Hình 2.2: Hồ Dương Đông Ngoài ra, Phú Quốc cũng có ó những hồ chứa nước nhỏ, chủ yếu là do dân tự làm và khai thác để trữ nước tưới tiêu, hồ tại khu vực Bãi Dài thì được chặn lại để nuô
Trang 2Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế hs
Cục Bảo vệ Môi trường/ Bộ Tài nguyên & Môi trường — “ry
Báo cáo: Tác động của xu hướng phát triển đối với đa dạng sinh học đảo Phú
Trang 3Lời nói đầu :
*
Đảo Phú Quốc trước đây được biết đến như một vùng 'đất xa xôi 'trồng hồ tiêu và làm nước năm nỗi tiếng với người tiêu dùng trong nước và trên thế giới Ngày nay càng nhiều người biết đến Phú Quốc như mét “tiém năng thức dậy” cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng, nơi có khí hậu nhiệt đới ôn hòa, những bãi biên sạch đẹp, diện tích rừng rộng lớn -
và tài nguyên biển dồi dào
Tuy nhiên, số lượng khách du lịch và dân số ngày cảng tăng trong những năm gần đây
cùng với việc nói lại đường hàng không và đường biển ra đảo và các cơ sở địch vụ du lịch trên đảo đang gây ra những áp lực đối với môi trường, tài nguyên và đa dạng sinh học đối với khu vực này Các quy hoạch phát triển để đáp ứng mục tiêu đón lượng khách
du lịch từ 2-3 triệu ngườ/năm vào 2020 càng đặt ra những thách thức về phát triển bền vững cho ốc đáo này
Mục tiêu công việc của nhóm chuyên gia và kết quả của báo cáo này là đánh giá nhanh,
phân tích hiện trạng và xu hướng phát triên đảo Phú Quốc, và những tác động của các xu
hướng đó đến nỗ lực bảo tồn trên đảo
Công việc được hoàn thành có sự hỗ trợ tài chính thông qua thỏa thuận giữa IUCN - Tổ
chức Bảo tôn Thiên nhiên Quốc tế và Sida - Quỹ hô trợ phát triển Quốc tế của Thụy điền, Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân đân và Sở Tài nguyên & Môi trường Kiên Giang, Uy ban nhân dân huyện Phú Quốc, và nỗ lực đặc biệt của của nhóm các chuyên gia tư vần độc lập của IUƠN:
TS Trần Võ Hùng Sơn, chuyên gia về du lịch và cảnh quan;
T5 Viên Ngọc Nam, chuyên gia về đa dạng sinh học;
TS Nguyễn Thị Hồng, chuyên gia về kinh tế xã hội;
ThS Đỗ Thuận An, chuyên gía tài nguyên nước;
TS Trần Phương Đông, chuyên gia quản lý ven bờ và tác động môi trường
Báo cáo này được hoàn thành trong 22 ngày, trong đó có 7 ngày quan trắc hiện trường tại
Hà Nội, 12/2006
Trang 4Phan I: TONG QUAN ¬
IL — Vị trí địa lý, khí hậu và đất đai
Phú Quốc, một huyện đảo thuộc tỉnh Kiên Ginky, là hòn đảo lớn nhất nằm ở cực”
nam của lãnh thổ Việt Nam (Hình 1 1), thuộc bờ đông vùng vịnh ` Thái Lan Huyện „ đảo Phú Quốc bao gồm một đảo chính (diện tích 593 km?) và nhiều đảo nhỏ, trong
đó có hai xã đảo là Thổ Châu và Hòn Thơm
Trang 5“ry
Phía bắc đảo chính giáp lãnh hải Campuchia, phía đông giáp vùng biển Kiên Giang-Hà Tiên, phía nam là vùng vịnh Thái Lan thông ra với Biển Đông, 'phía tây -
là vùng biển vịnh Thái Lan Điểm cực đông của đảo chính (cảng Đá Chồng) cách
thị xã Hà Tiên 40km đường hàng hải Từ phía nam đảo chính (thị trấn An Thới)
cách thị xã Rạch Giá 120 km đường hàng hải (tau cao tốc cánh ngầm chạy mất 2h30’) Đường hàng không đi từ TP HCM đến sân bay Dương Đông (đảo chính) thời gian bảy là khoảng 50 phút (máy bay ATR-72)
Vùng quan tâm của nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào đáo chính (từ nay gọi là Phú Quốc) và quần đảo An Thới Vì vậy, xã đảo Thổ Chu sẽ không được đề cập tới nghiên cứu này
Khi hậu
Do vị trí địa lý đã nêu ở trên, chế độ khí hậu Phú Quốc có tính chất nhiệt đới gió mùa Khí hậu ở đây nóng và âm, với hai mùa gió rõ rệt Nhiệt độ trung | bình năm
khoảng 27,1°C Nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,3°C (tháng 4) và thấp nhất là
25,0C (tháng 1) Lượng mưa trung bình năm khoảng 3000mm, tập trung vào
tháng 8 (chiêm 90%) Chế độ gió: gió bắc (tháng 9 đến tháng 12), gió mùa tây nam (gió chướng) (tháng 3 đến tháng 8) (W attayakorn et al, 1998) Tốc độ gió trung bình vào mùa tây nam mạnh hơn gió bắc và có thể đạt tới 31m/s Vào thời - gian chuyển tiếp (tháng 1 đến tháng 2), gió yêu và hướng thôi không rõ ràng
Thủy văn biển
Khu vực nằm trong vùng ‹ chế độ thủy triều mang tinh nhat triều điển hình với một lần nước lên cao và một lần nước xuống thấp trong 24 giờ Tần suất lặng sóng (độ cao dưới 0.25m) chiếm khoảng 83-85% ưu thể tuyệt đối Vào mùa hề (tháng 5 đến tháng 10) hướng sóng chủ đạo là hướng nam và đông với độ cao trung bình 0.4m, cao nhất là 2m khi có bão Thời gian lặng gió chiếm 80-84% là điều kiện tốt cho phát triển các loại hình điều kiện trên biên Vào mùa đông, hướng gió chủ đạo là bắc với độ cao trung bình 0.4m và tối đa là 1.5m khi có gió mùa Đông bắc lớn Nhìn chung chế độ sóng trong đảo Phú Quốc thích hợp và thuận lợi cho các hoạt động du lịch, tham quan trên biển
