Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường trong nước ngày càng sâu rộng. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài trong đó có các tập đoàn đa quốc gia, đầu tư vào Việt Nam bằng cách mua lại các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước cũng có xu hướng cấu trúc lại bằng cách mua lại, sáp nhập với các doanh nghiệp khác để mở rộng quy mô hoạt động; tìm kiếm, mở rộng thị trường; nâng cao khả năng cạnh tranh.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Quản lý tập trung kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng
cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Thị Thu
Lớp: Kinh Tế Phát Triển 47B
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Trang 22- Các nguyên tắc chi phối sự tác động của chính phủ trong quản lý tập trung kinh tế 25_ CHƯƠNG II- KINH NGHIỆM QUẢN LÝ TẬP TRUNG KINH TẾ
TRÊN THẾ GIỚI 29 I- Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 29 1- Tổng quan về TTKT ở Hoa Kỳ _29 2- Quản lý TTKT ở Hoa Kỳ 37 II- Kinh nghiệm của Nhật Bản 43 1- Tổng quan về TTKT ở Nhật Bản 43 2- Quản lý TTKT ở Nhật Bản _45 III- Kinh nghiệm của Đài Loan 52 1- Tổng quan về TTKT ở Đài Loan 52 2- Quản lý TTKT ở Đài Loan _55
Trang 3IV- Bài học kinh nghiệm rút ra 58 1- Về cơ quan quản lý TTKT _58 CHƯƠNG 3- THỰC TRẠNG TTKT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TTKT
Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA _61 I- Thực trạng TTKT ở Việt Nam 61 1- Giai đoạn 1 (1986- 1990): Giai đoạn tập trung cao với các tổng công ty nhà nước giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế 61
2- Giai đoạn 2 (Từ năm 2005 đến nay): xu hướng tăng TTKT với các hình thức mua- bán sáp nhập doanh nghiệp là chủ yếu. 61 II- Quản lý TTKT ở Việt Nam 69 1- Cơ quan quản lý TTKT ở Việt Nam _69 2- Cơ sở pháp lý quản lý TTKT ở Việt Nam _72 3- Công tác quản lý TTKT ở Việt Nam 75 III- Những thành tựu và hạn chế trong quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam thời gian qua 79
1- Thành tựu 79 2- Hạn chế trong công tác quản lý TTKT _82 3- Nguyên nhân của những hạn chế 82 CHƯƠNG 4- KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TTKT Ở VIỆT NAM _86 I- Xu hướng tập trung kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới 86 1- Gia tăng các vụ bán lại một phần doanh nghiệp nhằm mục tiêu tái cấu trúc doanh nghiệp và cắt giảm chi phí_86
2- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thông qua hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp sẽ ngày càng tăng lên_86
Trang 43- Xu hướng xuất hiện nhiều vụ tập trung kinh tế đến ngưỡng phải thông báo và ngưỡng bị cấm _86
4- Các hình thức thực hiện tập trung kinh tế sẽ ngày càng đa dạng hơn 87
5- Xu hướng TTKT tiếp tục tăng lên trong ngành phân phối, bán
lẻ 87
II- Kiến nghị tăng cường công tác quản lý TTKT ở Việt Nam thời gian tới 89 2- Về cơ chế pháp lý quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam 90
KẾT LUẬN _91
Tài liệu tham khảo
Trang 5Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ Hình 1.1- Đường cong Lorenz 15
Hình 1.3- Thông tin không đối xứng gây tổn thất phúc lợi xã hội 31
Hình2.1- TTKT có vốn đầu tư nước ngoài ở Nhật Bản _ 50
(giai đoạn 1983 – 2007) _ 50
Hình 3.1- Thống kê các vụ mua bán, sáp nhập được công bố tại Việt Nam
_ 68
Bảng 2.1- Số vụ thông báo sáp nhập tại Nhật Bản _ 50
Bảng 2.2 – TTKT- các hình thức TTKT _ 59
Bảng 2 3– TTKT- các hình thức TTKT _ 60
Bảng 3.1- 20 Ngành có mức độ TTKT cao nhất trong năm 2006 theo CR3
_ 69
Bảng 3.2- Các ngành có mức độ TTKT cao nhất theo HHI _ 70
Bảng 3.3- Các ngành có CR3 tăng nhiều nhất 72
Bảng 3.5- Thống kê các vụ sáp nhập của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo ngành 74
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
TTKT: Tập trung kinh tế
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
FTC: Uỷ ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ
JFTC: Uỷ ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản
KFTC: Uỷ ban Thương mại công bằng Hàn Quốc
TFTC: Uỷ ban Thương mại lành mạnh Đài Loan
TCTK: Tổng Cục Thống kê
Công ty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Sựthâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường trong nước ngàycàng sâu rộng Nhiều doanh nghiệp nước ngoài trong đó có các tập đoàn đaquốc gia, đầu tư vào Việt Nam bằng cách mua lại các doanh nghiệp trongnước Đồng thời, các doanh nghiệp trong nước cũng có xu hướng cấu trúc lạibằng cách mua lại, sáp nhập với các doanh nghiệp khác để mở rộng quy môhoạt động; tìm kiếm, mở rộng thị trường; nâng cao khả năng cạnh tranh
Đặc biệt chính sách tiền tệ thắt chặt của Chính phủ nhằm kiềm chếlạm phát đã làm cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn sản xuất kinhdoanh Vì vậy việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp được đặt ra như mộtphương án giúp các doanh nghiệp tìm kiếm những cơ hội phát triển mới, tăngquy mô hoạt động nhằm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Nhìn chung, TTKT ở Việt Nam đang được đặt ra như một giải phápchiến lược của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tê Tuynhiên, xu hướng này gia tăng sẽ hình thành các doanh nghiệp lớn có sức mạnhchi phối thị trường, ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh mà chính phủ ViệtNam đang nỗ lực cải thiện Quản lý TTKT đang được đặt ra như một nhiệm
vụ quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, việc nghiên cứu
đề tài “Quản lý tập trung kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị tăng
cường công tác quản lý tập trung kinh tế ở Việt Nam” là rất cần thiết
Với mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp để tăng cường
công tác quản lý TTKT ở Việt Nam trong thời gian tới, đề tài được kết cấu
gồm bốn chương như sau:
Trang 8Chương I- Cơ sở lý luận về TTKT Chương này nhằm xây dựng
khung lý thuyết chung về TTKT và công tác quản lý TTKT
Chương II- Kinh nghiệm quản lý TTKT trên thế giới Nội dung
của chương tập trung nghiên cứu quá trình TTKT và công tác quản lý TTKT
ở một số quốc gia trên thế giới đã có nhiều thành công trong quản lý TTKTnhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương III- Thực trạng TTKT và công tác quản lý TTKT ở Việt Nam thời gian qua Chương này nghiên cứu thực trạng TTKT, công tác quản
lý TTKT ở Việt Nam; phân tích những thành tựu cũng như những vấn đề còntồn tại và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại đó trong quản lý TTKT ở ViệtNam
Chương IV- Kiến nghị tăng cường công tác quản lý TTKT ở Việt Nam Chương này phân tích xu hướng TTKT ở Việt Nam trong thời gian tới
đồng thời đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế đã tìm ra ởchương III và những giải pháp cho yêu cầu đặt ra trong quản lý TTKT thờigian tới
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Hướng tới nội dung nghiên cứu trong các chương như trên, phạm vinghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, các hình thức, mức độ TTKT ở Việt Nam và một số quốc
gia trên thế giới
Thứ hai, khung pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến TTKT ở
Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới
Trang 9Thứ ba, các cơ quan có chức năng quản lý TTKT ở Việt Nam và một
số quốc gia trên thế giới
Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phân tích, kết hợp với phương pháp phân tích- tổng hợpthông tin trong các tài liệu thống kê, các báo cáo, nghiên cứu, phân tích hiện
có của Cục Quản lý cạnh tranh và các cơ quan khác có liên quan, thu thập tài liệu trên các sách, báo, tạp chí, internet
Trang 10CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ
I- Một số vấn đề cơ bản về tập trung kinh tế
1- Khái niệm và hình thức tập trung kinh tế
1.1- Khái niệm tập trung kinh tế
Khái niệm tập trung kinh tế được xem xét trên cơ sở nền kinh tế thị trường- nơi các chủ thể kinh tế tồn tại độc lập và có quyền tự chủ trong các quyết định sản xuất- kinh doanh của mình Khái niệm tập trung kinh tế được xem xét theo hai cách tiếp cận cơ bản như sau:
1.1.1- Dưới góc độ cấu trúc thị trường
Với tính chất là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất Cách nhìn nhận này đã làm rõ nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh Tuy nhiên, dường như quan điểm trên đã coi hiện tượng tích tụ tư bản là một phần của khái niệm tập trung kinh tế
1.1.2- Dưới góc độ là hành vi của các doanh nghiệp
Nhìn từ góc độ là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác Khái niệm này không đưa ra các biểu hiện cụ thể của tập trung kinh tế nhưng lại cho thấy bản chất
và phương thức của hiện tượng
Trang 11Như vậy, dù nhìn ở góc độ nào thì các nhà khoa học kinh tế cũng có sự thống nhất về bản chất của tập trung kinh tế gồm những nội dung sau:
Thứ nhất, TTKT có thể hiểu là quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, tái
cấu trúc thị trường nhờ vào: sự tăng trưởng nội sinh, sự rút khỏi thị trường của một số doanh nghiệp, hiện tượng gia nhập thị trường của một số doanh nghiệp; sự sáp nhập của một số doanh nghiệp (tăng trưởng ngoại sinh)
Thứ hai, chủ thể của tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động
trên thị trường Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan
Thứ ba, tập trung kinh tế đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế,
từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị
ba tiêu chí như sau:
1.2.1- Căn cứ vào cách thức TTKT trên thị trường
TTKT được chia thành bốn hình thức sau:
(i) Sáp nhập doanh nghiệp: Là việc một hoặc một số doanh nghiệp
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sápnhập
Trang 12(ii) Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh nghiệp
chuyển oàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mớ đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất
(iii) Mua lại doanh nghiệp: là việc một doanh nghiệp mua lại toàn bộ
hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn
bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại
(iv) Liên doanh giữa các doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh
nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới
1.2.2- Căn cứ vào mức độ liên kết trong hoạt động tập trung kinh tế
TTKT được chia thành 2 hình thức sau:
(i) Tập trung kinh tế chặt chẽ (tổ hợp): bao gồm các hành vi tập trung
kinh tế trong đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế khá chặt chẽ về quyền sở hữu, về tài sản Theo đó, các hành vi tập trung kinh
tế như: sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp có thể nói là những hình thức tập trung kinh tế khá chặt chẽ
(ii) Tập trung kinh tế không chặt chẽ: bao gồm các hành vi tập trung
kinh tế trong đó sự liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia tập trung không chặt chẽ về quyền sở hữu hay tài sản
Một hành vi tập trung kinh tế có thể coi là chặt chẽ hay không chặt chẽ còn phụ thuộc vào quy mô tài sản hay phạm vi quyền, lợi ích hợp pháp được chuyển nhượng trong khi thực hiện tập trung kinh tế
Như vậy, tập trung kinh tế chặt chẽ là hình thức tập trung phức tạp và
có thể gây hạn chế cạnh tranh hơn so với hành vi tập trung kinh tế không chặt chẽ
Trang 131.2.3- Căn cứ vào vị trí của các doanh nghiệp tham gia TTKT trong các cấp
độ kinh doanh của các ngành kinh tế
TTKT thường được phân chia thành 3 hình thức sau:
(i) Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua
lại hoặc liên doanh của các doanh nghiệp trong cùng một giai đoạn sản xuất trong một chuỗi giá trị và sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tương tự nhau hay có thể hiểu là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng một thị trường liên quan (bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan)
Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả
Và thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương
tự nhau và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận
(ii) Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại
hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp nằm trong các giai đoạn sản xuất khácnhau của cùng một chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nào đó hay còn gọi là các doanh nghiệp có quan hệ người mua- người bán (gồm quan hệ cung cấp- sản xuất hoặc sản xuất- bán lẻ)
(iii) Tập trung kinh tế dạng hỗn hợp (dạng tập đoàn-conglomerate): là sự
hợp nhất, sáp nhập, mua lại, liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường sản phẩm đồng thời cũng không có mối quan hệkhách hàng với nhau Mục tiêu của việc hợp nhất này thường là nhằm phân tán rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý do chiến lược thị trường của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
Như vậy, TTKT có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Vớimỗi góc độ tiếp cận, chúng ta có thể nhận dạng TTKT qua các hình thức
Trang 14TTKT khác nhau Tuy nhiên, để đánh giá một thị trường là tập trung cao hay thấp hoặc đánh giá một hành vi TTKT gây ra những tác động như thế nào tới tương quan cạnh tranh trên thị trường và cấu trúc thị trường đó, chúng ta cần
có hệ thống các tiêu chí đánh giá
2- Các phương pháp đo lường mức độ tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế là một hình thức tái cấu trúc doanh nghiệp đồng thời
tự nó làm thay đổi cấu trúc thị trường Cấu trúc thị trường quyết định tương quan cạnh tranh trên thị trường, ảnh hưởng tới các quyết định sản xuất- kinh doanh của các chủ thể kinh tế trên thị trường và đến một mức độ nào đó, các hành vi của các doanh nghiệp trên thị trường có thể không tuân theo các quy luật của nền kinh tế thi trường như: quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh Vì vậy, có thể coi mức độ tập trung kinh tế là một thước đo khá chính xác trong việc đánh giá mức độ cạnh tranh trên thị trường
Mức độ tập trung kinh tế phụ thuộc vào số lượng các doanh nghiệp và quy mô tương đối của các doanh nghiệp trên thị trường
Quy mô tương đối của một doanh nghiệp có thể được đo bằng thị phần của doanh nghiệp theo doanh thu, theo tài sản hoặc theo số lượng lao động
Có một số phương pháp đo mức độ tập trung kinh tế dựa vào thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan (gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan) như sau:
2.1- Đường cong Lorenz và hệ số Gini
Đường cong Lorenz phản ánh tỷ lệ phần trăm của tổng thị phần trên thị trường (100%) được phân phối tương ứng với tỷ lệ phần trăm cộng dồn của các nhóm doanh nghiệp trên thị trường Đường cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông với 2 cạnh là 2 trục của một hệ trục toạ độ Oxy Trục tung Oy biểu diễn phần trăm thị phần cộng dồn của các doanh nghiệp trên thị
Trang 15trường (từ 0- 100%), trục hoành Ox biểu diễn phần trăm số doanh nghiệp cộng dồn của các nhóm doanh nghiệp được sắp xếp theo thứ tự thị phần tăng dần (từ 0- 100%)
% Số doanh nghiệp cộng dồn 100%
Hình 1.1- Đường cong Lorenz
Tất cả các đường cong Lorenz đều xuất phát từ gốc O của hình vuông
và kết thúc ở điểm A đối diện (Như hình vẽ) Tại điểm O: 0% số doanh doanhnghiệp chiếm 0% thị phần trên thị trường Tại điểm A: 100% số doanh nghiêpchiếm 100% thị phần trên thị trường Đường phân giác OA là đường bình đẳng tuyệt đối Nghĩa là bao nhiêu phần trăm số doanh nghiệp chiếm bấy nhiêu phần trăm thị phần trên thị trường Khi đó, có thể nói mức độ tập trung thị trường là thấp nhất Còn nếu một doanh nghiệp nào đó chiếm 100% thị phần còn các doanh nghiệp khác không có một chút thị phần nào thì đường cong Lorenz biểu diễn sự phân phối thị phần này sẽ có dạng hình chữ L với 2 cạnh là cạnh đáy và một cạnh bên phải của hình vuông Đây chính là đường phân phối thị phần bất bình đẳng tuyệt đối Và có thể đánh giá mức độ tập trung thị trường là cao nhất Nhìn chung, đường cong Lorenz thường nằm giữa đường bất bình đẳng tuyệt đối và đường bình đẳng tuyệt đối Đường
A B
Trang 16Lorenz nào càng nằm xa đường bình đẳng tuyệt đối thì sự phân phối thị phần trong trường hợp đó càng bất bình đẳng, thị trường có mức độ tập trung càng cao.
Đường cong Lorenz cho phép đánh giá mức độ bất bình đẳng về thị phần giữa các doanh nghiệp trên một thị trường Tuy nhiên, nó có những hạn chế nhất định trong việc đánh giá mức độ bất bình đẳng do nó chưa lượng hoáđược mức độ bất bình đẳng Do đó, khi so sánh mức độ bất bình đẳng giữa các thị trường khác nhau, chúng ta không thể đưa ra những kết luận chính xáckhi các đường cong Lorenz cắt nhau và sẽ là khá phức tạp nếu phải so sánh giữa nhiều thị trường Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể sử dụng
hệ số Gini- một hệ quả được rút ra từ đường cong Lorenz
Hệ số Gini được tính bằng cách chia phần diện tích đường cong Lorenzlệch khỏi đường bình đẳng tuyệt đối (A) cho diện tích của nửa hình vuông có chứa đường cong Lorenz (A + B)
Công thức tính:
G= A/ (A + B)Nếu coi mỗi cạnh của hình vuông là 1 đơn vị thì diện tích (A + B) luôn bằng 1/2, khi đó:
G= 2*A
Hệ số Gini luôn có giá trị nằm trong đoạn [0 , 1]
G= 0: Phân phối thị phần trên thị trường là tuyệt đối bình đẳng, mức độ
tập trung thị trường thấp nhất
G= 1: Phân phối thị phần trên thị trường là bất bình đẳng tuyệt đối,
mức độ tập trung thị trường cao nhất
G càng gần 1 thì phân phối thị phần giữa các doanh nghiệp càng bất bình đẳng, mức độ tập trung kinh tế trên thị trường càng cao
Trang 17Như vậy, đường cong Lorenz và hệ số Gini đều dùng để đo mức độ bất bình đẳng về thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường, từ đó cho phép đánh giá được mức độ TTKT trên một thị trường nhất định Hệ số Gini còn
cho phép so sánh chéo về mức độ bất bình đẳng trong phân phối thị phần giữacác doanh nghiệp giữa các thị trường với nhau Đó cũng chính là những điểm mạnh của phương pháp đo này Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có
những hạn chế: Cả đường cong Lorenz và hệ số Gini đều có xu hướng tập trung đánh giá mức độ bất bình đẳng về thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường chứ không chú trọng tới số lượng doanh nghiệp trên thị trường đó mặc dù nếu mức độ bất bình đẳng như nhau nhưng số lượng doanh nghiệp khác nhau thì cấu trúc thị trường hoàn toàn khác nhau Việc điều tra số lượng doanh nghiệp cộng dồn và doanh thu cộng dồn của các doanh nghiệp trên thị trường để tính chỉ số này là khá phức tạp
Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể sử dụng một số phương pháp khác đánh giá mức độ tập trung kinh tế đơn giản hơn thông qua sự phân phối thị phần của một nhóm doanh nghiệp lớn trên thị trường
2.2- Tỷ lệ tập trung kinh tế (CR n ) có thể là CR 3 , CR 4 hoặc
CR 8
Tỷ lệ tập trung kinh tế CRn- Concentration Ratio, là tổng thị phần của
n doanh nghiệp hàng đầu (có thị phần lớn nhất) trên một thị trường nhất
định Trong đó n thường được sử dụng là 3, 4 hoặc 8 doanh nghiệp
Trang 18Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường(%)
n là số doanh nghiệp đang xét: thường n=3, n=4 hoặc n=8.Chỉ số này được sử dụng để đánh giá quy mô tương đối của một số doanh nghiệp hàng đầu trong ngành so với quy mô toàn ngành
Nếu tỷ lệ tập trung này là rất nhỏ, có thể nói mức độ tập trung thị
trường là rất nhỏ, không đáng kể và có thể coi cấu trúc thị trường là cạnh tranh hoàn hảo
Giả sử xét tỷ lệ tập trung kinh tế của 4 doanh nghiệp hàng đầu trên một thị trường nhất định- CR4
Nếu CR4 < 40%: có thể kết luận mức độ tập trung thị trường là trung bình và cấu trúc thị trường là cạnh tranh độc quyền
Nếu CR4 > 40%: mức độ tập trung thị trường tương đối cao và cấu trúc thị trường là độc quyền nhóm
Nếu CR4 ~ 100%: mức độ tập trung thị trường rất cao và có thể kết luậncấu trúc thị trường là độc quyền
Tương tự đối với các chỉ số tập trung kinh tế của 3 hoặc 8 doanh
nghiệp, chúng ta có thể dùng để đánh giá một cách tương đối chính xác về cấu trúc thị trường của một thị trường ngành hoặc một thị trường địa lý nhất định
Để tính được chỉ số tỷ lệ tập trung, chúng ta cần có số liệu về thị phần của một nhóm các doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường và số lượng doanh nghiệp hàng đầu trong thị trường ngành hay trong thị trường địa lý nhất định
là một con số không lớn nên việc tính toán chỉ số này có thể nói là không quá phức tạp
Tuy nhiên, chỉ số này cũng có những hạn chế nhất định trong việc đo lường và đánh giá mức độ tập trung kinh tế do: Chỉ số này chỉ hướng vào các doanh nghiệp hàng đầu mà không xét đến sự phân bố thị phần của các doanh
Trang 19nghiệp còn lại Vì vậy không cho phép đánh giá một cách tổng thể nhất về thực trạng mức độ tập trung kinh tế trên thị trường Hơn nữa, việc tính tổng thị phần của các doanh nghiệp hàng đầu chưa có sự phân biệt về mức độ ảnh hưởng khác nhau của các doanh nghiệp khác nhau đến mức độ tập trung thị trường do chưa tính đến trọng số của các doanh nghiệp có quy mô, thị phần khác nhau Để khắc phục hạn chế này, chúng ta có thể sử dụng chỉ số HHI- Hirschman- Herfindahl Index.
2.3- Chỉ số Hirschman- Herfindahl(HHI)
Chỉ số Hirschman- Herfindahl(HHI) được định nghĩa là tổng bình phương của thị phần của tất cả các doanh nghiệp trong một thị trường nhất định HHI có giá trị từ 0 đến 10.000
Công thức:
2 1
n i i
Trong đó: Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường(%)
n là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
Có một số mốc đánh giá mức độ TTKT tương đối chính xác như sau:
HHI= 0: thị trường không có một doanh nghiệp nào hoạt động.
HHI < 1.000: thị trường không mang tính tập trung.
1.000 <= HHI <= 1.800: mức độ tập trung thị trường là vừa phải HHI > 1.800: mức độ tập trung thị trường cao.
HHI= 10.000: thị trường chỉ có một doanh nghiệp duy nhất Lúc này
mức độ tập trung thị trường là cao nhất
Chỉ số HHI có giá trị càng gần 0 thì có thể đánh giá thị trường có rất nhiều doanh nghiệp và cùng có quy mô nhỏ Khi HHI có giá trị càng gần tới 10.000 thì càng có ít doanh nghiệp chiếm thị phần lớn trên thị trường, mức độtập trung thi trường càng cao
Trang 20HHI là một chỉ số khá mạnh và khá thông dụng trong việc đánh giá mức độ TTKT trong một thị trường, từ đó xác định khá chính xác cấu trúc thị trường.
Phương pháp này có đã khắc phục được nhược điểm của phương pháp
tính tỷ lệ TTKT đó là đã tính tỷ trọng lớn hơn cho các doanh nghiệp có thị phần lớn hơn trong khi thực hiện bình phương thị phần của các doanh
nghiệp Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có những hạn chế về kỹ thuật tính toán Việc điều tra số liệu về thị phần của tất cả các doanh nghiệp trong một thị trường ngành hay một thị trường địa lý và việc tính chỉ số này khá phức tạp, đòi hỏi có sự đầu tư thời gian, kinh phí khá lớn và phải có một hệ thống thông tin đảm bảo tính chính xác của các số liệu về thị phần của các doanh nghiệp Bởi việc tính toán chỉ số này có thể có những sai số rất lớn khi bình phương thị phần của tất cả các doanh nghiệp
2.4- Hệ số Entropy
Một phương pháp đo mức độ tập trung kinh tế khác là tính hệ số Entropy Hệ số này được định nghĩa là tổng của tích thị phần của mỗi doanh nghiệp nhân với logarit tự nhiên của nghịch đảo thị phần
E-Công thức tính:
E=∑Si* 1/ lnSi
Với i= 1 > N
Trong đó: Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i(%)
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
Chỉ số này được sử dụng để đo độ bất định trong một thị trường ngành Qua
đó đánh giá độ bất định trong việc ra quyết định của các doanh nghiệp xét trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với khách hàng
E= 0: Độ bất định của thị trường thấp nhất, độ chắc chắn trong mối
quan hệ trong tương lai giữa doanh nghiệp hiện tại với khách hàng là cao
Trang 21nhất, mức độ tập trung thị trường cao nhất- thị trường độc quyền bởi một doanh nghiệp Doanh nghiệp này nắm trọn thị trường vì không có hàng hoá thay thế
E càng thấp- độ bất định của thị trường càng thấp thì độ chắc chắn
trong mối quan hệ trong tương lai giữa các doanh nghiệp đang hoạt động với khách hàng càng cao Nghĩa là các doanh nghiệp càng có sức mạnh trong mối quan hệ thương lượng với khách hàng do có càng ít hành hoá thay thế Khi
đó, mức độ tập trung thị trường càng cao và cấu trúc thị trường càng mang tính chất độc quyền
Ngược lại, khi E càng lớn- nghĩa là độ bất định của thị trường càng
cao > độ chắc chắn trong mối quan hệ tương lai giữa các doanh nghiệp hiện tại với khách hàng càng thấp, mức độ tập trung thị trường càng thấp và cấu trúc thị trường càng cạnh tranh hơn
Khi muốn so sánh mức độ bất định thị trường của 2 ngành có số lượng
doanh nghiệp khác nhau, chúng ta có thể tính hệ số Entropy tương đối RE:
RE= E/nVới n là tổng số doanh nghiệp trên thị trường ngành
Như vậy, hệ số Entropy cho phép xác định mức độ chặt chẽ trong mối quan hệ tương lai giữa doanh nghiệp hiện đang hoạt động với khách hàng Từ
đó đánh giá mức độ TTKT trên thị trường và xác định cấu trúc thị trường ngành Chỉ số RE còn cho phép so sánh chéo mức độ tập trung kinh tế trên các thị trường ngành khác nhau
Đặc biệt, một ưu điểm nữa của chỉ số này là: việc nhân thị phần của mỗi doanh nghiệp Si với 1/ln Si đã ngầm gán trọng số thấp hơn cho các doanh nghiệp có thị phần lớn hơn Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đánh giá cao hơn tác động của các doanh nghiệp lớn hơn tới mức độ TTKT Vì E càng thấp thì mức độ tập trung kinh tế càng cao.
Trang 22Tuy nhiên, việc tính toán chỉ số này có thể có sai số lớn đặc biệt là khi
số lượng doanh nghiệp trong một thị trường ngành càng lớn
2.5- Chỉ số tập trung hỗn hợp CCI
Chỉ số tập trung hỗn hợp CCI- Comprehensive Concentration Index, được định nghĩa bởi công thức sau:
Trong đó: S1 là thị phần của doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường
Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i trên thị trường
N là tổng số doanh nghiệp trên thị trường
CCI được sử dụng để đánh giá mức độ tập trung kinh tế trên một thị trường
CCI có giá trị từ 0 đến 1
CCI= 0: thị trường không có doanh nghiệp nào hoạt động.
CCI= 1: thị trường có một doanh nghiệp hoạt động, mức độ tập trung
thị trường là cao nhất (cấu trúc thị trường độc quyền)
CCI càng cao thì mức độ tập trung thị trường càng lớn.
Ưu điểm của phương pháp đo này là đã xét đến số lượng các doanh nghiệp trên thị trường và kết hợp đánh giá thị phần của tất cả các doanh nghiệp này trong đó có tính trọng số riêng đối với doanh nghiệp lớn nhất trên thị trường và tính trọng số lớn hơn đối với các doanh nghiệp có thị phần lớn hơn nhờ việc bình phương thị phần của các doanh nghiệp lớn thứ 2 trở đi Đây là một phương pháp đánh giá khá chính xác mức độ tập trung thị trường Nhưng việc gán cho doanh nghiệp lớn nhất một trọng số riêng như vậy đòi hỏi phải có số liệu điều tra về thị phần của các doanh nghiệp tương đối chính xác để có thể xác định doanh nghiệp nào là lớn nhất Và việc áp dụng công thức này sẽ là không phù hợp khi xem xét trong một ngành có một số doanh
Trang 23nghiệp lớn có thị phần xấp xỉ nhau và khả năng chi phối thị trường tương đương nhau
Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể đánh giá chung về khả năng chi phối thị trường của một nhóm các doanh nghiệp hàng đầu trong một thị trường theo chỉ số Linda như dưới đây
2.6- Chỉ số Linda( L)
Chỉ số Linda- L là chỉ số đo lường sự chênh lệch trong nội bộ một nhóm doanh nghiệp nào đó trên một thị trường nhất định
Công thức:
Trong đó: N là số doanh nghiệp trên thị trường
Qi là tỷ lệ giữa thị phần trung bình của i doanh nghiệp hàng
đầu và (N-i) doanh nghiệp còn lại
Thông qua chỉ số này, cho phép xác định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và nhóm doanh nghiệp chỉ có mức độ ảnh hưởng nhỏ tớithị trường đồng thời đánh giá được mức độ mà các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường khống chế các doanh nghiệp còn lại trên thị trường đó Từ đó đánh giámức độ TTKT trên thị trường
Chỉ số L càng lớn chứng tỏ sự chênh lệch giữa các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường và các doanh nghiệp còn lại càng lớn Khi đó mức độ tập trung thị trường cao và ngược lại
Chỉ số Linda cũng là một trong những chỉ số cho phép đánh giá về mức
độ tập trung thị trường Phương pháp đo lường mức độ TTKT này có ưu điểm
là đã khắc phục được nhược điểm của chỉ số CCI ở trên bằng cách phân ra cácnhóm doanh nghiệp dẫn đầu thị trường và nhóm doanh nghiệp còn lại Như
Trang 24vậy thì tác động của các doanh nghiệp có thị phần tương đương nhau đối với thị trường sẽ được đánh giá tương đương Tuy nhiên, việc cho i thay đổi từ 1 đến N để ghép các doanh nghiệp thành từng nhóm khác nhau và tính bình quân thị phần của từng nhóm doanh nghiệp đó là khá phức tạp nếu số lượng doanh nghiệp trên một thị trường là lớn.
Như vậy, có rất nhiều phương pháp khác nhau cho phép đo lường và
đánh giá mức độ tập trung kinh tế trên một thị trường, có thể là thị trường ngành hay thị trường địa lý Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm nhất định Nhưng bên cạnh đó chúng cũng có những nhược điểm, những hạn chế không thể phủ nhận Vì vậy, để có sự định lượng một cách tổng thể và tương đối chính xác về mức độ tập trung kinh tế cũng như định lượng cấu trúc thị trường nói chung, chúng ta cần sử dụng kết hợp các phương pháp đo trên và
có sự linh hoạt khi áp dụng trong những ngành, thị trường cụ thể và trong những điều kiện phát triển kinh tế cụ thể của từng nước, trong từng thời kỳ
Những phân tích mang tính lý luận trên đã trả lời cho các câu hỏi: Tập trung kinh tế là gì? Tập trung kinh tế có những hình thức nào? Và những tiêu chí nào cho phép đánh giá mức độ tập trung kinh tế? Qua đó có thể thấy: TTKT cũng là một trong những vấn đề quan trọng của nền kinh tế thị trường Vậy, TTKT có những tác động như thế nào tới sự phát triển kinh tế? Tại sao chúng ta phải quản lý tập trung kinh tế? Và quản lý tập trung kinh tế phải tuântheo những nguyên tắc nào? Đó chính là những nội dung của cơ sở lý luận về quản lý TTKT đề tài cần làm rõ
II- Cơ sở lý luận về quản lý tập trung kinh tế
1- Tác động của tập trung kinh tế đối với sự phát triển
kinh tế và sự cần thiết phải quản lý các hoạt động tập trung kinh tế
Trang 25Để có cơ sở lý luận cho công tác quản lý TTKT, trước hết chúng ta cần xem xét, đánh giá một cách toàn diện những tác động của TTKT đối với sự phát triển của nền kinh tế đứng trên góc độ quản lý vĩ mô nền kinh tế
1.1- Tập trung kinh tế- Những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế
TTKT có nhiều tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế Cụ thể như sau:
Thứ nhất, TTKT giúp nâng cao tổng sản lượng cho nền kinh tế trong
điều kiện các nguồn lực phát triển không thay đổi Thật vậy, như đã trình bày
ở trên về những khái niệm và hình thức TTKT, chúng ta có thể thấy: kết quả của TTKT là sự giảm đi của số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường và sự gia tăng quy mô sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp sau TTKT Theo quy luật về hiệu suất hoạt động theo quy mô: “khi quy mô vốn tăng lên, hiệu quả hoạt động sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên do họ có thể tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm” Như vậy TTKT có thể giúp khắc phục tình trạng hoạt động kém hiệu quả của nền kinh tế do quy mô đầu tư nhỏ lẻ, manh mún, sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực phát triển như: vốn, lao động, tài nguyên, Vì vậy, tổng sản lượng trong nền kinh tế được nâng cao trong điều kiện các nguồn lực không thay đổi
Thứ hai, TTKT góp phần đưa nền kinh tế vượt qua những giai đoạn
kinh tế khó khăn hay khủng hoảng kinh tế Vì TTKT là một hình thức tái cấu trúc doanh nghiệp, tái cơ cấu việc tổ chức sản xuất- kinh doanh Trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế, hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn, thì TTKT là một biện pháp hiệu quả giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn từ
đó góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi sự khủng hoảng và tiếp tục phát triển
Thứ ba, TTKT chính là một giải pháp thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế bền vững Thật vậy, bản chất của TTKT là sự chuyển giao quyền
Trang 26sở hữu giữa các chủ thể kinh tế, có thể là các doanh nghiệp hay các tập đoàn kinh tế với nhau Quyền sở hữu đó bao gồm các quyền sở hữu về: vốn, tài sản, các phát minh sáng chế, các dây chuyền công nghệ, Tập trung kinh tế
sẽ thúc đẩy chuyển giao khoa học- công nghệ, cách thức tổ chức quản lý, kỹ năng lao động Theo mô hình hàm sản xuất Cobb- Douglass thì công nghệ chính là một nhân tố quan trọng tạo ra sản lượng trong nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế:
Y= T.Ka .Lb.Rc (1)Trong đó: T là khoa học công- nghệ
K, L, R lần lượt là vốn, lao động, đất đai và các
Mô hình Cobb- Douglass sau khi biến đổi sẽ thiết lập được mối quan
hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số như sau :
g= t+ a.k + b.l+ c.rTrong đó : g là tốc độ tăng trưởng
k, l, r là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
t là tốc độ tăng tiền bộ khoa học- công nghệ
Các công nghệ tiên tiến, hiện đại được áp dụng rộng rãi sẽ thúc đẩy việc tăng năng suất lao động, nâng cao sản lượng trong nền kinh tế Và tiến
bộ công nghệ là yếu tố vô hạn có thể mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực khác đều là hữu hạn, công nghệ là yếu tố quan trọng của tăng trưởng và phát triển bền vững
Thứ tư, TTKT có yếu tố nước ngoài còn là một hình thức thu hút vốn
đầu tư nước ngoài khá hiệu quả Nó không chỉ làm tăng thêm nguồn vốn đầu
tư nước ngoài mà còn thúc đẩy chuyển giao khoa học- công nghệ hiện đại từ các nước phát triển trên thế giới Sau các vụ TTKT thường kéo theo những nhu cầu đầu tư mới và tạo ra việc làm mới trong dài hạn
Trang 27Thứ năm, TTKT trong các ngành then chốt của nền kinh tế sẽ giúp nền
kinh tế hạn chế và tránh được sự chi phối của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia
và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển của đất nước
Thứ sáu, TTKT còn làm tăng doanh thu thuế bổ sung vào ngân sách
Nhà nước, tăng khả năng chi tiêu của chính phủ, qua đó kích thích tăng
trưởng kinh tế Như chúng ta đã biết, TTKT là sự chuyển giao quyền sở hữu giữa các chủ thể kinh tế là các doanh nghiệp trên thị trường Quá trình chuyểnquyền sở hữu này dẫn đến những thay đổi về đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Chẳng hạn như khi các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh với nhau để hình thành các doanh nghiệp mới Khi đó, các doanh nghiệp thay đổi đăng ký kinh doanh sẽ phải nộp những khoản thuế nhấtđịnh vào ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước tăng đồng nghĩa với
tăng khả năng chi tiêu của chính phủ, từ đó tạo điều kiện để chính phủ tăng
chi tiêu cho nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế
Thứ bảy, TTKT cũng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cổ phần hóa
hoặc tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước theo định hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Như vậy, có thể kết luận rằng TTKT có rất nhiều tác động tích cực đối
với sự phát triển kinh tế thông qua những tác động trực tiếp tới các nhân tố quan trọng của tăng trưởng và phát triển đã được nghiên cứu trong khoa học kinh tế phát triển
Bên cạnh những tác động tích cực, TTKT cũng có thể gây ra những tác động hạn chế đối với sự phát triển kinh tế
1.2- Tập trung kinh tế- những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế
Những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế có thể kể đến một số tác động sau:
Trang 28Thứ nhất, TTKT làm thay đổi tương quan cạnh tranh trên thị trường và
có thể dẫn đến những tổn thất phúc lợi xã hội Thật vậy, TTKT làm giảm số
lượng doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường, thay đổi sự phân bố thịphần giữa các doanh nghiệp và có thể làm thay đổi tương quan cạnh tranh trênthị trường TTKT với quy mô lớn có thể dẫn đến hình thành một nhóm doanh nghiệp chiếm thị phần rất lớn có khả năng chi phối thị trường, làm giảm tính cạnh tranh và họ có thể đưa ra những quyết định sản xuất dưới mức hiệu quả của toàn xã hội, gây ra những tổn thất phúc lợi xã hội
Thứ hai, TTKT có thể tạo ra và làm nghiêm trọng thêm hiệu ứng “đẩy
ra ngoài” (crowding out) đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dẫn đến thất bại của thị trường về thông tin không đối xứng giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp lớn sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các thông tin về thị trường và nắm bắt các thông tin tốt hơn so với các doanh nghiệp nhỏ Chẳng hạn như thông tin về hàng các
nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, hay thông tin về các thị trường tiêu thụ, Các doanh nghiệp nhỏ có thể là các doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp lớn Trong trường hợp đó, sự bất đối xứng về thông tin giữa các doanh nghiệp này
sẽ gây ra những quyết định sản xuất- kinh doanh dưới mức hiệu quả xã hội
Thứ ba, TTKT với mục tiêu cơ cấu lại doanh nghiệp để tăng hiệu quả
sản xuất kinh doanh nên trong ngắn hạn, các doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm lao động Vì vậy TTKT sẽ làm giảm việc làm trong ngắn hạn
Thứ tư, TTKT giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp
nước ngoài có thể dẫn đến việc các tập đoàn đa quốc gia thôn tính các doanh nghiệp, các thương hiệu nổi tiếng trong nước
Thứ năm, TTKT có yếu tố nước ngoài còn có thể làm gia tăng sự kiểm
soát của nước ngoài đối với nền kinh tế trong nước Đặc biệt đáng lo ngại đối
Trang 29với những ngành chủ chốt, ngành mũi nhọn chiến lược của nền kinh tế quốc gia
Thứ sáu, trong quá trình TTKT có thể xảy ra tình trạng định giá tài sản
không đảm bảo tiêu chuẩn hoặc những vấn đề tiêu cực trong quá trình định giá tài sản, gây thất thoát, và những tổn thất lợi ích của các doanh nghiệp
Như vậy, TTKT có nhiều tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Đây chính là những cơ sở quan trọng để luận chứng cho sự cần thiết phải quản lý TTKT
1.3- Sự cần thiết phải quản lý các hoạt động TTKT
Trên cơ sở những tác động tích cực và tiêu cực của TTKT đã phân tích
ở trên, có thể đưa ra ba luận chứng cơ bản cho sự cần thiết phải quản lý các hoạt động TTKT như sau:
Thứ nhất, các thế lực độc quyền được hình thành qua quá trình TTKT
có thể gây ra tổn thất phúc lợi xã hội Điều này được phân tích trong lý thuyếtđộc quyền thường gây tổn thất phúc lợi xã hội như sau:
Cũng giống như mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia hoạt động sản xuất- kinh doanh, doanh nghiệp độc quyền có mục tiêu là tối đahoá lợi nhuận Tuy nhiên, khi thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nguyên tắc tối
đa hoá lợi nhuận là sản xuất tại mức sản lượng sao cho giá bán bằng chi phí biên (P=MC), còn đối với doanh nghiệp độc quyền, họ sẽ sản xuất tại mức sản lượng tại đó doanh thu biên đúng bằng chi phí biên (MR=MC)
Trang 30
Hình 1.2- Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền thường
Khi đó, doanh nghiệp độc quyền bán được sản phẩm với mức giá P1 caohơn P0 và mức sản lượng Q1 thấp hơn Q0 khi thị trường là cạnh tranh hoàn hảo
và thu lợi nhuận siêu ngạch là phần diện tích P1P0EB (như hình vẽ)
Nhưng đứng trên góc độ lợi ích xã hội thì quyết định sản xuất như vậy
là chưa hiệu quả Vì hiệu quả xã hội đạt được khi MB=MC Nhưng tại sản lượng Q1 thì MB>MC Đồng thời quyết định sản xuất đó khiến xã hội bị tổn thất một mức lợi ích ròng là diện tích tam giác ABC (như hình vẽ) Đây chính
là phần tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền gây ra
Thứ hai, tình trạng thông tin không đối xứng do hoạt động TTKT mang
lại (như đã phân tích ở trên) cũng gây ra tổn thất phúc lợi xã hội Thật vậy,
AC
A B
C
P 0 P 1
MR
D = MR
Trang 31xét một thị trường ngành, có tình trạng thông tin không đối xứng giữa giữa các doanh nghiệp có quan hệ người mua- người bán Giả sử các doanh nghiệpcung ứng nguyên vật liệu là các doanh nghiệp nhỏ (sau đây gọi là các doanh nghiệp cung ứng), các doanh nghiệp mua các nguyên vật liệu đó để sản xuất sản phẩm cuối cùng là các doanh nghiệp lớn (sau đây gọi là các doanh nghiệp sản xuất) Nếu thông tin trên thị trường là đối xứng- các doanh nghiệp cung ứng và các doanh nghiệp sản xuất đều nắm rõ thông tin về nhu cầu và khả năng cung ứng nguyên vật liệu trên thị trường thì thị trường sẽ cân bằng tại mức sản lượng là Q0 và mức giá là P0 (hình 1.3) Đó chính là mức sản lượng tối ưu xã hội Nhưng do không nắm được đầy đủ thông tin về nhu cầu thị trường nên doanh nghiệp cung ứng chỉ cung ứng ở mức sản lượng Q1> Q0 và mức giá sẽ giảm xuống là P1 < P0 (hình 1.3) Khi đó, một phần phúc lợi xã hội
đã bị mất đi (bằng phần diện tích tam giác ABC như hình 1.3) được gọi là phần tổn thất phúc lợi xã hội do thông tin không đối xứng về phía nhà cung ứng
Q
Hình 1.3- Thông tin không đối xứng gây tổn thất phúc lợi xã hội
Thứ ba, TTKT có rất nhiều tác động tích cực như đã phân tích ở trên
Song, không phải hoạt động TTKT nào cũng sẽ đem lại những tác động tích
Trang 32cực như vậy nếu chúng ta không có những khung pháp lý, những chính sách định hướng, kiểm soát, điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp tham gia TTKT Chẳng hạn như: TTKT tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng đầu tư cho công nghệ- kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh, tăng lợi nhuận Tuy nhiên, doanh nghiệp được hình thành sau hoạt động TTKT có thể lạm dụng sức mạnh thị trường, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của mình để tăng lợi nhuận chứ không đầu tư nhiều cho công nghệ- kỹ thuật
Qua những phân tích trên cho thấy vai trò của chính phủ trong quản lý TTKT là hết sức cần thiết Tuy nhiên, cũng như sự can thiệp của chính phủ vào bất kỳ một vấn đề nào của nền kinh tế thị trường, những tác động của chính phủ trong quản lý TTKT cần tuân theo những nguyên tắc nhất định
2- Các nguyên tắc chi phối sự tác động của chính phủ trong quản lý tập trung kinh tế
Có 2 nguyên tắc cơ bản chi phối sự tác động của chính phủ trong quản
lý TTKT Đó chính là 2 nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của chính phủ vàonền kinh tế thị trường: nguyên tắc hỗ trợ và nguyên tắc tương hợp Bởi lẽ, TTKT cũng là một trong những vấn đề xuất phát trong nền kinh tế thị trường
2.1- Nguyên tắc hỗ trợ
Nội dung của nguyên tắc hỗ trợ trong quản lý tập trung kinh tế: Sự tác động của chính phủ vào tập trung kinh tế phải nhằm mục đích cuối cùng và dài hạn là hỗ trợ, tạo điều kiện cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn Theo
đó sự tác động của chính phủ phải đảm bảo những nội dung sau:
+ Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, quyền tự do kinh doanh,
tự do giá cả
+ Thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ các quy định pháp luật
Trang 33+ Ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cho các doanh nghiệp phát triển.
Nguyên tắc hỗ trợ chủ yếu nhằm xác định xem khi nào chính phủ cần tác động vào tập trung kinh tế
Nguyên tắc tương hợp nhằm lựa chọn các cách thức tác động tối ưu củachính phủ vào tập trung kinh tế
Trên cơ sở tôn trọng 2 nguyên tắc trên trong quản lý tập trung kinh tế, chính phủ cần:
+ Tôn trọng và bảo vệ tập trung kinh tế, không loại bỏ các hành vi tập trung kinh tế ra khỏi sinh hoạt của thị trường Tập trung kinh tế bao gồm các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh xuất phát và phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Nên tập trung kinh tế thuộc quyền tự
do kinh doanh của doanh nghiệp
+ Tập trung kinh tế có thể dẫn đến hạn chế cạnh tranh, nên chính phủ cần có sự kiểm soát tập trung kinh tế, ngăn chặn các hành vi tập trung kinh tế
có khả năng hạn chế cạnh tranh, hình thành các thế lực độc quyền, nhằm đảm bảo thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh
Trang 34+ Tuy nhiên tập trung kinh tế cũng có nhiều tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế Vì vậy, trong những trường hợp nhất định, chính phủ cần xem xét, cân nhắc cách thức quản lý đối với các vụ việc tập trung kinh tế có quy mô lớn, có khả năng gây hạn chế cạnh tranh sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế vừa đảm bảo thúc đẩy môi trường cạnh tranh Chính phủ có thể cấm những vụ tập trung kinh tế đó hoặc có thể cho phép tập trung kinh tế nhưng quy định và kiểm soát các hành vi của doanh nghiệp sau tập trung kinh tế để ngăn chặn những hành vi gây hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp, đảm bảo môi trường cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nói tóm lại, quản lý TTKT là rất cần thiết Và một trong các tiêu chí
đánh giá tính hiệu quả, sự thành công của công tác quản lý TTKT là mức
độ hỗ trợ, tương hợp với thị trường của các tác động của chính phủ trong
quản lý TTKT
Như vậy, TTKT có những góc độ tiếp cận, những hình thức khác nhau
Nhưng dù nhìn ở góc độ nào thì TTKT cũng là một vấn đề của nền kinh tế thị trường cần có sự tác động của chính phủ theo hai nguyên tắc cơ bản (nguyên tắc hỗ trợ và nguyên tắc tương hợp) Vậy trên thực tế, ở Việt Nam và ở các quốc gia khác trên thế giới, công tác quản lý TTKT được tổ chức thực hiện như thế nào? Có thể nói quản lý TTKT là một nội dung rất mới đối với Việt Nam Nên việc học hỏi kinh nghiệm quản lý TTKT của các quốc gia đi trước
là rất cần thiết đối với Việt Nam
Trang 35CHƯƠNG II- KINH NGHIỆM QUẢN LÝ TẬP TRUNG KINH TẾ
TRÊN THẾ GIỚI
Với mục tiêu học hỏi kinh nghiệm quản lý TTKT phù hợp với điều kiện kinh tế- chính trị và các xu hướng TTKT ở Việt Nam, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của năm quốc gia đã có nhiều thành công trong công tác quản lý TTKT Đó là: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Chi lê
Ở các quốc gia này đều đã có những giai đoạn TTKT rất cao và công tác quản
lý của họ đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc làm giảm mức độ TTKT để duy trì, thúc đẩy cấu trúc thị trường cạnh tranh Vậy họ đã quản lý TTKT bằng cách nào? Công tác quản lý TTKT được tổ chức thực hiện như thế nào? Những phân tích dưới đây sẽ giúp chúng ta trả lời những câu hỏi này và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về các quy định quản lý và công tác tổ chức quản
Trang 36lý TTKT mà Việt Nam có thể học hỏi để vận dụng trong những điều kiện, những giai đoạn phát triển nhất định.
Để nghiên cứu một cách hệ thống về kinh nghiệm quản lý TTKT của
các nước này, đề tài sẽ tiếp cận các vấn đề về TTKT dưới góc độ quản lý
Theo đó, các cơ quan quản lý nhà nước về TTKT chính là chủ thể quản lý
thực hiện các hoạt động quản lý để hướng đối tượng quản lý là TTKT theo
những cơ sở pháp lý để đạt được mục tiêu là thúc đẩy môi trường kinh tế cạnhtranh lành mạnh và phát triển kinh tế
I- Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
1- Tổng quan về TTKT ở Hoa Kỳ
Trong lịch sử tập trung kinh tế ở Hoa Kỳ cho đến nay đã diễn ra năm làn sóng TTKT qua năm giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, TTKT có những đặc điểm đặc trưng khác nhau và Hoa Kỳ đã có những cách thức quản lý TTKT tương ứng với từng giai đoạn đó
1.1- Giai đoạn 1 (1897 – 1904): Làn sóng độc quyền hóa- TTKT theo chiều ngang để tiến tới vị trí độc quyền
Sự xuất hiện làn sóng TTKT này là do chính phủ nới lỏng việc thực thicác quy định về chống độc quyền, các quy định của pháp luật công ty cũngđược nới lỏng, tạo điều kiện cho các vụ TTKT trong cùng một thị trường liênquan (TTKT theo chiều ngang) Đặc biệt, có nhiều quy tắc trong mua bán, sápnhập thuộc về quy tắc ứng xử đạo đức, chỉ mang tính tự nguyện và không bịràng buộc về mặt pháp lý Chính vì vậy, càng khuyến khích các vụ mua bán,sáp nhập, hợp nhất diễn ra mạnh mẽ theo chiều ngang để tiến tới vị trí độcquyền
TTKT ở Hoa Kỳ trong giai đoạn này có hai đặc điểm sau:
Trang 37Thứ nhất, các vụ TTKT chủ yếu diễn ra theo chiều ngang giữa các
doanh nghiệp trong cùng một thị trường liên quan
Thứ hai, TTKT chủ yếu là các vụ sáp nhập trong ngành công nghiệp
nặng Mức độ TTKT trong ngành công nghiệp nặng thời kỳ này rất cao Thịtrường ngành công nghiệp nặng có một số doanh nghiệp có quy mô lớn cókhả năng chi phối thị trường như: tập đoàn thép Hoa Kỳ- US Steel Group,
Làn sóng độc quyền hoá này đã có nhiều tác động tích cực trong việcthúc đẩy phát triển kinh tế ở Hoa Kỳ Quy mô nền kinh tế được mở rộngnhanh chóng Khoa học- kỹ thuật ở Hoa Kỳ trong giai đoạn này rất phát triển,đặc biệt là trong ngành đường sắt, điện năng Các quy trình sản xuất cũngđược cải tiến đáng kể theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Tuy nhiên, đến đầu những năm 1990, phần lớn các vụ mua bán sáp
nhập không làm tăng hiệu quả sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp.Đồng thời các vụ TTKT theo chiều ngang đã hình thành nên một số tập đoànlớn giữ vị trí độc quyền, làm hạn chế cạnh tranh trên thị trường, nhất là trênthị trường ngành công nghiệp nặng Vì vậy, chính phủ Hoa Kỳ đã bắt đầu siếtchặt hơn việc kiểm soát các vụ TTKT Năm 1904, Toà án tối cao đã đưa raquy định rằng Đạo Luật Sherman sẽ được sử dụng để chống lại các vụ sápnhập mang tính phản cạnh tranh Đạo Luật Sherman được ban hành từ năm
1890 Nhưng việc đưa ra quy định này của Toà án tối cao lúc này chính làmột động thái chứng tỏ rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ nghiêm khắc hơn trongviệc thực thi Luật chống độc quyền và kiểm soát chặt chẽ hơn quá trìnhTTKT để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả
Cùng với sự thắt chặt kiểm soát TTKT, sự suy thoái của kinh tế Hoa
Kỳ năm 1903 và ảnh hưởng của sự suy thoái này trong một vài năm tiếp theocũng như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ vào năm 1904 đã dập
Trang 38tắt làn sóng độc quyền hoá ở Hoa Kỳ trong giai đoạn này.
1.2- Giai đoạn 2 (1916 - 1929): Làn sóng sắp xếp lại để đạt hiệu quả theo quy mô- TTKT theo chiều dọc hướng tới độc quyền nhóm
Làn sóng TTKT thứ hai này xuất hiện do sự bùng nổ nền kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ nhất Bên cạnh đó, không thể không đề cập tới
nguyên nhân về công tác quản lý TTKT ở Hoa Kỳ Chính phủ đã có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp cùng hợp tác trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và trong thập niên 1920 chính sách này vẫn được duy trì Chính sách này đã khuyến khích, thúc đẩy các vụ TTKT theo chiều dọc và hình thành cácnhóm độc quyền
TTKT ở Hoa Kỳ giai đoạn này có ba đặc điểm sau:
Thứ nhất, số lượng các nhà độc quyền giảm, nhưng độc quyền nhóm lại
tăng
Thứ hai, TTKT chủ yếu là các vụ sáp nhập theo chiều dọc và hình
thành các tập đoàn lớn
Thứ ba, các vụ sáp nhập chủ yếu diễn ra trong các ngành kim loại cơ
bản, hoá dầu, thực phẩm, hoá chất và thiết bị giao thông
Xu hướng TTKT này đã tạo những sự phát triển mới về khoa học công nghệ Hệ thống giao thông được cải thiện và xây dựng mới đặc biệt là trong ngành đường sắt Mạng lưới truyền thanh cũng ngày càng phát triển đa dạng
và chất lượng tốt hơn
Tuy nhiên, việc hình thành các tập đoàn tư bản có quy mô lớn và các
nhóm độc quyền đã gây ra những hạn chế cạnh tranh đáng kể với những hành
vi hạn chế cạnh tranh đa dạng hơn Vì vậy, năm 1914, chính phủ đã ban hành Đạo Luật Clay ton, bổ sung thêm các hành vi hạn chế cạnh tranh để quản lý chặt chẽ hành vi của các nhóm doanh nghiệp độc quyền Bên cạnh đó, Đạo Luật Uỷ ban Thương mại Liên bang cũng được ban hành nhằm chống lại các
Trang 39tập đoàn tư bản lũng đoạn Đạo Luật Sherman vẫn tiếp tục được thực thi nghiêm túc Sự quản lý chặt chẽ của chính phủ đã hạn chế được những hành
vi hạn chế cạnh tranh của các nhóm độc quyền, các tập đoàn tư bản
Cùng với các quy định quản lý đó, sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ ngày 29/10/1929 đã kết thúc làn sóng TTKT theo hướng hình thành các nhóm độc quyền
1.3- Giai đoạn 3 (1965 – 1969): Xu hướng thành lập tập đoàn-TTKT theo đường chéo (dạng tập đoàn)
Sự xuất hiện xu hướng TTKT mới trong giai đoạn này là do thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn này đang có nhu cầu phát triển khá sôi động, giá chứng khoán tăng cao, làm tăng nhu cầu đầu tư Nhưng do lãi suất trong những năm đầu của thập niên 1960 cao, làm cho các doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định về vốn đầu tư và giai đoạn này có những sự thay đổi của phương pháp hạch toán tài chính: phương pháp kế toán phân chia lợi ích làm xuất hiện “hiệu ứng tự vận động”- các doanh nghiệp muốn tối thiểu hoá sự phụ thuộc vào các nguồn tài chính bên ngoài, vì vậy các doanh nghiệp phải tính đến các phương án mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, giai đoạn này, chính phủ Hoa Kỳ đang khá cứng rắn trong việc thực thi Luật chống độc quyền, những hành vi TTKT gây hạn chế cạnh tranh đáng kể bị cấm hoặc bị kiểm soát rất chặt chẽ
Chính vì vậy, TTKT giai đoạn này có hai đặc điểm rất khác với hai giaiđoạn trước:
Thứ nhất, TTKT theo chiều ngang và theo chiều dọc là 2 hình thức
TTKT gây hạn chế cạnh tranh nhiều hơn không xuất hiện nhiều như 2 giai đoạn trước Mà chủ yếu là các vụ TTKT theo dạng đường chéo để hình thành các tập đoàn dạng hỗn hợp
Trang 40Thứ hai, ngành có hoạt động tập trung kinh tế mạnh nhất là ngành hàng
không Bên cạnh đó, các ngành như: máy công nghiệp, linh kiện ô tô, trang thiết bị đường sắt, dệt may và thuốc lá vẫn có những vụ sáp nhập có quy mô đáng kể
Xu hướng này đã làm xuất hiện các tập đoàn tư bản rất lớn có khả năngchi phối thị trường Để quản lý những hành vi hạn chế cạnh tranh ngày càng
đa dạng của các tập đoàn trong xu hướng TTKT này, chính phủ đã có bổ sungnhững quy định trong quản lý TTKT Năm 1968, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thông báo kế hoạch trừng phạt các tập đoàn lũng đoạn Đồng thời, Hoa Kỳ cũng áp dụng hệ thống pháp luật bổ sung: Đạo Luật Williams, Đạo Luật cải cách thuế khoá
Cùng với những biện pháp nghiêm khắc của Bộ Tư pháp và sự thực thi các Đạo luật kiểm soát độc quyền, sự hoạt động kém hiệu quả của nhiều tập đoàn tư bản vào những năm cuối thập niên 1960 đã kết thúc làn sóng thành lập tập đoàn ở giai đoạn thứ ba này
1.4- Giai đoạn 4: (1981 - 1989): Xu hướng tái tập trung- Các vụ sáp nhập khổng lồ
Có rất nhiều nhân tố thúc đẩy sự xuất hiện của làn sóng TTKT này: Nềnkinh tế được mở rộng; Những tiến bộ về khoa học, công nghệ; xu hướng cạnhtranh quốc tế; Các quy định của chính phủ được nới lỏng ; Tài sản của cácquỹ trợ cấp gia tăng; Những đổi mới về tài chính; Sự thất bại của các tậpđoàn
TTKT trong giai đoạn này có bốn đặc điểm như sau: