1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Báo cáo khảo sát kinh tế xã hội các cộng đồng biển và ven biển việt nam ADB 5712 REG dự án hỗ trợ kỹ thuật quản lý môi trường biển và ven biển đông (giai đoạn II)

19 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 19,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của hoạt động này là tiến hành điều tra đại diện đối với các cộng đồng và chính quyền địa phương dọc theo bờ biển Việt Nam, sử dụng phương pháp thẩm định nhanh nông thôn RRA, và

Trang 1

BÁO CÁO KHẢO SÁT KINH TẾ XÃ HỘI CÁC CỘNG ĐỒNG

BIEN VA VEN BIEN VIET NAM

NGAN HANG PHAT TRIEN CHAU A

ADB 5712 - REG

DU AN HO TRO KY THUAT QUAN LY MOI TRUGN BIEN VA VEN BIEN DONG (GIAI DOAN II)

THANG 6, 1999

Trang 2

DIEU TRA CONG DONG VUNG BIEN VA VEN BIEN

Các huyện ven biến

—-— Ranh giới quốc gia

—————- Ranh giới tỉnh

Đường ô tô

Sông suối

RR Huyện ven biển Tỉnh ven biển

WÑ Các huyện ven biển đã được điều tr quArt Tỉnh ven biển của Việt Nam

ro ADB 57 12-REG: Du an ho tro ky thuật quản lý - xed - ae

s môi trường biển và ven biến Đông (giải đoạn H

ee ei

3G MỖI TRƯỜNG j

“TỶ

g.an2mmrr=mse=

Trang 3

TÓM TẮT NỘI DUNG

Báo cáo này trình bày kết quả của cuộc điều tra cộng đồng ở vùng biển và ven biển, vốn là một phần của dự án ADB 5712-REG: Quản lý môi trường vùng biển và ven biển

ở Khu vực Biển Đông, Phần 2 Mục tiêu của hoạt động này là tiến hành điều tra đại diện đối với các cộng đồng và chính quyền địa phương dọc theo bờ biển Việt Nam, sử dụng phương pháp thẩm định nhanh nông thôn (RRA), và nhằm giải quyết những vấn

đề chính sau đây:

e Bảo tồn nguồn lợi và bảo vệ vùng ven biển;

®_ Tạo thu nhập và phát triển kinh tế;

e_ Các vấn đề xã hội và nhu cầu về cơ sở hạ tầng hữu hình; và

e_ Các cơ chế cần thiết để cộng đồng và các tổ chức NGO tham gia vào công tác bảo vệ và quản lý nguồn lợi ven biển

Các nhóm đánh giá nhanh nông thôn cũng có trách nhiệm thông báo cho người dân địa phương về mục tiêu và phạm vị của hỗ trợ kỹ thuật vùng và giải thích rõ rằng các cơ quan địa phương sẽ được củng cố như thế nào để có thể đảm bảo rằng họ sẽ đóng góp một cách có ý nghĩa vào quá trình lập kế hoạch và thực hiện Từ giữa tháng 1 đến cuối tháng 3/1999, các nhóm này đã tiến hành 150 cuộc phỏng vấn ở 58 trong tổng số 125 huyện ven biển của 29 tỉnh ven biển của Việt Nam Những cuộc phỏng vấn này đều được thực hiện ở cấp huyện và cấp xã

Kết quả, Khuynh hướng và Vấn đề

Tinh ổn định về mặt dân số ở các xà ven biển

Xét về mặt xã hội và văn hoá, các xã ven biển của Việt Nam đều là những thực thể ồn định và được tổ chức tốt Phần lớn các xã ven biển được phỏng vấn đều có tỷ lệ đi đân đến và đi dân đi thấp; cư dân được phòng vấn va gia đình họ đã sinh sống ở các xã này

từ nhiều năm nay, nếu không nói là đã từ nhiều thế hệ Sự ổn định về dân số này góp phần nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết cộng đồng được phản ánh qua những điểm sau:

(1) Những người được phỏng vấn trong xã nói chung đều gấn bó và thống

nhất trong nhận thức về các vấn đề quan trọng liên quan đến quản lý môi trường vùng biển và ven biển;

(¡) — Kiến thức về chế độ pháp lý hiện hành liên quan đến việc quản lý và điều

tiết hoạt động khai thác biển có vẻ đồi đào và các thành viên trong xã nói chung có vẻ ủng hộ việc áp dụng chế độ pháp lý này; và

Trang 4

(iii) Dường như có ý thức rõ ràng giữa các thành viên trong xã lên quan đến

vấn đề đâu là vùng thu hoạch nguồn lợi truyền thống của xã Những người phỏng vấn không được rõ lắm về cách thức sử dụng những điện tích này, rằng liệu chúng đã từng thuộc quyền sử dụng riêng của một số

xã nhất định nào đó, hay liệu đã hình thành những mối quan hệ giữa nhiều cộng đồng địa phương để cùng sử dụng chung những diện tích này Nhưng một điều có thể thấy rõ qua các cuộc phỏng vấn là ở cấp xã có tồn tại khái niệm về quyền thu hoạch trên các diện tích này theo tập quán và hưởng hoa lợi từ những nguồn lợi được thu hoạch

Áp lực đối với các xã ven biển đo tình trạng suy thoái nguồn lợi sinh học và do hiện chỉ có ít giải pháp kinh tế (như được mô tả đưới đây) có thể là một thử thách đối với tính đoàn kết cộng đồng của địa phương, vì xem ra giữa các hộ gia đình có sự cạnh tranh ngày càng tăng về những nguồn lợi tự nhiên có thể sinh lời đang ngày càng can kiệt Những áp lực này thể hiện ở chỗ trong nội bộ và giữa các xã xảy ra ngày càng nhiều tranh chấp liên quan đến việc tiếp cận các nguồn lợi này

Hồ trợ của Nhà nước

Một chủ đề quán xuyến trong các báo cáo của cuộc Điều tra RRA là sự trông chờ Nhà nước đưa ra các giải pháp cấp vốn cho hầu hết các vấn đề đã được xác định ở cấp xã Một số người được phỏng vấn từ chối đề xuất giải pháp cho những vấn đề mà họ đã nhận định được, điều này cho thấy rằng nếu Nhà nước không đưa ra giải pháp thì sẽ không có giải pháp nào hết Đầu tư của Nhà nước chính là nguồn vốn chủ yếu mà địa phuơng tìm kiếm, cũng như các hành động của Nhà nước nhằm giảm nhẹ khó khăn về kinh tế và xã hội cho địa phương

Chính sách của Chính phủ có mối liên quan đặc biệt đến việc tăng mức độ đánh bắt cá

xa bờ, là phương thức khai thác nguồn lợi mà tất cả các xã ven biển đều theo đuổi Có liên quan rất mật thiết đến việc phục hồi và quản lý nghề đánh bắt cá ven bờ và khai thác bền vững nghề đánh bắt cá xa bờ là Chương trình Phát triển nghề đánh bất xa bờ của Nhà nước Kết luận của cuộc điều tra RRA cho thấy là mục tiêu quốc gia của chương trình này về việc tăng số lượng tàu thuyền của Việt Nam ở ngoài khơi sẽ tạo ra ảnh hưởng đa dạng đến nhiều ngành nghề khác nhau trong cộng đồng vùng biển Quan ngại về vấn đề này đã là trọng tâm cốt lõi của các cuộc phòng vấn ở tất cả các tinh ven

biển

Miền duyên hải Việt Nam: Các cộng đồng trong Thời kỳ quá độ

Các cộng đồng ven biển ở Việt Nam hiện đang chịu ảnh hưởng của các cuộc cải tổ cơ cấu kinh tế lớn do Chính phủ Việt Nam bắt đầu tiến hành từ giữa những năm 1980 và tiếp tục cho đến ngày hôm nay Một số ảnh hưởng là tích cực Nhiều xã và những người lãnh đạo xã cho biết là trong khi tình hình kinh tế-xã hội ở địa phương họ còn gặp khó khăn về nhiều phương diện, nhiều mật trong đời sống của người dân ven biển

