Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
Trang 1VIỆN KỸ THUẬT NHIỆT ĐỚI VÀ BẢ0 VỆ MÔI TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ Mol TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG ÁN KIỂM SOÁT
Ô NHIÊM VUNG KINH TẾ TRỤNG ĐIỂM PHÍA NAM
PHAN VIII: CHƯƠNG TRÌNH GIAM SAT MOI TRUONG TRONG VUNG KINH TE TRONG DIEM PHIA NAM
TP HO CHi MINH, 11/1996
Trang 2Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
TẬP THỂ TÁC GIẢ
1 6S Lê Đông Hải Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường
2 PTS Phùng Chí Sỹ Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
3 KS Pham Van Vinh Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
4 KS Pham Lé Ninh Trung tâm Bảo vệ môi trường
5 KS Nguyén Binh Thi Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
6 KS Tăng Bá Quang Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
7 KS Nguyễn Xuân Trường Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
8 ÚN Ngô Ngọc Phượng Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
9 CN Hoang Nam Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
10 CN Nguyễn Văn Cường Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới
11 PTS Dang Binh Dan Trung tâm khí tượng thuỷ văn Phiá Nam
Cùng với các cán bộ Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường, các Sở Khoa hoc Céng nghệ và Môi trường TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, sông Bé, Bà Ria-Vũng Tàu
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới § 3422329 - Fax 8423670 |
Trang 3Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất !ượng môi trường
MỤC LỤC
| CAC CAN CU THIET LAP MANG LƯỚI CÁC TRẠM GIAM SÁT MÔI TRƯỜNG
I.1 Một số quan điểm về xây dựng mạng lưới các trạm giám sát
I.2 Yêu cầu khoa học về chất lượng số liệu
I.3 Đánh giá cường độ thải và hiện trạng môi trường trong khu vực
I.4 Đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên khu vực đến môi trường
I.5 Hiện trạng mạng lưới giám sát môi trường trong vùng KTTĐPN
II CHƯƠNG TRÌNH GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ TRNG VKTTBĐPN
lII.1 Mục tiêu giám sát
II.2 Xác định số trạm giám sát
II.3 Lựa chọn vị trí trạm giám sát không khí
H.4 Lựa chọn các thông số giám sát chất lượng không khí
II.5 Lựa chọn thiết hị giám sát
lll CHUGNG TRINH GIAM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG RẠCH
III.1 Thông số giám sát
HI.2 Thời điểm và tần suất giám sát
lll PHƯƠNG TRÌNH GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG NƯỚC BIEN
III.1 ác thông số cần giám sát
III.2 Tần suất giám sát
IV CHƯƠNG TRÌNH GIÁM SAT CHAT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI VKTTĐPN
IV.1 Giám sát ô nhiễm không khí
IV.2 Giám sát ô nhiễm nước
IV.3 Nhân lực, kinh phí giám sát môi trường
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới # 8422329 - Fax 8423670 2
Trang 4Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phan VIII - Chương trình giám sát chấ: lượng môi trường
Giám sát môi trường là một trong những hoạt động cơ bản, không thể thiếu được
trong công tác quản lý môi trường Đầu ra của một hệ thống giám sát là cơ sở để
đánh giá hiện trạng môi trường, phục vụ công tác quy hoạch và kế hoạch phát
triển nhờ theo dõi thường xuyên trong một thời gian dài sự thay đổi của các thành
phần môi trường
I CAC CAN CU THIET KE MANG LƯỚI CÁC TRẠM GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG
TRONG VUNG KINH TE TRONG DIEM PHiA NAM
Kiến nghị một hệ thống trạm giám sát môi trường trong vùng cùng với quy trình hoạt động của nó được dựa trên các co sé sau:
[.1 Một số quan điểm về xây dựng mạng lưới các trạm giám sát môi
trường VKTTĐPN
Một số quan điểm về xây dựng mạng lưới giám sát môi trường như sau:
- Hệ thống được xây dựng từng bước, vừa hoạt động vừa được củng cố và phát
triển dần
- Xây dựng các trạm trọng điểm, các trạm chủ chốt trước, mở rộng dần mạng
lưới giám sát, quy mô và chất lượng giám sát môi trường cũng tiến dần từ thấp đến cao
- Hệ thống mạng lưới giám sát môi trường được quản lý thống nhất trên phạm vi
cả nước dù trạm đó là trạm quốc gia, trạm trung tâm vùng hay trạm địa phương
- Quy trình giám sát, phương pháp đo lường và phân tích môi trường, các thông
số môi trường cần giám sát, bảng biểu, chỉ tiêu giám sát về cơ bản ở tất cả các trạm phải giống nhau, thống nhất theo tiêu chuẩn quy phạm của Việt Nam, cũng
như của thế giới để có thể so sánh, đánh giá tương quan giữa hiện trạng môi
trường với tiêu chuẩn chất lượng môi trường, giữa các địa phương với nhau và giữa
các nước trên thế giới
- Hệ thống giám sát môi trường sẽ phối hợp tối đa với các ngành chuyên môn, trường Đại học, Viện nghiên cứu và các địa phương để tận dụng tiềm lực thiết bị
và nhân lực chuyên môn sẵn có, tránh giám sát trùng lặp, lãng phí
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới § 8422329 - Fax 8423670 3
Trang 5Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dưng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
Độ tin cậy, tính đồng nhất của số liệu giám sát được dựa trên các yếu tố sau :
- Thống nhất phương pháp thu mẫu, bảo quản và phân tích giữa các trạm
- Thống nhất qui trình, qui phạm giám sát giữa các khu vực giám sát nhằm cho phép đánh giá chất lượng môi trường tại bất kỳ một điểm nào trong khu vực đó
Trên thực tế, chúng ta không thể đặt trạm ở tất cả mọi điểm, vấn để đặt ra là
cần tìm đựơc một hệ thống điểm đặt trạm sao cho số điểm là ít nhất mà vẫn bảo đảm yêu cầu trên
c Khả năng theo dõi liên tục theo thời gian
Thời điểm giám sát có vai trò quan trọng đối với ý nghĩa của kết quả giám sát
Vấn đề đặt ra là định các thời điểm giám sát sao cho khoảng cách giữa các thời điểm đó (chu kỳ giám sát) không quá nhỏ mà vẫn cho phép xác định được một
cách gần đúng các yếu tố môi trường ở bất kỳ thời điểm nào
d Tính hoàn chỉnh đồng bộ
Hiện nay để đánh giá tác động môi trường người ta không đánh giá tác động của
từng yếu tố riêng lẻ mà dùng chỉ tiêu tổng hợp Để đánh giá tác động bằng chỉ
tiêu tổng hợp bắt buộc phải giám sát đồng thời nhiều yếu tố của môi trường Mặc khác yếu tố của môi trường lại chịu sự chi phối mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên khác Do vậy ngoài giám sát các yếu tố môi trường còn cần phải giám sát
các yếu tố tự nhiên có liên quan (giám sát gió, nhiệt độ, độ ẩm trong giám sát
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới ® 8422329 - Fax 8423670 4
Trang 6Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
môi trường không khí ; trong môi trường nước phải đồng thời giám sát cả vận tốc
dòng chảy, nhiệt độ nước)
e Tính đại diện của số liệu
Độ lớn của vùng giám sát phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của khu vực Việc xác
định vị trí giám sát phải dựa trên điều kiện tự nhiên và các tính toán lý thuyết sao cho kết quả giám sát thu được mang tính đại diện cho toàn khu vực
I.3 Đánh giá cường độ thải và hiện trạng môi trường trong khu vực
