1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể

50 361 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 45,33 MB
File đính kèm 3.rar (11 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình 2.2: Hồ Dương Đông Ngoài ra, Phú Quốc cũng có ó những hồ chứa nước nhỏ, chủ yếu là do dân tự làm và khai thác để trữ nước tưới tiêu, hồ tại khu vực Bãi Dài thì được chặn lại để nuô

Trang 2

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế hs

Cục Bảo vệ Môi trường/ Bộ Tài nguyên & Môi trường — “ry

Báo cáo: Tác động của xu hướng phát triển đối với đa dạng sinh học đảo Phú

Trang 3

Lời nói đầu :

*

Đảo Phú Quốc trước đây được biết đến như một vùng 'đất xa xôi 'trồng hồ tiêu và làm nước năm nỗi tiếng với người tiêu dùng trong nước và trên thế giới Ngày nay càng nhiều người biết đến Phú Quốc như mét “tiém năng thức dậy” cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng, nơi có khí hậu nhiệt đới ôn hòa, những bãi biên sạch đẹp, diện tích rừng rộng lớn -

và tài nguyên biển dồi dào

Tuy nhiên, số lượng khách du lịch và dân số ngày cảng tăng trong những năm gần đây

cùng với việc nói lại đường hàng không và đường biển ra đảo và các cơ sở địch vụ du lịch trên đảo đang gây ra những áp lực đối với môi trường, tài nguyên và đa dạng sinh học đối với khu vực này Các quy hoạch phát triển để đáp ứng mục tiêu đón lượng khách

du lịch từ 2-3 triệu ngườ/năm vào 2020 càng đặt ra những thách thức về phát triển bền vững cho ốc đáo này

Mục tiêu công việc của nhóm chuyên gia và kết quả của báo cáo này là đánh giá nhanh,

phân tích hiện trạng và xu hướng phát triên đảo Phú Quốc, và những tác động của các xu

hướng đó đến nỗ lực bảo tồn trên đảo

Công việc được hoàn thành có sự hỗ trợ tài chính thông qua thỏa thuận giữa IUCN - Tổ

chức Bảo tôn Thiên nhiên Quốc tế và Sida - Quỹ hô trợ phát triển Quốc tế của Thụy điền, Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân đân và Sở Tài nguyên & Môi trường Kiên Giang, Uy ban nhân dân huyện Phú Quốc, và nỗ lực đặc biệt của của nhóm các chuyên gia tư vần độc lập của IUƠN:

TS Trần Võ Hùng Sơn, chuyên gia về du lịch và cảnh quan;

T5 Viên Ngọc Nam, chuyên gia về đa dạng sinh học;

TS Nguyễn Thị Hồng, chuyên gia về kinh tế xã hội;

ThS Đỗ Thuận An, chuyên gía tài nguyên nước;

TS Trần Phương Đông, chuyên gia quản lý ven bờ và tác động môi trường

Báo cáo này được hoàn thành trong 22 ngày, trong đó có 7 ngày quan trắc hiện trường tại

Hà Nội, 12/2006

Trang 4

Phan I: TONG QUAN ¬

IL — Vị trí địa lý, khí hậu và đất đai

Phú Quốc, một huyện đảo thuộc tỉnh Kiên Ginky, là hòn đảo lớn nhất nằm ở cực”

nam của lãnh thổ Việt Nam (Hình 1 1), thuộc bờ đông vùng vịnh ` Thái Lan Huyện „ đảo Phú Quốc bao gồm một đảo chính (diện tích 593 km?) và nhiều đảo nhỏ, trong

đó có hai xã đảo là Thổ Châu và Hòn Thơm

Trang 5

“ry

Phía bắc đảo chính giáp lãnh hải Campuchia, phía đông giáp vùng biển Kiên Giang-Hà Tiên, phía nam là vùng vịnh Thái Lan thông ra với Biển Đông, 'phía tây -

là vùng biển vịnh Thái Lan Điểm cực đông của đảo chính (cảng Đá Chồng) cách

thị xã Hà Tiên 40km đường hàng hải Từ phía nam đảo chính (thị trấn An Thới)

cách thị xã Rạch Giá 120 km đường hàng hải (tau cao tốc cánh ngầm chạy mất 2h30’) Đường hàng không đi từ TP HCM đến sân bay Dương Đông (đảo chính) thời gian bảy là khoảng 50 phút (máy bay ATR-72)

Vùng quan tâm của nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào đáo chính (từ nay gọi là Phú Quốc) và quần đảo An Thới Vì vậy, xã đảo Thổ Chu sẽ không được đề cập tới nghiên cứu này

Khi hậu

Do vị trí địa lý đã nêu ở trên, chế độ khí hậu Phú Quốc có tính chất nhiệt đới gió mùa Khí hậu ở đây nóng và âm, với hai mùa gió rõ rệt Nhiệt độ trung | bình năm

khoảng 27,1°C Nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,3°C (tháng 4) và thấp nhất là

25,0C (tháng 1) Lượng mưa trung bình năm khoảng 3000mm, tập trung vào

tháng 8 (chiêm 90%) Chế độ gió: gió bắc (tháng 9 đến tháng 12), gió mùa tây nam (gió chướng) (tháng 3 đến tháng 8) (W attayakorn et al, 1998) Tốc độ gió trung bình vào mùa tây nam mạnh hơn gió bắc và có thể đạt tới 31m/s Vào thời - gian chuyển tiếp (tháng 1 đến tháng 2), gió yêu và hướng thôi không rõ ràng

Thủy văn biển

Khu vực nằm trong vùng ‹ chế độ thủy triều mang tinh nhat triều điển hình với một lần nước lên cao và một lần nước xuống thấp trong 24 giờ Tần suất lặng sóng (độ cao dưới 0.25m) chiếm khoảng 83-85% ưu thể tuyệt đối Vào mùa hề (tháng 5 đến tháng 10) hướng sóng chủ đạo là hướng nam và đông với độ cao trung bình 0.4m, cao nhất là 2m khi có bão Thời gian lặng gió chiếm 80-84% là điều kiện tốt cho phát triển các loại hình điều kiện trên biên Vào mùa đông, hướng gió chủ đạo là bắc với độ cao trung bình 0.4m và tối đa là 1.5m khi có gió mùa Đông bắc lớn Nhìn chung chế độ sóng trong đảo Phú Quốc thích hợp và thuận lợi cho các hoạt động du lịch, tham quan trên biển