Trang 5

đã được cải thiện tốt hơn trước đây Mặc dù những cải thiện này không phải lúc nào cũng là đo cuộc "Đổi mới" kinh tế đem lại, nhưng rõ ràng lợi ích của việc các hộ và tổ chức địa phương được trao trách nhiệm lớn hơn trong việc ra các quyết định về kinh tế

đã được đánh giá cao Nhận thức chung là đời sống của người dân ở đây nói chung đã được cải thiện tốt hơn nhờ các cuộc cải cách như vậy

Tuy nhiên cũng có những chi phí mà các cộng đồng ven biển phải gánh chịu Có lẽ việc tiến hành tự đo hóa nền kinh tế đã loại bỏ một số, chứ không phải là tất cả, những cản trở chính đối với quá trình phát triển kinhh tế ở miền duyên hải Việt nam Những cải cách về giá và thị trường nói chung đã được thực hiện, nhưng các cộng đồng ven biển không thể tận dụng được tất cả lợi ích từ những cải cách như vậy, vì họ thiếu cơ sở

hạ tầng cơ bản và không có khả năng tiếp cận vốn Minh chứng rõ ràng nhất cho vấn đề này là mối quan ngại về tính bất ổn của giá hàng hoá mà hầu hết mọi nơi được điều tra đều đề cập tới, cũng như những khó khăn mà các hộ và xã phải đương đầu có liên quan đến biến động về giá hàng hoá của họ do những thay đổi trong khả năng cung ứng những hàng hoá này

Cuối cùng, bất chấp các cuộc cải cách kinhh tế và những lợi ích mà chúng có thể đem lại cho các cộng đồng ven biển ở Việt Nam, hiện vẫn còn những vết tích của trật tự kinh tế cũ, và điều này được phần ảnh không đâu rõ rệt bằng thực tế là, ở hầu hết các trường hợp đều tồn tại thái độ trông chờ Nhà nước đưa ra giải pháp cho những vấn đề

mà các xã đã phát biểu rõ ràng như ở trên

Khoanh vùng biển và Khu vực khai thác mở

Các diện tích biển của Việt Nam đều được chính thức khoanh vùng chức năng ở mức tối thiểu Thực tế này, cùng với tính chất về cơ bản là mở cửa của nghề cá khai thác ở Việt Nam và sự suy giảm về các nguồn lợi sinh vật biển, đã tạo nên một tình trạng lộn xôn có thể xem là "tự do cho tất cả" liên quan đến việc thu hoạch nguồn lợi biển Bất

kể là trước đây đã tồn tại trật tự cơ cấu nào liên quan đến việc thu hoạch nguồn lợi biển, hiện nay xem ra trật tự cơ cấu này chỉ còn được thực hiện bởi những ai không có

đủ nguồn lực đầu tư vào công cụ cần thiết để có thể đi đánh bất xa ngoài các bãi cá truyền thống Những ai đã đầu tư mua trang thiết bị thì hiện đã sang đánh bắt ở các bãi

cá truyền thống của các xã, huyện, và tỉnh lân cận Với tình trạng bất lực trong việc thi hành các luật lệ hiện hành một cách hiệu quả, kết quả có lẽ sẽ là các nguồn lợi sinh vật biển có thể sinh lời sẽ bị đánh bắt mà hoàn toàn không có bất kỳ một sự kiểm chế nào

Cứ tiếp tục tình hình như vậy sẽ hoàn toàn không có lợi cho khả năng sống còn lâu dài của những nguồn lợi này

