1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bảo vệ đa dạng sinh học ở việt nam báo cáo kết quả của dự án nghiên cứu

65 381 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 21,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược này đã xác định 5 nhiệm vụ bảo vệ chính, trong đó có: - Bảo vệ các quá trình sinh thái và các hệ đảm bảo cho đời sống của con người; - Bảo vệ sự giàu có của đất nước về tài

Trang 1

R

Trang 2

Báo cáo khoa học 2b†

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH XÃ VÙNG ĐỆM KỲ THƯỢNG, KỲ ANH

THUOC KHU BAO TON THIEN NHIEN KE GO, HÀ TINH

Tac gia:

KS DUGNG NGUYEN THUY

Sở Khoa học công nghệ và Môi trường, Hà Tĩnh

PTS NGUYỄN CỬ

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia

Trang 3

MO ĐẦU

Giống như nhiều nước đang phát triển khác ö trên thế giới, trong nhiều năm qua Việt Nam đã phải chịu nạn "ô nhiễm môi trường" do nghèo dói Sự tăng trưởng dân số

nhanh và chậm phát triển về kinh tế trong những thập kỷ vừa qua đã gia tăng sự suy

giảm tài nguyên rừng, đất, nước ngọt, biển; tổn thất không thể bồi hoàn về tài nguyên khoáng sản, năng lượng và mất đi sự giàu có về tài nguyên sinh vật Chiến tranh kéo

đài gần như liên tục từ năm 1945 tói năm 1975 đá dem thêm vào tình trạng suy thoái vốn đã trầm trọng ấy những sự phá hoại to lón về sinh thái Sau lúc hòa bình được lập lại trên cả nước vào năm 1975, việc khôi phục lại môi trường bị hủy hoại, việc bảo vệ môi trường và các tài nguyên thiên nhiên nhằm cải thiện đồi sống của nhân dân và xúc tiến phát triển bền vững trỏ thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của quốc gia

Năm 1985, Chương trình quốc gia nghiên cứu về Tài nguyên và Môi trường (TNMT)

đã đề xuất với Chính phù Cộng hòa Xã hội Chù nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN)

Chiến lược quốc gia bảo vệ thiên nhiên và môi trường (CLBV) Chiến lược này đã xác

định 5 nhiệm vụ bảo vệ chính, trong đó có:

- Bảo vệ các quá trình sinh thái và các hệ đảm bảo cho đời sống của con người;

- Bảo vệ sự giàu có của đất nước về tài nguyên di truyền của các giống loài nuôi

trồng, thuần hóa và hoang dại có giá trị lâu dài đối vdi nhân dân Việt Nam và

nhân loại,

Tháng 6 năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng CHXHCNVN dã ký Kế hoạch hành

động quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững (MTPTBV) Kế hoạch thiết lập

7 chương trình hành động, trong đó có:

- Chương trình bảo vệ đa dạng sinh học;

- Chuong trinh bao vé cdc ving ddt ngap nude; 7

- Chương trình cải tiến việc quân lý các vườn quốc gia, các khu bảo vệ và duy trì

các giống loài động thực vật quý hiếm

Trang 4

Trong khuôn khổ của việc thực hiện các chương trình hành động này, Chương trình

quốc gia nghiên cứu về môi trường đã tiến hành các đề tài nghiên cứu dài hạn nhằm:

- Xác dịnh các nhân tố cấu thành đa đạng sinh học có ý nghĩa quan trọng đối vói

sự bảo vệ và sử dụng tính đa dạng này một cách lâu dài;

- Xác dịnh các phạm trù hoạt động có ảnh hưởng bất lợi một cách nhạy cam tdi

việc bảo vệ và sử dụng đa dạng sinh học;

- Nghiên cứu và thực nghiệm các biện pháp thực hành để xúc tiến việc bảo vệ và

sử dụng họp lý tính đa dạng sinh học

Sau Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu của Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển

bền vũng, CHXHCN Việt Nam đã tham gia Công udc vé đa dạng sinh học Các hoạt

động cụ thể nhằm bảo vệ da đạng sinh học và nghiên cứu liên quan đã có bước phát

triển mới Tổ chức hợp tác văn hóa và kỹ thuật (ACCT) của các quốc gia cùng sử dụng

chung tiếng Pháp đã giúp đõ Việt Nam thực hiện các dé tai nay dudi dang dy án "Bảo

vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam", Có số Việt Nam thực hiện dự án là Chương trình

quốc gia nghiên cúu bảo vệ môi trường, hợp tác chủ yếu với Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường của Đại học Tổng hợp Hà Nội và Viện nghiên cúu Sinh thái và Tài nguyên sinh học của Trung tâm quốc gia về khoa học tự nhiên và công nghệ,

Ban thỏa thuận về dự án đã được ký ngày 25 tháng 5 năm 1993 tại Paris bỏi, một bên

là ông Alfred Rakotonjanahary, Tổng Giám đốc Họp tác Kỹ thuật và Phát triển Kinh

tế, đại diện ACCT, một bên là Ngài Trịnh Ngọc Thái, Dại sứ CHXHCNVN tại Pháp,

đại điện cho Chương trình quốc gia NCMT

Dự án dự kiến việc thực hiện 2 loại hoạt động:

Loại hoạt dộng thú nhất

Tang cường các hoạt động diều tra, khảo sát, nghiên cứu, liệt kê về các nhân tố cấu

thành tính da dang sinh học; đánh giá giá trị sinh thái, kinh tế của các nhân tố này đối

với bảo vệ và phát triển bền vũng

Các hoạt động này đã được thực hiện trên tất cả các vùng sinh thái ở trong nước (Hinh 1) Kết quả nghiên cứu trình bày trong 4 báo cáo:

Trang 5

Báo cáo la: "Đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước ỏ Việt Nam", phản ánh kết

- quả của các hoạt động đâ được tiến hành tại các tỉnh Thái Bình (Châu

Báo cáo Ib:

Báo cáo lc:

Báo cáo 1d:

thổ Sông Hồng, vùng /a/) và tỉnh Đồng Tháp (Châu thổ Sông Cửu Long,

vung /h/)

"Nghiên cứu tính đa dạng sinh học vùng rừng tỉnh Tuyên Quang và

kiến nghị các biện pháp bảo vệ nhằm đảm bảo duy trì lâu đài", phản

ánh kết quả hoạt động tại tỉnh Tuyên Quang (vùng núi phía Bắc, vùng

/)

"Bảo vệ đa dạng sinh học tại tỉnh Hà Tĩnh", phản ánh kết quả hoạt

động tại vùng ven biển miền Trung (vùng /e/)

"Bảo vệ đa dạng sinh học tại 5 vùng sinh thai 6 Việt Nam", phản ánh

kết quả nghiên cứu bước đầu tại vùng Đông Bắc phía Bắc (vùng /b/, vùng Cao nguyên miền Trung (vùng //), vùng Đông Nam phía Nam

(vùng /g/) và các đảo ven biển

Loại hoạt động thứ hai

Thực hiện các hoạt động thực tế để bảo vệ và cải thiện da dạng sinh học, bao gồm việc chuẩn bị các kiến nghị về quản lý các vườn quốc gia và khu bảo vệ, giúp các cộng đồng nhân dân trong quản lý tài nguyên sinh vật tại địa phương; tăng cường các hoạt

động của các trạm thực nghiệm về báo vệ và đánh giá tác động môi trường của một

số hoạt động khai thác tài nguyên sinh vật

Kết quả hoạt động được trình bày trong các báo cáo sau:

Báo cáo 2a:

Báo cáo 2b1:

"Vườn quốc gia và khu bảo vệ ở Việt Nam", với sự đánh giá công tác

bảo vệ và những khuyến cáo để cải tiến quản lý các vườn và các khu

này

"Xây dựng mô hình xã vùng đệm Kỳ Thượng, Kỳ Anh thưộc khu bảo

tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, Hà Tĩnh", với các khuyến cáo về sử dụng các tài nguyên sinh vật cho cộng đồng dịa phương cư trú gần khu bảo vệ