Dòng chảy chủ yếu là dòng triều, thé hiện rõ dòng chảy vào va các dòng chảy ra trong các eo hẹp khi triều lên hay triều rút Đặc biệt khi có gió nam hoặc gió đông
bắc thôi mạnh đã phát sinh dòng trôi với tốc độ <20cm/s Đặc điểm dòng chảy
khá phức tạp nên khi đưa khu vực nào vào khai thác làm bãi tắm hay các hoạt động thể thao trên nước cần có nghiên cứu kỹ đòng chảy đặc thù của khu vực đó
Trang 6e đất xám có tầng loang lỗ đỏ vàng phân bố ở địa hình thấp: 6352 ha
4 Nhóm đất đỏ vàng: Phân bồ trên địa hình đôi núi toàn đảo, chiếm 36678 ha
H Hiện trạng và quy hoạch phát triển
Trước đây hoạt động kinh tế chủ yếu trên đảo là trồng hỗ tiêu, đào (lộn hột), đánh bắt thủy hải sản, và làm nước mắm Phần lớn dân số trên đảo tập trung tại hai thị trần Dương Đông và An Thới
Kể từ khi chính phủ có quyết định số 97/2000/QD-TTG | cho phép áp dụng một : số quy chế kinh tế hành chính cửa khẩu và chính sách khuyến khích đầu tư phát triển,
và tiếp theo là quyết định số 178/2004/QĐÐ-TTG phê đuyệt đề án phát triển tong thể đảo Phú Quéc dén 2010 va tam nhìn đến năm 2020, thì các hoạt động kinh tê
xã hội ngày càng nhộn nhịp hơn, nhất là phát triển du lịch, dịch vụ du lịch và giao thông Sau đây là tình hình sản xuất trong một số lĩnh vực cho tới năm 2006, và kế hoạch những năm tiếp theo
Về nông-lâm nghiệp
Diện tích và hoạt động trồng đào, cây: ăn quả và bồ tiêu tuy có giảm sút do ảnh hưởng của phát triển du lịch, nhưng vẫn ở mức đặt chỉ tiêu tăng cho năm 2007, và thấp nhiều so với yêu cầu quy hoạh của chính phủ
Bảng 1.1: Hiện trạng diện tích (ha) đất nông-lâm nghiệp
Trang 7“fy Theo quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp vẫn giữ ở mức như hiện nay là 43.361
Về đánh bắt thủy sản và chế biến
Nghành thủy sản chủ yếu của Phú Quốc là đánh bắt, với phần lớn dân sỐ tập trung vào nghề này Sản lượng đánh bắt bắt chủ yếu là cá cơm để làm nước nắm, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng
Bảng 1.2: Kế hoạch phát triển thủy sản qua các năm
Nguôn: Kê hoạch phát trién KT-XT Pha Quốc, 2005
Công nghiệp và điện lực
Hoạt động công nghiệp chủ yếu trên đảo là sản suất điện, khai thác đá và cát, và
chế biến nhưng quy mô không đáng kể
Thiếu, điện năng là vấn đề lớn đối với đảo Phú Quốc Nguôn cấp điện tại Phú Quốc chủ yếu là nhà máy điện đặt tại Dương Đông công suâật 4MW hiện nay đang mở rộng công suất lên 12MW Đợt 1 gồm 1 tổ máy 1 500kW và đời trạm diesel hiện hữu vào, đợt 2 sẽ đặt thêm 2 tổ máy 2.500kW Hiện nguồn và mạng lưới điện chỉ mới đáp ú ứng nhu cầu tiêu thụ điện của khoảng, 70% dân cư Các cơ sở công nghiệp
và du lịch có mức tiêu thụ điện lớn đều phải có máy phát điện dự phòng
Trong khi để án đường cáp điện ngầm dưới đáy biển từ Hả Tiên rá Phú Quốc còn - chưa rõ ràng thì một số phương án tăng cường năng lượng điện cho Phú Quốc đã được bàn thảo:
e Tăng công suất của các nhà máy nhiệt điện hiện có,
e Ứng dụng năng lượng gió và mặt trời,
© Phát triển nhiệt điện từ rác thải (biogas)
Công ty Điện lực 2 đã chỉ đạo Điện lực Kiên Giang, ngoài việc đuy trì hoạt động
của nhà máy điện hiện có và định hướng giai đoạn 2003 — 2006, phải chuẩn bị đầu
tư xây đựng thêm một nhà máy diesel mới (gồm 4 tô máy công suất 8 MW, với
Trang 8tông số vốn đầu tư dự kiến khoảng 124,273 tỷ đông), trước mắt hoàn thành 2 tô máy trong năm 2004 để đáp ứng nguồn điện cho nhân dân Được biết vào thời điểm này, Điện lực Kiên Giang cũng đang nỗ lực cùng các nhà thâu hoàn thiện và chạy thử 2 tô may diesel, mỗi máy 2.500 kW đề sớm đưa vào sử dụng, đảm bảo cung cấp điện ổn định cho khách hàng đến cuối hăm 2007 Dự kiến khoảng Sau
năm 2010, ngành Điện sẽ xúc tiến đầu tư khoảng 13Š triệu USD, thi công đường
điện từ đất liên ra đảo, theo đó sẽ lựa chọn một trong hai cách: Lắp đặt tuyến cáp ngầm xuất phát từ thị xã Rạch Giá (dài 45 km), hoặc trực tiếp mua điện từ Campuchia qua đường cáp ngầm ra đảo (dài hơn 10 km)
Ngày 19/5/2006, Sở KHĐT tỉnh Kiên Giang cho biết, UBND tỉnh đã giao cho
Công ty cổ phần Việt Cường đầu tư đự á án sản xuất điện bằng sức gió tại đảo Phú
Quốc theo phương thức BOT với 100% vốn trong nước Giai đoạn từ 2066 - 2020,
tong vốn cân huy động đầu tư là 47.100 tỷ đồng và 3 tỷ USD, tổng nhu cầu điện đến năm 2010 là 50 MW Đến năm 2009-2010 sẽ kéo xong điện quốc gia từ Hà Tiên ra đảo bằng cáp ngầm và các dự án sản xuất điện gió điện mặt trời bắt đầu
khai xây dựng
UBND tỉnh đã chấp thuận kế hoạch đầu tư đường giao thông trên đảo Phú quốc giai đoạn 2006-2010 bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ Theo kế hoạch, Phú Quốc sẽ được đầu tư xây dựng các trục đường Nam-Bắc đảo dai 49 km, đường vòng quang đảo dài 132 km, đường nhánh dài 19,61 km Tổng vốn đầu tư là 2.470
