1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế kỹ THUẬT của NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC KIÊN GIANG

12 608 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 77,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA NGHỀ NUÔI ỐCHƯƠNG Babylonia areolata Link 1807 Ở ĐẢO PHÚ QUỐC KIÊN GIANG Trần Hoàng Tuân 1 , Ngô Văn Út 1 , Nguyễn Thị Hồng Điệp 2 và

Trang 1

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA NGHỀ NUÔI ỐC

HƯƠNG Babylonia areolata Link 1807 Ở ĐẢO PHÚ QUỐC KIÊN GIANG

Trần Hoàng Tuân 1 , Ngô Văn Út 1 , Nguyễn Thị Hồng Điệp 2 và Trương Hoàng Minh 1

(1) Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ (2) Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Đại học Cần Thơ

TÓM TẮT

Nhằm đánh giá hiện trạng môi trường nước và khía cạnh kinh tế-kỹ thuật của nghề nuôi ốc hương ở đảo Phú Quốc, nghiên cứu này đã được thực hiện thông qua việc thu mẫu môi trường nước hàng tháng theo mức nước triều cao nhất và thấp nhất tại 4 điểm quanh khu vực nuôi Bên cạnh đó, kết hợp phỏng vấn 30 hộ nuôi ốc hương ở

5 xã Hàm Ninh, Gành Dầu, An Thới, Bãi Thơm và Cửa Cạn, thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang từ tháng 05-10/2011 Kết quả cho thấy, độ sâu mức nước dao động trong khoảng 0,7-1,5m; độ mặn từ 29,5-31,7‰; nhiệt độ: 28,2-32,4 o C; pH: 7,3-8,5; DO: 6,2-9,2 mg/L; BOD: 0,3-0,8 mg/L; COD: 2,1-6,1 mg/L; TN: 0,14-0,85 mg/L và TP

từ 0,07-0,18 mg/L Nhìn chung, các yếu tố môi trường thích hợp cho nuôi ốc hương và biến động không đáng kể theo không gian và thời gian (P>0,05%) Về khía cạnh kỹ thuật và kinh tế, diện tích trung bình của lưới đăng là 171±134m 2 ; mật độ thả là 548±212 con/m 2 ; kích cỡ giống là 0,054 g/con; vụ nuôi chính từ tháng 2-8; thời gian nuôi

từ 4-4,5 tháng; kích cỡ ốc hương thu hoạch đạt 8,7±0,017 g/con (115 con/kg); tỉ lệ sống bình quân là 73,9±12,8%; năng suất đạt 352±144 kg/100m 2 , giá bán bình quân là 182±55 nghìn đồng/kg; lợi nhuận đạt 22,7 triệu/100m 2 ; tỉ suất lợi nhuận là 0,6 Nhìn chung, mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn một

số khó khăn chủ yếu là con giống phải mua từ Nha Trang, biến động thời tiết và nguồn thức ăn.

Từ khóa: Babylonia, nuôi ốc hương, môi trường, kinh tế, kỹ thuật

1 GIỚI THIỆU

Phong trào nuôi ốc hương (Babylonia areolata Link, 1807) ở Việt Nam phát triển rất

nhanh ở các tỉnh ven biển nhất là tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang, Quảng Ninh, Phú Yên và gần đây

ở Kiên Giang Ốc hương là loài động vật thân mềm biển có giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon, với hàm lượng lipit đặc trưng của sinh vật biển Eicosapentaenoic axit (EPA) và

Docosahexanenoic axit (DHA) là axit béo không no (Đoàn Lan Phương và ctv., 2005) Đây là

loài có giá trị xuất khẩu nhưng nguồn lợi ốc hương tự nhiên đang giảm sút một cách đáng kể trong những năm gần đây (Ngô Anh Tuấn, 1999) Trong thời gian qua phong trào nuôi ốc hương đang phát triển tự phát ở đảo Phú Quốc là mối quan ngại về tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh cho các nhà quản lý ở tỉnh Kiên Giang Năm 2009 và 2010 tình hình dịch bệnh xãy ra

mà chưa rõ nguyên nhân, vấn đề đặt ra có phải chăng do môi trường ô nhiễm hay do kỹ thuật nuôi của người dân dẫn đến thiệt hại về kinh tế nặng nề, vì lý do đó việc phân tích hiện trạng môi trường và kinh tế kỹ thuật của nghề nuôi ốc hương ở đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là cần thiết