Trang 6

Báo cáo 2b2: "Nghiên cứu xây dựng một làng vùng đệm vườn quốc gia Cúc Phương”,

vi các khuyến cáo về sử dụng tài nguyên sinh vật cho cộng đồng sinh

sống gần vườn quốc gia

Báo cáo 2c: "Khôi phục, phát triển sự sinh đẻ và nuôi các động vật quý hiếm trong

vườn quốc gia Ba Vì", với các khuyến cáo nhằm tăng cường các hoạt

động của Trạm thực nghiệm về vấn đề này

Bo cdo 2d; "Tài nguyên cây thuốc ở Són La và kết quả nghiên cứu trồng thử

nghiệm một số loài cây có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn La", vói

các khuyến cáo nhầm tăng cường hoạt động bảo vệ tích cực

Báo cáo 2e1: "Đánh giá tác động môi trường của các trại nuôi trồng thủy sân và

đánh bắt hải sân tới tính đa dạng sinh học và môi trường vùng ven biển

phía Bắc Việt Nam", vói các khuyến nghị giảm bót các tác động tiêu cực

tói môi trường

Báo cáo 2e2: "Tñc động ONE của các hoạt động at dg kinh tế - xã hội tới đa dang sinh học của

các rửng ngập mặn cửa sông, ven biển phía Nam Việt Nam", với các

khuyến cáo nhằm giảm bót các tác động tiêu cực tói môi trường

Nghiên cúu về da dạng sinh học trên lãnh thổ Việt Nam, về việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tính đa dạng này vào phát triển bền vũng của quốc gia và góp phần ngăn chặn

suy thoái đa dạng sinh học trên thế giỏi là sự nghiệp lâu dài Các hoạt động của

Chương trình quốc gia nghiên cứu môi trường, phối họp với trọ giúp của ACCT trong phạm vị dự án này đã đem lại một số kết quả ban đầu và duọc trình bày trong báo cáo này của dự án Các kết quả đó có giá trị khoa học quan trọng với nhiệm vụ bảo

vệ da dang sinh hoc ö Việt Nam, và chứa đựng những khuyến cáo thực tế cho việc sử

dụng tài nguyên này phục vụ sự nghiệp phát triển bền vũng tại một số địa phương cũng như chung cho cả nước

Những người chủ biên báo cáo và các tác giả các báo cáo cụ thể của dự án hí vọng rằng, trên cơ sở các kết quả đá thu dược trong khuôn khổ của dự án, Chính phủ CHXHCNVN và ACCT sẽ tiếp tục sự giúp đô và tài trợ cho việc phát triển nghiên

cúu và thực nghiệm về bảo vệ da dang sinh hoc 6 Viét Nam.

Trang 7

25, Quang Binh ©- Vùng Tây Bắc

26 Quang Tri d- Vùng núi phía Bắc

27 Thua Thien - Huo ø - Vùng bở biển miễn Trung

28 Quang Nam - Da Nang (- Vùng cao nguyên miền Trung

29 Quang Ngai g - Vùng Đông Nam miền Nam

30, Kon Tum

31 Gia Lai h- Vũng châu thể sông Mê Kông

32 Dac Lac i- Cac daa ven hở

Trang 8

LOI CAM ON

Những người biên tập và tác giả bản báo cáo này xỉn chân

thành cám dn dng Jean Louis Roy, “Tổng Thư ký Tổ chức

Họp tác Văn hóa và Kỹ thuật của ACCT; ông Alfred

Rakotonahary, Tổng Giám đốc Hợp tác Ký thuật và Phát

triển Kinh tế của ACCT; ông Nguyễn Thọ Nhân, chuyên viên

cao cấp của ACCT; Ngài Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Pháp; Bộ Khoa học, Công

nghệ, Môi trường Việt Nam; Ủy ban Nhân dân các tỉnh

Tuyên Quang, Hà Giang, Lao Cai, Lai Châu, Ninh Bình, Hà Tinh, Ha Tay, Son La, Vinh Pha, Ha Noi, Quang Ninh, Dong

Thap, Daklak, Gia Lai Kontum, Dong Nai, Minh Hải; các cơ

SỐ nghiên cứu và thục nghiệm của Dai hoc Tong hop Hà Nội,

Đại học Sư phạm Hà Nội, Trung tâm Quốc gia về Khoa học

Tụ nhiên và Công nghệ đã giúp đõ về chuyên môn và tài

chính cho việc thực hiện dự án nghiên cứu này

Trang 9

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIÁ THỰC HIỆN ĐỰ ẤN

GS, Dang Huy Huynh, Viện trưởng Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vat, Trung

tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia

GS Phạm Bình Quyền, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Đại học Tổng hộp Hà

GS Võ Quý, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, DHTH Hà Nội

GS Lé Ba Thao, Dai học Sư phạm Hà Nội I; GS Lê Duy Thước,

GS Mai Dinh Yén, GS Phan Ké Lộc, GS Nguyễn Quang My, PTS Nguyễn Văn Sáng, KS Đặng Văn Thẩm, KS Nguyễn Hữu Tứ

GS Võ Quý, Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, ĐHTH Hà Nội _ KS Đường Nguyên Thụy, Sở Khoa học công nghệ và Môi trường Hà Tĩnh; PTS Nguyễn Cử, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trung

tâm KHTN và CNQG

GS Lê Vũ Khôi, KS Đặng Đình Viên, Đại học Tổng hợp Hà Nội

6

Trang 10

Trung tam KHTH va CNQG PTS Tran Đình Đại, KS Nguyễn Trung Vệ, Viện sinh thái và Tài

nguyén sinh vat, Trung tim KHTN va CNQG

GS Phan Nguyên Hồng, Dại học Sư phạm Hà Nội I

GS Đoàn Cảnh, KS Phạm Văn Miên, KS Đồ Bích Lọc, KS

Truong Quang Tam, KS Va Ngoc Long, Phân viện sinh thái và Tài

nguyên sinh vật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

Đa dạng sinh học của đất ngập nước ỏ Việt Nam

Nghiên cứu đa dạng sinh học của hệ sinh thái rùng Tuyên Quang và

các giải pháp phát triển vững bền

Bao tn da dang sinh hoc Ha Tinh

Về nghiên cứu đa dạng sinh học tại các vùng tiêu biểu:

Bước đầu phân tích tính đa dạng sinh học của hệ động thực vật các

đảo của Việt Nam

Bước đầu phân tích tính da dạng sinh học của lãnh thổ Tây Bắc Việt Nam

Kiểm kê và nghiên cứu về đa dạng sinh học của vùng sinh thái Đông Bắc Việt Nam

Kiểm kê và nghiên cứu da đạng sinh học của vùng sinh thái Đông

Nam Bộ Việt Nam

Bảo vệ đa dạng sinh học vùng Tây Nguyên Việt Nam

TẬP 2

Vườn quốc gia và khu bảo vệ thiên nhiên ö Việt Nam Nghiên cứu xây dụng mô hình xá vùng đệm Ky Thuong, Ky Anh thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gố, Hà Tĩnh

Nghiên cứu xây dựng làng vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương

Phục hồi, phát triển nhân nuôi động vật quý hiếm tại Vườn quốc gia

Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với tính đa

đạng sinh học và môi trường vùng ven biển Nam Bộ Việt Nam

Trang 12

Xu LỤC

XÂY DỰNG MÔ HÌNH XÃ VÙNG ĐÊM KỲ THƯỢNG, KỲ ANH,

THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KẺ GỖ, TỈNH HÀ TÍNH

Tập quán sản xuất và đặc trung riêng của cư dân vùng đệm

Các tập quán sản xuất của cư dân vùng đệm

Nội dung xây dựng vùng đệm và mô hình xã vùng đệm Kỳ Thượng

Kỳ Anh, Hà Tĩnh Nguyên tắc chung Các nội dung xây dụng mô hình xã thuộc vùng đệm của khu bảo

tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ Hà Tĩnh Đầu tư các tiến bộ kỹ thuật

Kinh phí xây dựng xã vùng đệm Kỳ Thượng Kỳ Anh Hà Tĩnh

Kiến nghị Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 13

XÂY DỰNG MÔ HÌNH XÃ VÙNG ĐỆM -

KỲ THƯỢNG HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

NGUYEN CU - DUONG NGUYEN THUY

Thang 8 ndm 1993

Trang 14

Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VÙNG ĐỆM

VÀ MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU

Hiện nay nước ta đã quy hoạch một hệ thống các khu vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu cảnh quan văn hóa và môi trường (gọi tắt là rừng cấm quốc gia) vói điện

tích trên 2,3 triệu héc ta, chiếm 6,9% diện tích toàn quốc (Phụ lục 6 trang 146, 147, 148

Dự án tổng quan về lâm nghiệp Việt Nam, Bộ Lâm nghiệp tháng 12/1991) So với chỉ tiêu

10% là cần thiết để bảo tồn chung tính đa đạng sinh học của một quéc gia do IUCN

(Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên) đề nghị thì vấn còn thấp

Song đo đặc điểm riêng của Việt Nam trong thời điểm hiện nay thì con số đó cũng đã thể hiện một sự cố gắng Việc xây dựng và quản lý hệ thống rùng này cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là do gia tăng dân số, và vì thế mà các khu rừng cấm đang bị tác động mạnh mẻ Để bảo vệ được hệ thống khu bảo vệ này việc làm cấp bách nhất là phải

xây dụng các vùng đệm

Vùng đệm là những vùng tiếp giáp, kế cận với khu bảo vệ Giữa vùng đệm và khu bảo vệ luôn luôn có quan hệ mật thiết với nhau Mối quan hệ này tùy thuộc tùng nơi,

từng thời điểm mà có các mức độ khác nhau Nó có thể hỗ trọ bổ sung cho nhau và cũng

có thể ngược lại Nếu vùng đệm có các cộng đồng cư dân sinh sống thì mối tương tác đến khu bảo vệ thường là tác động xấu nhiều hơn là các tác động tốt Các vùng cộng đồng cự

dan nay có các mức độ tác động vào khu bảo vệ khác nhau và có thể chia ra ba mức độ

như sau:

1 Vùng tác động mạnh

Thường là vùng tiếp giáp với khu bảo vệ mà ö đó có cư dân hay vùng gần khu bảo

vệ và thuận tiện về giao thông vận tải Cư đân ö đây từ trước tới nay vấn thường xuyên khai thác các sản phẩm trong khu bảo vệ Do sức ép của tăng dân số, thiếu việc làm, một

lực lượng đáng kể cư dân phải thường xuyên vào khu bảo vệ để kiếm sống Số lượng lao động này đang gia tăng rất nhanh, họ thường sống rất nghèo khổ và làm việc hết sức nặng nhọc Đây là vùng đệm quan trọng nhất, là điểm nút của sự tồn tại hay biến mất của khu

2 Vùng có lực lượng hùng hậu

Thưởng là các địa phương nằm ngoài khu báo vệ, chuyên làm nông nghiệp với một

lực lượng lao động thời vụ khổng Tồ Trong thời điểm nông nhàn dài, họ vẫn thường tranh

thủ vào rừng để khai thác lâm sản chủ yếu là củi đun, đây là lực lượng tạo nên diễn thé:

rừng nguyên sinh biến thành rừng nghèo rồi đồi trọc

Trang 15

3 Vùng môi giới buôn bán lâm sản

Thường là các tụ điểm cư dân buôn bán Ô đây thường có một số người làm nghề mối lái đặt mua cao giá các loại lâm sản quý hiếm để có lồi nhiều như: gố quý, thú quý, chim quý, dược liệu hiếm v.v Họ tiếp tay cho lực lượng phá rừng Khu vực này thường

tập trung vào các đường dây buôn lậu

Vấn đề tổ chức và xây dựng vùng đệm cần phải lưu ý các công việc sau: giúp cho người đân thấy rõ tầm quan trọng của khu bảo vệ, tạo mối quan hệ hữu cơ giữa khu bảo

vệ vói vùng đệm có lợi cho cả khu bảo vệ và cư dân; tổ chức sản xuất tạo thêm việc làm,

tạo thêm thu nhập, cải thiện mức sống, nâng cao sức khỏe, đân trí, thay đổi dần đần các

tập quán sống dựa vào hái lượm từ thiên nhiên, các tập quán gây thiệt hại cho khu bảo

vệ

Sau đây là một số kết quả bước đầu nghiên cứu về vùng đệm, khu bảo tồn thiên

nhiên Kẻ Gề - Hà Tĩnh và một số nội dung xây dựng mô hình xã vùng đệm Kỳ Thượng

huyện Kỳ Anh để làm sáng tỏ phần trên :

Trang 16

Chương 2

CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ VÙNG ĐỆM

VÀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KẺ GỖ - HÀ TĨNH

L VI TRI DIA LY VA VAI NET RIENG VA TIEU VUNG KHi HAU

Vùng đệm và khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ nằm về phía Nam tỉnh Hà Tĩnh có

Với điện tích tự nhiên là 61.515ha

Trong đó: trong ranh giới khu bảo tồn: 26.530ha Trong ranh giới vùng đệm: 34.985ha

Xã Kỳ Thượng là xã có phần diện tích tham gia khu bảo tồn lón nhất là 14.032ha, chiếm 53% điện tích khu bảo tồn và chiếm 68,4% diện tích toàn xã Kỳ Thượng

Vùng này có đặc trưng riêng về khí hậu: (những sai khác so vói bình quân của tỉnh lïà Tĩnh đã được giáo sư Võ Quý đề cập trong báo cáo " Bảo tồn tính đa dạng sinh học của vùng Hà Tĩnh")

4) Chế độ mưa: là tiểu vùng có lưộng mưa cao nhất của Hà Tĩnh, bình quân 2928-

3200 mm hàng năm, cao nhất 4385 mm (Trạm Kỳ Anh 1978) Điều rất đáng chú ý là lượng mưa tập trung rất cao vào tháng 9 và tháng 10, thường đạt 51% lượng mưa cả năm với trận mưa kỷ lục 615 mm ngày 20/9/89 Mua lón thường gây ra lũ lụt, xói mòn nhất là

b) Mùa nóng: các tháng mùa nóng hàng năm là tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Các chỉ số cao nhất thuộc tháng 7 với bình quân tháng là: 246 giồ nắng Nhiệt độ bình quân

cả tháng: 29,7°C, Ẩm độ không khí bình quân: 71% Lượng bốc hơi: 134,9 mm, riêng chỉ

số lượng bốc hơi cao gần bằng 2 lần lượng mưa bình quân trong tháng và gần bằng 20% tổng lượng bốc hơi cả năm

Trang 17

Các chỉ số của tháng 6 và tháng 8 bằng khoảng 90% của tháng 7 Các tháng 6, tháng 7 và tháng 8 là các tháng rất nóng, rất khô hạn và là nguồn gốc của nhiều tai họa

trong sản xuất nông lâm nghiệp ở vùng này, nhất là canh tác trên đất đồi hạn

c) Gió và bao: do đặc trưng riêng của địa hình nên vùng cận bắc Đèo Ngang

thường có tâm báo đi qua Khi báo vào đất liền gặp dãy Trà Sơn và Hoành Sơn chắn ngang sinh ra các luồng xoáy vào vùng Cát Bịn, thường gây thiệt hại nặng cho vùng này

I CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

_ “KE GO - HA TINH

II-1/ Về rừng và thực vật rừng

Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ Hà Tĩnh là một khoảng rùng nguyên sinh lá rộng,

thường xanh, nhiệt đói ẩm, núi thấp, gần biển, thuộc 2 lưu vực: lưu vực hồ Kẻ Gỗ với

dong chinh 14 Mui Tru thuộc huyện Cẩm Xuyên, lưu vực Khe Canh thuộc thượng nguồn sông Ròn với thung lũng lón nhất là Cát Bịn thuộc huyện Kỳ Anh, còn có tên gọi là rùng Mụi tru - Cát Bịn, nằm kẹp giữa hai vách núi hơi cao, gần song song với nhau và song

song với bồ biển Hà Tĩnh Rừng Mụi Tru Cát Bịn là đoạn cuối cha day Tra Son, nơi tiếp

giáp vói Hoành Sơn (Đèo Nưiing) và Truồng Son (biên giới Việt Lào) Nguyên trước đây khu này là rừng gố lón của Hà Tĩnh nên còn có tên gọi là Kẻ Gỗ (Để thuận lợi cho điển giải, báo cáo chúng tôi dùng tên vùng rừng này là khu Kẻ Gố - Hà Tinh)

Địa hình vùng này chỉa cất nhiều bởi các nói thấp bình quân từ 80-130 m, riêng

hai dãy bao quanh cao hơn từ 300-500 m, với các đỉnh núi cao trên 400 m như: Cục Tháo, Núi Bồi, Lê Lê, Kè Đọ, Hồ Nhuay, Bạc Tóc, Mốc Len, Mốc Tâm Lø, trong đó đỉnh Bạc

Tóc cao nhất 518 m vói rất nhiều khe suối lớn nhỏ chằng chịt Các sông suối có dòng

chảy quanh năm và có chiều dài tổng cộng là: - km, bình quân 1km” rừng có: km

sông suối Do có điều kiện địa hình phức tạp và khí hậu khắc nghiệt nên ö đây rất khó xây dựng các công trình giao thông, do vậy mà khu Kẻ Gố tuy nằm cạnh thị xã Hà Tĩnh,

3 phía có cư dân bao bọc song rừng tự nhiên vẫn tồn tại đến hôm nay

Về thực vật rừng: hiện nay chưa có danh lục đầy đủ, song theo Hoàng Minh

Trường, ĐHSP Vinh 1978, thì ö lưu vực Kẻ Gỗ đá thu thập được 414 loài thuộc 130 họ

Hiện trong ranh giới khu bảo tồn đang côn 18.593 héc ta rừng nguyên thủy với khá

nhiều gố kinh tế Theo điều tra kiểm kê, vốn rừng năm 1991 của Sở Lâm nghiệp Hà Tĩnh

vùng rừng này đang còn khoảng 1.437.989m gỗ kinh tế với trữ lượng bình quân từ 50-

130m3⁄a, trong đó có 761ha còn có trữ lượng trên 130m”/ha

Ngoài tính đa dạng về loài của khu hệ thực vật vùng Hà Tĩnh (Giáo sư Võ Quý

4

Trang 18

đã đề cập trong báo cáo "Bảo tồn tính đa dạng sinh học vùng Hà Tĩnh") vùng này là vùng

có nhiều loài gỗ quý có phân bố hẹp như Gọ đỏ Sindora maritina va Go lau Sindora

glabra và loại có trũ lượng lón như Lim xanh Enthrophloeumn fordia, Sén Madhuca pasquieri, Tau Vatica fleuyana Các loài cây thuốc ö đây khá phong phú Hiện nay chưa

có danh mục đầy đủ, nhưng nhân dân hiện nay đang khai thác gần 20 loài để làm dược

liệu sử dụng trong các bài thuốc đân gian và khai thác để bán cho nhiều nơi khác, trong