Các khu bảo tồn biển và ven biển

Sau khi tiến hành điều tra cộng đồng ven biển thấy có ba cảm tưởng liên quan đến các khu bảo tồn biển và ven biển Thứ nhất, có thể không phải là điều đáng ngạc nhiên, là nói chung có sự hiểu biết rất ít ôi về khái niệm đâu là một khu bảo tồn biển và ven biển được công nhận Hầu hết những người được phỏng vấn đều không biết một khu bảo tồn

3

Trang 6

biển và ven biển được công nhận là gì Những người có biết hoặc cố gắng phỏng đoán thì cho rằng đây là những khu vực hiện đang được bảo vệ ở trên mặt đất Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là nhiều cộng đồng ven biển lại có khái niệm là một khu bảo tồn

là khu vực bị ràng buộc nghiêm ngặt bởi những quy định hạn chế đánh bắt, như những qui định hạn chế liên quan đến mùa đánh bắt, phương thức đánh bắt và loại công cụ, hay về loài và kích thước đánh bắt Các cộng đồng ven biển đặc biệt rất quen thuộc, và thấy dễ chịu, với khái niệm này về một khu bảo tồn Thứ ba, hiểu biết như vậy về các qui định hạn chế sử dụng nguồn lợi trong một khu bảo tồn không nhất thiết có nghĩa là cấm vĩnh viễn việc sử dụng và thu hoạch các nguồn lợi sinh học Nhiều xã bày tỏ rằng

họ miễn cưỡng ủng hộ cho việc thành lập một khu bảo tồn biển hay ven biển nào đó nếu điều này có nghĩa là một phần điện tích biển bị cấm khai thác vĩnh viễn

Nhận thức chung và Các hoạt động giáo dục môi trường

Có rất nhiều hoạt động giáo dục và nâng cao nhận thức chung đã được tổ chức ở cấp

huyện và cấp xã, mặc dù được định hướng nhiều hơn vào các lĩnh vực như luật lệ cho nghề cá khai thác, sức khoẻ quần chúng, và vệ sinh nông thôn hơn là bản thân những vấn đề về môi trường Chắc chắn là các cơ chế để tiến hành các hoạt động giáo dục và nâng cao nhận thức chung có tồn tại, dưới hình thức các thông tư, các cuộc họp xã để tuyên truyền thông tin, các trạm truyền thanh địa phương, và các chương trình học đường ở một số xã Nhưng, thực tế rằng các quy định về nghề cá khai thác dường như

bị bỏ qua ở toàn bộ miền duyên hải Việt Nam, và vệ sinh nông thôn hiện vẫn là vấn đề nổi cộm ở nhiều cộng đồng ven biển, đã cho thấy rằng những nhân tố khác, như cái nghèo ở nông thôn, và thiếu khả năng thi hành luật, có thể sẽ phủ nhận lợi ích của những thông điệp này

Sự suy giảm các nguồn lợi sinh vật biển và ven biển

Tình hình suy giảm nguồn lợi sinh vật trong các khu vực hiện đang được phần lớn các

hộ và cộng đồng ven biển khai thác vì mục đích sinh kế là một vấn đề bao trùm và dai

đẳng trong các cuộc điều tra cộng đồng ven biển Thực tế các nguồn lợi tự nhiên có thể sinh lời ở vùng biển và ven biển bị giảm xuống xảy ra ở toàn bộ miền duyên hải Việt Nam; khuynh hướng này được ghi nhận ở tất cả các tỉnh ven biển, đặc biệt đáng ngại ở

22 trong số 29 tỉnh ven biển Sự suy giảm này trong nhiều trường hợp tỏ ra nghiêm trọng, cụ thể là khi tiến hành phỏng vấn ở 29 tỉnh ven biển thì 22 tỉnh cho biết là đã nhận thấy số lượng loài sinh vật bị tuyệt chủng ở địa phương tăng lên, đây là khuynh hướng tiêu cực đối với tính đa đạng sinh học ở vùng biển và ven biển trên qui mô địa phương cũng như toàn quốc