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu môi trường nước

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 05/2011 đến tháng 10/2011 tại ấp Cây Sao, xã Hàm Ninh, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Nghiên cứu được tiến hành trên 3 nông hộ nuôi ốc hương bao gồm 7 lưới đăng với tổng diện tích 1.400 m2 Nguồn ốc giống được thả với kích cỡ 18.000 con/kg được mua từ Nha Trang, Mật độ thả nuôi 500 con/m2

Trang 2

Việc thu mẫu được thực hiện theo định kỳ 1lần/tháng từ thời điểm thả giống đến khi thu hoạch Các chỉ tiêu môi trường được thu theo thủy triều cao nhất và thấp nhất trong ngày tại 4 điểm (điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối và điểm xa cách khu vực nuôi 500 m) quanh khu vực nuôi

để tìm ra sự khác biệt giữa các địa điểm thu mẫu Vị trí thu mẫu được xác định bởi máy GPS

2.1.1.Phương pháp thu mẫu

Các chỉ tiêu được đo trực tiếp ở hiện trường gồm: độ sâu, nhiệt độ, độ mặn, pH

Oxy hòa tan (DO) được thu và chứa trong chai nút mài nâu Các chỉ tiêu (COD, BOD, TN, TP) được thu vào cal nhựa 1 lít, bảo quản lạnh (bằng nước đá) và chuyển về phòng thí nghiệm phân tích

2.2.2.Phương pháp phân tích mẫu

Các chỉ tiêu thủy lý hóa được phân tích tại phòng phân tích chất lượng nước, Bộ môn Thủy sinh học Ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại Học Cần Thơ theo các phương pháp chuẩn (APHA, 1995) bao gồm:

Bảng 1: Chỉ tiêu và phương pháp phân tích

Tiêu hao oxy hóa học (COD) Oxy hóa KMnO4 trong môi trường kiềm

Tiêu hao oxy sinh học (BOD) Winkler

2.2 Phương pháp điều tra

Phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi ốc hương thuộc 5 xã (Hàm Ninh, Gành Dầu, Bãi Thơm,

An Thới và Cửa Cạn) ở đảo Phú Quốc, với 30 mẫu phỏng vấn Sử dụng bảng câu hỏi được soạn sẵn, nhằm thu thập thông tin về kỹ thuật nuôi và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ốc hương, cụ thể như sau:

Các thông số về kỹ thuật: Đặc điểm mô hình nuôi, mùa vụ, nguồn ốc giống, mật độ thả giống, nguồn thức ăn, chăm sóc và quản lý

Các thông tin về hiệu quả kinh tế: Tỷ lệ sống, năng suất, tổng chi phí và tổng thu nhập từ

mô hình để xác định hiệu quả đồng vốn đầu tư

Số liệu được xử lý trên các phần mềm Excel và SPSS 17 for Windows

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Biến động các yếu tố môi trường

3.1.1 Các yếu tố thủy lý

a Biến động theo thời gian

Độ sâu lúc nước ròng dao động từ 0,67-1,13 m và nước lớn từ 0,97-1,49 m Biên độ triều biến động ở khu vực nuôi ốc hương từ 0,3-0,8 m (Bảng 2) Độ sâu tăng dần trong suốt thời gian thu mẫu, do thời điểm thu mẫu trùng vào những tháng mưa nên lượng nước mưa qua các tháng

Trang 3

làm độ sâu tăng lên Độ mặn đo được ở tháng 5 cao hơn so với 3 tháng còn lại (Bảng 2) là do thu mẫu vào cuối mùa nắng và đầu mùa mưa, với lượng nước mưa từ trên đảo đổ xuống kết hợp cùng việc thu mẫu ở gần bờ (vị trí thu mẫu cách bờ dao động từ 100-150 m) đã làm cho độ mặn giảm vào các tháng cuối vụ Boyd (1990) độ mặn trung bình trong nước biển là 34‰ Hunt (1967) thì độ mặn trung bình trong nước biển là 30‰ Độ mặn ở các đợt thu mẫu dao động 29,5-31,3‰ Với độ mặn đo được phù hợp cho ốc hương sinh trưởng và phát triển Nhiệt độ thu lúc nước lớn cao hơn so với nước ròng trong ngày: thu mẫu lúc nước lớn lần lượt qua các tháng 5,6,7

