gian biến thái từ trứng đến ốc con
lài2 ngày Tỷ lệ sống của ấu trùng sau 8 ngày là 50%, sau 19 ngày là 20% Oc con
được cho ăn thịt nghêu luộc , sau 28 ngày tỷ lệ sống bằng 0 chưa rõ nguyên nhân Hiện tượng chết ở giai đoạn veliger được giải thích là do nguyên sinh động vật đột phát Xử
lý bằng Streptomycine 0,75 ppm đã hạn chế được bệnh (Shanmugara) T., A Murugan,
K Ayyakkannu, 1994)
Shanmugaraj T., K Ayyakkannu, 1997 xác định mùa sinh sản của B spirata
kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8, rộ vào tháng 4 và tháng 8 Đặc điểm hình thái , kích thước của phôi (6-8 ngày trong bọc trứng), ấu trùng veliger (16-19 ngày sống trôi nổi),
ốc con (cho đến 200 ngày sau khi nở) được ghi lại rất cụ thể Sau 200 ngày nuôi, ốc con dat cd 34,3mm chiéu dai, 22,4mm chiéu rộng va 9,137g trong lugng TY lệ sử dung thức ăn sau 50 ngày là 4,5%, sau 75 ngày là 6,4%, sau 100 ngày là 5,1% và sau 150 ngày là 4,62% trọng lượng cơ thể /ngày Tỷ lệ sống từ khi nở đến khi chuyển sống đáy
là 28,8%, từ khi sống đáy đến 60 ngày sau là 4,5%, sau 60 ngày, không có hiện tượn;: chết xảy ra Tỷ lệ hao hụt lớn ở giai đoạn veliger là do sự dồn tụ của ấu trùng và thiến thức ăn thích hợp Còn tỷ lệ sống thấp ở giai đoạn sống đáy là do hiện tượng ăn lẫn nhau và do ốc con bò lên khô chết nhiều (Shanmugaraj T., K Ayyakkannu, 1997),
Ở Thái Lan, Tanate Poomtong, Jararat Nhongmeesub (1996) nghién cttu dic điểm sinh sản, kỹ thuật ương nuôi ấu trùng loài B areolata Hoạt động đẻ trứng, phát triển phôi, hình thái ấu trùng tương tự như loài B spirara Cá thể thành thục (chiều dài
vỏ 40,2-55,8mm) đề trứng quanh năm trừ tháng 11, 12 với đỉnh cao số lượng vào tháng
4 và rộ nhất vào tháng 3, 7 Trung bình mỗi ốc cái đẻ 25 bọc trứng/lần để, mỗi bọc trứng chứa khoảng 400 trứng, đường kính trứng khoảng 286um Ấu trùng veliger nở ra được ương trong bể 300 lít nước biển xử lý bằng tia cực tím, mật độ ấu trùng 500 con/lít, cho ăn tảo Isochrysis sp., Chaetoceros sp vi mat dd 1000-3000 tế bao/ml Thay nước 3 ngày 1 lần Khi ấu trùng biến thái, chúng được chuyển vào túi bảo vệ có dây kéo kín đặt trong bể 500 lít, đáy cát và tạo dòng chấy Ớc con được nuôi ở mật đó
1-5 con/cm” và cho ăn bánh đậu nành cho đến khi ốc đạt chiều dài 3mm Tỷ lệ sống
Trang 9giai đoạn trôi nổi là 13,8%, giai đoạn bò lê đến 2 tháng tuổi là 6,1% Một số loại kháng
sinh đã được sử dụng phòng trừ bệnh cho ấu trùng veliger như: Sulfamethazine
(33ppm)hoặc Neomycine kết hợp với Streptomycinsulfate(1:1) (20ppm) Tỷ lệ sống thấp khi ấu trùng chuyển giai đoạn là do thay đổi về hình thức bắt mổi, nhu cầu định dưỡng, nguyên sinh động vật có hại và phần lớn ốc bò lên khô chết nhiều Oc con sau 5 tháng đạt trung bình 18,7mm chiều dài Tác giả kết luận rằng tạo dòng chảy 300 lIí/giờ
và cho ăn bánh đậu nành là 2 biện pháp giữ sạch môi trường mà vẫn đủ dinh dưỡng cho
ốc Túi bảo vệ cũng có tác dụng tốt nâng cao tỷ lệ sống Các biện pháp kỹ thuật nuôi tốt hơn cũng được để xuất để tiếp tục nghiên cứu (Tanate Poomtong, Jararat
Nhongmeesub, 1996)
Sản xuất giống nhân tạo loài B8 areolata ở Thái Lan mặc dù thực hiện thành công từ năm 1996 nhưng chủ yếu phục vụ cho việc bảo vệ nguồn lợi (thả giống ra biển) Nuôi ốc hương thương mại chỉ mới bắt đầu từ năm 2002 ở qui mô thử nghiệm do hiệu quả của hoạt động này không cao Trung Quốc cũng bắt đầu quan tâm phát triển nuôi ốc hương do nhu cầu tiêu thụ ốc hương ngày càng lớn mà nguồn lợi tự nhiên đánh
bắt giảm sút mạnh Tại tỉnh Phúc kiến, nuôi ốc hương loài B.1rosa được tiến hành trong đăng ở biển với tổng diện tích nuôi khoảng vài chục hecta Sản lượng nuôi cung
cấp cho thị trường khoảng 200 kg/ngày Do điều kiện thời tiết khí hậu mà nuôi ốc hương ở Trung Quốc chỉ tiến hành được một vụ, từ tháng 3-10 Nói chung sản lượng nuôi còn rất nhỏ so với nhu cầu tiêu thụ nội địa và cũng mới chỉ bắt đầu năm 2002
(thông tin cá nhân từ Thái Lan và Trung Quốc, 2003)
2 Tình hình nghiên cứu và phát triển nghề nuôi ốc hương ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về ốc hương chỉ mới bắt đầu từ năm 1998 Trước đó Nguyễn Chính (1996) trong cuốn sách “Một số loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế ở
biển Việt Nam” có mô tả hệ thống phân loại, hình thái bên ngoài của ốc hương lòai B
areolata ở biển Việt Nam Nguyễn Hữu Phụng, Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Huy Yết (1994), trên cơ sở kết quả để tài cấp Nhà nước về nghiên cứu đặc sản ven biển (từ 1/1992 đến 3/1994) đã tổng kết nguồn lợi và phân bố một số loài động vật thân mềm kinh tế thuộc
lớp chân bụng và hai vỏ Trong đó, ở phía bắc, sắn lượng ốc hương Ö areoiata ước nh
khoảng 2000-3000 tấn/ năm, phân bố ven biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên- Huế, Ven biển miễn Trung, Nam Bộ ốc hương phân bố nhiều ở Bình Thuận, Vũng Tàu với sẵn lượng ốc ở 2 khu vực trên khỏang 1000-1500 tấn/ năm
Năm 1998, Sở Thủy sản Bình Thuận và Viện Nghiên cứu NTTS 2 đã thực hiện để
tài “Điều tra nguồn lợi ốc hương ở biển Bình Thuận” Tiếp theo để tài "Nghiên cứu
đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất nhân tạo ốc hương” (1998-2000) của Trung tâm
NCTS 3 là những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện nhất về đối tượng kinh tế nay
Sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc hương đã được Nguyễn Thị Xuân Thu và
cộng sự thử nghiệm thành công vào năm 1998, Qua 2 năm thực hiện để tài, các chỉ tiêu
5
Trang 10Sản xuất giống và nuôi thương phẩm ốc hương đã được Nguyễn Thị Xuân
Thu và cộng sự thử nghiệm thành công vào năm 1998 Qua 2 năm thực hiện đề tài, các
chỉ tiêu kỹ thuật về sản xuất giống nhân tạo và ương ốc giống đạt được là:
Mật độ ương ấu trùng veliger : 150-180 con/1 (trung bình 160 con/])
Thời gian chuyển biến thái: 8,5-11 ngày (trung bình 10 ngày)
Thời gian hoàn thành biến thái : 3,5-4,5 ngày (trung bình 4 ngày)
Tỉ lệ sống từ ấu trùng veliger đến biến thái: 52,7-64,3 % (trung bình 60%)
Tỉ lệ sống từ ấu trùng veliger đến Juvenile (18-22 ngày): 8,6-17,6% (TB 12,7%)
,Tỉ lệ sống từ ấu trùng veliger đến con giống 4000-6000 con/kg (60-70 ngày):
6,6-11,2 (TB 8,2%)
Kết quả áp dụng qui trình công nghệ đã sẵn xuất được gần 10 vạn ốc giống năm 1993,
l triệu năm 1999 và 3 triệu năm 2000 Năm 2001 thử nghiệm áp dụng qui trình ở qui
mô sản xuất đã sản xuất được gần 10 triệu ốc giống Tỉ lệ sống ở các giai đoạn đã tăng
lên đáng kể so với thời kỳ đầu thí nghiệm: giai đoạn ương nuôi ấu trùng nổi từ đạt tỉ lệ sống trung bình là 12,7 % năm 1998, 1999 đã tăng lên 40% năm 2001 Giai đoạn ương
ấu trùng bò tăng từ 30% lên đến 50-60% Năm 1998, 1999 trong 10 đợt nuôi có 2 đợt
thất bại (ấu trùng chết hoàn toàn), 2 đợt đạt tỉ lệ sống thấp (4,1 và 7,7 %) và tỉ lệ sống cao nhất cũng chỉ đạt 37% Năm 2000 tỉ lệ sống đợt thấp nhất đạt 6,8%, cao nhất đạt 71,7 % (gấp gân 2 lần) Tỉ lệ sống cho cả” giai đoạn từ ương ấu trùng đến con giống đưa
ra nuôi thương phẩm kích cỡ 5000-7000 con/kg tăng từ 5% (năm 1998, 1999) lên 8,2% (năm 2000) 12,5% năm 2001 (theo số liệu của dé tài) So với sản xuất giống tôm sú, t
lệ sống này còn thấp nhưng trong sản xuất giống động vật thân mềm, tỉ lệ sống đạt được trong sản xuất giống ốc hương là tương đối cao so với các đối tượng khác như trai,
so, vem, bao ngu,
Kết quả thực hiện việc chuyển giao công nghệ sản xuất giống ốc hương cho các
tỉnh Miền Trung đã tăng số trại sản xuất lên từ 1 trai nim 2000 lên đến 20 trại năm
2003 (báo cáo của Nguyễn Văn Hà tại Hội thaö ĐVTM toàn quốc lần 3 tháng 9/2003)
Năm 1998, nuôi thử nghiệm ốc hương trong bể xi măng tại Trung tâm Nghiên cứu Thuỷ sản 3, Nha Trang Mật độ 100 và 200 con/m” Thời gian nuôi 10 tháng Tí lệ sống
đạt 99%, Kích thước ốc thương phẩm 90-100 con/kg Sản lượng ốc thu hoạch 50 kg
Năm 1999, 2000 nuôi ốc hương ở Cam Ranh, Vạn Ninh (Khánh Hoà), Vũng Rô, Sông
Cầu (Phú Yên) và Ninh Thuận theo hình thức nuôi ao đất và nuôi đăng lổng Kết quả
đạt được như sau:
- _ Tỉ lệ sống đạt 40-86% nuôi trong ao đất và 63-93,8% nuôi trong đăng lồng Thời
gian nuôi từ con giống (5000-7000 con/kg) đến kích thước thương phẩm (90-120
con/kg) từ 6-8 tháng tuỳ theo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng
- _ Hệ số thức ăn : 3,2- 7,2 (tuỳ thuộc vào loại thức ăn và kích cỡ ốc nuôi)
- _ Hiệu quả kinh tế: đạt từ 30-50% lãi so với vốn đầu tư
Trang 11Quá trình phát triển nghề nuôi ốc hương xuất khẩu trong nhân dân bắt đầu từ
năm 2000 với các mô hình nuôi ao đất, lỗng, đăng của Trung tâm NCTS III ở khu vực
Vạn Ninh (Khánh hoà) Bằng con giống sản xuất nhân tạo, Trung tâm NCTS II đã
cung cấp cho các hộ dân nuôi: năm 1999 cung cấp 20 vạn giống cho 5 hộ nuôi thu được
gần 200 kg ốc thương phẩm Năm 2000 cung cấp gần 1 triệu ốc giống cho 12 hộ nuôi
thu được khoảng 8 tấn ốc thương phẩm Năm 2001 cung cấp trên 2 triệu giống cho 25
hộ nuôi, thu hoạch 15 tấn ốc thương phẩm Sản xuất cho Công ty TNHH Khang Thạnh
8 triệu ốc giống đưa ra nuôi thương phẩm, thu hoạch năm 2001-2002 khoảng 20 tấn
(N.T Xuân Thu, 2003) Giá bán ốc tại chỗ đao động từ 90.000-180.000 đ/kg (tuỳ theo
thời điểm) Giá xuất khẩu từ 12-15 USD, tương đương với ốc khai thác tự nhiên Toàn
bộ số ốc nuôi đều được bán xuất khẩu sang Trung Quốc, Hồng Kông
Đến nay nghề nuôi ốc hương đã phát triển rộng ra nhiều vùng trong tỉnh Khánh
Hoà và các tỉnh Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Ninh Thuận, Bình Thuận Số
liệu điều tra về tình hình phát triển nuôi ốc hương các tỉnh Miễn Trung (trong đó chủ
yếu là Khánh hòa, Phú Yên) trình bày trong bảng 1
Bảng ¡: Kết quả điều tra tình hình phát triển nuôi ốc hương các tỉnh Miễn Trung
(theo số liệu điều tra của dự án)
* Kich cỡ giống nhân tạo7000-8000 con/kg, giá 200d/con; giống tự nhiên 500 con/kg, giá 196-394đ/con
* Sản lượng thu hoạch tính chung cho cả con giống nhân tạo và con giống tự nhiên
** Do hiệu quả nuôi ốc hương cao nên từ cuối năm 2001 nhiều hộ dân ở khu vực Vạn Ninh (Khánh
Hoà) đổ xô vào nuôi ốc hương Do thiếu giống nuôi (phải thu gom giỗng tự nhiên từ nhiều nơi) , chưa
có qui hoạch vùng nuôi (mật độ lỗng nuôi tập trung cao gây ô nhiễm môi trường), kỹ thuật nuôi và vệ
Trang 12sinh phòng bệnh kém đã gây ra dịch bệnh làm chết hàng loạt ốc nuôi vào tháng 10-11/2002 tại vùng Xuân Tự (Vạn Ninh), thiệt hại cho người nuôi trên 1,6 tỉ đồng
Số liệu điều tra qua 3 năm (2001-2003) cho thấy nghề nuôi ốc hương phát triển chưa ổn định, tính rủi ro còn rất lớn Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu con giống, thiếu qui hoạch và công tác khuyến ngư cho nuôi ốc hương còn nhiều hạn chế Bài học rút ra
từ thực tiễn triển khai sản xuất là:
i) Phải chú trọng giải quyết nguồn giống đảm bảo về số lượng và chất lượng để
cung cấp cho nuôi thương phẩm
iñ) ` Qui hoạch vùng nuôi nhằm phát triển bền vững, tránh ô nhiễm môi trường
ili) Xây dựng và hoàn thiện qui trình công nghệ nuôi ốc hương thâm canh trong
đăng, lễng và ao đất, đặc biệt chú trọng khâu vệ sinh môi trường và phòng trị
bệnh
iv) Hướng dẫn kỹ thuật, tập huấn khuyến ngư đến từng hộ dân nuôi ốc hương để
người dân làm đúng yêu câu kỹ thuật và có ý thức bảo vệ môi trường chung,
tránh gây ô nhiễm và lây lan dịch bệnh
v) Tìm kiếm thị trường để chủ động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm phát
triển bển vững nghề nuôi
Để từng bước giải quyết những vấn để trên và tiến tới phát triển nuôi ốc hương
công nghiệp, năm 2001-2002 Bộ thuỷ sản đã cấp kinh phí cho Trung tâm Nghiên cứu
Thuỷ sản II thực hiện 2 để tài: Nghiên cứu bệnh trên ốc hương và Nghiên cứu sẵn xuất thức ăn công nghiệp cho ốc hương từ cỡ giống Đến nay để tài nghiên cứu bệnh ốc hương đã phát hiện được một số tác nhân gây bệnh trên các giai đoạn ấu trùng, con giống, ốc thương phẩm và đang nghiên cứu các biện pháp phòng và trị bệnh cho ốc
hương ở các giai đoạn nuôi Để tài sản xuất thức ăn công nghiệp đã nghiên cứu thành
công công thức chế biến thức ăn cho ốc, đã thành công trong nuôi thử nghiệm ốc hương bằng thức ăn nhân tạo ở qui mô thí nghiệm và hiện đang triển khai thử nghiệm ở qui
mô sản xuất Những nghiên cứu này rất quan trọng, góp phần nâng cao tính ổn định và
hiệu quả của nghề nuôi ốc hương.