Dòng chảy chủ yếu là dòng triều, thé hiện rõ dòng chảy vào va các dòng chảy ra trong các eo hẹp khi triều lên hay triều rút Đặc biệt khi có gió nam hoặc gió đông

bắc thôi mạnh đã phát sinh dòng trôi với tốc độ <20cm/s Đặc điểm dòng chảy

khá phức tạp nên khi đưa khu vực nào vào khai thác làm bãi tắm hay các hoạt động thể thao trên nước cần có nghiên cứu kỹ đòng chảy đặc thù của khu vực đó

Trang 6

e đất xám có tầng loang lỗ đỏ vàng phân bố ở địa hình thấp: 6352 ha

4 Nhóm đất đỏ vàng: Phân bồ trên địa hình đôi núi toàn đảo, chiếm 36678 ha

H Hiện trạng và quy hoạch phát triển

Trước đây hoạt động kinh tế chủ yếu trên đảo là trồng hỗ tiêu, đào (lộn hột), đánh bắt thủy hải sản, và làm nước mắm Phần lớn dân số trên đảo tập trung tại hai thị trần Dương Đông và An Thới

Kể từ khi chính phủ có quyết định số 97/2000/QD-TTG | cho phép áp dụng một : số quy chế kinh tế hành chính cửa khẩu và chính sách khuyến khích đầu tư phát triển,

và tiếp theo là quyết định số 178/2004/QĐÐ-TTG phê đuyệt đề án phát triển tong thể đảo Phú Quéc dén 2010 va tam nhìn đến năm 2020, thì các hoạt động kinh tê

xã hội ngày càng nhộn nhịp hơn, nhất là phát triển du lịch, dịch vụ du lịch và giao thông Sau đây là tình hình sản xuất trong một số lĩnh vực cho tới năm 2006, và kế hoạch những năm tiếp theo

Về nông-lâm nghiệp

Diện tích và hoạt động trồng đào, cây: ăn quả và bồ tiêu tuy có giảm sút do ảnh hưởng của phát triển du lịch, nhưng vẫn ở mức đặt chỉ tiêu tăng cho năm 2007, và thấp nhiều so với yêu cầu quy hoạh của chính phủ

Bảng 1.1: Hiện trạng diện tích (ha) đất nông-lâm nghiệp

Trang 7

“fy Theo quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp vẫn giữ ở mức như hiện nay là 43.361

Về đánh bắt thủy sản và chế biến

Nghành thủy sản chủ yếu của Phú Quốc là đánh bắt, với phần lớn dân sỐ tập trung vào nghề này Sản lượng đánh bắt bắt chủ yếu là cá cơm để làm nước nắm, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng

Bảng 1.2: Kế hoạch phát triển thủy sản qua các năm

Nguôn: Kê hoạch phát trién KT-XT Pha Quốc, 2005

Công nghiệp và điện lực

Hoạt động công nghiệp chủ yếu trên đảo là sản suất điện, khai thác đá và cát, và

chế biến nhưng quy mô không đáng kể

Thiếu, điện năng là vấn đề lớn đối với đảo Phú Quốc Nguôn cấp điện tại Phú Quốc chủ yếu là nhà máy điện đặt tại Dương Đông công suâật 4MW hiện nay đang mở rộng công suất lên 12MW Đợt 1 gồm 1 tổ máy 1 500kW và đời trạm diesel hiện hữu vào, đợt 2 sẽ đặt thêm 2 tổ máy 2.500kW Hiện nguồn và mạng lưới điện chỉ mới đáp ú ứng nhu cầu tiêu thụ điện của khoảng, 70% dân cư Các cơ sở công nghiệp

và du lịch có mức tiêu thụ điện lớn đều phải có máy phát điện dự phòng

Trong khi để án đường cáp điện ngầm dưới đáy biển từ Hả Tiên rá Phú Quốc còn - chưa rõ ràng thì một số phương án tăng cường năng lượng điện cho Phú Quốc đã được bàn thảo:

e Tăng công suất của các nhà máy nhiệt điện hiện có,

e Ứng dụng năng lượng gió và mặt trời,

© Phát triển nhiệt điện từ rác thải (biogas)

Công ty Điện lực 2 đã chỉ đạo Điện lực Kiên Giang, ngoài việc đuy trì hoạt động

của nhà máy điện hiện có và định hướng giai đoạn 2003 — 2006, phải chuẩn bị đầu

tư xây đựng thêm một nhà máy diesel mới (gồm 4 tô máy công suất 8 MW, với

Trang 8

tông số vốn đầu tư dự kiến khoảng 124,273 tỷ đông), trước mắt hoàn thành 2 tô máy trong năm 2004 để đáp ứng nguồn điện cho nhân dân Được biết vào thời điểm này, Điện lực Kiên Giang cũng đang nỗ lực cùng các nhà thâu hoàn thiện và chạy thử 2 tô may diesel, mỗi máy 2.500 kW đề sớm đưa vào sử dụng, đảm bảo cung cấp điện ổn định cho khách hàng đến cuối hăm 2007 Dự kiến khoảng Sau

năm 2010, ngành Điện sẽ xúc tiến đầu tư khoảng 13Š triệu USD, thi công đường

điện từ đất liên ra đảo, theo đó sẽ lựa chọn một trong hai cách: Lắp đặt tuyến cáp ngầm xuất phát từ thị xã Rạch Giá (dài 45 km), hoặc trực tiếp mua điện từ Campuchia qua đường cáp ngầm ra đảo (dài hơn 10 km)

Ngày 19/5/2006, Sở KHĐT tỉnh Kiên Giang cho biết, UBND tỉnh đã giao cho

Công ty cổ phần Việt Cường đầu tư đự á án sản xuất điện bằng sức gió tại đảo Phú

Quốc theo phương thức BOT với 100% vốn trong nước Giai đoạn từ 2066 - 2020,

tong vốn cân huy động đầu tư là 47.100 tỷ đồng và 3 tỷ USD, tổng nhu cầu điện đến năm 2010 là 50 MW Đến năm 2009-2010 sẽ kéo xong điện quốc gia từ Hà Tiên ra đảo bằng cáp ngầm và các dự án sản xuất điện gió điện mặt trời bắt đầu

khai xây dựng

UBND tỉnh đã chấp thuận kế hoạch đầu tư đường giao thông trên đảo Phú quốc giai đoạn 2006-2010 bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ Theo kế hoạch, Phú Quốc sẽ được đầu tư xây dựng các trục đường Nam-Bắc đảo dai 49 km, đường vòng quang đảo dài 132 km, đường nhánh dài 19,61 km Tổng vốn đầu tư là 2.470

tỷ đồng, trong đó trái phiếu Chính phủ 2.292 tỷ đồng, ngân sách (50% kinh phí giải phóng mặt bằng) 178 tỷ đồng