tỷ đồng, trong đó trái phiếu Chính phủ 2.292 tỷ đồng, ngân sách (50% kinh phí giải phóng mặt bằng) 178 tỷ đồng
Hàng không
Sân bay Dương Đông có 01 đường bang dai khoang 1,4km chi cho phép các loại máy bay nhỏ hoạt động Hiện nay, mỗi ngày có 4-5 chuyến bay từ TP Hồ Chí Minh đi Phú Quốc và mỗi tuần có thêm 3 chuyến từ Rạch Giá tới Phú Quốc Sân bay hiện đang được nâng cấp
Trang 9Hiện tại Cụm cảng hàng không miền Nam đang triển khai ở đảo Phú Quốc một dự
an xây dựng sân bay mới vị trí ở Dương Tơ nhằm mục đích sử dụng từ năm 2010 cho các loại máy bay tầm ngắn trung (A 320, A321, B737 ) Qui mô dự án: Cảng hàng không _ mới đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn 4E theo qui định của ICAO, có đường hạ cất cánh 45m x 3 000m, đường lăn song song 23m x 3.000m, có hệ thống đường lăn tắt đáp ứng yêu câu khai thác, đài kiểm soát không lưu, sân đậu máy bay có 6-8 vị trí đậu cho máy bay A 320- A 321 vào giờ cao điểm với diện
tích 60.000m'; nhà ga hành khách công suất 2 triệu khách/năm có diện tích
khoảng 20.000 mỶ;,có trang thiết bị điều hành chỉ huy bay và các hang mục kỹ
thuật khác
Cấp nước
Nước sạch cung cấp cho sinh hoạt và các hoạt động sản xuất và địch vụ chủ yếu là nguồn nước ngâm lấy lên từ trên 600 giống Các giếng khoan sâu từ 10-50m nằm
rai rac và được khoan phát theo nhu cầu của các hộ tiêu thụ
Hiện đang triển khai dự án lay nước từ hồ Dương Đông đưa về nhà máy nước xây dựng Dương Đông đề phụ vụ nhu cầu của Dương Đông và khu vực xung quanh
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho toàn đảo do nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động du ch, chính phủ đang quy hoạch xây dựng một số hồ chứa nước trên đảo Mô tả chỉ tiết sẽ được trình bày trong phan ““Tài nguyên nước” ở chương sau
Du lich
Bản thân đảo Phú Quốc tự nó đã có tiềm năng về du lịch Khí hậu ôn hòa, có rừng
và các bãi biển tự nhiên đẹp và thuận lợi cho du khách Từ khi có chính sách của nhà nước tăng cường phát triển du lịch cho hòn đảo này, lượng khách du lịch và các dịch vu đi kèm đang tăng lên nhanh chóng Mô ta chi tiết sẽ được trình bày trong phần “Hiện trạng và phương hướng phát triển du lịch ở Phú Quốc c” Các tác động của phát triển du lịch được mô tả trong phần “Những vấn đề kinh tế xã hội
do phát triển du lịch”
III Bao tén đa dạng sinh học
Rừng và biển Phú Quốc là nơi ¡ phong phú về đa dạng sinh học Đây cũng chính là tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Tuy nhiên hiện trạng của công tác bảo tôn và các quy hoạch phát triển không bền vững đang có nguy cơ tác động lớn đến bảo tồn da dang sinh học và bảo vệ môi trường cho huyện đảo này Mô tả chỉ tiết được trình bảy trong phân ““Tài nguyên và đa đạng sinh học”
10
Trang 10PHẢN II: HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH TÀI NGUYÊN NƯỚC -
` +
L Nước mặt
Phú Quốc là đảo có hệ thống sông ngồi đồi dào và phong phú, phân bố khá đồng
đều trên diện tích toàn đảo Các sông, rạch phần lớn đều bất nguồn từ các suối nhỏ thuộc dãy Hàm Ninh có tổng diện tích lưu vực khoảng 456 km2, chiếm 78% diện
tích toàn đảo (Quyết định số 178/2004/QĐÐ-TTg, Đề án phát triển đảo Phú Quốc,
tính Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, 2004), và chảy theo
hướng Đông Tay đổ ra bờ Tây của đảo Trong đó, các sông rạch lớn là: Rach Cita Cạn: Bắt nguồn từ đỉnh núi Chùa men theo đường tụ thuỷ giữa núi Chùa và Vo Quấp đổ ra bãi Cửa Cạn, chiều đài nhánh chính của rạch là 28.75 km, diện tích lưu
vực là 147 km2 (Báo cáo quy hoạch xây dựng, 2005, trang 6); Kạch Dương Đông:
bắt nguồn từ núi Đá Bạc và Cái Khế đổ về khu vực Gành Cậu, chiều dài nhánh chính là 18.5 km, diện tích lưu vực là 105 km2 (Báo cáo quy hoạch, trang 6); Sạch Tràm: bắt nguồn từ dãy Hàm Ninh đổ ra bờ Bắc của đảo, chiều dài nhánh chính là 14.8 km, điện tích lưu vực là 49 km2 (Báo cáo quy hoạch xây dựng, 2005, trang 6) Ngoài ra còn có nhiều suối nhỏ khác như rạch Vẹm, rạch Cốc, rạch Nhum, rạch Dinh, rạch ông Diệm ở khu vực bờ Bắc; rạch Hoà Một, Đá Chồng, Cát An, Bà Sáu,
Mũi Dinh, Bà Cải, Hàm Ninh, Cầu Sấu , suối Đá Vàng, suối Đóm khu vực bờ
Đông; rạch Vũng Bầu khu vực bờ Tây a
Trang 11“`
Do đặc điểm địa hình dốc, đồi núi quanh co chiếm 78% diện tích đảo nên hệ thống
suối, rạch có vận tốc dòng chảy khá lớn, đặc biệt là về mùa mưa, nhưng về mùa khô đa phần các suối đều cạn, hoặc có lưu lượng rất nhỏ từ các mạch nước ngầm trong núi Tại khu vực thượng nguồn, các suối đều vẫn còn giữ được dáng vẻ hoang
SƠ, tạo nên các danh thắng cho du lịch Phú Quốc như suối Tranh, suối Tiên, suối
