Kỹ thuật xử lý chất thải : KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHU LUC | MOT SO DIEU KIEN KINH TE XA HOI TINH SOC TRANG PHU LUC II DIEU KIEN KHi TUGNG THUY VAN TINH SOC TRANG PHU LUC III Tran
Trang 1UY BAN NHAN DAN TINH SOC TRANG
SO KHOA HỌC, CONG NGHỆ VÀ MOI TRUONG
BAO CAO XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ Ô NHIỄM
CAC NGUON NƯỚC MATDUNG CHO AN UONG
VA SINH HOAT Ở NÔNG THÔN SÓC TRĂNG
SÓC TRĂNG 12/1995
Trang 2mm." ]P”ơ——rimeerrvee >
Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
11.5 Dat va phân loại đất
1.1.6 Tai nguyén sinh vat
1.2 DIEU KIỆN KINH TẾ-XÃ HỘI TINH SOC TRANG
12.1 Dân số ,dân tộc
1.2.2 Tổ chức hành chánh
12.3 Điều kiện kinh tế
!2.4 Cấp nước và vệ sinh môi trường
CHƯƠNG HAI
CÁC NGUỒN GỐC CHÍNH GÂY Ô NHIỄM NƯỚC MAT
TINH SOC TRANG
II.1 Ô NHIỄM DO CÁC YẾU TỔ TỰ NHIÊN
1.1.1 Nhiễm mặn
II.1.2 Nhiễm phèn
lI.1.3 Xói mòn
1.2 0 NHIEM DO HOẠT ĐỘNG CUẢ CON NGƯỜI
11.2.1 Cac nguén gây ô nhiễm chính tại Sóc Trăng
II.2.2 Ô nhiễm do chất thải từ khu dân cư
II.2.3 Ô nhiễm từ hoạt động sân xuất nông nghiệp
II.2.4 Ô nhiễm từ hoạt động giao thông đường thủy
Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Sóc Trăng
¬
Trang 3Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
III.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM DO CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN
III.1.1 Đánh giá mức độ nhiễm mặn
lII.1.2 Đánh giá mức độ nhiễm phèn
III.1.3 Đánh giá mức độ ô nhiễm do xói lở
1.2 DANH GIA MUC DO 0 NHIEM NGUON NUGC DO HOAT DONG
CUẢ CON NGƯỜI 6 SOC TRANG
11.2.1 Đánh giá mức độ ô nhiễm do các chất hữu cơ
III2.2 Đánh giá mức độ ö nhiễm do các chất dinh dưỡng
III.2.3 Đánh giá mức độ ö nhiễm do thuốc trừ sâu dùng trong nông
nghiệp
III.3 ẨNH HƯỚNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG NƯỚC MẶT BỊ Ô NHIỄM
ĐẾN SỨC KHỎE CỦA NHÂN DÂN TRONG KHU VỨC
CHUONG BON
ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ Ô NHIỄM NƯỚC MAT
IV.1 XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT NHẰM XỬ LÝ NƯỚC
MẶT PHỤC VỤ CHO SINH HOẠT - ĂN UỐNG
IV.1.1 Nguồn nước cấp cho sinh hoạt va ăn uống tại Sóc Trăng
IV.1.2 Các phương án xử lý nước cấp cho sinh hoạt và ăn uống tại Sóc
Trăng
IV.1.3 Giới thiệu một số công nghệ xử lý nước phục vụ cấp nước
IV.1.4 Kết luận chung về các phương án xử lý nước cấp cho sinh hoạt và
ăn uống
IV.2 XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG ÁN KỸ THUẬT NHẰM XỬ LÝ CHẤT
THAI
IV.2.1 Xử lý phân và nước thải sinh hoạt tại Sóc Trang
IV.2.2 Xử lý nước thải công nghiệp, dịch vụ
Trang 4Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống va sinh hoat
ở nông thôn Sóc Trăng
IV.2.3 Xử lý chất thải rắn tại Sóc Trăng
IV.3 BIỆN PHÁP QUẦN LÝ CÁC NGUỒN Ô NHIỄM NƯỚC MẶT TỈNH
SÓC TRĂNG
IV.3.1 Quản lý chất thải sản xuất - dịch vụ
JV.3.2 Quản lý chất thải sinh hoạt, chăn nuôi
/V.3.3 Quan lý và hướng dẫn sử dụng an toàn thuốc bảo vệ thực vật
VI.3.4 Giáo dục nhận thức về môi trường
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN
PHU LUC II DIEU KIEN KHi TUGNG THUY VAN TINH SOC TRANG
PHU LUC III
KET QUA PHAN TICH NGUON NUGC MAT TAI SOC TRANG
PHU LUC IV KET QUA PHAN TICH DU LUGNG THUOC TRU SAU TAI SOC TRANG
PHU LUC V
KET QUA PHAN TICH NUGC THAI TAI THI XA SOC TRANG
Trang 5Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
Ở nông thôn Sóc Trăng
PHU LUC VI
KET QUA PHAN TICH THANH PHAN RAC THAI TAI THI XA
SOC TRANG PHU LUC VII
CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ NƯỚC PHỤC VỤ CHO ĂN UỐNG VÀ SINH
HOẠT TẠI SÓC TRĂNG
PHU LUC VIII CAC PHUONG AN XU LY CHAT THAI TAI TINH SOC TRANG
PHU LUC IX MOT SO HINH ANH
Trang 6Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
LỜI NÓI ĐẦU
Sóc Trăng là tỉnh ĐBSCL, nằm ven bờ biển Đông nên dễ dàng chịu sự xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền Hiện nay, khoảng 2/3 diện tích đất cuả Sóc Trăng bị nhiễm mặn và phèn hoá gây cần trổ lớn trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và cung cấp nước cho sinh hoạt
Mặt khác, do nằm cuối nguồn sông Mêkông nên các đợt lũ hàng năm kéo
về hay mang theo các mầm bệnh từ vùng thượng nguồn Theo số liệu thống