Ở cấp cộng đồng và cấp hộ, những người tham gia trả lời phỏng vấn xã ven biển đã phác hoa bức tranh về quá khứ khi mà sản lượng thu hoạch nguồn lợi sinh vật có thể đem lại một thu nhập đủ để giải quyết nhu cầu cần thiết cho hộ ven biển Các phương thức thu hoạch đều là truyền thống, được biết rất rõ và riêng biệt cho từng địa phương Nhưng thế giới đã thay đổi rất nhiều Nay thì các hộ và cộng đồng không còn áp dụng

Trang 7

các phương thức khai thác truyền thống nữa Thay vì vậy họ đầu tư vào lưới và công cụ đánh bắt để nâng cao năng lực khai thác của mình Tuy nhiên, đầu tư như vậy mới chỉ đem lại những thành công có hạn mà thôi Các nguồn lợi biển và ven biển mà các cộng đồng ven biển luôn phải phụ thuộc đang suy giảm dần, nên đòi hỏi nhiều thời gian và

nỗ lực hơn nhằm thu được mức lãi giống như trước đây Trong nhiều trường hợp, sản lượng thu hoạch và lãi tài chính hiện đang giảm xuống, và một số loài sinh vật đã hoàn toàn biến mất

Thiếu vốn đầu tư và Cơ sở hạ tầng yếu kém

Thiếu vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng yếu kém là vấn đề bao trùm trong công tác quản lý môi trường vùng biển và ven biển được đề cập trong các cuộc phỏng vấn huyện, lãnh đạo xã và cộng đồng xã Việc thiếu đầu tư được xác định trước nhất và trên hết là đầu

tư của Nhà nước Vốn cấp của Nhà nước được xem là nguồn đầu tư vốn chủ yếu cho

huyện và xã

Có một tỷ lệ cao trong số những người được phỏng vấn cho rằng thiếu vốn đầu tư là một vấn đề chủ yếu đối với việc phát triển nghề đánh bắt cá xa bờ, đặc biệt đối với việc xây dựng đội tàu xa bờ Đầu tư vốn vào lĩnh vực này được xem là giải pháp kịp thời và khả thi nhất để giải quyết những khó khăn hiện nay do mức lãi từ hoạt động thu hoạch nguồn lợi ngày càng thấp đi Niềm tin ở đây là nếu đạt được sản lượng đánh bắt xa bờ lớn thì sẽ tăng được lợi nhuận kinh tế Một điều được biết đến rất rộng rãi là cá ở ngoài khơi nhiều hơn và kích thước cũng lớn hơn Cuộc điều tra này, do áp dụng phương thức tiếp cận trên cơ sở cộng đồng, không tiến hành phỏng vấn ngư dân của những tàu thuyền lớn ở các cảng thương mại, nhưng niềm tin này có lẽ xuất hiện vào thời gian hiện nay, khi mà phần lớn những người được phỏng vấn và đã từng đánh bắt xa bờ cho rằng nghề cá đánh bắt xa bờ đem lại mức lãi cao hơn và thu nhập tốt hơn

Thiếu vốn đầu tư có mối quan hệ ràng buộc trực tiếp với cơ sở hạ tầng nghèo nàn ở vùng ven biển, cái này là kết quả của cái kia Cơ sở hạ tầng nghèo nàn có liên quan đến tình hình nghèo ở nông thôn do không thể giúp người dân ở đây tiếp cận được với thị trường và thiếu những doanh nghiệp có khả năng tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho hộ gia đình Cơ sở hạ tầng nghèo nàn thể hiện ở việc thiếu:

e©_ Các cảng thương mại và đành cho tàu thuyền nhỏ (dẫn đến những khó khăn về thị trường và sự phụ thuộc vào lái buôn địa phương);