Đá Bàn Bên cạnh đó, nguồn nước suối được sử dụng cho mục đích cấp nước và
tưới tiêu tại các khu vực đân cư nông nghiệp Khu vực hạ lưu, nước tại các rạch bị |
nhiễm mặn vào mùa khô, ranh giới nhiễm mặn thường di chuyển sâu vào trong đảo
từ 3-5km vào mùa khô, vào mùa mưa thì thường có hiện tượng phan ting giữa pha nước mặn ở tầng đưới và pha nước ngọt ở tầng trên Các rạch lớn tại hạ nguồn đóng vai trò khá quan trọng trong việc vận chuyển hàng hoá, nguyên liệu cho các cơ sở
sản xuất nước mắm, nhu yếu phẩm cho nhân dân địa phương và đồng thời cũng là nơi neo đậu tàu thuyền của ngư dân
Huyện đảo Phú Quốc có 1 hồ lớn là hồ nhân tạo Dương Đông, được xây dựng và
đưa vào vận hành từ năm 2002 với tổng mức đầu tư là 70.156 triệu VND Hồ Dương Đông có tổng diện tích toàn bộ lưu vực là 16 km2, dung tích tổng cộng là
4,1 triệu m3 nước, trong đó dung tích hữu ích là 3,3 triệu m3 chiếm 80% dung tích tộng cộng Hồ có nhiệm vụ cung cấp nước tưới tiêu cho 300 ha đất trồng trọt và cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Dương Đông với công suất khai thác 14 10.000 m3/ngày
Tuy nhiên, do hệ thống các kênh nhánh
tưới tiêu chưa hoàn thiện, nên việc hồ
chưa phát huy hiệu suất cấp nước cho
mục đích tưới tiêu Nước cấp sinh hoạt ¿:
hiện cũng mới chỉ đạt khoảng 500
m3/ngày do mạng lưới cấp nước sinh
hoạt chưa xây đựng được nhiều và người
dân vẫn còn sử dung nước ngầm tự khai
thác
Hình 2.2: Hồ Dương Đông
Ngoài ra, Phú Quốc cũng có ó những hồ chứa nước nhỏ, chủ yếu là do dân tự làm và
khai thác để trữ nước tưới tiêu, hồ tại khu vực Bãi Dài thì được chặn lại để nuôi cá
nên nguồn nước bị ô nhiễm khá nghiêm trọng
Bên cạnh đó, nước mưa là nguồn nước rất đồi dào của Phú Quốc với lượng mưa từ 1.810-2.425 mm/năm (Niên giám thống kê 2002-2003) theo ước tính sơ bộ, lượng
nước mưa hàng năm vào khoảng 1.6 tỷ m3 nước, trong đó có 900 triệu m3 đổ vào
hệ thống suối rạch (lượng mưa phân bổ không đều trong năm, 80% tập trung vào
mùa mưa) (Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg, Đề án phát triển đảo Phú Quốc, tỉnh
12
Trang 13a
Theo các nghiên cứu của Liên đoàn địa chất thuỷ văn-địa chất công trình Miền
Nam từ năm 1999 đến 2003 cho thấy, đảo Phú Quốc có trữ lượng nước ngầm tiềm
năng khoảng 123.000 m”/ngày Nước tồn tại trong hai tầng chứa nước là tầng chứa - nước khe nứt (cavern aquifer) và tầng chứa nước 16 héng (porous aquifer), trong đó
đa phần là nước trong tầng chứa lỗ hồng chiếm khoảng 65% Cả hai tâng chứa
nước này có mức độ chứa nước từ giàu, trung bình đến nghèo Độ sâu của mực
nước ngầm dao động từ 0 đến vài mét tại khu vực ven biển và 5-10m trở lên tại các khu vực sười đốc thoải Do vậy điều kiện khai thác nước quy mô nhỏ khá dễ dàng bằng giếng khoan và giếng đào
Cũng theo các nghiên cứu này, các tầng chứa nước phân bố rải rác, tập trung chủ yếu ở phía Tây đảo Đã xác định được 5 khu vực giàu nước trung bình là khu Rạch Đâm tới bãi biển Tây Dương Tơ, khu Cửa Cạn, Nam Gành Dầu, Rạch Vẹm, Rạch
Tràm với tổng diện tích phân bố khoảng 40 km, tương đương với gần 20% diện
tích các tầng chứa nước Chiều dày các tầng chứa nước này vào khoảng 15-40 m, thành phần thạch học là cát thạch anh khá đồng nhất Phần còn lại khoảng 180
km2 được cho là nghèo nước, chiều dày tầng chứa nước từ vài m đến 30 m, thành
phần thạch học gồm cát, cát pha, và một số nơi xen lẫn bột sét
Nước ngầm tại khu vực trung tâm đảo gồm thị trấn Dương Đông, xã Hàm Ninh và Cửa Dương có khả năng khai thác cả nước khe nứt và nước lỗ hồng, với trữ lượng khoảng 30.000 m”/ngày Khu vực phía tây bắc đảo gồm xã Cửa Cạn, Gành Dâu là vùng có nhiêu điểm giao nhau của các đứt gãy, có khả năng tìm kiếm được các nguồn nước nóng, nước khoáng trong các đứt gấy sâu Trữ lượng khai thác có thể
đạt 25.000 mỶ/ngày Chất lượng nước ngầm khá tốt, có thể sử dụng cho mục đích
cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên, nước ngầm có độ pH và Flo khá thấp, có tính ăn
mòn axit, ăn mòn carbonic, nhưng không có tính ăn mòn sulfat
Theo điều tra thực tế, có rất nhiều hộ gia đình sử dụng giếng khoan, giếng đào để khai thác nước ngắm Các giếng này thường sâu từ 15-30m, về mùa mưa lượng nước khá đồi dào, nhưng mùa khô mực nước ngầm hạ đi nhanh chóng Các khách
sạn cũng sử dụng nước ngầm làm nguồn cấp nước chính với các giếng khoan sâu khoảng 50-7Öm, mặc dù tại khu vực trung tâm thị trấn n Dương Đông cũng đã có
nước sạch cấp từ nhà máy nước Phú Quốc ae
II Sử dụng nước
HH.1 Nước sinh hoạt
Nguồn nước cấp cho sinh hoạt tại Phú Quốc bao gồm nước ngầm, nước suối, hồ và nước từ trạm cấp nước tập trung Do dân cư phân bố rải rác tại các khu vực khác nhau, nên việc cấp nước tập trung chủ yếu phục vụ cho khu vực đô thị, các khu vực
