Các cuộc đấu tranh của binh lính Việt đã phát huy được truyền thống đấu tranh chống thực dân Pháp , hướng tới mục tiêu độc lập, tự do cho dân tộc, gây tiếng vang lớn trong nước và thế gi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy
Thái Nguyên, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
PGS.TS Hà Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, đặc biệt là những thầy cô giáo ở chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, những người đã giảng dạy và động viên tôi trong suốt hai năm học vừa qua giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và hoàn thiện nghiên cứu đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Thị Thu Thủy người đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Qua đây, cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người
đã luôn ở cạnh tôi trong những lúc khó khăn nhất và giúp tôi có được thành quả ngày hôm nay
Luận văn này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô và các bạn để công trình thêm hoàn thiện
Tác giả luận văn
Phạm Thúy Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Cấu trúc của đề tài 7
Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH ĐỘI NGŨ BINH LÍNH NGƯỜI VIỆT TRONG QUÂN ĐỘI PHÁP 8
1.1 Nhu cầu về lực lượng thực hiện xâm lược và bình định Việt Nam 8
1.2 Thực hiện triệt để chính sách "Dùng người Việt đánh người Việt" 12
1.3 Đội ngũ binh lính triều Nguyễn – nguồn bổ sung trực tiếp cho quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương 19
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2 CÁC CUỘC ĐẤU TRANH TIÊU BIỂU CỦA BINH LÍNH NGƯỜI VIỆT TRONG QUÂN ĐỘI PHÁP Ở VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1945 24
2.1 Đấu tranh trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930 24
2.1.1 Vụ đầu đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (1908) 24
2.1.2 Tham gia âm mưu khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân (1916) 29
2.1.3 Khởi nghĩa Thái Nguyên (1917) 32
2.1.4 Binh biến Bình Liêu (1918-1919) 42
2.1.5 Tham gia khởi nghĩa Yên Bái 48
Trang 62.2 Đấu tranh trong giai đoạn 1930-1945 55
2.2.1 Tham gia khởi nghĩa Nam Kì (23-11-1940) 57
2.2.2 Binh biến Đô Lương (13-1-1941) 64
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3 MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA BINH LÍNH NGƯỜI VIỆT TRONG QUÂN ĐỘI PHÁP Ở VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1945 68
3.1 Nguyên nhân dẫn đến phong trào đấu tranh 68
3.2 Ảnh hưởng của các khuynh hướng cách mạng đầu thế kỉ XX 76
3.2.1 Ảnh hưởng của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản 76
3.2.2 Ảnh hưởng của khuynh hướng cách mạng vô sản 85
3.3 Vai trò trong phong trào giải phóng dân tộc 91
3.4 Một số bài học kinh nghiệm 95
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cuối thế kỉ XIX, sau khi căn bản hoàn thành công cuộc bình định về quân sự và chính trị, thực dân Pháp bắt tay ngay vào thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa Việt Nam Qua hai đợt khai thác thuộc địa, ở một chừng mực nhất định kinh tế - xã hội Việt Nam đã có sự chuyển biến Nhưng về cơ bản, nước ta vẫn ở trong vòng luẩn quẩn của đói nghèo, lạc hậu, bị nô dịch và lệ thuộc chặt chẽ vào nước Pháp Thực dân Pháp ra sức bóc lột và thống trị một cách tàn bạo đối với người dân Việt Nam Vì vậy, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp ngày càng sâu sắc và đòi hỏi phải được giải quyết Các phong trào đấu tranh của quân chúng nhân dân chống Pháp diễn ra mạnh mẽ đã thu hút các lực lượng khác tham gia Trong số đó phải kể tới cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp Đây là hệ quả của chính sách cai trị truyền thống thực dân nói chung cụ thể hơn, là hệ quả của
chính sách “Dùng người Việt trị người Việt” của thực dân Pháp ở Việt Nam
Mặc dù mới được chính thức thành lập (7/7/1900 – Đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa) và từng bước hoàn thiện cả về đội quân chính quy lẫn không chính quy những năm đầu thế kỉ XX, nhưng ngay từ đầu, các cuộc phản chiến của lực lượng ngụy binh đã diễn ra Tính đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945 có khoảng gần mười cuộc đấu tranh có sự tham gia cuả binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Đông Dương như Vụ đầu độc binh lính Pháp
ở Hà Nội (27/6/1908); sự tham gia của binh lính người Việt trong cuộc khởi nghĩa của đồng bào Dao và những người tù ở Bắc Kạn (năm 1914); sự tham gia của binh lính người Việt trong cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân ở Trung kì (năm 1916); cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (năm 1917); cuộc khởi nghĩa của binh lính đồn Bình Liêu – Quảng Ninh (16/11/1918);
sự tham gia của ngụy binh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2/1930); cuộc binh biến Đô Lương – Nghệ An (13/1/1941)…Các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp được coi là những mốc lịch sử có ý nghĩa quan
Trang 8trọng Nó quan trọng không chỉ bởi đã thể hiện được ý chí kiên cường, dũng cảm, tinh thần yêu nước sâu sắc của toàn thể dân tộc Việt Nam, mà còn thể hiện được vai trò của một lực lượng đặc biệt, được kẻ thù coi là công cụ xâm lược, đàn áp, thống trị và bóc lột nhân dân ta, nhưng họ đã biết đứng lên phản kháng, đứng về phía nhân dân, về phía chính nghĩa Các cuộc đấu tranh của binh lính Việt đã phát huy được truyền thống đấu tranh chống thực dân Pháp , hướng tới mục tiêu độc lập, tự do cho dân tộc, gây tiếng vang lớn trong nước và thế giới, làm cho thực dân Pháp hoang mang lo sợ, chính quyền Pháp ở Đông Dương chấn động, cho thấy sự thất bại của người Pháp trong âm mưu lôi kéo và sử dụng người Việt làm công cụ thống trị và bóc lột ở Việt Nam, góp phần răn đe hệ thống cai trị của họ Đặc biệt, ở mỗi thời điểm khác nhau, các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp đã từng bước thể hiện được những ảnh hưởng của những khuynh hướng cách mạng mới ở nước ta Sự thành, bại của các cuộc đấu tranh đó đã ít nhiều chứng minh được tính đúng đắn và hạn chế của mỗi khuynh hướng cách mạng, đồng thời báo hiệu được sự thành công của các
khuynh hướng đó đối với vận mệnh dân tộc, được coi là “những phát súng
đầu tiên báo hiệu thời kì đấu tranh mới”
Để hiểu thêm và có hệ thống về phong trào đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp, góp phần khẳng định những trang sử vàng trong truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân các dân tộc nơi xảy ra các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt nói riêng, đặc biệt là tìm ra nguyên nhân và đánh giá được vai trò của lực lượng binh lính người Việt trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, đồng thời phân định được những ảnh hưởng khác nhau của các khuynh hướng cách mạng ảnh hưởng tới các cuộc đấu tranh đó cũng như rút ra được những bài học kinh
nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “
Đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX đến năm 1945” làm luận văn thạc sĩ của mình
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài “ Đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội
Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945” trên nhiều khía cạnh khác nhau
đã có một số cơ quan, cá nhân giới sử học trong nước đề cập đến và được công bố
Có lẽ, tác phẩm đề cập sớm nhất đến vấn đề này là tác phẩm của lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc, đó là: “Bản án chế độ thực dân Pháp” Tác phẩm được viết
bằng tiếng Pháp trong khoảng những năm 1921-1925 và lần đầu tiên xuất bản ở Pari – thủ đô của nước Pháp năm 1925 Tác phẩm đã tố cáo chính sách thống trị, bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương và qua đó thấy được đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến các cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta bùng nổ trong đó có một số cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp như ở Trung kì, Thái Nguyên…
Cuốn “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp” của Trần Huy Liệu, tác giả
viết về cuộc chiến tranh của nhân dân cả nước chống Pháp, trong đó có đề cập đến hoàn cảnh, diễn biến của một số cuộc đấu tranh chống Pháp có sự hưởng ứng và tham gia của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam như:
Vụ đầu độc Hà Thành (1908), cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân ở Trung kì (năm 1916); cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (năm 1917); cuộc khởi nghĩa của binh lính đồn Bình Liêu – Quảng Ninh (16/11/1918); sự tham gia của ngụy binh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2/1930); cuộc binh biến Đô Lương – Nghệ An (13/1/1941)…
Trong các cuốn thông sử làm tài liệu, giáo trình cho dạy và học môn Lịch
sử cho các trường chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và THPT cũng đã đề cập tới hầu hết các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam với các nội dung: nguyên nhân, diễn biến, kết quả và một số đánh giá như: tác giả Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ
(2008), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập II, NXB Giáo dục; Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Trần Đức Cường (2010), Giáo trình Lịch sử Việt Nam, tập IV, NXB
