Phân tích và lấy ví dụ minh họa về sự lựa chọn đầu vào tối ưu để: hoặc tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóa sản lượng với một mức chi tiêu nhất định tại CTCP giày Hải Dương. Phân tích và lấy ví dụ minh họa về sự lựa chọn đầu vào tối ưu để: hoặc tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóa sản lượng với một mức chi tiêu nhất định tại CTCP giày Hải Dương. Phân tích và lấy ví dụ minh họa về sự lựa chọn đầu vào tối ưu để: hoặc tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóa sản lượng với một mức chi tiêu nhất định tại CTCP giày Hải Dương. Phân tích và lấy ví dụ minh họa về sự lựa chọn đầu vào tối ưu để: hoặc tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóa sản lượng với một mức chi tiêu nhất định tại CTCP giày Hải Dương. Phân tích và lấy ví dụ minh họa về sự lựa chọn đầu vào tối ưu để: hoặc tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóa sản lượng với một mức chi tiêu nhất định tại CTCP giày Hải Dương.
Trang 1Bài thảo luận môn kinh tế vi mô 1
Lớp học phần: 1501MIEC0111
Đề tài : Phân tích và lấy ví dụ minh họa về sự lựa chọn đầu vào tối ưu để: hoặc tối thiểu hóachi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóa sản lượng với một mức chi tiêu nhất định
Sinh viên thực hiện
lao động
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Các bạn click vào biểu t
Hội nhập kinh tế đang trở thành xu hướng tất yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới Cùngvới quá trình này, các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau và chịu ảnh hưởng lẫn nhaunhiều hơn Nước ta cũng không nằm ngoài xu hướng đó Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhậpngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới và khu vực Từ sau công cuộc đổi mới 1986, ViệtNam đã có những bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập như gia nhập ASEAN năm
1995, gia nhập APEC năm 1997 Và đặc biệt là ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức trởthành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, đánh dấu một bước tiến quantrọng trong quá trình hội nhập của nước ta Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã
và đang đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng như đầy thách thức cho nền kinh tế Việt Nam nóichung và các doanh nghiệp nói riêng Hiện nay sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thế giớicũng như trong nước ta có ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển và chỗ đứng của các doanhnghiệp Việt Nam trên thương trường Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam lại đang phải đối phóvới sự biến động của giá cả nguyên liệu đầu vào tăng mạnh, lạm phát xảy ra tác động tới hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Trước những yêu cầu của tình hình mới,đồng thời để thích ứng tốt hơn với những biến động trên thế giới và trong nước, các doanhnghiệp Việt Nam phải tự hoàn thiện mình, cải tiến sản xuất, đổi mới tư duy, cách thức quản lý
và đặc biệt là sử dụng tốt các yếu tố đầu vào Có thể thấy lợi nhuận chính là chỉ tiêu phản ánhxác thực nhất hiệu quả của sản xuất kinh doanh, và cũng là mục tiêu cuối cùng của mọi doanhnghiệp Trong mối quan hệ với đầu vào thì nếu như doanh nghiệp sử dụng tốt các đầu vào sẽgiúp giảm thiểu chi phí sản xuất kinh doanh, qua đó có thể góp phần tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp, chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả vàngược lại
Từ đó ta có thể nói: trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì mỗi một doanh nghiệp, một công ty nếu muốn tồn tại và phát triển, thì không thể không nghĩ tới việc lựa chọn đầu vào tối