e_ Các xưởng chế biến hải sản ở ngay địa phương;

e_ Các hệ thống giao thông vận tải Điều này được hầu hết những người được hỏi diễn tả là vấn đề cần có đường giao thông để đến được thị trường:

e Cac phương tiện xử lý nước thải và các vị trí gom rác cho các hộ gia đình;

e Các giếng nước ngọt hay các vị trí thu thập nước ngọt;

e_ Cơ sở hạ tầng cần thiết cho cuộc sống lành mạnh ở xã - trường học, bệnh xã, và các trung tâm văn hoá

e Câu các loại

Trang 8

Vấn đề cơ sở hạ tầng yếu kém ở vùng ven biển được xác định trong cuộc diéu tra RRA

là một trong những nguyên nhân chính gây ra khó khăn kinh tế cho người dân ở đây Cộng đồng địa phương hiện đang phải chịu đựng tình trạng mất vệ sinh ở các bãi biển, nguồn nước bị nhiễm khuẩn, thiếu nước ngọt cho sinh hoạt, thiếu trường học cho con trẻ, các dịch vụ y tế không đạt yêu cầu, thiếu các tiện nghi hiện đại như điện và điện thoại, và hệ thống giao thông nông thôn còn gặp nhiều khó khăn Họ không thấy có cách nào tăng được thu nhập nếu không được đầu tư vào hạ tầng cơ sở cơ bản và

phương tiện thu hoạch nguồn lợi

Vốn vay và tín dụng

Khả năng có sẵn của tín dụng thích hợp là một trở ngại lớn đối với nhiều cộng đồng ven biển Phỏng vấn 21 trong số 29 tỉnh ven biển thấy xuất hiện vấn đề thiếu thốn tín dụng và những vấn đề nảy sinh liên quan đến các nguồn cho vay hiện có đối với các nhóm và các hộ gia đình Những vấn đề này có liên quan đến cả nguồn vốn công cộng lẫn nguồn vốn tư nhân vì đối với một số thành viên đặc biệt của xã, cả hai nguồn vốn này xem ra đều có sẵn vào nhiều thời điểm khác nhau Những vấn đề có liên quan đến vốn vay của Nhà nước đối với các xã vùng biển và ven biển là:

Không có sẵn đối với các hộ nghèo vì họ không có thế chấp

Lãi suất quá cao

Kỳ hạn hoàn trả quá ngắn

Không có khả năng vay thêm vốn từ các chi nhánh ngân hàng nhà nước ở địa phương nếu chưa hoàn trả vốn vay ban đầu

e Thủ tục hành chính và giấy tờ vượt quá khả năng hoàn tất của hầu hết các hộ

ven biển

e Khong cé kha nang đàm phán lại về điều khoản vay trong trường hợp sản lượng thu hoạch thấp hay thiên tai

e V6n vay hiện có sẵn thông qua Quỹ Phát triển Đánh bat xa bờ không đủ để đáp ứng nhu cầu Bên cạnh đó, các yêu cầu của Quỹ này cho thấy các khoản cho vay của quỹ nhìn chung không dành cho các hộ ngư dân cá thể mà là để dành cho một hình thức hợp tác nào đó Đòi hỏi này là cả một vấn đề đối với một số xã

Có nhiều điển hình ở những xã có khả năng tài chính để thực thi các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở nhỏ và cơ bản, như xây dựng nhà vệ sinh và hệ thống thu gom rác thải, sử dụng nguồn lực địa phương để mua và bảo trì trang thiết bị

Hệ thống thị trường hiện nay

Các cộng đồng ven biển trong nhiều trường hợp cảm thấy họ là nạn nhân của các lái buôn tính khí thất thường và tình trạng giá thị trường không ổn định cho các sản phẩm của họ, dù các sản phẩm đó là sản phẩm đánh bắt ngoài biển, sản phẩm nuôi trồng, hay