Đại học sư phạm
Trang 10Các cuốn sách khác như: Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua
các đời, NXB Thuận Hóa; Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
(2000), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội…;
Các văn kiện Đảng như: Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đảng
1930-1945, NXB Sự thật Hà Nội… Các công trình nghiên cứu lịch sử của
Đảng bộ các địa phương nơi xảy ra các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX như Lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Yên Bái, tỉnh Nghệ An… đều đề cập tới các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
Nhìn chung, các tác phẩm của các nhà lãnh đạo cách mạng và những công trình nghiên cứu của các cơ quan và các nhà khoa học nói trên đã đề cập
và cung cấp tương đối đầy đủ về các cuộc đấu tranh tiêu biểu của lực lượng ngụy binh Việt Nam trong quân đội Pháp nửa đầu thế kỉ XX, chủ yếu là các nội dung về nguyên nhân, diễn biến, kết quả và một vài nhận xét đánh giá Các tác phẩm và công trình đó là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu, tham khảo và hoàn thành đề tài này Tuy nhiên các sự kiện mà các công trình
và tác phẩm đó nghiên cứu, đề cập hầu hết đều đặt các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc Việt Nam, hoặc lại nghiên cứu một cách riêng lẻ, phục vụ cho lịch sử của riêng địa phương mình mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về phong trào đấu tranh của riêng binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, để qua đó thấy được đây cũng là một trong những động lực đấu tranh giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam và từ đó xác định được vị trí, vai trò của lực lượng này đối với lịch sử dân tộc so với các lực lượng khác như: công nhân, nông dân…mà Đảng ta đã xác định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên vào đầu năm
1930 Ngoài ra, có thể cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào phân định
Trang 11rõ ảnh hưởng của các khuynh hướng cách mạng ở Việt Nam tới các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX…Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn những vấn đề này để nghiên cứu trong đề tài
“Đấu tranh vũ trang của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945”
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu các cuộc đấu tranh của binh lính
người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
Phạm vi: Đề tài đề cập tới quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân
Pháp, sự ra đời của lực lượng binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam và các cuộc đấu tranh tiêu biểu của binh lính người Việt trong quân đội
Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
Nhiệm vụ của đề tài: Thông qua các tư liệu lịch sử cụ thể, đề tài tái dựng
lại bức tranh lịch sử về các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, làm nổi bật được hoàn cảnh lịch sử, nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trên cả nước, khái quát được diễn biến , kết quả của các cuộc đấu tranh Qua đó, đánh giá được tính chất, ảnh hưởng của các khuynh hướng cách mạng với mỗi cuộc đấu tranh Những điểm tích cực, hạn chế và những đóng góp của phong trào đối với tiến trình vận động giải phóng dân tộc nói riêng và đối với lịch sử dân tộc nói chung Cụ thể là: Đánh giá được vai trò của lực lượng binh lính người Việt trong quân đội Pháp đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải thích được vì sao trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (đầu năm 1930), Đảng ta lại coi lực lượng binh lính là một trong ba động lực của cách mạng Việt Nam (công nhân, nông dân và binh lính) Cũng từ đó, chúng ta kiểm chứng được và rút ra bài học về vai trò thực sự của lực lượng ngụy binh đối với cách mạng Việt Nam trong các cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc nửa đầu thế kỉ XX
Trang 124 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các
tác phẩm lí luận kinh điển của Cac Mác, Enghen, V Lênin; các tài liệu Văn kiện Đảng, những bài viết và tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các nhà sử học như Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu; các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã được công bố, các bài viết đăng trên tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu lịch sử Đảng, Lịch sử quân sự, Lịch sử Đảng bộ một số tỉnh thành; Giáo trình các trường đại học, kỉ yếu hội thảo khoa học viết về lịch sử liên quan đến phong trào đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt
Nam nửa đầu thế kỉ XX
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng
phương pháp lịch sử, kết hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá để
làm sáng tỏ nội dung của đề tài
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy lịch sử ở các trường THPT, trong các tiết học thông sử hoặc lịch sử địa phương
Trang 136 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Sự hình thành đội ngũ binh lính người Việt trong quân đội Pháp
Chương 2: Các cuộc đấu tranh tiêu biểu của binh lính người Việt trong
quân đội Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
Chương 3: Một vài nhận xét về các cuộc đấu tranh của binh lính người
Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
Trang 14
Chương 1
SỰ HÌNH THÀNH ĐỘI NGŨ BINH LÍNH NGƯỜI VIỆT
TRONG QUÂN ĐỘI PHÁP 1.1 Nhu cầu về lực lượng thực hiện xâm lược và bình định Việt Nam
Để xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã có một quá trình chuẩn bị lâu dài, nhưng vì nhiều lí do khác nhau nên phải đến giữa thế kỉ XIX, chính phủ Pháp mới chính thức dùng đến chiến tranh để cướp nước ta Sau nhiều lần khiêu khích, chiều 31-8-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo tới dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng Sáng 1-9-1858, không đợi Trấn thủ thành Đà Nẵng trả lời tối hậu thư, Pháp - Tây Ban Nha đã nổ súng rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà Tuy nhiên, sau 5 tháng tấn công, vấp phải sự chống trả anh dũng của quân dân
ta, Pháp đã không thể chiếm chiếm được Đà Nẵng, Tây Ban Nha phải rút lui khỏi cuộc xâm lược Thực dân Pháp quyết định đưa quân vào Gia Định (Nam Kì), chỉ để lại Đà Nẵng một lực lượng nhỏ Việc chuyển hướng đánh chiếm vào Nam Kì nằm trong những tính toán kĩ lưỡng của Pháp Nam Kì là miền đồng bằng phì nhiêu, giao thông đường biển thuận lợi, có thể sang Campuchia dễ dàng Từ đây có thể làm căn cứ đầu tiên cho cuộc xâm lược toàn Việt Nam Ngày 17-2-1859, Pháp nổ súng đánh thành Gia Định, quân đội triều đình tan rã nhanh chóng Nhưng kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" của Pháp không thể thực hiện được vì sự quấy rối của các đội dân binh, địch buộc phải chuyển sang
"chinh phục từng gói nhỏ" Trong năm 1860, Pháp bị sa lầy ở hai nơi (Đà Nẵng
và Gia Định) do phải chia xẻ quân cho các chiến trường khác ở Trung Quốc và I-ta-li-a Đà Nẵng không còn quân Pháp chiếm đóng Còn tại Nam Kì, số quân Pháp chỉ có khoảng 1000 tên, phải rải ra trên một chiến tuyến dài 10km Nhưng, chúng vẫn yên ổn trước một lực lượng từ 10.000 đến 20.000 quân triều đình do chủ chương cố thủ của quan quân nhà Nguyễn Cơ hội đánh bật quân Pháp ra khỏi bờ cõi đã bị bỏ qua trong năm 1860 Tới năm 1861, sau khi thắng trận ở Trung Quốc, Pháp đem toàn lực đánh vào Nam Kì Chúng lần lượt chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường rồi đến Biên Hòa, Vĩnh Long Ngày 5-6-1862,
Trang 15triều đình Huế phải kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kì là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và nhường đảo Côn Lôn cho Pháp cùng các điều khoản khác về kinh tế, quân sự, chính trị trong đó có một điểm đáng chú ý: "Hễ nước Nam có giao thiệp với nước nào thì phải báo cho chính phủ Pháp biết " Như vậy, triều đình Huế đã bị Pháp lấn át thêm một bước về chính trị Thực dân Pháp đã sơ bộ nắm quyền chính trị và ngoại giao ở Việt Nam, nhằm cắt đứt sự liên hệ giữa triều đình phong kiến nước ta với phong kiến Trung Quốc
Sau Hiệp ước 1862, triều đình Huế càng trở nên lúng túng, rơi vào thế bị động Thực dân Pháp ngày càng trở nên gian ngoan, xảo quyệt, tìm mọi cách dồn triều đình Huế vào thế chân tường Tuy vậy, phong trào chống Pháp của nhân dân ta
ở ba tỉnh miền Đông vẫn tiếp diễn, gây cho Pháp nhiều khó khăn Chúng phải tìm nhiều cách đối phó, một mặt gây áp lực với triều đình Huế, tìm kiếm thêm lực lượng để dập tắt các phong trào, mặt khác củng cố chính quyền ở 3 tỉnh đã chiếm được và chuẩn bị chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kì Cũng bằng thủ đoạn quân sự kết hợp với chính trị, ngoại giao, chỉ trong vòng 5 ngày (từ 20 đến 24-6-1867), 3 tỉnh miền Tây Nam Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) đã bị thực dân Pháp chiếm gọn mà không tốn một viên đạn Trên cơ sở đó, từ sau năm 1867, thực dân Pháp mở rộng việc đánh chiếm toàn bộ Việt Nam