ưu để tối thiểu hóa chi phí sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóa sản lượng với một mức chi tiêu nhất định, với mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận để đưa công ty của mình ngày càng phát triển hơn
Như vậy hai vấn đề tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa sản lượng là hai khía cạnh quan trọng không thể thiếu trong quá trình tối đa hóa lợi nhuận Và nó cũng có vai trò vô cùng quan trọng cho một nền kinh tế đang phát triển và phát triển Vì nó là nhân tố quyết định sự phát triển hay trì trệ của một công ty hay nói rộng hơn là của một quốc gia Các doanh nghiệp nên
áp dụng hai chiến lược kinh doanh này trong quá trình phát triển công ty của mình chắc chắn
sẽ đạt được kết quả như mong muốn
Với tầm quan trọng của việc lựa chọn đầu vào tối ưu đối với các nhà sản xuất, nhóm thảo luậnđược giao nhiệm vụ làm rõ với đề tài “Phân tích và lấy ví dụ minh họa về sự lựa chọn đầu vàotối ưu để: hoặc tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định hoặc tối đa hóasản lượng với một mức chi tiêu nhất định”
Trang 3Chương I: Cơ sở lý luận
1 Các khái niệm
1.1Yếu tố đầu vào
Yếu tố đầu vào là những của cải được cung ứng cho sản xuất Hay nói cách khác đầu vào là nguồn lực của doanh nghiệp, là yếu tố không thể thiếu trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào
Nó bao gồm nhiều loại nhưng để đơn giản hóa thì người ta chia yếu tố đầu vào thành : lao động(Labour) là những của cải bị tiêu hao trong quá trình sản xuất và thường được ký hiệu làchữ L; nguyên liệu, vật liệu, vốn (tư bản) tương ứng với máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng, là những của cải vật chất lâu bền, có nghĩa là chúng vẫn tồn tại sau mỗi quá trình sản xuất và thường được ký hiệu bằng chữ K(tiếng Đức là Kapital)
Ví dụ như: trong một lò bánh mỳ thì yếu tố đầu vào là lao động, bột mỳ, đường, vốn đầu tư vào các lò, máy trộn và các thiết bị khác Chỉ khi có các yếu tố này thì mới có thể sản xuất raHàm được sản phẩm đầu ra như bánh mỳ hay bánh ngọt
1.2 Hàm sản xuất
Các yếu tố đầu vào được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất và tạo ra những sản phẩm được ký hiệu (Q)
Một doanh nghiệp có thể sản xuất ra một hoặc nhiều sản phẩm khác nhau
Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện bằng một hàm sản xuất
Hàm sản xuất chỉ rõ mối quan hệ giữa sản lượng tối đa Q mà doanh nghiệp có thể đạt được từ tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào( lao động, vốn…) với mộ trình độ công nghệ nhất định
Hàm sản xuất khái quát các phương pháp có hiệu quả về mặt kỹ thuật khi kết hợp các đầu vào để tạo ra các sản lượng đầu ra
Như vậy, khi các đầu vào có thể biến đổi về chất hay nói cách khác khi hang đổi mới các thiết bị áp dụng công nghệ hiện đại hơn thì tất yếu hàm sản xuất cũng biến đổi
Nếu một doanh nghiệp sử dụng K đơn vị vốn và L đơn vị lao động, kết quả thu được đơn vị sản phẩm bằng cách khai thác tốt nhất kỹ thuật có sẵn Ta có thể biểu diễn hàm sản xuấtnhư sau:
Q=f(K,L)
Trong hàm sản xuất trên đã hạn chế hai yếu tố sản xuất ( đầu vào ) là vốn và lao động Còn khi mở rộng ra ta có hàm sản xuất như sau:
Q=f(x1, x2…xn)
Trong đó: Q là sản lượng đầu ra
x1, x2…,xn là các yếu tố đầu vào
Trang 4Hàm sản xuất có dạng này được gọi là hàm sản xuất Cobb-Dougles ( tên nhà kinh tế học P.H Douglas và nhà thống kê học C.w.cobb ) hai ông đã nghiên cứu nền kinh tế nước Mỹ
từ năm 1899-1922 và xác định được hàm sản xuất của nền kinh tế nước Mỹ trong giai đoạn này là:
Sản phẩm trung bình của vốn là sản lượng trên mỗi đơn vị đầu vào vốn
Công thức : APK = Q/K
- Sản phẩm cận biên
Sản phẩm cận biên( Marginal product MP) là mức sản lượng đầu ra gia tăng khi lượng đầu vào biến đổi tăng them một đơn vị, với điều kiện giữ nguyên mức sử dụng các yếu tố đầu vào cố định khác
Trang 5- Quy luật hiệu suất cận biên giảm dần:
Nội dung : Năng suất cận biên của bất kỳ một yếu tố đầu vào biến đổi sẽ giảm dần khi sử dụng ngày càng nhiều hơn đầu vào đó trong quá trình sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định (với điều kiện giữ cố định các yếu tố đầu vào khá ).Khi K cố định, lượng lao động L càng tăng thì càng xảy ra nhiều thời gian chờ đợi , dẫn đến MPL sẽ có xu hướng ngày càng giảm
Ý nghĩa: 1 Cho biết mối quan hệ giữa năng suất bình quân (APL) và năng suất cận biện (MPL)
Khi số lượng sử dụng lao động tăng lên thì APLtăng lên và đạt cực đại tại
AP L max rồi giảm dần
MPL cũng vậy, tăng và đạt cực đại tại MPL max rồi giảm dần qua điểm APL max và bằng không (MPL = 0)
Mối quan hệ : Khi MPL > APLThì APL tăng dần
Khi MPL < APL thì APL giảm dầnKhi MPL = APL thì APL max
2 Cho phép lựa chọn được một cơ cấu đầu vào một cách tối ưu hơn
3 Cho biết mối quan hệ giữa MP và Q
Khi MP > 0 thì Q tăngKhi MP < 0 thì Q giảmKhi MP = 0 thì Q đạt cực đại
Điều kiện tồn tại quy luật sản phẩm cận biên giảm dần
Có ít nhất một yếu tố đầu vào là cố định
Tất cả các yếu tố đầu vào đều có chất lượng ngang nhau
Thường áp dụng trong thời gian ngắn hạn
1.4 Đường động lượng
Đồ thị miêu tả đường sản lượng trong dài hạn chính là “đường đồng lượng”
Trang 6a) Đường đồng lượng là đường gồm tập hợp những điểm biểu thị tất cả các kết hợp có thể
có của các yếu tố đầu vào để sản xuất ra cùng một mức sản lượng (cố định) nhất định Mỗi điểm trên đường đồng lượng đều có tính hiệu quả kĩ thuật ,có nghĩa là đối với mỗi một sự kết hợp trên đường đồng lượng cho phép tạo ra một mức sản lượng tối đa
b) Các trường hợp đặc biệt của đường đồng lượng:
Nếu 2 đầu vào K và L có khả năng thay thế hoàn hảo,đường đồng lượng là đường thẳng dốc xuống (đường có độ dốc âm,càng xa gốc tọa độ thì sản lượng càng tăng,không cắt nhau)
Nếu 2 đầu vào K và Lcó khả năng bổ sung hoàn hảo,đường đồng lượng là đường có
dạng hình chữ L (đường càng xa gốc tọa độ sản lượng càng thì sản lượng càng tăng,khôngbao giờ cắt nhau,điểm lựa chọn đầu vào là điểm góc chữ L)
c) Các tính chất của đường đồng lượng :
Đường đồng lượng là đường dốc xuống về phía phải có độ dốc âm
VD: Q = 2KL ta có phương trình của đường đồng lượng khi Q = 16 là K = 8/L
Đường đồng lượng có tất cả các tính chất giống đường bàng quan:
+Đường đồng lượng có độ dốc âm và dốc xuống về bên phải
+Các đường đồng lượng không cắt nhau
+Đường đồng lượng càng xa gốc tọa độ thì mức sản lượng càng cao
+Đường đồng lượng là đường cong lồi về phía gốc tọa độ
d) Tỷ lệ thay thế kĩ thuật cận biên(MRTS)
Tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên của lao động cho vốn là lượng vốn có thể giảm đi khi dùng thêm một đơn vị lao động nữa mà vẫn giữ mức nguyên sản lượng
MRTS = -∆K/∆L = MP(L) / MP(K)
(Giá trị của MRTS chính là giá trị tuyệt đối độ dốc của đường đồng lượng)
MRTS giảm dần khi chúng ta di chuyển xuôi xuống dọc theo đường đồng lượng
e) Mối quan hệ giữa MRTS và MP(L), MP(K)
-Sản lượng tăng do lao động tăng = MP(L).∆L
-Sản lượng giảm do vốn giảm = MP(K).∆K
Trang 7b) Đặc điểm
- Đường đồng phí bao gồm: tất cả các cách kết hợp có thể giữa người lao động và vốn
có thể mua được với một tổng chi phí cho trước hoặc có thể nói cách khác đường đồng phí biểu thị tất cả các kết hợp yếu tố đầu vào có thể mua được với một mức tổng chi phí nhất địnhtại mức giá đầu vào xác định
- Đường đồng phí là đường dốc xuống về phía phải và có độ dốc âm
- Độ dốc của đường đồng phí = -(w/r)
- Phương trình đường đồng phí là C0 = rK+wL hoặc K=
- Đồ thị biểu thị đường đồng phí:
Khi tổng chi phí tăng mà giá cả các yếu tố đầu vào không đổng sẽ dẫn tới có sự chuyểndịch song song lên phí trên của đường đồng phí Khi tổng chi phí giảm mà giá các yếu tố đầu vào không đổi sẽ dẫn tới sự dịch chuyển song song về phía dưới của đường đồng phí Nếu tồntại vô số các đường đồng phí thì mỗi đường đồng phí thể hiện một mức tổng chi phí nhất định