kê cuả ngành y tế tỉnh, những năm gần đây đã xuất hiện nhiều hơn các bệnh như dịch tả, ly đặc biệt, gần đây mầm mống dịch bệnh đã xuất hiện ở một số nơi trong tỉnh và có nguy cơ lan tràn mà nguyên nhân chủ yếu do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, chứa các vi khuẩn gây bệnh
Trong vài năm trở lại đây, với chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
Tỉnh đặc biệt chú trọng đến vấn đề Công Nghiệp hóa, hiện đại hóa, xong
do còn xem nhẹ hay chưa đánh giá đúng mức tác động đến môi trường của nhiều dự án vào trong Tỉnh, từ đó phần nào dẫn đến môi trường ngày càng xấu đi có nơi đã và đang bị suy thoái trầm trọng, mà những hiệu quả kinh tế hôm nay không thể bù đắp lại trong tương lai
Nhận thức được điều này, với chức năng tham mưu cho UBND Tỉnh Sóc Trăng Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện chiến lược phát triển lâu bền, trước mắt nhằm khôi phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nước mặt do hậu quả của quá trình sản xuất và sinh hoạt gây ra Trong thời gian qua Sở đã phối hợp với nhiều đơn vị chức năng như: Trung Tâm Bảo Vệ Môi Trường Thành Phố Hồ Chí Minh (Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới
và Bảo Vệ Môi Trường) tổ chức khảo sát đo đạc nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước ổ một số nơi trong Tỉnh
Tháng 07/1995 theo yêu cầu của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Cục Môi Trường, Sổ KHCN & Môi trường tỉnh Sóc Trăng đã thực hiện đề tài :
"Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống
và sinh hoạt 6 Tinh Séc Trang"
Muc tiéu chinh cua đề tài là điều tra, đánh giá được nguyên nhân, mức độ ô nhiễm nước và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm xử lý nước
Trang 7Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
Nội dung chính cuả báo cáo bao gồm :
1 Khảo sát, điều tra xác định các nguồn chính gây ô nhiễm nước
2 Phân tích và đánh giá mức độ ô nhiễm nước
3 Đề xuất một số biện pháp, giải pháp kỹ thuật xử lý ô nhiễm nước
Do thời gian và hạn chế ở một số mặt do đó trong phần báo cáo chắc hẳn
còn nhiều thiếu sót Ban chủ nhiệm đề tài xin chân thành biết ơn sự đóng góp của Bộ KHCN &MT, Cục Môi trường và đơn vị chức năng nhằm giúp cho đề tài thực hiện một cách hoàn chỉnh hơn
BAN CHU NHIEM DE TAI
Trang 8Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
Sóc Trăng nằm ở cuối nguồn hệ thống sông Mêkông bê bờ Tây sông Hậu,
là vựa thóc lớn ở Đồng Bằng Sông Cữu Long (ĐBSCL)
Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê năm 19983, diện tích tự nhiên
của Sóc Trăng là 3178 km?
I.1.2 Đặc điểm khí hậu
Tỉnh Sóc Trăng cũng như toàn bộ diện tích ĐBSCL nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Các đặc trưng khí hậu tỉnh Sóc Trăng được đưa ra trong phụ lục II
Mùa khô tại Sóc Trăng kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau do tác động của gió Đông Bắc chủ đạo Trong mùa này lượng mưa chỉ khoảng 15
% tổng lượng mưa cả năm Tháng khô nhất (tháng 2) lượng mưa tại Sóc Trăng chỉ đạt 2 mm
Độ bốc hơi trong hai mùa mưa và mùa khô cũng khác nhau khá rõ Tại Sóc Trăng độ bốc hơi (theo Piche) trung bình năm là 3,4 mm, nhưng tốc độ bốc hơi trung trong tháng 9,10,11 chỉ 2,0 - 2,5 mm
Tính chung cả năm lượng mưa cao hơn nhiều so với lượng bốc hơi Vùng có thời gian lượng mưa cao hơn lượng bốc hơi 7 tháng gồm hầu diện tích tỉnh Sóc Trăng (trừ dãy ven biển Vĩnh Châu, Long Phú)
Do lượng mưa cao nên tạo điều kiện cấp nước thủy lợi, thủy sản, nước ngọt cho nhân dân các Huyện của tỉnh Sóc Trăng giải quyết ảnh hưởng của xâm nhập mặn Tận dụng tài nguyên nước mưa là chiến lược lâu dài để phát triển trồng trọt và xã hội của các Huyện ven biển
Trang 9Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
Lượng bức xạ trung bình hàng tháng ở Sóc Trăng là 416 cal/cm (dao động
từ 363 cal/cmỂ trong tháng 9 đến 515 cal/cmỂ trong tháng 3)
Đặc điểm về khí hậu như trên việc phát triển nông nghiệp nhiệt đới của Sóc Trăng rất thuận lợi Trở ngại duy nhất là sự phân bố lượng mưa quá chênh lệch giữa các mùa buộc phải thực hiện một số biện pháp thủy lợi để cấp nước ngọt trong các tháng mùa khô
1.1.3 Chế độ thủy văn
Sông Mêkông bắt nguồn Tây Tạng (Trung Quốc) chảy qua Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia và đổ vào Việt Nam theo hai dòng: Sông Tiền (Mêkông) và sông Hậu (Bassac) Lưu lượng hàng năm sông Mêkông đạt