Năm 1873, sau cuộc mở đường ra Bắc và thông sang Hoa Nam (Trung Quốc) của tên lái buôn Giăng Đuy-puy, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm Hà Nội và một số tỉnh thành Bắc Kì lần thứ nhất Triều đình nhà Nguyễn lại tiếp tục lún sâu vào con đường thỏa hiệp, kí Hiệp ước Giáp Tuất (tháng 3-1874) chính thức dâng toàn bộ đất đai Nam Kì cho thực dân Pháp , công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát và điều tra tình hình của Pháp ở khắp đất Việt Nam
Năm 1882, thực dân Pháp bội ước, đem quân đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, sau đó quyết định đánh thẳng vào Huế, chiếm cửa biển Thuận An, rồi lần lượt chiếm các tỉnh thượng du và trung du Bắc Kì Trước tình thế đó, triều Nguyễn bạc nhược đã
kí hai bản Hiệp ước 1883 và 1884 với Pháp, đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến Việt Nam và xác lập nền bảo hộ toàn bộ trên đất nước ta
Trang 16Như vậy, qua gần 30 năm tiến hành xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp
đã có cả một chương trình nghiên cứu và chuẩn bị kĩ càng, tiến những bước chắc chắn và có kế hoạch Sau những phát súng đầu tiên thăm dò lực lượng triều đình ở Đà Nẵng, thực dân Pháp đã quyết định dùng Nam Kì làm căn cứ và bàn đạp để dần chiếm nốt Bắc Kì và Trung Kì Kết hợp thủ đoạn quân sự với thủ đoạn chính trị, xây dựng thêm lực lượng, vừa đánh, vừa vận động kí những hòa ước tạm thời, thực dân Pháp đã dần đi tới chỗ chinh phục hoàn toàn lãnh thổ nước ta Trong đó, yếu tố xây dựng thêm lực lượng quân sự hỗ trợ tại chỗ
đã giúp Pháp đẩy nhanh hơn tiến trình xâm lược Việt Nam
Khi xâm lược Việt Nam, số quân đội còn ít, lại bị rải ở nhiều chiến trường, nên thực dân Pháp phải đưa một số lính lấy từ các thuộc địa khác (Ấn
Độ, Bắc Phi) sang, nhưng số quân đó cũng không đủ do bị hao hụt về chiến tranh và bệnh tật Vì vậy, ngay từ đầu, thực dân Pháp đã sử dụng chính sách thực dân cổ truyền "Dùng người bản xứ, trị người bản xứ" với Việt Nam là
"Dùng người Việt đánh người Việt" để bổ sung, tăng cường thêm lực lượng quân đội, củng cố bộ máy đàn áp phục vụ cho những hành vi xâm chiếm, đàn
áp, ăn cướp và bóc lột
Theo một số tài liệu, thực dân Pháp mộ lính người Việt để đánh triều đình Huế từ năm 1858 , lúc đó "có hai đại đội, năm 1862 có ba tiểu đoàn" [54, tr.437], trong đó phần nhiều là đồng bào công giáo bị dụ dỗ hoặc những lính triều đình đảo ngũ rồi theo Pháp "Tới 31.8.1858, lực lượng xâm lược Pháp gồm 2.350 quân (trong đó có 850 quân của Tây Ban Nha và trên
200 quân (2 đại đội) người Việt Nam)" [11, tr.836] Sau khi chuyển quân vào Gia Định, lực lượng ngụy binh này cũng được Pháp huy động tham gia chiến đấu Năm 1861, ở Nam Kì có 4 đại đội người bản xứ Cấp tổ chức đơn
vị người bản xứ được nâng dần theo phạm vi chiếm đóng và yêu cầu chiến tranh Khi đánh chiếm được nơi nào, thực dân Pháp đều bắt các làng nộp lính
và lấy người tình nguyện Theo nghị định ngày 29-2-1862, thực dân Pháp tổ
Trang 17chức lính mộ thân binh, biên chế thành từng đội khoảng 50 người Họ được trả lương theo vị trí cấp bậc và nhiệm vụ Nhiệm vụ lúc đầu là đuổi trộm cướp, phiến loạn, báo cáo cho đồn trưởng ý định và chuyển vận của đối phương Đội lính mộ ở Tân Hòa (thành lập năm 1863), được sử dụng để chống lại nghĩa quân Trương Định và tham gia trận chiến bình định ở Đồng Tháp Cùng với việc bắt lính bộ, người Pháp còn bắt lính thủy, lấy từ các làng chài Quyết định ngày 20-2-1864 của chính quyền thực dân chia 100 lính thủy thành 50 người cho 2 tổng Bình Trị Trung, Dương Hòa Trung, 20 người cho phủ Tân An chỉ định, 30 người của Mĩ Tho Quyết định này đánh dấu sự xuất hiện của lính thủy người Việt trong quân đội thuộc địa Pháp Lính thủy phục
vụ trên các pháo hạm, ghe chài và tham gia các chiến dịch bình định cùng với
lính Pháp Lính Mã tà là lực lượng bảo an địa phương giúp người Pháp giữ an
ninh trong vùng Nhiệm kì của mỗi lính mã tà là 7 năm, các làng phải cung ứng theo tỉ lệ 1/7 thanh niên tuổi từ 20 đến 30 Lính mã tà có nhiệm vụ tham gia công cuộc bình định và đã thể hiện vai trò trong trận tập kích căn cứ của quân khởi nghĩa Võ Duy Dương ở Đồng Tháp ngày 14-6-1886 Mỗi tỉnh ở Nam Kì đều thành lập một tiểu đoàn ngụy binh Sau khi chiếm được toàn bộ Nam kì, thực dân Pháp bắt đầu tổ chức lực lượng ngụy binh bản xứ người Việt gọi là lính khố đỏ và đưa những ngụy binh tuyển mộ từ trước biên chế thành lính cảnh sát để canh phòng và giữ trật tự đường phố Vì vậy, khi bắt đầu đem quân ra đánh Bắc Kì lần thứ nhất, thực dân Pháp đã có cả một trung đoàn binh lính người Việt Người Pháp cho rằng "Cần phải tổ chức những toán tiên phong được điều khiển kỹ để góp phần vào việc bình định xứ sở, tránh cho quân ta những mệt học vô ích và để các chiến dịch được kiến hiệu hơn" [68, tr.36]
Năm 1882, sau khi H Rivie (Henri Rivière) đem quân ra đánh phá Bắc
Kỳ rồi bị mai phục chết ở Cầu Giấy vào tháng 5 năm 1883 thì thống soái Nam
Kỳ mới có lệnh chuyển lính khố đỏ Nam Kỳ ra Bắc để giúp quân đội Pháp Trận đánh thành Sơn Tây (tháng 12 - 1883) được xem là trận giao chiến đầu
Trang 18tiên của lính khố đỏ trong quân đội Pháp Trong trận chiến đấu đó, những người lính hôm qua có thể là bạn trong một cơ binh, hôm nay đã trở thành kẻ thù trên 2 chiến tuyến Sang năm 1884 với sắc lệnh ngày 13 - 5 Pháp lập thêm đội lính khố đỏ Bắc Kỳ, chủ yếu mộ lính từ cộng đồng giáo dân theo đạo Thiên Chúa (những người không thiện cảm và không trung thành với triều đình Nguyễn); ít lâu sau thực dân Pháp mở rộng việc mua chuộc, mộ lính không phân biệt lương dân hay giáo dân
Mặc dù thành lập sau nhưng đội lính khố đỏ Bắc Kỳ đông hơn Từ năm 1884 đến năm 1886, Pháp đã thành lập được 4 trung đoàn (mỗi trung đoàn có từ 1.800 đến 2.250 người), gồm 9 đại đội (mỗi đại đội từ 200 đến 250 người) và chia thành 2 tiểu đoàn (sau này mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn; mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội) Tới năm 1884, chỉ tính riêng ở Bắc Kì, quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương có trên 20.000 người, trong đó có khoảng 7.300 người Việt Nam Lúc đầu trực thuộc Bộ hải quân và thuộc địa, từ năm 1884 trực thuộc Bộ chiến tranh để thống nhất chỉ huy Thường bố trí theo khu vực
để mở rộng chiến tranh và chiếm đóng thuộc địa Năm 1895 tăng lên thành năm trung đoàn lính khố đỏ Bắc Kỳ Trung đoàn thứ năm có một số lớn dân thiểu số gốc Thổ và Mường Còn ở Trung Kì, năm 1886 cũng có 4 tiểu đoàn binh lính người Việt Những đơn vị này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy Về cơ bản, thực dân Pháp đã xây dựng được một lực lượng đông đảo đội quân bản
xứ tại Việt Nam để thực hiện những tham vọng và âm mưu xâm lược của mình, tạo điều kiện để một số đơn vị lính người Âu rút về nước
1.2 Thực hiện triệt để chính sách "Dùng người Việt đánh người Việt"
Mong muốn của Pháp là sớm hoàn thành công cuộc bình định và trấn áp các cuộc nổi dậy ở Việt Nam, đồng thời để "phòng thủ Đông Dương", mở rộng quyền lợi của Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là các nước lân cận với Đông Dương Lúc này, tình hình quốc tế đang căng thẳng do mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc ngày càng tăng Thực dân Anh tăng cường lực lượng ở căn cứ Hương Cảng và Singapo Đế quốc Đức kéo vào Viễn Đông Quân đội Nhật
Trang 19xâm lược Trung Quốc và nhòm ngó Đông Dương Nhu cầu bảo vệ thuộc địa, lấn chiếm thêm thuộc địa bằng các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa ngày càng cao Vì vậy, việc tăng cường lực lượng vũ trang ở Đông Dương càng cấp bách, trước hết phải có quân lính Chủ trương của bọn thực dân nói chung và thực dân Pháp nói riêng ở bất cứ thuộc địa nào là dùng dân thuộc địa đánh dân thuộc địa (dùng người bản xứ đánh người bản xứ) Từ những kinh nghiệm đã áp ở các thuộc địa khác, nhất là ở Angieri, cũng những kinh nghiệm học ở thực dân Anh ở Ấn Độ, Miến Điện đã giúp cho thực dân Pháp có những thủ đoạn thâm độc hơn trong việc dùng người Việt đánh người Việt Việc này mạng lại lợi ích rất lớn cho họ
Về chính trị, ngoài việc thực hiện hiệu quả chính sách "Dùng người Việt đánh người Việt", thực dân Pháp đỡ việc phải đưa lính Pháp ở chính quốc sang Đông Dương, nhất là những ngày tháng chiến tranh xâm chiếm và bình định Việc làm đó là muốn tránh sự phản đối của nhân dân Pháp Không những thế, Pháp còn có thể lợi dụng được lực lượng ngụy binh làm trung gian giữa quân xâm lược với nhân dân, dùng họ để tuyên truyền mị dân và làm tai mắt cho chúng Một dã tâm nữa của người Pháp khi sử dụng binh lính người Việt trong quân đội của chúng ở Việt Nam là phục vụ cho thủ đoạn "chia để trị" Trong kỉ luật nhà binh của quân đội thuộc địa Pháp ở Việt Nam không có điều răn dạy
về đoàn kết quân nhân Ngược lại, càng khơi sâu sự hận thù giữa các binh lính bản xứ càng tốt Lúc không đi chiến trận, bằng cách khuyến khích, tạo ra mâu thuẫn giữa binh lính người Nam với người Bắc, giữa binh lính dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh, giữa binh chủng này với binh chủng khác (lính khố đỏ với lính khố xanh) họ sẽ tố giác, thậm chí xung đột, đánh lẫn nhau và rồi sẽ dồn cả lòng trung thành của mình đối với nước Pháp Ngoài ra thực dân Pháp còn chia
rẽ binh lính người Việt với nhân dân, dung túng, xúi giục họ nhũng nhiễu, bắt nạt nhân dân "Có khi một đại đội lính khố xanh hay lính khố đỏ đến đánh phá một làng nào đó chỉ vì chuyện xích mích về tiền hay về gái giữa tên chỉ huy người Việt trong quân đội Pháp với dân làng" [48, tr.189] Những tác phong,