và 8 là 32,4; 31,5; 30,4 và 30,0oC và nước ròng lần lượt qua các đợt tháng 5,6,7 và 8 là 29,5; 29,3; 28,2 và 30,3oC nguyên nhân là do các tháng thu mẫu thời gian thu nước lớn từ 17-19h, qua một ngày truyền nhiệt của năng lượng mặt trời đã làm cho nhiệt độ nước tăng hơn so với thời điểm trung bình của ngày, còn thu mẫu nước ròng vào lúc 6-8h nên nhiệt độ thắp hơn

Bảng 2: Biến động các yếu tố thủy lý theo thời gian (Trung bình + std)

Độ sâu

(m)

Nước lớn 0,97±0,12 1,06±0,12 1,49±0,15 1,43±0,15 Nước ròng 0,67±0,05 0,76±0,14 0,73±0,10 1,13±0,17

Độ mặn

(‰)

Nước lớn 31,3±0,60 30,3±1,00 30,9±0,50 30,4±0,58 Nước ròng 31,7±0,60 29,5±0,48 30,6±0,48 30,5±0,71 Nhiệt độ

(oC)

Nước lớn 32,4±0,13 31,5±0,61 30,4±0,41 30,0±0,29 Nước ròng 29,5±0,21 29,3±0,23 28,2±0,42 30,3±0,50

pH Nước lớn 8,5±0,03 8,3±0,03 7,3±0,05 7,8±0,06

Nước ròng 8,4±0,09 8,4±0,03 7,3±0,02 7,9±0,04

pH cũng giảm dần theo thời gian thu, đặc biệt pH ở tháng 7 thấp nhất so với các tháng thu mẫu, ở tháng 7 pH chỉ: 7,3±0,05 (nước lớn) và 7,3±0,02 (nước ròng), so với tháng 5 là 8,5±0,03 (nước lớn) và 8,4±0,09 (nước ròng) Ở tháng 7 pH thấp là do thu mẫu trùng vào thời điểm mưa nhiều nên lượng nước mưa có tính acid đồng thời lượng nước từ trên nuối đổ xuống rửa trôi một lượng phèn (có tính acid) chảy xuống biển kết hợp với việc thu mẫu ở tầng mặt và vị trí thu mẫu cách bờ dao động 100-150 m

b Biến động theo không gian

Độ sâu và độ mặn

Trang 4

0.5

1.0

1.5

2.0

Đầu Giữa Cuối ĐiểmXa

m

Nước lớn Nước ròng

28 29 30 31 32 33

Đầu Giữa Cuối ĐiểmXa

% 0

Nước lớn Nước ròng

(a) (b)

Hình 1: Biến động độ sâu (a) và biến động độ mặn (b) theo không gian

Độ sâu trung bình lúc nước ròng dao động từ 0,79-0,91 m và nước lớn dao động từ 1,16-1,38

m Biên độ triều biến động ở khu vực nuôi ốc hương từ 0,36-0,47 m Nhìn chung biên độ triều ở nơi thu mẫu là không cao điều này làm cho môi trường nước ít bị biến động giữa các thời điểm trong ngày Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) thì độ sâu thích hợp để nuôi ốc hương từ 0,8 đến 1,2

m Vì ở độ sâu này nhiệt độ ổn định nhất giữa ngày và đêm Độ mặn ở các điểm dao động từ 30,3-31‰ So với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) là phù hợp cho ốc tăng trưởng (30-35‰) Loài ốc này có thể sống được ở độ mặn 15-45‰ nếu được thuần hóa, việc tăng hoặc giảm độ mặn đột ngột sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của ốc hương và có thể gây chết

do bị sốc

Nhiệt độ và pH

Nhiệt độ nước biến động theo biên độ triều khá rõ rệch, nước lớn dao động từ 30,8±1,27-31,2±0,82oC, nước ròng dao động từ 29,2±0,7-29,5±0,79oC Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) thì nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của ốc hương là 26-28oC Tuy nhiên