đó có các loài khai thác được nhiều là: ngũ gia bì Sehaƒffera vetophylia, Thạch xương bồ

-Acorus calamus, Thường són Dichroa ƒebrifuga, Huyết đằng Millettia pachycarpa, Thiên

niên kién Homalonema acomatica, Ci: mai Dioscorca persimili,

Các loài cây kinh tế khác nhu: May Calamus, LA non Licuala thuộc họ Cau

Arecaceae, trong do La nón hàng năm khai thác được trên 22 triệu lá vói giá bắn tại của

rừng khoảng trên 80 triệu đồng (Theo giá bán năm 1992 ông Bùi Tiến Thành Chủ tịch

xã Kỳ Thượng cung cấp)

Về đất rừng chủ yếu là đất màu vàng đỏ, phát triển tại chỗ trên phiến thạch, đinh

dưỡng khá, hơi chua, giữ ẩm tốt, ít có đá lộ đầu, có kết von nhẹ Do điều kiện kiểu địa

hình núi thấp, ít dốc, mưa nhiều nên rừng ở đây tái sinh rất nhanh Một vài lô rừng trước

đây Hội đồng rùng lâm trường Cầm Kỳ có tỉa chọn và tu bổ cải tạo, đến nay sau 15 năm

nhiều lô rừng đá khá đẹp Biện pháp tái sinh tự nhiên có bổ sung các loài cây có giá trị

kinh tế đã bị khai thác kiệt là biện pháp chủ yếu để phục hồi rừng ở vùng này

M-2/ Chim

Rung Ké Gé Ha Tinh da được ICBP (Hiệp hội bảo vệ chỉm quốc tế) xác định là một trong 221 khu vực chim đặc hữu của thế giới Đây là phần tài sản quý của khu bảo

tồn Trong thời gian gần đây, qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả (Võ Quý, Nguyễn

Cử và các cộng sự) đã xác định được Ö vùng này có 238 loài chim gồm 16 bộ, 46 họ, 4 phân họ (có phụ lục kèm theo) Dụ kiến sẽ còn có thêm khoảng 150 loài nữa Trong số các loài chim gap 6 day có 16 loài đã được ghỉ vào Sách Đỏ Việt Nam Điều hết sức quan

trọng là: nhiều loài chim đặc hữu có vùng phân bố hẹp đã thấy ở đây như

- Gà lôi lam duôi trắng: Lophura hatinhensis

- Gà lôi lam mào den: Lophura imperialis

- Trĩ sao: Rheinartia ocellata

- Khudu mo dak: Jabouileia danjoui

- Chich chach m4 x4m: Macronus kelleyi

- Dui cyt bung van: Pitta ellioti

Trang 19

- — Gà so Trung bộ: 4rborophila merlini

x Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensisỹ là loài trĩ đặc hữu có vùng phân bố rất hẹp Theo dự đoán của nhiều chuyên gia về chim, nơi đây còn một quần thể đáng kể

của loài này Trong đợt khảo sát tháng 5 năm 1992, Nguyễn Củ, Trương Văn La, Đường Nguyên Thụy đã tìm thấy loài này ö rừng Kẻ Gố

+ Gà lôi lam mào den (Lophura imperialis) Sau nhiều năm tìm kiếm không thấy,

nhiều nhà nghiên cứu về chim rùng cho rằng nó đã bị tuyệt diệt Mãi đến năm 1989, nhóm nghiên cứu chim rùng Việt Nam phối hợp với chuyên gia ICBP đã thu thập được

1 mẫu chim sống ö Cát Bịn Đây là con vật thứ 3 tìm thấy kể từ khi đặt tên cho nó Theo

Nguyễn Cử và cộng sự khi điều tra qua mô tả của nhân dân địa phương xá Kỳ Thượng -

Kỳ Anh thi kha nang ỏ đây đang còn Gà lôi lam mào đen Như vậy có thể nhận xét vùng

này là nơi còn sót lại những con Lophura ứmperials cuối cùng của trái đất

* Trí sao (Rhebzrtia ocellaia) Nhiều đoàn nghiên cứu về chim rùng đều công nhận ching quan tri sao 6 day nhiéu hon 6 Vườn quốc gia Bạch Mã (Nguyễn Cử et al

1992, Study report to ICBP), mặc đầu Vườn quốc gia Bạch Mã đã được khẳng định là một trong những nơi có chủng quần Trĩ sao lón nhất thế giới (Robson et al 1990 - 1991 unpab report)

+ Ngan cánh trắng (Caửïna scufujafa) là một đối tượng được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Tháng 5/1993, Nguyễn Củ đã phát hiện loài này trên hồ Kẻ

Gỗ Rõ ràng rằng đây là địa danh thứ hai đã thấy Ngan cánh trắng ở Việt Nam

Như vậy chỉ xét về khu hệ chim rừng, khu rùng Kẻ Gồ - Hà Tĩnh là nơi cần được

ưu tiên hàng đầu trong chương trình bảo tồn thiên nhiên quốc gia

H-3/ Thú

Kết quá điều tra cho thấy khu hệ thú ở đây có 51 loài thuộc 10 bộ 24 họ (phụ lục

kèm theo), trong đó có 18 loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, 6 loài có khả năng

da bién mat D6 la: Vudn den Hylobates concolor, Beo lừa Felis bengalensis, Báo gấm Neofelis nebulosa, Báo hoa mai Panthera pardus Các loài đã trò nên rất hiếm và đang có

nguy cơ bị biến mất như: Bò tót (Bos gawrus), Voi (Elephas maximus), Sóc đen (Ratfa bicolor), Séc bay lồn (Petaurista petaurua), Tế tê lông tai (Manis javanica) (Hoang Minh

Khiên, Nguyễn Cử, Đường Nguyên Thụy, 1992 Báo cáo kết quả khảo sát tài nguyên động

vật và chim rừng về Hồ Kẻ Gố - Cát Bịn.)

Trang 20

I-4/ Các loài động vật khác như cá, lưỡng cư, bò sát, thủy sinh côn trùng chưa có kết

quả công bố

Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gồ - Hà Tĩnh là một khu rừng hết sức phong phú,

đáng chú ý là các loài động, thực vật đặc hữu có vùng phân bố hẹp Ngoài ra nơi đây còn

là rừng thượng nguồn của các hồ nước lồn của Hà Tĩnh trong đó hồ lón nhất là hồ Kẻ

Gỗ với trữ lượng nước lúc đầy hồ là 350 triệu mét khối, là nguồn nước sinh sống của hon

20 vạn cư dân, chiếm gần 70% dân số hai huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên

Rừng Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh còn là khu rừng cảnh quan và môi trường phía nam tỉnh

Hà Tỉnh mà tương lai là lá phổi xanh cho khu công nghiệp mỏ sắt Thạch Khê và khu

cảng Vũng Áng Các kết quả nghiên cứu đã trình bày ö trên là những bước ban đầu Để nhận xét đúng hơn nữa về tầm quan trọng của khu rừng cần phải tiếp tục nghiên cứu về

khu hệ thực vật, động vật, các loài thú, chim, lưỡng cư, bò sát côn trùng, thủy sinh vật

v.v

Illy CAC KET QUA NGHIÊN CUU VE VUNG DEM

CUA KHU BAO TON THIEN NHIEN KE GO - HA TINH

Il-1/ Ranh giới vùng đệm

Vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ có diện tích 34985ha (gần 350km”)

Đó là phần diện tích tự nhiên côn lại của 7 xã (đã nêu ỏ phần I chương 2) sau khi đành

phần diện tích xây dụng khu bảo tồn Có thể chia vùng đệm thành các tiểu vùng sau:

- Tiểu vùng phía tây và tây nam giáp huyện Hương Khê và một phần ranh giới chung với tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình là một vùng rùng nguyên sinh khá rộng nối

liền với dây Trường Sơn Đây là một vùng đệm rất tốt cho khu rừng Kẻ Gỗ, không phải đầu tư xây đựng tốn kém

- Tiểu vùng phía bắc và tây Bắc, giáp lưu vực lòng hồ Bộc Nguyên thuộc khu rừng

phòng hộ, cấp nước sinh hoạt cho vùng dân cư và công nghiệp thị xã Hà Tĩnh Vùng này đang được đầu tư xây dụng và quản lý hết sức chặt chẽ Phần còn lại

tiếp giáp với các xã Cẩm Thạch, Cẩm Duệ, Cẩm Quan thuộc huyện Cẩm Xuyên

- — Tiểu vùng phía đông và đông bắc phân cách bởi đường quốc lộ 14 tiếp giáp với

các xã: Cẩm Tiến, Cẩm Phúc, Cẩm Hà, Cẩm Trung, Cẩm Linh, Cẩm Minh huyện

Cẩm Xuyên và Kỳ Phong, Kỳ Giang huyện Kỳ Anh Giữa các xá này và khu bảo

vệ là một khoảng rừng kiệt cây bụi và đồi trọc

- — Tiểu vùng phía nam và đông nam tiếp giáp vói Ky Son, Ky Lam, Ky Van, Ky

Thượng và Kỳ Tây huyện Kỳ Anh

'

