1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo Việt Nam

74 1,5K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo Việt Nam
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Hoa
Trường học Viện Lao động - Xã hội
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 464,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi chiến lược phát triển của các quốc gia đều hướng vào con người, lấy con người làm trung tâm. Thực tế đã chứng minh rằng ở các nước phát triển và các nước công nghiệp mới ( NIC ) chính sách đầu tư phát triển con người đã mang lợi hiệu quả kinh tế xã hội cao. Vì thế giáo dục đã trở thành chìa khóa cho sự giàu có thịnh vượng của mỗi quốc gia

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Mọi chiến lược phát triển của các quốc gia đều hướng vào con người, lấycon người làm trung tâm Thực tế đã chứng minh rằng ở các nước phát triển

và các nước công nghiệp mới ( NIC ) chính sách đầu tư phát triển con người

đã mang lợi hiệu quả kinh tế xã hội cao Vì thế giáo dục đã trở thành chìakhóa cho sự giàu có thịnh vượng của mỗi quốc gia Ở Việt Nam giáo dụcđược coi là quốc sách hàng đầu, là lĩnh vực ưu tiên số một Mục tiêu củachính sách giáo dục cho mọi người của chính phủ Việt Nam là đến năm 2010tất cả trẻ em trong độ tuổi tiểu học đều đến trường Dù Việt Nam đã đạt đượcchuẩn phổ cập giáo dục tiểu học trên phạm vi toàn quốc vào tháng 7 năm

2000, nhưng không phải tất cả trẻ em đều được đến trường nhất là trẻ emnghèo Nước ta hiện nay có khoảng 23 triệu trẻ em trong đó trẻ em nghèochiếm 1/3 Trong 5 năm gần đây có hơn 3,5 triệu học sinh các cấp bỏ học vàcòn rất nhiều em không được đến trường Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng này nhưng nguyên nhân cơ bản là gia đình các em quá nghèo, không cótiền cho con mình đi học Chỉ 5 - 10 năm nữa hàng triệu học sinh thôi học này

sẽ là nguồn lao động trẻ, lao động phổ thông, không đáp ứng được những yêucầu nghề nghiệp của xã hội

Để trẻ em nghèo được đi học đầy đủ ở tất cả các cấp, đề tài : ''Cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo Việt Nam'' nhằm mục đích

làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp cho trẻ em nghèo được tham gia vào hệthống giáo dục nhiều hơn

Trang 2

2 Đối tượng nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu mối liên hệ giữa nghèo đói và giáo dục để thấyđược tầm quan trọng của giáo dục trong giải quyết vấn đề nghèo đói, từ đó đềtài đi vào phân tích việc tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo ở các cấp học, từmẫu giáo đến trung học phổ thông

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp tổng hợp và phân tích các số liệu thống kê đã được công bố

- Phương pháp hồi cứu: tham khảo các kết quả phân tích của một số cuộcđiều tra có liên quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát : phân tích sâu các nhóm đối tượng

Trong quá trình làm đề tài với sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo hướngdẫn Th.s Nguyễn thị Hoa và cán bộ Viện Lao động - Xã hội thuộc bộ Laođộng - Thương bình và Xã hội đã giúp tôi hoàn thành đề tài này

Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba phần :

Chương 1 : Sự cần thiết phải cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ emnghèo Việt Nam

Chương 2 : Thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo Việt Nam

Chương 3 : Giải pháp cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèoViệt Nam

Dưới đây em xin trình bày chuyên đề thực tập tốt nghiệp!

Trang 3

CHƯƠNG 1

SỰ CẦN THIẾT PHẢI CẢI THIỆN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN

GIÁO DỤC CHO TRẺ EM NGHÈO VIỆT NAM

1.Vấn đề nghèo đói và nhận diện trẻ em nghèo

1.1 Nghèo

Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và đang thu hút nỗ lựcchung của cả cộng đồng quốc tế nhằm từng bước xóa bỏ đói nghèo và nângcao phúc lợi cho người dân Tuy nhiên, rất khó có thể đưa ra một khái niệmchung, thống nhất về đói nghèo Rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đềnày đã cố gắng đưa ra khái niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng tựu chung lạiđều coi đói nghèo là tình trạng một nhóm người trong xã hội không có khảnăng được hưởng ''một cái gì đó'' ở mức tối thiểu cần thiết Sự khác nhau vềviệc xác định ''cái gì đó'' đã tạm chia thành ba trường phái chính trong quanniệm về đói nghèo

Trường phái thứ nhất, được gọi là trường phái phúc lợi, coi xã hội có hiệntượng đói nghèo khi một hay nhiều cá nhân trong xã hội đó không có đượcmột mức phúc lợi kinh tế được coi là cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tốithiểu cần thiết hợp lý theo tiêu chuẩn xã hội đó Cách hiểu này coi ''cái gì đó''

là phúc lợi kinh tế của cá nhân, hay độ thỏa dụng cá nhân ( mức sống ) Khi

đó, tăng thu nhập được xem là điều quan trọng nhất để nâng cao mức sốnghay độ thỏa dụng cá nhân

Trường phái thứ hai, trường phái nhu cầu cơ bản, coi cái gì đó mà ngườinghèo thiếu là một tập hợp những hàng hóa và dịch vụ được xác định cụ thể

mà việc thỏa mãn chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng cuộcsống Những nhu cầu cơ bản đó bao gồm LTTP, nước, điều kiện vệ sinh, nhà

Trang 4

Trường phái thứ ba, trường phái năng lực, coi giá trị của cuộc sống conngười không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ thỏa dụng hay thỏa mãn nhu cầu

cơ bản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là quyền tự do đáng kể

mà họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn

Từ định nghĩa của các trường phái trên có thể thấy, tuy chúng ta khôngthể tìm được một khái niệm duy nhất đầy đủ về đói nghèo, nhưng có thể chỉ

ra những biểu hiện cơ bản hay bản chất đa chiều của đói nghèo Bản chất đachiều của đói nghèo như sau :

 Trước hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chíthích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng

 Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáodục và y tế

 Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp dủi do, tức là khả năng một hộ giađình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hoặc sức khỏe

 Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo.Các khía cạnh trên đã cho thấy bản chất đa chiều của đói nghèo đó là: vậtchất, tinh thần và tình cảm Xuất phát đầu tiên là sự thiếu thốn về vật chất,mức thu nhập thấp không đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày Vì thế mà đờisống tình thần của họ không được đáp ứng: tiếp cận kém với giáo dục và y tế,

dễ bị tổn thương và gặp dủi do Cuối cùng là không có tiếng nói và quyền lựcdẫn đến sự mặc cảm tự ti với một tâm trạng cho rằng mình bị gạt ra bên lề vàkhông thuộc về xã hội

Cũng từ các khía cạnh trên ta thấy giáo dục là một nhân tố quan trọngphản ánh bản chất của nghèo đói, sự thiếu thốn về giáo dục đi kèm với sựkhốn cùng về

vật chất Vì thế mà nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cũng là một mắt xíchquan trọng trong giải quyết vấn đề nghèo đói

Trang 5

1.2 Nhận diện trẻ em nghèo.

1.2.1 Trẻ em và các quyền cơ bản của trẻ em.

Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: Trẻ em là công dânViệt Nam dưới 16 tuổi

Đồng thời trong luật cũng quy định các quyền cơ bản của trẻ em với nộidung như sau:

- Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch

- Trẻ em có quyền được chǎm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ

- Trẻ em không nơi nương tựa, được Nhà nước và xã hội tổ chức chǎmsóc, nuôi dạy

- Trẻ em được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể,nhân phẩm và danh dự; được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình về nhữngvấn đề có liên quan

- Trẻ em có quyền được học tập và có bổn phận học hết chương trình giáodục phổ cập Trẻ em học bậc tiểu học trong các trường, lớp quốc lập khôngphải trả học phí

Trang 6

- Cha mẹ, người đỡ đầu có trách nhiệm tạo điều kiện tốt cho con em họctập.

- Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền học tập của trẻ em, khuyếnkhích trẻ em học tập tốt và tạo điều kiện để trẻ em phát triển nǎng khiếu

- Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động vǎn hoá,vǎn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi

Như vậy học tập là một trong những quyền cơ bản của trẻ em Để đảmbảo quyền lợi này trong điều 28 chương III luật đã quy định rõ trách nhiệmcủa gia đình và nhà trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em:

- Gia đình nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyềnhọc tập học hết chương trình giáo dục phổ cập, tạo điều kiện cho trẻ em theohọc ở trình độ cao hơn

- Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáodục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao độnghướng nghiệp cho trẻ em Chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hộitrong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

- Cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiệncần thiết về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để đảm bảo chấtlượng giáo dục

- Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổthông, chính sách miễn giảm học phí cấp học bổng, trợ cấp xã hội để thựchiện công bằng xã hội

Các quy định trên đã thấy rõ được sự quan tâm của nhà nước với trẻ em,ngoài ra Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ 2 trên thế giới phêchuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em Hệ thống pháp luật đã giúp nước ta

Trang 7

đạt được những thành tựu đáng kể trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em.Hiểu biết về các quyền này giúp mỗi người thấy được trách nhiệm của mìnhvới trẻ em thế hệ tương lai của đất nước.

và bởi vì những cơ hội mất đi trong giai đoạn trẻ thơ thường không thể lấy lạiđược trong giai đoạn trưởng thành sau này''

Còn trong báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2005 của UNICEF đãđưa ra một định nghĩa về trẻ em nghèo như sau :

'' Trẻ em sống trong nghèo đói trải qua sự thiếu thốn các nguồn lực vật chất vàtinh thần và tình cảm cần thiết để tồn tại phát triển và vươn lên, điều đó khiếncho trẻ em không được hưởng những quyền của mình cũng như không pháthuy hết tiềm năng của bản thân hoặc không thể tham gia xã hội như một thànhviên đầy đủ và bình đẳng''

Đối với một con người thì các nguồn lực vật chất, tinh thần và tình cảmluôn gắn bó, bổ trợ cho nhau vì thế mà trẻ em cũng như người lớn nếu thiếunhững nguồn lực đó thì họ trở thành người nghèo Tuy nhiên với trẻ em do

độ tuổi nhỏ nên các đặc điểm tâm sinh lý, các nhu cầu cũng khác người lớnnên cũng có nhiều điểm khác nhau về các nguồn lực với người lớn Địnhnghĩa trên được giải thích như sau: Nguồn lực vật chất bao gồm gồm thunhập, lương thực, sự tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục, sự bảo vệ trước những

Trang 8

rủi ro về sức khỏe chẳng hạn những rủi ro liên quan tới công việc chân taynặng nhọc, các công việc khác Các nguồn lực tinh thần bao gồm sự độngviên khuyến khích, ý nghĩa trong cuộc sống, kỳ vọng, các tấm gương và mốiquan hệ đồng đẳng, còn các nguồn lực tình cảm bao gồm tình yêu, sự tin cậy,

sự hòa nhập và việc không có các tình huống lạm dụng

Dựa vào định nghĩa về trẻ em nghèo, có 3 cách tiếp cận nghiên cứu nhưsau:

- Trẻ em nghèo = Nghèo đói chung ( Mô hình A )

- Trẻ em nghèo = Sự nghèo đói của các gia đình nuôi trẻ ( Mô hình B )

- Trẻ em nghèo = Mặt đối lập của phúc lợi trẻ em ( Mô hình C )

Nghiên cứu mới nhất của bộ Lao Động - Thương Binh Xã Hội và quỹ nhiđồng liên hợp quốc về trẻ em nghèo Việt Nam đã sử dụng hai khía cạnhnghèo tiền tệ và nghèo đa chiều

Về khía cạnh tiền tệ: Dựa vào mức thu nhập chi tiêu của các hộ gia đình.Trẻ em nghèo là các em sống trong hộ gia đình nghèo Quy định trong chuẩnnghèo của nước ta như sau : Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhậpbình quân từ 200.000 đồng/người/tháng ( dưới 2.400.000 đồng/người/ năm )trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ260.000 đồng/ người/ tháng ( dưới 3.120.000 đồng/ người/ năm ) trở xuống là

hộ nghèo

Về khía cạnh nghèo đa chiều: Trẻ em nghèo được xem xét bằng sử dụng

mô hình có nhiều điểm tương đồng nhất với mô hình B Các khía cạnh và chỉ

số sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:

 Nơi ở: Trẻ em sống trong một nơi ở có từ 5 người trở lên một phònghoặc với nền nhà không lát, ốp

 Công trình vệ sinh: Trẻ em không tiếp cận được với bất kỳ công trình vệsinh nào

Trang 9

 Nước uống sạch: Trẻ em sử dụng nước sông, ao, hồ, đầm hoặc phải mất

từ 30 phút trở lên để lấy nước (thời gian đi tới nguồn nước, lấy nước và đi

 Giáo dục: Trẻ em ( trên 6 tuổi ) ở độ tuổi đi học không bao giờ được tớitrường hoặc hiện đang không đi học

 Chăm sóc sức khỏe: Trẻ em không được tiêm chủng để chống lại cácbệnh tật hoặc không chữa trị trong lần ốm đau có liên quan tới viêm nhiễmđường hô hấp cấp hoặc tiêu chảy

Phiên họp toàn thể của Liên Hiệp Quốc vào tháng 1 năm 2007 đã tổnghợp các khía cạnh trong nghèo đa chiều trên trong tuyên bố về trẻ em nghèo: ''Trẻ em sống trong nghèo khổ bị thiếu thốn dinh dưỡng, nước sạch và côngtrình vệ sinh, sự tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, nơi ở, giáo dục, sự tham giabảo vệ và mặc dù sự thiếu hụt đó đe dọa và gây nguy hiểm nhiều nhất cho trẻ

em, khiến trẻ em không thể hưởng những quyền của mình, không thể pháthuy hết khả năng của bản thân cũng như không thể tham gia xã hội nhưnhững thành viên đầy đủ''

Qua định nghĩa và các cách tiếp cận về trẻ em nghèo trên chúng ta đã cómột cái nhìn toàn diện về trẻ em nghèo trên mọi khía cạnh vật chất, tinh thần,tình cảm Hiểu được các vấn đề cần thiết với trẻ em nhất là về giáo dục, chămsóc sức khỏe để mọi trẻ em đều được chăm sóc tốt nhất, phát triển thànhnhững mầm non tương lai của đất nước

Trang 10

2 Mối quan hệ giữa giáo dục với trẻ em nghèo

2.1 Vai trò của giáo dục với sự phát triển kinh tế xã hội và con người

Tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục thể hiện ở vai trò thứ nhất: Là độnglực phát triển kinh tế Một nền kinh tế muốn có sức mạnh để phát triển cầnphải tạo ra được một trình độ trí tuệ cao và nguồn chất xám cũng như nhânlực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động, pháttriển các hoạt động dịch vụ Điều này phụ thuộc vào giáo dục, đáp ứng nhucầu trình độ cao của nền kinh tế Một nền kinh tế muốn phát triển cần có 3nguồn lực : nhân lực ( nguồn lực con người), vật lực ( nguồn lực vật chất), tàilực( nguồn lực tài chính tiền tệ) Song chỉ có nguồn lực con người mới tạo rađộng lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tácdụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người Nguồn lực con người quantrọng như vậy mà giáo dục là cơ sở phát triển nguồn nhân lực, là con đường

cơ bản để phát huy nguồn lực con người

Thứ hai giáo dục là một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã hội, làtiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa, quốc phòng, an ninh Giáo dục là hoạt động có tính vượt lên trước,căn cứ vào nhu cầu của các hoạt động xã hội khác để đào tạo nhân tài phùhợp

Thứ ba giáo dục rèn luyện đạo đức và nhân cách con người, cung cấp kiếnthức kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc văn minh Conngười được giáo dục tốt mới có khả năng giải quyết một cách sáng tạo và cóhiệu quả tất cả những vấn đề do xã hội đặt ra Vì thế mỗi người cần có giáodục, tham gia vào hệ thống giáo dục rèn luyện đạo đức, trang bị kiến thức,giống như câu nói '' tiên học lễ hậu học văn '' Có được hai điều đó mỗi người

sẽ tự tin sống trong xã hội và đóng góp trí tuệ và công sức vào sự phát triển xãhội

Trang 11

2.2 Mối quan hệ giữa giáo dục và trẻ em nghèo

Bất cứ trẻ em nào khi sinh ra bắt đầu quá trình trưởng thành đều cần đếngiáo dục, từ giáo dục của gia đình đến nhà trường và cả xã hội Trẻ em nóichung và trẻ em nghèo nói riêng đều có nhu cầu được giáo dục như nhau,nhưng với những đặc điểm đặc thù của mình sự tiếp cận về giáo dục của trẻ

em nghèo lại khác Mối quan hệ giữa giáo dục với trẻ em nghèo được giảithích rõ hơn qua vòng luẩn quẩn đói nghèo sau:

Hình 1.1: Vòng luẩn quẩn nghèo đói

Nhìn vào vòng luẩn quẩn thấy ngay giáo dục là một mắt xích quan trọnggiải thích sự '' nghèo '' mà trẻ em là hình ảnh đầy đủ nhất giải thích vòng luẩnquẩn trên Nghèo khó mà lại thiếu tri thức trẻ em sẽ gánh chịu nhiều thua thiệtnhất trong quá trình vận động phát triển của xã hội với những chuyển biếnkhôn lường phức tạp

Trình độ giáo dục của con người đi từ thấp đến cao, phải mất thời gian dàimới tích lũy được, trải qua từ bậc mẫu giáo đến tiểu học, trung học rồi cáctrường đào tạo ở cấp cao hơn và chi phí đóng góp cũng tăng theo từng cấphọc Như trong vòng luẩn quẩn trên ta thấy thu nhập tỷ lệ thuận với trình độgiáo dục Thu nhập của gia đình thấp đồng nghĩa với việc con em họ khó có

Thu nhậpthấp

thấp

thấp

Trang 12

thể theo học ở những cấp cao hơn Cấp 1, cấp 2, cấp 3 mới dừng lại ở việcgiáo dục, trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội Giai đoạnsau giáo dục là đào tạo trang bị những kỹ năng để mỗi người đi vào làm ởtừng lĩnh vực cụ thể.

Nếu trẻ em tiếp cận với những bậc học thấp thì chỉ có thể làm những côngviệc phổ thông sử dụng chân tay nhiều như vậy không thể có mức thu nhậpcao, chưa kể đến tầm hiểu biết hạn chế ảnh hưởng đến con cái sau này, khôngnhận ra được tầm quan trọng của giáo dục và cuối cùng con cái không đượcđầu tư học hành Đó chính là một vòng luẩn quẩn, từ bố mẹ nghèo, thiếu kiếnthức sinh ra con cái không được học tập đầy đủ cuối cùng lại nghèo giống bốmẹ

Như vậy mối quan hệ giữa giáo dục và trẻ em nghèo nằm ở tương lai củacác em, có giáo dục thì mới thoát khỏi chữ nghèo và bảo đảm một cuộc sốngđầy đủ sau này

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo

Trên phạm vi toàn thế giới, các dịch vụ thường không đến được với ngườinghèo Với Việt Nam cũng vậy, giáo dục là một trong những dịch vụ khó tiếpcận của người nghèo Tiến bộ xã hội không chỉ nằm ở sự tăng trưởng và pháttriển kinh tế mà còn ở các vấn đề xã hội, quan tâm đến cuộc sống của ngườinghèo góp gần quan trọng cải thiện xã hội đưa đất nước đi lên Có rất nhiềunhân tố tác động đến khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em nghèo, vìquá trình học tập của các em không chỉ phụ thuộc ở năng lực tiếp thu kiếnthức mà còn nhiều nhân tố của môi trường gia đình, nhà trường, xã hội…Ảnh hưởng rõ rệt nhất đó là các chính sách về trẻ em nghèo nói chung và vềtiếp cận giáo dục của đối tượng này Trong hệ thống giáo dục gồm có hai bên

là gia đình và nhà trường Nói rộng ra đó là nhà cung cấp và người tiếp nhận

Trang 13

giáo dục Vì thế mà ảnh hưởng đến sự tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo sẽgồm hai nhân tố này Ngoài ra còn các nhân tố ngoại sinh khác tác động vào

cả hai nhân tố trên

Vậy có 4 nhóm nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ

em nghèo:

- Nhân tố về chính sách của nhà nước

- Nhân tố thuộc về nhà cung cấp

- Nhân tố thuộc về người tiếp nhận giáo dục

- Nhân tố bên ngoài khác

3.1 Nhân tố thuộc về chính sách

Mục đích cuối cùng của sự phát triển một đất nước là mang lại một cuộcsống đầy đủ ấm no cho tất cả người dân, vì thế mà luôn cần có các chính sáchquan tâm đến những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, trong đó có trẻ

em nghèo

Chính phủ thường cam kết quan tâm tới việc đáp ứng nhu cầu và chấtlượng cuộc sống của người nghèo, của trẻ em nghèo tuy nhiên để biến nhữngcam kết này thành các chương trình, chính sách có hiệu quả thực sự thì cầnnhiều yếu tố và cho dù chính phủ có những chính sách đầu tư trực tiếp cảithiện khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo thì không phải lúc nàonhững dịch vụ và kết quả đầu tư cũng có thể đến được với các em một cáchhiệu quả.Vì thế mà nhìn chung thì những chính sách làm tăng khả năng tiếpcận giáo dục cho trẻ em nghèo nhưng mà cũng cần phải xem xét hiệu quả

thực sự của nó

Phân bổ nguồn lực hợp lý là một bước quan trọng để cung cấp các dịch

vụ Bao gồm chất lượng và số lượng phân bổ Nếu ngân sách chi cho giáo dụctrong đó có các chính sách liên quan đến tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo

Trang 14

được phân bổ hợp lý trong cơ cấu chi ngân sách và hiệu quả thì sẽ làm tăngkhả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo.

3.2 Nhân tố thuộc về nhà cung cấp

Nhà cung cấp giáo dục bao gồm có nhà nước và tư nhân Cả hai đều có nhữngđặc điểm đặc thù ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo

- Đồ dùng dạy học và thư viện

- Sách giáo khoa và các sách tham khảo khác

- Văn phòng phẩm cho giáo viên

- Nguyên vật liệu dùng cho thí nghiệm, thực tập

Các yếu tố trên chính là đầu vào cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy vàhọc tập của giáo viên và học sinh Nếu thiếu những đầu vào này thì ảnhhưởng đến chất lượng học tập ví dụ như: không có các dụng cụ để thực hànhsau bài giảng thì học sinh chỉ biết kiến thức qua lý thuyết, với giáo viên không

có thước kẻ, bảng và các văn phòng phẩm khác thì cũng khó có thể truyền đạtkiến thức cho học sinh Những yếu tố đó ảnh hưởng đến chất lượng học tậpcủa tất cả học sinh trong đó có cả học sinh là trẻ em nghèo

3.2.2 Các yếu tố phi vật chất

- Giáo viên và cán bộ phục vụ giáo dục : bao gồm chất lượng và số lượng

Về giáo viên mặt chất lượng thể hiện ở năng lực và phương pháp giảng dạy,

số lượng thể hiện ở tỷ lệ giáo viên trên học sinh Cán bộ phục vụ giáo dục nhưban giám hiệu nhà trường điều hành các công việc của trường lớp… cũng cóvai trò quan trọng Học sinh nghèo thường tiếp thu kiến thức chậm hơn

Trang 15

những học sinh khác vì thế mà khi giảng dạy cần chú ý phương pháp truyềnđạt và quan tâm đến hoàn cảnh gia đình động viên khuyến khích các em họctập Cán bộ phục vụ giảng dạy là người điều hành công việc trường lớp đưa racác quy định chế độ liên quan đến giảng dạy và học tập, nắm được hoàn cảnhcác em học sinh Nếu đội ngũ này điều hành có hiệu quả thì mỗi học sinh sẽ

có được cơ hội học tập tốt hơn, nhất là trẻ em nghèo Yếu tố này thể hiện ở rõnhất ở các vùng miền núi nơi mà tập trung nhiều nhất trẻ em nghèo thì lượnggiáo viên thiếu trầm trọng, thiếu giáo viên không chỉ trẻ em nghèo mà nhữngtrẻ em lứa tuổi đi học cũng không thể tiếp cận với giáo dục

- Các chương trình giảng dạy

Các chương trình giáo dục đó là quy định môn học lượng kiến thức truyềnđạt… đến học sinh ở mỗi cấp học, các chương trình phải phù hợp với sự tiếpthu từng lứa tuổi của trẻ

- Chi phí đóng góp khi đi học : bao gồm các khoản như học phí học thêm, xâydựng, sách giáo khoa, quỹ đoàn…chi phí mà nhà cung cấp giáo dục đưa ra bắtbuộc gia đình đóng góp để con em được đi học Với các gia đình nghèo chiphí này là yếu tố quan trọng nhất để cân nhắc có nên cho con em đến trườngkhông vì các chi phí này cần được tính toán sau những chi tiêu khác trongcuộc sống

3.3 Nhân tố thuộc về người tiếp nhận giáo dục

Trẻ em là người trực tiếp hưởng thụ nền giáo dục nhưng gia đình cũngđóng vai trò quan trọng trong sự tiếp nhận này Họ quyết định cho con em đihọc và tạo điều kiện cho các em học tập hay không Vì thế người tiếp nhậngiáo dục là trẻ em nhưng có liên hệ quan trọng với gia đình các em

- Trình độ tiếp nhận giáo dục của trẻ em: Lượng kiến thức giảng dạy khôngphải bất cứ học sinh nào cũng tiếp thu được hết, mỗi em có mức học lực riêng: giỏi, khá, trung bình, yếu Vì thế mà có nhiều em không theo được chương

Trang 16

trình giảng dạy phải bỏ học, trẻ em nghèo thường có học lực kém hơn trẻ emkhác, nên sự tiếp thu của các em là một điều đáng lưu ý.