Hàng không

Sân bay Dương Đông có 01 đường bang dai khoang 1,4km chi cho phép các loại máy bay nhỏ hoạt động Hiện nay, mỗi ngày có 4-5 chuyến bay từ TP Hồ Chí Minh đi Phú Quốc và mỗi tuần có thêm 3 chuyến từ Rạch Giá tới Phú Quốc Sân bay hiện đang được nâng cấp

Trang 9

Hiện tại Cụm cảng hàng không miền Nam đang triển khai ở đảo Phú Quốc một dự

an xây dựng sân bay mới vị trí ở Dương Tơ nhằm mục đích sử dụng từ năm 2010 cho các loại máy bay tầm ngắn trung (A 320, A321, B737 ) Qui mô dự án: Cảng hàng không _ mới đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn 4E theo qui định của ICAO, có đường hạ cất cánh 45m x 3 000m, đường lăn song song 23m x 3.000m, có hệ thống đường lăn tắt đáp ứng yêu câu khai thác, đài kiểm soát không lưu, sân đậu máy bay có 6-8 vị trí đậu cho máy bay A 320- A 321 vào giờ cao điểm với diện

tích 60.000m'; nhà ga hành khách công suất 2 triệu khách/năm có diện tích

khoảng 20.000 mỶ;,có trang thiết bị điều hành chỉ huy bay và các hang mục kỹ

thuật khác

Cấp nước

Nước sạch cung cấp cho sinh hoạt và các hoạt động sản xuất và địch vụ chủ yếu là nguồn nước ngâm lấy lên từ trên 600 giống Các giếng khoan sâu từ 10-50m nằm

rai rac và được khoan phát theo nhu cầu của các hộ tiêu thụ

Hiện đang triển khai dự án lay nước từ hồ Dương Đông đưa về nhà máy nước xây dựng Dương Đông đề phụ vụ nhu cầu của Dương Đông và khu vực xung quanh

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho toàn đảo do nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động du ch, chính phủ đang quy hoạch xây dựng một số hồ chứa nước trên đảo Mô tả chỉ tiết sẽ được trình bày trong phan ““Tài nguyên nước” ở chương sau

Du lich

Bản thân đảo Phú Quốc tự nó đã có tiềm năng về du lịch Khí hậu ôn hòa, có rừng

và các bãi biển tự nhiên đẹp và thuận lợi cho du khách Từ khi có chính sách của nhà nước tăng cường phát triển du lịch cho hòn đảo này, lượng khách du lịch và các dịch vu đi kèm đang tăng lên nhanh chóng Mô ta chi tiết sẽ được trình bày trong phần “Hiện trạng và phương hướng phát triển du lịch ở Phú Quốc c” Các tác động của phát triển du lịch được mô tả trong phần “Những vấn đề kinh tế xã hội

do phát triển du lịch”

III Bao tén đa dạng sinh học

Rừng và biển Phú Quốc là nơi ¡ phong phú về đa dạng sinh học Đây cũng chính là tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Tuy nhiên hiện trạng của công tác bảo tôn và các quy hoạch phát triển không bền vững đang có nguy cơ tác động lớn đến bảo tồn da dang sinh học và bảo vệ môi trường cho huyện đảo này Mô tả chỉ tiết được trình bảy trong phân ““Tài nguyên và đa đạng sinh học”

10

Trang 10

PHẢN II: HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH TÀI NGUYÊN NƯỚC -

` +

L Nước mặt

Phú Quốc là đảo có hệ thống sông ngồi đồi dào và phong phú, phân bố khá đồng

đều trên diện tích toàn đảo Các sông, rạch phần lớn đều bất nguồn từ các suối nhỏ thuộc dãy Hàm Ninh có tổng diện tích lưu vực khoảng 456 km2, chiếm 78% diện

tích toàn đảo (Quyết định số 178/2004/QĐÐ-TTg, Đề án phát triển đảo Phú Quốc,

tính Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, 2004), và chảy theo

hướng Đông Tay đổ ra bờ Tây của đảo Trong đó, các sông rạch lớn là: Rach Cita Cạn: Bắt nguồn từ đỉnh núi Chùa men theo đường tụ thuỷ giữa núi Chùa và Vo Quấp đổ ra bãi Cửa Cạn, chiều đài nhánh chính của rạch là 28.75 km, diện tích lưu

vực là 147 km2 (Báo cáo quy hoạch xây dựng, 2005, trang 6); Kạch Dương Đông:

bắt nguồn từ núi Đá Bạc và Cái Khế đổ về khu vực Gành Cậu, chiều dài nhánh chính là 18.5 km, diện tích lưu vực là 105 km2 (Báo cáo quy hoạch, trang 6); Sạch Tràm: bắt nguồn từ dãy Hàm Ninh đổ ra bờ Bắc của đảo, chiều dài nhánh chính là 14.8 km, điện tích lưu vực là 49 km2 (Báo cáo quy hoạch xây dựng, 2005, trang 6) Ngoài ra còn có nhiều suối nhỏ khác như rạch Vẹm, rạch Cốc, rạch Nhum, rạch Dinh, rạch ông Diệm ở khu vực bờ Bắc; rạch Hoà Một, Đá Chồng, Cát An, Bà Sáu,

Mũi Dinh, Bà Cải, Hàm Ninh, Cầu Sấu , suối Đá Vàng, suối Đóm khu vực bờ

Đông; rạch Vũng Bầu khu vực bờ Tây a

Trang 11

“`

Do đặc điểm địa hình dốc, đồi núi quanh co chiếm 78% diện tích đảo nên hệ thống

suối, rạch có vận tốc dòng chảy khá lớn, đặc biệt là về mùa mưa, nhưng về mùa khô đa phần các suối đều cạn, hoặc có lưu lượng rất nhỏ từ các mạch nước ngầm trong núi Tại khu vực thượng nguồn, các suối đều vẫn còn giữ được dáng vẻ hoang

SƠ, tạo nên các danh thắng cho du lịch Phú Quốc như suối Tranh, suối Tiên, suối

Đá Bàn Bên cạnh đó, nguồn nước suối được sử dụng cho mục đích cấp nước và

tưới tiêu tại các khu vực đân cư nông nghiệp Khu vực hạ lưu, nước tại các rạch bị |

nhiễm mặn vào mùa khô, ranh giới nhiễm mặn thường di chuyển sâu vào trong đảo

từ 3-5km vào mùa khô, vào mùa mưa thì thường có hiện tượng phan ting giữa pha nước mặn ở tầng đưới và pha nước ngọt ở tầng trên Các rạch lớn tại hạ nguồn đóng vai trò khá quan trọng trong việc vận chuyển hàng hoá, nguyên liệu cho các cơ sở

sản xuất nước mắm, nhu yếu phẩm cho nhân dân địa phương và đồng thời cũng là nơi neo đậu tàu thuyền của ngư dân