Trang 20hành vi mà thực dân Pháp cố tình tạo ra với binh lính người Việt nhằm mục đích gieo vào lòng nhân dân ta những hình ảnh, quan niệm xấu về những ngụy binh Việt Nam trong hàng ngũ quân đội Pháp Khi đem binh lính Việt đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp cố tình không sử dụng binh lính của các địa phương đó, không dùng chính binh lính của các dân tộc đó mà phải là lính địa phương này, đánh địa phương khác, tộc người này đánh tộc người khác Đại tá Gan-li-ê-ni, một tên sĩ quan có nhiều thành tích trong công cuôc bình định ở Đông Dương đã truyền đạt kinh nghiệm "chia để trị" đến tận cùng của chúng:
"Hành động chính trị mới là điều quan trọng nhất Hành động đó phải đưa đến chính sách chủng tộc Bất cứ một tập đoàn, chủng tộc, nhân dân, bộ lạc hay gia đình nào cũng có quyền lợi chung nhau và đối lập với nhau cũng có sự thù hằn và đối địch mà chúng ta phải biết lợi dụng " [48, tr190]
Cũng như mọi tên đế quốc khác lúc đó, đế quốc Pháp thèm khát thuộc địa, coi thuộc địa như điều kiện tồn tại của nó không chỉ vì lí do kinh tế mà còn vì lí do quân sự Bởi vì, chỉ ở thuộc địa mới có thể tuyển mộ những lính đánh thuê rẻ tiền,
"những vật liệu biết nói" làm bia đỡ đạn; độc chiếm những vị trí quân sự quan trọng Binh lính Việt Nam là nguồn dự trữ to lớn để bổ sung cho quân đội Pháp và ngày càng thay thế cho lính Pháp trong việc giữ trật tự an ninh và trong các trận giao chiến trong chiến tranh Là người bản xứ, binh lính Việt Nam quen với thủy thổ, biết rõ địa lí và tình hình nhân dân, lại là người quen chịu đựng gian khổ nên thực dân Pháp bố trí chỗ đóng quân của họ là những nơi rừng thiêng nước độc, khí hậu khắc nghiệt, hay tại các đồn bốt ở các địa phương để cho lính Pháp tập trung ở các đô thị và các điểm quân sự trọng yếu Lúc có chiến tranh, binh lính người Việt luôn là người đi trước làm bia đỡ đạn cho binh lính, sĩ quan Pháp
Về kinh tế, dùng lính người Việt giúp Pháp giảm bớt được một nguồn kinh phí lớn trong việc chuyên chở lính Pháp từ chính quốc sang Việt Nam và ngược lại chuyên chở lính Pháp về nghỉ hàng năm Chi phí cho việc ăn uống, duy trì sức khỏe, chế độ đãi ngộ đối với binh lính người Việt cũng không đáng
là bao so với chi cho lính Pháp Tiền lương của một người lính thuộc địa cũng
Trang 21thấp hơn nhiều so với tiền lương của một người lính Pháp (lương của một lính Pháp gấp mười lần lương của một lính Việt Nam) Rõ ràng, nuôi lính Pháp tốn kém hơn nhiều so với nuôi lính thuộc địa Hơn nữa, khi đưa lính viễn chinh hay lính thuộc địa từ các nơi khác tới chiến trường Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, do không quen với địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu họ bị ốm đau, bệnh tật rất nhiều, gây khó khăn cho Pháp Vì vậy, số lính người Việt hay thuộc các dân tộc khác ở Đông Dương thay cho lính Pháp càng nhiều bao nhiêu thì càng có lợi cho chính quốc bấy nhiêu
Về mặt văn hóa, binh lính người Việt cũng chính là công cụ phục vụ cho chính sách văn hóa nô dịch và giáo dục ngu dân cho thực dân Pháp Đa số họ không biết chữ, không được tham gia những buổi sinh hoạt văn hóa cùng binh lính Pháp, sách báo bị hạn chế để ngăn chặn những luồng tư tưởng mới Các tệ nạn xã hội cũng được phổ biến trong binh lính Việt, đặc biệt là cờ bạc, rượu chè Thực dân Pháp không hạn chế binh lính Việt Nam đánh bạc Cứ mỗi kì lĩnh lương, là người ta lại thấy cảnh binh lính Việt Nam sát phạt nhau trên chiếu bạc, rồi dùng tiền đi chơi bời hút sách, thậm chí nhũng nhiễu nhân dân Khi đã sa vào các tệ nạn, họ trở nên bạc nhược và ngày càng phụ thuộc vào quân đội Pháp, trở thành công cụ để thực dân Pháp dễ dàng điều khiển
Với những công dụng đó, sau khi ổn định được tình hình Đông Dương, thực dân Pháp nhanh chóng tiến hành những thủ đoạn để có thể huy động được nhiều hơn binh lính người Việt vào đội quân thuộc địa của chúng ở Việt Nam Biện pháp đầu tiên chúng thực hiện là hợp pháp hóa lực lượng binh lính người Việt Nam trong quân đội Pháp "Theo chúng tôi, đã tới lúc phải tổ chức phần lớn người của dân vệ thành một đội quân chính quy, được chỉ huy, được huấn luyện quản trị bởi những sĩ quan khinh chiến Hải quân, Binh đội ấy sẽ được tập hợp nên dưới điều kiện minh bạch, tôn trọng điều kiện bản xứ Chúng sẽ đảm bảo cho các đồn binh Pháp một loại phụ lực quân địch có ích và khiến chúng ta
dễ bỏ một vài đồn bốt độc hại nhất thuộc địa, chúng khiến ta có thể tập trung lực lượng chúng ta lớn hơn ngày trước rất nhiều trên những chiến trường quan
Trang 22trọng, giảm thiểu một trong những chừng mực vừa đủ số quân mà chúng ta hiện giữ trên thuộc địa ở Viễn Đông" [68, tr.37] Ngày 7-7-1900, chính phủ Pháp thông qua đạo luật tổ chức quân đội thuộc địa gồm binh lính người Pháp và binh lính người thuộc địa, lính cơ là lính được bổ sung cho quân đội thuộc địa, trực thuộc Bộ chiến tranh Sau đó, ngày 19-9-1903, theo sắc lệnh của Phủ toàn quyền, lính chiến đấu người Việt mới được thừa nhận với cái tên chính thức: lính khố đỏ, chủ yếu phục vụ trong các đơn vị pháo binh, kị binh, công binh Có nhiệm vụ chiếm đóng, bảo vệ các xứ thuộc địa và bảo
hộ của Pháp, khi cần có thể điều động đến bất cứ chiến trường nào, có ngân sách riêng Ngày 1-11-1904, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh quy định thanh niên Bắc Kỳ, Trung Kì từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải đi lính với thời hạn tại ngũ
5 năm, tối đa là 20 năm Cùng ngày đó, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh tổ chức lực lượng quân dự bị người bản xứ ở Đông Dương Lực lượng này mỗi năm phải tập trung để luyện tập tối đa 15 ngày, khi cần có thể động viên từng khóa hay toàn bộ quân vào ngũ Ngày 5-11-1904, chúng ban hành sắc lệnh lập những trung đội công binh người bản xứ toàn Đông Dương Tiếp đến, ngày 23-10-1910, Tổng thống Pháp lại ra sắc lệnh quy định tất cả binh lính người Việt khi mãn hạn tại ngũ phải chuyển sang lực lượng quân dự bị khi đủ 15 năm (kể cả thời gian tại ngũ) mới được giải ngũ Họ cũng phải tập trung luyện tập 15 ngày trong năm và bị động viên như quân dự bị khi cần thiết
Ngoài quân đội chính quy có sự tham gia của binh lính Việt Nam (gọi là lính khố đỏ), thực dân Pháp còn tổ chức những đội lính khố xanh (thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 17-6-1897) Đây là lực lượng chuyên đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa, phục vụ các đạo quan binh, canh gác các nhà tù Ở phủ, huyện, châu có lính cơ, lính lệ lính dõng Đây là lực phải đi trước, mở đường cho lính lê dương và lính khố đỏ theo sau khi đàn áp nhân nhân Các làng xã có tuần phu, một lực lượng bán vũ trang, dưới quyền điều khiển của trương tuần và lý trưởng Chủ yếu dùng để dò la tin tức, đón lõng phục kích nghĩa quân khi di chuyển, cũng như đàn áp, đốt phá các gia đình, làng xóm khi họ đi theo nghĩa quân
Trang 23Mặc dù đã có lực lượng cảnh sát, nhưng trước tình hình nhân dân Việt Nam nổi dậy ngày càng nhiều, ngày 30-6-1915, theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp, Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương và Quảng Châu Loan (xứ bảo hộ của Pháp ở Trung Quốc), hay còn gọi là vệ binh bản xứ được thành lập Theo đó tất cả những binh lính bản xứ tại ngũ mà không nằm trong lực lượng chính quy đều thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt Đối với Việt Nam, binh lính người Việt không nằm trong lực lượng quân đội chính quy đều thuộc quyền tối cao của Thống đốc (Nam Kì), Thống sứ (Bắc Kì) và Khâm sứ (Trung Kì) Số lính này được tuyển lựa như như binh lính chính chính quy Toàn quyền Đông Dương ấn định số lượng cần tuyển cho từng "Kì", sau đó Thống đốc, Thống sứ, Khâm sứ lại ấn định số lượng cần truyển cho từng tỉnh Quân nơi nào, nơi đó chỉ đạo Lực lượng này còn được gọi là địa phương quân Về mặt chức năng,
họ có nhiệm vụ bảo đảm trật tự an ninh; canh gác công sở, trại giam, tuyến giao thông; áp tải tội phạm, áp tải hàng hóa của chính quyền; đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy Khi có chiến tranh, có thể chuyển từng phần hay toàn bộ lực lượng bổ sung cho quân đội thuộc địa theo lệnh của toàn quyền Đông Dương
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhà cầm quyền Pháp lại nghĩ tới việc củng cố chế độ trưng binh ở thuộc địa Ngày 23-10-1923, người Pháp ban hành Nghị định quy định việc tổ chức điều hành trưng binh ở Nam Kì Thống kê số lính trưng tập từ năm 1923 như sau: năm 1924 có 1.460 người; năm 1925: 680 người rồi 470 (có dấu hiệu sụt giảm) Năm 1929, dự định lúc đầu: 870, sau đó tăng thêm 320 người nữa Do nhu cầu chiến tranh, trong hai năm 1938, 1939 số lượng trưng binh lính người Việt tăng vọt Tuyển trong năm 1938: tháng 5 -
800 người; tháng 6,7,8 - thêm 3.628 người nữa Năm 1939: tháng 5 - 326 người; sau đó, lấy thêm 7.500 người nữa
Đến tháng 3-1945, quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương có khoảng 38.000 người, không kể 22.000 lính khố xanh Trong đó có khoảng 12.000 lính Pháp Cơ cấu lính người Việt được phân bổ như sau: Bắc Kì: 6 trung đoàn bộ binh (có 4 trung đoàn lính khố đỏ), 1 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn pháo