- Thời gian của trẻ em giành cho học tập : có nhiều nhân tố ảnh hưởng đếnthời gian học tập của các em Đó là thái độ của các em với học tập, nếu họcsinh thực sự muốn đến lớp thì sẽ đi học đầy đủ và thời gian học bài ngoài giờlên lớp cũng nhiều hơn Ngoài thái độ thái độ với học tập ra còn có ảnh hưởngcủa các công việc khác làm thời gian dành cho học tập ít hơn, nhưng nhìnchung đều làm cho sự tiếp thu kiến thức giảm sút Như với trẻ em nghèo phảilao động kiếm sống thì thời gian dành cho học tập của các em chắc chắnkhông nhiều do phải tham gia lao động giúp đỡ gia đình cải thiện cuộc sống,ảnh hưởng lớn đến sự tiếp cận giáo dục

- Thu nhập của gia đình : Nếu mức thu nhập của gia đình cao thì ngoài học ởtrường con em họ còn có thể đi học thêm, hay tham gia những lớp đào tạokhác Ngược lại khi thu nhập của gia đình hạn hẹp chi tiêu cho học tập khôngthể nhiều Đến trường không phải là miễn phí, trừ bậc tiểu học được miễngiảm học phí ra thì các bậc khác đều phải đóng học phí, nhưng đi học khôngphải chỉ có học phí mà nhiều khoản khác như phần trên đã nêu Trẻ em tronggia đình nghèo thu nhập thấp, tiếp cận giáo dục kém là điều tất nhiên

- Tâm lý thái độ của gia đình với giáo dục : thể hiện ở mức độ đánh giá củagia đình về tầm quan trọng của giáo dục Có gia đình thì chỉ cần con cái họclấy cái chữ có gia đình thì muốn con cái học càng lên cao càng tốt Một khi đãmuốn con cái học hành đến nơi đến chốn thì gia đình sẵn sàng tạo điều kiện

dù khó khăn đến Trẻ em nghèo thì phần lớn gia đình không quan tâm đếngiáo dục vì đến cả bố mẹ cũng không được học hành đầy đủ họ không thấyhết được tầm quan trọng của giáo dục, nhưng cũng có trường hợp điển hình

bố mẹ dù nghèo đến mấy cũng cho con cái đi học Vì thế cải thiện thái độ với

Trang 17

giáo dục cho người nghèo cũng là một vấn đề ảnh hướng đến khả năng tiếpcận giáo dục của trẻ em nghèo.

3.4 Các nhân tố khác

3.4.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế

Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển làm tăng tổng thu nhập quốc gia,phát triển mọi lĩnh vực của xã hội Cùng với đó là sự phát triển con người, thunhập của người dân và chất lượng cuộc sống nâng cao Nó tác động đến khảnăng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo qua các mặt sau:

Thứ nhất vì thu nhập của người dân tăng lên làm giảm tỷ lệ nghèo, số trẻ

em nghèo cũng giảm Mức thu nhập tăng các gia đình sẽ đầu tư vào giáo dục

và tạo điều kiện cho con em mình đến trường nhiều hơn

Thứ hai thu nhập quốc dân tăng lên thì nguồn lực dành cho giáo dục cũngnhiều hơn, sẽ có nhiều khoản đầu tư, giúp trẻ em nghèo tiếp cận với giáo dụcnhiều hơn như hỗ trợ học phí, sách vở…

Tuy nhiên không phải tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với phát triển conngười Nhiều nước đạt tăng trưởng kinh tế nhưng lại kèm theo lạm phát cao,bất bình đẳng hơn, thất nghiệp cao và tình trạng đói nghèo trầm trọng Tỷ lệnghèo không giảm, số trẻ em nghèo tăng

ở những nơi đó không có một chỗ thuận lợi để bố trí cho học sinh đến trường

dễ dàng nhất Quãng đường từ nhà đến trường quá xa làm các em có thể từ bỏviệc đi học hoặc đi học nhưng không đầy đủ Trẻ em nghèo lại càng khó khănhơn vì các em thiếu phương tiện đi lại, thời gian đến trường nhiều và có thể

Trang 18

phải học bán trú, chi phí cơ hội cho việc đi học nhiều như thời gian giúp việccho gia đình hay làm thêm, chi phí cho đi lại…Vì thế mà giảm khả năng tiếpcận giáo dục của các em.

3.4.3 Dân tộc tôn giáo

Các dân tộc sống chung trong địa phương quốc gia, nhưng lại có các nhucầu văn hóa, giáo dục khác nhau, tập quán sống và sản xuất khác nhau Cầnnắm bắt được đặc tính, bản sắc dân tộc để cung cấp dịch vụ phù hợp nhất vớitruyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa mỗi dân tộc Yếu tố này ảnhhưởng đến sự tiếp cận giáo dục chung của trẻ em trong đó có trẻ em nghèo

4 Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo.

4.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo.

Đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo có thể dùng các chỉtiêu sau :

- Mức chi tiêu cho giáo dục : bao gồm mức chi tiêu theo mỗi khoản đónggóp, mức chi tiêu cho giáo dục một trẻ em trong mỗi cấp học

+ Mức chi tiêu theo mỗi khoản đóng góp bao gồm các khoản như học phí,sách vở , quần áo… Cho thấy được chi phí của từng khoản trong quá trìnhhọc tập của trẻ em, khoản đóng góp nào chiếm tỷ lệ cao nhất là ảnh hưởngđến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo nhất

+ Mức chi tiêu cho giáo dục một trẻ em trong mỗi cấp thể hiện tổng chi phíkhi trẻ em đi học từng cấp : mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học cơ

sở, trung học phổ thông So sánh mức chi tiêu này với tỷ lệ trẻ em nghèo đihọc tìm ra mối quan hệ giữa chúng

Trang 19

- Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi ở mỗi cấp.

Được xác định như bảng 1.1 dưới đây

Các tỷ lệ trong bảng có thể tính riêng cho nam và nữ, tính riêng cho từngvùng, tính riêng cho nhóm di dân và không di dân, tính riêng cho nhóm nghèo

và nhóm không nghèo… để có thể tiến hành so sánh

Số 11- 14 tuổiTrung học phổ thông Số đi học trung học phổ thông đúng độ tuổi

Số 15- 17 tuổi

- Tỷ lệ người đi học thêm : coi việc học thêm đóng vai trò quan trọng trongviệc bảo đảm chất lượng giáo dục, cung cấp đầy đủ kiến thức cho học sinh.Nếu tỷ lệ đi học thêm của người nghèo thấp có nghĩa là học không nhận đượcdịch vụ giáo dục một cách đầy đủ và chất lượng tốt

- Tỷ lệ hỗ trợ việc học tập của gia đình với các em: Phản ánh sự hỗ trợ củacác thành viên trong gia đình trong quá trình học tập của trẻ Sự hỗ trợ này thể

Trang 20

hiện ở mua sách vở học tập cho trẻ, dành thời gian vui chơi dạy bảo trẻ Sự hỗtrợ này thấp chứng tỏ các em được ít tiếp cận với giáo dục hơn.