466 kmŠ đứng thứ 12 so với các sông trên thế giới Phần lớn nước sông Mêkông do nước mưa cung cấp, do vậy lưu lượng của sông phụ thuộc vào chế độ mưa trong lưu vực
Về mùa kiệt (tháng 3,4) lưu lượng sông ở Kratie chỉ đạt 2000 mŠ/giây Trong các tháng này xâm nhập mặn vào sâu đến phía nam Kế Sách Về mùa mưa lưu lượng sông Mêkông tăng nhanh chóng Lưu lượng bình quân trong tháng
7 đến 20.000 mŠ/giây, sang tháng 8 - trên 30.000 mỶ/giây và tháng lũ cực đại
(tháng 9) lên tới trên 40.000 mŸ/giây
Trong mùa lũ với lưu lượng lớn, địa hình của Tỉnh thấp và bằng phẳng, khả năng thoát nước chậm nên phần lớn ở tỉnh Sóc Trăng bị ngập nước
Phần lớn diện tích tỉnh Sóc Trăng chỉ bị ngập < 0,3 m Hầu hết các Huyện trong Tỉnh có thời gian ngập lũ dưới 3 tháng Một số vùng thuộc Long Mỹ,
Mỹ Tú có thời gian ngập mặn 3,5 tháng
Chế độ lũ hàng măn tạo trổ ngại cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân trong vùng, nhưng nhờ ngập lũ mà phù sa sông Hậu bồi đắp cho vùng đất của Tỉnh thêm màu mỡ Việc ngập lũ thường xuyên còn tạo ra hệ sinh thái đất ngập nước ở ĐBSCL Đây là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất nên có giá trị kinh tế và môi trường to lớn không những đối địa phương mà còn có ý nghĩa toàn quốc Việc phát triển nông nghiệp không tính tới duy trì hệ sinh thái này chắc hắn sẽ gây tác hại lâu dài về kinh tế -
xã hội
Trang 10Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
I.1.4 Địa hình
Cũng như nhiều tỉnh ở ĐBSCL, tỉnh Sóc Trăng có địa hình thấp và bằng phẳng Với địa hình này tỉnh Sóc Trăng dễ dàng chịu xâm nhập mặn từ biển theo sông Hậu, sônò Mỹ Thanh và các kênh rạch khác Đây cũng là điều lưu
ý xây dựng chiến lược bảo vệ vùng biển trong tương lai khi có mực nước biển dâng do hiệu ứng nhà kính (theo nhiều dự báo giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng cao hơn hiện nay 30-40 cm)
I.1.5 Đất và phân loại đất
Theo số liệu đo đạt từ năm 1982 - 1986 diện tích đất các loại của Sóc Trăng
là 317.834 ha, được chia theo dạng sử dụng như sau:
- Đất nông nghiệp : 241.990 ha
- Đất lâm nghiệp : 9.649 ha
- Dat chuyén dung : 21.899 ha
- Cac loai dat khadc : 44.296 ha
Có thể phân chia đơn giản lãnh thổ Sóc Trăng thành 3 đới trầm tích như sau:
+ Trầm tích đầm lụt: Gắn liền với sự bồi đắp hàng năm từ phù sa sông Hậu chảy tràn vào mùa lũ, tạo thành lớp phủ dầy trên lớp trầm tích lợ cổ xưa
+ Trầm tích đầm mặn: Đây là lưóp trầm tích mang dấu vết của nhóm địa mạo lầy, mặn cổ, khi bờ biển còn chưa lùi xa và ghi dấu ở Sóc Trăng ngày nay
+ Lớp trầm tích bờ biển: Gắn liền với lịch sử hiện đại, chạy thành vành đai ven biển bao gồm Nam Long Phú - Kế Sách - Mỹ Tú - Thạnh Trị Dấu vết
nổi bật của các trầm tích này là các dòng cát ở Sóc Trăng và Vĩnh Châu hiện nay Đặc trưng tính chất là lớp sa cấu sét nặng bên trên và thịt nhẹ bên dưới đồng thời không chứa các vật liệu sinh phèn
* Nhóm đất tỉnh Sóc Trăng:
Tỉnh Sóc Trăng gồm có 3 nhóm đất chính :
+ Nhóm đất phù sa : 238.781 ha (30% tổng diện tích)
+ Nhóm đất phèn : 128.833 ha (21% tổng diện tích)
Trang 11Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
+ Nhóm đất mặn : 165.628 ha (27% tổng diện tích)
L1.6 Tài nguyên sinh vật
1.1.6.1 Dac điểm của hệ sinh thái ngập nước
Theo định nghĩa đất ngập nước (Đất ướt-Wetland) là" vùng đất có thể bị ngập nước dưới độ sâu nhỏ 2 m thường xuyên hoặc theo chu kỳ trong năm" thì toàn bộ tỉnh Sóc Trăng thuộc vùng đất ngập nước
Đất ngập nước của thỉnh Sóc Trăng rất đa dạng bao gồm vùng cửa sông và vùng lụt ven sông, vùng bãi triều ven biển, vùng trũng nội địa, ao hồ và những cánh đồng lúa bát ngát
Hệ sinh thái đất ngập nước nhiệt đới là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất vì đó là sự kết hợp các điều kiện môi trường và nước ở nhiệt độ, độ
ẩm thích hợp cho việc phát triển sinh vật Tất cả sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp Sóc Trăng điều tạo ra từ vùng ngập nước
Hệ sinh thái ngập nước là hệ thống hở vì nó nhận chất dinh dưỡng, nước và phù sa từ bên ngoài và từ vùng đất ngập nước các chất hữu cơ, sinh vật được tạo thành lại luân chuyển ra các vùng chung quanh chính, cân bằng này đầm bảo cho hệ sinh thái đất ngập nước có năng suất sinh học ổn định
và góp phần làm giàu cho các vùng ven biển và thượng nguồn do sự di trú của tôm cá và chim thú Như vậy nếu hệ sinh thái này bị tác động thì không chỉ tài nguyên sinh vật tại chổ mà cả vùng chung quanh cũng bị suy thoái