ốc cũng có thể sinh trưởng và phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 12-35oC, ở giới hạn nhiệt độ thấp thích hợp cho sinh trưởng của ốc hơn nhiệt độ cao Với nhiệt đo được ở khu vực nuôi ốc hương ở đảo Phú Quốc là phù hợp cho ốc tăng trưởng

27

28

29

30

31

32

33

o

7.0 7.5 8.0 8.5 9.0

Nước lớn Nước ròng

(a) (b)

Hình 2: Biến động nhiệt độ (a) và biến động pH (b) theo không gian

Trang 5

Theo Lê Văn Cát (2006) thì nước biển có pH khá ổn định dao động trong khoảng 8-8,5 Một số nguồn nước biển giàu dinh dưỡng (N,P) tạo điều kiện cho sinh vật phát triển mạnh, khi

đó khoảng dao động của pH có thể hơn nhưng ít khi lớn hơn 9 hoạt thấp hơn 7,5, pH giữa các điểm thu mẫu cho thấy các điểm thu chỉ dao động ở 7,8-8,0 Với khoảng pH kiểm tra được ở khu vực nuôi là phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của ốc hương vì loài ốc này ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của pH

3.1.2 Các yếu tố thủy hóa

a Biến động theo thời gian

Oxy hòa tan (DO) qua các tháng tăng dần và biến động từ 6,2-9,2 mg/l (Bảng 3) Với hàm lượng DO đo được cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) là

từ 4-6 mg/l, do DO được đo được ở tầng mặt nên ở độ sâu từ 0,79-1,38 m thì DO thấp hơn DO giữa các tháng thu mẫu ở nước lớn cao hơn nước ròng là do thu mẫu nước lớn vào lúc 17-19h sau một ngày quang hợp của thực vật thủy sinh làm cho DO trong nước cao hơn so với thu mẫu nước ròng lúc 6-8h sáng

Bảng 3: Biến động các yếu tố thủy hóa theo thời gian (Trung bình + std)

DO

(mg/l)

Nước lớn 8,0±0,08 7,8±0,16 9,2±0,31 8,7±0,30 Nước ròng 6,5±0,09 6,2±0,20 6,4±0,88 7,5±0,27 BOD

(mg/l)

Nước lớn 0,52±0,12 0,75±0,28 0,32±0,14 0,37±0,12 Nước ròng 0,43±0,28 0,74±0,20 0,41±0,26 0,34±0,17 COD

(mg/l)

Nước lớn 5,65±0,30 3,78±1,34 4,22±0,40 3,02±0,30 Nước ròng 6,14±0,65 4,26±0,37 4,90±0,52 2,10±0,64 TN

(mg/l)

Nước lớn 0,14±0,18 0,74±0,10 0,77±0,10 0,16±0,09 Nước ròng 0,30±0,24 0,85±0,39 0,65±0,04 0,14±0,02 TP

(mg/l)

Nước lớn 0,09±0,06 012±0,05 0,18±0,05 0,11±0,09 Nước ròng 0,15±0,09 0,17±0,07 0,14±0,07 0,07±0,04 Tiêu hao oxy sinh học (BOD) và tiêu hao oxy hóa học (COB) ở các thời điểm thu mẫu phân tích được thấp BOD dao động từ 0,32-0,75 mg/l, COD dao động từ 2,1-6,14 mg/l (Bảng 3) cho thấy môi trường ở khu vục nuôi ốc hương ở đảo Phú Quốc sạch thuận lợi cho ốc sinh trưởng

và phát triển trong suốt thời gian nuôi Tổng đạm (TN) và tổng lân (TP) ở địa điểm nuôi ốc hương tăng dần qua các tháng nuôi Trong đó hàm lượng TN ở tháng 5: 0,14-0,30 mg/l; tháng 7: 0,65- 0,77 mg/l Hàm lượng TP ở tháng 5: 0,09-0,15±0,09 mg/l và ở tháng 7: 0,14-0,18 mg/l Trương Quốc Phú (2006) thì hàm lượng TP thích hợp cho các khu vực nuôi thủy sản nằm trong khoảng 0,05-0,2 mg/l, nếu hàm lượng TP trong nước thấp hơn 0,05 mg/l thì thực vật không phát triển nhưng niếu hàm lượng TP trong nước vượt quá 0,2 mg/l thì thực vật sẽ nở hoa gây tác động xấu đến môi trường Biến động của thành phần TP qua các tháng thu mẫu khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Trang 6