2 Bài toán sự lựa chọn đầu vào tối ưu của hãng
2.1 Lựa chọn đầu vào tối thiểu để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định:
Trang 8Bài toán đặt ra, giả sử, hãng muốn sản xuất một mức đầu ra là Q1, vậy có thể làm
việc đó như thế nào với một mức chi phí là tối thiểu
Giải quyết bài toán: dựa vào đường đồng lượng và đường đồng phí
K C3/r A
(hình 2.1:lựa chọn đầu vào tối thiếu hóa chi phí khi sản xuất mức sản lượng Q 0 )
Giả sử hãng chi phí sử dụng hai yếu tố đầu vào tối ưu: tập hợp điểm thỏa mãn là điểm tiếpxúc giữa đường đồng lượng và đường đồng phí gần gốc tọa độ nhất định có thể
A và B cùng với mức sản lượng Q0 như tại điểm E nhưng chi phí là C3 > C2 ,
gây lãng phí dẫn đến mục đích tối thiểu hóa chi tiêu không thực hiện được Hãng chỉ chọnmức chi phí tại điểm thỏa mãn phải nằm trên Q0 => Q0 = f(K,L)
Vậy để xác định các mức chi phí tối thiểu khi sản lượng tối ưu Q0 thì sự lựa chọn các đầu vàotối ưu phải thỏa mãn điều kiện cần và đủ sau đây:
MP L
w = MP K
r
Trang 9Q0 = f(K,L)
Từ hệ hãy xác định được yếu tố đầu vào là K* và L*
c Giải thích tại sao MP L
2.2 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối đa hóa sản lượng với một mức chi phí nhất định.
Cũng như sự lựa chọn đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí thì bài toán lựa chọn đầu vào tối
ưu để tối đa hóa lợi nhuận với mức chi tiêu nhất định cũng được hãng đặt ra khi hãng thựchiện kinh doanh với mức chi tiêu là C0
K
C/r A
(hình 2.2: lựa chọn đầu vào để tối ưu hóa sản lượng)
Để đơn giản hóa cho việc nghiên cứu ta giả sử hãng chỉ sử dụng hai đầu vào là vốn K với giáthuê mỗi đơn vị vốn là r, và lao động L với giá thuế mỗi đơn vị lao động là w
Trang 10Nguyên tắc của sự lựa chọn đầu vào tối ưu để tối đa hóa sản lượng với mức chi phí nhất định là tập hợp điểm thỏa mãn là điểm tiếp xúc giữa điểm thỏa mãn là điểm tiếp xúc giữađường đồng phí và đường đồng lượng xa gốc tọa độ nhất.
a Điều kiện cần
Không khác so với sự lựa chọn tối ưu để tối thiểu hóa chi phí
Dựa vào hình 2.2, tại điểm E, đường đồng lượng tiếp xúc với đường đồng phí Ta có độ dốc(theo giá trị tuyệt đối) của đường đồng lượng là MRTS = MP MP L
K, còn độ dốc của đường đồngphí (theo giá trị tuyệt đối ) bằng tỷ lệ tương đối giá của các yếu tố đầu vào, là w r Do đó, tạiđiểm E, giá trị MRTS bằng tỷ lệ giá của các yếu tố đầu vào Tại điểm kết hợp các yếu tố đầuvào có chi phí nhỏ nhất thì MRTS = w r Để tối thiểu hóa chi phí sản xuất ra một sản lượngnhất định, hãng cần lựa chọn kết hợp các yếu tố đầu vào sao cho:
w = MP K
r đúng cho cả ba trường hợp khi hãng thực hiện sản xuất tại 3 mứcsản lượng là Q0, Q1, Q2 nhưng khi thực hiện sản xuất tại mức sản lượng Q0 ví dụ như 2 điểm
Trang 11A và B thì hãng có thể thực hiện được với mức chi phí C nhưng mức sản lượng đạt được chỉ
là Q0 < Q1 Vì vậy hãng sẽ không thực hiệ sản xuất tại A và B khi hãng thực hiện sản xuất tạimức sản lượng Q2 thì hãng không thể thực hiện được sản xuất đó do chi phí khan hiếm vậy đểthực hiện việc tối đa hóa sản lượng tại mức chi phí cố định ta cần điều kiện đủ là tập hợpđiểm phải nằm trên đường đồng phí : C=rK+wL
Tóm lại, căn cứ vào sự lựa chọn đầu vào tối ưu mà với một mức sản lượng Q mà hãng đặt ra
có thể lựa chọn được đầu vào thích hợp , tối ưu nhất mà với sự lựa chọn đó thì hãng chỉphải trả với mức chi phí là ít nhất hay với mức chi phí cố định mà đem lại mức sản lượng tối
đa Từ đó đem lại lợi nhuận cao nhất cho hãng
Chương II Cơ sở thực tiễn
I T ng quan v Công ty c ph n giày H i D ổng quan về Công ty cổ phần giày Hải Dương ề Công ty cổ phần giày Hải Dương ổng quan về Công ty cổ phần giày Hải Dương ần giày Hải Dương ải Dương ương ng.