Huyện đảo Phú Quốc có 1 hồ lớn là hồ nhân tạo Dương Đông, được xây dựng và

đưa vào vận hành từ năm 2002 với tổng mức đầu tư là 70.156 triệu VND Hồ Dương Đông có tổng diện tích toàn bộ lưu vực là 16 km2, dung tích tổng cộng là

4,1 triệu m3 nước, trong đó dung tích hữu ích là 3,3 triệu m3 chiếm 80% dung tích tộng cộng Hồ có nhiệm vụ cung cấp nước tưới tiêu cho 300 ha đất trồng trọt và cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Dương Đông với công suất khai thác 14 10.000 m3/ngày

Tuy nhiên, do hệ thống các kênh nhánh

tưới tiêu chưa hoàn thiện, nên việc hồ

chưa phát huy hiệu suất cấp nước cho

mục đích tưới tiêu Nước cấp sinh hoạt ¿:

hiện cũng mới chỉ đạt khoảng 500

m3/ngày do mạng lưới cấp nước sinh

hoạt chưa xây đựng được nhiều và người

dân vẫn còn sử dung nước ngầm tự khai

thác

Hình 2.2: Hồ Dương Đông

Ngoài ra, Phú Quốc cũng có ó những hồ chứa nước nhỏ, chủ yếu là do dân tự làm và

khai thác để trữ nước tưới tiêu, hồ tại khu vực Bãi Dài thì được chặn lại để nuôi cá

nên nguồn nước bị ô nhiễm khá nghiêm trọng

Bên cạnh đó, nước mưa là nguồn nước rất đồi dào của Phú Quốc với lượng mưa từ 1.810-2.425 mm/năm (Niên giám thống kê 2002-2003) theo ước tính sơ bộ, lượng

nước mưa hàng năm vào khoảng 1.6 tỷ m3 nước, trong đó có 900 triệu m3 đổ vào

hệ thống suối rạch (lượng mưa phân bổ không đều trong năm, 80% tập trung vào

mùa mưa) (Quyết định số 178/2004/QĐ-TTg, Đề án phát triển đảo Phú Quốc, tỉnh

12

Trang 13

a

Theo các nghiên cứu của Liên đoàn địa chất thuỷ văn-địa chất công trình Miền

Nam từ năm 1999 đến 2003 cho thấy, đảo Phú Quốc có trữ lượng nước ngầm tiềm

năng khoảng 123.000 m”/ngày Nước tồn tại trong hai tầng chứa nước là tầng chứa - nước khe nứt (cavern aquifer) và tầng chứa nước 16 héng (porous aquifer), trong đó

đa phần là nước trong tầng chứa lỗ hồng chiếm khoảng 65% Cả hai tâng chứa

nước này có mức độ chứa nước từ giàu, trung bình đến nghèo Độ sâu của mực

nước ngầm dao động từ 0 đến vài mét tại khu vực ven biển và 5-10m trở lên tại các khu vực sười đốc thoải Do vậy điều kiện khai thác nước quy mô nhỏ khá dễ dàng bằng giếng khoan và giếng đào

Cũng theo các nghiên cứu này, các tầng chứa nước phân bố rải rác, tập trung chủ yếu ở phía Tây đảo Đã xác định được 5 khu vực giàu nước trung bình là khu Rạch Đâm tới bãi biển Tây Dương Tơ, khu Cửa Cạn, Nam Gành Dầu, Rạch Vẹm, Rạch

Tràm với tổng diện tích phân bố khoảng 40 km, tương đương với gần 20% diện

tích các tầng chứa nước Chiều dày các tầng chứa nước này vào khoảng 15-40 m, thành phần thạch học là cát thạch anh khá đồng nhất Phần còn lại khoảng 180

km2 được cho là nghèo nước, chiều dày tầng chứa nước từ vài m đến 30 m, thành

phần thạch học gồm cát, cát pha, và một số nơi xen lẫn bột sét

Nước ngầm tại khu vực trung tâm đảo gồm thị trấn Dương Đông, xã Hàm Ninh và Cửa Dương có khả năng khai thác cả nước khe nứt và nước lỗ hồng, với trữ lượng khoảng 30.000 m”/ngày Khu vực phía tây bắc đảo gồm xã Cửa Cạn, Gành Dâu là vùng có nhiêu điểm giao nhau của các đứt gãy, có khả năng tìm kiếm được các nguồn nước nóng, nước khoáng trong các đứt gấy sâu Trữ lượng khai thác có thể

đạt 25.000 mỶ/ngày Chất lượng nước ngầm khá tốt, có thể sử dụng cho mục đích

cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên, nước ngầm có độ pH và Flo khá thấp, có tính ăn

mòn axit, ăn mòn carbonic, nhưng không có tính ăn mòn sulfat

Theo điều tra thực tế, có rất nhiều hộ gia đình sử dụng giếng khoan, giếng đào để khai thác nước ngắm Các giếng này thường sâu từ 15-30m, về mùa mưa lượng nước khá đồi dào, nhưng mùa khô mực nước ngầm hạ đi nhanh chóng Các khách

sạn cũng sử dụng nước ngầm làm nguồn cấp nước chính với các giếng khoan sâu khoảng 50-7Öm, mặc dù tại khu vực trung tâm thị trấn n Dương Đông cũng đã có

nước sạch cấp từ nhà máy nước Phú Quốc ae

II Sử dụng nước

HH.1 Nước sinh hoạt

Nguồn nước cấp cho sinh hoạt tại Phú Quốc bao gồm nước ngầm, nước suối, hồ và nước từ trạm cấp nước tập trung Do dân cư phân bố rải rác tại các khu vực khác nhau, nên việc cấp nước tập trung chủ yếu phục vụ cho khu vực đô thị, các khu vực

còn lại thường tự khai thác nguồn nước ngầm để sử dụng

14

Trang 14

Trạm cấp nước do công ty Cấp nước

Kiên Giang đầu tư từ năm 2004,

hoàn thành và đưa vào sử dụng từ

tháng 4/2006, phục vụ cho nhu cầu

của dân cư đô thị của thị trấn

Dương Đông Với công suất giai

đoạn L 2006 là 5.000 m3/ngày và

tiếp tục mở rộng, nâng công suất

nhà máy lêp 10.000 m3/ngày vào

năm 2010, trạm cấp nước Phú Quốc

gốp phần quan trọng :vào việc đảm

bảo nguồn nước sạch cho dân cư đô

Tuy nhiên, hiện nay nhà máy mới chỉ đạt công suất 500 m”/ngày, tức 10% công suất của nhà máy cho giai đoạn này Với khoảng 33 km đường ống bao gồm ống cấp I, cấp H và mạng dịch vụ, trạm cấp nước mới chỉ đấu nối và ký hợp đồng cấp nước cho khoảng 800 hộ gia đình, tương đương với khoảng 4000 đến 5000 dân, tức