- Tỷ lệ lao động trẻ em bao gồm các tỷ lệ về lao động trẻ em, số lao động trẻ

em đang đi học, tỷ lệ học sinh tham gia lao động, các tỷ lệ này phản ánh chấtlượng học tập của mỗi học sinh do ảnh hưởng của lao động, phản ánh thiếuthốn vật chất khiến trẻ em phải đi làm mà đang trong độ tuổi lao động

4.2 Phương pháp đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo

Để đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục, chúng ta có thể sử dụng một sốphương pháp sau :

4.2.1 So sánh trực tiếp giữa nhóm nghèo và nhóm không nghèo

Trong mỗi chỉ tiêu đã trình bày ở phần trên chia ra làm 5 nhóm nghèonhất, gần nghèo nhất, trung bình, gần giàu nhất, giàu nhất Số liệu này baogồm từ 1 đến 2 hoặc 3 năm Với phương pháp so sánh trực tiếp có thể: sosánh chuỗi có nghĩa là về xu hướng biến động của số liệu về nhóm nghèo nhấtqua các năm, so sánh nhóm nghèo nhất với tỷ lệ chung của cả nước, so sánhnhóm giàu và nhóm nghèo tìm ra khoảng cách chênh lệch giữa hai nhóm này,

từ đó rút ra các nhận xét

4.2.2 Phương pháp đường cong Lorenz

Đánh giá mức độ công bằng trong khả năng tiếp cận giáo dục giữa nhómtrẻ em nghèo và không nghèo Đường cong này biểu diễn tỷ lệ % tích lũy củabiến giáo dục trên trục tung (y) và tỷ lệ tích lũy của nhóm dân số tương ứngtrên trục hoành (x), được sắp xếp theo nhóm thu nhập, bắt đầu từ nhóm nghèonhất cho tới nhóm giàu nhất trong dân số Ví dụ như đường cong Loren có thểchỉ ra tỷ lệ % tích lũy của nhóm trẻ nghèo nhất đi học mẫu giáo đúng độ tuổitương ứng với tỷ lệ % tích lũy nhóm nghèo nhất từ 3-6 tuổi Nếu tất cả trẻ em,không phân biệt mức thu nhập , có tỷ lệ % tích lũy đi học mẫu giáo bằng nhau

ở tất cả các nhóm thì sẽ hình thành nên một đường thẳng 450, chia đôi trục

Trang 21

hoành thành hai đường bằng nhau, gọi là đường công bằng Còn nếu tỷ lệ %tích lũy của biến giáo dục có giá trị thấp hơn ( cao hơn ) trong số những ngườinghèo thì đường cong sẽ nằm ở dưới đường công bằng, thể hiện tình trạngkhó ( dễ ) tiếp cận với giáo dục hơn đối với người nghèo Đường cong nằmcàng xa đường công bằng bao nhiêu, càng thể hiện nhóm người nghèo khótiếp cận hơn với giáo dục bấy nhiêu

4.2.3 Chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục của nhóm nghèo và không nghèo ( EAAI)

Chỉ số này được xây dựng dựa trên nguyên tắc chuyển các tỷ lệ thành chỉ sốrồi tổng hợp thành một chỉ số duy nhất theo các trọng số thể hiện mức độquan trọng của từng tỷ lệ

Các tỷ lệ được chuyển thành chỉ số theo công thức sau :

Tmax - Tth

I=

Tmax - Tmin

Trong đó: I là chỉ số, T là tỷ lệ với Tmax là mức cực đại của các tỷ lệ ( 100%);

Tmin là mức cực tiểu của các tỷ lệ ( 0 %) , Tth là mức thực tế của các tỷ lệ Giátrị của các chỉ số I dao động trong khoảng từ 0 - 1 Tùy thuộc vào loại chỉ số

mà giá trị của chỉ số có ý nghĩa khác nhau Đối với chỉ số nhập học, giá trị chỉ

số càng gần 0 càng cho thấy khả năng tiếp cận giáo dục càng dễ dàng , tuynhiên với chỉ số bỏ học thì với giá trị càng gần 1 thì mới phản ánh khả năngtiếp cận giáo dục hiệu quả hơn Và vì vậy , đối với chỉ số tổng hợp, giá trị của

nó càng lớn , càng gần 1 bao nhiêu phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục càng

dễ dàng và hiệu quả bấy nhiêu Riêng chỉ số nhập học giáo dục mầm nonđược tổng hợp từ hai chỉ số nhập học nhà trẻ và mẫu giáo theo trọng số thểhiện vai trò quan trọng của giáo dục tiền học đường ( 4 - 5 ) với trẻ em :

Trang 22

IdNT + 3IdMG

Id = 4

Sau khi có đầy đủ các chỉ số tổng hợp, chúng ta tiến hành tính chỉ số đánhgiá khả năng tiếp cận giáo dục EAAI theo công thức bảng dưới, trong đó cáctrọng số Ci được xác định với giả thiết rằng giáo dục mầm non và giáo dụctiểu học là các dịch vụ xã hội cơ bản và đóng vai trò quan trọng hơn giáo dụccấp phổ thông

Bảng 1.2: Hệ thống chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục

học (d)

Chỉ số bỏ học( b)

Chỉ số tổng hợp = chỉ

số bỏ học - chỉ số nhậphọc

Nguồn: nghiên cứu tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ

em nghèo Hà Nội - Trần Xuân Cầu

Trang 23

Chỉ số đánh giá tổng hợp EAAI phần lớn có giá trị từ 0 - 1, với khoảng0.0 đến dưới 0.3 biểu thị khả năng tiếp cận giáo dục rất kém, khoảng từ 0.5đến dưới 0.7 biểu thị khả năng giáo dục trung bình, khoảng từ 0.7 đến dưới0.9 biểu thị khả năng tiếp cận giáo dục khá, khoảng từ 0.9 đến 1 biểu thị khẳnăng tiếp cận giáo dục tốt Nếu chỉ số có giá trị âm, chỉ số nhập học còn lớnhơn chỉ số bỏ học, chứng tỏ khả năng tiếp cận giáo dục quá kém.

Bảng 1.3: Trọng số các thành tố phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục

Nguồn: nghiên cứu tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em

nghèo Hà Nội - Trần Xuân Cầu

5 Kinh nghiệm của thế giới về tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo

Trên thế giới hiện nay còn khoảng hơn 2 tỷ người sống trong nghèo khổ,

vì thế mà lượng trẻ em nghèo còn rất nhiều Vấn đề tiếp cận giáo dục của trẻ

em nghèo là một chủ đề được chính phủ nhiều nước trên thế giới quan tâm thểhiện bằng nhiều chương trình chính sách cụ thể Dưới đây là kinh nghiệm củamột số nước và những bài học bổ ích cho Việt Nam Các chương trình của họ

đã được thực hiện rất thành công, có chương trình chỉ tập trung vào đối tượngtrẻ em nghèo như Mêhicô, Brazil Cũng có chương trình không tập trung hẳnvào đối tượng trẻ em nghèo nhưng có tác động sâu sắc tới đối tượng này vì cónhiều vấn đề liên quan đến giáo dục không chỉ liên quan đến trẻ em nghèo đó

là các chương trình của Hàn Quốc…

5.1 Kinh nghiệm của các nước

Trang 24

5.1.1 Kinh nghiệm của Mêhicô

Vào năm 1995 khi tổng thống mới của Mêhicô lên cầm quyền, 1% dân sốMêhicô không có khả năng chi trả cho nhu cầu dinh dưỡng của mình, hơn 1,5triệu trẻ em thất học, tình trạng học sinh bỏ tiết, trốn học ở các vùng nghèo, xaxôi cao gấp 3 lần so với các nơi khác trong nước Các chương trình xóa đóigiảm nghèo trước đây rất ít tác dụng Chính quyền mới đã quyết định cần phải

có một cách tiếp cận mới đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo Chương trìnhgiáo dục, y tế, dinh dưỡng của Mêhicô còn gọi là Progresa, đã ban hành một

hệ thống trợ cấp tiền mặt có điều kiện cho các gia đình nghèo - nếu con họđến trường Chương trình này nhằm giải quyết hàng loạt các nhược điểm củacác chương trình trước đây Thứ nhất nó chống lại xu hướng trong các giađình nghèo thiên về tiêu dùng hiện tại bằng cách thúc đẩy cho đầu tư vào vốncon người Thứ hai chương trình này đã nhận thức được quan hệ lẫn nhaugiữa giáo dục, y tế và dinh dưỡng Thứ ba, để dàn rộng nguồn lực có hạn củamình, chương trình này đã gắn việc trợ cấp tiền mặt với hành vi của hộ giađình nhằm mục đích thay đổi thái độ của họ Theo chương trình này trẻ emtrên 7 tuổi được nhận quyền trợ cấp giáo dục Lợi ích sẽ tăng theo cấp học vàcao hơn cho các em gái ở trường cấp 2 để khuyến khích các em đi học Đểtiếp tục được hưởng lợi ích này, trẻ em cần duy trì 85% hồ sơ theo học vàkhông lưu ban quá một lần

Tiền trợ cấp được trao cho người mẹ, vì họ được coi là chịu trách nhiệmchăm sóc con cái Chương trình này đã ấn định mức trợ cấp hàng tháng vớimức cao nhất là 75 USD một hộ gia đình Chẳng hạn, năm 1999 mức trợ cấptrung bình cho một hộ gia đình hàng tháng là 24 USD gần bằng 20% tiêudùng trung bình của hộ gia đình trước khi có chương trình Với tính tập trungcao, chương trình chỉ có cầu nối duy nhất giữa cán bộ chương trình và ngườihưởng thụ Đến cuối năm 1999 chương trình đã phục vụ được khoảng 2,6

Trang 25

triệu gia đình nông thôn và 1/9 số hộ gia đình ở Mehico Ngân sách chochương trình này là 780 triệu USD và 20% ngân sách xóa nghèo liên bang.Đặc biệt gần 60% các khoản trợ cấp của chương trình được tài trợ cho nhóm20% dân số nghèo nhất và hơn 80% ngân sách 40% dân số nghèo nhất.