Đánh giá nguồn thải và chất lượng môi trường giúp cho việc xác định được các
khu vực cần quan tâm trước và như vậy giúp cho việc định ra mạng lưới trạm với
số lượng vừa đủ đáp ứng được yêu cầu
Tình hình ô nhiễm dẫn đến suy thoái môi trường trong vùng đã được phân tích kỹ trong các phần IV, V, VI của để tài, tại đây nhấn mạnh một số điểm:
- Ô nhiễm do yếu tố tự nhiên:
Chế độ thủy văn bán nhật triểu với biên độ dao động cao dễ dàng tạo xâm nhập
mặn vào sâu trong đất liền đặc biệt vào mùa kiệt Vào thời điểm đó độ mặn 4%
có thể lên quá phà Nhà Bè gây ảnh hưởng đến cấp nước sinh hoạt và thủy lợi cho
toàn bộ các huyện ven biển Rửa trôi, xói mòn, phong hóa vùng đồi núi Nam
Trung Bộ và Tây Nguyên, chuyển khoáng chất và tác nhân ô nhiễm về hạ lưu; rửa
trôi đất phèn vùng phía Tây lưu vực và đồng bằng sông Cửu Long chuyển nước phèn về sông Sài Gòn, làm cho độ pH sông Sài Gòn vùng Bến Than - Bình Phước
chỉ khoảng 4,5 - 5,5 không đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt và thủy sản
- Ô nhiễm do sinh hoạt
Với 10 triệu dân phần lớn sống trong các thành phố, thị xã, thị trấn và khu dân
cu ven sông, hàng ngày nguồn nước Đồng Nai - Sài Gòn có thể nhận trên 316.000 kg BOD, trén 700.000 kg COD, trên 700.000 kg chất rắn lơ lửng, trên 63.000 kg nitơ, trên 7.500 kg phospho và trên 50.000 kg dầu mỡ và hàng tỷ tỷ vi
trùng (chỉ tính 70% số dân đưa chất thải vào hệ thống cống rãnh và nguồn nước)
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới § 8422329 - Fax 8423670 5
Trang 7Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
Đây là các tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu và phổ biến nhất đối với nguồn nước
trong lưu vực, tạo hàm lượng hữu cơ cao, dẫn đến giảm ôxy hòa tan trong nước, tăng sự phú dưỡng hóa, tăng độ đục, tăng vi trùng dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe con người và đời sống thủy sinh Ngoài nước thải, lượng rác sinh hoạt hàng ngày
trong vùng có thể lên tới 7.000 - 8.000 tấn trong đó chỉ độ 50 - 60% được
chuyển về bãi rác tập trung
- Ô nhiễm do sản xuất công nghiệp
Là vùng được định hướng phát triển công nghiệp lớn nhất cả nước, hiện nay trong
khu vực có hàng trăm nhà máy loại lớn và trung, hàng ngàn xí nghiệp công nghiệp nhỏ và hàng vạn xưởng sản xuất tiểu thủ công nghiệp Loại hình công
nghiệp rất đa dạng (chế biến thực phẩm, đồ uống, năng lượng, dệt, nhuộm, giấy, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc sát trùng, thuộc da )
nhưng phần lớn công nghệ cũ, lạc hậu, không có hệ thống xử lý nước thải Trừ một số trong các khu công nghiệp tập trung (Biên Hòa I, Thủ Đức), phần lớn các
cơ sở công nghiệp nằm trong hoặc sát khu dân cư Đây chính là nguy cơ gay 6
nhiễm và sự cố môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhân dân và đời
sống sinh vật trong vùng Theo một tính toán của chúng tôi vào năm 1993, tải lượng các tác nhân ô nhiễm từ khu công nghiệp Biên Hòa I hàng ngày là: chất rắn Io Iting 20.635 kg, BOD 9.250 kg, COD 21.627 kg, phenol 65,.5 kg, đồng 1,7
kg, chi 6,5 kg và hàng tấn dầu mỡ Tải lượng BOD hàng ngày do công nghiệp TP
Hồ Chí Minh là 65.000 kg (năm 1990) và 129.600 kg (năm 1995) và còn tăng
rất nhanh vào các năm tới khi hàng loạt các dự án công nghiệp chế biến bột
ngọt thực phẩm, đồ uống, hóa chất, hóa dầu bắt đầu hoạt động Đây là chưa tính đến các tác nhân độc hại đặc biệt (kim loại nặng, phenol, dầu mỡ, hóa chất hữu
cơ bần vững .) chưa có số liệu chính xác
Hoạt động công nghiệp (đặc biệt là các nhà máy xi măng, nhiệt điện, luyện kim,