Trang 13Chitong IT:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Tên khoa học: Babylonia areolata (Link, 1807)
Tên tiếng Anh: Babylon snail
Tên tiếng Việt: Ốc hương
2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thử nghiệm, quan sát và rút ra kết luận
3 Mô tả công nghệ
3.1 Qui trình (dự thảo) sản xuất giống ốc hương (xem phụ lục A)
3.2 Các nghiên cứu hoàn thiện qui trình sản xuất giống ốc hương
3.2.1 Thiết kế xây dựng trại giống
Dựa vào vị trí, diện tích và nguồn vốn đầu tư mà thiết kế trại giống có qui mô và công suất phù hợp Phân chia làm 3 mức độ:
-_ Trại công suất lớn : 10-15 triệu giống/năm
~ Trại công suất vừa: 5-7 triệu giống/năm
- Trại công suất nhỏ — qui mô hộ gia đình : 2-3 triệu giống/năm
Nguyên tắc thiết kế: Các công trình phải liên hoàn và thuận tiện cho thao tác sản xuất Hệ thống bể lọc, chứa nước, bể nuôi ốc bố mẹ, bể ương nuôi ấu trùng, bể gây nuôi tảo phải ở vị trí gần nhau, hợp lý và thuận tiện Phòng thí nghiệm, phòng nuôi gi# giống tảo phải độc lập với trại giống nhưng gần nhau để tiện cho quan sát theo dõi ấu
trùng
Các hạng mục xây dựng chính ở trại sản xuất giống ốc hương gồm:
- Hệ thống bể: bể lọc, bể chứa, bể ương ấu trùng, bể nuôi tảo, bể ương ốc giống, bể nuôi ốc bố mẹ, bể xử lý nước thải
-_ Hệ thống nước
-_ Hệ thống khí
- Hệ thống điện
- _ Hệ thống gây nuôi thức ăn,
-_ Phòng làm việc và sinh hoạt
-_ Hệ thống nhà bao che, nhà kho, nhà may
Trang 14Qui mô các trại sản xuất:
a1, Trại công suất lớn (10-15 triệu giống/năm)
Trang 15Dụng cụ, trang thiết bị sử dụng trong trại giống ốc hương gồm:
Trại lớn Trại vừa Trại nhỏ
May suc khi (1 HV) 14-18
Máy bơm nước (1,5-2 HV) 5
Trước khi sử dụng, bể được vệ sinh sạch sẽ bằng chlorine Cát mịn sạch được
cho vào đáy bể một lớp dày 2-3 cm nhằm tạo môi trường đáy cho ốc vùi mình Bố trí
hệ thống dây sục khí (1 đá bọt/ 1m2) Mức nước trong bể được duy trì từ 40-50 cm
b/ Kỹ thuật nuôi
Ớc bố mẹ được thu mua từ tự nhiên có chiểu cao vỏ trên 50 mm, màu sắc vỏ tươi
sáng, khoẻ mạnh, không bị nhiễm bệnh c được chà rửa sạch sẽ trước khi đem nuôi
Trang 16c/ Thu va Gp tritng
Hoạt động đẻ trứng của ốc thường diễn ra vào ban đêm Thu các bọc trứng vào buổi sáng Rửa sạch bọc trứng bằng nước biển sạch và tắm trong dung dịch thuốc tím 5-
10 ppm trong thời gian 1-2 phút Loại bỏ các bọc trứng bị vỡ hoặc có màu trắng đục,
rửa sạch bằng nước biển trước khi ấp Bọc trứng được xếp trên đáy của khay nhựa với
mật độ 1200-1500 bọc/4-5 dm” diện tích khay Các khay nhựa được đặt nối trong bể ấp
có thể tích 05-1 m” Trong quá trình ấp, sục khí đây đủ, thay nước và loại bổ các bọc trứng bị ung hàng ngày
3.2.3 Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng nổi
a/ Chuẩn bị bể ương và nguồn nước
Bể ương ấu trùng được chà rửa sạch sẽ bằng các chất tẩy trùng như chlorine, thuốc tim sau đó rửa sạch Bố trí 4-5 dây sục khí cho 4 mỶ diện tích bể Dán dây bảo vệ nhằm hạn chế ốc giống bò lên thành bể Dây bảo vệ là dây khí làm bằng chất dẻo có đường kính 1-1,5 cm Dây được đán ép vào thành bể
Nước sử dụng cho ương nuôi ấu trằng là nước biển được lọc kỹ qua bể lọc cát Nếu chất lượng nước xấu phải xử lý nước bằng chlorin (15-20ppm) hoặc thuốc tím (5ppm)
để sát trùng Trước khi lấy vào bể ương nước được lọc qua lưới lọc có kích thước lỗ lọc
0,5-1 im Bể ương ấu trùng cần duy trì pH từ 7,5-§ Ô-xy hòa tan bão hòa (>5 mg/])
Độ muối từ 30-35 %ø Nhiệt độ nước 27-30°C
b/ Kỹ thuật ương nuôi
Sau khi ấu trùng nở chúng được vớt đưa trực tiếp vào bể ương bằng các vợt lưới mềm Các thông số kỹ thuật cho ương nuôi được tóm tắt trong bảng 2
Bảng 2: Các thông số kỹ thuật trong ương nuôi ấu trùng nổi veliger
Ấu trùng được cung cấp khẩu phần ăn gồm tảo tươi đơn bào phối hợp thức ăn
công nghiệp Các loại tảo đơn bào như Chaetoceros muelleri, Chlorella sp, Nannochloropsis, Platymonas va một số loại thức ăn công nghiệp dạng bột min dang
được sử dụng phổ biến cho ương nuôi tôm sú giống như No, Fripack, Lansy, thịt hầu
khô xay nhỏ được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng Lượng thức ăn cho vào bể tùy thuộc loại thức ăn sử dụng và mức độ sử dụng của ấu trùng
Trang 17* Thí nghiệm kiểm tra vai trò dinh dưỡng của thức ăn đối với sinh trưởng và
tỉ lệ sống của ấu trùng thông qua so sánh hiệu quả ương nuôi của năm khẩu phần ăn
khác nhau gồm:
- Khẩu phần I - TC: tảo tươi đơn bào kết hợp thức ăn công nghiệp (hỗn hợp I
gồm 25% Fripak + 25% lansy+ 50% tảo khô)
- _ Khẩu phần II - TCH: tảo tươi đơn bào kết hợp thức ăn công nghiệp (hồn họp
II gồm 50% hỗn hợp I + 50% bột hầu khô )
- Khẩu phần II - TCHV: khẩu phần II + vitamin tổng hợp (1 gam/bể 400000
ấu trùng/ngày)
- _ Khẩu phần IV - CHV: hỗn hợp II + vitamin tổng hợp (không có tảo tươi)
-_ Khẩu phần V - TĐC: tảo đông lạnh + thức ăn công nghiệp hỗn hợp I
Đánh giá sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng để xác định hiệu quả các loại khẩu phần ăn
c/ Chuẩn bị đáy cho ấu trùng bò
Cát sạch được sử dụng làm chất đáy cho ốc con vùi mình Lượng cát cho vào bể khỏang 2-2,5 kg/ m” đáy bể (tương ứng với lớp mỏng 1-1,5 mm) Trước khi đưa vào bể
ương, cát được chuẩn bị trước Sàng cát qua lưới loại bỏ cát lớn, ngâm cát trong thuốc
tím 100 ppm hoặc formol 50 ppm để khử trùng và rửa sạch trước khi đưa vào bể ương 3.2.4 Kỹ thuật ương ốc giống
Đây là giai đoan ương nuôi ốc từ khi xuống đáy 3-5 ngày cho đến khi đạt cỡ giống 6000-8000 con/kg
ương nuôi theo chế độ sau (bảng 3)
Cho ăn : Thức ăn cho ốc là thịt tôm, ghẹ, nhuyễn thể hai vỏ, mực hoặc cá,
Lượng thức ăn vừa đủ, không dư Cho ăn 2 lần/ ngày Đối với ốc giai đọan nhỏ 25000-
15000 con/kg thức ăn được băm nhỏ, rửa sạch trước khi rải đều vào trong bể Lượng thức ăn cung cấp tùy thuộc vào loại thức ăn và giai đoan phát triển của ốc 6 giai doan
nay thường là 80-100 gam thịt ghẹ hoặc tôm /lẩn/100.000 ốc giống (2 lần mỗi ngày)
13
Trang 18Ốc có kích thước 9000-10.000 con/kg trở lên thức ăn không phải băm nhỏ Lượng
thức ăn cho ăn khỏang 10-15% trọng lượng ốc
Bảng 3: Các chỉ tiêu kỹ thuật ương Ốc giống
Thời gian ương | Kích cỡ | Mật độ Thời Độ Thay | Vệ sinh
(ngày sau khi con/kg) | (1000 ương lớp | nước | (ngày1â
3 25-30 10-12 1,5-2 10-15 50-70 10-15 3-7 2-2,5
40-45 4-5 3-4 5-7 -
Thay nước và vệ sinh đáy: Thay 100% nước hàng ngày, kết hợp với cho ăn vừa
đủ, vớt sạch thức ăn thừa Sục rửa cát trong quá trình thay nước Thay cát đầy sau mỗi lần lọc phân loại ốc
c/ Thu hoạch
Khi ốc giống đạt kích thước từ 15 ~20 mm, khối lượng 5.000-7.000 con/kg thì thu hoạch chuyển ra nuôi thương phẩm trong ao, đăng hoặc lổng trên biển Kỹ thuật thu họach cũng tương tự như kỹ thuật lọc và phân loại 6c
Rút cạn nước bể ương, dùng miếng nhựa xúc cả ốc và cát sàng qua các cỡ mắt lưới khác nhau để phân loại ốc Cân tổng số ốc và cân mẫu ốc mỗi lọai Xác định sử lượng ốc để thả nuôi cho đúng mật độ
3.2.5 Các biện pháp phòng trị bệnh cho ốc
Sử dụng một hoặc kết hợp một số loại hoá chất, thuốc dưới đây để phòng trị bệnh cho ốc ở giai đoạn ấu trùng và ốc giống
Trang 19Bảng 4: Tên và nổng độ của hóa chất và chế phẩm sinh học sứ dụng phòng bệnh
Tiến hành bơm cạn nước ao, dọn sạch rong, rêu, san hô, tu sửa bờ ao, cống, nạo vét
sạch bùn đáy, san mặt bằng đáy, tạo một độ dốc về phía cống Chọn ao có chất đáy cát Nước lấy vào ao dễ dàng theo thuỷ triều
Bón vôi (300 — 500kg/ha) để vệ sinh, sát trùng ao Cắm lưới xung quanh bờ ao để
chấn cua còng và sinh vật khác xâm nhập vào ao Nước lấy vào ao được lọc qua hệ thống lưới chắn rác, để loại trừ cá tạp và các loại địch hại khác Độ sâu mực nước ao
giữ ở mức 0,8-1,2m Ao được trang bị giàn đập để đảo nước và tăng cường khí ô xy khi
ốc lớn, mật độ nuôi cao
b/ Vận chuyển và thả giống
Giống được vận chuyển bằng phương pháp kín trong túi ni lon bơm oxy Hạ
nhiệt độ còn 25 - 26°C, đặt vào thùng xốp có nắp đậy kín Thường đóng 1,5-2 vạn ốc
giống loại 5000-7000 con/kg trong 1 thùng
Trước khi thả ra ao, đổ giống ra thùng xốp, cho nước ao từ từ vào trong thùng xốp để ốc thích nghi dẫn với môi trường mới, Khoảng 20 -30 phút sau đó rải đều ốc xuống ao
c/ Chăm sóc quản lý
Thức ăn là các loại tôm, cua, cá nhỏ được đánh bắt bằng giã cào Lượng thức ăn
khoảng 5-10% trọng lượng Ốc trong ao
Hằng ngày cho ăn hai lần Lượng cho ăn được điều chỉnh theo khả năng bắt mổi của ốc Vớt thức ăn dư thừa ra ngoài và điều chỉnh thức ăn theo khả năng sử dụng của
ốc
15
Trang 20d/ Quản lý các yếu tố môi trường
Để đảm bảo cho môi trường đáy ao tốt, thường xuyên vớt sạch thức ăn dư thừa
Vào những ngày con nước cường dùng cào hoặc bừa, cào toàn bộ nền đáy kết hợp với
thay nước một cách triệt để, loại bỏ chất bẩn lắng đọng trên nền đáy Vớt sạch rong
mọc ở đáy ao Duy trì mực nước trong ao từ 1,2m - 1,5m để ổn định nhiệt độ và hạn
chế rong đáy phát triển
ø/ Theo dõi tốc độ tăng trưởng của ốc
Kiểm tra xác định tốc độ tăng trưởng của ốc: Bắt ngẫu nhiên 30 cá thể, xác định trọng lượng (P), chiều cao (H) và chiều dai (L) theo định kỳ 15 ngày/ lần
Sinh trưởng về trọng lượng ở ốc hương được tính theo công thức:
G = (We Wi tet) Trong dé: W,; 1A trong ludng (g) tại thời điểm tị và W¿ (ø) là trọng lượng tại thời điểm
tạ
Jÿ Thu hoạch
Tháo cạn nước trong ao, nhặt ốc bằng tay hoặc dùng cào sắt để gom ốc Ốc sau khi
thu hoạch được nhốt trong giai 1-2 ngày để làm sạch bùn và trắng vỏ
Bảng 5: Thông số kỹ thuật ao nuôi thử nghiệm ốc hương thương phẩm
Ngày thả giống 1⁄6/2002 | 27/6/2002 | 4/10/2002 | 4/10/2002
Số lượng giống thả (con) 478000 322000 35000 120000
Trang 213.3.2 Nudi trong ding, léng bién
a/ Lựa chọn vùng nuôi
Vị trí chọn nuôi ốc hương ở vùng ít sóng gió, có dòng chảy nhẹ Đáy cát bùn
hoặc cát mịn, xa cửa sông, không có tác động của đòng nước ngọt trong mùa mưa Có
độ mặn ổn định (>20%o)
b/ Thiết kế đăng, lồng nuôi
Diện tích đăng ương từ 20-25m?, đăng nuôi từ 50-100 mổ, Đăng làm bằng lưới, cắmcao hơn mức nước cao nhất 1m Chân lưới chôn sâu dưới cát 0,5m để tránh không
cho ốc chui ra ngoài Cố định đăng bằng cọc gỗ có sơn hắc ín và bọc nilon để tránh bị
hầu, hà phá hoại Trụ đỡ có đường kính thân cây 10 ~ 20 cm, chiểu dài 4,5m, khoảng cách giữa các trụ từ 2 - 2,5m Nẹp ngang có đường kính thân cây 10 cm, khoảng cách giữa 2 nẹp 0,8 m, nẹp trên cao hơn mức nước thủy triểu cao nhất 0,5 m Lưới ương cö
kích thước mắt lưới 2a=5mm Lưới nuôi ốc dùng loại lưới trũ có kích thước mắt lưới
2a= 18mm
, Léng nudi cé dién tich 9 m? (3x3x0,3m) Khung léng lam bing s&t hoặc ống nước Nắp lổng bằng 1/3-1/2 mặt lổng để thuận tiện khi cho dn va vé sinh léng Boe lưới xung quanh lổng Thá lồng sát đáy, cát phủ kin day long va day ti 3-5 cm
c/ Mật độ tha
Mật độ thả ban đầu là 2000-2500 con/m” San thưa khi ốc lớn dần Duy trì mật
độ nuôi từ 300-500 con/m” khi ốc đạt kích thước 300 con/kg trở lên
Quá trình nuôi ốc hương thương phẩm thường chia làm 2 giai đọan
- Giai đoan 1: Kéo đài từ 45 - ó0 ngày, ốc nuôi đạt kích thước từ 400 - 600
con/ks Mật độ nuôi từ 2000 -2500 con/m” Ốc được nuôi trong lổng hay rọ có kích thước mắt lưới 2a = 5mm
- Giai đoan 2: Nuôi từ cỡ ốc 400-600 con/kg đến con thương phẩm (100 - 120
con/kg) Mật độ nuôi giảm dần đến 200 con/kg khi đạt thương phẩm
Thu hoạch khi ốc đạt kích thước 100-150 con/kg Nếu nuôi bằng lổng hoặc đăng
có đáy thì kéo lồng, đăng lên bắt ốc Nếu nuôi bằng đăng không đáy thì lặn bắt hoặc dùng bẫy
Trước khi thu hoạch phải bỏ đói ốc (không cho ăn) 1 ngày để đảm bảo cho quá trình vận chuyển đạt tỉ lệ sống cao Ớc thu hoạch được nhết trong lồng, hoặc giai 5-6h
17
Trang 22để làm sạch vỏ và thai bớt bùn đất Nhặt hết đá, san hô, vỏ chết và phân loại ốc
trước khi rửa sạch và đóng gói vận chuyển
4 Chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ nhằm đào tạo, tập huấn chuyên môn cho cần bộ kỹ thuật ở
các địa phương để đưa công nghệ sản xuất giống và nuôi ốc hương vào sắn xuất, Công
tác triển khai chuyển giao công nghệ được tiến hành theo các bước như sau:
Bước 1: Tập huấn tại Trung tâm NCTS II gồm các nội dung lý thuyết và thực hành
Bước 2: Hướng dẫn triển khai thực hành công nghệ tại địa phương
Bước 3: Cần bộ kỹ thuật tại địa phương tự tổ chức sẩn xuất có sự giúp đỡ của
chuyên gia kỹ thuật,
Bước 4: Nghiệm thu, đánh giá quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ
5 Phương pháp phân tích số liệu nghiên cứu
5.1 Xác định các chỉ số sinh học
Hệ số tiêu tốn thức ăn và hệ số thức ăn
HSTTTA = Trọng lượng thức ăn cung cấp (kg)/ Trọng lượng đàn ốc tăng trưởng (kg)
HSTA = Tổng lượng thức ăn đã tiêu thụ (trọng lượng tăng được (đvkl)
Các chỉ tiêu sinh trưởng:
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối: TĐTTTĐ= (X2-X)/ At
Tốc độ tăng trưởng tương đối: TĐTTTĐ(%) = (X; - X,)/ At x 1/X,x 100(%)
Tốc độ tăng trưởng trung bình ngày: G, = In(X; XJ)/ (b - tị )
Trong đó:
- X¡ chỉ tiêu về kích thước , trọng lượng ở thời điểm ban đầu, tị
- Xa chỉ tiêu về kích thước, trọng lượng ở thời điểm sau, tạ
- At là khoảng thời gian thí nghiệm
5.2 Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được xử lý bằng chương trình Statistica version 6.0, Microsoft Access
2002, Microsoft Excel 2002 ANOVA (Analysis of Variance) được dùng để kiểm định
sự khác nhau (2ar, 1999) Mức ý nghĩa được xác định tại œ=0.05.
Trang 23Chương TII
KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
1 Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống nhân tạo ốc hương
1.1 Xây dựng mô hình trại sản xuất giống ốc hương theo qui mô nhỏ (2-3 triệu
giống/năm), qui mô vừa (5-7 triệu giống/năm) và qui mô lớn (10-15 triệu
„ giống/năm)
Dự án đã liên kết với các cơ sở sản xuất xây dựng mô hình trại sản xuất giống ốc hương với các qui mô khác nhau gồm :
-_ Trại nhỏ (2-3 triệu giống/năm - qui mô hộ gia đình) : 2 trại
- Trại vừa (5-6 triệu giống/năm) : | trai
- Trại lớn (10-15 triệu giống/năm): trại
Ngoài ra, thông qua chương trình khuyến ngư chuyển giao công nghệ cho các
địa phương, đã có trên 20 trại giống tư nhân tham gia vào sản xuất giống ốc hương, trong đó chỉ có 3 trại xây dựng mới, còn lại chủ yếu là cải tạo lại từ trại sản xuất giống
tôm sú, tất cả đều ở qui mô hộ gia đình :
Bản vẽ thiết kế mặt bằng trại giống theo các qui mô khác nhau trình bày trong phần phụ lục B
So sánh với trại sản xuất giống tôm sú thì qui mô trại sản xuất giống ốc hương lớn hơn nhiều do hệ thống bể ương giống chiếm 2/3 điện tích toàn trại Ngoài ra hệ
thống bể chứa, bể lọc cũng có công suất lớn hơn do nhu cầu sử dụng nước của trại sẵn
xuất giống ốc hương lớn hơn trại tôm rất nhiều Bảng 6 trình bày kết quá triển khai các
mô hình trại giống dựa trên công suất, khả năng sản xuất và hiệu quả sử dụng trại giống ở các địa bàn và qui mô khác nhau
Bảng 6: Công suất, khả năng và hiệu quả sử dụng của các công trình so với công suất
