hệ thống hoá lý luận về việc ĐTRNN của DN các nước ĐPT nói chung và Việt Nam nói riêng. Đồng thời, xem xét, giới thiệu, đánh giá thực trạng các chính sách của Việt Nam, các kinh nghiệm của một số nước ĐPT trong lĩnh vực khuyến khích ĐTTT ra nước ngoài. Và thực trạng ĐTTT ra nước ngoài của các DNVN trong thời gian từ 1989 đến nay qua các số liệu thực tế; qua đó đưa ra một số giải pháp kiến nghị từ phía Nhà nước và các DN theo hướng khuyến khích, thúc đẩy các DNVN ĐTRNN.
Trang 1Trong quá trình quốc tế hoá, ĐTTT ra nước ngoài là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thếgiới Sự vận động cả về vốn, con người, dịch vụ, thông tin và văn hoá của nó có tác dụng to lớn
và ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ phát triển và tính bền vững của nền kinh tế toàn cầu Đối vớitừng quốc gia, ĐTTT ra nước ngoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó không chỉ tác động đếntăng trưởng và phát triển cho nền kinh tế quốc dân, mà còn giúp các DN trong nước nâng caonăng lực cạnh tranh, tránh các rào cản thuế quan, phi thuế quan, mở rộng được thị trường, thiếtlập mối quan hệ với các quốc gia khác, từ đó nâng cao vị thế của DN trên thị trường
Nền kinh tế của Việt Nam nói riêng và các nước ĐPT nói chung cũng không nằm ngoài dòngchảy xu thế này Song riêng đối với nền kinh tế Việt Nam thì ĐTTT ra nước ngoài quả thực làmột lĩnh vực khá mới mẻ Dự án đầu tiên ĐTRNN của Việt Nam là năm 1989 nhưng cũng khôngđược đưa vào thực hiện Cho đến nay mới chỉ hoạt động được 19 năm, thực tế đã đạt được một sốkết quả nhất định, song chắc chắn cũng còn tồn tại không ít hạn chế Với mong muốn tìm hiểu vànghiên cứu cụ thể về cả những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động ĐTTT ra nướcngoài của các DNVN trong thời gian qua, cũng như các chính sách, quy định của Chính phủ đã
ban hành (bắt đầu từ năm 1999) Em đã quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm khuyến
khích – thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm hệ thống hoá lý luận về việc ĐTRNN của DN cácnước ĐPT nói chung và Việt Nam nói riêng Đồng thời, xem xét, giới thiệu, đánh giá thực trạngcác chính sách của Việt Nam, các kinh nghiệm của một số nước ĐPT trong lĩnh vực khuyếnkhích ĐTTT ra nước ngoài Và thực trạng ĐTTT ra nước ngoài của các DNVN trong thời gian từ
1989 đến nay qua các số liệu thực tế; qua đó đưa ra một số giải pháp kiến nghị từ phía Nhà nước
và các DN theo hướng khuyến khích, thúc đẩy các DNVN ĐTRNN
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu và số liệuĐTRNN của Việt Nam và các nước trong khu vực; nhưng do tính chất mới mẻ của đề tài, là mộtvấn đề khá mới của nền Kinh tế nước ta; do hạn chế về khả năng và thời gian của người thựchiện Trong khuôn khổ hạn hẹp của đề tài này, khó lòng đề cập đầy đủ các khía cạnh của vấn đềđưa ra, và chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Chính vì vậy em rất mong nhận được sựquan tâm và ý kiến đóng góp quý báu từ thầy cô và các bạn sinh viên, để vấn đề ngày càng đượchoàn thiện Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Trần Mai Hương - người đã tậntình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Chương I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
Trang 2CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
I MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ ĐTTT RA NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm đầu tư và ĐTRNN
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước và thế giới, hoạt động đầu tư không ngừngđược mở rộng và chiếm vị trí ngày càng quan trọng Đầu tư có rất nhiều cách hiểu, và dưới đâychỉ là một số khái niệm phổ biến
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn
bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và luật pháp có liên quan”.
Về bản chất đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đónhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra
để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quảlớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ Những kết quả thuđược có thể là tái sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, các của cải vậtchất khác,…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sảnxuất xã hội
Trong hoạt động đầu tư, ngoài việc đầu tư trong nước, các nhà đầu tư cũng thường hay thựchiện việc ĐTRNN Đầu tư không còn bó hẹp trên phạm vi một quốc gia mà mở rộng trên phạm vitoàn thế giới Sự ra đời và phát triển của đầu tư nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc
tế hoá và phân công lao động quốc tế
Theo hiệp hội Luật quốc tế (1996) “Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người
đầu tư sang nước của nước sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ”.
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam, quy định về đầu tư ra nước ngoài của DN Việt Nam Trong điều 1 có ghi rõ:
"Đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam là việc doanh nghiệp Việt Nam đưa vốn
bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở nước ngoài theo quy định của Nghị định này."
Đầu tư nước ngoài là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế quốc tế hoá như hiện nay Đây là hìnhthức đem lại lợi nhuận khá cao cho các nhà đầu tư Sự vận động của nó có tác động to lớn và ảnhhưởng trực tiếp đến tốc độ phát triển và tính bền vững của kinh tế toàn cầu Theo quan điểm cúa
Trang 3cá nhân tôi, ĐTRNN là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ trongnước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư.
Theo Nghị định số 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 9/8/2006 Chương I, điều 3 có
quy định “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài
để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài ”
2 Các hình thức ĐTRNN – Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
2.1 Đầu tư gián tiếp (FPI)
Đầu tư nước ngoài gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, tráiphiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trunggian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện các hoạtđộng đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư
Đặc điểm của đầu tư nước ngoài gián tiếp
Chủ đầu tư nước ngoài không kiểm soát các hoạt động kinh doanh
VĐT là của các tổ chức quốc tế thường đi kèm với các điều kiện ưu đãi và gắn chặt với thái
độ chính trị của các chính phủ và tổ chức quốc tế khác Chẳng hạn như vốn tài trợ phát triểnchính thức ODF trong đó ODA chiếm tỷ trọng lớn ODA mang tính ưu đãi cao, ngoài các điềukiện về lãi suất, thời hạn cho vay, khối lượng vốn vay tương đối lớn, ODA còn có yếu tố khônghoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 15% Nếu VĐT là của tư nhân thì bị giới hạn bởi
tỷ lệ góp vốn theo Luật Đầu tư của các nước sở tại, thường từ 10% - 25% vốn pháp định
Chủ đầu tư nước ngoài kiếm lời qua lãi suất cho vay hay lợi tức cổ phần
VĐT được phân tán trong vô số cổ đông và trái phiếu, nên chủ đầu tư có thể phân tán đượcrủi ro trong kinh doanh, hay độ rủi ro của đầu tư nước ngoài gián tiếp là thấp
FPI được thực hiện dưới các dạng sau:
Viện trợ quốc tế không hoàn lại: Các chính phủ, các tổ chức tài chính, kinh tế xã hội của cácnước thông qua các chương trình viện trợ không hoàn lại để trợ giúp các nước chậm phát triểnhơn Chẳng hạn như chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch, chương trìnhlương thực của thế giới,
Viện trợ quốc tế hoàn lại: Chủ đầu tư, cũng giống như ở trên song các nước chậm phát triểnphải đi vay (có hoàn lại) nhưng với lãi suất thấp hơn
Các DN tư nhân của nước này cho DN của nước khác vay (thông qua bán chịu hàng hoá vớigiá cao hơn giá theo quan hệ mậu dịch thông thường), hay là việc cá nhân người nước ngoài bỏtiền mua trái phiếu của chính phủ, cổ phiếu của các công ty để hưởng tiền lãi
Trang 42.2 Đầu tư trực tiếp (FDI)
Đây là hình thức đầu tư trong đó nhà đầu tư bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quátrình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Về thực chất, FDI là loại hình đầu tư quốc tế mà chủđầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua một phần, thậm chí toàn bộ cơ sở đó (làm dịch chuyểnquyền sở hữu giá trị của tài sản) Trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hànhhoạt động đối với đối tượng mà họ bỏ VĐT Chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sảnxuất kinh doanh của cơ sở đó
Đặc điểm của ĐTTT nước ngoài
Chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, tuỳ theo Luật Đầu tưnước ngoài của nước tiếp nhận VĐT trực tiếp nước ngoài quy định Quyền sở hữu vốn và quyền
sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư
Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộ vào mức độ góp vốn của mỗi bên Với DN 100% vốn nướcngoài thì chủ đầu tư toàn quyền quản lý DN
Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và đượcphân chia theo tỷ lệ góp vốn
ĐTTT nước ngoài được thực hiện thông qua việc thành lập DN mới, mua lại toàn bộ hoặcmột phần DN đang hoạt động hoặc sát nhập các DN với nhau
ĐTTT nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn tạo ta thị trường mới cho cảphía đầu tư và phía tiếp nhận đầu tư Vốn FDI không chỉ bao gồm VĐT ban đầu của chủ đầu tưdưới hình thức vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của DN để triển khai và mở rộng
dự án cuãng như VĐT trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của DN
ĐTTT nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đaquốc gia
VĐT trực tiếp nước ngoài tạo ra một nguồn vốn dài hạn cho nước chủ nhà và ít chịu sự chiphối của chính phủ cũng như các quan hệ chính trị giữa chủ đầu tư với chính phủ nước tiếp nhậnđầu tư
Theo mục tiêu của chủ đầu tư, FDI được chia thành:
Đầu tư theo chiều rộng: Hình thức đầu tư mà chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh trong việc sảnxuất một sản phẩm nào đó (lợi thế về công nghệ, kỹ năng quản lý, ) và chuyển sản phẩm này ranước ngoài
Đầu tư theo chiều sâu: Chủ đầu tư thường chú ý đến việc khai thác nguồn tài nguyên vật liệu
tự nhiên dồi dào và lao động rẻ ở nước ngoài để sản xuất các sản phẩm có thể nhập lại về nước
Trang 5mình hoặc xuất khẩu sang nước khác.
Căn cứ vào chiến lược đầu tư, có 2 hình thức ĐTTT nước ngoài của DN
FDI được thực hiện thông qua hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (Greesnield Investment – GI) vàLiên minh và sáp nhập (Mergers & Acquisition – M&A)
Đầu tư mới – GI là hình thức các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việcxây dựng một DN mới Đây là kênh đầu tư truyền thống và thường gặp ở các nước ĐPT
Liên minh và sáp nhập (M&A) là hình thức mà chủ đầu tư tiến hành thông qua mua lại, liênminh và sáp nhập các DN hiện có ở nước ngoài Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở cácnước phát triển, NICs và là hình thức đầu tư rất phổ biến chi phối luồng vận động của VĐT quốc
tế trong những năm cuối của thế kỷ 20
3 Vai trò của ĐTTT ra nước ngoài đối với các nước ĐPT
3.1 ĐTTT ra nước ngoài giúp cho nước đầu tư – các nhà đầu tư nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư và khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Các quốc gia đều phát triển nền kinh tế với những lợi thế riêng, nếu biết khai thác những lợithế đó một cách hợp lý thì sẽ tạo được bước nhảy vọt cho nền kinh tế khi nền kinh tế thế giớingày càng tiến sâu vào quá trình nhất thể hoá Với các nước ĐPT việc sử dụng các nguồn lựctrong nước vẫn còn nhiều bất cập, chưa tiết kiệm và chưa có hiệu quả Do vậy, khi tiến hànhĐTTT ra nước ngoài, chủ đầu tư sẽ đem theo những yếu tố sản xuất được bắt nguồn từ nhữngnguồn lực trong nước, thậm chí có cả nguồn lực “dư thừa” so với nhu cầu đầu tư trong nước ởnhững lĩnh vực mang tính truyền thống, lĩnh vực có thế mạnh của quốc gia đó Với môi trườngkinh doanh lành mạnh ở nhiều nước khác nhau trên thế giới, trình độ quản lý DN, quản lý quátrình đầu tư ngày càng hiện đại ĐTTT ra nước ngoài giúp cho các nước đầu tư sử dụng có hiệuquả nguồn lực “dư thừa” tương đối trong nước trong môi trường kinh doanh rộng lớn hơn, mật độcạnh tranh thấp hơn theo nguyên lý “pha loãng”, đặc biệt với những ngành mà quốc gia đó có thếmạnh
Mặt khác, xét trên góc độ toàn nền kinh tế, tăng cường thu hút vốn là một trong những điềukiện tiên quyết để các nước ĐPT đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế Các nước ĐPT luôntrong tình trạng “khát” VĐT, nhưng trên góc độ vi mô, một số ngành, một số lĩnh vực có hiệuquả sử dụng vốn thấp, tạo ra tình trạng thừa vốn trong nội bộ ngành Đồng thời, do giới hạn vềđiều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên… mà tỷ suất lợi nhuận VĐT của một số ngành, một sốlĩnh vực (như nông nghiệp, lâm nghiệp) trong nền kinh tế không thể tăng trưởng hơn được nữacho dù ta tiếp tục đầu tư vốn Do đó, tỷ suất lợi nhuận đầu tư được nâng cao hơn, tăng hiệu quả
Trang 6sử dụng vốn khi ĐTRNN, tránh được tình trạng ứ đọng vốn trong nội bộ ngành, tạo động lực mớicho nền kinh tế, đồng thời khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Đối với các DN ĐTTT ra nước ngoài, thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kếtquả kinh doanh của DN mà họ bỏ VĐT, mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợitức Hơn nữa, hình thức ĐTTT mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không ràng buộc vềchính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nước nhận đầu tư Chính vì vậy, các nhà đầu tư cóquyền kiểm soát, quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư Các nhà đầu tư chủ động nên có thểnâng cao hiệu quả sử dụng VĐT, lợi nhuận thu về cao hơn Đồng thời, ĐTTT ra nước ngoài còntạo dựng sự hợp tác và liên kết với nước ngoài để cùng nhau phát triển Qua đó, FDI giúp cácnước ĐPT không những hạn chế bớt sự cạnh tranh không cần thiết mà còn nhận được sự hỗ trợ,giúp đỡ về vốn, công nghệ từ đối tác tham gia liên kết, cũng như những ưu đãi về thuế… củaChính phủ nước tiếp nhận đầu tư
3.2 Xây dựng được thị trường cung cấp đầu vào ổn định - tận dụng được các nguồn lực ở nước ngoài một cách có hiệu quả hơn ở trong nước.