Về đại thể, diện tích đất ngập nước tỉnh Sóc Trăng có thể chia thành 3 vùng
chính:
- Vùng đồng lụt ven sông Hậu (từ Thốt Nốt đến Kế Sách): là vùng đất phù
sa có nước ngọt quanh năm
- Vùng đồng bằng ven biển và cửa sông bị nhiễm mặn (Long Phú, Mỹ Xuyên)
- Vùng trũng Tây Nam chịu ảnh hưởng phèn, mặn nhẹ (Long Mỹ, Thạnh Trị)
Trang 12Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
Mỗi vùng có đặc điểm riêng về thủy văn, chất lượng nước, chất lượng đất, thời gian ngập lũ nên tạo ra các điều kiện thích hợp cho sự phát triển hầm tực vật và động vật đặc thù
- Do lưu lượng nước sông Hậu lớn nên vùng cửa sông Hậu có độ mặn thấp hơn ổ phía Nam bán đảo Cà Mau (độ mặn ổ vùng mùa kiệt là 15-20 phần ngàn so với 22-25 phần ngàn ở vùng cửa sông Tam Giang Minh Hải)
Tuy nhiên độ mặn vùng cửa sông thấp, loại cây ngập mặn phổ biến ở vùng ven biển Sóc Trăng là bần chua, bần ổi, cóc vàng, dà nét, dừa nước và một
số loại đước Các cây loại mặn cao như mắm (A.marina, A.alba) không phát triển tốt ở cửa sông Hậu
Diện tích rừng ngập mặn ở tỉnh Sóc Trăng (bao gồm cả rừng phòng hộ ven biển, dừa nước và đước trồng) trong măn 1950 chiếm gần các cù lao dãy
ven biển Long Phú Đến măn 1982 chỉ còn 3.514 ha, năm 1986-1988 tăng
đến 3.580 ha, nhưng đến năm 1989 chỉ còn 2.902 ha Trữ lượng rừng phòng
hộ suy giảm từ 46.594 mỀ (1988) xuống 34.115 m (1989), diện tích suy giảm
chủ yếu là rừng phòng hộ Theo xu hướng mỡ rộng diện tích Tôm quảng canh di dân vào vùng đất rừng và thực hiện việc bảo vệ rừng không nghiêm, diện tích và chất lượng rừng ngập mặn ở Sóc Trăng chắc chắn còn suy
giảm.Hậu quả của việc mất rừng ngập mặn không chỉ là mất gỗ, củi mà quan trọng hơn mà quan trọng hơn là việc xói mòn bờ biển, sụp lổ bờ sông, xâm nhập trực tiếp vào đồng ruộng mất nơi cư trú, phát triển của tôm cá
Trang 13Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
giống nước mặn nước lợ cung cấp cho nghề thủy sản Sóc Trăng, các vùng thượng nguồn và biển Hậu quả suy thoái rừng ngập mặn đã thể hiện rất rõ
ở các Tỉnh bạn: Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre và Minh Hải)
Hệ sinh thái rừng ngập mặn có năng suất sinh học cao nhưng rất nhạy biến động về môi trường Ba yếu tố từ bên ngoài bảo đảm cân bằng của hệ sinh thái rừng ngập mặn là :
- Cung cấp, điều hòa nước từ biển và nguồn để đảm bảo duy trì độ mặn
Các yếu tố này được điều chỉnh bởi lưu lượng nước ngọt từ các vùng trên
và chế độ biển Nếu một trong các yếu tố này không được duy trì thì cân bằng của hệ sinh thái bị phá vỡ Hậu quả là mất bãi bồi, mất rừng dẫn đến mất tôm cá, động vật hoang dã xói mòn bờ biển
Từ đó một trong các chiến lược phát triển kinh tế, Bảo vệ môi trường của tỉnh Sóc Trăng là phải phục hồi và phát triển rừng ngập mặn, nhất là rừng
phòng hộ ven biển Mọi dự án đắp đê ngăn mặn, nuôi tôm quảng canh đều phải được xem xét kỹ lưỡng về mặt tác động môi trường
* Thực vật vùng nước ngọt:
Toàn bộ vùng đất phù sa nước ngọt ven sông Hậu đã được khai thác lâu đời
để trồng lúa, cây ăn trái hoặc định cư Các loại thực vật có giá trị kinh tế, vùng này chủ yếu trồng lúa, dừa, cam, rau, đậu tre, các loại cây lâm nghiệp phân tán Hiện trạng sử dụng này đã nêu trong tài liệu thống kê của Sở Nông Nghiệp, chương trình 60B, dự án quy hoạch tổng thể ĐBSCL
* Thực vật vùng trũng nhiễm phèn:
Hầu hết vùng trũng nhiễm phèn ở Long Mỹ, Thạnh Trị hiện nay đã được khai thác thành vùng sản xuất lúa, khóm, mía Tuy nhiên ở vùng này còn có nhiều khu vực còn ngập sâu, khó thoát nước và nhiễm phèn nhẹ, ở các khu vực này cây tràm (Melaleuca Leucadendron) đã và đang phát triển tốt
Trang 14Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
Trong thế kỷ trước rừng tràm tự nhiên phát triển rất lớn ở các Huyện này Từ đầu thế kỷ đến nay do phát triển mạng lưới kênh rạch dầy đặc trong vùng và hậu quả chiến tranh rừng tràm tự nhiên mất dần Các năm sau giải phóng việc trồng rừng tràm đã phát triển Diện tích rừng tràm càng tăng nhanh chóng từ 1.216 ha (năm 1982) lên 4.090 ha (năm 1986) 5.647 ha (năm 1988) và giảm xuống 4.979 ha vào năm 1989
Rung tram tap trung ở qui mô rộng có ý nghĩa lớn về mặt bảo vệ môi trường
- Rừng tràm tạo ra hệ sinh thái có năng suất cao, trong đó có nhiều loại