Kết quả của chương trình này được đánh giá rất cao Tỷ lệ nhập học củacác em gái đã tăng từ 67% lên gần 75% và của các em trai tăng từ 73% lên78% Chương trình đã có tác dụng chủ yếu là giữ được học sinh ở trường, chứkhông khuyến khích những học sinh bỏ học quay lại lớp

Như vậy có thể thấy chương trình trợ cấp bằng tiền có điều kiện có thể làmột cách hữu hiệu để thúc đẩy các kết quả về giáo dục cho người nghèo.Thành công của chương trình Progresa đã dẫn đến sự ra đời của nhiều chươngtrình tương tự ở các nước châu Mỹ La Tinh khác như Côlômbia, Jamaica…

5.1.2 Kinh nghiệm của Brazil

Ở Brazil tình trạng lao động trẻ em là một vấn đề bức xúc nhất là ở vùngnông thôn Nhận thức được nguyên nhân của lao động trẻ em là do nghèo đói

và tình trạng này cũng ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục, năm 1996chính phủ Brazil đã đưa ra chương trình ''Xóa bỏ lao động trẻ em''( PETI ).Chương trình này được khởi xướng tại các vùng nông thôn với mục tiêu tăngthành tích giáo dục giảm nghèo và xóa bỏ ''các hình thức tồi tệ nhất'' của laođộng trẻ em

Chương trình cung cấp khoản tiền bồi dưỡng với mức xấp xỉ 25 Ringitmột tháng cho các gia đình nghèo có trẻ em trong độ tuổi từ 7 đến 14 và đangphải lao động; tiền được trao cho mẹ của những đứa trẻ là đối tượng hưởngthụ của chương trình Để đủ tiêu chuẩn nhận tiền tất cả trẻ em trong độ tuổi đihọc trong gia đình phải đi học, tham gia vào các hoạt động sau giờ lên lớp vàphải nhất trí không làm việc Các hoạt động sau giờ lên lớp là một cách thức

để đảm bảo rằng trẻ em không kết hợp đi học với việc đi làm Chương trình

Trang 26

mục tiêu này được hỗ trợ bởi các công đoàn lao động nông thôn Các tổ chứcnày giúp lựa chọn những trẻ em được tham gia vào chương trình, đồng thờigiúp giám sát tác động của chương trình Cho đến năm 1999, chương trình đãvươn tới 166 thành phố tại 8 bang với tổng số trẻ em được hưởng thụ là131.000.

Chương trình đã được thiết lập trên toàn quốc vào năm 2000 Các nghiêncứu được tiến hành trong suốt giai đoạn mở rộng của chương trình, đã chothấy sự thuyên giảm mạnh mẽ trong tỷ lệ bỏ học cũng như sự gia tăng trongmức nhập học vào các trường tiểu học Hơn nữa sự tham gia của trẻ em trong

độ tuổi từ 10 đến 14 vào lực lượng lao động trẻ em đã giảm 36% tại Brazil.Chương trình đã đạt được thành công trong việc tăng cường khả năng tiếpcận giáo dục cho đối tượng trẻ em khó khăn nhất đó là trẻ em nghèo tham gialao động, chính là tạo cơ hội tiếp cận giáo dục đồng đều cho mọi trẻ em

5.1.3 Kinh nghiệm của các nước khác

- Tại Trung Quốc ngày càng có nhiều sự quan tâm được dành cho việc trợgiúp các nhóm thiệt thòi nhất Có kế hoạch tăng mức đầu tư tiền bạc cho khuvực phía tây và các khu vực dân tộc thiểu số, sử dụng ngôn ngữ địa phương,tuyển dụng giáo viên địa phương và các chương trình GD tốt hơn dành chocha mẹ học sinh

- Tại nước Mỹ, GD rất được coi trọng trong các chương trình nghị sựchính trị Năm 2002, chính phủ liên bang đã phát động một kế hoạch 12 nămvới tên gọi '' không để đứa trẻ nào bị tụt hậu'' Cho tới năm 2013 - 2014 tất cảtrẻ em đều sẽ thành thạo việc đọc ngữ văn, làm toán và các môn khoa học.Điều này có nghĩa thành tích học tập thấp của những đứa trẻ là con em củacác gia đình có nhóm thu nhập thấp, các nhóm thiểu số và trẻ em khuyết tậtphải được loại bỏ trước năm 2014

Trang 27

Để thực hiện điều này các tiểu bang phải áp dụng chương trình: ''các tiêuchuẩn về thành tích học tập'' trước năm 2006 Đối với các năm 2002 - 2008,đạo luật có giới hạn thời gian gồm 40 quy định, trong đó có quy định về kinhphí bổ sung cấp cho các trường học có nhiều học sinh nghèo, một hệ thốnggiám sát trên mạng sẽ chỉ ra bang nào không thực hiện, bang nào thực hiện vàcho phép các tiểu bang học hỏi lẫn nhau.

- Còn dưới đây là kinh nghiệm của Hàn Quốc, không có một chương trình

cụ thể nào và cùng không tập trung vào trẻ em nghèo nhưng chính sách giáodục của họ đã tạo ra một đất nước với tài sản lớn nhất là dân số biết chữ vàcần cù Học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc để thấy được tại sao họ lại có mộtnền giáo dục tốt như vậy, rút ra kinh nghiệm nâng cao sự tiếp cận giáo dụccho mọi trẻ em nói chung và trẻ em nghèo nói riêng

Ngay từ đầu những năm 1950, Hàn Quốc đã xác định xây dựng một ngànhgiáo dục mạnh là một phần nằm trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.Nhiều viện, trường năng động ngay lập tức đã triển khai những chính sách mởrộng giáo dục

Hàn Quốc tập trung vào quyền tiếp cận và chất lượng cho tất cả bằngkhát vọng mọi người dân đều được tiếp cận với giáo dục để xây dựng một lựclượng lao động có trình độ tay nghề cao

Các bậc phụ huynh đã đóng góp vào chi phí mở rộng giáo dục vì nhữnggiá trị cao họ tin tưởng vào chất lượng giáo dục

Giáo viên được đào tạo dài hơn, nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường

V ới định hướng tốt về giáo dục và thực hiện với một quyết tâm cao ngànhgiáo dục Hàn Quốc nhanh chóng đạt được những kết quả to lớn Sự tiếp cậnvới giáo dục tiểu học và trung học ở Hàn Quốc dễ dàng và công bằng Tổng

số nhập học ở cấp trung học đạt tới 90% cả nam và nữ Học sinh Hàn Quốcnằm trong tốp giỏi nhất của thế giới

Trang 28

Với tỷ lệ nhập học ở các cấp cao như vậy cho thấy ở Hàn Quốc trẻ emđược tiếp cận giáo dục khá tốt, định hướng giáo dục đúng đắn và thực hiệnhiệu quả đã tạo nên thành công của nước này Kinh nghiệm này của HànQuốc tuy không tập trung hẳn vào đối tượng trẻ em nghèo nhưng có tác dụngtích cực với đối tượng này Chính sách giáo dục cho trẻ em nghèo cũng phảinằm trong tổng thể các chính sách dành cho giáo dục, vì thế mà khi chínhsách tổng thể đạt kết quả tốt chắc chắn tác động và là bài học cho chính sáchcủa những nhóm đối tượng cụ thể, trong đó có trẻ em nghèo.

5.2 Bài học với Việt Nam

Chương trình của các nước được trình bày đã được thực hiện và rất thànhcông, để lại cho chúng ta rất nhiều bài học:

Thứ nhất, các chương trình của các quốc gia trên được đưa ra với các mụctiêu cụ thể, với từng nhóm đồi tượng và được thực hiện với một quyết tâm caothể hiện ngay từ tên gọi của các chương trình đó Như chương trình '' không

để đứa trẻ nào tụt hậu'' của Mỹ, chương trình '' xóa bỏ lao động trẻ em'' củaBrazil Đó cũng là xu hướng chung càng ngày các chính phủ càng đưa ranhững mục đích và mục tiêu giáo dục với giới hạn thời gian trong phạm vicác kế hoạch và các chương trình cụ thể

Thứ hai, các cam kết đưa ra có tính khả thi cao, việc thực hiện được điềuhành và giám sát chặt chẽ Các mục tiêu giáo dục tập trung vào cải thiện chấtlượng và số lượng tiếp cận của trẻ em nghèo Hai khía cạnh này được tách ra.Như với Mêhicô chương trình Progresa hỗ trợ tài chính để cho trẻ em nghèođến trường nhiều hơn, Brazil thì tập trung vào lao động trẻ em, các chươngtrình này nhằm tăng số lượng trẻ đi học Với chương trình của Mỹ và TrungQuốc thiên về tăng cường chất lượng học tập cho trẻ em nghèo với nhữngbiện pháp cụ thể riêng Đặc biệt ở Mỹ còn có sự giám sát, học hỏi giữa cácbang, một chương trình có thể được áp dụng ở nhiều khu vực, trong mỗi khu

Trang 29

vực sẽ có cách áp dụng riêng theo định hướng đặt ra từ cấp trung ương, sựđánh giá chéo nhau này khiến cho chất lượng các chương trình nâng cao, cónhiều bài học được rút ra để các chương trình sau hoạt động hiệu quả.

Thứ ba là bài học rút ra từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, chính sách giáodục dành cho trẻ em nghèo nằm trong hệ thống chính sách giáo dục chung,tuy không có nhiều nguồn lực dành cho giáo dục nhưng Hàn Quốc đã huyđộng được sự ủng họ của người dân cả về vật chất và tinh thần, người dânhiểu được tầm quan trọng của giáo dục nên đầu tư cho con em họ đi học vàđóng góp nguồn lực cho nhà nước Liên hệ với vấn đề tiếp cận giáo dục chotrẻ em nghèo ta thấy rằng điều quan trọng nhất là làm cho các gia đình hiểuđược tầm quan trọng của giáo dục để tạo điều kiện cho con em đi học, tạođược quyết tâm cao với tất cả mọi người

CHƯƠNG 2

Trang 30

THỰC TRẠNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM

NGHÈO VIỆT NAM

1 Bức tranh chung về trẻ em nghèo Việt Nam

Để có một cái nhìn chính xác, toàn diện về trẻ em nghèo đầu tiên chúng

ta cùng xem xét vấn đề nghèo đói chung của Việt Nam

Việt Nam đã đạt được những thành tựu khá ấn tượng trong công cuộc xóađói giảm nghèo, đã được thế giới và bạn bè đánh giá cao Cùng với sự tăngtrưởng kinh tế chung của đất nước, thu nhập của dân cư đã tăng rõ rệt trongnhững năm gần đây Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người năm

2000 tính bằng USD theo phương pháp tỷ giá hối đoái thực tế khoảng 400USD, năm 2006 là 725USD, năm 2008 là 1028 USD Tăng trưởng kinh tế đicùng với kết quả xóa đói giảm nghèo Chính phủ đã có chiến lược toàn diện

về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, các chính sách về giáo dục, y tế, chămsóc sức khỏe cho người nghèo Các ngành địa phương triển khai các biệnpháp xóa đói giảm nghèo như: tạo điều kiện về vốn qua hình thức tín dụngcho hộ nghèo có nhu cầu vay Đối với vùng đặc biệt khó khăn, nhà nước xâydựng kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và cải thiện đời sống nhândân

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia đã giảm mạnh, giai đoạn trước năm

1990 tỷ lệ nghèo chung của cả nước là 70%, năm 1993 là 58,1%, năm 1998

là 37,4%, năm 2007 là 14,7% đến năm 2008 là 13,5% những con số trên đãphản ánh sự chuyển biến sâu sắc trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo

Tuy nhiên tốc độ giảm nghèo trong những năm gần đây có xu hướnggiảm, năm 2008 giảm 1,2% so với năm 2007 trong khi từ năm 1993 đến năm

1998 giảm 20,7% mỗi năm giảm trung bình hơn 3%

Trang 31

Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn và đặc biệt ở khu vực miền núi vẫncòn cao, gấp từ 1,7 đến 2 lần tỷ lệ nghèo bình quân của cả nước Nếu như tỷ

lệ hộ nghèo của vùng Đông Nam Bộ là 6,1%, tỷ lệ nghèo của vùng đồngbằng sông Hồng là 12,9% thì vùng Tây Bắc vẫn còn tới 46,1% tức còn gầnmột nửa, vùng Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên tuy giảm nhanh nhưng vẫn còngần 1/3, vùng Đông Bắc vẫn còn 23,2%, vùng duyên hải Nam Trung Bộ21,3%, ngay cả vùng đồng bằng sông Cửu Long một vựa lúa của cả nước vẫncòn 15,3% người nghèo ( Số liệu tổng cục thống kê 2004)

Hộ nghèo tập trung nhiều ở các vùng trên là do đó là những vùng khókhăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạtầng kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh mún Ngoài ra còn một

số đối tượng nghèo mới ở những vùng đang đô thị hóa và nhóm lao độngnhập cư vào đô thị, họ thường phải gặp nhiều khó khăn hơn và phải chấpnhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại

Bảng 2.1 : Chuyển biến của tỷ lệ nghèo và hệ số Gini Việt Nam 1993 - 2006

- Chênh lệch giàu nghèo của nước ta hiện nay là 34,4 lần

- 10% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập và chi tiêu quốc gia

- 10% dân số giàu nhất chiếm 28,8% thu nhập và chi tiêu quốc gia

- 20% dân số nghèo nhất chiếm 9% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia

- 20% dân số giàu nhất chiếm 44,3% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia

Trang 32

Đó là các số liệu để cho chúng ta nhìn rõ hơn về bức tranh nghèo đói của

Việt Nam hiện nay, nhưng nhìn vào đó phải hiểu được là: nghèo không chỉ

đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, như giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế nhà nước được cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin

và lòng tự trọng Vì thế mà khi các chính sách hướng về người nghèo không chỉ cải thiện những thiếu thốn về vật chất mà còn về tinh thần và tình cảm chohọ

Có thể nói những người nghèo, những hộ thu nhập thấp, những người phảichạy ăn từng bữa trên thực tế chỉ được hưởng thụ rất ít các kết quả tăng

trưởng khi mà họ gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra

Mà khi gia đình rơi vào cảnh nghèo đói thì trẻ em là những người luôn gánh chịu những ảnh hưởng nhiều nhất Trong khi tỷ lệ nghèo chung năm 2008 là 13,5% thì mức nghèo tiền tệ của trẻ em là 23% và nghèo đa chiều 31%

( nghèo đa chiều xét trên 7 lĩnh vực như phần trên đã nêu )

Những con số đáng lưu ý trong chương trình đánh giá giữa kỳ chươngtrình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo và chương trình 135 II

Có 1/3 trẻ em dưới 5 tuổi suy sinh dưỡng thể còi

1/3 vào thời điểm 5 tuổi chưa được tiêm phòng đầy đủ

1/2 số trẻ không được tiếp cận công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn

2/3 không có tranh truyện hoặc sách cho trẻ em

Trang 33

Trẻ em nghèo thì càng lên bậc học cao hơn thì tiếp cận giáo dục càngkém Nếu như ở bậc tiểu học số trẻ em đến trường của nhóm nghèo và nhómkhông nghèo không chênh lệch nhiều, thì lên bậc trung học cơ sở và trung họcphổ thông thì sự chênh lệch càng rõ, về vấn đề y tế trẻ em nghèo bị ốm nhiềuhơn so với trẻ em không thuộc hộ nghèo ( 12,4% so với 11,7% ) điều này chothấy trẻ em trong các hộ không nghèo được chăm sóc tốt hơn.