Nhu cầu về nguồn nguyên nhiên liệu tự nhiên, thị trường và đặc biệt là những “tài sản” có giátrị chiến lược khác như kỹ thuật, công nghệ và thương hiệu đã khiến nhiều công ty lớn tiến hànhmua lại quyền kinh doanh của những công ty khác Theo học thuyết nội bộ hoá do giới hạn vềđiều kiện tự nhiên (ngành lâm nghiệp không có đất thích hợp để trồng cao su), nên ĐTRNN đã làmột giải pháp kinh tế cao Lợi ích của việc nội bộ hoá là tránh được độ trễ về thời gian, việc mặc
cả khi mua bán nguyên nhiên liệu từ nước ngoài, và tình trạng thiếu người mua Ví dụ, một DNthép có thể đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu cung cấp và chị phí giao dịch cao khi muaquặng sắt từ nước ngoài, đặc biệt khi DN phải mua từ châu lục khác Nếu DN này mua lạimọtcông ty khai mỏ nước ngoài, tứclà tiến hành việc nội bộ hoá bao gồm cả việc mua luôn quặngsắt và chi phí vận chuyển, sẽ loại bỏ được tình trạng thiếu thốn nguyên liệu Hay một ví dụ khácnhư ngành lâm nghiệp trồng cây cao su; Điều kiện tự nhiên, đất đai ở Lào rất thích hợp cho câycao su, nên có thể đạt năng suất cao, đồng thời giá thành đầu tư thấp hơn so với trồng cao su ởTây Nguyên và duyên hải miền Trung
Hiệu quả sử dụng nguồn lực là vấn đề đóng góp vai trò quan trọng để giảm thiểu chi phí
trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi DN, nâng cao được sức cạnh tranh và tăng lợi
nhuận Vì khi tận dụng được nguồn lực ở nước ngoài, giảm được chi phí vận chuyển, chi phí dothuế nhập khẩu khi mua nguyên liệu từ nước ngoài, tận dụng những ưu đãi của nước tiếp nhậnđầu tư; giảm được chi phí quảng cáo và Marketing (do sản phẩm ở gần người tiêu dùng và thị
Trang 7trường tiêu thụ) Tức là giảm được chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm Hạn chế được phầnnào khó khăn thiếu vốn của các nước ĐPT khi ĐTRNN do giảm được tổng chi phí sản xuất Mộttrong những giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là ĐTTT ra nước ngoài Do LLSX phát triểnkhông đều giữa các quốc gia và sự phân bổ nguồn lực không đều trên thế giới đã tạo ra lợi thế và
sự khác nhau giữa nhu cầu, khả năng khai thác và hiệu quả khai thác nguồn lực ở mỗi nước Cóhiện tượng “thừa” nguồn lực ở một số nước và “thiếu” nguồn lực ở một số nước khác, dẫn đếnhiện tượng tìm kiếm và khai thác nguồn lực lẫn nhau giữa các nước nhằm tối ưu hoá hiệu quả sửdụng và phục vụ cho mục đích tăng lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, từ đó thúc đẩy nềnkinh tế nước đầu tư phát triển nhanh chóng ĐTTT ra nước ngoài tạo cơ hội cho các DN sử dụngmột cách có hiệu quả nguồn lực của nước chủ đầu tư, đồng thời tạo cơ hội cho các DN sử dụngđược một cách tốt nhất các nguồn lực dư thừa cuả nước tiếp nhận đầu tư
3.3 ĐTTT ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
ĐTRNN nói chung và ĐTTT ra nước ngoài nói riêng giúp cho DN của các nước ĐPT thíchnghi dần với thị trường khu vực, trường thế giới và việc tự do hoá thương mại khi Việt Nam gianhập tổ chức Thương mại thế giới WTO Vì vậy, ngoài mở rộng và phát triển thị trường trongnước, các DN còn tìm cách thâm nhập thị trường nước ngoài, tức là mở rộng thị trường tiêu thụsản phẩm của các DN ra nhiều nước khác trên thế giới Để có mặt trên một thị trường nước ngoài,các chủ đầu tư có nhiều hình thức xâm nhập khác nhau (xuất khẩu, cấp license, nhượng quyền,liên doanh góp vốn với chủ đầu tư nước sở tại, lập chi nhánh,…) DN có thể xâm nhập thị trườngnước ngoài bằng cách đơn giản là xuất khẩu sản phẩm của mình Tuy nhiên, hình thức này có thểgặp phải một số vấn đề như chi phí nghiên cứu thị trường cao, các rào cản thuế quan và phi thuếquan không cho phép xâm nhập hoặc xâm nhập nhưng với chi phí cao Tương tự, DN có thể cấplicense cho đối tác nước ngoài phân phối sản phẩm nhưng DN có thể gặp phải lo ngại về hành vi
cơ hội của đối tác dẫn đến những thiệt hại về uy tín, doanh thu và lợi nhuận cho DN Thêm vào
đó, thực tế đã chứng minh, các thị trường ở các nước thường không hoàn hảo, gây khó khăn choviệc giao dịch bằng con đường thương mại thông thường Vì lẽ đó, các DN thường ĐTTT ranước ngoài theo hình thức (FDI) thành lập các chi nhánh do mình sở hữu 100% hoặc sở hữu phầnlớn Khi đó, sản phẩm của các DN sẽ có nhiều người sử dụng hơn, nhiều người biết đến sản phẩmcủa các DN hơn Nếu sản phẩm chất lượng tốt và được người tiêu dung nước ngoài yêu thích thìđồng nghĩa với đó là khả năng cạnh tranh của sản phẩm của các DN đã được nâng cao Do đó,khả năng phát triển của DN ngày càng cao, tăng sự tự tin cho các DN, vị thế của quốc gia nóichung và của DN nói riêng cũng được nâng cao trên trường quốc tế và trong thương mại quốc tế
Trang 8ĐTRNN là lĩnh vực chứa đựng nhiều khó khăn thử thách, song cũng chính là cơ hội nếu các
DN biết nắm bắt để tạo ra khả năng mới cho nền kinh tế Chẳng hạn như việc thành lập công tyFDI 100% VĐT tại nước tiếp nhận đầu tư, thì sản phẩm sẽ gần gũi với người tiêu dùng hơn, dễdàng tiếp cận và thâm nhập vào thị trường nước ngoài hơn so với việc xuất khẩu hàng hoá từtrong nước ra nước ngoài
3.4 ĐTTT ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư tránh được hàng rào thuế quan và hàng rào bảo hộ phi thuế quan của nước nhận đầu tư.
Mặc dù nhận thức được rằng tự do hoá đầu tư, tự do hoá thương mại góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và phân bổ nguồn lực trên thế giới một cách có hiệu qủa nhất Song, do nhiều lý
do khác nhau, nhiều quốc gia trên thế giới vẫn đặt ta các hàng rào bảo hộ khác nhau nhằm thựchiện các mục đích bảo hộ của mình như: Hàng rào thuế quan, giấy phép nhập khẩu, hạn ngạchnhập khẩu…hay các hàng rào tinh vi khác như: các yêu cầu về vệ sinh môi trường, vệ sinh sảnxuất, về điều kiện làm việc của người sản xuất hàng hoá, về tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật củahàng hoá…ĐTRNN là biện pháp hữu hiệu để các DN tránh hàng rào bảo hộ thương mại và dễdàng hơn trong việc đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường nước ngoài Không những thế,ĐTRNN các DN còn có thế tận dụng những ưu đãi trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài của nước tiếp nhận đầu tư; tận dụng những thuận lợi về luật đầu tư, các chính sách thuế củaChính phủ các nước tiếp nhận đầu tư
ĐTRNN cũng giúp các DN, các nhà đầu tư khẳng định được khả năng, bản lĩnh, trình độ củamình nói riêng và của nước chủ đầu tư nói chung đối với nước tiếp nhận đầu tư Qua đó, nângcao uy tín chính trị của các nước đầu tư trên trường quốc tế
3.5 ĐTTT ra nước ngoài có thể kéo dài vòng đời sản phẩm - đổi mới công nghệ
Mỗi sản phẩm có một vòng đời, từ khi xuất hiện cho đến khi bị đào thải; vòng đời này dài hayngắn tuỳ vào từng sản phẩm Theo lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm (Internationalproduct life cycle – IPLC) của Raymond Vernon, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sảnxuất tại nước phát minh ta nó và được xuất khẩu đi các nước khác Nhưng khi sản phẩm mới đãđược chấp nhận rộng rãi trên thị trường thì sản xuất bắt đầu được tiến hành ở các nước khác Cụthể vòng đời quốc tế của một sản phẩm gồm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Sản phẩm mới xuất hiện Giai đoạn này, người tiêu dung chú trọng đến chấtlượng và độ tin cậy hơn là giá sản phẩm Quy trình sản xuất chủ yếu là sản xuất nhỏ
+ Giai đoạn 2: Sản phẩm chín muồi, nhu cầu tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các đối thủ cạnhtranh trong và ngoài nước xuất hiện vì thấy có thể kiếm được nhiều lợi nhuận Nhưng dần dần
Trang 9nhu cầu trong nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngoài tiếp tục tăng Xuất khẩu nhiều (đạt đếnđỉnh cao) và các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu được xây dựng (sản xuất mở rộng thông quaFDI) Giá trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định của người tiêu dùng.
+ Giai đoạn 3: Sản phẩm được tiêu chuẩn hoá, thị trường ổn định, hàng hoá trở nên thôngdụng, các DN chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá
để tăng năng lực cạnh tranh Cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các thị trường trong nước trì trệ, cần
sử dụng lao động rẻ hơn thôg qua FDI Nước xuất khẩu sản phẩm nay trở thành nước chủ đầu tư
và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm sản xuất trong nước không còn cạnh tranhđược về giá bán trên thị trường quốc tế
Như vậy, với những sản phẩm đã “bão hòa” tại thị trường trong nước, đòi hỏi phải chấm dứtchu kỳ sản xuất kinh doanh sản phẩm đó trên thị trường trong nước, thì ĐTRNN là một giải pháptối ưu vì đối với thị trường nước khác, sản phẩm đó vẫn có thể tiếp tục “sống” và đem lại hiệuquả cho nhà sản xuất Trong trường hợp này, nhà sản xuất có thể di chuyển máy móc thiết bị vàcông nghệ sản xuất sang các nước đó để sản xuất, kéo dài “tuổi thọ” của sản phẩm
Hơn nữa, trong thời đại bùng nổ Khoa học – Công nghệ và CNTT thì ĐTTT ra nước ngoài làmột trong những phương pháp ít tốn kém nhất mà các DN các nước ĐPT có thể áp dụng để tiếpcận với KHCN cao, học hỏi những ứng dụng trong CNTT Đây chính là một khoản lợi nhuận vôhình mà DN nhận được khi thực hiện ĐTTT ra nước ngoài; Để có thể áp dụng các tiến bộ mới vềKHCN trên thế giới (trong nước chưa có điều kiện triển khai) vào DN và tận dụng các máy mócthiết bị tiến bộ này, các DN có thể xúc tiến đầu tư tại những quốc gia thích hợp (các nước pháttriển) để chuyển các máy móc đó tới để đầu tư Đây là hình thức đi tắt đón đầu rất hiệu quả; Nó
mang lại lợi nhuận kép cho các nhà đầu tư
3.6 Giảm thiểu rủi ro
Rủi ro một yếu tố không thể tránh khỏi trong quá trình đầu tư kể cả đó là rủi ro có thể lườngtrước hoặc những rủi ro không lường trước được Rủi ro được coi như bạn đồng hành của quátrình đầu tư Và theo nguyên tắc “không bỏ chung trứng cùng một giỏ” thì một trong những giảipháp hiệu quả để giảm thiểu hay san sẻ rủi ro trong đầu tư cho các DN là thực hiện ĐTTT ranước ngoài, đa dạng hoá các danh mục đầu tư Hạn chế được rủi ro về mặt lạm phát, rủi ro về tỷgiá… Mặt khác, ĐTRNN còn tạo ra những khoản thu ngoại tệ cho các DN, góp phần làm tăngngoại tệ của đất nước, giúp cho cán cân thanh toán được ổn định và phát triển theo chiều hướngtốt
Ngoài những vai trò kể trên, ĐTTT ra nước ngoài còn có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân
Trang 10lực trong quản lý sản xuất, trong kỹ thuật sản xuất đối với lực lượng lao động trong nước; các DN
ĐTTT ra nước ngoài có điều kiện học hỏi kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoạch định chính
sách quản lý kinh tế, trong việc tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng với cácthành phần kinh tế, các chủ thể khác nhau trên thị trường trong nước
II ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
1 Xu thế tất yếu của đầu tư nước ngoài
Khi nói đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Việt Nam nói riêng và các nước ĐPT nóichung vẫn quen nghĩ đến các công ty nước ngoài đầu tư vào trong nước chứ dường như khôngnghĩ đến các công ty trong nước ĐTRNN Tại sao không khi mà hoạt động đầu tư trực tiếp ranước ngoài đã và đang diễn ra mạnh mẽ không những chỉ ở các nước phát triển mà cả ở các nướcĐPT Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm 2005 thì xu hướng đầu tư ra nước ngoài của cácnước ĐPT đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây ĐTRNN nói chung và ĐTTT ranước ngoài nói riêng là một xu thế tất yếu, khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tếngày nay Quá trình phân công lao động và quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới diễn ra ngàycàng sâu rộng, giúp các quốc gia phát huy lợi thế so sánh của mình khi tham gia ĐTRNN, đồngthời khắc phục được mặt hạn chế về công nghệ và năng lực quản lý và làm tăng hiệu quả hoạtđộng kinh tế trong nước thông qua việc tiếp nhận ĐTTT từ nước ngoài Như vậy có sự tác độngđồng thời của bản thân hoạt động đầu tư đối với cả nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Đây
là cơ sở của sự gia tăng xu hướng đầu tư cả hai chiều thay cho khuynh hướng đơn phương, mộtchiều trước đây; Là minh chứng cho sự mạnh dần lên của xu hướng đầu tư lẫn nhau giữa cácquốc gia trên thế giới và nó là một xu hướng mang tính tất yếu khách quan
Ta thấy rằng, mỗi nền kinh tế của mỗi quốc gia lại có những thế mạnh riêng Thế mạnh cơbản mà các nước phát triển chiếm lĩnh và phát huy ở các nước ĐPT là VĐT lớn cũng như trình
độ KHCN hiện đại, phát triển ở mức cao Còn điểm mạnh mà các nước ĐPT có thể phát huy ởcác nước phát triển là môi trường kinh doanh của các nước này rộng lớn, khiến cho nhiều lĩnhvực đầu tư còn bị bỏ ngỏ hoặc chi phí để thực hiện một số lĩnh vực đầu tư đối với họ còn tươngđối cao so với các nước ĐPT khi các nước này trực tiếp thực hiện chúng Các nước ĐPT cũng cóthể đầu tư sang các nước kém phát triển hơn; khai thác thế mạnh mình ở các quốc gia khác
Xét trên một khía cạnh khác, chính những lợi thế so sánh của từng quốc gia, xuất hiện hiệntượng chuyên môn hoá nhằm thực hiện công việc một cách có hiệu quả nhất Song nền kinh tếđòi hỏi phải có sự phát triển đa dạng, phong phú Xuất phát từ nhu cầu đó mà xuất hiện sự hợptác, liên kết giữa các quốc gia bằng các hình thức ĐTRNN, nhằm tận dụng các nguồn lực của
Trang 11nhau để tăng hiệu quả VĐT Đồng hành với quá trình này là sự cạnh tranh, sự chạy đua giữa cácquốc gia trên trường quốc tế Có nghĩa là ngoài việc cùng nhau liên kết hợp tác với nhau thì mỗinước đều phải tích cực nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để tạo ra những bước tiến vượtbậc, đuổi kịp các nước phát triển
Như vậy, hoạt động ĐTTT ra nước ngoài là xu thế tất yếu khách quan và cần thiết để cácnước ĐPT có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới; nỗ lực săn lùng nguồn tài nguyên thiên nhiên,thị trường và các tài sản có tính chiến lược, gồm cả công nghệ và thương hiệu; nắm lấy cơ hội đểphát triển nền kinh tế đất nước
2 Các hình thức ĐTTT ra nước ngoài của các DN ở các nước ĐPT
Ở các nước ĐPT, ĐTTT ra nước ngoài thường được thực hiện theo kênh GI Với những hìnhthức thường được áp dụng phổ biến là:
2.1 Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BBC):
Đây là hình thức mà hai hay nhiều bên hợp tác kinh doanh với nhau dựa trên cơ sở hợp đồnghợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hặc nhiều bên để tiến hành hoạtđộng đầu tư tại nước sở tại, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh chomỗi bên
Đặc điểm:
- Không thành lập pháp nhân mới
- Hoạt động dựa trên văn bản ký kết giữa các bên Khi hết thời gian hiệu lực thì các bênkhông còn rang buộc về mặt pháp lý
Ở Trung Quốc, hình thức này chiếm khoảng 15,3% tổng số dự án và 25,9% số VĐT vào ỞViệt Nam, chiếm 6,7% số dự án và 10,3% số vốn nước ngoài đầu tư vào trong thời gian qua.Hình thức hợp tác kinh doanh chủ yếu ạp dụng trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, dịch
vụ bưu chính viễn thông…
2.2 Hình thức doanh nghiệp liên doanh:
DN liên doanh là DN được thành lập do một hặc nhiều chủ đầu tư nước ngoài góp chung vốnvới FN nước sở tại trên cơ sỏ hợp đồng liên doanh
Đặc điểm:
- Thành lập DN có tư cách pháp nhân
- Các bên cùng tham gia điều hành DN, chia lợi nhuận và chịu tủi ro theo tỷ lệ góp vốn củamỗi bên Có nước quy định mức góp vốn tối đ a, có nước quy định mức góp vốn tối thiểu vào
Trang 12vốn pháp định của chủ đầu tư nước ngoài.
Quy định tối đa nhằm bảo vệ chu quyền quốc gia, dân tộc và cũng do nước sở tại không quáthiếu vốn Nhật Bản quy định mức góp tối đa là 49% vốn pháp định vào nhiều lĩnh vực
Quy định tối thiểu nhằm mục đích thu hút càng nhiều vốn càng tốt Ví dụ như Việt Nam mứcvốn góp tối thiểu chủ đầu tư nước ngoài là 30% vốn pháp định của DN liên doanh
Ở Trung Quốc, hình thức liên doanh chiếm 63,7% số dự án, và 48,4% số VĐT vào Ở ViêtNam, là 49,1% số dự án và 66,1% số VĐT vào trong thời gian qua
- DN 100% vốn nước ngoài là một pháp nhân của nước nhận đầu tư Ở Trung Quốc, loại hình
DN này chiếm 21,1% số dự án, 25,7% số VĐT vào Ở Việt Nam là 45,2% số dự án và 23,6% sốVĐT vào trong thời gian qua
2.4 Hình thức hợp đồng xây dưng – kinh doanh - chuyển giao BOT.
Đây là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại với nhà đầu tưnước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cầu hạ tầng trong một thời hạn nhất định Hếtthời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn hoặc với một giá tượng trưng côngtrình đó cho nước sở tại BOT lần đầu tiên được ghi vào luật Việt Nam năm 1990
Các hình thức biến tướng của BOT là BT và BTO.
BTO: hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao – Kinh doanh Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhànước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xâydựng xong, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại Chính phủ nước sở tại sẽ cùngvới nhà đầu tư nước ngoài khai thác công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn vàđảm bảo có lãi
BT – hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao:là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước sở tại vànhà đầu tư nước ngoài về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xongnhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại Chính phủ nước sở tại tạo điều kiện chonhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi VĐT và có lợi nhuận hợp lý
Ngoài ra, hình thức FDI còn có thể phân loại theo nguồn tính chất dòng vốn và phân loại theo
Trang 13động cơ của nhà đầu tư
2.5 Phân theo tính chất dòng vốn
2.5.1 Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu DN do một công ty trong nướcphát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty
2.5.2 Vốn tái đầu tư
DN có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ đểđầu tư thêm
2.5.3 Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay
để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu DN của nhau
2.6 Phân theo động cơ của nhà đầu tư
2.6.1 Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và rồi rào ở nước tiếpnhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn laođộng kỹ năng rồi rào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thươnghiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng) Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sảntrí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tàinguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
2.6.2 Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giánguyên liệu và giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất: điện nước, chi phí thông tin liên lạc,giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v
2.6.3 Vốn tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnhtranh giành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tếgiữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhậpvào các thị trường khu vực và toàn cầu
3 Những điều kiện cần thiết để các DN tiến hành ĐTTT ra nước ngoài
3.1 Những điều kiện về phía DN
Mặc dù khi ĐTTT ra nước ngoài gặp nhiều rủi ro hơn khi đầu tư trong nước (như rủi ro chínhtrị, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro văn hoá – xã hội…), nhưng các nhà đầu tư vẫn tích cực tìm khai
Trang 14thác lợi thế so sánh của nước sở tại với hy vọng tìm được mảnh đất mà ở đó tiền vốn có khả năngsinh lời cao hơn, tạo ta một “chiếc bánh thứ hai” cho nền kinh tế Tuy nhiên, để có thể tiến hànhĐTTT ra nước ngoài, điều kiện tiên quyết đầu tiên là phải tuân theo đúng quy định của pháp luậtghi rõ trong Luật đầu tư ra nước ngoài của mỗi nước (ở Việt Nam hoạt động ĐTRNN được quyđịnh trong chương VIII trọng bộ Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và đã được bổ sung sửa đổi năm 2006); bên cạnh đó các
DN của các nước ĐPT cần đảm bảo một số yêu cầu như:
Thứ nhất, các DN cần có tiềm lực tài chính mạnh.
ĐTRNN thực chất là quá trình di chuyển vốn ở phạm vi quốc tế từ nước đầu tư tới nước nhậnđầu tư VĐT bao gồm các nguồn lực tài chính và nguồn lực hiện vật để sử dụng trong quá trìnhsản xuất kinh doanh, xây dựng các nhà máy mới, duy trì và mở rộng các tiềm lực sẵn có… Vốn làyếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ DN, tổ chức nào Muốn cạnh tranh được trên thị trường thìcác DN phải đủ mạnh, có nghĩa là phải cần có một nguồn vốn dồi dào, hay tiềm lực tài chínhmạnh, các DN phải có một quá trình lâu dài tích tụ và tập trung vốn Đồng thời muốn đứng vữngtrong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và thu được lợi nhuận thì các công ty phải đủ sứccạnh tranh bằng sản phẩm của mình Đòi hỏi sản phẩm phải được đầu tư đầy đủ về cả vốn lẫncông nghệ
Trên thế giới hiện nay có một xu thế khá phổ biến là sự xuất hiện của tập đoàn kinh tế vàđóng vai trò quan trọng trong việc tích tụ và tập trung vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh, mởrộng thị trường và tối đa hoá lợi nhuận Hình thức này chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển.Đối với các nước ĐPT vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độphát triển của lực lượng sản xuất, nhiều Tổng công ty lớn ra đời là tiền đề để tiến tới thành lậpcác tập đoàn kinh tế mạnh Có thể từ Tổng công ty tiến lên thành lập tập đoàn kinh tế sẽ đảm bảotiềm lực tài chính vươn ra thị trường thế giới, hình thành các công ty xuyên quốc gia Khi đó,việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ trở nên dễ dàng
Thứ hai, kiến thức và trình độ KH-CN của các DN phải đạt tới mức độ có thể cạnh tranh
trên thị trường nước nhận đầu tư, hoặc có những bí quyết kỹ thuật, kỹ năng riêng có để sản xuất sản phẩm
Một tổ chức kinh tế muốn thực hiện ĐTTT ra nước ngoài phải có thế mạnh về kiến thức vàKH-CN bao gồm tất cả các hoạt động phát minh (sản phẩm mới, quy trình sản xuất, kỹ năngMarketting và quản lý, năng lực sáng tạo, nền tảng kiến thức của DN) Trình độ KH-CN là yếu tốquan trọng thứ hai liên quan đến hiệu quả của hoạt động ĐTTT ra nước ngoài KH-CN giúp các
Trang 15nhà sản xuất tạo ra được những sản phẩm mang tính chất đặc thù của mình, và các sản phẩm cóhàm lượng chất xám và công nghệ cao Giúp các nhà sản xuất giữ được vị thế độc quyền củamình về sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và của cả DN Tuy nhiên, điềunày cũng đòi hỏi các DN phải có nguồn lực lớn đủ mạnh chi phối các yếu tố đầu vào của sản xuất
và công nghệ nhỏ không đủ sức làm được Đối với các DN vừa và nhỏ phải tìm được những
“khoảng trống” thị trường hay có những bí quyết kỹ thuật, những tiến bộ mới của KH-CN mới
có thế ĐTRNN hiệu quả
Thứ ba các DN phải có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh là một tất yếu Năng lực cạnh tranh của DN thểhiện chủ yếu ở hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại cũng như tương lai: sảnphẩm của DN có khả năng cạnh tranh cao, được người thị trường chấp nhận, DN được tổ chứchợp lý, năng động, áp dụng KH-CN tiên tiến, đội ngũ cán bộ và công nhân giỏi chuyên môn; cókhả năng tiếp cận nguồn vốn cho việc đầu tư theo chiều rộng lẫn chiều sâu Song, để chiến thắngtrong cạnh tranh DN phải tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình và luôn thay đổi để tạo ra thị trườngchứ không phải chỉ tìm cách nâng cao thị phần, vượt qua những bất lợi Năng lực cạnh tranhmạnh mẽ đảm bảo cho DN có thể tồn tại và chiến thắng ở những nơi mà DN tiến hành đầu tư sảnxuất kinh doanh Như vậy, khả năng cạnh tranh của DN chính là điều kiện cần thiết cho DN tiếnhành đầu tư ở nước ngoài Các nước ĐPT nói chung và Việt Nam nói riêng có xuất phát điểmthấp, thiếu vốn và kinh nghiệm quản lý, trình độ công nghệ chưa cao… nên rất cần một chiếnlược thích hợp nhằm nâng cao sức cạnh tranh Có như vậy mới tạo điều kiện cho các DNĐTRNN hoạt động hiệu quả
Thứ tư, các DN phải có nguồn nhân lực đủ năng lực đầu tư, quản lý sản xuất, kinh
doanh, có tính tổ chức cao và có đạo đức nghề nghiệp:
Đây là điều kiện đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ĐTTT ra nước ngoài, mang tínhchiến lược để đạt hiệu quả đầu tư lâu dài và bền vững, bao gồm các yếu tố như trình độ chuyênmôn, ngoại ngữ, đạo đức nghề nghiệp… Trong tình hình hiện nay, khi hội nhập giữa các nềnkinh tế trong khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, hoạt động ĐTRNN cũng đang từng bước đivào chiều sâu trong cơ chế thị trường luôn luôn biến động Vì vậy, cần thiết phải có đội ngũ cán
bộ tiếp nhận và hướng dẫn đầu tư có trình độ năng lực, am hiểu sâu sát để phân tích tình hình, lựachọn đối tác đầu tư đúng mục tiêu đề ra Ngoài ra, do sự khác biệt về ngôn ngữ, khác biệt về vănhoá, về tập quán và luật pháp nên khi ĐTRNN còn phát sinh rất nhiều quan hệ phức tạp, đòi hỏinguồn nhân lực của các DN phải có nhận thức sâu sắc về nhiều mặt, tính độc lập cao và kỹ năng
Trang 16xử lý các tình huống Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lực, trước khi ĐTRNN, các DNcần đào tạo, kiểm tra trình độ nhân lực trước đồng thời cần tạo điều kiện để họ có khả năng thíchứng được nhanh với điều kiện làm việc mới Có như vậy, DN mới đảm bảo gặt hái được nhiềuthành công khi ĐTTT ra nước ngoài.