Trang 24binh độc lập, 3 pháo đội phòng không và một số pháo đội bờ biển; Ở Trung Kì
và Lào: 2 trung đoàn bộ binh (1 tiểu đoàn lính khố đỏ), tiểu đoàn người thiểu
số, 1 tiểu đoàn thám kích Lào, 1 tiểu đoàn pháo dã chiến và một số pháo đội bờ biển; Ở Nam Kì và Campuchia: 4 trung đoàn bộ binh (có 1 trung đoàn Campuchia) và một số đơn vị pháo binh Toàn bộ lực lượng này bị tan rã hoặc được Nhật sử dụng một phần (lính khố xanh chuyển thành bảo an binh) sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương (9-3-1945)
Bên cạnh việc hợp pháp hóa binh lính người Việt trong quân đội Pháp, chúng còn dùng thủ đoạn mị dân để mua chuộc, dụ dỗ người Việt Nam đi lính cho Pháp như duy trì chế độ ruộng lính ở các làng xã, hay miễn thuế cho những người đi lính và cảnh sát (Nghị định ngày 2-6-1897 của Toàn quyền Đume) Trong thế chiến thứ hai (1939-1945), chúng dụ lính bằng cách tăng thêm chút ít lương, tăng thêm phần phụ cấp cho gia đình binh lính, phát bút mực cho một số học sinh con cái tòng quân ở bên Pháp và dành một số chỗ trong công sở cho những binh lính mãn khóa Hoặc dùng chính sách "chia để trị", kích động, khơi sâu hằn thù tôn giáo, vùng miền, dân tộc trên bán đảo Đông Dương nói chung
và đất nước Việt Nam nói riêng để làm cho người Đông Dương, người Việt Nam mâu thuẫn lẫn nhau việc mộ lính, điều khiển lính sẽ dễ dàng hơn
Như vậy, thực dân Pháp xây dựng ở Việt Nam lực lượng quân đội gồm hai bộ phận: quân chính quy và quân địa phương Theo cách tổ chức của chúng,
có thì cũng có hai loại lính Việt Nam trong quân đội Pháp: Quân chính quy người Việt được gọi là lính khố đỏ (tức bộ binh - trang phục có đai màu đỏ, bản rộng khoảng 20cm, bao quanh bụng, bên trong có thắt lưng da), lính pháo thủ, lính tàu bay (phần nhiều là lính thợ), lính thủy Họ có trách nhiệm tác chiến trên chiến trường Đông Dương và ngoài Đông Dương Lực lượng quân chính quy người Việt ở xứ Đông Dương còn được điều động đi đàn áp các cuộc nổi dậy ở xứ khác trong Liên bang Đông Dương, đưa đi đàn áp các thuộc địa khác của thực dân Pháp, hoặc đi gây các cuộc chiến tranh xâm lược mới Cũng như việc chúng đã lấy lính Xênêgan, Cônggô, Marốc, Angiêri để đánh chiếm Việt
Trang 25Nam và Đông Dương Quân địa phương người Việt có lược lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương gồm: lính khố xanh ( thuộc quyền của Thống sứ); lính châu, lính dõng thuộc các châu huyện miền thượng du, lính cơ lính khố lục (còn gọi là lính cơ), khố trắng, khố vàng thuộc sự quản lí của quan lại Việt Nam Mặc dù thành lập những đơn vị đầu tiên từ khi đánh Đà Nẵng, nhưng phải đến 40 năm sau binh lính người Việt trong quân đội Pháp mới được thừa nhận với với những cái tên lính khổ đỏ, lính khố xanh gọi chung là lính tập để phân biệt với lính thú của Việt Nam, nằm dưới sự chỉ huy của các vua quan Từ lính tập cũng để chỉ thứ lính tuyển mộ từ người Việt Nam phục dịch cho người Pháp, đặt dưới quyền chỉ huy của người Pháp (hàm ý coi khinh)
1.3 Đội ngũ binh lính triều Nguyễn – nguồn bổ sung trực tiếp cho quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương
Đến năm 1884, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam Mọi quyền hành về kinh tế, chính trị, quân sự của Việt Nam đều do người Pháp thâu tóm Triều Nguyễn chỉ là bù nhìn Trong bối cảnh đó, quân đội nhà Nguyễn từ năm 1884 đến 1945 đã có những chuyển biến về tổ chức, biên chế lẫn chức năng, nhiệm vụ, vai trò, vị trí trong việc thực hiện nhiệm vụ đối với triều đình Huế và dưới sự điều khiển của thực dân Pháp Từ những binh lính đảo ngũ đầu tiên theo Pháp khi mới xâm lược, dần dần, binh lính của triều đình đã trở thành nguồn bổ sung đắc lực và một thành phần của quân đội Pháp
ở Đông Dương cũng như Việt Nam Về danh nghĩa, sau khi Việt Nam trở thành
xứ bảo hộ, triều Nguyễn tiếp tục thống lĩnh lực lượng này cho đến năm 1945, nhưng trên thực tế, quân đội triều đình hoàn toàn do thực dân Pháp điều khiển
Dưới thời Pháp thuộc, quân đội nhà Nguyễn vẫn tồn tại hai thành phần là
Vệ binh và Cơ binh ở kinh đô và quân địa phương Binh lính ở kinh đô là đội quân đóng ở kinh thành Huế được chia thành ba hạng: thân binh - để bảo vệ vua, cấm binh - để canh giữ kinh thành và tinh binh - được giao trấn giữ khu vực ngoài kinh thành Ngoài ra còn có các thuộc binh trong phủ đệ của các
Trang 26vương tôn, hoàng từ và đại thần, dùng để hầu hạ, không dùng vào quốc sự Binh lính ở các tỉnh có các đội bộ binh, pháo binh và tượng binh Lính tòng quân được chia thành hai lực lượng: Lính vệ và Lính cơ Lính vệ là quân đội chính quy, thường tại ngũ, chủ yếu đóng ở kinh kì và các tỉnh thành Lính cơ thuộc loại lính mộ địa phương nên còn gọi là biền binh hay mộ binh, khi cần thì gọi, thời bình thì về quê làm ruộng, chủ yếu để bổ sung vào lực lượng chính quy Lúc đầu, Pháp vẫn chấp nhận để cho các đề đốc, võ quan triều Nguyễn chỉ huy dưới sự giám sát của người Pháp Nhưng đến năm 1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập lực lượng Cơ binh, do Pháp trực tiếp tổ chức, trang bị và chỉ huy Ban đầu, lực lượng này có khoảng 4000 quân, làm nhiệm
vụ phục vụ quan lại người Việt Nam ở các tỉnh, huyện và canh gác công sở địa phương Nghị định này đã đặt dấu chấm hết cho quân đội nhà Nguyễn với tư cách là lực lượng vũ trang của nhà nước phong kiến độc lập Dưới thời Pháp
thuộc, nhà Nguyễn vẫn duy trì phép tuyển binh "Giản binh định lệ" Tuy nhiên,
số lượng tuyển giảm đi kể cả kinh đô hay các tỉnh Việc giảm số lượng quân lính, đặc biệt quân số ở kinh đô là để đáp ứng yêu cầu của thực dân Pháp Người Pháp ở Việt Nam muốn giảm số lượng quân chính quy, để từ đó lập nên những đội "lính khố xanh", "lính khố đỏ", "lính tập" phục vụ cho nhu cầu quân
sự, mà nòng cốt chủ yếu là những binh lính An Nam cũ
Đối với một xã hội thuộc địa như Việt Nam, hai thế lực thực dân và phong kiến có quan hệ mật thiết với nhau, là chỗ dựa của nhau Về lực lượng
vũ trang, quân đội nhà Nguyễn được thực dân Pháp sử dụng như một công cụ
để đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam Phía Pháp, chính quyền thực dân lại dùng chính những người An Nam làm công cụ cho công cuộc bình định tại thuộc địa Vì vậy, ngay từ khi mới bắt đầu xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã lợi dụng cơ chế binh dịch sẵn có và nguồn nhân lực sẵn
có để sẻ bớt gánh nặng xương máu cho quân đội thực dân xâm lược Những quân lính được "giản binh" theo quy định của triều Nguyễn sau đó được chiêu
Trang 27mộ thành những toán Lính tập, Lính thủy, Lính Mã tà dặt dưới quyền chỉ huy của quân đội Pháp Hai đại đội Lính tập được tập hợp đầu tiên ở Đà Nẵng, lấy chủ yếu từ lính triều đình đảo ngũ Họ được trang bị như lính hải quân khinh chiến trừ khẩu carabinne được thay bằng khẩu súng kiểu 1842 xưa Từ năm
1884 trở đi, thực dân Pháp cho thành lập các Trung đoàn Lính tập An Nam, Đội Bảo an binh, Lính thủ hộ mà lực lượng chủ yếu vẫn là những người lính
An Nam "giản binh"
Trong nghị định về việc thành lập các đội Bảo an binh cũng cho thấy rõ mối quan hệ giữa quân đội thuộc địa với quân đội Pháp Tháng 11-1889, Hội đồng tối cao xứ Đông Dương quyết định giải tán 3 tiểu đoàn lính truy kích An Nam và thay vào đó là những đội dân vệ Những lính truy kích giải ngũ nhập vào tổ chức dân vệ ở các tỉnh Tổng quân số các đội này lên tới 2.700 người và được chuyển sang biên chế của nhà nước bảo hộ Theo các Nghị định ngày 17-5-1919, ngày 31-12-1930, 23-11-1940 lính thủ hộ của triều Nguyễn là một bộ phận trong quân đội thuộc địa Pháp Số lượng lính thủ hộ thay đổi theo tình hình trong và ngoài nước Như vậy, dù được gọi theo cách nào thì trên danh nghĩa, triều đình Nguyễn có quyền chỉ huy các toán lính trên, nhưng quyền điều động binh lính thuộc về các tướng lĩnh Pháp
Quân đội Nam triều, dưới sự bảo hộ của Pháp, phục vụ cho mục đích xâm lược của thực dân Pháp Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là đàn áp các phong trào yêu nước như: đàn áp các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, phong trào Đông Du
Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra giữa lúc thực dân Pháp đã củng cố xong nền cai trị của chúng ở Đông Dương Lực lượng quân đội thuộc địa, trong
đó có binh lính Việt thuộc triều Nguyễn được tập hợp, sử dụng cho cuộc "khai phá" của "mẫu quốc" Đã có một phong trào rầm rộ cổ động cho Đông Dương gửi người, tiền bạc sang giúp "mẫu quốc" Số người sang "mẫu quốc" phần lớn phải trải qua thể thức điền lính hàng năm và rút từ các binh đoàn hiện có để gửi
Trang 28qua Pháp Năm Khải Định nguyên niên (1916), vua lệnh cho Án sát Nguyễn Văn Hiền sung làm Khâm sai phái sang Tây Trong bối cảnh triều Nguyễn trở thành tay sai cho thực dân Pháp thì quân đội triều đình cũng chỉ còn là công cụ tay sai cho chúng "Nhìn xét bảng lương cho Lính tập, lính Mã tà, Lính mộ, người ta vẫn thấy dấu vết của một ông Cai đội Vệ binh ngạch Chánh ngũ phẩm, còn Cại đội Mộ binh chỉ có Chánh lục phẩm và Đội trưởng Lệ Mục thì Chánh cửu phẩm" [68, tr.41] Nhưng nơi thân xác của những thanh niên ấy, nhà cầm quyền mới đã nhồi nắn một kĩ thuật khác, trao vào tay họ những vũ khí mới để