Trang 21

Nhìn chung trong toàn bộ khu đệm nói trên, chỉ có phần lãnh thổ thuộc xá Kỳ Thượng và một phần thuộc xã Kỳ Tây là có cư dân sinh sống gần sát với khu bảo tồn

II-2/ Mức độ quan hệ giữa các tiểu vùng của vùng đệm đến khu bảo tồn

thiên nhiên Kẻ Gé - Ha Tinh

Giữa khu bảo tồn và cư dân vùng đệm quan hệ với nhau thông qua ba cửa rùng chính Bằng cách điều tra trực tiếp với các xóm trưởng và lãnh đạo các xã vùng đệm

chúng tôi đã thu được kết quả ban đầu (Biểu phụ lục, Đường Nguyên Thụy, Phan Công

Trịnh và cộng sự tháng 8/1993)

Các nét đặc trứng của 3 của rùng như sau:

1 Của ràng đuòng 22 Kỳ Tiuiong Kỳ Anh:

Đường 22A nguyên là đường quân sự phục vụ chiến tranh chống Mỹ Đoạn đi qua

khu bảo tồn đài 36km Sau khi xây dựng hồ Kẻ Gố, nước dâng cao và đường bị ngập từ

K„ đến K„?, phần còn lại dài 15km trong đó có đoạn dài 6km có thể đi lại bằng xe co

giỏi về phía Kỳ Thượng Đấy là cửa rừng có khối lượng lâm sản vận chuyển đường bộ lón

nhất tù trước cho tỏi nay

Hai xã trực tiếp cửa rừng là Kỳ Thượng và Kỳ Tây Dân số hai xã này có gần 1 vạn người với 3797 lao động, trong đó 651 người có thời gian vào rừng khai thác lâm sản trên

30 ngày trong năm, chiếm 39,9% lao động nam giới (thống kê năm 1992) và thường có

thời gian vào rừng mối chuyến đi từ 2 ngày trỏ lên Chưa điều tra được số lượng lao động tranh thủ vào rừng trong 1 ngày

Các ngành nghề chính của số lượng lao động này là:

+ khai thác gố để làm nhà ỏ và buôn bán dưới mọi hình thức

+ Khai thác song mây hàng hóa

+ _ Săn bắt động vật rừng gồm:

- _ Các loài bán cho thị trường Trung Quốc như : Kỳ đà, Rùa, Ba ba, Tê tê, Trăn, Rắn, Ếch, Tắc ké vv

- _ Các loại sản phẩm tiên thụ tại chỗ như mật ong, thịt thú rừng

- - Các chim thú quý hiếm và lâm sản đặc biệt

+ Khai thác dược liệu

Do không quản lý được nên không thể thống kê hết khối lượng lâm sản khai thác,

song phải nói là đã có một khối lượng khá lón đã mang ra khỏi rừng Qua thị sát các cha:

Kỳ Thượng, Kỳ Sơn, Kỳ Tây, tai mdi phiên chợ, riêng mặt hàng Tê tê cũng có từ 1-3 con, Tắc kè có từ 60-150 con (chợ họp 3 ngày 1 lần) Giá trị ngày công bình quân của 1 người

8

Trang 22

khai thác lâm sản ước tính 8500 đồng, trong khoảng biến động từ 5.000-20.000 đ

Tổng giá trị lâm sản khai thác hàng năm ước tính 568 triệu đồng, trong đó 508

triệu đồng (năm 1992) thu được do khai thác các sản phẩm rừng nói trên cộng với khoảng

60 triệu đồng tiền thu hoạch từ Lá nón do lực lượng lao động vào rùng trong 1 ngày thực hiện

Bình quân 1 nhân khẩu thu được 57.500 đ/năm Nếu tính mức thu nhập cả năm

là 300.000 đ/nhân khẩu thì thu hoạch từ rừng chiếm 19,1% Đây là con số rất khiêm tốn

vì chưa thể thống kê hết được

Cư dân hai xã này có nghề rừng lâu đời, đã thích ứng được cuộc sống đài ngày và liên tục cả ngày và đêm trong rừng Qua các đợt khảo sát rừng chúng tôi đã tìm biểu thời

gian biểu trong rừng của họ là: ngày 2 buổi đi làm nghề chính: cưa gố, khai thác song,

mây, lấy dược liệu, bắt cá, đào tê tê hay lấy mật ong, buổi trưa và chiều tối một số đi đặt

bấy chim, thú, ban đêm họ sơ chế lâm sản, sấy khô mây, giang, cá, thịt thú rừng (nếu thu

hoạch được nhiều) hoặc đi bắt tắc kè, soi rùa, cá Do hoàn cảnh kinh tế, khi vào rừng họ chỉ mang theo gạo và muối nên việc đi săn bắt chim cá và thú làm thức ăn trỏ nên cần

thiết

Lực lượng lao động này thường nghèo khổ và họ đều tâm sự là vì không có việc

đành phải vào rừng và chấp nhận thiếu đói, vất vả, bệnh tật nhất là sốt rét rừng để kiếm sống

2 Đường Cửa Thò - Sơn Thịnh

Là đường rừng nhiều đèo dốc không có đường cơ giói, công tác vận chuyển hàng

hóa chủ yếu là gánh và vác bằng đôi vai, song đây là cửa rừng tiếp xúc với khối lượng cư dan rfi đông (23.108 người) chủ yếu làm nông nghiệp và có lao động nông nhàn rất dai

và không có nghề phụ khác hố trợ So với hai của rừng khác, đây là vùng dân cư ổn định

từ lâu đời và là động lực tạo nên các đồi trọc, lau lách ỏ thượng nguồn đập Thượng Tuy,

thượng nguồn Rào Pheo còn gọi là vùng Bái Ngải của lưu vực hồ Kẻ Gố Lực lượng lao động chính vào rừng Kẻ Gỗ để khai thác lâm sản so với tỷ lệ dân số không cao song cũng

có một khối lượng đáng kể (xem phụ lục) Số lao động này chủ yếu vào rừng để khai thác

gỗ, lấy mây, lá nón và dược liệu, thỉnh thoảng có người săn bắn thú rừng, Dồi sống của

những lao động này hết súc khổ số và túng quan

3 Đường thủy dọc theo lòng hồ Kẻ Gỗ

Vùng dân cư trực tiếp cửa rùng này là xá Cẩm Mỹ và các xã cận ngoài Cẩm Mỹ

Dân vùng này sử dụng đường thủy để vận chuyển với phương tiện là thuyền nan, tuy là

9

Trang 23

phương tiện thô sơ song rất cơ động, có tải trọng khoảng 400-800kg có thế chỏ được 0,3- 0,5m” gỗ hay 1 ster củi và cập vào các bến: đập phụ 1, đập phụ 2, cảng cá gần đập chính Thuyền có thể nhận chìm xuống nước hoặc đưa lên giấu trong các bụi cây ven hồ mối khi

có nhà chức trách rượt đuổi Theo điều tra tháng 8/1993, trong năm 1992, ö xá Cẩm Mỹ

có 127 người vào.rùng, bình quân khoảng 42 ngày người/năm vói thu hoạch khoảng 96 triệu đồng

Công việc kiểm tra, quân lý lực lượng lao động này gặp nhiều khó khan Tit nam

1991 lại nay, ngành kiểm lâm lòng hồ hoạt động rất tích cục nên cũng hạn chế được rất nhiều Lực lượng khai thác lâm sản trong rừng kẻ gỗ cửa rừng này đang có chiều hướng

giảm dần

II-3/ Tập quán sản xuất và đặc trưng riêng của dân cư vùng đệm

1 Một số đặc điểm dân cư vùng đệm

Cu dan vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gố - Hà Tĩnh chỉ thuộc một đân tộc duy nhất là dân tộc Kinh, vói đặc tính là: sống quần tụ và có truyền thống gia tộc

Kiểu sản xuất và sinh hoạt thích nghỉ chủ yếu là vườn nhà có bờ tre, ruộng lúa bao bọc xung quanh Với đặc điểm tự cung tự cấp này, giao thông lại cách trỏ, giao lưu hạn chế

nên trình độ văn hóa của cư dân ở đây thấp Các thông tin văn hóa mới tiếp nhận được

ít nên tỷ lệ tăng dân số cao Tỷ lệ tăng dân số cả tỉnh Hà Tĩnh năm 1992 là 2,15% thì tỷ