3.2 Các chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước của chủ đầu tư
Nhiều quốc gia trên thế giới mặc dù đã nhận thức được hội nhập kinh tế là một tất yếu kháchquan, song họ chỉ coi trọng việc dòng chảy vào trong nước còn dòng chảy ra tức là đem tiền ranước ngoài đầu tư là đất nước bị hụt vốn Đây là một quan điểm phi kinh tế, ĐTRNN không chỉ
là cần mà còn là một xu hướng tất yếu Thực tế thế giới đã chứng tỏ rằng: một nước mà dòngĐTTT ra nước ngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường và tăng cơ hộiđầu tư kinh doanh, tăng việc làm và tăng động lực phát triển kinh tế đất nước ĐTRNN là mộtlĩnh vực khá mới nên nhiều DN của Việt Nam cũng như các nước ĐPT khác vẫn còn xa lạ vớiĐTRNN Một phần vì chưa đủ lực, phần khác vì môi trường pháp lý chưa cho phép Do vậy màĐTTT ra nước ngoài phụ thuộc rất nhiều vào đường lối chính sách và các biện pháp hỗ trợ từphía nhà nước Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn cả trực tiếp và gián tiếp đến việc định hướng vàđến lượng vốn của nước đó chảy ra nước ngoài
Thứ nhất, ảnh hưởng của chính sách kinh tế vĩ mô đến hoạt động ĐTTT ra nước ngoài
Những chính sách kinh tế vĩ mô tác động mạnh mẽ đến thúc đẩy ĐTTT ra nước ngoài baogồm: ưu đãi về thuế, chính sách tài chính - tiền tệ, xuất khẩu và quản lý ngoại hối… Các chínhsách này có liên quan đến các mặt như hiệu quả sử dụng vốn của nhà đầu tư (hiệu quả trong nướccàng cao thì họ càng ít ĐTRNN), khả năng xuất khẩu (trong nước càng khó xuất khẩu thì các nhàđầu tư càng muốn ĐTRNN) và khả năng nhập khẩu (càng dễ nhập khẩu các sản phẩm từ nướcngoài thì các nhà đầu tư càng muốn chuyển sản xuất ra nước ngoài sau đó nhập khẩu sản phẩm
đó về nước…)
Các ưu đãi thuế và tài chính, có thể dưới dạng các hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các chủ đầu tư(chính phủ cấp vốn, cấp tín dụng hoặc tham gia góp vốn vào dự án đầu tư ở nước ngoài); hỗ trợxây dựng cơ sở hạ tầng (khu công nghiệp, khu chế xuất, cầu, đường,…); tài trợ cho các chươngtrình đào tạo cảu các dự án FDI ở nước ngoài; miễn hoặc giảm thuế (miễn thuế chuyển nhượngtài sản, giảm thuế cho các chủ đầu tư đầu tư vào các ngành hay địa bàn khuyến khích đầu tư,…),hoãn nộp thuế đối với các khoản thu nhập từ đầu tư ở nước ngoài
Sự thay đổi các chính sách tài chính - tiền tệ từ thắt chặt sang nới lỏng hoặc ngược lại hoặchỗn hợp sẽ tác động mạnh đến lãi suất thực tế, từ đó làm tăng hoặc giảm khả năng tạo lợi nhuận
Trang 17của các nhà đầu tư Ví dụ, việc chuyển chính sách “nới lỏng tiền tệ - thắt chặt tài chính” sangchính sách “thắt chặt tiền tệ - nới lỏng tài chính” làm cho mức lãi suất thực tế tăng cao, nhờ đógóp phần cải thiện môi trường đầu tư nội địa, đầu tư trong nước có hiệu quả, tuy nhiên chính sách
đó lại không khuyến khích ĐTTT ra nước ngoài
Bên cạnh đó, sự thay đổi chính sách tài chính - tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát, qua
đó tác động gián tiếp làm đến ĐTRNN Khi lạm phát cao, đồng tiền nội địa bị mất giá và khi đócùng một đơn vị tiền tệ nội địa sẽ mua được ít hơn các dịch vụ đầu tư ở nước ngoài, vậy ĐTTT ranước ngoài giảm Ngược lại, nếu đồng tiền của nước đầu tư lên giá so với đồng ngoại tệ khác, cácnước đó sẽ tăng cường ĐTTT ra nước ngoài
Các chính sách xuất - nhập khẩu như Hiệp định thương mại song phương và đa phương củanước đầu tư sẽ tạo cơ hội cho hàng hoá của các công ty ở nước này thâm nhập vào thị trườngnước ngoài dễ dàng, tức là rào cản thương mại bị giảm xuống, và sẽ tạo động lực, tác động đếnhoạt động ĐTTT ra nước ngoài
Các chính sách nới lỏng hoặc thắt chặt quản lý ngoại hối ở nước đầu tư theo hướng tự do hoáthị trường vốn các nhà đầu tư được quyền tự do chuyển vốn ra nước ngoài Ngược lại, với chínhsách quản lý ngoại hối thắt chặt, họ phải tuân thủ các quy chế giới hạn quyền chuyển vốn ra khỏiquốc gia, làm hạn chế khả năng ĐTRNN của các chủ đầu tư
Thứ hai, các hoạt động thúc đẩy, hỗ trợ ĐTTT ra nước ngoài từ phía Chính phủ.
Các hoạt động thúc đẩy, hỗ trợ ĐTTT ra nước ngoài của các nước chủ đầu tư bao gồm: Hiệpđịnh song phương và đa biên về đầu tư hoặc có liên quan đến đầu tư; Hiệp định tránh đánh thuếhai lần; các trợ giúp về tài chính trong các hoạt động xúc tiến đầu tư, bảo hiểm đầu tư, cung cấpcác thông tin đầy đủ về môi trường đầu tư ở nước ngoài, chính sách đối ngoại của nước đầu tư… Việc ký kết các hiệp định đầu tư với nước ngoài là cơ sở pháp lý quan trọng hàng đầu để đảmbảo tin tưởng cho các nhà đầu tư Hiệp định đầu tư song phương (Bilateral Investment Treaties –BITs) là Hiệp định được ký kết giữa nước đầu tư với nước nhận đầu tư, còn Hiệp định đầu tư đabiên (Multibilateral Agreement on Investment – MAI) là hiệp định được ký kết giữa các Chínhphủ của một nhóm nước với nhau Các hiệp định này thường có các quy định bảo hộ và khuyếnkhích hoạt động đầu tư giữa các nước thành viên Nội dung các Hiệp định này quy định nhữngnguyên tắc cơ bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình tiếp cận vàkinh doanh ở các nước nhận đầu tư Việc ký kết các hiệp định đầu tư với các nước là yếu tố quantrọng có tính quyết định thúc đẩy DN trong nước ĐTTT ra nước ngoài
Hiệp định tránh thuế hai lần (Double Taxation Treaties - DTTs) giữa nước đầu tư với nước
Trang 18ngoài, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chỉ phải nộp thuế một lần tại nước nhận đầu tư, nhờ
đó họ giảm bớt được chi phí đầu tư và tăng lợi nhuận Việc này tạo ra sự hấp dẫn về tài chính,khuyến khích các nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài, các DN ĐTTT ra nước ngoài
Ngoài ra, ĐTTT ra nước ngoài có nguy cơ gây ra cho các chủ đầu tư rủi ro cao hơn đầu tưtrong nước nên cũng cần phải áp dụng các chính sách bảo hiểm cho hoạt động ĐTTT ra nướcngoài Có thể là Chính phủ đứng ra bảo hiểm cho các hoạt động đầu tư ở nước ngoài Cũng có thể
là các DN Bảo hiểm tư nhân bán các hợp đồng bảo hiểm cho các chủ đầu tư nước ngoài để bảohiểm chống lại một số rủi ro Tuy nhiên, có nhiều rủi ro đặc biệt là các rủi ro về chính trị và phithương mại (bị quốc hữu hoá, tổn thất do chiến tranh…) các công ty bảo hiểm tư nhân không sẵnsàng đứng ra bảo hiểm Vì vậy, nếu Chính phủ các nước đứng ra bảo hiểm cho các rủi ro này thìcác nhà đầu tư của các nước đó sẽ yên tâm hơn khi tiến hành ĐTRNN
Bên cạnh đó, để khuyến khích hoạt động ĐTTT ra nước ngoài, Chính phủ các nước ĐPT cóthể trợ giúp các nhà đầu tư của mình tiếp cận thị trường đầu tư nước ngoài thông qua việc thànhlập các trung tâm xúc tiến đầu tư, các tổ chức hỗ trợ đầu tư ở nước ngoài, phát triển các dịch vụ
hỗ trợ nhà đầu tư, hỗ trợ về tiếp cận nguồn vốn, hỗ trợ lãi suất…dành các ưu đãi thương mại(thuế quan và phi thuế quan) cho các hàng hoá của các nhà đầu tư nước mình sản xuất ở nướcngoài và xuất khẩu trở lại nước đầu tư… Nước chủ đầu tư cũng có thể đàm phán để nước nhậnđầu tư dỡ bỏ các rào cản đối với FDI và với thương mại giữa hai nước Nước chủ đầu tư có thểtham gia vào các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế, để tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư nướcmình trong quá trình đầu tư và tiến hành trao đổi thương mại với các nước khác
Chính phủ hoặc các cơ quan của Chính phủ đứng ra cung cấp cho các nhà đầu tư các thôngtin cần thiết về thị trường, đối tác, về cơ hội và kinh nghiệm kinh doanh, thông tin về môi trườngđầu tư ở nước ngoài (hành lang pháp lý, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, các thông tin cụ thểcủa ngành, lĩnh vực hay địa bàn đầu tư; mở các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm của DN… Đồng thời, hỗ trợ kỹ thuật cho nước nhận đầu tư để cải thiện môi trường đầu tư, cải cách luậtpháp, chính sách theo hướng rõ ràng, minh bạch hơn nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính
cũng sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động FID Đây là yếu tố tác động tích cực tới việc thúc đẩy ĐTTT
ra nước ngoài ở các nước ĐPT (có Việt Nam.)
Ngoài ra , đối với các nước công nghiệp phát triển thì Chính phủ còn có thêm chính sáchkhuyến khích chuyển giao công nghệ để khuyến khích các chủ đầu tư của nước mình chuyển giaocông nghệ sang các nước ĐPT thông qua FDI
Bên cạnh các biện pháp khuyến khích đầu tư thì còn có một số chính sách của Chính phủ các
Trang 19nước nhằm hạn chế hoạt động ĐTRNN như: Hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài để kiểm soát cáncân thanh toán, hạn chế thâm hụt; Hạn chế bằng thuế như đánh thuế 2 lần; Hạn chế tiếp cận thịtrường (là các rào cản phi thương mại); Cấm đầu tư vào một số nước do căng thẳng trong quan hệngoại giao, chính trị…
II CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
1 Các nhân tố tại Việt Nam
Trước hết phải kể đến là nhận thức về tình hình quốc tế hoá nền kinh tế Qua các phân tích ởphần trên của đề tài ta thấy rằng: Đây là yếu tố quan trọng, tác động tích cực tới luồng đầu tưtrên thế giới
Cùng với đó là hệ thống chính sách pháp luật như: chính sách tài chính, tiền tệ; chính sách ưuđãi khuyến khích xuất khẩu; chính sách nhập khẩu hay như nới lỏng hoặc thắt chặt quản lý ngoạihối Các hoạt động thúc đẩy ĐTRNN như ký kết các hiệp định song phương, đa bên về đầu tư;Hiệp định tránh đánh thuế hai lần; hỗ trợ tài chính, bảo hiểm đầu tư và các chính sách đối ngoạicủa nước ta ;cung cấp thông tin, trợ giúp tiếp cận thị trường… Đây cũng là các chính sách hỗ trợ
từ phía nhà nước Việt Nam - những điều kiện cần thiết để DN trong nước có thế thực hiện dễdàng việc ĐTRNN
Song nếu làm không đúng rất có thể dẫn đến ĐTRNN và tạo việc làm trong nước có mốiquan hệ tỷ lệ nghịch với nhau, tăng cường ĐTRNN dẫn tới giảm đầu tư nội địa, làm giảm cơ hộiviệc làm trong nước, tăng tình trạng thất nghiệp và gia tăng tệ nạn xã hội Đòi hỏi Việt Nam phải
có những chính sách trợ cấp xã hội tốt, đặc biệt là trợ cấp thất nghiệp sẽ củng cố niềm tin chongười dân và giảm bớt áp lực từ làn sóng phản đối ĐTRNN tại Việt Nam
2 Các nhân tố tại nơi đầu tư
Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư ở nước ngoài, chủ đầu tư sẽ phải cân nhắc đến các điều kiệnsản xuất, kinh doanh ở địa điểm đó có thuận lợi hay không.Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,dân số cũng góp một phần quyết định đến việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư và khả năng sinh lợi của
dự án Nguồn nguyên vật liệu đầu vào phong phú, nhân công dồi dào và giá rẻ, vị trí địa lý thuậnlợi sẽ thu hút các nhà đầu tư vì như vậy sẽ giảm được chi phí và giá thành, tăng lợi nhuận cho chủđầu tư
Bên cạnh các yếu tố khách quan trên thì còn một số nhân tố tại nơi đầu tư tác động mạnh đếnquyết định ĐTRNN của các nhà đầu tư, các DN Việt Nam như: Chính sách, pháp luật cụ thể làkhung chính sách về FDI và các quy định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI; Các yếu tố của môi
Trang 20trường kinh tế như: Tình hình kinh tế, xã hội trong đó trình độ phát triển kinh tế hay các yếu tốthuận lợi trong kinh doanh.
2.1 Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư: bao gồm các quy định liên quan trực
tiếp đến FDI và các quy định có ảnh hưởng gián tiếp FDI
Các quy định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp đến FDI gồm các quy định vềviệc thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài (cho phép, hạn chế, cấm đầu tư vàomột số ngành, lĩnh vực; cho phép tự do hay hạn chế quyền sở hữu của các chủ đầu tư nước ngoàiđối với các dự án; cho phép tự do hoạt động hay áp đặt một số điều kiện hoạt động; có hay khôngcác ưu đãi nhằm khuyến khích FDI; ), các tiêu chuẩn đối xử đối với FDI và cơ chế hoạt động củathị trường trong đó có sự tham gia của thành phần kinh tế có VĐT của Nhà nước (cạnh tranh cóbình đẳng không, t hông tin có minh bạch, rõ ràng không,…) Các quy định ảnh hưởng trực tiếpđến khối lượng và kết quả của hoạt động FDI
Chính sách thương mại của nước nhận đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọnđịa điểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Chính sách tư nhân hoá liên quan đến việc cổ phần hoá, bán lại các công ty
Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có quan trọng đến sự ổn định của nền kinh tế Thuế thunhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các dự án FDI Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá các tài sản ở nước nhận đầu tư; giá trị cáckhoản lợi nhuận các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh tranh của các hàng hoá xuất khẩu củacác chi nhánh nước ngoài Một nước theo đuổi chính sách đồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi trongviệc thu hút đầu tư nước ngoài và xuất khẩu hàng hóa
Chính sách liên quan đến cơ cấu các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ (vùng nào, ngành nào
đã bão hoà rồi; hay không khuyến khích đầu tư)
Chính sách lao động: có hạn chế hay không hạn chế sử dụng lao động nước ngoài; ưu tiên haykhông ưu tiên lao động trong nước,…
Chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách y tế,… ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lựccung cấp cho các dự án FDI
Các quy định trong các hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham gia ký kết
2.2 Chính sách, pháp luật, chính trị ổn định
Tình hình ổn định chính trị của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng hàng đầu để thựchiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tưnước ngoài Vì ổn định chính trị tạo sự ổn định về kinh tế xã hội, giảm bớt độ rủi ro cho các nhà
Trang 21đầu tư quốc tế Việt Nam được thế giới đánh giá là nước có nền chính trị ổn định, ngay cả sau khigia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), chính vì thế hiện nay Việt Nam đang là một mảnhđất màu mỡ cho các nhà đầu tư nước ngoài Thực tế đã chứng minh, trong năm 2007 vừa qua,nguồn vốn FDI vào Việt Nam bùng nổ và đạt mức kỉ lục 20,3 tỷ USD Hay một ví dụ điển hìnhcho tác động của tình hình ổn định chính trị đó là Irắc Ta biết rằng, Irắc là nước có nguồn tàinguyên dầu mỏ vô cùng phong phú song tình hình bất ổn ở Irắc là một rào cản đối với các nhàđầu tư nước ngoài khi tiến hành tiếp cận đầu tư vào thị trường này Việt Nam đã có dự án thăm
dò dầu khí ở Irắc lên tới 100 triệu USD nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện.Chính sách sở hữu để kiểm soát hoạt động của nhà đầu tư, khống chế mức độ sở hữu là biệnpháp quan trọng để hạn chế mức độ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài Chẳng hạn nhưTrung Quốc chỉ cho phép hình thức này trong lĩnh vực công nghệ cao và sản xuất hàng xuấtkhẩu Chính sách chuyển quản lý ngoại tệ, nới lỏng hay thắt chặt việc cho phép chuyển ngoại tệ
ra nước ngoài cũng tác động không nhỏ đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.Chính sách này có thể thay đổi theo từng thời kỳ, tuỳ từng tình hình cụ thể của mỗi nước
Sau khi dự án ĐTRNN của các DN, các nhà đầu tư được thông qua bởi các cấp có thẩmquyền trong nước thì các dự án của các chủ đầu tư còn phải chịu sự quản lý của các cơ quan cóthẩm quyền đại diện cho nước chủ nhà qua các khâu như cấp giấy phép, thẩm định dự án và quản
lý việc thực hiện dự án Nếu quá trình thẩm định kéo dài sẽ gây không ít khó khăn cho nhà đầu tư
và như vậy cũng ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư và các quyết định đầu tư của họ
Thủ tục hành chính cũng ảnh hưởng nhiều đến chi phí và cơ hội đầu tư Nhiều trường hợp chỉ
vì thủ tục hành chính quá rườm rà, mất nhiều thời gian mà khi hoàn thành xong các thủ tục theoquy định của nước nhận đầu tư thì cơ hội đầu tư cũng đã qua mất Thủ tục hành chính rõ ràng,minh bạch là một trong những tiêu chí quan trọng khi nhà đầu tư quyết định đầu tư tại nước đóhay không
Một đất nước có chính trị ổn định, môi trường pháp lý hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài, cácchính sách hợp lý và đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài sẽ là một tạo động lực tolớn đến quyết định đầu tư của các DN cũng như các nhà đầu tư nước ngoài
2.3.Yếu tố của môi trường kinh tế
Với các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu tố như dunglượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả năngtiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu dùng ở nước nhận đầu
tư và cơ cầu thị trường Một nước có dân số đông, GDP bình quân đầu người cao, GDP tăng
Trang 22trưởng với tốc độ cao, sức mua lớn sẽ có sức hấp dẫn đối với FDI vì đem lại cho chủ đầu tư cơhội tăng thị phần và lợi nhuận.
Với các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đến tài nguyên thiênnhiên, lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề, công nghệ, phát minh, sángchế, cơ sở hạ tầng cứng (cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng viễn thông…)Trình độ và chất lượng giáo dục cao là một nhân tố quan trọng khi các nhà đầu tư nước ngoàiđánh giá về nguồn nhân lực sẽ thu hút từ nước chủ nhà cho dự án, giảm được chi phí đào tạonguồn nhân lực cho các nhà đầu tư
Không phải lúc nào các chủ đầu tư nước ngoài cũng đem công nghệ cùng với vốn đi đầu tư ởcác nước khác Bản thân họ cũng kỳ vọng tìm được những công nghệ, phát minh sáng chế và cáctài sản mới do DN ở các nước nhận đầu tư sáng tạo ra và sở hữu độc quyền
2.4 Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh
Đó là các chính sách xúc tiến đầu tư, các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư; giảm cáctiêu cực bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hoạt độngcủa bộ máy quản lý Nhà nước; nâng cao chất lượng các dịch vụ tiện ích cho các chủ đầu tư; cácdịch vụ hậu đầu tư
Các ưu đãi, khuyến khích đầu tư (ưu đãi về thuế, về tài chính,…) giúp các chủ đầu tư tăng tỷsuất lợi nhuận, giảm chi phí hoặc hạn chế rủi ro
Tham nhũng của nước nhận đầu tư sẽ làm nản long các chủ đầu tư nước ngoài Tham nhũngkhiến cho chi phí đầu tư và chi phí kinh doanh tăng lên và các nhà đầu tư không thể dự đoántrước được chi phí có thể tăng đến mức nào Tham nhũng cũng làm cho các cơ hội đầu tư trở nênkhông chắc chắn Dù đã phải chi tiền cho các quan chức chính phủ nhưng các nhà đầu tư vẫnkhông biết chắc mình có được đầu tư hay không vì không co một rang buộc chặt chẽ nào từ phíacác quan chức này Chính vì vậy, nhiều khi không cần cân nhắc đến các yếu tố khác, khi thấy mộtnước có nhạn tham nhũng nặng nề, các chủ đầu tư sẽ không tìm đến nước đó nữa
Ngoài ra, FDI là một hoạt động lâu dài, vì vậy khi đầu tư ở đâu thông thường chủ đầu tư nướcngoài sẽ phải có thời gian nhất định sống và làm việc ở đó, có khi còn phải mang theo cả giađình Điều này khiến họ phải cân nhắc đến các dịch vụ tiện ích xã hội của nước nhận đầu tư xem
có đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của họ hay không Một nước không có các trườnghọc quốc tế dành cho người nước ngoài, chất lượng nhà ở thấp, các dịch vụ vui chơi giải trínghèo nàn sẽ khó thu hút được nhiều FDI
3 Các nhân tó thuộc môi trường quốc tế
Trang 23Đó là các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu có ổn định hay không, cóthuận lợi hay không thuận lợi cho nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư cũng như cho chính chủđầu tư khi tiến hành hoạt động ĐTRNN Môi trường đầu tư ngày càng được cải tiến và càng có
độ mở cao, dòng vốn FDI trên toàn thế giới sẽ dễ dàng lưu chuyển hơn và nhờ vậy lượng vốnFDI toàn cầu có thể tăng
Bên cạnh đó sự tương đối đồng điệu về quan niệm, văn hoá, tôn giáo, phong tục tập quán cũng là một yếu tố các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư Với các nhà đầu tư Việt Namthì Lào và Campuchia là mảnh đất quen thuộc để đầu tư và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trongtổng số dự án cũng như tổng số VĐT ra nước ngoài của Việt Nam
III KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC KHUYẾN KHÍCH THÚC ĐẨY CÁC DOANG NGHIỆP ĐTTT RA NƯỚC NGOÀI
Trong xu thế toàn cầu hoá, cùng với việc thu hút VĐT từ bên ngoài, ĐTRNN là phương thứckhông thể thiếu ở một quốc gia thực hiện chính sách mở cửa để tạo thế chủ động hội nhập kinh tếquốc tế ĐTTT ra bên ngoài trên đà phát triển và bùng nổ, đặc biệt chiểm ưu thế là các nước pháttriển như Mỹ, Nhật Bản, EU…có số lượng DN ĐTRNN rất lớn Ở một số nước ĐPT hiện nay,ngoài việc tiếp nhận FDI từ các nước phát triển, đang cố gắng từng bước vươn lên trở thành cácnhà đầu tư quốc tế có uy tín, như Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc…Nhất là Trung Quốc - nước có một số điểm tương đồng với Việt Nam, sau khi trở thành thànhviên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đã khai thác được nhiều lợi thế để dần từng bướctrở thành “nhà đầu tư lớn” của thế giới Vì vậy, thông qua kinh nghiệm ĐTTT ra nước ngoài củacác quốc gia này, Việt Nam có thể rút ra những bài học thiết thực để phát triển hoạt độngĐTRNN của các DN Việt Nam
1 Chính sách và kinh nghiệm vủa Hàn Quốc
12/1968 Điều Luật về đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc được ban hành Chính phủ HànQuốc luôn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các Công ty, tập đoàn; có sự ưu đãi (đặcbiệt về vốn) và luôn khuyến khích các DN vươn ra hoạt động ở nước ngoài 1975 ĐTRNN củaHàn Quốc bước sang giai đoạn mới, đầu tư vào ngành thương mại và xây dựng tăng rất nhanh doquy mô đầu tư được mở rộng ra toàn cầu; và sau gần 20 năm kể từ năm 1959 – manh mún vềĐTRNN – 1977, lần đầu tiên Hàn Quốc đã đưa tổng số vốn ĐTRNN lên 77triệu USD, thông qua
80 chi nhánh ở 80 trung tâm kinh doanh quan trọng trên toàn thế giới
Kể từ năm 1980, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện các chính sách nới lỏng về VĐT ra nướcngoài đối với các công ty; tập trung mở rộng khả năng đầu tư ở các nước chưa có quan hệ ngoại
Trang 24giao; bãi bỏ các điều luật và điều lệ gây hạn chế ĐTRNN Vì vậy, ĐTRNN của Hàn Quốc tăngnhanh Tiếp đó, 4/1982, hệ thống quản lý VĐT ra nước ngoài được áp dụng Các hoạt động vớigiá 100.000 USD trở lên đều do Ngân hàng Hàn Quốc phê chuẩn Từ năm 1984, Chính phủkhuyến khích mạnh mẽ các công ty hoạt động trong các ngành công nghiệp tiêu biểu Năm 1986,Hàn Quốc trong tình trạng dư ngoại tệ, giá nhân công tăng vọt làm cho chi phí sản xuất trongnước tăng theo Các công ty trong nước được khuyến khích ĐTRNN mạnh mẽ Chính sách đốingoại đa dạng hoá, đa phương hoá, hợp tác khu vực và tiến tới toàn cầu hoá, hợp tác khu vực vàtiến tới toàn cầu hoá tạo động lực thúc đẩy nguồn VĐT của Hàn Quốc ở nước ngoài ngày càngtăng và đạt xấp xỉ 2,9 tỷ USD vào năm 1995.
Chính phủ Hàn Quốc sẽ miễn thuế thu nhập trong 3 năm đối với các nhà đầu tư địa phươngkhi ĐTRNN và cho phép gia tăng mức đầu tư vào bất động sản tại nước ngoài, từ mức 1triệuUSD lên 3 triệu USD Điều này đã khuyến khích các tập đoàn Hàn Quốc tăng cường ĐTRNN vớilượng VĐT ra nước ngoài lên đến15 tỷ USD trong năm 2007
Như vậy với các chính sách, biện pháp khuyến khích ĐTRNN của Hàn Quốc đã và đang đemlại bài học quý giá cho đất nước đi sau như Việt Nam
2 Chính sách và kinh nghiệm của Singapore
Cũng như Hàn Quốc, Singapore đã đưa ra rất nhiều chính sách, biện pháp kích thích sự tăngtrưởng của các công ty, tập đoàn, từ đó tăng cường cả đầu tư trong nước lẫn nước ngoài Các biệnpháp đổi mới kỹ thuật công nghệ, ưu đãi thuế đối với các khoản chi trả cho các hoạt động nghiêncứu – triển khai (R&D) Chính phủ Singapore cũng chi hàng tỷ đôla Singapore (SGD) để pháttriển mạng lưới thông tin liên lạc, phục vụ cho lợi ích của các công ty trong nước và ngoài nước.Chính phủ để cho các công ty tự do kinh doanh, cạnh tranh với nhau, hạn chế đến mức tối thiểunhững kế hoạch kinh tế mang tính cưỡng ép Chính phủ đã xây dựng đường sá, bến cảng, sânbay, mặt bằng các khu công nghiệp, cải tạo đô thị tạo thuận lợi thúc đẩy sự ra đời và phát triểncác công ty, tập đoàn và từ đó tạo điều kiện hình thành các công ty xuyên quốc gia hoạt độngkinh doanh sản xuất ở nước ngoài
Singapore cũng rất chú trọng hệ thống giáo dục và đào tạo chẩt lượng nguồn nhân lực Mộtbài học quý báu đối với các nước đi sau như Việt Nam là 1973, Singapore thành lập Uỷ ban đàotạo công nhân công nhiệp và cùng với công ty nước ngoài thành lập trung tâm đào tạo công nhân
kỹ thuật tại Singapore Đây là phương thức đào tạo mang lại hiệu quả và giảm chi phí, khuyếnkhích được sự nỗ lực của các cá nhân trong học tập Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trongnhững điều kiện cần thiết khi các DN ĐTTT ra nước ngoài
Trang 25Với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường quốc tế qua đầu tư, Chính phủ Singapore đã áp dụng hàngloạt các chính sách ưu đãi đối với các DN ĐTTT ra nước ngoài như: Miễn thuế cho tất cả các DNđầu tư ra nước ngoài mà thu được lợi nhuận; Ưu đãi tài chính như cung cấp một phần tài chínhĐTRNN hay hỗ trợ tài chính thông qua Quỹ hỗ trợ ĐTRNN, giúp các DN phát hành cổ phiếu,trái phiếu trên thị trường để huy động vốn Cũng chính nhà những chính sách ưu đãi này, nềnkinh tế của Singapore đã đạt được thành tựu to lớn như hiện nay.
3 Chính sách và kinh nghiệm của Trung Quốc
Cũng trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến và thực dân như Việt Nam Song nhờvới tư tưởng tiến bộ và chủ trương đẩy nhanh nhịp độ mở cửa để thực hiện chiến lược tăng tốctrong phát triển kinh tế Trung Quốc xác định đây là một quốc sách lâu dài nên chủ trương “rasức nâng cao mức độ mở cửa với bên ngoài” Vì vậy, trong những năm gần đây bên cạnh việctích cực thu hút và sử dụng VĐT trực tiếp nước ngoài có hiệu quả, Trung Quốc đã ban hành cácbiện pháp khuyến khích các công ty, DN trong nước ĐTRNN vào những nới có tỷ suất lợi nhuậncao hơn Chính phủ Trung Quốc cho phép các DN đã đầu tư tách cả số lợi nhuận thu được từ cácnhà máy lắp ráp ở nước ngoài trong vòng 5 năm đầu; các chính sách ưu tiên về vốn như cấp vốnvay xuất khẩu từ quỹ phát triển xuất khẩu chính thức cho các công ty ĐTRNN Trung Quốc đãđàm phán và ký kết hơn 100 hiệp định thương mại và đầu tư song phương hoặc đa phương Nềnkinh tế trong nước Trung Quốc đang “quá nóng” và để giảm sức ép cho đồng nội tệ và ưu thếcạnh tranh của thị trường với giá nhân công rẻ Trung Quốc coi mở rộng ĐTTT ra nước ngoài làgiải pháp tối ưu để thúc đẩy phát triển kinh tế Tính đến năm 2004, ngân hàng Export – Import ofChina đã cho vay tổng cộng gần 300 tỷ nhân dân tệ (36 tỷ USD) gồm các khoản cho vay và bảolãnh tín dụng cho các DN có dự án ĐTRNN Tổng cục Ngoại hối quốc gia hiện vẫn tiếp tục đẩymạnh việc nới lỏng thủ tục ĐTRNN cho các DN Từ năm 1998, Chính phủ Trung Quốc bắt đầuthực hiện chiến lược đưa các DN ĐTRNN nhằm mục tiêu tận dụng “hai thị trường, hai nguồnnguyên liệu” ở trong và ngoài nước, đảm bảo cho nền kinh tế trong nước phát triển bền vững.Chính phủ Trung Quốc còn có những hậu thuẫn, ưu ái cho các DN ĐTRNN, các ngân hàng,các đơn vị nhà nước và chính phủ: Các DN nhà nước hàng đầu Trung Quốc đang áp dụngphương pháp liên doanh hoặc mua lại những đối tác nước ngoài sẵn sàng chuyển giao kỹ thuật,nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ Tháng 2/2004, tập đoàn gang thép Bảo Cương ThượngHải (Baosteel) trở thành nhà đầu tư ở nước ngoài lớn nhất khi tham gia một dự án liên doanhgang thép 1,4 tỷ USD của Brazil Trước đó, tháng 12/2003, tập đoàn hoá chất Lam Tinh ThượngHải (Blue Star) đã ký hợp đồng mua cổ phần 1 tỷ USD của nhà máy ô tô Sangyong của Hàn
Trang 26Quốc Hai hợp đồng lớn này đã vượt mức ĐTRNN bình quân hằng năm 2,3 tỷ USD của TrungQuốc trong thập kỷ 90.
Một hình thức đầu tư nữa của Trung Quốc là mua thương hiệu của nước ngoài Nhà máy điện
tử TCL (tivi, đầu máy video…) lớn nhất ở Huệ Châu (Quảng Đông) đã mua công ty SchneiderElectroics của Đức trong năm 2002 với giá 8 triệu USD 11/2003 TLC đã sát nhập với hãngThomson của Pháp từ tháng 11/2003 với khoản vốn góp chung 560 triệu USD để trở thành tậpđoàn sản xuất máy thu hình màu lớn nhất thế giới với doanh thu ước đạt 3,78 tỷ USD/năm.(TCL
có các nhà máy ở Trung Quốc, Việt Nam, Đức, còn Thomson có các cơ sỏ sản xuất ở Thái Lan,
Ba Lan, Mexico) Gần đây hơn, TCL đã mua 55% vốn cổ phần của bộ phận kinh doanh của điệnthoại di động của hãng Alcatel với giá 55 triệu USD Công ty Shanghai Automotive mua cổ phầnchi phối hãng Ssanyong Motor của Hàn Quốc với giá 500 triệu USD Công ty Chalkis, hãng chếbiến cà chua lớn thứ hai Trung Quốc, đã mua 55% vốn cổ phần của công ty Conserves deProvence (Pháp) với giá 7 triệu euro Tập đoàn Huayi của Thượng Hải đã mua công ty MoltechPower Systém của Mỹ với giá 20 triệu USD, công ty China Netcom Corp mua Asia Netcom vớigiá 80 triệu USD Tập đoàn dầu mỏ Hải ngoại quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã đầu tư tại 14nước 12/2004, tập đoàn Lenovo Group - nhà sản xuất máy tính cá nhân lớn nhất Trung Quốc đã
ký thoả thuận mua bộ phận kinh doanh của hãng máy tính khổng lồ IBM (Mỹ) với giá 1,75 tỷUSD và trở thành hãng kinh doanh máy tính cá nhân lớn thứ ba thế giới
Bảng 1: Số vụ mua các công ty nước ngoài vủa Trung Quốc (2003-2005)
(tỷ USD)
1 Oil & Gas Asset, Gorgon LNG field (Australia) CNOOC 0,70
2 Oxgen (50%) (Autralia) China Huaneng Group 0,20
4 Ssangyoung Motor co (48,9%) (Han Quoc) SAIC 0,51
5 Unocal Corp (My) CNOOC 18,50
6 Maytag Corp (My) Qungdao Haier 2,25
7 PCCW (20%) (Hong Kong)
China Network Communications 1,02
8 Petrochina International (Indonexia)
China National Petroleum Corp;
Trang 27về khai khoáng, năng lượng điện Hiện nay, các doanh ngiệp Trung Quốc rất quan tâm đầu tưvào Việt Nam nhất là các dự án về điện lực - đây là lĩnh vực Trung Quốc có kinh ngiệm, giáthành rẻ mà máy móc thiết bị không thua kém các nước phát triển Ngoài ra, DN Trung Quốc cònquan tâm đến cá dự án khai khoáng như: khai thác Boxit ở Lâm Đồng, xây dựng các khu đô thị,phát triển công nghiệp
Đặc biệt, 2/2004 Trung Quốc đã chuẩn y việc dùng một phần quỹ An sinh xã hội để ĐTRNN.
Số vốn sẽ được đầu tư ưu tiên vào các công ty ở nước ngoài có uy tín và kinh nghiệm làm ăn sinhlãi Tổng quỹ an sinh xã hội Trung Quốc năm 2003 ở mức 16 tỉ USD, đóng vai trò quỹ dự trữ dochính quyền trung ương quản lý cho các hoạt động trợ cấp, an sinh xã hội trên toàn quốc
Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành nước dẫn đầu thúc đẩy xu hướng ĐTRNN của các nướcĐPT Lượng VĐT ra nước ngoài của Trung Quốc đã tăng từ 0,4 tỷ USD trong thập kỷ 80 của thế
kỷ XX lên khoảng 2,3 tỷ USD trong thập kỷ 90 Trong năm 2004, Trung Quốc đã có nhiều dự ánĐTRNN với tổng số vốn 5,5 tỷ USD, tăng mạnh so với năm 2003 và năm 2002 Tính đến năm
2004, Trung Quốc đã đầu tư ở 160 nước và vùng lãnh thổ, với khoảng 7.000 dự án, trị giá hơn44,8 tỷ USD Trong năm 2005, ĐTRNN của Trung Quốc đạt tới 12,3 tỷ USD, tăng tới 123% sovới năm 2004 Tính đến hết tháng 7/2006, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã tăng cao tới 954,5
tỷ USD và so với thời điểm cuối tháng 7/2005, khi đó dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc mới là732,7 tỷ USD, thì dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã tăng tới 221,8 tỷ USD (tương đương 30,3%)trong vòng một năm Một trong những cách sử dụng tốt nhất nguồn tiền dư dả này mà TrungQuốc đang tiến hành là đầu tư ra nước ngoài Tính đến cuối năm 2005, tổng VĐT ra nước ngoàicủa Trung Quốc từ trước đến nay là 57,2 tỷ USD (trong khi đó VĐT nước ngoài vào Trung Quốctrong năm 2005 (60,3 tỷ USD)) Năm 2006, ĐTRNN của Trung Quốc đã tiếp tục tăng lên 32% sovới năm 2005; đạt 16,2 tỷ USD
ĐTTT ra nước ngoài của Trung Quốc bắt đầu tăng bùng nổ từ năm 2005, với mức tăng 123%lên 12,3 tỷ USD Riêng trong năm 2006, các công ty Trung Quốc - không tính các ngân hàng, cáccông ty bảo hiểm và công ty an ninh - đã đầu tư 16,1 tỷ USD ra nước ngoài thông qua các hoạtđộng sáp nhập và mua bán công ty Chính phủ Trung Quốc cũng đang khuyến khích các công tytrong nước đầu tư ra nước ngoài, một trong những biện pháp hòng làm giảm lượng tiền mặt dưthừa trong hệ thống tài chính nước này
Những thành công về ĐTTT ra nước ngoài của Trung Quốc thể hiện qua những con số đángkinh ngạc Việt Nam có thể học hỏi được những kinh nghiệm phù hợp trong việc xây dựng chínhsách và xúc tiến triển khai các dự án ĐTRNN một cách hiệu quả
Trang 284 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua sự nghiên cứu kinh nghiệm ĐTRNN của 3 quốc gia trên, Việt Nam có thể tiếp thu đượcmột số bài học cho mình:
Chính phủ sử dụng nhiều biện pháp khuyến khích sự hình thành của các tập đoàn kinh tế, chútrọng xây dựng phát triển cở sở hạ tầng và tạo môi trường thuận lợi cho các công ty, DN, tậpđoàn kinh tế hoạt động; đồng thời luôn giành sự ưu ái đặc biệt về vốn, giúp họ giữ vững vị trícạnh tranh ở trong nước và trên trường quốc tế
Chú trọng đầu tư cho nghiên cứu - triển khai (R&D), thực hiện ưu đãi thuế đối với các khoảnchi cho hoạt động R&D, ra đời các viện nghiên cứu khoa học-công nghệ
Chú trọng đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao
Thực hiện nhiếu biện pháp tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các DN, công ty trong nước mởrộng ĐTRNN như:
- Thiết lập mối quan hệ ngoại giao với nhiều nước để tìm kiếm cơ hội đầu tư
- Bãi bỏ các luật lệ gây hạn chế đầu tư ra nước ngoài
- Thực hiện ưu đãi về thuế đối với các DN ĐTRNN, trong đó có thể có cả việc miễn thuếthu nhập doanh nghiệp
- Thực hiện ưu đãi tài chính (như hỗ trợ tư vấn, cho vay với lãi suất thấp, tạo điều kiện đểcác DN phát hành trái phiếu, cổ phiếu…) để tạo khả năng tài chính lớn cho các DNĐTRNN
Song bản thân các DN Việt Nam cũng cần không ngừng tích luỹ các điều kiện cần thiết khi
DN của mình chuẩn bị ĐTRNN Đồng thời, đòi hỏi cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà nước và
DN để thúc đẩy các DN phát huy lợi thế so sánh của mình trong đầu tư và tìm cách khai thác cácnguồn lực mới
Trang 29Chương II:
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
VÀ CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH - THÚC ĐẨY CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
I THỰC TRẠNG ĐTRNN CỦA CÁC DNVN VÀ CHÍNH SÁCH ĐTTT RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
1 Chính sách ĐTRNN của Việt Nam kể từ năm 1989 đến nay
Hội nhập sâu rộng với thế giới, Việt Nam không chỉ đạt kết quả cao trong việc hút vốn đầu
tư từ nước ngoài mà các doanh nghiệp (DN) cũng đã trưởng thành hơn rất nhiều trong hoạt độngđầu tư ra nước ngoài
Năm 1989, năm đầu tiên Việt Nam có dự án ĐTRNN với số vốn 563.380 USD nhưng khôngđược thực hiện Trong giai đoạn 1989-1998, trước khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP,Việt Nam chỉ có một vài dự án đầu tư ra nước ngoài, nhiều nhất là năm 1993 có 5 dự án
Năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 về ĐTRNNcho các DNVN nhằm tạo hành lang pháp lý và thực sự đã mở ra một thời kỳ mới cho hoạt độngĐTTT ra nước ngoài của các DNVN Liên tiếp trong những năm tiếp theo đã được ban hành cácThông tư gồm:
Thông tư số 01/2001/T-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn quản lýngoại hối đối với ĐTTT ra nước ngoài của DNVN;
Quyết định số 116/2001/QĐ-TTg ngày 02/08/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số ưuđãi khuyến khích ĐTRNN trong lĩnh vực hoạt động dầu khí Quyết định này áp dụng đối với cácDNVN DTRNN dưới hình thức 100% vốn hoặc góp vốn theo tỷ lệ tham gia trong lĩnh vực hoạtđộng dầu khí bao gồm: tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí, kể cả hoạt động dầukhí nhập khẩu để gia công thành sản phẩm theo hợp đồng gia công ký với đại diện có thẩm quyềncủa dự án dầu khí đầu tư tại nước ngoài, được miễn thuế nhập khẩu, và không thuộc đối tượngchịu thuế giá trị gia tăng khi nhập khẩu tương ứng với số lượng sản phẩm thực tế xuất khẩu; khixuất khẩu sản phẩm cũng được miễm thuế xuất khẩu và thuế giá trị gia tăng Sau khi đã hoànthành các nghĩa vụ thuế theo quy định của Nhà nước Việt Nam, DN hoạt động trong lĩnh vực dầukhí được sử dụng lợi nhuận sau thuế tái đầu tư ở nước ngoài phù hợp với nội dung, mục tiêu của
dự án dầu khí đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng phải đăng ký với Ngân hàng Nhànước và báo cáo định kỳ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 30Thông tư số 05/2001/TT-BKH, Thông tư số 97/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghĩa vụthuế đối với DNVN ĐTRNN, kể từ ngày 08/11/2002, các loại máy móc thiết bị bộ phận rời, vật
tư, nguyên nhiên liệu, xuất khẩu ra nước ngoài để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư tại nướcngoài, được miễn thuế xuất khẩu và chịu thuế giá trị gia tăng với thuế suất là 0%; không đánhthuế thu nhập hai lần;
Quyết định số 158 QĐ-CTN; Công ước thành lập tổ chức Đảm bảo đầu tư đa biên (MIGA)
Có thể nói việc ra đời của các văn bản trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực ĐTTT ra nước ngoài đãtạo ra một hành lang pháp lý cơ bản nhằm kiểm soát và hướng dẫn cho một hoạt động đầu tư cònmới mẻ của các DNVN, đồng thời tạo môi trường ổn định và thông thoáng khuyến khích các DNĐTRNN
Ngoài ra các DNVN ĐTRNN còn được vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng để thực hiện dự ánĐTTT ra nước ngoài Năm 2005 Theo chính sách mới, DNVN được phép sử dụng ngoại tệ từmột số nguồn để chuyển ra nước ngoài góp VĐT, thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Giấyphép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền cấp Cụ thể là nguồn từ tài khoản tiền gửi ngoại tệ của DN
mở tại Ngân hàng được phép; mua ngoại tệ tại ngân hàng được phép; vay ngoại tệ tại ngân hàngđược phép phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc cho vay bằng ngoại
tệ Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc sửa đổi, bổ sung những quy định trên là nhằm mở rộngkhả năng tiếp cận các nguồn vốn ngoại tệ của các DNVN được phép ĐTRNN Mặt khác, các DN
và các cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động ĐTRNN sẽ được khen thưởng theo quyđịnh của pháp luật
Không chỉ có vậy, Cục đầu tư ra nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức các cuộchội thảo tiếp xúc với các DN đã và đang thực hiện ĐTTT ra nước ngoài, lắng nghe ý kiến đónggóp của họ nhằm nắm bắt được thực tế và có đối sách phù hợp Chính vì vậy, trong năm 2006 cơ
sở pháp lý của hoạt động ĐTRNN được hoàn thiện hơn – bằng Luật Đầu tư có hiệu lực từ01/7/2006 đã quy định về việc ĐTTT ra nước ngoài của DN tại Việt Nam Bên cạnh đó, Chính
phủ còn ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP quy định về ĐTTT ra nước ngoài thay thế Nghị
định 22/1999/NĐ-CP
Theo hướng dẫn của Nghị định, Chính phủ tiếp tục phân cấp quản lý đầu tư mạnh mẽ cho cácđịa phương Thủ tướng Chính phủ chỉ giữ quyền chấp thuận đầu tư đối với dự án của các thànhphần kinh tế ngoài Nhà nước từ 600 tỷ đồng Việt Nam trở lên và các dự án sử dụng nguồn vốnNhà nước từ 300 tỷ đồng trở lên Đối với các dự án thuộc các lĩnh vực ngân hàng, kinh doanh bảohiểm, tài chính, tín dụng, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có sử dụng vốn Nhà nước
Trang 31từ 150 tỷ đồng Việt Nam trở lên hoặc vốn của các thành phần kinh tế từ 300 tỷ đồng trở lên, Thủtướng Chính phủ vẫn giữ quyền quyết định Nghị định cũng quy định, quá thời hạn 12 tháng, kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư mà dự án không được nước tiếp nhận chấp thuận; hoặcquá thời hạn 6 tháng, kể từ ngày dự án được cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tưchấp thuận mà dự án không đầu tư không được triển khai thì nhà đầu tư phải có văn bản nêu rõ lý
do và đề nghị kéo dài thời hạn triển khai dự án hoặc đề nghị chấm dứt dự án đầu tư gửi Bộ Kếhoạch và Đầu tư Đối với các dự án ĐTTT ra nước ngoài, các nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủnghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam; tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và
sử dụng vốn Nhà nước đối với các trường hợp sử dụng vốn Nhà nước để ĐTTT ra nước ngoài vàđược Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư Các Bộ ngành có trách nhiệm báo cáođịnh kỳ 6 tháng và hàng năm đánh giá tình hình chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và từnước ngoài về Việt Nam; tình hình thực hiện nghĩa vụ tài chính; tình hình thương mại; tình hìnhđưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc liên quan đến các dự án ĐTTT ra nước ngoài.Hướng dẫn chi tiết tại Nghị định ghi rõ, trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư thìmức thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam đối với phần lợi nhuận chuyển về nước được ápdụng như mức thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với dự án đầu tư trong nước trong cùnglĩnh vực đầu tư Trường hợp nước tiếp nhận đầu tư là quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đã ký Hiệpđịnh tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì nghĩa vụ về thuế của nhà đầu tư đối với Nhà nướcViệt Nam thực hiện theo quy định của Hiệp định đó và nếu nước tiếp nhận đầu tư là quốc giahoặc thuộc vùng lãnh thổ chưa ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam thì khoản thuếthu nhập doanh nghiệp đã được nộp ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ được khấu trừ khi tính thuế thunhập doanh nghiệp tại Việt Nam Việc miễn thuế xuất khẩu đối với tài sản mang ra nước ngoài đểtriển khai dự án đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Ngày 21/12/2006, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã ban hành Thông tư số
10/2006/TT - NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài Theo nội dung của Thông tư số 10 của NHNN, TCTD được cho khách hàng vay
để ĐTTT ra nước ngoài là các tổ chức tín dụng (TCTD) được phép hoạt động ngoại hối Về điềukiện vay vốn, TCTD xem xét và quyết định cho vay đối với khách hàng đáp ứng đủ các điều kiệnnhư: dự án đầu tư không thuộc danh mục các lĩnh vực bị cấm, hạn chế ĐTTT ra nước ngoài doThủ tướng Chính phủ quy định; có vốn chủ sở hữu (bao gồm: vốn của chủ sở hữu, các quỹ và lợinhuận chưa phân phối) tham gia vào tổng mức VĐT của dự án ĐTTT ra nước ngoài theo quyđịnh của TCTD
Trang 32Cũng theo Thông tư số 10 thì TCTD được phép cho khách hàng vay để ĐTTT ra nước ngoàibằng đồng Việt Nam, ngoại tệ trên cơ sở các nhu cầu vốn như: Góp vốn bằng tiền thực hiện dự
án ĐTTT ra nước ngoài; để mua các tài sản ở Việt Nam và ở nước ngoài phục vụ cho dự ánĐTTT ra nước ngoài Các TCTD không được cho vay các nhu cầu vốn của khách hàng để chiphí, mua các tài sản mà pháp luật Việt Nam cấm hoặc hạn chế chuyển ra nước ngoài; tài sản màpháp luật nước tiếp nhận đầu tư cấm hoặc hạn chế giao dịch
Các TCTD cũng được xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn để ĐTTT ra nước ngoàitrên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm
về quyết định của mình Trường hợp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của khách hàng vay hoặc bênthứ ba ở nước ngoài, tài sản của pháp nhân được hình thành từ dự án ĐTTT ra nước ngoài thì cácbên thực hiện theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư (nếu việc áp dụng hoặc hậu quảcủa việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam); TCTD nhận bảođảm bằng tài sản ở nước ngoài phải có khả năng quản lý tài sản trong quá trình cho vay, xử lýđược tài sản đó để thu hồi nợ, khi khách hàng vay không trả được nợ
Như vậy, việc thực hiện các chính sách khuyến khích DN trong nước ĐTRNN không chỉ thúcđẩy sản xuất trong nước mà còn góp phần tạo dựng hình ảnh, uy tín thương hiệu của DN ViệtNam trên thị trường quốc tế
2 Tình hình ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam
2.1 Vốn đầu tư và cơ cấu ĐTRNN theo năm
Trong giai đoạn 1989-1998, trước khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP nói trên, có 18
dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký trên 13,6 triệu USD; quy mô VĐT bình quân đạt 0,76 triệuUSD/dự án
Trong thời kỳ 1999-2005 sau khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP, có 131 dự ánĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt 731,4 triệu USD, gấp 7 lần về số dự án và gấp 53 lần về tổngVĐT đăng ký so với thời kỳ 1989-1998; quy mô VĐT bình quân đạt 5,58 triệu USD/dự án, caohơn giai đoạn 1989-1998
Từ năm 2006 tới hết năm 2007 (thi hành Nghị định số 78/2006/NĐ-CP) có 116 dự ánĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 1,26 tỷ USD; tuy chỉ bằng 88% về số dự án, nhưng tăng72,4% về tổng VĐT đăng ký so với giai đoạn 1999-2005; quy mô VĐT bình quân đạt 10,8 triệuUSD/dự án, cao hơn thời kỳ 1999-2005
Như vậy, trong vòng gần 20 năm các dự án ĐTTT ra nước ngoài của các DNVN đã có sự giatăng cả về số lượng và số vốn đăng ký Cụ thể:
Trang 33Bảng2: Đầu tư ra nước ngoài giai đoạn 1989 – 2007
Đơn vị: triệu USD
STT Giai đoạn Số dự án Tổng vốn
đăng ký
Quy mô VĐT bình quân (triệu USD/dự án)
đã tiến hành đàm phán với một số nước Trung Đông, Lybya, Sudan, Angiêri về tin kiếm và thăm
dò dầu khí; ngoài ra công ty còn xem xét triển khai một số dự án đầu tư vào Nga và các nướcvùng Caspian Cuối tháng 12/2002, Công ty gạch Thạch Bàn – Hà Nội với tổng VĐT là 15triệuUSD trong thời hạn 49 năm thành lập công ty 100% VĐT Việt Nam tại liên bang Nga chuyên sảnxuất gạch ốp lát Granit với công suất giai đoạn đầu là 2 triệu m2 sản phẩm / năm Cũng trong năm
2002, tại thành phố Hồ Chí Minh Ngân có 5 DN đã tiến hành ĐTRNN thâm nhập vào thị trườngcác nước Singapore, Mỹ, Đức các lĩnh vực Tin học - Điện tử - Tư vấn xây dựng và du lịch…Năm 2003, ĐTTT ra nước ngoài của các DNVN tăng mạnh về số dự án Có 25 dự án đăng kýđầu tư song tổng VĐT chỉ đạt 27,3 triệu USD Trong đó, Tổng công ty dầu khí Việt Nam đầu tư
2 dự án với tổng VĐT gần 9,4 triệu USD để nghiên cứu địa chất và địa lý nhằm mục đích thăm
dò dầu khí tại Indonesia; và 3 dự án đầu tư thăm dò dầu khí tại Malaysia và Indonesia chiếm 61%tổng vốn đăng ký
Năm 2004, ĐTTT ra nước ngoài của các DNVN có xu hướng giảm sút: chỉ có 17 dự án đượccấp phép hoạt động với tổng số vốn đăng ký trên 11 triệu, bằng 68% về số dự án và bằng 40,6%
về vốn đăng ký so với năm 2003
Năm 2005, ĐTTT ra nước ngoài của Việt Nam lại tăng lên mạnh mẽ về số dự án Có 37 dự ánđăng ký đầu tư với tổng số vốn đạt trên 368 triệu USD Song một điều đáng buồn trong năm
Trang 342005 là tỷ lệ VĐT thực hiện quá thấp chỉ có 0.05% tương đương với chỉ có 0.2 triệu USD VĐTđược thực hiện
Bảng 3: Đầu tư ra nước ngoài của các Doanh nghiệp Việt Nam tính đến hết năm 2007
(Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch Đầu tư)
Năm 2006, khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN được hoàn thiệu hơn bằng Luật Đầu tư
có hiệu lực từ 1/7/2006 đã quy định về việc ĐTTT ra nước ngoài của DN tại Việt Nam Bêncạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP quy định về ĐTTT ra nướcngoài thay thế Nghị định 22/1999/NĐ-CP Với khuôn khổ pháp lý mới thì các thủ tục ĐTRNNđược đơn giản hóa hơn, cộng với nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng “đẻ” thêm nhiều DN có khảhăng tài chính để “quay vốn” bằng cách đầu tư ra nước ngoài Và một trong những sự kiện tiêubiểu nhất năm 2006 là Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng tạo điềukiện thuận lợi hơn cho các DNVN ĐTRNN và khởi sắc với 51 dự án đầu tư có tổng số VĐT đăng
ký lên đến 347,3 triệu USD Trong đó đáng chú ý là dự án hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khítại Angeria của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tăng thêm 208 triệu USD Năm 2006, tính chung cảcấp mới và nâng vốn các DNVN đã ĐTRNN số vốn 347 triệu USD Mức này chỉ xấp xỉ bằng
Trang 35năm 2005 nhưng được ghi nhận là rất tích cực vì trong năm 2005, vốn tăng đột biến là do có dự
án thuỷ điện Xekaman 3 tại Lào (công suất 250MW) tổng vốn 273 triệu USD được cấp phép Năm 2006, không có các dự án lớn nhưng số dự án lại tăng lên đáng kể Trong tổng số dự ánđầu tư ra nước ngoài, có 33 dự án được cấp mới với số vốn 136,5 triệu USD Có 4 dự án điềuchỉnh tăng vốn với tổng đầu tư là 211,2 triệu USD Với kết quả này, tính đến năm 2006 Việt Nam
đã có 183 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn hơn 968 triệu USD Các dự áncủa Việt Nam chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghiệp mà chủ yếu là khai thác dầu khí vàphát triển nguồn điện (chiếm 40,09% số dự án nhưng lại nắm giữ 74,5% số VĐT) Tiếp theo làlĩnh vực nông nghiệp 19,6% số dự án và 13,3% số VĐT Số vốn còn lại tập trung các lĩnh vựcthương mại - dịch vụ
Tính đến hết năm 2007, gần 20 năm thực hiện ĐTRNN, Việt Nam có 265 dự án ĐTRNN cònhiệu lực với tổng VĐT 2,006 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 800 triệu USD, chiếm 40% tổngvốn ĐTRNN Quy mô VĐT bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án Qua từng giai đoạn, quy môVĐT đã tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt độngĐTRNN của các DNVN; cũng như sự trưởng thành về mọi mặt của doanh nghiệp nhà nước thamgia vào hoạt động ĐTRNN
Trong năm 2008, các dự án ĐTRNN của DNVN dự kiến đạt khoảng 500 triệu USD, tăng 20% so với năm 2007 (đạt 391,2 triệu USD) Các DNVN “Đi tắt, đón đầu” trong năm thứ hai hội nhập WTO Nhìn chung các DN Việt Nam đã biết thích nghi với hội nhập, không những biết thu hút VĐT nước ngoài vào Việt Nam mà còn tham khảo thị trường nước ngoài, ĐTRNN với những
dự án lớn Điểm đặc biệt là các dự án đầu tư ra nước ngoài đã được nâng cả lượng và chất Theo đánh giá chung, nhiều dự án của DN Việt Nam ĐTRNN đã bắt đầu xin mở rộng quy mô sau khi thu được những kết quả khả quan, các nút thắt về thủ tục đối với DN ngày càng thông thoáng Với đà này, tình hình đầu tư ra nước ngoài sẽ còn sôi động hơn nữa trong thời gian tới
2.2 Vốn đầu tư và cơ cấu ĐTRNN phân theo ngành
ĐTTT ra nước ngoài của Việt Nam tập trung vào 3 lĩnh vực chủ yếu là công nghiệp- xâydựng; nông,lâm, ngư nghiệp và dịch vụ Tính tới ngày 22/10/2007 - chỉ tính các dự án còn hiệulực; tỷ trọng đầu tư của các DNVN vào công nghiệp là lớn nhất (99 dự án, tổng VĐT là 890,7triệu USD) chiếm 41,1% về số dự án và 65,7% tổng vốn đăng ký ĐTRNN Tiếp theo là lĩnh vựcdịch vụ (91 dự án, tổng VĐT là gần 180 triệu USD) chiếm 37,76% về số dự án và 12,3% về tổngVĐT Còn lại là đầu tư vào nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 36Bảng 4: §Çu tư ra nưíc ngoµi ph©n theo ngµnh
(Tính tới ngày 22/10/2007 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Nguån: Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch & Đầu tư
Tính đến hết năm 2007, các DN Việt Nam ĐTRNN tập trung chủ yếu vào lĩnh vực côngnghiệp (113 dự án, tổng VĐT là 1,5 tỷ USD) chiếm 42,6% về số dự án và 75% tổng vốn đăng kýĐTRNN Trong đó, có một số dự án quy mô VĐT trên 100 triệu USD, như: Công ty cổ phần đầu
tư và phát triển điện Việt-Lào đầu tư 2 dự án: Thủy điện Xekaman 1, tổng VĐT 441,6 triệu USDvà) Thủy điện Xekaman 3, tổng VĐT 273 triệu USD Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đầu tư 243triệu USD thăm dò khai thác dầu khí tại Angiêri Công ty Đầu tư phát triển dầu khí đầu tư 2 dự
án thăm dò khai thác dầu khí tại Madagascar (vốn 117,36 triệu USD) và tại I Rắc (vốn 100 triệuUSD) 3 dự án ĐTRNN của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T&T đầu tư sản xuất xe máy, hàngmay mặc, điện tử và điện lạnh tại Luanda – Cộng hòa Angola Dự án thứ nhất, T&T sẽ ĐTRNN
để thành lập công ty có tên là: T&T Motor Angola Company Limited (T&T Mac) nhằm sản xuất,lắp ráp và kinh doanh xe hai bánh gắn máy Tổng vốn đầu tư của dự án này là 972.960 USD Dự
án thứ 2, T&T sẽ ĐTRNN để thành lập T&T Garment Angola Company Limited (T&T Gac) đểsản xuất và kinh doanh sản phẩm may mặc Tổng vốn đầu tư cho dự án này là 575.98 USD Dự
án thứ 3 là, ĐTRNN để thành lập T&T Home Appliance Angola Company Limited (T&T Haac).Sản xuất, kinh doanh điện lạnh, điện tử và điện gia dụng Tổng vốn đầu tư là 983.446 USD Cả
Trang 37ba dự án đều được đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và giấy phép đầu tư
có thời hạn là 50 nămTiếp theo là lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp (53 dự án, tổng vốn đăng ký ĐTRNN là 286 triệuUSD) chiếm 20% về số dự án và 14,26% tổng vốn đăng ký ĐTRNN Trong đó, đa số là dự ánđầu tư trồng cao su, cây công nghiệp tại Lào với một số dự án quy mô lớn như: Công ty cổ phầncao su Dầu Tiếng Việt -Lào, VĐT 81,9 triệu USD; Công ty cao su Đắc Lắc, VĐT 32,3 triệuUSD; Công ty cổ phần cao su Việt-Lào, VĐT 25,5 triệu USD
Lĩnh vực dịch vụ (99 dự án ĐTRNN, tổng vốn đăng ký ĐTRNN là 215,5 triệu USD) chiếm37,3% về số dự án và 10,7% tổng vốn đăng ký ĐTRNN Trong đó, có một số dự án lớn như:Công ty viễn thông quân đội Viettel đầu tư 27 triệu USD tại Campuchia để khai thác mạng viễnthông di động Sau dự án Công ty Cambodia Viettel tại Campuchia, Viettel đang xúc tiến mở vănphòng đại diện tại Hồng Kông và Mỹ Viettel sẽ nâng Ban Dự án Ðầu tư ra nước ngoài lên thànhcông ty cổ phần, với sự tham gia của nhiều đối tác Công ty cổ phần đầu tư Việt Sô đầu tư 35triệu USD để xây dựng Trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê tại Moscow-Liên bang Nga,Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí đầu tư 21 triệu USD tại Singapore để đóng mới tàu chở dầu
TỶ TRỌNG DỰ ÁN VÀ TỔNG VĐT RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DNVN
Nhưng đáng chú ýphải kể đến việc
75%
10,74%
14,26%
Tổng VĐT
Trang 38Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) là ngân hàng Việt Nam đầu tiên mở văn phòng đạidiện tại nước ngoài sau khi đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận Văn phòng đạidiện được phép mở có tên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Văn phòng đạidiện tại Trung Quốc, đặt tại Nam Ninh, Quảng Tây Theo Sacombank, văn phòng đại diện trên sẽtập trung nghiên cứu, khảo sát tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ, tín dụng, ngân hàng tại TrungQuốc, từ đó tổng hợp, phân tích, đánh giá và phản ánh mọi nguồn thông tin có liên quan đến thịtrường khu vực cho Sacombank và phổ biến, cung cấp các nguồn thông tin có liên quan củaSacombank đến thị trường khu vực Ðây sẽ là đầu mối xúc tiến hợp tác với các tổ chức tín dụngtại Trung Quốc Còn lại là các dự án có quy mô vừa và nhỏ đầu tư vào các địa bàn như Hoa Kỳ,Nhật Bản, Trung Quốc
Riêng trong năm 2007, có 64 dự án ĐTRNN với tổng VĐT đăng ký là 391,2 triệu USD, tăng77% về số dự án bằng 92% tổng vốn đăng ký so với năm 2006
Trong đó, lĩnh vực nông-lâm- ngư nghiệp có số VĐT lớn nhất (17 dự án ĐTRNN với tổngvốn 156,8 triệu USD), chiếm 40% tổng VĐT ra nước ngoài và 27% về số dự án, tăng 5,4% vềvốn đăng ký so với năm 2006 (chiếm 30,3% số dự án và 34,6% vốn ĐTRNN) Các dự án đầu tưvào lĩnh vực này chủ yếu là dự án trồng cây công nghiệp, cao su, điều tại Lào, lớn nhất là dự
án trồng cao su trên diện tích 20.000 ha có tổng VĐT đăng ký 81,99 triệu USD do Công ty cổphần cao su Dầu Tiếng Việt-Lào đầu tư, được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu
tư vào tháng 6/2007
Tiếp theo là lĩnh vực công nghiệp (23 dự án ĐTRNN với tổng vốn 147,1 triệu USD), chiếm 38% tổng VĐT ra nước ngoài và 36% về số dự án Trong lĩnh vực này, chủ yếu các dự án đầu tư vào công nghiệp nặng, bao gồm cả dầu khí Trong đó lớn nhất là dự án thăm dò, khai thác dầu khítại Madagasca, tổng VĐT 117,3 triệu USD do Tổng Công ty đầu tư phát triển dầu khí thực hiện được cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài vào tháng 10/2007; Công ty Mitsustar Việt Nam
sẽ sớm thành lập Công ty Hàng gia dụng Mitsustar trên đất Mỹ và từng bước niêm yết cổ phiếu tại thị trường này
Ngày 25/7/2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị định số
121/2007/NĐ-CP, quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nhà đầu tư tại Việt Nam trong hoạt động
dầu khí Theo đó, các dự án dầu khí được đầu tư thông qua các hình thức: Ký kết hợp đồng dầu
khí; chuyển nhượng quyền lợi tham gia vào HĐ dầu khí; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộCty vào các dự án tìm kiếm, thăm dò, phát triển, khai thác hoặc dự án bắt đầu từ giai đoạn phát
Trang 39triển, khai thác dầu khí Đối với các dự án dầu khí có sử dụng vốn nhà nước từ 1.000 tỉ đồng trởlên, hoặc vốn của các thành phần kinh tế từ 3.000 tỉ đồng trở lên phải được sự chấp thuận củaThủ tướng Chính phủ Nghị định cũng quy định trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày có quyết toánthuế hoặc văn bản có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu
tư, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận về Việt Nam trừ các khoản lợi nhuận được giữ lại
để tái đầu tư hoặc đầu tư cho các dự án dầu khí khác Trường hợp có nhu cầu kéo dài thời hạntrên, nhà đầu tư phải có văn bản nêu rõ lý do, trình Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét,quyết định Việc gia hạn được thực hiện không quá 2 lần, mỗi lần không quá 6 tháng
Số còn lại đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ (24 dự án ĐTRNN với tổng vốn 87,2 triệu USD),chiếm 22% tổng VĐT ra nước ngoài và 38% về số dự án, giảm so với năm 2006 (chiếm 39,3% số
dự án và 61% tổng VĐT) Có 2 dự án lớn nhất trong lĩnh vực này là: (i) Công ty Cổ phần Đầu tưXây dựng và khai thác công trình giao thông 584 đầu tư 30 triệu USD vào xây dựng Trung tâmthương mại tại Hoa Kỳ và (ii) Tổng công ty Viễn thông Quân Đội (Viettel) đầu tư sangCampuchia để thiết lập và khai thác mạng viễn thông sử dụng công nghệ VOIP cung cấp dịch vụđiện thoại và mạng thông tin di động tại Campuchia, tổng VĐT của dự án là 27 triệu USD
2.3 Theo các hình thức đầu tư
Tính đến 6/7/2006, các dự án ĐTTT ra nước ngoài còn hiệu lực của Việt Nam được chiathành 3 loại (1) DN 100% vốn của Việt Nam ở nước ngoài gồm 55 dự án với tổng số VĐTkhoảng 60 triệu USD; (2) Liên doanh với nước ngoài gồm 43 dự án với tổng số vốn góp khoảng
30 triệu USD; (3) Hợp đồng hợp tác kinh doanh và Hợp đồng phân chia sản phẩm gồm 16 dự án,với tổng số vốn góp của bên Việt Nam là gần 126 triệu USD Các DNNN có 42% các dự ánnhưng chiếm tới 90% số VĐT ra nước ngoài của Việt Nam
2.4 Vốn đầu tư và cơ cấu ĐTRNN phân theo các nước
Tính đến hết ngày 22/10/2007 địa bàn đầu tư của các DN Việt Nam mới chỉ mở rộng đến 35quốc gia và vùng lãnh thổ với 241 dự án Trong đó tập trung nhiều ở các nước trong khu vực, Lào
là thị trường thu hút được nhiều DN Việt Nam nhất - 86 dự án với tổng VĐT 597,96 triệu USDchiếm 42% tổng VĐT ra nước ngoài; Campuchia có 27 dự án, vốn đăng ký gần 88,5 triệu USDchiếm 6,3% Singapore 16 dự án, VĐT 27,4 triệu USD; Hông Kông (6 dự án); Hàn Quốc (5 dựán); Trung Quốc (4 dự án); Malaysia (4 dự án) Tại Lào, Việt Nam đã có những dự án lớn nhưThuỷ điện Xekaman 3 (công suất 250 MW tại huyện ĐăkChưng, tỉnh Sê Kông) tổng VĐT 274triệu USD, dự án trồng cao su của Tổng công ty cao su 32 triệu USD, dự án trồng cao su củacông ty cao su Đăk lăk 24 triệu USD Tại Campuchia, tiêu biểu là dự án thiết lập và khai thác
Trang 40mạng thông tin di động tại Campuchia (Công ty Viettel Cambodia., Pte, Ltd) do Tổng Công tyviễn thông Quân đôi Viettel làm chủ đầu tư với tổng VĐT đăng ký 27.745.191 USD Một phần,đây là những nước khá gần gũi với Việt Nam về mặt địa lý, dễ dàng phát huy thế mạnh; mặt khác
vì các nước này cũng đang trong giai đoạn phát triển nên các chính sách cũng mở cửa và tươngđối thông thoáng đối với việc đón nhận đầu tư nước ngoài
Không chỉ dừng ở khu vực, các DNVN đã tự tin đầu tư đến các quốc gia ở châu Âu, châu Mỹ,các nước phát triển như Nga, Mỹ và các nước Đông Âu như Công ty Việt Trang đầu tư sơ chế gỗxuất khẩu, kinh doanh siêu thị ở Nam Phi, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Ngọc Hải kinh doanh
nữ trang vàng, bạc tại Úc, Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp kinh doanh linh kiện
ô tô ở Hàn Quốc Nước có tổng số dự án đăng ký đứng thứ 2 là Mỹ với 28 dự án với tổng VĐT
là 37,28 triệu USD, tiếp đến là Nga 12 dự án với tổng VĐT 78,07 triệu USD; Australia và NhậtBản, Đức đều có 5 dự án
Việc Việt Nam có các dự án đầu tư tại CHLB Nga, Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Anh, Pháp,Hồng Kông (đáng kể trong danh sách các nhà đầu tư như: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam,doanh nghiệp đã tăng vốn thêm 200 triệu USD thành 243 triệu USD cho dự án khai thác đầu thô
ở Angiêri do phát hiện khí thương mại (năm 2006 Tổng công ty này đã giải ngân 30 triệu USDcho một số dự án dầu khí, trong đó có mỏ công suất 5.100 thùng/ngày ở Angiêri và 3.100thùng/ngày tại Malaysia) Tổng công ty Cao su Việt Nam đã thực hiện 12 triệu USD, Công tyCao su Đắc Lắc 14 triệu USD cho các dự án trồng và chế biến cao su tại 4 tỉnh vùng Nam Lào.Công ty Scavi Việt Nam đã xây nhà máy sản xuất hàng may mặc tại Lào, Công ty Cà phê TrungNguyên đầu tư sang Singapore, FPT sang Nhật Bản, đã chứng tỏ rằng Việt Nam không chỉ đónnhận VĐT từ các nước có nền kinh tế phát triển mà còn có khả năng đầu tư vốn vào các thịtrường các nước phát triển để tìm kiếm lợi nhuận và qua đó mà cải thiện vị thế của DN Việt Namtrên thị trường quốc tế
Bảng 5: Đầu tư ra nước ngoài phân theo các nước