hóa chất) còn đưa vào không khí khối lượng lớn các tác nhân ô nhiễm: Bụi, S0;,
NOx va CO Cùng với việc xử dụng hàng triệu xe máy và trên 200.000 xe hơi, xe
lam, đây là nguồn ô nhiễm chủ yếu đối với không khí trong lưu vực Theo một số
dự báo, đến năm 2000 tải lượng các tác nhân ô nhiễm không khí (bui, SQ2, NOx) trong lưu vực sẽ tăng hơn 2 lần so với hiện nay
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới # 8422329 - Fax 8423670 6
Trang 8Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
Một nguồn công nghiệp khác ít được kiểm soát là việc xây dựng và hoạt động các
nhà máy thủy điện và hổ chứa nước ở thượng lưu Đồng Nai Việc hình thành các
hồ Trị An, Dầu Tiếng mang đến hiệu qủa rất tích cực đối với phát triển kinh tế xã
hội, nhưng không tránh được một số tác động tiêu cực về môi trường (mất rừng,
thay đổi vi khí hậu, thay đổi chế độ thủy văn và hệ sinh thái hạ lưu)
- Ô nhiễm do sản xuất nông, lâm ngư nghiệp
So với đồng bằng sông Gửu Long, vùng Đông Nam Bộ có diện tích lúa nhỏ hơn
nhiều nhưng lại có vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất cả nước Lượng
phân bón sử dụng trong vùng hàng năm trên 100.000 tấn, lượng thuốc bảo vệ thực vật trên 1.000 tấn (chủ yếu là các loại phospho hữu cơ có độc tính cao,
cacbamate và một số loại clo hữu cơ) Đây chính là các tác nhân gây ô nhiễm
nước, đất, thực phẩm gây tác hại đến sinh vật và sức khoẻ con người
Trong lưu vực, nghề nuôi cá khá phát triển Vùng ven hồ Trị An, đã có trên 400
bè cá với hàng ngàn người sống trên bè, một số khu vực (gầm cầu La Ngà) mặt nước là nơi nhận chất thải từ con người Vùng cửa sông (0ẩn Giờ, Tân Thành)
nghề nuôi tôm vừa bị các nguồn ô nhiễm tác động, vừa chính là nguồn tác động
tiêu cực do phá rừng ngập mặn và gây ô nhiễm nước
I.4 Đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên khu vực đến môi trường
Chất lượng môi trường trong một khu vực không chỉ được qui định bởi các nguồn
thải mà còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên chi phối quá trình lan truyển và biến đổi các chất gây ô nhiễm Do vậy việc chia các vùng theo điều
kiện địa hình giúp cho công việc xác định các trạm nền vùng (không khí, đất)
cũng như các trạm ô nhiễm
I.9 Hiện trạng mạng lưới giám sát môi trường trong vùng KTTĐPN
Với qui mô phát triển công nghiệp và đô thị hóa lớn nhất nước, VKTTĐPN là khu vực quan trọng trong hoạt động giám sát giám sát môi trường Quốc gia Hiện tại,
trên VKTTĐPN đang tồn tại 2 mạng lưới giám sát môi trường : mạng lưới giám
sát môi trường Quốc gia và mạng lưới giám sát môi trường TP Hồ Ghí Minh
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Báo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới # 8422329 - Fax 8423670 7
Trang 9Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
I.5.1 Giám sát chất lượng nước sông rạch
Giám sát cố định Chất lượng nước được đánh giá trên cơ sở số liệu giám sát tại
các trạm trong khu vực như sau:
- Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 9 trạm tại Hoá An, Bến Gỗ, Bến Than, Bình
Phước, Nhà Rồng, Thị Nghè, Tân Thuận, Bình Điền, Rạch Gái
- Đồng Nai: 5 trạm tại Nhà máy nước Biên Hòa, cầu La Ngà, ở hồ Trị An (2 trạm)
va KCN BHII
- Vũng Tàu: 5 trạm trên sông Thị Vải tại Phú Mỹ, sông Dinh tại điểm lấy nước Bà
Rịa, sông Cỏ May tại cầu Cỏ May
Giám sát lưu động Chất lượng nước được đánh giá trên cơ sở số liệu giám sát lưu
động từ năm 1992 đến năm 1996
I.5.2 Giám sát chất lượng nước ngầm