15-20%% tổng dân số của thị trấn Dương Đông Nguyên nhân chủ yếu là do người

dân sử dụng hai nguồn nước cấp cho sinh hoạt, nước máy và nước ngầm tự khai thác Nước ngầm tồn tại ở đạng mạch nông nên chi phí khai thác nước rất rẻ, trong khi giá thành cấp nước từ trạm cấp nước Phú Quốc vẫn còn cao so với thu nhập của

đại bộ phận dân chúng trên đảo

Các khu vực dân cư sống rải rấc, nước

chủ yếu được khai thác thống qua hệ

thống giếng đào, giếng khoan chiều

sâu từ 10-30 m, tuỳ thuộc vào từng vị

trí Vào mùa mưa, trữ lượng nước dồi

đào và các gia đình có thể đảm bảo

nguồn nước cung cấp, tuy nhiên vào

mùa khô, mực nước ngầm hạ đi nhanh

Trang 15

+

Theo báo cáo thống kê năm 2003-2005,

tỷ lệ người sử dụng nước sạch đạt 93- 96% Đây là con số khá cao so với, nhiều đô thị và khu dân cư tập trung

trong đất liền Nhưng thực tế, nước do

dân tự khai thác từ nguồn nước mặt và

‘nuéc ngầm thường không qua quá trình

xử lý nào, do đó chất lượng nước khó có

khả năng đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước

a cho ăn uống va sinh hoạt, đặc biệt là các

Hình 26: Tiếp cận nguồn nước sinh thống kê nêu trên chỉ liên quan đến tỷ lệ

nước ngọt trên đảo

HI.2 Nước tưới cho nông nghiệp

Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là cây hồ tiêu, đào (điều), đừa và một số loại hoa màu, cây ăn quả phục vụ nhu cầu tiêu dùng trên đảo Trong đó, các loại cây lâu năm như dừa, đào thường không cần hệ thống tưới tiêu, ngay kể cả vào mùa khô Các loại cây ăn quả, rau màu, hồ tiêu thì cần phải tưới, đặc biệt trong mùa

khô Diễn biến diện tích trồng cây cho thấy, cây hồ tiêu từng là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Phú Quốc hiện đang dần nhường chỗ cho cây ăn quả chiếm ưu

thế Từ 700-800 ha hồ tiêu những năm 2000-2002, nay chỉ còn 300-400 ha và diện tích cây ăn quả cũng đang dần tăng lên nhanh chóng Theo tính toán, trong sáu tháng mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, cần lượng nước cho tưới tiêu khoảng 17-

Trang 16

Hình 28: Nhu cầu dùng nước tưới tiêu

IV Chất lượng nước

Công tác quan trắc nhằm theo dõi những biến động của môi trường nước tại Phú

Quốc được thực hiện bởi Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Kiên Giang vào tháng 6-7 (mùa mưa) và tháng 11-12 (mùa khô) hàng năm Số điểm quan trắc chất lượng

nước mới chỉ dừng ởhai điểm quan trắc chất lượng nước biển và ven biển: khu vực

cảng An Thới và khu vực cửa sông Dương Đông Do đó các nguồn số liệu hiện có còn rất nghèo nàn Lý do là hiện nay, phòng Tài nguyên Môi trường huyện Phú Quốc mới chỉ có biên chế một cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường, chưa có

phòng thí nghiệm để có thể kiểm tra chất lượng nước Công tác kiểm tra, đánh giá

chất lượng các nguồn nước còn phụ thuộc hoàn toàn vào Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Kiên Giang

Trong thời gian thực hiện khảo sát hiện trường đảo Phú Quốc tháng 11/2006, nhóm chuyên gia của IUCN cũng thực hiện kiểm tra nhanh một số chỉ tiêu nhằm đánh

giá sơ bộ chất lượng nước tại 16 điểm, bao gồm nước mặt, nước ngầm và nước

biển

IV.1 Chat lượng nước mặt

Qua các chỉ tiêu đo nhanh ngoài hiện trường, đặc điểm chung của các mẫu nước mặt là giá trị pH thấp Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng nước mặt khu vực thượng nguồn các dòng suối và hồ Dương Đông của Phú Quốc còn rất tốt, chưa bị ảnh

hướng bởi các tác nhân gây ô nhiễm Nồng độ ôxy hoà tan có xu hướng giảm dần

từ thượng nguồn xuống hạ lưu chứng tỏ chất lượng nước tại hạ lưu có dấu hiệu bị ô nhiễm Đặc biệt tại khu vực hồ nuôi cá dọc Bãi Dài (PQ-1 1), nồng độ oxy hoa tan

rất thấp, nguyên nhân có thể là do đang trong mùa khô, nước hồ bị cạn dân, mật độ

cá nuôi quá cao và sự phân huỷ thức ăn thừa của cá (thức ăn nuôi cá chủ yếu là cá

vụn, xác cá từ quá trình phá xác tại các cơ sở sản xuất nước mắm)

17

Trang 17

Một số suối đầu nguồn rạch Cửa Cạn, rạch Tràm có độ đục khá cao, nguyên nhân chủ yếu là đo quá trình xây dựng cầu trên đường xuyên đảo có khối lượng đào đấp

lớn, sử đụng đất đỏ rải mặt đường dẫn đến đất cát sa lắng xuống lòng suối Một

nguyên nhân nữa có tính lâu đài là do sự phân huỷ lá cây rừng vào mùa khô (tiếng địa phương gọi là cây lá Lủ) đã làm giảm lượng Oxy hoa tan và tăng độ đục, độ màu trơng nước

Trang 18

IV.2 Chất lượng nước ngầm on

Theo nghiên cứu của Liên đoàn địa chất thuỷ văm-địa chất công trình miền Nam

năm 2003 cho thấy, hầu hết các tầng chứa nước lỗ hồng đều chứa nước nhạt, tổng khoáng hoá nhỏ hơn 0,1mg/1 Nước mặn thường gặp ở các vùng trũng và các dải đất ven biển Chất lượng nước ở tầng lỗ hổng khá tốt, có thể dùng cho mục đích

cấp nước sinh hoạt Riêng chỉ tiêu pH và Flo thấp, thường gặp là pH dao động trong khoảng 4-6