động vật, thực vật, tôm, cá, bò sát, lưỡng thê, chim, ong va động vật có vú phát triển mang lại lợi ích kinh tế và giá trị bảo tổn tính đa dạng sinh học (
U Minh, Tràm Chim là những vùng điển hình)
Với ý nghĩa đó việc duy trì hệ sinh thái rừng tràm tại vùng đất trũng, có nước chua là cần thiết Không nên chuyển tất cả diện tích này thành vùng trồng lúa với bất cứ giá nào
11.6.3 Tài nguyên thủy sản
* Các vùng sinh thái nước:
Dựa vào tính chất nước ngọt có các vùng sinh thái thủy sản chủ yếu ở Sóc Trăng :
- Vùng sinh thái nước mặn ven biển và lợ ở cửa sông Hậu và sông Mỹ Thanh và các kênh rạch ở các huyện Nam Sóc Trăng
Trang 15Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
* Hệ sinh thái nước ngọt:
Phù sa sông Mêkông từ thượng nguồn đem theo ít chất dinh dưỡng, tuy nhiên khi vào ĐBSCL nguồn dinh dưỡng từ rừng ngập mặn ven biển và từ đồng ruộng bổ xung thêm Hàm lượng Phosphat, nitrat, ammori trong nước sông Hậu Sóc Trăng nằm trong khoảng tương ứng là: 0,1-0,2; 0,05-0,50; 0,02-0,15mg/l trong kênh rạch các giá trị này còn cao hơn nhiều Hàm lượng Oxy hòa tan (5-7mg/l), SO; (2-10mg/l), độ pH trung tính hoặc hơi kiểm (7,0- 7,8) độ đục thấp, độ mặn từ Kế Sách đến Thốt Nốt trong mùa khô nhổ hơn 0,4 phần ngàn
Hàm lượng phiêu sinh cao (Thực vật phiêu sinh từ 30.000 - 700.000 cá thể/m động vật phiêu sinh 900 - 9.000 cá thể/m và động vật đáy từ 3 -
26g/m” Tất cả các yếu tố chất lượng nước đó cho phép phát triển tôm cá nước ngọt trong Tỉnh
Tại Sóc Trăng có 152 loại cá đã được xác định
* Hệ sinh thái nước lợ và cửa sông:
Sản lượng vùng cá nước lợ và cửa sông cao hơn các vùng khác vì đây là vùng tiếp giáp giữa sông và biển, có nguồn dinh dưỡng dồi dào, nơi cư trú và phát triển nhiều loại thủy sinh thực, động vật
Độ mặn, độ oxy hòa tan thích hợp, lượng chất dinh dưỡng dồi dào, là điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển thủy sản tại Sóc Trăng
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu tại cửa sông Cữu Long và ven Biến Đông
có tới 661 loài cá, trong đó 50 loài có giá trị kinh tế Theo báo cáo của Ủy
Ban sông Mêkông quốc tế (Pantalu, 1986) tại cửa sông và ven biển sông Cữu Long có trên 300 loài cá bao gồm cá nước ngọt, nước lợ và nước mặn Tại vùng sông Hậu có trên 152 loài cá thuộc 13 bộ được xác định, trong đó
có bộ có số lượng cao nhất là Perciformes (42 loai), Cypriniformes (40 loai),
Trang 16Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
Pleuronectiformes (4 loài), Tetradontiformes (3 loài), Siuriformes (35 loài), Beloniformes (5 loài)
* Phiêu sinh phù du:
Do ảnh hưởng của triều mạnh nên trong thành phần động vật phiêu sinh, thực vật phiêu sinh và động vật đáy ở các kênh rạch thành phần loài gốc biển di nhập vào nội địa, chiếm ưu thế về thành phần và số lượng, đặc biệt
là các tảo thuộc ngành tảo Silic, các loài giáp xác chân chèo, các loài động vật đáy thuộc các vun nhiều tơ
Do ảnh hưởng của thủy triều mạnh, cấu trúc thành loài và thành phần định lượng động vật phiêu sinh, ưu thế thuộc loài giáp xác chân chèo Tuy nhiên
do đặc tính môi trường khác nhau nên giữa các vùng có sai khác về nhóm loài như thế :
+Ổ vùng Long Phú - Sóc Trăng: Ưu thế là loài nước lợ điển hình Acartia clausi, loài nước lợ nhạt Acariella Sinensoic ỞỔ vùng Long Phú - Sóc Trăng
là tảo Silic gốc biển
+ O vùng Long Mỹ - Vị Thanh: Ưu thế thuộc về giáp xác chân chèo nước ngọt Trong thành phần thực vật phiêu sinh, vùng Long Mỹ - Vị Thanh, ưu thế là tảo sợi Spirogyraps
Điều đó phần ánh đúng nền nội dung đặc trưng của mỗi vùng
1.2 DIEU KIEN KINH TE-XA HOI TINH SOC TRANG
Các chỉ tiêu cơ bản về kinh tế xã hội tỉnh Sóc Trăng từ năm 1991 - 1993 được tóm tắt trong bảng I.1 (Phụ lục I)
Trang 17Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
I.2.2 Tổ chức hành chánh
Về mặt hành chánh cả Tỉnh Sóc Trăng có: 01 thị xã (TX Sóc Trăng) và 06 huyện (Long Phú, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu, Thạnh Trị, Mỹ Tú, Kế Sách)
I.2.3 Điều kiện kinh tế
Sóc Trăng là một Tỉnh có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản và là một Tỉnh xuất khẩu gạo đứng hàng đầu
ở ĐBSCL
Công nghiệp Sóc Trăng nhìn chung ở tình trạng phát triển còn nghèo nàn, rời rạc, thiếu đầu tư vốn Công nghiệp mũi nhọn tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chế biến thủy, hải sẵn xuất khẩu và chế nông sản