Dia phương Vị trí giám sát
TP Hồ Chi Minh † trạm (bãi rác cũ Hóc Môn)
TP Biên Hòa †1 trạm (khu công nghiệp Biên Hòa II)
I.5.3 Giám sát nước biển tại Vũng Tàu:
Bãi Irước : † tram
Bãi Sau (bãi Thuỳ Vân) - 1 trạm
I.5.4 Giám sát chất lượng không khí
Giám sát lưu động Chất lượng không khí được giám sát lưu động trên khắp 4 tỉnh
thành từ năm 1991 đến nay Tổng hợp các vị trí lấy mẫu khí như sau:
STT Vị trí lấy mẫu Số điểm lấy mẫu
Tp Hồ Chí Minh | -Các khu công nghiệp 36
Đồng Nai -Cac khu công nghiệp 35
Trang 10Nghiên cứu để xuất các biên pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
-Khu vực dân cư, hoạt động thương mại 27
Bà Rịa-Vũng Tàu | -Các khu công nghiệp 30
-ác điểm dân cư 23
Giám sát cố định: Chất lượng không khí được giám sát tại các trạm quan trắc
trong khu vực như sau:
Địa phương Vị trí đặt trạm cố định Mục tiêu giám sát
TP.Hồ Chí Minh † - TrạmThủ Đức -Đánh giá ô nhiễm do công nghiệp
giao thông
- Trạm tại Sở KHCN&MT TP - Đánh giá ô nhiễm do giao thông
và thương mại
Đồng Nai - Tram trong KCN BHI -Đánh giá ô nhiễm do công nghiệp
- Irạm trong KCN BHII,
giao thông
- Trạm vùng ven thành phố Biên | - Đánh giá ô nhiễm do sinh hoạt Hòa
TP Vũng Tàu -Trạm tại trung tâm TP.Vũng | - Đánh giá ô nhiễm do sinh hoạt và
-Trạm tại Phước Thắng
(quốc lộ 51)
-Trạm ở vùng ven TP Vũng Tàu
- Đánh giá ô nhiễm giao thông
- Đánh giá ô nhiễm do du lịch và
sinh hoạt
- Giám sát khí thải và tiếng ồn giao thông
Nút giao thông Hàng Xanh : 1 trạm
Nút giao thông Phú Lâm : 1 trạm
Khu trung tâm thành phố
I.5.5 Giám sát chất thải rắn sinh hoạt
: † trạm (bùng binh trước khách sạn REX)
Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới ® 8422329 - Fax 8423670 9
Trang 11
Nghiên cứu để xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và xây dựng các phương án kiểm soát ô nhiễm vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam - Phần VIII - Chương trình giám sát chất lượng môi trường
TP Hồ Chi Minh Bãi rác thành phố
TP Biên Hòa Bãi rác thành phố
Điều còn hạn chế hiện nay là tại các trạm giám sát này số điểm và tần số giám
sát còn rất ít, chưa giám sát liên tục 24/24, thiết bị không đồng bộ
Trước hiện trạng phát triển kinh tế, ô nhiễm môi trường trong khu vực, việc đẩy
mạnh xây dựng mạng lưới giám sát môi trường riêng cho VKTTĐPN là điều cần
thiết Hệ thống giám sát môi trường trong khu vực kết hợp với mạng lưới giám sát môi trường Quốc gia sẽ cung cấp cơ sở cho công tác kiểm tra, dự báo ô nhiễm
môi trường trong khu vực
Il CHUGNG TRINH GIAM SAT CHAT LUONG KHONG KHi TRONG VKTTDPN
II.1 Mục tiêu giám sát
Nhìn chung mạng lưới giám sát không khí ở Việt Nam nên được thiết kế sao cho
đạt tối thiểu bốn mục tiêu giám sát cơ bản là:
- Xác định được nồng độ ô nhiễm cao nhất có thể xảy ra trong vùng được bao
phủ bởi mạng lưới giám sát
- Xác định được nồng độ ô nhiễm đại diện trong vùng có mật độ ô nhiễm cao
- Xác định được các nguồn ô nhiễm hiện hữu và các nguồn khả năng
- Xác định tổng quát phông môi trường không khí chung quanh
II.2 Xác định số trạm giám sát
Để đạt được các mục tiêu trên, quy mô không gian cần thiết đặt trạm giám sát
không khí thường được thiết kế như sau:
- Quy mô nhỏ (vài mét đến 100m)
- Quy mô vừa (khoảng 100m đến 0,5km)
- Quy mô lân cận (0,5-4,0km)
- Quy mô đô thị (4-50km)
- Quy mô vùng (từ 10 đến vài trăm km)
Viên Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ Môi trường-Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới 8422329 - Fax 8423670 10