còn lại thường tự khai thác nguồn nước ngầm để sử dụng
14
Trang 14Trạm cấp nước do công ty Cấp nước
Kiên Giang đầu tư từ năm 2004,
hoàn thành và đưa vào sử dụng từ
tháng 4/2006, phục vụ cho nhu cầu
của dân cư đô thị của thị trấn
Dương Đông Với công suất giai
đoạn L 2006 là 5.000 m3/ngày và
tiếp tục mở rộng, nâng công suất
nhà máy lêp 10.000 m3/ngày vào
năm 2010, trạm cấp nước Phú Quốc
gốp phần quan trọng :vào việc đảm
bảo nguồn nước sạch cho dân cư đô
Tuy nhiên, hiện nay nhà máy mới chỉ đạt công suất 500 m”/ngày, tức 10% công suất của nhà máy cho giai đoạn này Với khoảng 33 km đường ống bao gồm ống cấp I, cấp H và mạng dịch vụ, trạm cấp nước mới chỉ đấu nối và ký hợp đồng cấp nước cho khoảng 800 hộ gia đình, tương đương với khoảng 4000 đến 5000 dân, tức
15-20%% tổng dân số của thị trấn Dương Đông Nguyên nhân chủ yếu là do người
dân sử dụng hai nguồn nước cấp cho sinh hoạt, nước máy và nước ngầm tự khai thác Nước ngầm tồn tại ở đạng mạch nông nên chi phí khai thác nước rất rẻ, trong khi giá thành cấp nước từ trạm cấp nước Phú Quốc vẫn còn cao so với thu nhập của
đại bộ phận dân chúng trên đảo
Các khu vực dân cư sống rải rấc, nước
chủ yếu được khai thác thống qua hệ
thống giếng đào, giếng khoan chiều
sâu từ 10-30 m, tuỳ thuộc vào từng vị
trí Vào mùa mưa, trữ lượng nước dồi
đào và các gia đình có thể đảm bảo
nguồn nước cung cấp, tuy nhiên vào
mùa khô, mực nước ngầm hạ đi nhanh
Trang 15+
Theo báo cáo thống kê năm 2003-2005,
tỷ lệ người sử dụng nước sạch đạt 93- 96% Đây là con số khá cao so với, nhiều đô thị và khu dân cư tập trung
trong đất liền Nhưng thực tế, nước do
dân tự khai thác từ nguồn nước mặt và
‘nuéc ngầm thường không qua quá trình
xử lý nào, do đó chất lượng nước khó có
khả năng đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước
a cho ăn uống va sinh hoạt, đặc biệt là các
Hình 26: Tiếp cận nguồn nước sinh thống kê nêu trên chỉ liên quan đến tỷ lệ
nước ngọt trên đảo
HI.2 Nước tưới cho nông nghiệp
Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là cây hồ tiêu, đào (điều), đừa và một số loại hoa màu, cây ăn quả phục vụ nhu cầu tiêu dùng trên đảo Trong đó, các loại cây lâu năm như dừa, đào thường không cần hệ thống tưới tiêu, ngay kể cả vào mùa khô Các loại cây ăn quả, rau màu, hồ tiêu thì cần phải tưới, đặc biệt trong mùa
khô Diễn biến diện tích trồng cây cho thấy, cây hồ tiêu từng là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Phú Quốc hiện đang dần nhường chỗ cho cây ăn quả chiếm ưu
thế Từ 700-800 ha hồ tiêu những năm 2000-2002, nay chỉ còn 300-400 ha và diện tích cây ăn quả cũng đang dần tăng lên nhanh chóng Theo tính toán, trong sáu tháng mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, cần lượng nước cho tưới tiêu khoảng 17-
Trang 16Hình 28: Nhu cầu dùng nước tưới tiêu
IV Chất lượng nước
Công tác quan trắc nhằm theo dõi những biến động của môi trường nước tại Phú
Quốc được thực hiện bởi Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Kiên Giang vào tháng 6-7 (mùa mưa) và tháng 11-12 (mùa khô) hàng năm Số điểm quan trắc chất lượng
nước mới chỉ dừng ởhai điểm quan trắc chất lượng nước biển và ven biển: khu vực
cảng An Thới và khu vực cửa sông Dương Đông Do đó các nguồn số liệu hiện có còn rất nghèo nàn Lý do là hiện nay, phòng Tài nguyên Môi trường huyện Phú Quốc mới chỉ có biên chế một cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường, chưa có
phòng thí nghiệm để có thể kiểm tra chất lượng nước Công tác kiểm tra, đánh giá
chất lượng các nguồn nước còn phụ thuộc hoàn toàn vào Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Kiên Giang
Trong thời gian thực hiện khảo sát hiện trường đảo Phú Quốc tháng 11/2006, nhóm chuyên gia của IUCN cũng thực hiện kiểm tra nhanh một số chỉ tiêu nhằm đánh
giá sơ bộ chất lượng nước tại 16 điểm, bao gồm nước mặt, nước ngầm và nước
biển
IV.1 Chat lượng nước mặt
Qua các chỉ tiêu đo nhanh ngoài hiện trường, đặc điểm chung của các mẫu nước mặt là giá trị pH thấp Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng nước mặt khu vực thượng nguồn các dòng suối và hồ Dương Đông của Phú Quốc còn rất tốt, chưa bị ảnh
hướng bởi các tác nhân gây ô nhiễm Nồng độ ôxy hoà tan có xu hướng giảm dần
từ thượng nguồn xuống hạ lưu chứng tỏ chất lượng nước tại hạ lưu có dấu hiệu bị ô nhiễm Đặc biệt tại khu vực hồ nuôi cá dọc Bãi Dài (PQ-1 1), nồng độ oxy hoa tan
rất thấp, nguyên nhân có thể là do đang trong mùa khô, nước hồ bị cạn dân, mật độ
cá nuôi quá cao và sự phân huỷ thức ăn thừa của cá (thức ăn nuôi cá chủ yếu là cá