Nước thuộc tầng chứa nước khe nứt có tổng khoáng hoá nhỏ hơn 0.1 g/1, độ cứng

thấp, ít có dấu hiệu nhiễm bẩn bởi các hợp chất Nitơ, hàm lượng sắt có trong nước không đáng kể Tâng nước khe nứt có chất lượng khá tốt, đảm bảo để cung cấp cho

ăn uống và sinh hoạt Hâu hết các các chỉ tiêu phân tích đều đạt tiêu chuẩn nước ăn

uống Tuy nhiên, cũng giống như nước lỗ rỗng, độ pH và Flo trong nước khe nứt

cũng khá thấp Tại các khu vực vùng trũng như phía bắc An Thới đã xác định được

là nước khe nứt ở đây bị nhiễm mặn (Báo cáo điều tra địa chất thuỷ văn, địa chất công trình và ầm kiếm nguồn nước đảo Phú Quốc, Liên đoàn địa chất thuỷ văn- địa chất công trình miền Nam, 2003, trang 72)

Theo số liệu của đoàn chuyên gia IUCN thang 11/2006, độ dẫn và độ đục trong © nước ngầm khá cao, chứng tỏ nước ngầm tại khu vực Bãi Thơm bị nhiễm mặn với hàm lượng muối rất lớn

Trang 19

Việc khai thác nước ngầm quá mức và không có kế hoạch sẽ dẫn đến mực nước ngầm bị hạ thấp, chất lượng nước ngầm khu vực trũng hoặc ven biển sẽ bị nhiễm mặn Bên cạnh đó, nước thải và chất thải rắn đô thị là tác nhân trực tiếp gây ố nhiễm môi trường nước ngầm và nước mặi

IV.3 Chat lượng nước ven bờ và biển

Chất lượng nước biển tại Phú Quốc chịu tác động do các hoạt động sinh hoạt, công

nghiệp và dịch vụ của cư dân trên đảo Tại khu vực phía nam đảo, chất lượng nước chịu ảnh hưởng do hoạt động của cảng và chợ An Thới, Nhà máy chế biến hải sản thuộc Công ty XNK thuỷ sản Kiên Giang và các cơ sở sản xuất chế biến hải sản tư

nhân nằm xen ké trong các khu dân cư Khu vực trung tâm của đảo, sông Dương

Đông tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt và nước thải đo các cơ sở sản xuất nước mắm nằm dọc theo hai bên bờ sông và chợ Dương Đông Đặc điểm chung của nước ven bờ và nước biển là lưu lượng và khả năng phân tán cao nên hiện tại mức

độ ô nhiễm ở mức nhẹ, chủ yếu là cảm quan về màu sắc và mùi vị Nồng độ BOD;

thường thấp hơn nồng độ cho phép (BOD; < 20mg/]) của tiêu chuẩn chất lượng nước ven biển TCVN 5943-1995

Hình 2.12: Chat lượng nước biển khu vực cảng An Thới, Phú Quốc

Chất lượng nước ven bờ và nước biển hiện nay có nguy cơ bị ô nhiễm do vận tải

thuỷ, đầu và rác thải từ các tàu thuyền đánh bắt trên biển, quá trình đô thị hoá và xây đựng trên đảo, và các dịch vụ du lịch không bên vững Ngoài ra, biển Phú

Quốc phía tây và phía bắc giáp Campuchia và vịnh Thái Lan nên cũng chịu ảnh hưởng từ các nguồn nước thải và chất thải rắn từ các quốc gia này Tại khu vực quần đảo An Thới và Bãi Sao đã thấy có sự xuất hiện xác lục bình trôi đạt từ đất

liển cho thấy khả năng phát tán chất thải từ đất liên cũng là một nguy cơ tiểm ẩn

đối với biển Phú Quốc

20

Trang 20

Hioh 2.13: Chất lượng nước biển khu vực Dương Đông

Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Kiên Giang, 2005

Hình 2.14: Xác lục bình trôi dạt vào khu vực — Hình 215: Xây dựng đường ven đảo và

TV.4 Tình hình ngập lụt

Diễn biến ngập lụt tại Phú Quốc diễn ra không thường xuyên, chủ yếu là những

điểm ngập lụt cục bộ, thời gian ngập không kéo dài Những trận lụt lớn được ghi

lại là trận lụt năm 1997 và mới đây vào tháng 9/2006 Nguyên nhân xảy ra ngập lụt

là đo mưa lớn kéo dài kết hợp với triều cường gây ra tình trạng ngập trên điện rộng Các khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất là toàn bộ địa bàn thị trấn Dương Đông

(trừ khu phố 7), xã Dương Tơ, Hàm Ninh và một số điểm ngập lụt cục bộ tại các xã

Cửa Cạn, An Thới, Bãi Thơm Tổng thiệt hại của trận lụt này lên tới 7,5 tỷ VND,

21

Trang 21

với 1.089 căn nhà, 45 cơ sở sản xuất và 25km đường bị ngập, hàng trăm đầu gia

súc bị chết (Ban chỉ đạo phòng chống bão lụt, 2006)

V Áp lực gây ô nhiễm nguồn nước

Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, đảo Phú Quốc sẽ được xây dựng thành một trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch biển mang tầm cỡ khu vực

và quốc tế Với quy mô dân số 110.000 và 200.000 đến năm 2010 và 2020, cùng

với hàng triệu lượt khách đến với Phú Quốc kéo theo sự gia tăng áp lực cho hạ tầng

kỹ thuật và môi trường Những tác động ảnh hưởng tới môi trường nước bao gồm: (i) chat thai sinh hoạt và công nghiệp, (ii) x4y dung co sé ha tang trén dao, (iii) khai thác quá mức tài nguyên nước, (¡v) vận tải thuỷ và các hoạt động đánh bắt hải sản, (v) khai thác khoáng sản, và (vi) các hoạt động du lịch

V.1 Chất thải

` Nước thái

Tại khu vực thị trấn Dương Đông, nước thải được thu gom qua hệ thống cống chung (nước thải và nước mưa trơng cùng một hệ thống đường ống) rồi xả thẳng ra

nguồn tiếp nhận là sông Dương Đông, còn khu vực thị trấn An Thới thì xả ra cảng

An Thới Với tổng dân số ổô thị là 48.000 người tập trung ở thị trấn An Thới và

Dương Đông và khoảng 160.000 khách du lịch đến Phú Quốc năm 2005, lượng nước thải đô thị được ước tính khoảng 4.500-5.000 m*/ngay, trong đó nước thải từ

thị trấn Dương Đông chiếm khoảng 60-70% Nước thải được xử lý qua bể tự hoại hoặc xả trực tiếp vào cống thoát nước trước khi ra nguồn tiếp nhận Các bể tự hoại

là do các hộ gia đình tự xây dựng nên chất lượng và kỹ thuật không thống nhất, hiệu quả xử lý chưa cao