Trang 9

các hàng hoá khác Lượng sản phẩm tiêu dùng tại chỗ chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng sản lượng nguồn lợi thu hoạch được, và phần sản lượng hàng hoá và thu hoạch lớn nhất được đem bán để tạo thu nhập cho hộ gia đình Những vấn đề tiếp thị được nêu bật trong các cuộc điều tra cộng đồng ven biển gồm:

e Giá không ồn định

e©_ Thiếu các xưởng sản xuất để có thể mua sản phẩm thu hoạch

® Phụ thuộc vào lái buôn địa phương là những người mua hàng theo giá luôn biến

động

e_ Giá bán bị hạ thấp vào mùa đánh bắt cao điểm

e Thị trường địa phương không đủ lớn để tiêu thụ hết sản lượng đánh bắt nay đã tăng lên do phát triển đánh bắt xa bờ

e©_ Thiếu thị trường tiêu thụ các loài không có giá trị xuất khẩu

Những người được phỏng vấn đã nói rõ là nếu không được đầu tư vào hạ tầng cơ sở như đường giao thông có chất lượng tốt, các phương tiện cầu cảng thích hợp, các xưởng chế biến và đầu mối tiêu thụ ở thị trường, người sản xuất ban đầu sẽ không có được một nguồn lợi nào, trừ việc sử dụng hệ thống thị trường hiện có và không đạt yêu cầu phụ thuộc vào những lái buôn cá thể, là những người bao giờ cũng mua với giá thấp hơn giá thị trường

Phương thức đánh bắt có tính huy diệt

Phương thức đánh bắt có tính huỷ diệt được 21 trong số 29 tỉnh ven biển xác định là một vấn đề Hậu quả thực tế của phương thức này không chỉ là giết hại bừa bãi các loài sinh vật ngẫu nhiên, các con nhỏ cần để tái sinh sản nhằm duy trì trữ lượng, và làm phương hại đến môi trường Việc áp dụng các phương thức có tính huỷ diệt là nguyên nhân chính làm nảy sinh mâu thuẫn trong cộng đồng, với cả những người thu hoạch biển vốn là cư đân địa phương cũng như những người từ nơi khác đến

Tình trạng áp dụng phổ biến phương thức khai thác huỷ diệt cũng cho cư dân ven biển thấy rõ rằng nói chung, các cơ quan điều tiết không có khả năng thi hành luật lệ qui định và kiểm soát những hiện tượng vi phạm luật một cách hiệu quả Hầu như tất cả các xã được phỏng vấn đều cho thấy họ có kiến thức nhất định về các luật lệ khai thác hiện hành Những người được phỏng vấn ở mọi cấp đều cho rằng cơ quan chức năng giấm sát và thi hành luật không có đủ nguồn nhân lực, tài chính, trang thiết bị và quyền hạn cần thiết Hiện các hoạt động này chưa được đầu tư Các thành viên của xã nhìn chung cho rằng mức phạt quy định và các biện pháp xử lý vi phạm đều chưa đủ nghiêm ngặt, vì thế những người vi phạm nộp phạt rồi lại tiếp tục khai thác có tính huỷ diệt

Các giải pháp việc làm

Vấn đề thiếu việc làm nói chung và những phương sách tạo thu nhập khác được đề cập đến nhiều lần Thất nghiệp ở phụ nữ được đặc biệt nhắc đến như là một vấn đề lớn