họ sẽ chống lại những anh em của họ mới hôm qua còn trong cùng một cơ binh, cùng nắm chuôi cày, cán quốc, trong cùng làng xóm quê hương
Là quân đội chính quy của triều đình, từng được đánh giá khá mạnh ở khu vực Đông Nam Á, đến thời kì Pháp thuộc, quân đội nhà Nguyễn đã mất dần sức mạnh và nhuệ khí Đúng quy luât, quân đội của mỗi nhà nước được thành lập là để duy trì trật tự xã hội, bảo vệ chính quyền, bảo vệ độc lập dân tộc Nhưng thời Pháp thuộc, quân đội nhà Nguyễn đã đi ngược lại với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, trở thành công cụ trong chính quyền thực dân nhằm chống lại các lực lượng yêu nước của nhân dân Việt Nam và bảo vệ quyền lợi của các tập đoàn thực dân Chức năng, nhiệm vụ của quân đội triều Nguyễn ngày càng phụ thuộc vào mục đích và đường hướng cai trị của chính quyền thực dân Pháp tại Việt Nam Như vậy, nhà Nguyễn chính là kẻ tiếp tay cho thực dân Pháp thực hiện tốt hơn chính sách "Dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam"
Tiểu kết chương 1
Để phục vụ cho yêu cầu xâm lược và bình định Việt Nam, ngay từ đầu dùng, thực dân Pháp đã dùng thủ đoạn "Dùng người Việt đánh người Việt" Những đơn vị lính người Việt đầu tiên được Pháp xây dựng nên trở thành công
cụ hữu dụng giúp chúng đẩy nhanh hơn quá trình hoàn thành xâm lược nước ta Trong đó, quân đội triều đình Nguyễn cũng là một nguồn bổ sung quan trọng
Trang 29Với việc hợp thức hóa và tăng cường lực lượng binh lính người Việt trong quân đội thuộc địa làm công cụ đàn áp dân tộc Việt Nam, thực dân Pháp hy vọng sẽ
ổn định được tình hình để thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa vô cùng tàn bạo, đồng thời cũng là công cụ để chúng thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa thực dân đế quốc ra bên ngoài Nhưng trong thực tế, chúng đã không hoàn toàn thực hiện được những âm mưu đó Binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 đã tiến hành những cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp bằng nhiều hình thức khác nhau Đó là những đòn nặng phá kế hoạch "Dùng người Việt đánh người Việt" của giặc và cũng là cuộc vùng dậy mãnh liệt của những người nông dân mặc áo lính, lấy súng giặc giết giặc, gây một truyền thống cho những binh sĩ cứu quốc Việt Nam sau này Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi xin khái quát lại các cuộc đấu tranh tiêu biểu của binh lính người Việt trong quân đội Pháp, kế tục truyền thống yêu nước của dân tộc để giành độc lập, tự do
Trang 30Chương 2 CÁC CUỘC ĐẤU TRANH TIÊU BIỂU CỦA BINH LÍNH NGƯỜI VIỆT TRONG QUÂN ĐỘI PHÁP Ở VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX
áp bức càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh càng mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và lực lượng Binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp cũng đóng góp sức mình vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc
2.1 Đấu tranh trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930
2.1.1 Vụ đầu đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (1908)
Hà Nội trong khoảng 1907-1908 là trung tâm của một số phong trào lớn như Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du Những bài văn, thơ cách mạng của Phan Bội Châu tuyên truyền đoàn kết, khởi nghĩa từ nước ngoài gửi về qua Hà Nội truyền tới nhân dân cả nước Ảnh hưởng của các cuộc vận động cách mạng
dù là cải cách công khai hay bí mật tuyên truyền bạo động đều nung nấu thêm lòng phẫn uất của dân chúng Riêng ở Hà Nội, ảnh hưởng đó đã lan vào hàng
Trang 31ngũ binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp Tháng 12-1906, Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám), thủ lĩnh của nghĩa quân Yên Thế đã có cuộc hội kiến với Phan Bội Châu, qua đó Hoàng Hoa Thám đã đồng ý gia nhập Duy Tân hội và cam kết phối hợp hoạt động chống Pháp Để thực hiện, Hoàng Hoa Thám đã cho thành lập Hội Nghĩa Hưng gồm mấy thủ hạ của ông như Chánh Tỉnh (tức Chánh Song), Nguyễn Viết Hanh (tức Đội Hổ), Lý Nho (cựu Lí tưởng một làng ngoại thành Hà Nội), Đồ Hà Nam (tức Đồ Đảm), Nguyễn Văn Phúc (tức Lang Seo) Họ chia nhau về các tỉnh, trong đó chủ yếu là Hà Nội để bắt liên lạc với các nhà yêu nước từng hoạt động cho Đông Kinh nghĩa thục như Lê Đại, Nguyễn Quyền, Phan Tuấn Phong, Hoàng Tăng Bí, Vũ Hoành,… Họ đã họp với nhau nhiều lần ở nhà Nguyễn Văn Phúc để bàn kế hoạch bạo động, mục tiêu trước mắt là đánh chiếm thành Hà Nội Lực lượng chính của cuộc bạo động là anh em binh lính người Việt trong quân đội Pháp
Ở phố Cửa Nam - Hà Nội có một cửa hàng vừa bán cơm, vừa cho trọ của vợ chồng Nhiêu Sáu (tức Nguyễn Tĩnh, người làng Trương Mai) Hàng ngày có khách ăn ra vào tấp nập, bồi bếp có, binh lính có, thầy bói số cũng
có Lợi dụng quán cơm này làm nơi gặp nhau, các ông Đội Hổ, Chánh Tỉnh thường lui tới Quán hàng còn là nơi lui tới của Cai Nga, Đội Bình, Đội Cốc là những yếu nhân trong quân giới khố đỏ, thuộc cơ pháo thủ số 9 Thêm vào đó còn có Hai Hiên, một người có tín nhiệm trong giới bồi bếp Công việc tuyên truyền khởi nghĩa đi tới kết quả một số đông anh em bồi bếp binh lính tán thành chương trình bạo động của Đội Hổ Cách tuyên truyền cũng rất gần gũi và có hiệu quả, phù hợp đối tượng binh lính "trong quán cơm còn ông Quang dạy chữ Pháp và ông Đông Châu dạy chữ cho anh em lính tập" [50, tr.73], họ đã tuyên truyền những vần thơ ái quốc của Phan Bội Châu cho anh em binh lính:
"Thôi thôi ta chẳng dại rồi Tập lính ta cũng là người họ ta
Trang 32Tính sự thế này vừa gặp hội Việc kíp rồi phải liệu mau mau Cùng nhau mấy vạn đồng bào Quyết đem tính mệnh mà liều một phen"
Anh em bồi bếp thì thuộc lòng những câu:
"Bồi, bếp, thông ký dân ta
Có lòng như thế mới ra đồng bào
Chàng Dự Nhượng nấp đâu chẳng thấy?
Gã Phù Sai đứng đấy là ai"[50, tr.73]
Các nhà Nho còn đóng giả thầy tướng số, mượn những câu thiên mệnh
để gần gũi tuyên truyền khách hàng Những bồi bếp và lính tập đã từng lui tới quán cơm nhà Nhiêu Sáu phần lớn là những người yêu nước, tán thành bạo động Lực lượng chính là anh em binh lính người Việt trong quân đội Pháp Nếu thắng lợi sẽ đón Cường Để và Phan Bội Châu về nước lập chính phủ
Kế hoạch khởi sự là anh em binh lính Hà Nội làm nội ứng Nghĩa quân
Đề Thám ở ngoài cùng dân chúng đánh vào Trước hết, anh em binh lính lấy gỗ lim bịt miệng súng đại bác của địch trong thành, người phụ trách đầu bếp bỏ thuốc độc vào đồ ăn của các sĩ quan Pháp Khi chúng đã trúng độc rồi thì không thể tác chiến được Anh em binh lính sẽ bắn súng hiệu để lực lượng quân ở ngoài vào hạ sát, cướp khí giới quân Pháp, chiếm thành phố
Thời gian khởi sự lúc đầu dự định vào đêm 14 rạng ngày 15-11-1907, là lúc lính khố đỏ Bắc Kì được phát súng đi luyện tập ở Sơn Tây Kế hoạch đã vạch rất chi tiết, có khoảng 200 nghĩa quân của Đề Thám do Lang Seo và Lý Nho chỉ huy đã tập trung ở ngoài, chịu trách nhiệm đánh vào thành phía Tây, thành phía Đông do một bộ phận lính khố đỏ phụ trách Nhưng đến giờ dự kiến lại được tin chỉ có một nửa lính khố đỏ đi Sơn Tây, nửa còn lại không được phát súng nên không thể khởi sự được Lang Seo phải cho quân rút lui Lý Nho hứa với Đề Thám sẽ mộ thêm lực lượng đánh úp thành Hà Nội vào khaongr từ ngày 15 đến 20-5-1908, nhưng đến phút cuối cùng lại hoãn
Trang 33Cuộc bạo động bị hoãn đi hoãn lại nhiều lần làm cho những người tham gia rất sốt ruột, việc tổ chức lại lộn xộn nên rất dễ bị lộ Hoàng Hoa Thám cũng muốn hành động gấp vì sợ Pháp lần ra manh mối Trong tình hình đó, những người cầm đầu quyết định hành động vào đêm 27-6-1908, nhân lúc có tiệc chiêu đãi các sĩ quan
Để thực hiện nhiệm vụ, lực lượng nghĩa quân đã được bố trí ở bên ngoài theo kế hoạch đã định trước nhằm tấn công đánh chiếm lại thành phố Hà Nội Anh em bồi bếp và binh lính người Việt thuộc Trung đội công nhân pháo thủ
Hà Nội đã tổ chức đầu độc binh lính Pháp đóng trong thành Ở vòng ngoài, toàn bộ lực lượng được chia làm ba mũi, mỗi mũi khoảng 200 người Mũi thứ nhất, có nhiệm vụ tấn công khu Đồn Thủy phía bờ sông Mũi thứ hai phân tán trên các thuyền bè gần khu vực nhà máy thuốc lá, có nhiệm vụ tấn công vào thành từ phía Bắc Mũi thứ ba tập kết ở ngoại ô phía Tây, có 20 người của Đề Thám, do Đội Hổ chỉ huy có nhiệm vụ hợp với cánh quân từ Sơn Tây kéo về tấn công vào thành theo hướng Tây Về phía trong thành
do anh em binh lính người Việt làm nội ứng đảm nhiệm Một khi đã đầu độc xong binh lính Pháp, anh em sẽ bắn 3 phát súng đại bác làm hiệu lệnh,
và lúc đó ba cánh nghĩa quân bố trí bên ngoại sẽ nhất tề tấn công vào thành
Kế hoạch được bố trí rất chi tiết, tỉ mỉ
Ngày 27-6-1908 trong bữa ăn tối, toàn bộ binh lính Pháp thuộc Trung đoàn pháo binh thứ 4 và Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 9 đóng ở trong thành
Hà Nội đã bị anh em bồi bếp và binh lính người Việt dùng “cà độc dược” đầu độc (do Cai Hiên phụ trách) Thuốc độc đã đầu độc 80 lính Pháp của trung đoàn bộ binh thứ 9, và 125 tên của trung đoàn số 4 đã bị ngất xỉu, làm chúng vô cùng hoảng sợ và khẩn trương cấp cứu
Như trên đã nói, cuộc bạo động đã hoãn đi hoãn lại máy lần, kéo dài đến nửa năm nên thực dân Pháp đã kịp thời ứng phó Từ tháng 5-1908, công sứ Hà Đông đã dò xét được tình hình ở quán cơm Nhiêu Sáu Nhiều tin đồn có cuộc nổi loạn, nên thực dân Pháp đã cắt cử các đội binh đề phòng cẩn mật, nhất là các kho vũ khí đạn dược
Trang 34Sau khi vụ đầu độc diễn ra, anh em chưa kịp bắn súng hiệu theo như kế hoạch đã định cho các cánh nghĩa quân bên ngoài biết thì đã bị thực dân Pháp tước hết khí giới, tống giam Do trước đó ít phút, tên Trương là người Công giáo, là lính trong cơ công pháo thủ số 9 có tham gia vụ này đi sưng tội với
cố đạo Ân ở nhà thờ Hà Nội Bọn Nhà Chung đã báo động cho bọn chỉ huy quân sự biết một hiện tượng bạo động có thể nổ ra vào đêm 27-6-1908, kết hợp với tin tình báo do Nhà Chung cung cấp là tin binh lính Pháp bị ngộ độc Cho nên, thực dân Pháp đã một mặt lập tức cho thầy thuốc cứu chữa binh lính, sĩ quan bị hạ độc, mặt khác hạ lệnh bắt giam toàn bộ binh lính người Việt trong thành mà chúng tình nghi, sau đó tước hết khí giới của binh lính người Việt và giam chặt họ trong trại để tra hỏi và khám xét Lệnh thiết quân luật được ban bố Pháp cho đóng chặt các cửa ô, vây từng khu phố bắt người tình nghi Nghĩa quân ở bên ngoài đứng chờ không thấy súng hiệu, biết việc đã bị lộ, nên kịp thời rút lui
Ngay sau đó, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt lực lượng binh sĩ yêu nước Đội Bình, Đội Cốc, Đội Nhân, Cai Ngà, Cai Hiên cùng nhiều người trong giới bồi bếp bị bắt và xử chém bêu đầu, hàng trăm binh sĩ khác bị giết và bị tù đày Nhân đó, thực dân Pháp ra sức tấn công tất cả các lực lượng và phong trào dân tộc, bất kể đó là phong trào bạo động hay cải lương
Tuy cuộc mưu chiếm lại thành Hà Nội không thành nhưng sự kiện đầu độc binh lính đã làm chấn động dư luận trong nước lúc bấy giờ Người Pháp ở Hà Nội rất hoảng sợ, đã lũ lượt kéo nhau đến Phủ Toàn quyền biểu tình đòi giới cầm quyền phải có biện pháp cứng rắn đối phó với phong trào bạo động của dân bản địa Trước mắt kẻ địch còn mạnh, một cuộc bạo động nhỏ bé, cô lập, lại tổ chức thiếu chặt chẽ không thành công được Nhưng vụ đầu độc này là một sự kiện đáng chú ý trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX Cuộc nổi dậy chứng tỏ binh lính người Việt trong quân đội Pháp cũng là một lực lượng quan trọng trong cuộc đấu tranh chống đế
Trang 35quốc Cuộc bạo động của binh lính ngay trong lòng địch đã báo trước phong trào đấu tranh cứu nước sẽ lan rộng, huy động được nhiều giới, nhiều tầng lớp tham gia Nhiều cơ sở của phong trào cách mạng từ đây có chỗ dựa vững chắc
2.1.2 Tham gia âm mưu khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân (1916)
Từ 1914, chiến tranh thế giói thứ nhất bùng nổ, đế quốc Pháp tham chiến trong phe Hiệp ước Ở Đông Dương, thực dân Pháp vơ vét sức người, sức của của nhân dân Việt Nam phục vụ cho âm mưu của chúng trong cuộc chiến đã gây ra sự căm phẫn trong nhân dân, kích động mạnh mẽ tinh thần phản chiến của binh lính Việt Nam bị điều sang Tây Âu làm bia đỡ đạn, thậm chí tác động tới cả lòng yêu nước của vị vua Duy Tân trẻ tuổi và thông minh
Việt Nam Quang phục hội ở nam Trung Bộ khác với Việt Nam Quang phục hội ở các nơi khác là đã tổ chức được một “Kỳ bộ” do các nhà yêu nước giàu tâm huyết đứng đầu Đó là Trần Cao Vân, một nhà nho tham gia chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 mới thoát khỏi nhà tù Côn Đảo về; là Thái Phiên đã hơn 20 năm hoạt động cứu nước và là cộng sự thân tín của Phan Bội Châu; là Đỗ Tuyển, Lê Nhung, Phạm Thành Chương, Phan Thanh Tài, Đỗ Tự, Lê Đình Dương, Cử Súy Tất thảy họ đều có chung quyết tâm nổi dậy Sự quyết tâm đó nhận được sự ủng hộ của người Đức qua lãnh sự Đức ở Xiêm Họ hứa sẽ viện trợ cho Việt Nam chống Pháp nếu đạt được những thắng lợi đầu tiên Tổ chức Việt Nam Quang phục Hội ở Trung Quốc
và Xiêm cũng đưa tin hưởng ứng
Nhiều cuộc hội nghị được triệu tập bàn về việc xây dựng lực lượng, phân công các nhà lãnh đạo phụ trách từng địa phương, vận động nhân dân tham gia, xây dựng căn cứ địa, nắm tình hình địch Sau một thời gian, Hội đã đạt được kết quả bước đầu
Lực lượng chính mà những người lãnh đạo dựa vào là lớp lính mộ đang tuyển lựa, đang luyện tập hoặc sắp xuống tàu sang Pháp đánh nhau với Đức Rải rác các tỉnh, chỗ nào cũng có lính mộ, nhất là ở Huế "Sắp bước vào cuộc
Trang 36chiến tranh, đa số lính đều giao động, nhớ nhà Những tin Pháp bại trận đưa tới càng làm họ lo sợ" [50, tr.98] Những người tuyên truyền của khởi nghĩa một mặt đưa ra những tin đồn khủng khiếp về cuộc chiến và cổ động binh lính sẵn sàng quay súng giết giặc tinh thần phản chiến và hưởng ứng cách mạng trong binh lính ngày một dâng cao
Tại cuộc họp tháng 9-1915, Lê Nhung báo cáo: ở Quảng Ngãi có 580 lính khố xanh, thì có tới 450 người đã ngả theo cách mạng Ở Quảng Nam cũng vậy, khoảng 80% lính khố xanh và lính tập ngả theo ta Về vũ khí, ngoài 580 khẩu súng
do lính khố xanh sử dụng, còn 350 khẩu đang trong kho và rất nhiều đạn dược
Đồng thời qua các nguồn tin, Kỳ bộ còn biết được tình hình là lúc bấy giờ, đang diễn ra sự thuyên chuyển lực lượng của địch do chúng phải điều động lực lượng cho chiến tranh Ở Quảng Nam, trước có 150 lính lê dương nay chỉ còn 35 tên Ở Huế cũng vậy, riêng ở Mang Cá, trước có một sư đoàn, trong đó nhiều lính Tây, nay chỉ còn 50 tên Trong số 2.500 lính mộ, mà Pháp chuẩn bị cho xuống tàu, ta đã vận động được khá đông làm nội ứng
Qua các cuộc hội nghị ở Đà Nẵng, Huế, các nhà lãnh đạo đã đi đến nhất trí tiến hành khởi nghĩa dưới danh nghĩa vua Duy Tân, lấy Huế làm địa bàn nổi dậy đầu tiên Lực lượng khởi nghĩa là những binh lính người Việt, phần lớn là lính sắp bị đưa sang chiến trường châu Âu Kế hoạch cũng được vạch ra một cách rõ ràng, phân công nhiệm vụ cụ thể cả ở Huế và Quảng Nam và Quảng Ngãi Công việc chuẩn bị đã tiến hành trong mấy tháng mà không bị lộ
Kế hoạch khởi nghĩa định vào ngày 3-5-1916 Theo kế hoạch vào đêm mồng 2 rạng ngày 3-5, khi vua Duy Tân cùng 4 thị vệ ra khỏi Hoàng thành xuống thuyền ra sông Phú Cam sẽ phát động khởi nghĩa Hiệu lệnh là tiếng pháo nổ và tiềng voi gầm Nhưng gần đến ngày khởi sự thì bị lộ do việc bảo mật quá sơ hở Vợ con lính tấp nập dồn về quê, gây ra một không khí khác thường khiến địch sinh nghi Chúng tung mật thám dò manh mối Việc liên hệ giữa Thái Phiên và Trần Cao Vân với Huế đã bị địch phát hiện Kế hoạch chuẩn bị đánh đồn Tam Kỳ và đồn Quảng Nam cũng bị lộ
Trang 37Chúng lo ngại nhất là 2000 lính chiến đang ở Huế sắp sửa đưa sang Pháp Trong lúc chúng đang ráo riết đề phòng thì chiều ngày 3-5, tên Trần Quang Trữ phụ trách việc điều động 2.500 lính mộ trong kế hoạch khởi nghĩa
đã phản bội đi báo tin ngày giờ khởi sự cho khâm sứ Huế Ở Quảng Ngãi, Huỳnh Quang Trí phụ trách tài chính của Hội bị địch bắt, tri phủ hưu trí là Nguyễn Đĩnh đem giấy tờ sổ sách của Hội nộp cho toà sứ Hội An Điện tín ở Huế đánh vào, Quảng Ngãi đánh ra, do đó Quảng Nam cũng lộ nốt
Trên cơ sở những nguồn tin nắm được, địch đã chủ động đề phòng và chuẩn bị kế hoạch đàn áp Ở Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Pháp đóng chặt cửa trại lính, thu hết vũ khí của binh lính người Việt và ra lệnh giới nghiêm
Về phía nghĩa quân, theo kế hoạch, đêm 3-5, dân binh ở nhiều địa phương kéo
về các tỉnh lỵ Quảng Nam, Quảng Ngãi Chờ mãi không có lửa hiệu đốt lên, không có binh lính nội ứng nổi dậy, lực lượng này đã buộc phải tự giải tán trước sự truy bắt khám xét gắt gao của địch
Riêng ở Quảng Nam, dân quân ngoại thành do Trần Chương (cháu họ của Trần Cao Vân) chỉ huy đã dùng thang trèo vào thành, đốt một nhà nhỏ bỏ trống, làm hiệu, nhưng bên trong binh lính không nổi dậy, nên cũng phải tự giải tán Ở Tam Kỳ, quân khởi nghĩa nổi dậy diệt ba lính, chiếm huyện lỵ Ngay sau
đó, quân Pháp kéo tới đàn áp, nghĩa quân tan rã
Ở Huế không có một hành động vũ trang nào, kể cả viên thiếu tá người Đức nhận làm nội ứng cũng không hưởng ứng Toàn bộ kế hoạch khởi nghĩa được chuẩn bị không thực hiện được
Địch thẳng tay đàn áp, lùng bắt những người yêu nước Vua Duy Tân bị bắt ở núi Thiên Mụ (6-5-1916) và bị đưa đi đày ở đảo Rêuyniông Lê Nhung tự vẫn Các thủ lĩnh nghĩa quân như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phạm Thành Chương và nhiều yếu nhân khác bị Pháp bắt và xử tử ở cửa An Hoà Một só lãnh đạo khác bị đày đi tù ở các nhà ngục Khánh Hòa, Lao Bảo Cuộc khởi nghĩa ở nam Trung Kỳ và Huế đã bị thất bại
Trang 38Sau vụ Hà thành đầu độc, Âm mưu khởi nghĩa ở Nam Trung Kì và Huế cho thấy, binh lính Việt Nam tiếp tục trở thành động lực mới trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX và tỏ rõ quyết tâm dùng súng giết giặc Cuộc khởi nghĩa không thành vì thiếu tổ chức, thiếu cảnh giác, nhất là thiếu một đường lối chính trị rõ rệt, một bộ tham mưu đúng đắn Nhưng, đây là sự tiếp nối của phong trào yêu nước có xu hướng dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX, thể hiện tinh thần yêu nước bất khuất của các nhà lãnh đạo, ý chí diệt thù cứu nước cao cả của nhân dân và những sáng kiến về chủ động xây dựng lực lượng, vận động vua Duy Tân, vận động binh lính tham gia Cuộc đấu tranh này đã cho thấy binh lính Việt Nam cũng là một lực, lượng đông đảo, phản kháng lại kẻ thù xâm lược, nếu những người lãnh đạo có đường lối vận động và chỉ huy đúng đắn.