Doc bờ biển khu phố 1 Dương

Đông, một loạt các khu nghỉ và

khách sạn xá toàn bộ nước thải trực

tiếp ra các bãi biển gây mất mỹ |

quan và vệ sinh môi trường Chỉ có

một ft số khách sạn lớn như Thiên

Hải Sơn, Sài Gòn-Phú Quốc có đầu

tư xây dựng hệ thống xử lý nước

thải cục bộ bằng công nghệ xử lý

sinh học, tuy nhiên công tác kiểm

tra theo đõi chất lượng nước thải sau

cách nghiêm ngặt Hình 2 16: Xả nước thải trực tiếp ra bãi biển Nước thải công nghiệp thường phát sinh từ các đơn vị công nghiệp chế biến hải sản

và làm nước mắm Nước thải do quá trình rửa nguyên liệu, vệ sinh nhà xưởng và

ud

22

Trang 22

thùng ủ chượp thường xả thẳng vào nguồn tiếp nhận mà không qua công-đoạn xử

lý nào gây mất vệ sinh môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng *

Phú Quốc hiện có một bệnh viện 100 giường, lượng nước thải ước tính từ 20- 30m”/ngày Bệnh viện có trạm xử lý nước thải và lò đốt rác y tế riêng, tuy nhiên do chí phí vận hành cao nên trạm xử lý nước thải này gần như không hoạt động Nước thải xả ra chảy vào hệ thống cống thoát nước chung của đô thị trước khi chảy vào sông Dương Đông Đến năm 2010 và 2020, số lượng giường bệnh sẽ tăng lên 500-

1000 giường.bệnh, khối lượng nước thải bệnh viện sẽ đạt khoảng 150-200 m3/ngay

Lượng nước thải đô thị ước tính đến năm 2010 và 2020 là 17.600 m? va 53.000 m’

Nếu không được thu gom và có biện pháp xử lý phù hợp thì nước thải vào môi trường sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng nước ngầm và nước mặt cũng như hệ sinh

thái biển Xu hướng phát triển du lịch phân bố tại các khu vực độc lập của đảo làm giảm khả năng thu gom và xử lý nước thải tập trung, nên đời hỏi sự thi hành luật

một cách nghiêm túc và sự tự giác của các nhà đầu tư trong vấn đề quản lý và xử lý nước thải

Chat thải rắn

Theo số liệu từ Ban quản lý dự án Công trình công cộng huyện Phú Quốc, lượng rác thải đô thị thu gom mỗi ngày là 110 mỶ chiếm 80-90% lượng rác cần thu gom

Trong đó, rác thải đô thị tại Dương Đông chiếm 75% lượng rác đã thu gom Rác

thải được vận chuyển đến 2 bãi đổ An Thới (5ha) và Cửa Cạn (3ha) Các bãi đổ này chủ yếu lợi dụng địa hình thấp tự nhiên để chứa rác, bãi đổ chưa có hệ thống thu

gom và xử lý nước rỉ rác Rác được xử lý bằng cách phun hoá chất diệt ruồi muỗi,

về mùa khô thì được đốt cháy tự nhiên Do lượng mưa ở Phú Quốc lớn, mực nước

ngầm cao và khu vực bãi đổ chủ yếu là đất pha cát, nên khả năng phát tán của nước

rỉ rác vào môi trường nước ngâm và nước bề mặt là rất lớn

Cũng theo Ban quản lý đự án Công ©

trình công cộng, lượng phân bùn bể

phốt được thu gom vào năm 2005 là

326 m? Lượng phân bùn này được sử

dụng trong nông nghiệp để bón cây

như hồ tiêu, dừa, điều

Rác thải biện nay đang là vấn đề cấp

bách của Phú Quốc về môi trường

Bãi đổ Cửa Cạn đã bắt đầu quá tải, ;

bãi chôn lấp hợp vệ sinh mới và đóng *"™"

cửa bãi đổ hiện nay Hình 2.17: Bãi đổ rác Cửa Cạn

Trang 23

23-Phần lớn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt là dơ nước rỉ rác từ các bãi đổ rác, nước thải rò rÍ từ đường ống hoặc chảy tràn bề mặt, sử dụng quá nhiều phân bón hoá học

và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp Các hoạt động này sẽ làm biến đổi chất lượng

nước ngầm bao gồm: suy thoái về sinh học gây ra sự nhiễm khuẩn và vi rút có

phân thải của người và động vật; suy thoát về hoá học làm tăng nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ, suy thoái về tính chất vật lý của nước như nhiệt độ, mùi vị,

cảm quang

V.2 Khai thác quá mức Việc khai thác nước ngầm quá mức và không có kế hoạch sẽ dẫn đến mực nước ngầm bị hạ thấp, chất lượng nước ngâm khu vực trũng hoặc ven biển sẽ bị nhiễm mặn Các giếng khoan khi không còn sử dụng do chất lượng nước kém không được đóng lại đúng kỹ thuật sẽ là cửa sổ tiếp nhận nước thải hoặc nước ngầm mạch nông gây ô nhiễm nguồn nước ngầm mạch sâu

Theo đề án phát triển đảo Phú Quốc đến năm 2020, hiện nay Phú Quốc có hơn 700

giếng khoan, trong đó tập trung chủ yếu ở Dương Đông, các giếng khoan này sẽ

còn tiếp tục phát triển đo số lượng khách du lịch đến với Phú Quốc ngày một đông

hơn, nếu không có biện pháp quản lý và theo đõi chặt chế hoạt động của các giếng

khoan, thì việc nhiễm mặn và suy thoái nguồn nước ngầm sẽ dễ dàng xảy ra

Có hai khả năng làm cho nước ngầm có nguy cơ nhiễm mặn là: do nước ngâm khu

vực ven biển thường tồn tại trong các tứi nước, khả năng bị nhiễm mặn do tác động của thuỷ triều xâm nhập vào tầng chứa nước ngọt theo tính chất đi chuyển và tác