vụn, xác cá từ quá trình phá xác tại các cơ sở sản xuất nước mắm)
17
Trang 17Một số suối đầu nguồn rạch Cửa Cạn, rạch Tràm có độ đục khá cao, nguyên nhân chủ yếu là đo quá trình xây dựng cầu trên đường xuyên đảo có khối lượng đào đấp
lớn, sử đụng đất đỏ rải mặt đường dẫn đến đất cát sa lắng xuống lòng suối Một
nguyên nhân nữa có tính lâu đài là do sự phân huỷ lá cây rừng vào mùa khô (tiếng địa phương gọi là cây lá Lủ) đã làm giảm lượng Oxy hoa tan và tăng độ đục, độ màu trơng nước
Trang 18IV.2 Chất lượng nước ngầm on
Theo nghiên cứu của Liên đoàn địa chất thuỷ văm-địa chất công trình miền Nam
năm 2003 cho thấy, hầu hết các tầng chứa nước lỗ hồng đều chứa nước nhạt, tổng khoáng hoá nhỏ hơn 0,1mg/1 Nước mặn thường gặp ở các vùng trũng và các dải đất ven biển Chất lượng nước ở tầng lỗ hổng khá tốt, có thể dùng cho mục đích
cấp nước sinh hoạt Riêng chỉ tiêu pH và Flo thấp, thường gặp là pH dao động trong khoảng 4-6
Nước thuộc tầng chứa nước khe nứt có tổng khoáng hoá nhỏ hơn 0.1 g/1, độ cứng
thấp, ít có dấu hiệu nhiễm bẩn bởi các hợp chất Nitơ, hàm lượng sắt có trong nước không đáng kể Tâng nước khe nứt có chất lượng khá tốt, đảm bảo để cung cấp cho
ăn uống và sinh hoạt Hâu hết các các chỉ tiêu phân tích đều đạt tiêu chuẩn nước ăn
uống Tuy nhiên, cũng giống như nước lỗ rỗng, độ pH và Flo trong nước khe nứt
cũng khá thấp Tại các khu vực vùng trũng như phía bắc An Thới đã xác định được
là nước khe nứt ở đây bị nhiễm mặn (Báo cáo điều tra địa chất thuỷ văn, địa chất công trình và ầm kiếm nguồn nước đảo Phú Quốc, Liên đoàn địa chất thuỷ văn- địa chất công trình miền Nam, 2003, trang 72)
Theo số liệu của đoàn chuyên gia IUCN thang 11/2006, độ dẫn và độ đục trong © nước ngầm khá cao, chứng tỏ nước ngầm tại khu vực Bãi Thơm bị nhiễm mặn với hàm lượng muối rất lớn
Trang 19Việc khai thác nước ngầm quá mức và không có kế hoạch sẽ dẫn đến mực nước ngầm bị hạ thấp, chất lượng nước ngầm khu vực trũng hoặc ven biển sẽ bị nhiễm mặn Bên cạnh đó, nước thải và chất thải rắn đô thị là tác nhân trực tiếp gây ố nhiễm môi trường nước ngầm và nước mặi
IV.3 Chat lượng nước ven bờ và biển
Chất lượng nước biển tại Phú Quốc chịu tác động do các hoạt động sinh hoạt, công
nghiệp và dịch vụ của cư dân trên đảo Tại khu vực phía nam đảo, chất lượng nước chịu ảnh hưởng do hoạt động của cảng và chợ An Thới, Nhà máy chế biến hải sản thuộc Công ty XNK thuỷ sản Kiên Giang và các cơ sở sản xuất chế biến hải sản tư
nhân nằm xen ké trong các khu dân cư Khu vực trung tâm của đảo, sông Dương
Đông tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt và nước thải đo các cơ sở sản xuất nước mắm nằm dọc theo hai bên bờ sông và chợ Dương Đông Đặc điểm chung của nước ven bờ và nước biển là lưu lượng và khả năng phân tán cao nên hiện tại mức
độ ô nhiễm ở mức nhẹ, chủ yếu là cảm quan về màu sắc và mùi vị Nồng độ BOD;
thường thấp hơn nồng độ cho phép (BOD; < 20mg/]) của tiêu chuẩn chất lượng nước ven biển TCVN 5943-1995
Hình 2.12: Chat lượng nước biển khu vực cảng An Thới, Phú Quốc
Chất lượng nước ven bờ và nước biển hiện nay có nguy cơ bị ô nhiễm do vận tải
thuỷ, đầu và rác thải từ các tàu thuyền đánh bắt trên biển, quá trình đô thị hoá và xây đựng trên đảo, và các dịch vụ du lịch không bên vững Ngoài ra, biển Phú
Quốc phía tây và phía bắc giáp Campuchia và vịnh Thái Lan nên cũng chịu ảnh hưởng từ các nguồn nước thải và chất thải rắn từ các quốc gia này Tại khu vực quần đảo An Thới và Bãi Sao đã thấy có sự xuất hiện xác lục bình trôi đạt từ đất
liển cho thấy khả năng phát tán chất thải từ đất liên cũng là một nguy cơ tiểm ẩn
đối với biển Phú Quốc
20
Trang 20Hioh 2.13: Chất lượng nước biển khu vực Dương Đông
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Kiên Giang, 2005
Hình 2.14: Xác lục bình trôi dạt vào khu vực — Hình 215: Xây dựng đường ven đảo và
TV.4 Tình hình ngập lụt
Diễn biến ngập lụt tại Phú Quốc diễn ra không thường xuyên, chủ yếu là những
điểm ngập lụt cục bộ, thời gian ngập không kéo dài Những trận lụt lớn được ghi
lại là trận lụt năm 1997 và mới đây vào tháng 9/2006 Nguyên nhân xảy ra ngập lụt
là đo mưa lớn kéo dài kết hợp với triều cường gây ra tình trạng ngập trên điện rộng Các khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất là toàn bộ địa bàn thị trấn Dương Đông
(trừ khu phố 7), xã Dương Tơ, Hàm Ninh và một số điểm ngập lụt cục bộ tại các xã
Cửa Cạn, An Thới, Bãi Thơm Tổng thiệt hại của trận lụt này lên tới 7,5 tỷ VND,
21
Trang 21với 1.089 căn nhà, 45 cơ sở sản xuất và 25km đường bị ngập, hàng trăm đầu gia
súc bị chết (Ban chỉ đạo phòng chống bão lụt, 2006)