b Biến động theo không gian

DO

DO ở các điểm thu mẫu biến động từ 8,2-8,7 mg/l (nước lớn) và biến động từ 6,6-6,8 mg/l (nước ròng) Các điểm thu mẫu DO biến động trong khoảng từ 0,2-0,5 mg/l Điều này cho thấy tiêu hao oxy của ốc hương ở khu vực nuôi tác động không đáng kể đến DO của thủy vực

5 6 7 8 9 10

Điểm thu

Nước ròng

Hình 3: Biến động DO theo không gian

BOD có giá trị thấp biến động ở các điểm thu mẫu từ 0,32-0,56 mg/l (nước lớn) và 0,32-0,62 (nước ròng) trong đó BOD ở điểm xa khu vực nuôi thấp hơn so với các điểm trong khu vực nuôi điều này cho thấy mô hình nuôi ốc hương có tác động đến quá trình tiêu hao oxy sinh học tuy nhiên tác động không đáng kể đến môi trường biển

0 2 4 6 8 10

Điểm thu

Nước lớn (COD) Nước ròng (COD)

Hình 4: Biến động COD và BOD theo không gian

Kết quả phân tích COD cho thấy lúc nước ròng COD cao hơn (Hình 4) Biên độ triều biến động từ 0,3-0,8 m, khi nước lớn mực nước ở nơi thu mẫu cao hơn lượng nước biển ở ngoài khơi

đổ vào làm cho lượng nước ở khu vực nuôi ốc hương pha loãng làm cho hàm lượng COD trong nước giảm xuống và ngược lại khi nước ròng làm cho hàm lượng COD tăng lên

TN và TP

TN ở các điểm thu mẫu dao động trong khoảng 0,35-0,63 mg/l và TP có giá trị từ 0,1-0,17 mg/l

Trang 7

0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2

Điểm thu

Nước lớn (TP) Nước ròng (TP)

Hình 5: Biến động TN và TP theo không gian

Biến động của TN và TP ở các địa điểm thu mẫu và giữa thời điểm nước lớn và nước ròng không cao và hàm lượng TP trong nước ít khi vượt quá 1 mg/l (Boyd, 1990) Kết quả phân tích được cho thấy mô hình nuôi ốc hương ở đảo Phú Quốc chưa gây tác động đến môi trường

3.2 Khía cạch kinh tế và kỹ thuật của nông hộ nuôi ốc hương

3.2.1 Một số thông tin chung

Trình độ học vấn và kinh nghiệm nuôi

Trình độ học vấn của hộ nuôi được khảo sát ở 5 xã thuộc huyện đảo Phú Quốc cho thấy trình

độ học vấn không cao: cấp 1 chiếm 34%, cấp 2 chiếm 33%, cấp 3 chiếm 20% và trên cấp 3 chiếm 13% (Hình 6) Điều này thể hiện đặc trưng của vùng biển đảo với truyền thống nghề đánh bắc ven bờ là chính Dẫn đến khó khăn ban đầu trong nghề nuôi ốc hương là tiếp cận những thông tin kỹ thuật

0 10 20 30 40 50 60

2 Năm, Cấp 1 3 Năm, Cấp 2 4 Năm, Cấp 3 5 Năm, Tr.cấp 3

Trình độ học vấn

Hình 6: Trình độ và kinh nghiệm nuôi của các chủ hộ được khảo sát

Số hộ có kinh nghiệm nuôi ốc hương 2 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 57 %, còn số hộ có kinh nghiệm nuôi 5 năm chỉ duy nhất có 1 hộ chiếm 3 %, điều này cho thấy nghề nuôi ốc hương ở Phú Quốc còn khá mới mẽ, trong những năm trước nghề nuôi ốc hương mang tính chất tự phát, khi nhận thấy được hiệu quả từ nghề nuôi nên mới phát triển trong những năm gần đây Về nguồn thông tin kỹ thuật được tập huấn từ cán bộ kỹ thuật của huyện, tỉnh Học hỏi kinh nghiệm