- lệ tăng dân số của huyện Kỳ Anh là 2,44, trong đó xã Kỳ Thượng là 2,72% (theo Niên

giám thống kê Hà Tĩnh 1992 và số liệu của phòng thống kê huyện Kỳ Anh cung cấp)

Như đã trình bày ỏ phần trên, điều kiện khí hậu ỏ đây rất khắc nghiệt: vào mùa 1c) thì mưa nhiều cấp tập, vào mùa khô thì nắng hạn cường độ cao, nên canh tác đất

để: hiệu quả rất thấp Tuy là dân sống gần rùng núi song kiểu canh tác nương rấy lại khong phat triển Lý do mất rùng ỏ đây là kết quả của việc khai thác gố, củi, cành lá, đào gốc (kiểu khai thác cả gốc lẫn ngọn) để phục vụ sinh hoạt và đun nấu, sau đó là chan tha trâu bò theo kiểu chăn nuôi tận dụng, quảng canh, đốt đồi cây bụi vào mùa khô để cỏ mọc Những năm đầu cỏ còn khá tốt, nhưng dần dần lửa đốt, nắng hạn, bão lụt hủy hoại lóp đất màu vốn đã rất nghèo chất dinh dưỡng, do đó năng suất cô thấp đần và cuối cùng đất trỏ nên sỏi đá Diễn thế này hoàn toàn không phải do canh tác nương rẫy như một

số nơi khác Vì vậy mà dân sinh sống gần rừng, song vẫn rất chật chội Nếu không tính

điện tích được quản lý (trong ranh giói hành chính) mà họ chưa sử dụng (nói theo kiểu

chưa đưa vào sản xuất) thì mật độ dân số ở đây đạt rất cao: 741 người/1km” và bình quân

1 nhân khẩu chỉ có 973m2 đất canh tác, không hơn gì những nơi gọi là đất chật người

10

Trang 24

đông Đây là bài toán khó trong việc phân bố dân cư của các nhà chiến lược kinh tế ö Hà

khai thác Ö rừng, phần thu lượm về phục vụ cuộc sống dân cư chưa tính) (xem phụ lục

lấy từ niên giám thống kê Hà Tĩnh năm 1992 - số liệu thống kê huyện Kỳ Anh, Cẩm

xuyên, điều tra bổ sung dân sinh vùng đệm 8/1993) ,

Theo điều tra dân sinh-kinh tế tháng 3/1993 tại xã Kỳ Thượng, tại thời điểm này

có 794 hộ/1119 hộ của xã Kỳ Thượng không còn một hạt thóc dự trữ trong nhà (hết lương

Da luong thuc 12 thang/n&m tro lên: 325 hộ, chiếm 29% số hộ

Đủ lương thực 9 tháng/năm: 375 hộ, chiếm 33,5% số hộ

Đủ lượng thục 6 tháng/năm: 307 hộ, chiếm 27,6% số hộ

Thiếu lương thực 7 tháng/năm trỏ lên: 112 hộ, chiếm 10,0% số hộ

(Số liệu do đ/c phụ trách thống kê xá Kỳ Thượng cùng cấp)

HI-4/ Các tập quán sản xuất của cư dân vùng đệm

Ngoài tập quán khai thác lâm sản trong rừng đã phân tích ö mục Ï1-2, các ngành

nghề sản xuất chính còn lại của cư dân vùng đệm là sản xuất nông nghiệp ỏ đồng ruộng

và thâm canh vườn Sau đây xin điểm lại một số ngành chính:

1 Ngành trồng lúa

Đặt vấn đề trồng lúa lên hàng đầu vì đối tượng chính của trồng trọt là cây lúa, Theo số liệu thống kê, 73% đất canh tác vùng đệm được sử dụng cho trồng lúa Xã có

tỷ lệ trồng lúa cao nhất đạt: 84,2% (Cẩm lạc, Cầm Xuyên), xá có tỷ lệ thấp nhất 32% (Kỳ

Thuong, Kỳ Anh) Năm xã có tỷ lệ diện tích lúa lón hơn 70% là Cẩm Mỹ, Cẩm Sơn, Cẩm

Thịnh, Cẩm Hưng, Cẩm lạc O day cay lúa là cây trồng chính vì chủ yếu là do thồi tiết Thực chất thời tiết không phải là thuận lợi cho cây lúa mà ở đây vấn đề chính là không thể phát triển cây khác có ưu thế hơn cây lúa Cây lúa đã được đầu tư nhiều tiến bộ khoa

học của kỹ thuật thâm canh Song việc thực hiện thì không đầy đủ, đồng bộ

Về giống lúa: tập đoàn giống lúa đang sản xuất là tập đoàn giống lúa có nhiều ưu điểm

-._ Giống chủ đạo vụ đông xuân là IR1820, IR38 Hai giống lúa này thuộc hai nhóm

T1

Trang 25

Giống IR1820 là giống lúa xuân đài ngày (quen gọi là xuân sóm Ưu thế đặc biệt của giống lúa này là: gieo cấy được sóm từ đầu vụ đông xuân, làm mạ đế dàng, là giống có sức chống chịu bệnh đạo ôn Pyricalaria vào các tiết Vũ thủy hạ tuần tháng 2 và Kinh trập thượng tuần tháng 3, khí hậu thường ẩm ưót, sương mù nhiều nên bệnh đạo ôn phát triển rất nhanh Tuy thời tiết không thuận lợi, nhung giống lúa nói trên cho năng suất khá ồn

định, và thích ứng rộng trên nhiều loại đất và mức độ thâm canh Một số hộ có trình độ thâm canh khá cao, gặp năm thôi tiết thuận lợi đã đạt năng suất cao là 7 tấn/ha vụ

Giống IR38 thuộc nhóm giống lúa xuân trung bình, gieo cấy kết thúc được trước tiết Lập

xuân thượng tuần tháng 2, thường là trước Tết âm lịch, là giống có nhiều ưu điểm gần

được như IR1820 song ưu điểm nổi bật là tính thích ứng rất rộng, canh tác được trên đất

nghèo dinh dưỡng, hoi chua và chống chịu rầy nâu khá Năng suất cao tuyệt đối thường

thấp hon IR1820

- Giéng tring vụ mùa là tập đoàn giống địa phương: Cu, Bát, Bào thai có uu thé

trên đất hạn hoặc nước không ổn định, có thể bắc phui, cấy vùi hay trỉa vãi trên đất hạn

tất tốt Tuy năng suất các giống này không cao song rất ổn định và thuộc nhóm giống lúa

mùa muộn dài ngày thích ứng từ lâu đời Trong điều kiện chủ động được nước thì giống

CR203 trồng cho vụ hè thu là giống có tiềm năng khá, chống chịu sâu bệnh, tính thích ứng khá rộng, là giống có ưu thế vì thời gian sinh trưởng ngắn Nếu bố trí thời vụ tốt có thể thu hoạch được trước ngày 10/9 nghĩa là trước mùa mưa bão

- _ Các hạn chế trong nghề trồng lúa:

Do điều kiện khí hậu khắc nghiệt nên thối vụ rất nghiêm khắc, công việc đồng áng

đồn đập và sau đó là lao động nhàn rỗi thời gian dài Thời điểm có thời vụ căng thẳng nhất là cuối tháng 5 và đầu tháng 6, vừa thu hoạch đông xuân vừa gấp rút làm vụ hè thu

Vì khí hậu khắc nghiệt nên tuy cây lúa là cây trồng chủ đạo song rất hay mất mùa Mất mùa đo rét muộn vào thời kỳ trổ bông (vụ đông xuân 1991 do rét muộn tỉnh Hà Tĩnh mất

trắng 2000ha, tương đương mất 4000 tấn thóc) Nếu làm muộn lại gặp gió Lào, khô nắng

cũng mất mùa nặng Lụt bão đột xuất cũng thường dẫn đến mất mùa 3 năm liên tục

1987, 1968, 1989 huyện Kỳ Anh thiệt hại gần 40% sản lượng lương thực do thời tiết, nặng

nhất là 1989, giảm sản lượng thóc 10.960 tấn so với bình quân trước đây, hụt sản lượng

32,5%

Đo điều kiện kinh tế dân sinh rất nghèo, thời tiết khắc nghiệt, mất mùa liên miên nên không có vốn đầu tư thâm canh Nhưng khí bỏ vốn đầu tư thâm canh, gặp thiên tai, mất mùa rất để bị phá sản mà nóng đân chán nản không đám đầu tư, vì thế mà năng suất

12

Trang 26

lúa thấp Trong điều kiện kinh tế thị trường giá thóc gạo xuống thấp đời sống nhân dân

đã khó khăn, nghèo đói lại càng khó khăn nghèo đói hơn

Vấn đề thủy lợi đang gặp nhiều khó khăn nhất:trong sản xuất lúa Tuy công trình

_ thủy lotđã được đầu ta khá nhiều, song do điều kiện địa hình nên nhiều công trình không

phát huy hết hiệu quả Nhiều vùng không được tưới tiêu Trong vùng này có rất nhiều

công trình thủy lợi lón, song các công trình thủy lợi nhỏ cho vùng hẹp không được chú