V Áp lực gây ô nhiễm nguồn nước
Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, đảo Phú Quốc sẽ được xây dựng thành một trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch biển mang tầm cỡ khu vực
và quốc tế Với quy mô dân số 110.000 và 200.000 đến năm 2010 và 2020, cùng
với hàng triệu lượt khách đến với Phú Quốc kéo theo sự gia tăng áp lực cho hạ tầng
kỹ thuật và môi trường Những tác động ảnh hưởng tới môi trường nước bao gồm: (i) chat thai sinh hoạt và công nghiệp, (ii) x4y dung co sé ha tang trén dao, (iii) khai thác quá mức tài nguyên nước, (¡v) vận tải thuỷ và các hoạt động đánh bắt hải sản, (v) khai thác khoáng sản, và (vi) các hoạt động du lịch
V.1 Chất thải
` Nước thái
Tại khu vực thị trấn Dương Đông, nước thải được thu gom qua hệ thống cống chung (nước thải và nước mưa trơng cùng một hệ thống đường ống) rồi xả thẳng ra
nguồn tiếp nhận là sông Dương Đông, còn khu vực thị trấn An Thới thì xả ra cảng
An Thới Với tổng dân số ổô thị là 48.000 người tập trung ở thị trấn An Thới và
Dương Đông và khoảng 160.000 khách du lịch đến Phú Quốc năm 2005, lượng nước thải đô thị được ước tính khoảng 4.500-5.000 m*/ngay, trong đó nước thải từ
thị trấn Dương Đông chiếm khoảng 60-70% Nước thải được xử lý qua bể tự hoại hoặc xả trực tiếp vào cống thoát nước trước khi ra nguồn tiếp nhận Các bể tự hoại
là do các hộ gia đình tự xây dựng nên chất lượng và kỹ thuật không thống nhất, hiệu quả xử lý chưa cao
Doc bờ biển khu phố 1 Dương
Đông, một loạt các khu nghỉ và
khách sạn xá toàn bộ nước thải trực
tiếp ra các bãi biển gây mất mỹ |
quan và vệ sinh môi trường Chỉ có
một ft số khách sạn lớn như Thiên
Hải Sơn, Sài Gòn-Phú Quốc có đầu
tư xây dựng hệ thống xử lý nước
thải cục bộ bằng công nghệ xử lý
sinh học, tuy nhiên công tác kiểm
tra theo đõi chất lượng nước thải sau
cách nghiêm ngặt Hình 2 16: Xả nước thải trực tiếp ra bãi biển Nước thải công nghiệp thường phát sinh từ các đơn vị công nghiệp chế biến hải sản
và làm nước mắm Nước thải do quá trình rửa nguyên liệu, vệ sinh nhà xưởng và
ud
22
Trang 22thùng ủ chượp thường xả thẳng vào nguồn tiếp nhận mà không qua công-đoạn xử
lý nào gây mất vệ sinh môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng *
Phú Quốc hiện có một bệnh viện 100 giường, lượng nước thải ước tính từ 20- 30m”/ngày Bệnh viện có trạm xử lý nước thải và lò đốt rác y tế riêng, tuy nhiên do chí phí vận hành cao nên trạm xử lý nước thải này gần như không hoạt động Nước thải xả ra chảy vào hệ thống cống thoát nước chung của đô thị trước khi chảy vào sông Dương Đông Đến năm 2010 và 2020, số lượng giường bệnh sẽ tăng lên 500-
1000 giường.bệnh, khối lượng nước thải bệnh viện sẽ đạt khoảng 150-200 m3/ngay
Lượng nước thải đô thị ước tính đến năm 2010 và 2020 là 17.600 m? va 53.000 m’
Nếu không được thu gom và có biện pháp xử lý phù hợp thì nước thải vào môi trường sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng nước ngầm và nước mặt cũng như hệ sinh
thái biển Xu hướng phát triển du lịch phân bố tại các khu vực độc lập của đảo làm giảm khả năng thu gom và xử lý nước thải tập trung, nên đời hỏi sự thi hành luật
một cách nghiêm túc và sự tự giác của các nhà đầu tư trong vấn đề quản lý và xử lý nước thải
Chat thải rắn
Theo số liệu từ Ban quản lý dự án Công trình công cộng huyện Phú Quốc, lượng rác thải đô thị thu gom mỗi ngày là 110 mỶ chiếm 80-90% lượng rác cần thu gom
Trong đó, rác thải đô thị tại Dương Đông chiếm 75% lượng rác đã thu gom Rác
thải được vận chuyển đến 2 bãi đổ An Thới (5ha) và Cửa Cạn (3ha) Các bãi đổ này chủ yếu lợi dụng địa hình thấp tự nhiên để chứa rác, bãi đổ chưa có hệ thống thu
gom và xử lý nước rỉ rác Rác được xử lý bằng cách phun hoá chất diệt ruồi muỗi,
về mùa khô thì được đốt cháy tự nhiên Do lượng mưa ở Phú Quốc lớn, mực nước
ngầm cao và khu vực bãi đổ chủ yếu là đất pha cát, nên khả năng phát tán của nước
rỉ rác vào môi trường nước ngâm và nước bề mặt là rất lớn
Cũng theo Ban quản lý đự án Công ©
trình công cộng, lượng phân bùn bể
phốt được thu gom vào năm 2005 là
326 m? Lượng phân bùn này được sử
dụng trong nông nghiệp để bón cây
như hồ tiêu, dừa, điều
Rác thải biện nay đang là vấn đề cấp
bách của Phú Quốc về môi trường
Bãi đổ Cửa Cạn đã bắt đầu quá tải, ;
bãi chôn lấp hợp vệ sinh mới và đóng *"™"
cửa bãi đổ hiện nay Hình 2.17: Bãi đổ rác Cửa Cạn
Trang 23
23-Phần lớn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt là dơ nước rỉ rác từ các bãi đổ rác, nước thải rò rÍ từ đường ống hoặc chảy tràn bề mặt, sử dụng quá nhiều phân bón hoá học
và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp Các hoạt động này sẽ làm biến đổi chất lượng