Trang 8

lẫn nhau giữa các hộ nuôi; ngoài ra còn tiếp nhận các thông tin từ báo đài và đây cũng là nguồn thông tin rất quan trọng để tiêu thụ sản phẩm

3.2.2 Khía cạnh kỹ thuật của nghề nuôi ốc hương

a Đặc điểm của lồng nuôi

Bảng 4: Đặc điểm lồng nuôi

Khoảng cách các lưới đăng (m) 6,16 ± 5,77 2 - 20 Diện tích lưới đăng trung bình của các hộ nuôi 171±134 m2, độ sâu nơi đặt lưới 1,28±0,32 m và khoảng cách các lưới đăng 6,16±5,77 m2 Kết quả phân tích được là phù hợp cho

ốc hương sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên có một số hộ nuôi cá biệt với diện tích nuôi quá lớn (700 m2) điều này sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình quản lý, chăm sóc và đặc biệt khi dịch bệnh xảy ra

b Vệ sinh lưới đăng và mùa vụ nuôi

Vụ chính của nghề nuôi ốc hương ở đảo Phú Quốc từ tháng 2-8 và vụ nghịch từ tháng 08 đến tháng 12 Các hộ nuôi đa phần tập chung thả nuôi vào mùa vụ chính vì ở thời điểm này ốc tăng trưởng tốt và ít bị rủi ro bởi thời tiết tuy nhiên các hộ nuôi gặp phải không ít khó khăn vì cung vượt quá cầu làm giá ốc thương phẩm giảm thấp Vụ nghịch chỉ một số ít hộ nuôi có kinh nghiệm và kỹ thuật mới dám đầu tư do ốc tăng trưởng chậm, dễ bị bệnh và rủi ro bởi mùa mưa bảo tuy nhiên giá ốc thương phẩm cao giúp người nuôi có được lợi nhuận

Trong quá trình nuôi một số hộ nuôi định kỳ sang lồng để vệ sinh đồng thời để tạo điều kiện nền đáy tốt cho ốc tăng trưởng tuy nhiên việc làm cần cẩn thận vì dễ làm ốc bị xây xát Vệ sinh lưới đăng được thực hiện 5-10 ngày/1 lần để tạo dòng chảy qua lưới đăng

c Kích cỡ giống và mật độ nuôi

Nguồn ốc giống để nuôi ốc hương thương phẩm ở Phú Quốc phần lớn điều mua từ các tỉnh miền trung chủ yếu từ Nha Trang, chỉ một phần rất nhỏ được sản xuất ở tại đảo với cơ sở còn nhỏ nên không đủ nguồn cung Với ốc giống chưa được chủ động đã giới hạn cho nông hộ nuôi vì khi mua giống từ Nha Trang về ốc bị cạnh tranh môi trường, xây xát khi thả nuôi tỉ lệ hao hụt cao đồng thời giá ốc giống cũng biến động lớn từ 120-260 đ/con (186±35 đ/con) do phụ thuộc vào kích cỡ (18.600±3.870 con/kg) và thời vụ thả nuôi Mật độ thả trung bình thả giống của các hộ được khảo sát là 548±212 con/m2 (250-1000 con/m2)

Bảng 5: Kích cỡ và mật độ nuôi

Kích cỡ giống (con/kg) 18.600 ± 3.870 12.000 – 30.000

Trang 9

Khâu chăm sóc và quản lý của nông hộ nuôi ốc hương được phỏng vấn khá đơn giản Thức ăn cho ốc ăn là cá tạp, tôm tít, cua ly được mua hàng ngày (giá từ 6.000-10.000 đ/kg) vào mỗi buổi sáng để cho ốc ăn cả ngày, ốc nhỏ cho ăn 2 lần/ngày và ốc lớn cho ăn 1 lần/ngày Khi cho ốc ăn rải thức ăn điều khắp lồng nuôi, sau 2-3 tiếng kiểm tra lượng thức ăn cho ốc ăn để điều chỉnh lại vào buổi kế tiếp đồng thời vớt sát thức ăn ra tránh ô nhiễm nguồn nước và theo dõi sức khỏe của ốc