Nền kinh tế và các mặt văn hóa - xã hội của Sóc Trăng sẽ phát triển mạnh hơn trong những năm tới nếu chiến lược phát triển của Tỉnh dựa trên cơ sé
sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và điều kiện sinh thái của địa phương
Các bảng I.3-I.6 đưa ra danh mục thống kê sản lượng ngành chăn nuôi và lâm nghiệp của Tỉnh Từ các bảng này cho thấy ngành chăn nuôi ở Sóc Trăng có tỈ trọng khá lớn trong các ngành kinh tế quốc dân của Tỉnh
12.4 Cấp nước và vệ sinh môi trường
Qua điều tra tháng 09/1995 (thực hiện chỉ thị 200/TTg) trong toàn Tỉnh cho thấy :
I.2.4.2 Về vệ sinh môi trường
- Có 52,13 % hộ có cầu tiêu gia đình Trong đó:
Trang 18Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
+ 13,61 % hộ có cầu tiêu hợp vệ sinh
+ 38,52 % hộ có cầu tiêu không hợp vệ sinh
+ 47,87 % hộ không có cầu tiêu (đi tiêu trên sông rạch, ruộng, vườn)
a
- Tap thé:
+ Nhiều trường học ở huyện, xã không có cầu tiêu, giếng nước
+ 70% Y tế đã không đảm bảo nước sạch và cầu vệ sinh, chất thải Y Tế không có biện pháp xử !ý tốt, kể cả vật phẩm Y Tế
+ Nhiều cơ quan đơn vị cấp huyện, xã không có cầu tiêu và nước hợp vệ sinh để sinh hoạt (còn sử dụng ao cá tra, dòng nước sông)
+ 80% nơi công cộng như : Bến xe, bến tàu, chợ xã, thị trấn, thị tứ đều không có cầu vệ sinh phục vụ cho khách vãng lai
+ Nhiều cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, lò đường không quan tâm đến việc xử lý nước thải
Trang 19Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
CHƯƠNG HAI
CÁC NGUỒN GỐC CHÍNH GÂY Ô NHIỄM NƯỚC MẶT
TỈNH SÓC TRĂNG
II.1 Ô NHIỄM DO CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN
Nguồn nước mặt tại tỉnh Sóc Trăng bị ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên sau
triểu của cả hai biển Đông và Tây Chế độ bán nhật triều thịnh hành ở biển
Đông với biên độ triều thay đổi đến 2,5-3,0m và chế độ nhật triều chủ đạo ở
biển Tây với biên độ triều 0,4 - 1,2m Do vậy việc xâm nhập mặn từ biển Đông theo sông Hậu, sông Mỹ Thanh và các kênh rạch vào sâu nội địa xảy
ra rất dễ dàng đặc biệt trong mùa nước kiệt
Trừ huyện Kế Sách và một phần của Mỹ Tú, Long Phú có nước ngọt quanh năm, hầu hết diện tích tỉnh Sóc Trăng (bao gồm huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Long Phú, thị xã Sóc Trăng, Thạnh Trị và phía Nam Mỹ Tú) nằm trong vùng nhiễm mặn với mức độ khác nhau
Mức độ nhiễm mặn ở các huyện này rất khác nhau phụ thuộc theo lưu lượng của hệ thống sông Cửu Long trong từng thời kỳ và phụ thuộc vào vị trí đặc điểm địa hình từng vùng
II.1.2 Nhiễm phèn
So với các Tỉnh khác trong vùng ĐBSCL, nhiễm phèn nước ở Sóc Trăng không nghiêm trọng bằng Ở Sóc Trăng nước chua phèn chỉ tập trung phần lớn ở huyện Mỹ Tú
Trang 20Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
H.1.3 Xói mòn
Xói mòn làm tăng độ đục, hàm lượng phù sa trong nước mặt Tuy nhiên hàm lượng phù sa lại phụ thuộc lưu lượng sông Hậu
H.2 Ô NHIỄM DO HOẠT ĐỘNG CUẢ CON NGƯỜI
II.2.1 Các nguồn gây ô nhiễm chính tại Sóc Trăng
Sóc trăng là một trong các tỉnh vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL),
có điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi, hợn 2/3 diện tích đất bị nhiễm phèn và nhiễm mặn: đặc biệt nhất là vào mùa khô, điều này đã gây không ít khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt cho nhân dân
Trong vài năm trở lại đây, nhiều chính sách cải tạo, đổi mới phù hợp với điều kiện tự nhiên của Tỉnh, các hoạt động kinh tế - xã hội - văn hóa có chuyển biến và phát triển tốt, mức sản xuất nông nghiệp được nâng cao dần các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển khá mạnh như mặt hàng: Nước giải khát, rượu bia, đông lạnh, xay xát nhà máy chế biến nấm rơm, củ hành, nhà máy đường
Mặt dù mới bước đầu phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, dưới sự mổ ra của các cơ chế mới thị trường Nhưng môi trường Sóc Trăng đã bắt đầu bị ô nhiễm đặc biệt đối nguồn nước có nơi, có lúc đến mức nghiêm trọng
Nhìn chung do nhiều yếu tố gây ra mầm móng ô nhiễm, nhưng không thể không kể đến điều kiện kinh tế, trình độ dân trí thấp, tÏ lệ sinh để còn cao (2,14 %), trình trạng ăn ở kém vệ sinh còn phổ biến từ thị xã đến thị trấn và nhất là vùng nông thôn
- Tại thị xã Sóc Trăng hầu hết hệ thống cống rãnh thoát nước đều bị hư hỏng nặng, việc xây nhà cửa trái phép không theo quy hoạch, lấn chiếm lòng lề đường gây tắc nghẽn cống thoát nước, ứ động thành ổ chứa và sinh sản các loài côn trùng, vi trùng gây bệnh, nhất là vào mùa mưa nước tràn
lênh láng cuốn theo rác ruéi, chat ban
- Tình trạng nuôi gia súc thả rong (Trâu, Bò, Heo), thải phân rải trên mặt đường quanh trường học, bệnh xá, nhà ở, mất về mỹ quan, gây ô nhiễm môi trường như : Thị Trấn Ngã Năm, Mỹ Quới, Châu Hưng, Đại Ngãi, Lịch Hội Thượng, Bố Thảo, Bưng Chóp, Sóc Vồ,
Trang 21Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
- Phân, rác, chất thải tại thị xã không thu gom kịp thời, chưa qui hoạch bãi
đổ rác tập trung gây ra mùi hôi và ô nhiễm nguồn nước Đặc biệt vùng nông thôn, thị trấn không có bãi rác tập trung, phần lớn đổ dồn xuống sông, kênh rạch mương nhiều công trình thủy lợi thiếu cống làm tắc nghẽn giao thông, nước đen ngòm, bốc mùi hôi
- Các hàng quán, dịch vụ ăn uống trên vỉa hè, đường phố sử dụng nước thiếu vệ sinh gây ảnh hưởng sức khỏe nhân dân
- Việc sử hóa chất trong nông nghiệp còn tùy tiện không tuân thủ qui định chung
- Các cơ sở sửa chữa còn tập trung ven sông, việc thải nước, cặn bã, dầu
mỡ xuống sông còn rất phổ biến đã góp phần gây ô nhiễm các sông trong Tỉnh
II2.2 Ô nhiễm do chất thải từ khu dân cư
lI.2.2.1 Nước thải từ các khu dân cư
Nếu tính trung bình hằng ngày lượng nước sử dụng trong sinh hoạt của mỗi người dân của tỉnh Sóc Trăng là 100 lI/người Lượng BOD (nhu cầu Oxy sinh hóa - đơn vị sẽ tính hàm lượng ô nhiễm chất hữu cơ) trung bình là 45 g/người/ngày, thì mỗi ngày gần 1,2 triệu dân ở Sóc Trăng (dân số tỉnh Sóc
Trăng năm 1994) sẽ đưa vào môi trường là 120.000 mŠ nước thải trong đó
có 53 tấn BOD; 1,2 tấn phốtpho; 12,8 tấn nitơ Nếu tính luôn chất thải từ 20.710 Trâu Bò và 178.020 con Heo và hàng triệu gà vịt (thống kê năm 1994) thì lượng BOD hàng ngày có thể lên đến 100 tấn và hàng năm 36.500 tấn
Đa số các hộ dân cư và chuồng trại nuôi tập trung vào phân bố theo ven sông, rạch Việc đưa chất thải trực tiếp không có hệ thống xử lý chất thải nên hầu hết số lượng hữu cơ trên đưa vào sông rạch gây trình trạng ô nhiễm chất hữu cơ nặng nề
lI.2.2.2 Hác thải từ các khu dân cư
Nếu ước tính trung bình mỗi năm 1 người dân thải ra khoảng 150 kg rác thì lượng rác thải ra hàng năm tại Sóc Trăng sẽ khoảng 180.000 tấn/năm
Trang 22Xây dựng phương an xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
cơ khá lớn thải ra từ các chợ trong thị xã Kết quả này rất quan trọng, nó chỉ
ra hướng xử lý cuối cùng đối với công tác quản lý chất thải rắn của thị xã Với tỷ lệ thành phần chất hữu cơ khá lớn như trên thì hướng xử lý tốt nhất là làm phân rác
- Các chất có thể tái sử dụng được như giấy, nhựa, kim loại tuy tỷ lệ không cao nhưng cũng có thể tiến hành thu gom để tái sữ dụng Công việc này không ngoài mục đích tách bớt thành phần khó phân hủy trong rác thải, day nhanh quá trình phân hủy rác trong tự nhiên
- Các thành phần như các chất độc hại có tỷ lệ thấp do lượng rác thải từ các bệnh viện không được thu gom chung
- Các chất hữu cơ khó phân hủy, các chất có thể cháy, xà bần các loại cũng
có tỷ lệ khá cao do lượng lá cây, cành cây khô khá lớn, các loại đất đá, xà bần chủ yếu từ công việc quét dọn, xà bần từ các công trình xây dựng
thường được bán để san lấp mặt bằng
II.2.3 Ô nhiễm từ hoạt động sẵn xuất nông nghiệp
Trong những năm gần đây diện tích lúa cao sản tại Sóc Trăng và số thời vụ đều tăng (2-3 vụ/năm) Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng thì năm 1994 diện tích đất nông nghiệp toàn Tỉnh là 226.926 ha, diện tích trồng lúa địa phương ngày càng bị thu hẹp, vấn đề đầu tư các lúa cao sản, năng suất cao đáp ứng nhu cầu tăng sản lượng lúa gạo nhưng lại
có nhược điểm lớn về mặt sinh thái Việc canh tác một năm nhiều vụ buộc người dân phải xử lý đất nhiều lần gây giảm độ phì nhiêu của đất, buộc phải tăng cường lượng phân bón ngày càng nhiều, vấn đề độc canh cây lúa đã tạo ra các kẽ hở cho các loại côn trùng, dịch bệnh và cổ dại phát triển, do
đó phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng nhiều
Năm 1990 theo thống kê của ngành nông nghiệp thì lượng thuốc bảo vệ thực vật ở các Tỉnh phía Nam là 5.615 tấn, bao gồm 78 loại hóa chất Riêng ở vùng ĐBSCL là 2.112 tấn với 35 loại hóa chất Các nhóm hóa chất chính là
Trang 23Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
phốtpho hữu cơ (Basudin, Metamidophos, parathion Metyl, Dimecron); Cacbamat (Bssa, Saturn, Paradan, ); Cyper throid (Decis, Cyperme thrin); các Clo hữu cơ (Lindan; 2,4 D; DDT ) Một số hóa chất có độc tinh sinh thái rất mạnh như : Cyperthroid (với tôm, cá); phốtpho hữu cơ (với động vật
có vú và tôm cá) được sử dụng ngày càng nhiều
Như vậy thuốc trừ sâu sử dụng trong nông nghiệp là nguồn gây ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên và tác hại sức khổe lâu dài, nhất là vùng lúa thâm canh của Sóc Trăng
II.2.4 Ô nhiễm từ hoạt động giao thông đường thủy
Với mạng lưới sông rạch dây đặc nối với sông Hậu và giáp Biển Đông, hệ thống giao thông đường thủy của Sóc Trăng rất phát triển Từ mỗi xã của
các huyện trong Tỉnh, bằng ghe tàu gắn máy có thể đi ra Biển Đông, Biển
Tây, xuống Minh Hải hoặc lên Cần Thơ Như vậy với hàng trăm tàu thuyền lớn nhổ và hàng ngàn vỏ lãi, đuôi tôm Sông rạch Sóc Trăng sẽ chịu một phần lớn ô nhiễm do các chất thải dầu mỡ, chứa hữu cơ từ các hoạt động giao thông đường thủy Ta thấy vấn đề ô nhiễm dầu có tác hại rất lớn đối với thủy sinh, rừng ngập mặn và cấp nước sinh hoạt
Ngoài ra còn có thể kể đến ô nhiễm các nguồn từ ngoài Tỉnh Với 72 km bờ
biển Sóc Trăng có thể nhận các chất ô nhiễm từ Đại Dương (như dầu loang
từ các sự cố) tàu biển hoặc quá trình khai thác dầu ở thềm lục địa, các hoạt động từ vùng thượng nguồn Các chất này sẽ theo thủy triều vào sông Hậu, sông Mỹ Thanh và kênh rạch xâm nhập vào sâu trong đất liền
1.2.5 O nhiễm do chất thải từ hoạt động công nghiệp, dịch vụ
Tỉnh Sóc Trăng có nền công nghiệp tương đối nhỏ so với các Tỉnh khu vực ĐBSCL, trình độ công nghệ lạc hậu, lỗi thời Tại thị xã Sóc Trăng tập trung một số ngành nghề như: Chế biến thủy sản, chế biến nấm rơm, đường, lò mỗ, trong quá trình hoạt động sản xuất thường gây ô nhiễm nguồn nước mặt do hầu hết các cơ sở đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, thường đưa thẳng ra sông rạch, kênh mương gây trình trạng ô nhiễm trầm trọng
Kết quả phân tích nước thải tại một số cơ sở sản xuất, dịch vụ được đưa ra trong phụ lục V
Trang 24Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
Vấn đề khá nổi bật là: Các cơ sổ đều nằm trong khu vực dân cư do đó sẽ gặp khó hkăn rất lớn đối việc xử lý Ngoài ra, thị xã Sóc Trăng có hệ thống thoát rất kém, dễ thấm xuống đất, đây cũng là nguyên nhân chính gây tác động có hại tới nguồn nước mặt, nước ngầm trong tương lai gần khi quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa của Tỉnh phát triển
Trang 25Xây dựng phương án xử lý ô nhiễm các nguồn nước mặt dùng cho ăn uống và sinh hoạt
ở nông thôn Sóc Trăng
CHƯƠNG BA
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM CÁC NGUỒN NƯỚC MẶT
TẠI TỈNH SÓC TRĂNG
HI.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM DO CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN
Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại Sóc Trăng được đưa ra trong phụ luc Hl, IV
11.1.1 Đánh giá mức độ nhiễm mặn
Dựa vào kết quả xác định độ mặn trong nhiều năm (1989-1995) và các đường đẳng mặn (0,4 và 4 %) có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 2 vùng chính:
- Vùng nước ngọt quanh năm gồm: Huyện Kế Sách và một phần của Mỹ Tú Long Phú
- Vùng nước bị nhiễm mặn theo mùa: Bao gồm huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Long Phú, thị xã Sóc Trăng, Thạnh Trị và phía Nam Mỹ Tú Như vậy hầu hết diện tích tỉnh Sóc Trăng nàm trong vùng nhiễm mặn với mức độ
khác nhau
Việc nhiễm mặn gây cản trổ cho phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong vùng Tuy nhiên, hệ sinh thái vùng cửa sông nơi có ảnh hưởng của nước biển là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, là cơ sở tự nhiên cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn,
nước lợ,
lII.1.2 Đánh giá mức độ nhiễm phèn
Mức độ nhiễm phèn ở Sóc Trăng tương đối nhẹ so với các tỉnh khác Vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên có độ pH >=5 Mặt dù mức độ nhiễm phèn ở Sóc Trăng còn nhẹ nhưng nó cũng gây trở ngại rất lớn cho phát triển nông nghiệp, thủy sản, cấp nước sinh hoạt và bảo vệ tài nguyên
sinh học