2.1.3 Khởi nghĩa Thái Nguyên (1917)
Cuộc nổi dậy của binh lính Thái Nguyên năm 1917 bùng nổ khi chiến tranh thế giới thứ nhất đã bước sang năm thứ ba Thực dân Pháp đang ráo riết bòn rút của cải, xương máu của nhân dân Việt Nam đổ vào guồng máy chiến tranh trên đất Pháp Chúng tăng cường mộ lính, đem sắc lệnh tổng động viên của Pháp áp dụng vào Việt Nam, để buộc thanh niên trai tráng ra trận làm bia đỡ đạn cho
chúng mà trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp Nguyễn Ái Quốc gọi là
"Thuế máu" Liên tiếp từng đoàn lính Việt Nam bị kéo xuống tàu chở sang chính quốc Đời sống của của tất cả các giai tầng trong xã hội Việt Na thời kì này đều gặp rất nhiều khó khăn, thêm vào đó lại bị áp bức, bóc lột nặng nề để phục vụ cho
bộ máy ăn cướp của chính quyền thực dân trong nước và ở chính quốc nên người dân vô cùng căm phẫn Những cuộc phản kháng bùng nổ như ở Nam Kỳ, ở Trung
Kỳ, nhất là phong trào binh lính ở Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi hưởng ứng khởi nghĩa của vua Duy Tân; nhưng vụ đánh đồn ở miền biên giới Việt Trung của Việt Nam Quang Phục hội đã kích thích phong trào ái quốc ở khắp nơi
Thái Nguyên với vị trí trung tâm chiến lược của vùng Đông Bắc sông Hồng, nên từ lâu đã là vùng đất có truyền thống trong lịch sử giữ nước của dân tộc, đóng vai trò là bức ngăn chặn giặc tràn xuống cướp phá vùng đồng bằng, là điểm xuất
Trang 39phát triển khai chống giặc xâm phạm biên giới Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thái Nguyên có rất nhiều thành tích dưới sự chỉ huy của các thổ hào Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám đã kéo dài hơn 20 năm trên căn cứ địa Bắc Giang và Thái Nguyền Nhân dân Thái Nguyên sẵn có một truyền thống đấu tranh anh dũng Lúc này, ngọn lửa cách mạng Việt Nam lại bùng lên Núi rừng Thái Nguyên chờ đón một đoàn nghĩa dũng vùng dậy
Biết rõ vị trí chiến lược quan trọng của Thái Nguyên, truyền thống yêu nước kiên cường của con người nơi đây, thực dân Pháp đã thiết lập một lực lượng quân sự lớn, với hệ thống đồn binh dày đặc Đứng đầu bộ máy cai trị của Thái Nguyên là tên công sứ Đáclơ, được xếp hạng "tứ hung" - một trong bốn quan cai trị tàn ác nhất ở Bắc Kỳ Dưới chính lệnh tham tàn của hắn, từ nhân dân, tù phạm cho đến binh lính đều điêu đứng, khổ sở Với công nhân làm đường: "Cứ mỗi khi ông ta đi xem xét các con đường có dân phu làm việc thì số chân người bị đánh què bằng lưỡi xẻng, cán cuốc, phải tính bằng đơn vị nửa tá Những người dân phu làm đường ấy đều là những người bị ông ta bắt ép đi làm với tiền công mỗi ngày một, hai xu, sau khi họ đã phải nộp tiền chuộc phần tạp dịch của họ với giá mười lăm xu mỗi ngày."; Với tù nhân: "Khi hỏi cung tù nhân, quan công sứ thường lấy thanh gươm đâm vào đùi họ Có người khi về đến nhà lao thì lăn ra bất tỉnh
Một đoàn tù khốn khổ, gầy đói, quần áo tả tơi, bị lôi dậy từ tờ mờ sáng,
cổ mang gông, chân buộc xiềng, người nọ bị xích vào người kia, cùng kéo một chiếc xe lu to tướng trên những lớp sỏi dày Hoàn toàn kiệt sức, họ ỳ ạch kéo chiếc xe lu nặng nề dưới ánh nắng như thiêu như đốt Bỗng quan Công sứ đến Như lệ thường, quan cầm theo một cái gậy to tướng, rồi bỗng dưng vô cớ, quan xông vào đám người khốn khổ ấy, như con thú dữ, đánh túi bụi, tàn nhẫn không tưởng tượng được, vừa đánh vừa chửi họ là đồ lười."; với những viên chức người Việt: "Một hôm nhà khai hoá của chúng ta vừa quở trách một nhân viên người Âu xong, không biết trút cơn giận lên đầu ai được, vớ cái thước sắt trên bàn giấy đập nát hai ngón tay của một viên Thư ký người An Nam chẳng liên
Trang 40can gì đến việc kia cả "; đối với binh lính người Việt: "Một số lính tình nguyện (!) bản xứ, bị điệu về để sung vào lính khố đỏ và vì thế họ phải đi khám sức khoẻ Đó là những người mù chữ, nhút nhát, khi hỏi thì trả lời chậm chạp, nên quan Công sứ đã chửi bới, đấm đá và lấy gậy phang họ túi bụi Ba người lính khố xanh để xổng một người tù, đã bị ông Đáclơ đánh đập một cách rất tàn nhẫn, nắm tóc họ kéo lê dưới đất và đập đầu họ vào tường toà sứ Lại một lần khác, có mấy người lính khố xanh làm trái ý ông ta, ông ta bèn cho đem chôn
họ đến tận cổ, mãi đến khi họ ngắc ngoải mới cho moi lên." [53, tr.49,50] Chủ tỉnh tàn ác bao nhiêu thì các nhân viên cấp dưới của hắn cũng theo đó mà tàn ác tương tự Đây chính là một trong những nguyên nhân trọng yếu của cuộc khởi nghĩa
Nhà lao Thái Nguyên lúc ấy còn là nơi tập trung một số chính trị phạm thuộc vụ Duy Tân, Đề Thám đặc biệt trong đó có Lương Ngọc Quyến, thành viên của Việt Nam Quang phục hội, được coi là "quốc sự phạm" nguy hiểm, phải giao cho ĐácLơ trừng trị Tại đây đã diễn ra cuộc hội ngộ giữa những binh lính Việt Nam yêu nước, sẵn sàng đứng lên diệt giặc với những nhà chí sĩ yêu nước cách mạng đang bị giam cầm mà tiêu biểu là Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến
Như vậy, sự lúng lúng của thực dân Pháp ở Việt Nam trong thế chiến thứ nhất cũng như tinh thần hướng nghĩa của nhân dân nói chung và binh lính nói riêng đã kích động lòng công phẫn của binh lính Thái Nguyên Nhưng ngòi
nổ của cuộc nổi dậy chính là sự đến man rợ của công sứ Đaclơ (Darles) và giám binh Nô-en (Noel)
Hai lãnh tụ của khởi nghĩa Thái Nguyên là Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến Trịnh Văn Cấn (Đội Cấn), tên khai sinh là Trịnh Văn Đạt, quê làng Yên Nhiên, tục gọi là làng Nhàn, tổng Thượng nhung, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, nay là xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Khi còn nhỏ, Trịnh Văn Đạt học chữ Nho vài năm ở làng, sau đó, phụ giúp cha mẹ việc nhà nông Chứng kiến cảnh đàn áp, cướp bóc của bọn thực dân, phong kiến, cảnh bần cùng của nông dân trong vùng, Trịnh Văn Cấn nhen nhóm ý định tìm