3.2.3 Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi được khảo sát

a Tỉ lệ sống, năng suất và hiệu quả của mô hình nuôi

Kích cỡ ốc thu hoạch trung bình khoảng 115±16,7 con/kg (95-160) Kích cỏ ốc thu hoạch phụ thuộc rất lớn vào thời gian nuôi và mùa vụ thả nuôi Theo khảo sát nhận thấy tốc độ tăng trưởng của ốc hương tương đối nhanh với thời gian nuôi trung bình 4,07±0,54 tháng thì kích cỡ

ốc đạt 115±16,7 con/kg, tốc độ tăng trưởng của ốc nhanh hơn rất nhiều so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu (2006) khi nuôi trong lồng với thời gian nuôi 6 tháng kích cỡ thu hoạch 120 con/kg Giá ốc thương phẩm trong năm 2011 biến động rất lớn từ 100-295 nghìn đồng/kg Tỉ lệ sống trung bình của các hộ khảo sát được 73,9±12,8% (48-97), năng suất đạt trung bình 352±144 kg/100m2 (150-700) Nhìn chung tỉ lệ sống và năng suất nuôi của cac hộ biến động khá lớn Nguyên nhân do: (i) kích cỡ ốc giống nhỏ (18.600 con/kg); (ii) do ốc giống được chuyển từ Nha Trang về bị cạnh tranh môi trường sống đồng thời ốc bị xây xát; (iii) do nuôi ốc dưới đáy biển chịu tác động rất lớn bởi mùa mưa, bảo

Bảng 6: Tỉ lệ sống, năng suất và hiệu quả của mô hình nuôi

Kích cỡ thu hoạch (con/kg) 115 ± 16,7 95 - 160 Giá bán (triệu đồng/kg) 0,182 ± 0,06 0,1 - 0,3

Tổng thu (triệu đồng/100m2) 62,7 ± 31,8 26,5 - 168 Tổng chi (triệu đồng/100m2) 40,1 ± 14,1 15,9 - 71 Lợi nhuận (triệu đồng/100m2) 22,6 ± 23,7 2,13 - 1001

Tỉ suất lợi nhuận

(lợi nhuận/tổng chi phí) 0,57 ± 0,52 0,09 - 1,82 Lượng thức ăn sử dụng trong suốt thời gian nuôi khảo sát được có FCR trung bình 7,28±1,65 (5,91-14,17) Mặc dù FCR tương đối lớn nhưng tất cả các hộ khảo sát được điều có lợi nhuận trung bình 22,6±23,7 nghìn đồng/100m2 với tỉ suất lợi nhuận trung bình 0,57±0,52 (0,09-1,82) và tỉ suất lợi nhuận tỉ lệ nghịch với FCR Tỉ suất lợi nhuận đạt được từ mô hình là khá cao

và có khoảng biến động lớn từ 0,09-1,82

b Chi phí đầu tư cho mô hình nuôi

Trang 10

Các khoảng chi phí đầu tư của nông hộ khảo sát được là: Thức ăn: 50,65 %; con giống: 25,31 %; công lao động: 16,34%; lưới đăng 4,69%; hóa chất và chi phí khác: 3,02% (Hình 7) Chi phí thức ăn chiếm tỉ lệ cao do trong suốt quá trình nuôi, lượng thức ăn cung cấp phần lớn điều được mua từ các ghe cào và một số ít từ các hộ đánh bắt nhỏ ven bờ, không chủ động được nguồn thức ăn, đồng thời do số hộ nuôi ốc ngày càng tăng làm lượng thức ăn khai thác tự nhiên ngày càng cạn kiệt đã đẫy giá thức ăn lên cao Nguồn ốc giống phụ thuộc hoàn toàn từ Nha Trang, không chủ động được từ địa phương cũng đã làm chi phí đầu tư tăng lên