Nghiên cứu về trẻ em nghèo trên còn cho thấy sự chênh lệch giữa thànhthị và nông thôn, giữa vùng địa lý đồng bằng và miền núi Tỷ lệ nghèo ở nôngthôn là 40%, ở thành thị là 10%, theo vùng địa lý CPR cao nhất ở miền núiphía bắc 64 - 78%, đồng bằng sông Cửu Long 56 - 60%, CPR ở trẻ em dântộc thiểu số 65% cao hơn so với trẻ em dân tộc kinh hoa ( 25%) Trong số trẻ

em từ 3 đến 6 tuổi có 14,2% không đi học mẫu giáo tập trung chủ yếu vào trẻ

em thuộc các hộ dân tộc thiểu số và các vùng nông thôn 75,18% tỷ lệ trẻ emthuộc hộ thiểu số sống bằng nhà tranh vách đất Trẻ em thuộc hộ dân tộc thiểu

số không có nhà vệ sinh cao hơn 2 lần so với trẻ em sống trong các hộ ngườikinh ( 74,1% và 5,8%)

Các tỷ lệ phản ánh chênh lệch mức sống cao của hai nhóm giàu và nghèo,ngoài ra còn cả quy mô, các gia đình nghèo thường đông con, khoảng gần50% số trẻ em sống trong các hộ nghèo và cận nghèo, trong khi đó chỉ cókhoảng 15% trẻ em thuộc nhóm giàu nhất

Trên đây là những con số còn những thực trạng sự việc thực tế về trẻ emnghèo nghèo hiện nay thế nào nhất là trong lĩnh vực giáo dục Một tình trạngnhức nhối đang được quan tâm là hiện tượng học sinh bỏ học hàng loạt Theo

số liệu báo chí công bố năm học 2003 - 2004 số học sinh bỏ học, năm học

2005 - 2006 có hơn 600000 em, còn theo báo cáo giám sát toàn cầu giáo dụccho mọi người 2008 thì Việt Nam có khoảng 1 triệu học sinh bỏ học Số họcsinh bỏ học tăng cao trong 2 năm lạm phát chứng tỏ các hộ gia đình nhất là

Trang 34

gia đình nghèo bị ảnh hưởng bởi lạm phát, họ không có đủ tiền cho con đihọc Những học sinh bỏ học này đóng góp vào lực lượng lao động

2 Thực trạng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo Việt Nam

Dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình 2002, 2004 và 2006, khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em nghèo ở Việt Nam được đánh giá thông qua

sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp giữa nhóm trẻ em nghèo và không nghèo, được chia theo các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông Phân tích các chỉ tiêu: Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi, mức chi tiêu cho giáo dục, tỷ lệ người đi học thêm trong 12 tháng 2006, tỷ lệ hỗ trợcủa gia đình, tỷ lệ lao động trẻ em Các nhóm nghèo nhất, gần nghèo nhất, trung bình, gần giàu nhất tương ứng với nhóm I, II, III, IV, V

Từ năm 2002 đến 2006 tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi nhà trẻ tăng với tốc

độ chậm, giai đoạn 2002 - 2004 tăng 3,58%, giai đoạn 2004 - 2006 tăng 5,33%

So với tỷ lệ chung của cả nước nhóm nghèo nhất thấp hơn trung bình

5,24%, khoảng cách chênh lệch có giảm qua các năm nhưng chưa cao

Khoảng cách chênh lêch giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất cũng cao, năm 2002 tỷ lệ chênh lệch là 2,5 lần, đến năm 2006 là 1,77 lần tuy có giảm nhưng vẫn cao

Bảng 2.2 : Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi nhà trẻ Đơn vị : %

Trang 35

Nguồn điều tra mức sống hộ gia đình 2002, 2004, 2006

Tỷ lệ nhập học của nhóm nghèo nhất tăng qua các năm từ 2002 đến 2006 nhưng mức tăng chưa cao, giai đoạn 2002 - 2004 tăng 1,02%, giai đoạn 2002

- 2006 tăng 2%

So với tỷ lệ nhập học chung của cả nước chênh lệch khá lớn năm 2006 mức chênh lệch là 21,4%, năm 2004 mức chênh lệch là 16,5%

Trang 36

Sự chênh lệch lớn cũng xảy ra ở nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất năm 2002 là 2,24 lần, năm 2004 là 2,27 lần đến năm 2006 là 2,26 lần Tỷ lệ chênh lệch vẫn chưa có xu hướng giảm.

 Tiểu học : Đây là bậc có tỷ lệ đi học cao nhất và đồng đều giữa các nhóm.Tiểu học

Bảng 2.4 : Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi tiểu học

Nguồn: điều tra mức sống hộ gia đình 2002, 2004, 2006

Ở bậc tiểu học không có sự chênh lệch nhiều giữa tiếp cận giáo dục củanhóm trẻ em nghèo và các nhóm khác Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi nhómnghèo nhất 2006 là 94,1% so với tổng cả nước là 95,4% so với nhóm giàunhất là 96,8% Sự chênh lệch 2% của nhóm giàu nhất với nghèo nhất thấyrằng tuy ở cấp tiểu học có sự tiếp cận cao về giáo dục của trẻ em nghèo nhưngvẫn thấp hơn so với nhóm giàu Sự chênh lệch giữa dân tộc thiểu số và dântộc kinh giảm mạnh qua các năm 2002 đến 2006, khoảng cách chênh lệchtrong tỷ lệ nhập học giữa nông thôn và thành thị cũng được thu hẹp lại

 Trung học cơ sở và trung học phổ thông: Ở hai cấp này tỷ lệ nhập họccủa các nhóm nói chung và của nhóm nghèo nhất giảm đáng kể so với cấptiểu học

Trang 37

Bảng 2.5: Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi trung học cơ sỏ, trung học phổthông ( THCS, THPT )

Nhóm nghèo nhất, tỷ lệ nhập học có xu hướng tăng chậm, giai đoạn 2002 -

2004 tằng 9,16%, giai đoạn tăng 2,44%, so với tỷ lệ nhập học chung của cả nước mức chênh lệch lớn năm 2006 là 26,6%

Tỷ lệ chênh lệch giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất chênh lệch lớn năm 2006 là 2,47 lần

Có thể thấy quy luật là '' càng lên bậc học cao thì tỷ lệ đi học đúng độ tuổi

Ngày đăng: 16/04/2013, 22:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 : Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi trẻ em các cấp     Cấp học Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 1.1 Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi trẻ em các cấp Cấp học Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi (Trang 19)
Bảng 1.3: Trọng  số các thành tố phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục Các thành tố Trọng số ( C i  ) Các thành tố Trọng số C i - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 1.3 Trọng số các thành tố phản ánh khả năng tiếp cận giáo dục Các thành tố Trọng số ( C i ) Các thành tố Trọng số C i (Trang 23)
Bảng 2.4 : Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi tiểu học - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 2.4 Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi tiểu học (Trang 36)
Bảng 2.5: Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi trung học cơ sỏ, trung học phổ thông ( THCS, THPT ) - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 2.5 Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi trung học cơ sỏ, trung học phổ thông ( THCS, THPT ) (Trang 37)
Bảng dưới đõy cho thấy rừ sự chờnh lệnh trong tỷ lệ đi học đỳng độ tuổi  của nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất. - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng d ưới đõy cho thấy rừ sự chờnh lệnh trong tỷ lệ đi học đỳng độ tuổi của nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất (Trang 38)
Bảng 2.7 : Chi cho giáo dục theo các khoản mục - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 2.7 Chi cho giáo dục theo các khoản mục (Trang 39)
Bảng dưới đây phản ánh chi giáo dục của các nhóm theo cấp học. Bảng số  liệu cho thấy mức chi cho giáo dục của nhóm nghèo nhất tăng qua các năm và theo các cấp học cao hơn. - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng d ưới đây phản ánh chi giáo dục của các nhóm theo cấp học. Bảng số liệu cho thấy mức chi cho giáo dục của nhóm nghèo nhất tăng qua các năm và theo các cấp học cao hơn (Trang 40)
Bảng 2.11: Tỷ lệ người đi học thêm trong 12 tháng 2006                                                                                 Đơn vị : % - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 2.11 Tỷ lệ người đi học thêm trong 12 tháng 2006 Đơn vị : % (Trang 42)
Bảng 2.13 : Tỷ lệ lao động trẻ em - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 2.13 Tỷ lệ lao động trẻ em (Trang 43)
Bảng 2.15: Học lực của học sinh PTTH 2005 – 2006 - Cải thiện  khả năng tiếp cận giáo dục cho  trẻ em nghèo Việt Nam
Bảng 2.15 Học lực của học sinh PTTH 2005 – 2006 (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w