nước ngầm bao gồm: suy thoái về sinh học gây ra sự nhiễm khuẩn và vi rút có
phân thải của người và động vật; suy thoát về hoá học làm tăng nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ, suy thoái về tính chất vật lý của nước như nhiệt độ, mùi vị,
cảm quang
V.2 Khai thác quá mức Việc khai thác nước ngầm quá mức và không có kế hoạch sẽ dẫn đến mực nước ngầm bị hạ thấp, chất lượng nước ngâm khu vực trũng hoặc ven biển sẽ bị nhiễm mặn Các giếng khoan khi không còn sử dụng do chất lượng nước kém không được đóng lại đúng kỹ thuật sẽ là cửa sổ tiếp nhận nước thải hoặc nước ngầm mạch nông gây ô nhiễm nguồn nước ngầm mạch sâu
Theo đề án phát triển đảo Phú Quốc đến năm 2020, hiện nay Phú Quốc có hơn 700
giếng khoan, trong đó tập trung chủ yếu ở Dương Đông, các giếng khoan này sẽ
còn tiếp tục phát triển đo số lượng khách du lịch đến với Phú Quốc ngày một đông
hơn, nếu không có biện pháp quản lý và theo đõi chặt chế hoạt động của các giếng
khoan, thì việc nhiễm mặn và suy thoái nguồn nước ngầm sẽ dễ dàng xảy ra
Có hai khả năng làm cho nước ngầm có nguy cơ nhiễm mặn là: do nước ngâm khu
vực ven biển thường tồn tại trong các tứi nước, khả năng bị nhiễm mặn do tác động của thuỷ triều xâm nhập vào tầng chứa nước ngọt theo tính chất đi chuyển và tác
động qua lại của các tầng chứa nước; nguyên nhân tiếp theo là giếng khoan quá
sâu hoặc lưu lượng bơm khai thác lớn dẫn đến khả năng xâm thực cạnh bên do
nước biển và xâm thực đáy do nước ngâm có chứa hàm lượng muối cao Giải pháp
cơ bản để khắc phục các nguy cơ trên là tăng cường khả năng bổ cập nước ngọt cho tầng chứa nước ngầm và có kế hoạch khai thác và quản lý hiệu quả các giếng khoan khai thác nước
V 3 Vận tải thuỷ và hoạt động đánh bắt hải sản
Vận tổi thuỷ và các hoạt động đánh bắt hải sản trên biển là phần tất yếu đối với
huyện đảo Phú Quốc Ngoài đội tàu của đảo hiện có 2.430 chiếc, tổng công suất là 85.000 mã lực (Báo cáo thống kê, 2003-2005), Phú Quốc còn phát triển dịch vụ nghề cá cho các đội tàu từ trong đất hền Do đó rác và dầu thải từ hoạt động vận tải
thuỷ và tàu thuyền đánh bắt cá là nguồn gây ô nhiễm ảnh hưởng tới chất lượng nước ven bờ và nước biển Bên cạnh đó, việc đánh bắt cá sử dụng Cyanua gây tác hại rất lớn với môi trường nước và sinh vật biển
24
Trang 24
Mình 2.16: Tâu cá tại đáo Hòn Thơm
V.4 Hoạt động khai thác khoáng sản Hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu là khai thác vật liệu xây dựng Trong đó
sản lượng đá xây dựng là 64.000 m3 và 600.000 m3 cát san lấp mặt bằng (Niên
giám thống kê 2003-2005) Các hoạt động này sẽ làm thay đổi bề mặt phủ và cảnh quan môi trường, ảnh hưởng chất lượng nước mặt và nước ngầm Theo quy hoạch
về khai thác khoáng sản, khu vực khai thác cát là 100ha, trữ lượng khai thác khoảng 3 triệu m3 cát Các bãi sau khi khai thác có thể nghiên cứu làm hồ thấm
khô hoặc hồ chứa nước để tạo cảnh quan và điều hoà tiểu khí hậu
V.5 Hoạt động du lịch và dich vu
25
Trang 25Lượng khách du lịch tăng mạnh =
kể từ năm 2000 đến nay, đặc | 180.000
biệt là khách du lịch nội địa | 2
Tuy nhiên, lương khách biện 420.000
hay vẫn còn tương đối ítsovới | 400.000:
tiêm năng phát triển du lịch của 80,000
Phú Quốc Lượng khách tăng 60,000
lên kéo lượng chất thải tăng lên 40,000
gây sức ép cho môi trường 20,000
nước mặt và nước ngầm Hiện 7
nay các khu nghỉ ven biển đều 4999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
sử dụng nguồn nước ngầm cho
nhu cầu cấp nước sinh hoạt và
hoại ra các bãi biển Hình 2 19: Lượng khách du lịch đến Phứ Quốc
— Việt nam —®#— Nước ngoài — ¬á- — Tổng
VI Dự báo nhu cầu sử dụng nước
Nhu cầu cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt
Dân số Phú Quốc tính đến năm 2005 là 84.873 người Theo quy hoạch phát triển
tổng thể đảo Phú Quốc, tốc độ tăng dân số bình quân khoảng 5.3%, dân số đến
năm 2010 ước tính là 110.000 người và 2020 là 190.000 người Trong đó, tỷ lệ dân
cư đô thị đạt khoảng 80% tổng số dân
Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển người và hàng hoá, đến năm 2010 sẽ đầu tư xây
dựng 130 ha cảng biển và cảng du lịch, và đến năm 2020 là 260 ha Sân bay mới sẽ được đầu tư, dự kiến diện tích sử dụng đất là 800ha
Nhu cầu cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt được tính toán căn cứ vào Tiêu chuẩn ngành TCXDVN 33:2006: Cấp nước - Mạng lưới đường ống và công trình -
Tiêu chuẩn thiết kế, trong đó có xét đến điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế xã
hội của Phú Quốc
Nhu cầu dùng nước tính toán cho Phú Quốc đến năm 2010 là 22 000m2/ngày và
2020 14 66.000 m3/ngay
26