thiết kế
Qui mô trại giống Công suất trại | Khả năng sản xuất | Hiệu quả sử dung |
(triéu gidng/ndm) | (triéu gidngndm) | so vdi cong sudt |
Trang 24Do đặc thù khí hậu và điều kiện sản xuất ở các địa bàn khác nhau mà thời gian hoạt động của trại giống khác nhau Trại Lương Sơn (Nha Trang) có thời gian hoạt động trại gần như quanh năm nhưng thời gian đầu gặp rủi ro do dịch bệnh nên sản
lượng giống chưa đạt công suất tối đa Năm 2003 trại sản xuất được 2,3 triều con giống,
6 tháng đầu năm 2004 sản xuất được 1,8 triệu con
Trại Thuận An, do điều kiện khí hậu lạnh và mùa mưa kéo dài nên thời gian
hoạt động của trại giống chỉ 6-8 tháng/năm Vì vậy hiệu quả sử dụng chỉ đạt 60% công suất Từ tháng 11/2002 đến tháng 6/2003 trại sản xuất được gần 2,I triệu con giống
`
Trại Vũng Rô, năm 2002 sản xuất từ tháng 2-10 thu được 4 triệu giống; năm
2003 sản xuất từ tháng 2-8 thu được 2,2 triệu con
Trại Trí Nguyên do có sự đầu tư tương đối tốt và điều kiện sản xuất thuận lợi nên đã sử dụng tối đa công suất và cũng đã đạt được năng suất tối đa Năm 2002 trại Trí Nguyên sản xuất được 15 triệu con giống Năm 2003 do thay đổi chủ đâu tư nên trại nghỉ hoạt động, đến nay mới hoạt động trở lại
Bang 7: So sánh hiệu quả hoạt động của các trại giống theo các qui mô khác
nhau (tính theo công suất tối đa với thời gian sản xuất là I0 tháng trong | nim)
Chỉ tiêu Trại lớn Trại vừa Trại nhỏ Vốn đâu tư xây lắp và thiết bị (tr đồng) 2000 600 200
Vốn lưu động (triệu đồng/tháng) 100-120 20-25 10-15
Sản lượng giống sản xuấƯnăm (triệu con) 15 5 2
Lãi suất trên vốn đầu tư sẵn xuất (triệu đồng) | 1800-2000 | 750-800 | 250-300
So sánh hiệu quả hoạt động của các trai giống cho thấy:
- Trại lớn có công suất hoạt động lớn, chi phí đầu tư cao, nhân công kỹ thuật
nhiều, khó quần lý điều hành nếu không được tổ chức tốt Ở mô hình này chỉ những doanh nghiệp có vốn lớn mới có thể đầu tư Tuy nhiên vấn để quản lý
điều hành để trại hoạt động có hiệu quả là khâu cần chú trọng
-_ Trại vừa có công suất vừa phải, chi phí xây dựng và sản xuất không lớn, nhân
công ít, dễ quản lý điều hành, Hiệu quả đầu tư cao Mô hình này dễ đầu tư
cho các doanh nghiệp nhỏ hoặc tư nhân
- Trại nhỏ, qui mô hộ gia đình có chỉ phí đầu tư thấp nhất, chi phí sản xuất ít, nhân công ít, hiệu quả sản xuất tính trên đơn vị đồng vốn là cao nhất Tuy nhiên trại hoạt động mang tính nhỏ lẻ, lượng giống sản xuất không nhiều, khó kiểm soát chất lượng con giống
Trang 25Theo dõi hiệu quả hoạt động của các trại giống, phân tích những thuận lợi, khó
khăn chúng tôi thấy cần định hướng phát triển hệ thống trại giống theo hướng qui mô vừa và lớn để sản xuất tập trung và dễ kiểm soát về môi trường cũng như chất lượng giống Các trại giống tư nhân hoạt động có hiệu quả hiện nay ở địa bàn Khánh Hoà chỉ
chiếm 1⁄5 do kỹ thuật nuôi và các điều kiện sản xuất chưa đảm bảo (không có đủ hệ
thống bể ương giống, không giải quyết được thức ăn tươi sống (tảo) cho ấu trùng nên đạt tỉ lệ sống thấp), chất lượng con giống khó kiểm soát
Ngoài các mô hình trại giống đã thử nghiệm trên, chúng tôi để xuất nghiên cứu
xây dựng mô hình trang trại, kết hợp sản xuất giống và nuôi thương phẩm theo hình
thức nuôi thâm canh để đạt được năng suất, sản lượng cao và kiểm soát được mồi
trường, dịch bệnh
1.2 Hoàn thiện qui trình nuôi vỗ thành thục ốc bố mẹ để chủ động sản xuất giống quanh năm đặc biệt thời gian trái vụ sinh sản
Kết quả nuôi thành thục ốc bố mẹ được trình bày trong bảng §
Bảng 8: Hiệu quả nuôi thành thục ốc hương bố mẹ trong bể xỉ măng
STT Lượng ốc bố mẹ TÌ lệ gống | Số lượng ấu trùng | Cơ sở sẵn xuất
Số con Số kg (%) Veliger thu được
Kết quả nuôi thành thục ốc bố mẹ đem lại hiệu quả cao và ổn định Tỉ lệ sống
tương đối cao, dao động trong khỏang từ 96% (trại Thuận an) đến 99,5% (trại Vũng
rô) và đạt giá trị trung bình là 97,8 + 0,95% Trong điều kiện nuôi nhân tạo (bể xi
măng, đáy cát dày 3-5 cm; độ sâu nước 0,5-0,8 m; thức ăn cá, nhuyễn thể, cua, ghẹ) ốc
có khả năng đẻ quanh năm kể cả thời gian trái vụ sinh sản (tháng 11,12 - 1,2) Các
biện pháp kỹ thuật được cải tiến trong nuôi ốc thành thục là:
Trang 26- _ Sử dụng hệ thống nước chảy thường xuyên nhằm tăng cường lượng nước thay
Lắp đặt hệ thống mái che để giữ nhiệt vào mùa lạnh và nâng nhiệt bằng năng lượng
Nuôi vỗ thành thục bằng chế độ dinh dưỡng đặc biệt: sử dụng các loại thức ăn có hàm lượng đinh dưỡng cao, ốc ưa thích bắt mổi để tăng khả năng tích luỹ năng lượng cho ốc hương bố me Thường xuyên thay đổi thức ăn (cua, ghẹ, hầu, vẹm, cá ) để tăng cường khả năng tích luỹ dinh đưỡng cho sinh sản của ốc bố mẹ
Nâng cao chất lượng thành thục bằng cách chuyển ốc bố mẹ ra lổng nuôi ngoài biển
trong điểu kiện sinh thái tự nhiên hoặc định kỳ thay ốc mới khai thác để đắm bảo
chất lượng trứng và ấu trùng cho sản xuất giống
Tuy nhiên, một số vấn để cần lưu ý trong nuôi vỗ bố mẹ thành thục:
Nguồn gốc và chất lượng ốc bố mẹ tuyển chọn cho nuôi vỗ thành thục: Ngoài các tiêu chuẩn như ốc khoẻ mạnh, không nhiễm bệnh thì nguồn gốc, phương pháp khai thác và kỹ thuật vận chuyển ốc bố mẹ cũng cần quan tâm Ốc bố mẹ khoẻ mạnh là
sau khi vận chuyển 1-2 ngày có thể vùi hết xuống đáy cát, hoạt động ăn và di
chuyển bình thường Một số con có thể chết rải rác do vận chuyển trong tuần dầu
nhưng sau đó ổn định, không còn chết nữa Ốc nhiễm bệnh thường chết kéo dài, ốc
ít vùi, ăn kém, phần cơ chân màu trắng nhợt Gặp trường hợp này nên loại bổ toàn
bộ, vệ sinh sạch sẽ và thu mua lại ốc mới Việc chữa trị cho ốc rất ít hiệu quả và chúng thường lây lan cho ấu trùng và ốc con nên hiệu quả sản xuất rất thấp
Giữ môi trường nuôi ổn định, hạn chế tác động mạnh như xịt rửa đáy, chà rửa vỏ,
để ốc được yên tĩnh Vấn để vệ sinh chất đáy là cần thiết nhưng nên lựa chọn phương pháp phù hợp Có thể chuyển ốc mẹ sang bể mới đáy sạch trước mỗi chu kỳ
đẻ trứng để vệ sinh bể và hạn chế các mầm bệnh khi ốc đẻ trứng
1.3 Hoàn thiện kỹ thuật ương nuôi ấu trùng
1.3.1 Sử dụng thức ăn nhân tạo kết hợp thức ăn tươi sống (tảo đơn bào) để ương nuôi ấu trùng
Đặc tính của ấu trùng ốc hương giai đoạn sống trôi nổi là ăn lọc Nhờ vành tiêm mao guanh miệng mà ấu trùng dễ dàng lấy các loại thức ăn trôi nổi trong nước Tảo đơn bào và các hạt nhỏ phù hợp với kích thước miệng được chúng sử dụng một cách thụ
động, không chọn lọc Đặc tính trên cho phép sử dụng mội số loại thức ăn nhân tạo
đạng bột mịn (thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao, chủ động) thay thế cho tảo đơn bào (khó chủ động nuôi sinh khối do phụ thuộc vào thời tiết khí hậu và dé bi nhiém tạp) Thí nghiệm ương nuôi ấu trùng bằng các loại thức ăn khác nhau cho kết quả ở
bảng 9
Trang 27Bảng 9: Thời gian sống trôi nổi va tỉ lệ sống của ấu trùng ốc hương khi sử dụng các
loại thức ăn khác nhau
Lô thí | Loại thức | Thời gian sống Tỉ lệ sống của ốc (%)
Kết thúc giai đoạn |_ Giống 45 ngày tuổi trôi nổi
Loại HH - TCHV: loại II + vitamin tổng Hợp (1 g/bể 400000 ấu trùng/ngày)
Loại IV - CHV: hỗn hợp II + vitamin tổng hợp (không có tảo tươi)
Loại VI -TĐC: tảo đông lạnh kết hợp với thức ăn công nghiệp hỗn hợp Ï
Trên cơ sở theo dõi thời gian sống trôi nổi và tỉ lệ sống của ấu trùng ở các ziai đọan khác nhau, kết quả thu được cho thấy hầu và vitamin tổng hợp có tác dụng làm tăng tỉ lệ sống của ấu trùng trong quá trình ương nuôi
Việc thêm bột hầu khô vào khẩu phần ăn đã góp phần làm tăng tỉ lệ sống của ấu trùng Ở lô thí nghiệm 3 sử dụng thức ăn có bột hấu khô, ấu trùng có tỈ lệ sống sau kh: kết thúc giai đọan sống nổi và giai đọan giống tương ứng là 28,2 + 3,92 % và 17,4 +
3,70 % Trong khi caé giá trị này ở lô đối chứng (lô 1) thấp hơn chỉ đạt 25,8 +2,30 % và
13,2 + 2,48% Tuy vậy không có sai khác nhiều về thời gian sống trôi nổi của ấu trùng
giữa hai lô thí nghiệm nay (21,2 + 1,09 % va 20,5 + 1.14 %)
Vitamin tổng hợp có khả năng kích thích tiêu hoá, làm cho ấu trùng tăng trưởng
nhanh hơn và làm ngắn thời gian sống trôi nổi của ấu trùng và qua đó làm tăng đ lệ sống của ốc ở giai đoan ương nuôi Lô thí nghiệm 4 cho thấy thời gian sống trôi nổi ngắn hơn và tỉ lệ sống cao hơn so với lô đối chứng (16 3)
Kết quả thí nghiệm ở lô 4 đã chỉ ra vai trò phối hợp giữa vitamin tổng hợp và bột hầu có khả năng đem lại hiệu quả ương nuôi cao nhất so với các loại thức ăn đã kiểm
nghiệm
Trang 28Lô thí nghiệm không sử dụng tảo tudi (16 5) có tỉ lệ sống thấp hơn các lô có
sử dụng tảo nhưng không nhiều Kết quả này cho phép trong điểu kiện không có tảo tươi có thể sử dụng thức ăn tổng hợp có trộn bột hâu khô và vitamin để thay thế Bột hầu khô giá rẻ hơn các loại thức ăn khác nhưng có giá trị dinh dưỡng cao, ốc sử dụng tốt nên có thể tiết kiệm chỉ phí sản xuất mà không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của ốc
trong ương nuôi
Kết quả thí nghiệm cho thấy tảo đông cô bảo quản lạnh chưa thể thay thế được tảo tươi c ở lô thí nghiệm sử dụng tảo đông cô (lô 2) cho tỉ lệ sống thấp nhất (8,2 + 2,92 % ở giai đoan nổi và 4,4 + 2,50% tính đến con giống) Chất lượng táo đông lạnh kém là do đa số các tế bào tảo bị vỡ nguyên sinh chất do quá trình làm cô đặc
Nhìn chung, để nâng cao tỉ lệ sống cho ương nuôi ấu trùng giai đoạn nổi cần làm tốt các khâu sau:
- Duy trì nguồn giống tảo thuần chủng để ổn định khâu nuôi sinh khối, cung cấp đủ thức ăn cho ấu trùng
- Cân đối tỉ lệ phối hợp giữa các loại thức ăn theo giai đoạn phát triển và kích thước
ấu trùng nhằm cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cũng như tăng khả năng bắt môi của
ốc
- Sit dụng kết hợp tảo tươi với thức ăn nhân tạo như Fripak, APo, tảo khô, bột hầu cho kết quả nuôi rất tốt, chủ động sản xuất trong điều kiện không đủ tảo do thời tiết
xấu
1.3.2 Cải tiến phương pháp thay nước
a/ Han chế thay nước trong quá trình ương nuôi ấu trùng trôi nổi
Trong môi trường bể ương, bên cạnh các sản phẩm tiêu hoá, ốc còn tiết ra dịch
nhầy làm bẩn môi trường nuôi, là điều kiện cho nguyên sinh động vật, ký sinh trùng phát triển gây bệnh Cho nên việc thay nước tạo môi trường trong sạch cho ấu trùng là rất cần thiết Tuy vậy, ấu trùng ốc hương rất mẫn cảm với những thay đổi nhỏ của yếu
tố môi trường vì vậy việc thay nước phải đảm bảo tính trong sạch và tính ổn định của môi trường Biện pháp thay 40-50% nước hàng ngày có khả năng làm sạch môi trường nuôi nhưng cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của ấu trùng do các tác động cơ học (ép và
lưới do lực hút của ống, áp lực của nước khi cấp vào bể, .) Để hạn chế các tác động
trên, chúng tôi đã thử nghiệm thay 40-60 % thể tích nước trong bể 2-3 ngày một lẫn vào buổi sáng và chuyển bể khi ấu trùng chuẩn bị xuống đáy, kết quả cho thấy nếu sử dụng lượng thức ăn vừa phải, ít dư thừa thì giai đoạn ương ấu trùng nổi chỉ cần thay nước 2-3 lân, vừa giảm được nhân công lao động, vừa tiết kiệm chỉ phí mà vẫn bảo
đầm hiệu quả sản xuất cao
Biện pháp này áp dụng cho việc ương ấu trùng bằng nước xử lý (20ppm Chlorine)
để giảm chỉ phí trong việc đầu tư hệ thống bể xử lý và hoá chất sử dụng.
Trang 29b/ Sử dụng nước chây và nước tuần hoàn
Biện pháp này vừa đảm bảo tỉ lệ nước thay hàng ngày để môi trường trong sạch vừa hạn chế tác động cơ học ảnh hưởng do thay nước Việc dùng nước tuần hoàn đòi
hỏi nước phải được xử lý đúng qui trình (qua hệ thống lắng, lọc sinh học và làm sạch tự nhiên) trước khi đưa vào sử dụng lại Tuy nhiên đây là biện pháp tốt, có thể ổn định nguồn nước ương nuôi và hạn chế được nguồn bệnh Biện pháp này cần được nghiên
cứu hoàn thiện thềm
kết hợp với việc thay cát mới góp phần đáng kể làm tăng tỉ lệ sống của ốc giống Đây
là biện pháp kỹ thuật nhằm làm cho ốc đồng đểu về kích thước, hạn chế hiện tượng
cạnh tranh thức ăn, con lớn kìm hãm sự phát triển của con nhỏ đồng thời giúp việc làm
sạch môi trường nuôi, loại trừ bớt địch hại
-_ Bổ sung vitamin vào thức ăn và môi trường nước giúp ấu trùng sử dụng thức ăn tốt
hơn và tăng sức để kháng cho ốc
- Si dung cdc loai thuốc hoặc hoá chất có hàm lượng thấp để ngăn ngừa phòng bệnh cho ốc ở giai đoạn ấu trùng và con giống
- Nghiên cứu khả năng phòng bệnh của một số hóa chất và chế phẩm sinh học
Các loại bệnh thường gặp trên ốc ấu trùng là vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng (trùng loa kèn); bệnh trên ốc giống thường gặp là vi khuẩn, nấm, giun Một số bệnh nguy hiểm gây chết nhanh và đồng loạt như bệnh bị chết do sưng vòi, phồng chân hoặc
chết do bỏ ăn hiện vẫn chưa xác định được tác nhân gây bệnh và cũng chưa tìm được biện pháp phòng trị hữu hiệu
Dựa trên cơ sở ngưỡng chịu đựng của ấu trùng và giống ốc hương đối với một số hóa chất hoặc chế phẩm sinh học chúng tôi tiến hành kiểm tra khả năng phòng trị bệnh
của các hóa chất này Kết quả thí nghiệm được trình bày ở bảng 10 và 11
Trang 30Bảng !0 : Tác dụng của hóa chất và chế phẩm sinh học lên ương nuôi ấu tràng
Lô thí | Tên hóa chất, chế Nông độ sử Tỉ lệ sống (%) của ốc bò
nghiệm phẩm sinh học dụng (ppm) tính trung bình cho các
giun gồm có giun đốt, giun tròn, giun đầu móc và Copepoda Các tác nhân này kết hợp với nhau làm giảm t lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Đặc biệt trong giai đoan biến thái chuyển từ giai đọan sống trôi nổi sang giai đọan sống đáy (ốc bò), ấu
trùng thường bị trùng loa kèn bao phủ trên thân, bám vào chân và cánh tiêm mao làm
cho lắng đáy và chết hàng loạt (nếu mật độ trùng loa kèn cao) Sử dụng chất sát khuẩn Verkont cho kết quả rõ rệt (Bảng 10) Ở lô thí nghiệm dùng chất này (16 4), 100% đợt sản xuất thành công, tỉ lệ sống của ấu trùng đạt cao nhất 34,8+2,3%
Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy Aquapure và Shrimp favour cũng có khả năng
làm tăng tỉ lệ sống của ấu trùng Tỉ lệ sống trung bình của các đợt sản xuất thành công
6 16 2 (aquapure) va 16 3 (shrimp favour) tương ứng là 28,5+ 4,6% và 27,3+ 4,1%, cao
hơn ở lô đối chứng (lô 6) 25,6+4,2% Tuy nhiên kết quả này cũng chưa rõ ràng và cần
được nghiên cứu bổ xung thêm
Không có sai khác lớn giữa lô thí nghiệm sử dụng CuSO¿, A¿o và lô đối chứng Tuy
nhiên CuSO, da cé vai trò rõ rệt trong việc ngăn chặn sự phát triển Copepoda và giun
Ở lô sử dung CuSO, va Verkont không có giun hoặc Copepoda trong khi các lô khác
vẫn bắt gặp các loài địch hại này
Chết hàng lọat là hiện tượng xảy ra phổ biến ở các trại sản xuất giống, ao và lồng nuôi thương phẩm Ốc bò lên bể mặt nền đáy bể hoặc ao/ lổng nuôi, bỏ ăn và chết rất nhanh sau l đến 2 ngày, đặc biệt với ốc giai đọan ương giống Dấu hiệu kèm theo là vòi lấy thức ăn của ốc lồi ra, sưng tấy Quan sát kỹ thấy ốc thường giấy giụa rất nhiều trước khi chết
Trang 31Bảng 11: Tác dụng của hóa chất và chế phẩm sinh học lên hiệu quả ương ốc giống
Lô thí | Tên hóa chất, | Nông độ sử | Tỉ lệ % các | Tỉ lệ sống (%) của ốc
nghiệm \ chế phẩm sinh | dụng (ppm) |_ đợt thành | giống tính trung bình
Hiện tượng chết hàng lọat trong quá trình ương ốc giống và nuôi thương phẩm đang
là vấn đề rất bức xúc đối với các trại giống và người nuôi Kết quả nghiên cứu chỉ ra việc sử dụng CuSOu, Verkont và Aquapure đã hạn chế dịch bệnh, góp phần làm tăng
hiệu quả của quá trình ương nuôi (Bắng 11) Ở các lô sử đụng CuSO„, Verkont và chế
phẩm sinh học Aquapure (lô 1, 2 và 4) cho tỉ lệ về số lần sản xuất thành công và tỉ lệ
sống cao hơn hẳn so với các lô khác Ở lô 2 lượng nguyên sinh động vật bám trên thân
ốc ít hơn so với ở các lô cồn lại Tuy vậy ở hai lô thí nghiệm này ốc vẫn có dấu hiệu bỏ
ăn và hao hụt nhiều Tác dụng phòng bệnh của các chất khác được sử dụng trong đợt thí nghiệm chưa rõ ràng
Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy vi khuẩn Vibrio alginolyticus, vì khuẩn sinh HạS và một số loại nguyên sinh động vật thuộc nhóm trùng lông thường có tần số bắt gặp rất cao trong các mẫu ốc chết ở các vùng dịch bệnh Các tác nhân khác như nấm, giun, trùng loa kèn chỉ là các tác nhân cơ hội Ngoài ra khi cắt lát mô tế bào chúng tôi còn phát hiện có nhiều khoảng trống trong lát cắt mà theo một số chuyên gia có thể đó
là biểu hiện của bệnh ký sinh trùng nội bào (bệnh Perkinsus) Đây là bệnh mới được
phát hiện ở nhiều loài động vật thân mềm và ốc hương có thể cũng là một vật chủ của
ký sinh trùng này (hình 2)
Việc sử dụng kết hợp CuSO, Verkont và Aquapure đã hạn chế hiện tượng bỏ ăn và chết hàng loat của ốc giống trong quá trình ương nuôi Tuy nhiên cơ chế tác dụng của các chất này vẫn chưa được biết và cần được nghiên cứu sâu hơn,
Hình 1, 2, 3, 4 mô tả một số loại bệnh thường gặp trên ốc hương (ấu trùng, con giống và con trưởng thành)
Trang 321.5 Kết quả sẵn xuất giống bằng qui trình đã cải tiến
1.5.1 Sản lượng giống
Bằng việc cải tiến các biện pháp kỹ thuật như đã trình bày ở trên, kết quả sản xuất giống tại các cơ sở đạt được như sau:
Cơ sở 1: Trại giống Vũng Rô
v+_ Đây là cơ sở nuôi trai cấy ngọc cũ của Trung tâm NCTS III được sửa chữa và cải
tạo lại để sản xuất giống ốc hương bằng nguồn kinh phí của dư án Do vừa sửa chữa, xây dựng vừa triển khai sản xuất, đồng thời vấn để hoàn thiện kỹ thuật chưa được tập trung giải quyết nên kết quả sản xuất năm 2002 tuy đạt công suất nhưng tỉ lệ sống chưa cao Năm 2002 trại Vũng Rô đã sản xuất được gần 4,7 triệu con giống, đạt tỉ lệ sống trung bình từ giai đoạn ấu trùng veliger -ốc bò là 20,6%, ốc bò - ốc giống là 40,8% và
từ ấu trùng đến ốc giống là 8,5% Năm 2003, thời gian sản xuất ngắn (trại chỉ hoạt động trong 5 tháng do tỉnh thi công làm đường qua trại, hỏng hệ thống ống bơm nước)
nhưng kết quả sản xuất 4 đợt đã thu được 2,1 triệu con giống, đạt tỉ lệ sống cao hơn rất
nhiều năm 2002: 35,6; 45,8 và 17,8 ở các giai đoạn tương ứng là ấu trùng veliger -ốc
bò, ốc bò - ốc giống và ấu trùng - ốc giống (Bảng 12)
Bang 12: Kết quả sản xuất giống nhân tạo ốc hương tại Trạm nghiên cứu thực nghiệm
Vũng Rô (Phú Yên) năm 2002-2003
Đợt sản xuất | Au trùng | Oc bd 10 | Ớc giống Tilệ sống | Tilệ sống | TÌ lệ sống Thời gian
Veliger | ngày tuổi | 3000-7000 | ấu trùng | ốc bò -ốc | ấu trùng- ương từ ấu
mới nở | (vạn con) | c/kg (vạn ốc bò (%) | giống (%) ỐC giống | trùng mới nở
(van con) con) (%) đến ốc giống
(r.aày) _ |
21/2-21/4/2002 903 230.4 122,45 25,5 53,1 13,6 60 18/3- 16/5/2002 400 85 36,2 21,2 42,6 9,0 58 8/4- 13/6/2002 823 198 114,6 24,0 57,8 13,9 65 20/4-20/6/2002 562 110 40,9 19.6 37,2 73 60 _ 11/6- 13/8/2002 721,1 146,4 33,9 20.3 36,8 75 62 7/7-12/9/2002 165 35 5,1 21,2 14,6 3,1 75
1/8- 12/10/2002 1804 220 96,2 12,2 43,7 5,3 72
TC/TB năm 5378,1 1024,8 469,35 20,644,2 40,8413,9 8,544 64,546,5 |
Trang 33
Au tring | Ocb6 10 | Ốc giống Tilésdng | Tiléséng | Tilé sdng Thời gian
Đợt sản xuất Veliger | ngày tuổi | 5000-7000 | dutring- | ốc bò -ốc | ấu trùng- ương từ ấu
mới nở | (vạn con) | c/kụ (vạn ấc bò (%) | giống (%) Ốc giống | trùng mới nở
(ngày)
20/3-27/5/2003 188,2 85,4 42,5 45,4 49,8 22,6 67 10/4-25/6/2003 | 242,6 132,5 92,7 54,6 70,0 38,2 75 12/5-18/7/2003 125,6 96,8 58,8 771 60,7 46,8 66 1/7-1/9/2003 93,2 65,6 24,5 70,4 37,3 26,3 60 TC/TB năm 649,6 380,3 218,5 61,9414,5 | 54,4+14,] 33,5411 6746
2003
TC/TB 2 năm | 6027,7 1405,1 687,85 35,6422,2 | 45,8414,9 | 17,6+14,3 6526
Cơ sở 2: Trại giống Trí Nguyên
Đây là cơ sở kết hợp sản xuất và chuyển giao công nghệ của dự án Với vốn đầu
tư gần 2 tỉ đồng cho xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm thiết bị, dụng cụ sản xuất, trại Trí nguyên có công suất thiết kế từ 15-20 triệu giống/năm Bảng 13 trình bày kết quá sản xuất của trại Trí nguyên năm 2002
Bảng 13: Kết quả sản xuất giống nhân tạo ốc hương tại trại Trí Nguyên (Nha
Trang) năm 2002
Đợt sản xuất | Ấu trùng | Ớc bò 10 | Ớc giống Tỉ lệ sống | TÌ lệ sống Tỉ lệ Thời gian
Veliger | ngày tuổi | 5000-7000 | ấutrùng- | ấcbò- ốc | sống ấu | ương từ ấu
mới nở | (vạn con) | c&g (vụn ốc bò (%) giống(%) trùng-ốc | trùng mới
| TC/TB | 111028 3879,5 1843,7 35,3+10,3 52411,7 17,543,7 62312
Do được đầu tư đẩy đủ về vốn sản xuất, kỹ thuật và nhân công lao động, ngay năm đầu tiên vận hành sản xuất trại đã gần đạt công suất thiết kế tối đa (18,4 triệu
31
Trang 34con) Tỉ lệ sống trung bình đạt được ở các giai đoạn là: 35,3% từ ấu trùng -ốc bò; 52% từ ốc bò — ốc giống 10 ngày tuổi và 17,5% từ ấu trùng đến ốc giống Thời gian sản xuất trung bình của một đợt nuôi là 62 ngày: Đạt kết quả như trên ở qui mô lớn, đại trà khẳng định tính ổn định của qui trình sản xuất giống ốc hương Bảng 13 trình bày kết quả sản xuất của trại Trí nguyên năm 2002
Cơ sở 3: Trại giống Thuận An (Huế)
Đây là cơ sở sản xuất được cải tạo từ một trại sản xuất giống tôm sú gia đình Với số lượng bể ương ấu trùng là 12 cái, bể ương ốc giống 10 cái và hệ thống bể chứa, lắng, lọc khoảng 50 mỶ, công suất trại đạt từ 2-3 triệu giống/năm
Kết quả sản xuất giống nhân tạo ốc hương tại Thuận An, Huế năm 2002-2003
_ 4/11/2002- 160 84 74 52,5 88,1 46,2 150 7/4/2003
| 24/3- {50 120 91,1 80 75,9 60,7 64 28/5/2003
4/5- 320 200 10 62,5 5 3,1 67 11/7/2003
Trang 35đạt tỉ lệ sống cao hơn ở Trí Nguyên và Vũng Rô ( 53% từ ấu trùng - ốc bò; 59,2%
từ ốc bò - ốc giống và 32% từ ấu trùng — ốc giống) Việc sản xuất giống tại Huế với điều kiện thời tiết tương tự các tỉnh Miễn Bắc cho thấy khả năng có thể mở rộng sản xuất giống và nuôi ốc hương ra các tỉnh Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ Điều đó cũng khẳng định qui trình sản xuất giống đã hoàn thiện và có thể triển khai áp dụng sản xuất ở các
vùng sinh thái khác nhau
So sánh kết quả sản xuất của 3 trại, có thể thấy trại Thuận An đạt tỉ lệ sống cao nhất trong cả 3 giai đoạn ương nhưng thời gian một đợt sản xuất kéo dài nhất (trung bình 3 tháng), trong khi các trại ở Nha Trang đạt tỉ lệ sống thấp hơn nhưng thời gian một đợt sản xuất ngắn hơn
Cơ sở 4: Các trại giống gia đình ở Vạn Ninh do dự án hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp
Có 4 cơ sở trại giống tư nhân qui mô hộ gia đình ở Vạn Ninh do dự án đào tạo
kỹ thuật và hướng dẫn trực tiếp Qui mô và hiệu quả sản xuất của các cơ sở trình bày trong bang 15
Bảng 15: Qui mô trại giống và hiệu quả sản xuất của các trại gia đình
Trang 36
Năm 2003 các cơ sở đã sản xuất được trên 5 triệu con giống Đặc biệt các trại giống đã cải tiến qui trình sẩn xuất giống cho phù hợp với điều kiện sản xuất theo qui
mô hộ gia đình; đã sử dụng thức ăn công nghiệp thay thế tảo tươi để chủ động nguồn
thức ăn đồng thời dùng nước xử lý Chlorine để hạn chế dịch bệnh Tỉ lệ sống đạt được
ở giai đoạn ương ấu trùng nổi trung bình là 30% và giai đoạn ương ốc giống là 52% Tỉ
lệ sống trung bình đạt được ở cả 2 giai đoạn là 16,5% Do tiết kiệm chỉ phí sản xuất nên hiệu suất đầu tư của các trại đều đạt rất cao Việc tham gia sẵn xuất giống của các trại gia đình đã góp phần tăng sẵn lượng giống cung cấp cho người nuôi, tăng hiệu suất
và thời gian sử dụng trại giống (nhất là các trại giống tôm sú cải tạo lại), tăng thu nhập
và cơ hội việc làm cho những người tham gia sản xuất giống
Bảng 16 TỈ lệ sống trung bình của các cơ sở trại giống
Tên cơ sở Tỉ lệ sống trung bình của các giai đoạn (%)
ấu trùng — ốcbò | ốc bò - ốc giếng | ấu trùng _ ốc giống
1.5.2 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của các trại sản xuất giống ốc hương do cán bộ kỹ thuật của dự
án trực tiếp thực hiện hoặc hướng dẫn thực hiện được tổng kết ở bảng 17
Bảng 17: Hiệu quả kinh tế sản xuất giếng ốc hương
Trại giống Thời gian sản | Chỉ phí | Tổng số | Tổng thu Lợi | Hiệu suất
xuất (tháng) sản giống (tr d) nhudn ddu tu
xuất (*) (tr con) (tr d) (lã/yốn)
%
(tr d) Thuan an 7/2002-4/2004 406,6 3,3 703 296,4 72,8
Trang 37Kết quả sản xuất của các trại cho thấy đây là một nghề có mức lãi/ vốn đầu tư tương đối cao (trung bình 80%) Các trại giống gia đình do tiết kiệm được chỉ phí sản xuất nên hiệu suất đầu tư cao hơn (từ 114-225%) Với mức lợi nhuận như trên thời gian thu hồi vốn đầu tư (xây dựng cơ bản) chỉ từ 1-2 năm (tuỳ theo mức độ đầu tư và hiệu quả sản xuất đạt được)
Đánh giá chung: Qui trình sẵn xuất giống ốc hương đã ổn định và áp dụng sản xuất ở các qui mô khác nhau đều đạt kết quả tốt Tỉ lệ sống của ốc hương ở các giai đoạn đều tăng cao hơn so với kết quả nghiên cứu trước đây của để tài Việc cải tiến các khâu kỹ thuật như đảm bảo chất lượng thành thục của ốc bố mẹ, quản lý tốt môi trường ương nuôi trong trại giống, đảm bảo chế độ dinh dưỡng, phòng trị bệnh cho ốc đã đạt được kết quả tốt
Về chỉ tiêu sản phẩm, dự án đã hoàn thành vượt mức kế hoạch Chỉ tính riêng 3
cơ sở sản xuất trực tiếp của dự án trong 2 năm (2002-2003) đã đạt gần 30 triệu con giống Ngoài ra các cơ sở do cán bộ dự án hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp hoặc chuyển
giao công nghệ cũng sắn xuất được trên 5 triệu con
2 Hoàn thiện công nghệ nuôi ốc hương thương phẩm
2.1 Xây dựng mô hình nuôi ốc hương thương phẩm trong ao đất
2.1.1 Điều kiện ao nuôi
Diện tích ao 1200 m”/ao Ao đáy san hô được san bằng và đổ cát dày 5 cm Xung
quanh ao cắm lưới để ngăn không cho cua còng bò vào ao và ốc bồ lên bờ ao Cải tạo
ao, diệt tạp Thả giống kích cỡ 7000-8000 con/kg, mật độ 80 con/m” Cho ăn hàng ngày bằng thức ăn là cá tạp, cua còng nhỏ và thức ăn viên khô Lượng thức ăn là 3-5% trọng lượng ốc Thay nước hàng ngày theo thuỷ triểu, từ 30-50% thể tích nước trong ao Cào sục đáy, vớt thức ăn thừa, rong rêu hàng ngày Các yếu tố môi trường ao nuôi trình bày trong bang 18
Bảng 18: Các yếu tố môi trường trong ao nuôi ốc hương
Trang 38
Sự biến động của các yếu tố pH và độ kiểm khơng lớn và ở trong khoảng thích nghi nên ít ảnh hưởng đến sự phát triển của ốc Độ mặn và nhiệt độ là 2 yếu tế ảnh hưởng chính Những ngày nắng nĩng, nhiệt độ nước lên đến 35°C ốc giảm bắt mỗi
Những ngày cĩ mưa lớn, độ mặn dưới 20%ò ốc thường giảm ăn và chậm lớn Ở ao TÌ
và T2 độ mặn giảm do mưa lớn làm cho rong đáy tàn lụi, gây ơ nhiễm đáy làm ốc chết
rất nhiều (tỷ lệ sống ở ao T1 là 50,8% và ở ao T2 là 33,5%)
2.1.2 Sinh trưởng về kích thước và trọng lượng của ốc hương nuơi trong ao đất
Sinh trưởng kích thước và trọng lượng của ốc hương nuơi trong các ao thí nghiệm
trong 2 đợt nuơi được biểu diễn trên hình 5,6
0 lỗ 30 45 60 75 9ù 103 120 135 I30 165 IĐO 193
Ngày nuơi
Hình 6: Tăng trưởng về trọng lượng của ốc trong các ao nuơi
36
Trang 39Nhận xét: Tốc độ sinh trưởng của ốc trong ao S! 1a nhanh nhat (0,042 g/ngay)
do mật độ thả thưa hơn (50con/m?) Các ao T1 và T2 có tốc độ sinh trưởng chậm hơn do diện tích ao lớn (5000m7) nên khó chăm sóc, khó quản lý về môi trường, thức ăn và
địch hại Ơc ở ao T2 có tốc độ sinh trưởng chậm và ít đồng đểu hơn ao TI (0,034
gø/ngày so với 0,036 g/ngày) do trong quá trình nuôi ao T2 có rong đáy phát triển mạnh,
không kiểm soát được, sự tần lụi và phân hủy của chúng làm ảnh hưởng xấu đến môi trường Trong đợt II, ở giai đoạn đầu (từ khi thả giống đến ngày thứ 60) ao S1 sử dụng
thức ăn tươi hoàn toàn còn ao S4 sử dụng thức ăn tươi và thức ăn tổng hợp xen kế do vậy tốc độ sinh trưởng ao S1, S4 tốt hơn ao S2 và S3 sử dụng hoàn toàn thức ăn tổng
hợp
2.1.3 Hệ số tiêu tốn và hệ số chuyển đổi thức ăn
Hệ số tiêu tốn thức ăn được xác định là lượng thức ăn cung cấp cho Ốc trong ao nuôi (kể cả phần không tiêu thụ, dư thừa) Hệ số chuyển đổi thức ăn là lượng thức ăn
cung cấp để tăng lên ! đơn vị trọng lượng ốc nuôi Theo dõi lượng thức ăn cung cấp và
lượng thức ăn sử dụng của ốc trong ao nuôi cho số liệu ở bảng 19
Bảng 19: Hệ số tiêu tốn và hệ số chuyển đối thức ăn của ốc trong các ao nuôi
Lượng ốc | Lượng | ốc Lượng Lượng Hệ số | Hệ số
Đợt | Ao | thu hoạch | ốc khi | tăng | thúc ăn | thức ăn | tiêu tốn | thức
(kg) thd | trưởng | cung cấp ấc sử thức ăn ăn
Hệ số tiêu tốn thức ăn cao hay thấp phụ thuộc vào loại thức ăn sử dụng Nếu sử
dụng cua, ghẹ, cá giã cào nhỏ thì hệ số này cao hơn sử dụng thức ăn là cá do lượng dự
thừa (vỏ, đầu, ) của cá ít hơn, Ngoài ra chúng còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng
thức ăn của ốc Nếu ốc sử dụng hết phần ăn được trong thức ăn thì mức độ dư thừa ít, nếu chúng không ăn hoặc ăn không hết thức ăn thì hệ số trên cũng cao hơn Hệ số tiêu
tốn thức ăn dao động từ 4,2-9,3 (trung bình là 6,2) và không khác biệt lớn giữa ao lớn
37
Trang 40(5000 m”) và ao nhỏ (1200m”) Hệ số chuyển đổi thức ăn dao động từ 2,4-5,5
Hình 7:Năng suất các ao nuôi Hình 8:Tỉ lệ sống của ốc trong các ao nuôi
Tỷ lệ sống của ốc trong các ao có diện tích nhỏ (S1,S2, S3 và S4) cao hơn các ao
có diện tích lớn (TI và T2), do các ao điện tích nhỏ dễ chăm sóc, quản lý đặc biệt la việc ngăn ngừa các loại địch hại như cua, ghẹ xâm nhập từ bên ngoài vào hại ốc
Ao T2 do sự phát triển mạnh của rong đáy và sự tàn lụi nhanh chóng của chúng sau những cơn mưa lớn vào ngày nuôi thứ 120 - 125 lam giảm oxy, giảm độ mặn trong
ao và đặc biệt sự phân hủy của chúng tạo ra các loại khí độc làm ốc chết hàng loạt Ti
lệ sống của ao T2 chỉ đạt 33,5% Năng suất ao nuôi chỉ đạt 1,9 tấn/ha/vu Ao T1 do
không bị chết và thời gian nuôi đài hơn (195 ngày), ốc có kích thước thu hoạch lớn hơn
(136 con/kg) nên có năng suất khá cao (gần 3,6 tấn/ha/vụ)
Năng suất các ao có điện tích nhỏ (1000 m2) đao động từ 2,1-3,8 tan/ha/vu, trong
đó ao cho ăn thức ăn tươi (gồm các loại như cá, cua, ghẹ nhỏ) cho năng suất hơn ao nuôi kết hợp với thức ăn tổng hợp
2.1.5 Quản lý môi trường và phòng bệnh
Trong hai năm 2002, 2003 tại vùng nuôi lễng ở Xuân Tự, Vạn Ninh (Khánh Hoà) thường xảy ra dịch bệnh vào mùa mưa (tháng 9 - 12) gây thiệt hại lớn cho người