7

Trang 10

trong nhiều báo cáo Vì phụ nữ không có khả năng tìm được việc làm có lợi, khả năng tăng thu nhập cho hộ bị giảm xuống và sự phụ thuộc tuyệt đối vào nguồn lợi biển càng được củng cố Là thành viên trong hộ đánh cá, người phụ nữ góp phần quan trọng trong

hộ doanh nghiệp đánh cá Những nguồn thu nhập của hộ phụ thuộc vào khả năng có sẵn của đất đai để chăn nuôi, của nguồn vốn có thể tiếp cận được để đầu tư vào hộ doanh nghiệp cũng như để sử dụng trong những trường hợp như chăm sóc người cao tuổi, người bệnh, và vào khoảng cách với người tiêu dùng Những hộ khá giả hơn có thể cho vay, và buôn bán cá trên qui mô lớn hơn vì họ có sẵn vốn đầu tư

Đào tạo kỹ thuật

Việc thiếu vắng đào tạo về kỹ thuật để cải tiến công nghệ khai thác biển, tiến hành đánh bắt xa bờ và tối đa hoá lợi nhuận từ nghề nuôi trồng thuỷ sản được xem là một vấn đề của 18 trong số 29 tính ven biển Việc thiếu kiến thức về kỹ thuật mới để cải thiện lợi nhuận thu hoạch có thể thấy được ở quá trình khai thác biển ven bờ, đánh bất

xa bờ, nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp

Những ngư đân dự định đánh bất xa bờ cảm thấy họ thiếu kiến thức về kỹ thuật đánh bắt sử dụng tàu lớn Họ cảm thấy xa lạ với những mặt nước nằm ngoài mốc đánh dấu

có thể thấy được kể từ đất liền, xa lạ với lưới và công cụ của tàu lớn, và không có niềm tin rằng họ sẽ có thể hoàn trả được những trợ giúp về tài chính mà họ đã nhận được để thực hiện những chuyến di nay Họ cũng cảm thấy là họ thiếu trình độ chuyên môn kỹ thuật cần thiết để xây dưụng một kế hoạch đánh bắt xa bờ, là một yêu cầu cần thiết để được vay vốn từ Quỹ Phát triển đánh bắt xa bờ Huyện Duyên Hải của tỉnh Trà Vinh cũng nhận định công tác quản lý vốn vay là một lĩnh vực cần trình độ kỹ thuật và cần được đào tạo

Những người nuôi trồng thuỷ sản ven biển và các vấn đề của họ là minh chứng tốt nhất cho vấn đề đào tạo kỹ thuật Nuôi trồng thuỷ sản ở hầu hết các địa phương được điều tra là một hoạt động đa đạng rộng khắp và các kỹ thuật liên quan đã được học bỏi thông qua hình thức chia xẻ thông tin và kinh nghiệm một cách không chính thức giữa nông đân với nhau Ở một số tỉnh, hiện tượng "chết đần" chưa giải thích được ở các loài thuỷ sản nuôi trồng, cũng như địch bệnh vẫn đang tiếp tục ở các ao nuôi đã làm phá sản nhiều nhà sản xuất và khiến nhiều người dân di cư từ nơi khác đến mất việc làm có lời Tuy nhiên, những người được phỏng vấn vẫn xác định rằng phát triển nuôi trồng thuỷ sản/hải sản là một phương án kinh tế bên cạnh phương án đánh bắt ven bờ,

và là giải pháp cho vấn đề nguồn lợi biển đang ngày càng giảm sút Trong ngành nuôi trồng thuỷ sản cũng như ở những ngành khác nhắc đến ở trên, việc cung cấp cán bộ kỹ thuật để giúp cho những nỗ lực kiếm sống hiện nay được xem là một yêu cầu cấp thiết Những người được phỏng vấn cũng để cập đến sự cần thiết phải có cán bộ kỹ thuật để giúp các xã trồng các loài cây cho mục đích đặc biệt Các loài cây này được xác định là những loài cây cần để ngăn chặn tình trạng sói mòn ven biển, đi chuyển đụn cát, sa mạc hoá đất nông nghiệp, để tái trồng rừng đước cũng như trồng cây ăn quả nhằm thay thế cho những vụ mùa thất bại hay để cố gắng nuôi trồng thuỷ sản Trồng cây ở một số

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w