động qua lại của các tầng chứa nước; nguyên nhân tiếp theo là giếng khoan quá

sâu hoặc lưu lượng bơm khai thác lớn dẫn đến khả năng xâm thực cạnh bên do

nước biển và xâm thực đáy do nước ngâm có chứa hàm lượng muối cao Giải pháp

cơ bản để khắc phục các nguy cơ trên là tăng cường khả năng bổ cập nước ngọt cho tầng chứa nước ngầm và có kế hoạch khai thác và quản lý hiệu quả các giếng khoan khai thác nước

V 3 Vận tải thuỷ và hoạt động đánh bắt hải sản

Vận tổi thuỷ và các hoạt động đánh bắt hải sản trên biển là phần tất yếu đối với

huyện đảo Phú Quốc Ngoài đội tàu của đảo hiện có 2.430 chiếc, tổng công suất là 85.000 mã lực (Báo cáo thống kê, 2003-2005), Phú Quốc còn phát triển dịch vụ nghề cá cho các đội tàu từ trong đất hền Do đó rác và dầu thải từ hoạt động vận tải

thuỷ và tàu thuyền đánh bắt cá là nguồn gây ô nhiễm ảnh hưởng tới chất lượng nước ven bờ và nước biển Bên cạnh đó, việc đánh bắt cá sử dụng Cyanua gây tác hại rất lớn với môi trường nước và sinh vật biển

24

Trang 24

Mình 2.16: Tâu cá tại đáo Hòn Thơm

V.4 Hoạt động khai thác khoáng sản Hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu là khai thác vật liệu xây dựng Trong đó

sản lượng đá xây dựng là 64.000 m3 và 600.000 m3 cát san lấp mặt bằng (Niên

giám thống kê 2003-2005) Các hoạt động này sẽ làm thay đổi bề mặt phủ và cảnh quan môi trường, ảnh hưởng chất lượng nước mặt và nước ngầm Theo quy hoạch

về khai thác khoáng sản, khu vực khai thác cát là 100ha, trữ lượng khai thác khoảng 3 triệu m3 cát Các bãi sau khi khai thác có thể nghiên cứu làm hồ thấm

khô hoặc hồ chứa nước để tạo cảnh quan và điều hoà tiểu khí hậu

V.5 Hoạt động du lịch và dich vu

25

Trang 25

Lượng khách du lịch tăng mạnh =

kể từ năm 2000 đến nay, đặc | 180.000

biệt là khách du lịch nội địa | 2

Tuy nhiên, lương khách biện 420.000

hay vẫn còn tương đối ítsovới | 400.000:

tiêm năng phát triển du lịch của 80,000

Phú Quốc Lượng khách tăng 60,000

lên kéo lượng chất thải tăng lên 40,000

gây sức ép cho môi trường 20,000

nước mặt và nước ngầm Hiện 7

nay các khu nghỉ ven biển đều 4999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

sử dụng nguồn nước ngầm cho

nhu cầu cấp nước sinh hoạt và

hoại ra các bãi biển Hình 2 19: Lượng khách du lịch đến Phứ Quốc

— Việt nam —®#— Nước ngoài — ¬á- — Tổng

VI Dự báo nhu cầu sử dụng nước

Nhu cầu cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt

Dân số Phú Quốc tính đến năm 2005 là 84.873 người Theo quy hoạch phát triển

tổng thể đảo Phú Quốc, tốc độ tăng dân số bình quân khoảng 5.3%, dân số đến

năm 2010 ước tính là 110.000 người và 2020 là 190.000 người Trong đó, tỷ lệ dân

cư đô thị đạt khoảng 80% tổng số dân

Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển người và hàng hoá, đến năm 2010 sẽ đầu tư xây

dựng 130 ha cảng biển và cảng du lịch, và đến năm 2020 là 260 ha Sân bay mới sẽ được đầu tư, dự kiến diện tích sử dụng đất là 800ha

Nhu cầu cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt được tính toán căn cứ vào Tiêu chuẩn ngành TCXDVN 33:2006: Cấp nước - Mạng lưới đường ống và công trình -

Tiêu chuẩn thiết kế, trong đó có xét đến điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế xã

hội của Phú Quốc

Nhu cầu dùng nước tính toán cho Phú Quốc đến năm 2010 là 22 000m2/ngày và

2020 14 66.000 m3/ngay

26

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1.1:  Vị trí đảo  Phú Quốc - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 1.1: Vị trí đảo Phú Quốc (Trang 4)
Bảng  1.2:  Kế  hoạch  phát  triển  thủy  sản  qua  các  năm - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
ng 1.2: Kế hoạch phát triển thủy sản qua các năm (Trang 7)
Hình  2.1:  Hệ  thông  sông  rạch  chính  ở  Phú  Quốc - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 2.1: Hệ thông sông rạch chính ở Phú Quốc (Trang 10)
Hình  2.3:  Hệ  thống  hồ  biện  có  và  quy  hoạch  xây  dựng - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 2.3: Hệ thống hồ biện có và quy hoạch xây dựng (Trang 12)
Hình  2.5:  Dẫn  nước  suối  về nhà - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 2.5: Dẫn nước suối về nhà (Trang 14)
Hình  2  7:  Cơ  cấu  diện  tích  cẠy  trồng - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 2 7: Cơ cấu diện tích cẠy trồng (Trang 15)
Hình  28:  Nhu  cầu  dùng  nước  tưới  tiêu - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 28: Nhu cầu dùng nước tưới tiêu (Trang 16)
Hình  2.12:  Chat  lượng  nước  biển khu  vực  cảng An  Thới,  Phú  Quốc - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 2.12: Chat lượng nước biển khu vực cảng An Thới, Phú Quốc (Trang 19)
Hình  2.14:  Xác  lục  bình  trôi  dạt  vào  khu  vực  —  Hình  215:  Xây  dựng  đường  ven  đảo  và - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
nh 2.14: Xác lục bình trôi dạt vào khu vực — Hình 215: Xây dựng đường ven đảo và (Trang 20)
Bảng  2.1:  Tĩnh  toán  nhu  cầu  dùng  nước  . - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
ng 2.1: Tĩnh toán nhu cầu dùng nước (Trang 26)
Bảng  3.2:  Hiện  trạng  khách  du  lịch  lưu  trú  tại  Phú  Quốc  (1999-2005) - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
ng 3.2: Hiện trạng khách du lịch lưu trú tại Phú Quốc (1999-2005) (Trang 43)
Bảng  3.3:  Quá  trình  phát  triển  cơ  sở  lưu  trú  du  lịch  tại  Phú  Quốc  1995-2005 - Báo cáo dự thảo hỗ trợ xây dựng các nội dung về bảo tồn đa dạng sinh học trong đề án tổng thể
ng 3.3: Quá trình phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại Phú Quốc 1995-2005 (Trang 44)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w