ý đầu tư nên tuy có công trình thủy lợi song không được hưởng các hiệu quả của có

2 Nghề làm vuòn

Đây là nghề ưu thế của vùng bán sơn địa có diện tích thổ canh, thổ cư bình quân

1 hộ có 854m, chiếm 14,27% diện tích đang sử dụng, song giá trị thu nhập từ vườn chỉ

mồi đạt 1,63% tổng giá trị thu nhập Các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao trong vùng

là cam, quýt, bưởi, nhãn, mít, hồng Riêng quýt, cây có hiệu quả kinh tế cao nhất ở vùng

Kỳ Thượng, đạt 250.000 đ/cây/năm Hộ có kinh tế vườn cao nhất đạt 4 triệu đồng năm

(hộ ông Chiều đội 4 Lục Tiến xã Kỳ Thượng) Hạn chế của nghề làm vườn ở đây là: vấn

đề hạn trong mùa nóng và bão lụt vào tháng 9 và 10 hàng năm Vấn đề cơ bản vẫn là thiếu nước tưới và giống tốt

3 Nghề chăn nuôi đại gia súc

Tổng đàn trâu bò các vùng này có khoảng 8480 con, trong đó trâu bò thương phẩm

có 3525 con

Xã có ưu thế về chăn nuôi và có đàn trâu bò đông nhất là Kỳ Thượng có 2695 con,

trong đó trâu bò thương phẩm 1850 con, chiếm 11,48% đàn trâu bò huyện Kỳ Anh Bình

quân 1 nhân khẩu có 0,58 con

Nghề chăn nuôi đại gia súc là nghề có nhiều ưu thế, song thường không ổn định

do vấn đề dịch bệnh trong mấy năm gần đây Bệnh lỏ mồm long móng là bệnh gây thiệt hại nặng nhất

13

Trang 27

- Chuong 3

NOI DUNG XAY DUNG VUNG DEM VA M6 HINH XA VUNG DEM

KY THUONG KY ANH - HA TINH

I | NGUYEN TAC CHUNG

Để xây dựng một vùng đệm và một mô hình xá vùng đệm phải lưu ý một số

nguyên tắc sau đây:

Is1/ Vang đệm là một tổ chức liên hoàn, thống nhất và xã vùng đệm là một thành viên

trong một vùng đệm có nhiều xã

Như đã phân tích ở hai chương đầu, khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gố - Hà Tĩnh có

chu vi 89km Các vùng bao quanh khu vực này được xác định là vùng đệm của nó, bao

gồm khoảng rừng tiếp giáp với tỉnh Quảng Bình, huyện Hương Khê, lưu vực hồ Bộc Nguyên, sông Rác, một phần rất lón tiếp giáp với cư đân 7 xã thuộc 2 huyện Cẩm Xuyên

và Kỳ Anh Vùng tiếp giáp với cư dân được xác định là vùng đệm trọng yếu của rừng bảo

tồn Kẻ Gỗ, là nơi quyết định sự tồn tại hay biến mất của rùng Kẻ Gõ Với 3 của rùng tiếp xúc vói 3 tiểu vùng đệm mà từ trước tói nay cư dân của 2 tiểu vùng này với các mức độ khác nhau đã vào khai thác tài nguyên trong khu rùng này Để bảo vệ được khu bảo tồn; không thể tách rồi từng phần của vùng đệm, không thể là cửa rừng này thì bảo vệ tốt, của

rùng khác thì không tốt Xây đựng vùng đệm là tạo mối quan hệ tốt, mối quan hệ qua

lại thống nhất toàn vùng Mối quan hệ ở đây không phải là mối quan hệ gia tộc, truyền

thống của hệ tư tưởng cũ lạc hậu mà ở đây là thông tin qua lại, đóng góp kinh nghiệm

bảo vệ rùng và cũng có thể giúp nhau kinh nghiệm sản xuất, giống, vốn v.v Vì các vùng

có thể cách xa nhau về giao thông, đi lại, song thực chất họ có chung một tiểu vùng khí hậu có chung một khu rừng bảo vệ, có chung một chế độ thổ nhưỡng hoặc có chung một

tiểu vùng khí hậu và một tập quán sống Điều quan trọng nhất là mối quan hệ, thông qua quyền lợi được khai thác phần tài nguyên được phép trong khu bảo tồn, khai thác phần đất ở vùng đất có chung ranh giói và cái chung lồn nhất là chung trách nhiệm bảo vệ khu

bảo tồn mà mỗi người dân phải là một bảo vệ viên

14

Trang 28

I-2/ Cư dân vùng đệm phải được trực tiếp quản lý tài nguyên khu bảo tồn và được

hưởng một phần giá trị của khu bảo tồn thiên nhiên

Nhân dân ở các xã vùng đệm đã sinh sống ö đây qua nhiều thế hệ Họ đã từng khai thác khu rừng Kẻ Gố để sinh sống và họ cũng đã góp phần gìn giữ thiên nhiên 6 day

cho nên khu rừng này mới còn được như ngày nay Vì thế, khi xây dựng khu bảo tồn, chúng ta không có lý do gì để cấm họ không được tiếp tục sử dụng tài nguyên thiên nhiên

Điều quan trọng là chúng ta phải giúp họ sử dụng một cách vững bền thiên nhiên

` ở đây, báo vệ những gì cần bảo vệ Cư đân vùng đệm cần có hiểu biết về trách nhiệm to lón của họ đối với khu bảo tồn, có quyền trực tiếp quản lý khu bảo tồn và được hưởng những phần lợi tức hợp lý do khu bảo tồn tạo ra

1-⁄3/ Vùng đệm cần phải có một sự ổn định về kinh tế để đảm bảo nhu cầu sống tối

thiểu của cư đân ;

Cần phải có một mức sống ở mức quân bình và cư dân phải được hưởng các phần

công bình xã hội Vấn đề chính là giúp dân ổn định được cuộc sống, tự sống được không cần phải vào rừng để cân đối nhu cầu hàng ngày như hiện nay, không cần phải phá rừng, vào rùng sống khổ số, được chăng hay chó, sống không ổn định, đế bị bệnh tật nhất là sốt rét và nhiều điều nguy hiểm khác Nhu chúng ta đã thấy, vì nghèo đói nên khi vào

rùng họ nhặt tất cả, họ chặt tất cả, chặt cây rùng, sản bắt các loài động vật để thỏa mán nhu cầu sống của họ, để tồn tại bình đẳng như mọi người Họ chặt hết cây, hết cành, hết

lá, đào cả gốc và họ là nguyên nhân của đồi trọc trợ sỏi đá, mặc dầu họ vấn biết đấy là thảm họa ngày mai của họ

Phải giúp nhân dân vùng đệm về các quyền lợi văn hóa, phúc lợi xã hội, các kiến thức tối thiểu, trong đó có kiến thức khoa học để tổ chức cuộc sống cho chính họ và để

bảo vệ khu bảo tồn Không thể để họ phải giải quyết công bằng xã hội bằng cách chặt

“hết cây gỗ quý, bắt hết động vật đã rất hiếm để được như ở vùng đô thị, được sử dụng

điện nước, tận hưởng văn mỉnh của xã hội,

Khu bảo tồn thiên nhiên là tài sản quốc gia, song để bảo vệ được khu bảo tồn thì

chỉ có người đân vùng đệm mới thực hiện được l

Sau đây là đề xuất các nội dung xây dựng một mô hình xã vùng đệm trong vùng

đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh đã được nghiên cứu khá đầy đủ

thông qua các luận cứ khoa học đã trình bày ở phần trên

15

Trang 29

IL CAC NOI DUNG XAY DUNG MO HINH XA THUOC VUNG DEM CUA

KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KẺ GỖ - HA TINH

Dự án xây dựng mô hình xã vùng đệm Kỳ Thượng Ky Anh tinh Hà Tĩnh

Nội dung:

Sự cấp thiết phải thực hiện dụ án

Mục tiêu dy an

Các phần này đã nêu rõ ở chương 2, có thể tóm tất lại như sau:

Xã Kỳ Thượng huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh có vị trí địa lý chiến lược quan trọng trong việc tổ chức quản lý và bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh Xá Ky

Thượng là xã mang nhiều đặc trung cho vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên

Xa trục lộ giao thông chính, xa thị trấn, thị xá, thành phố

Trực tiếp với khu bảo tồn, có một lãnh thổ hành chính rộng gần bằng diện tích

một huyện vùng đồng bằng Có phần diện tích khá lồn chuyến giao cho khu bảo

tồn

Có kiểu địa hình khá đại diện: bao gồm sông, suối tự nhiên, nương rấy và các loại