4.7%

3.0%

16.3%

25.3%

50.7%

Lưới đăng Hóa chất + chi phí khác Công lao động Con giống

Thức ăn

Hình 7: Tỉ lệ phần trăm các khoảng đầu tư

Nhìn chung mô hình nuôi ốc hương khảo sát được cho thấy mang lại lợi nhuận cao nhưng chi phí đầu tư lớn điều này đã làm giới hạn nghề nuôi của một số nông hộ có kinh tế thấp và nếu

có thể chỉ nuôi nhỏ lẻ

3.2.4 Tình hình dịch bệnh

Trong năm 2009 dịch bệnh diễn biến phức tạp, tại xã Gành Dầu huyện Phú Quốc khi ốc sắp đến ngày thu hoạch thì chết hàng loạt chủ yếu do bệnh sưng vòi Các hộ nuôi ốc hương tại các bãi Rạch Vẹm, Bãi Dài đã bị mất trắng vì ốc chết Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ốc hương bị chết hàng loạt có thể xuất phát từ nguồn giống mang sẵn mầm bệnh, phần lớn giống mua từ Nha Trang đưa về chưa qua kiểm dịch, con giống không khỏe mạnh Năm 2010, dịch bệnh lại tiếp tục xảy ra nhưng chủ yếu vào mùa nghịch, theo khảo sát trong toàn huyện thì có 73% số hộ có ốc bị bệnh sưng vòi Riêng năm 2011 thì dịch bệnh không xảy ra

4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

4.1 Kết luận

Hầu hết các chỉ tiêu môi trường ít bị biến động theo không gian và thời gian như: độ mặn, BOD, COD, TN, TP Nhưng có một số chỉ tiêu biến động theo biên độ triều trong ngày (độ

sâu, nhiệt độ, DO) Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường ven đảo Phú Quốc có chất lượng

nước tốt và nghề nuôi ốc hương chưa gây tác động xấu đến môi trường ven đảo

Diện tích mỗi lưới đăng của các hộ trung bình 171±134 m2; mật độ thả 548±212 con/m2; kích cỡ giống thả 18.600±3.870 con/kg; vụ nuôi chính từ tháng 2 đến tháng 8; thời gian nuôi 4,07±0,54 tháng; kích cỡ ốc thương phẩm 115±16,7 con/kg; tỉ lệ sống 73,9±12,8%

Ngày đăng: 06/09/2015, 18:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Biến động các yếu tố thủy lý theo thời gian (Trung bình + std) - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Bảng 2 Biến động các yếu tố thủy lý theo thời gian (Trung bình + std) (Trang 3)
Hình 2: Biến động nhiệt độ (a) và biến động pH (b) theo không gian - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Hình 2 Biến động nhiệt độ (a) và biến động pH (b) theo không gian (Trang 4)
Hình 1: Biến động độ sâu (a) và biến động độ mặn (b) theo không gian - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Hình 1 Biến động độ sâu (a) và biến động độ mặn (b) theo không gian (Trang 4)
Bảng 3: Biến động các yếu tố thủy hóa theo thời gian (Trung bình + std) - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Bảng 3 Biến động các yếu tố thủy hóa theo thời gian (Trung bình + std) (Trang 5)
Hình 4: Biến động COD và BOD theo không gian - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Hình 4 Biến động COD và BOD theo không gian (Trang 6)
Hình 3: Biến động DO theo không gian - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Hình 3 Biến động DO theo không gian (Trang 6)
Hình 5: Biến động TN và TP theo không gian - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Hình 5 Biến động TN và TP theo không gian (Trang 7)
Hình 6: Trình độ và kinh nghiệm nuôi của các chủ hộ được khảo sát - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Hình 6 Trình độ và kinh nghiệm nuôi của các chủ hộ được khảo sát (Trang 7)
Bảng 4: Đặc điểm lồng nuôi Đặc điểm lồng Trung bình Khoảng biến động - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Bảng 4 Đặc điểm lồng nuôi Đặc điểm lồng Trung bình Khoảng biến động (Trang 8)
Bảng 6: Tỉ lệ sống, năng suất và hiệu quả của mô hình nuôi - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Bảng 6 Tỉ lệ sống, năng suất và hiệu quả của mô hình nuôi (Trang 9)
Hình 7: Tỉ lệ phần trăm các khoảng đầu tư - PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG môi TRƯỜNG KINH tế   kỹ THUẬT của  NGHỀ NUÔI ốc HƯƠNG babylonia areolata link 1807 ở đảo PHÚ QUỐC  KIÊN GIANG
Hình 7 Tỉ lệ phần trăm các khoảng đầu tư (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w