1 Quá trình hình thành và phát tri n ển
1.1 Gi i thi u v Công ty c ph n giày H i D ới thiệu về Công ty cổ phần giày Hải Dương ệu về Công ty cổ phần giày Hải Dương ề Công ty cổ phần giày Hải Dương ổ phần giày Hải Dương ần giày Hải Dương ải Dương ương ng
Tên đầy đủ: CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY HẢI DƯƠNG
Tên giao dịch tiếng anh: HAI DUONG SHOES JOINT STOCK COMPANY
Công ty cổ phần giày Hải Dương là một thành viên của Hội liên hiệp da giày Việt
Nam Tiền thân là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc Sở Công nghiệp Hải Hưng – Xí nghiệp
thuộc da Hải Hưng được thành lập theo quyết định số 240 TC ngày 05 tháng 7 năm 1984 của
UBND tỉnh Hải Hưng
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần giày Hải Dương có thể chialàm ba giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1984- 1993
Xí nghiệp thuộc da Hải Hưng thành lập năm 1984 tại thôn Phú Tảo, xã Thạch Khôi,huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng Diện tích đất đai là 17.000 m2 Xí nghiệp có nhiệm vụ thu mua
Trang 12gia súc giết mổ tại địa phương tập trung chế biến thành da và sản xuất các sản phẩm bằng daphục vụ nhu cầu địa phương và các tỉnh lân cận.
Từ khi thành lập đến năm 1985, Xí nghiệp thực hiện việc san lấp mặt bằng, xây nhàxưởng, văn phòng, đào tạo công nhân … đến năm 1988 đã cơ bản hoàn thiện việc đầu tư xâydựng, lắp đặt thiết bị máy móc & đi vào sản xuất
- Tổng giá trị vốn đầu tư: 758.000.000 đ
- Nguồn nhân lực: 200 người
Năm 1988 Xí nghiệp chính thức đi vào hoạt động, với sản phẩm chính là: mũ, giày,bóng, găng tay da; thị trường chính là Liên Xô
Năm 1990-1991, Liên Xô tan rã, thị trường tiêu thụ gặp rất nhiều khó khăn, xí nghiệpthành lập lại theo Quyết định số 899/ QĐ-UB ngày 30 tháng 10 năm 1992 của UBND tỉnhHải Hưng đổi tên thành xí nghiệp da giày Hải Hưng với nhiệm vụ chính là sản xuất da giày,giả da, giày vải, đế cao su, găng tay vải, găng tay da, bảo hộ lao động Song tình hình sản xuấtvẫn kho khăn không tiêu thụ được sản phẩm, Xí nghiệp tiếp tục tìm hướng đầu tư mới, tiếpcận & hợp tác được với tập đoàn Freedom ( Hàn Quốc) Thỏa thuận hợp tác xây dựng nhàmáy sản xuất giày thể thao công suất 1,5 triệu đôi/ năm
Giai đoạn này là giai đoạn khó khăn nhất của Xí nghiệp, có lúc tưởng chừng rơi vàotình trạng giải thể do thiếu kỹ thuật thuộc da, dây chuyền sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuấtnhỏ, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được, công nhân không có việc làm… nhưng banlãnh đạo Xí nghiệp đã quyết định chủ động cải tiến bộ máy quản lý và tìm hướng đầu tư mới
*Giai đoạn 1993 đến tháng 6/2003
Với 17.000m2 đất Xí nghiệp lâm vào tình trạng cơ sở vật chất thiếu thốn, mặt bằnghiện tại của doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu sản xuất Trước tình hình đó, Xínghiệp đã đề nghị với UBND tỉnh và được chấp thuận Ngày 31 tháng 3 năm 1993 theo quyếtđịnh số 414/ QĐ-UB Xí nghiệp da giày Hải Hưng sáp nhập với Xí nghiệp sứ Hải Hưngchuyển địa điểm về 99, Phủ Lỗ, xã Hải Tân, thị xã Hải Hưng Tổng diện tích mặt bằng là50.000m2, tổng tài sản hiện có trị giá 442 triệu đồng