đất canh tác kiểu đồi núi, đất dốc của các vùng đệm

Có một khối lượng cư dân đông, có tập quán khai thác rừng từ lâu đời từ khai thác

gỗ, mây, lá nón, dược liệu đến săn bắn chim thú, cá và tất cả những gì gặp trong

một chuyến đi rừng (nếu họ thấy thứ đó có thể bán được hay dùng được) Giao lưu văn hóa xã hội ít, đồi sống dân cư rất nghèo ,: Xây đụng mô hình xã vùng đệm tại Kỳ Thượng sẽ là đại diện của nhiều vùng: cần phải tổ chức lại các ngành nghề sản xuất, giải quyết việc làm, tạo thêm thụ nhập, nâng cao đời sống, hướng dẫn cho cư dân biết sử dụng hợp lý tài nguyên rùng, đảm bảo tính

bền vững của tự nhiên, có cuộc sống tốt đẹp trên mảnh đất vùng đệm Có điều kiện và

trách nhiệm làm tốt chức năng bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên của một vùng cư đân vùng đệm

Nội dung xây dụng của dụ án

Bao gồm các nội dung chính:

Giúp người dân tổ chức lại sản xuất thông qua đầu tư các tiến bộ khoa học và kỹ

Trang 30

thông, thủy lợi, một số công trình văn hóa, phúc lợi giúp họ có được một cuộc sống ổn định tại địa phương của họ

H-1/ Đầu tư các tiến bộ ký thuật

1 Đầu tụ tiến bộ khoa học kỹ thuật về ngành trồng trọt

a Với cây trồng là lúa nưóc

- _ Giải quyết cơ bản nhất là tiến bộ về giống lúa mới, trong đó là tập đoàn các giống

có khả năng thích ứng đối với vùng này cho năng suất cao, kết hợp đầu tư giống

có phẩm chất cấp cao để họ có thể đạt được các vụ mùa bội thu, tạo cho họ có một niềm tín vững chắc về cái mói

- _ Giúp về tiến bộ khoa học kỹ thuật về thâm canh, sử dụng giống mdi để họ có thể

làm được lúa như những nông dân ö nơi khác, nâng cao năng suất sản lượng mùa

màng, giải quyết nhu cầu lương thực bằng khả năng và tiềm lực tự nhiên của chính

- _ Giúp khấc phục các hạn chế trong thâm canh, trong đó có vật tư, phân bón, thủy

lợi v.v

b Tiến bộ kỹ thuật về kỹ thuật làm vườn

Vấn đề chính là trên tập đoàn cây trồng bản địa, giải quyết phần phương pháp chọn giống, thâm canh, chế biến, bảo quản, vận chuyển để có thể bán, đổi được tiền, để

giải quyết nhu cầu vật chất, phục vụ đời sống hàng ngày Xã Kỳ Thượng - Kỳ Anh có đất vườn rộng, đất đồi dốc nhiều, đủ điều kiện để trồng cây ăn quả tốt Cần phải giúp họ

ươm cây giống và quy trình thâm canh, phòng trừ sâu bệnh v.v

Tù tập đoàn cây bản địa có thể chọn lọc, kết hop vdi di thực một số cây ăn quả

có hiệu quả kinh tế cao, đa mục đích; chọn một tập đoàn cây thích hợp cho địa phương,

trước mắt là tập đoàn cây cam, quýt, nhãn, xoài, mít

2 Đầu tụ tiến bộ ngành chăn nuôi

Phương hướng chăn nuôi chính của Kỳ Thượng là phát triển mạnh chăn nuôi đại

gia súc (trâu, bò), phát triển cân đối đàn lọn với sử dụng sản phẩm phụ và phân bón cho

ngành trồng trọt

Cách làm chủ yếu, cơ bản nhất vẫn là chọn giống tốt, cho sản phẩm với khối lượng lón, chất lượng tốt, giá trị hàng hóa cao Chú ý đến công tác thú y phòng bệnh và ngăn chặn dịch bệnh bùng phát vì vùng này có mùa mưa rất ẩm, hàng năm vẫn thường hay

phát các dịch bệnh gia súc

17

Trang 31

3 Ngành nuôi ong

- Hiện tại đã có tập quán nuôi ong, song tập quán cũ này thường cho năng suất

thấp, chất lượng mật không cao Có thể sử dụng tiềm năng hoa.rừng kết hợp trồng cây lâm nghiệp có hoa để giải:quyết vấn đề nuôi ong kết hợp bảo vệ rừng Cách giải quyết vấn đề này là đầu tư tiến bộ khoa học kỹ thuật, giúp họ làm đúng kỹ thuật với yêu cầu

từ đế đến khó, từ ít đến nhiều

4 Huóng dẫn kỹ thuật quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rằng

bảo tồn thiên nhiên

Giúp người dân hiểu được giá trị của rừng bảo tồn Kẻ Gó, chim, thú, thực vật đặc

hữu, bảo vệ tính đa đạng sinh học, đa dạng loài quan hệ với con người, biết khai thác hợp

lý tài nguyên rừng bao gồm: quản lý tham quan du lịch, quản lý khai thác tài nguyên rừng như mây, lá nón và lâm sản truyền thống của họ Kết họp việc được nhận vốn tu bổ lại

rùng vừa tạo việc làm vừa là công việc sở trường của họ

5 Hung dẫn kỹ thuật, kết hợp giao đất, giao nìng thuộc phần ranh giói vùng đệm cho họ xây dựng vườn rừng đa mục đích Vườn rừng vùng đệm là hàng rào báo vệ tốt

nhất cho khu bảo tồn

II-2/ Kinh phí xây đựng, mô hình xã vùng đệm Kỳ Thượng, Kỳ Anh, Hà Tính

1 Vay vốn phát triển sản xuất các ngành nghề đã được nêu ở trên

Để có thể xây đựng được xã vùng đệm cần tạo diều kiện thuận lợi để dân được vay vốn phát triển sản xuất Do điều kiện sản xuất khó khăn, cần phải tính toán phần lãi tiền vay cho phù hợp Thực chất, nếu họ trụ vững được, có cuộc sống tốt hơn, làm tốt công tác bảo vệ khu bảo tồn thì phần lái đó vô cùng lón lao cho quốc gia và cho mọi người Vấn đề cơ bản là hoàn trả vốn vay, yếu tố này do người dân Kỳ Thượng, do biện pháp khoa học kỹ thuật và hiệu quả của sản xuất quyết định

2 Giúp dầu tư phần công trình văn hóa, phác lợi và công trình phục vụ sản xudt og

đó nhụ: thủy lợi, giao thông, điện, công trình y tế và khoa học kỹ thuật

Về thủy lợi, nên đầu tư xây đựng các phai chắn dòng suối để nâng nước cục bộ,

tưới cho các vùng hẹp ven khe suối, vườn đồi lẻ Đầu tư hoàn chỉnh Đập Bàu Hóp, đảm

bảo hiệu quá thiết kế tưới đủ cho gần 80ha ruộng lúa dưới khu tưới của hồ, giúp ban đầu

một số bơm tay, sử dụng giếng nước sâu để phục vụ sinh hoạt và tưới cho vườn đồi trong

mùa hạn

Về giao thông, cần giúp huyện Kỳ Anh hoàn chỉnh trục lộ liên huyện từ Kỳ Thượng về thị trấn dài 30km, đảm bảo vận chuyển nông sản, hoa quả, tiếp nhận thị

18

Trang 32

truồng tiêu thụ khối lượng lón cho sức sản xuất của gần một vạn dân vùng đệm ở cửa này

và dân cư các xã kế cận

Về điện, cần giúp huyện Kỳ Anh hoàn chỉnh lưới điện cao thế cho vùng này và tạo

điều kiện giúp dan vùng đệm được sử dụng điện

Về văn hóa xã hội và giáo dục, đầu tư thích đáng cho hệ Hưng, giáo dục phổ cập,

đưa chương trình quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường thí điểm vào ngành học phổ cập

văn hóa vùng đệm để đào tạo ra một lực lượng lao động mới có đủ tri thức làm tốt công tác bảo vệ vùng bảo tồn, bảo vệ tài nguyên môi trường cho xã hội, đồng thời làm tốt việc thông tin tuyên truyền kiến thúc khoa học về vùng đệm, kiến thức bảo vệ tài nguyên và môi trường cho toàn dân là kiến thức thiết thực và cần thiết ngay ngày hôm nay

Đầu tư thích đáng cho công tác truyền thụ kiến thức khoa học và chuyển giao công

nghệ mói cho nhân dân vùng đệm

II-3/ Về công tác quản lý

Bố trí lực lượng quản lý khu bảo tồn, quân lý vùng đệm Giao trách nhiệm quản

lý này cho chính quyền xã Trước mắt tiếp tục duy trì kiểm lâm xã, giao thêm chúc năng cho Chủ tịch xã về quản lý công tác này Xã vùng đệm phải có tổ chức quản lý khu bảo

tồn và được lập quỹ, được thu một phần nguồn lợi khai thác được từ khu bảo tồn và các

dịch vụ khi thực hiện các nội dung du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học trong khu rừng

19

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm