MỞ ĐẦU1 1.Lý do chọn đề tài1 2.Lịch sử nghiên cứu3 3.Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn6 4.Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn7 5.Phương pháp nghiên cứu7 6.Kết cấu của luận văn7 NỘI DUNG8 Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN – CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN8 1.1. Nguyễn Trãi – con người và sự nghiệp8 1.1.1.Tiểu sử của Nguyễn Trãi8 1.1.2.Sự nghiệp của Nguyễn Trãi10 1.2. Tiền đề cho sự ra đời tư tưởng triết học Nguyễn Trãi12 1.2.1.Tình hình kinh tế, chính trị12 1.2.2.Tình hình văn hóa, tư tưởng14 1.2.3.Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi16 1.2.4.Ảnh hưởng của truyền thống gia đình, văn hóa dân tộc đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi23 1.3. Tư tưởng triết học cơ bản của Nguyễn Trãi30 1.3.1. Tư tưởng nhân nghĩa30 1.3.2. Tư tưởng thân dân47 Tiểu kết chương 170 Chương 2: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY71 2.1. Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc xây dựng con người mới71 2.2. Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc thực hiện chế độ dân chủ, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa82 2.3. Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia87 Tiểu kết chương 293 KẾT LUẬN94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO96
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Duy Hoa Các dẫn chứng trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học dựa trên kết quả thu thập
từ các tư liệu và tài liệu tham khảo có trích nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Triết học cùng các thầy cô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Hội đồng khoa học và cô hướng dẫn TS Lê Thị Duy Hoa đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận văn Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ để tôi có thể học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn của mình.
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN – CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN 8
1.1 Nguyễn Trãi – con người và sự nghiệp 8
1.1.1 Tiểu sử của Nguyễn Trãi 8
1.1.2 Sự nghiệp của Nguyễn Trãi 10
1.2 Tiền đề cho sự ra đời tư tưởng triết học Nguyễn Trãi 12
1.2.1 Tình hình kinh tế, chính trị 12
1.2.2 Tình hình văn hóa, tư tưởng 14
1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi 16
1.2.4 Ảnh hưởng của truyền thống gia đình, văn hóa dân tộc đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi 23
1.3 Tư tưởng triết học cơ bản của Nguyễn Trãi 30
1.3.1 Tư tưởng nhân nghĩa 30
1.3.2 Tư tưởng thân dân 47
Tiểu kết chương 1 70
Trang 5Chương 2: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN TRÃI
TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY 71
2.1 Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc xây dựng con người mới 71
2.2 Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc thực hiện chế độ dân chủ, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa 82
2.3 Giá trị tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đối với việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia 87
Tiểu kết chương 2 93
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước có nền văn hiến lâu đời, có truyền thống đấu tranhdựng nước và giữ nước Ngay từ thời Âu Lạc nhân dân ta đã phải đấu tranhchống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước Trải qua bao thăng trầmlịch sử với bốn nghìn năm văn hiến, nhân dân ta đã xây dựng cho mình nhữngtruyền thống văn hóa, những hệ tư tưởng riêng mang màu sắc dân tộc Việt Trong quá trình xây dựng và phát triển, mỗi một quốc gia, dân tộc đềuhình thành nên cho mình những hệ tư tưởng riêng mà cụ thể là tư tưởng triếthọc mang màu sắc dân tộc Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung
đó Khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử triếthọc nói riêng có nhiều ý kiến khác nhau về việc Việt Nam có triết học haykhông Nhà nghiên cứu Lê Hữu Tầng nhận định: Việt Nam có triết học, bởivấn đề cơ bản của triết học, theo Ph.Ăngghen là mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức, tự nhiên và tinh thần, tồn tại và tư duy Ở Việt Nam, lịch sử triết họckhông điển hình, khó viết, bởi không có triết học như các nước khác, không
có các trường phái triết học, hệ thống các phạm trù triết học rõ ràng như triếthọc phương Tây Lịch sử tư tưởng triết học phản ánh trình độ phát triển vềmặt tư duy lí luận cũng như thực tiễn của mỗi dân tộc Vì vậy việc nghiên cứulịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là điều nên làm trong xã hội ngày nay Lịch sử tư tưởng nhân loại thực chất là lịch sử theo đuổi các mục đíchkhác nhau Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại mới với nền kinh tế trithức và bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực như kinh tế,chính trị, văn hóa, giáo dục, quân sự Hội nhập đã đặt ra nhiều cơ hội cũngnhư thách thức cho hầu hết các quốc gia trên thế giới Việt Nam đã từng bướctham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, sự hội nhập mang lại nhiều cơ hộiphát triển kinh tế, chính trị, giáo dục nhưng nó cũng ảnh hưởng không nhỏ
Trang 7đến đời sống tinh thần xã hội về mặt đạo đức, lối sống, tư tưởng Trong nghịquyết hội nghị lần thứ 5 BCH TW Đảng khóa IX đã chỉ rõ: văn hóa khôngnhững chỉ là mục đích mà còn là động lực của sự phát triển Hội nhập là đểphát triển bền vững, hòa nhập nhưng không hòa tan, giữ gìn được bản sắc vănhóa dân tộc Vì vậy, nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam góp phầnthực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Ngày nay, Việt Nam ngày càng khẳng định được vị thế của mình trêntrường quốc tế cả về kinh tế, chính trị, văn hóa Cùng với quá trình hội nhập
là sự du nhập, lai căng của văn hóa phương Tây làm cho con người mất dần đinhững đạo đức truyền thống của dân tộc, sự suy đồi về đạo đức, phẩm chất,xuất hiện những lối sống vị kỉ, thực dụng, làm cho mối quan hệ giữa conngười với con người ngày càng trở nên xa cách Đây cũng là thách thức đặt racho các nước trong việc phát triển và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Thực tế cho thấy muốn phát triển bền vững thì không thể chỉ nhìn vàothực tại, hướng tới tương lai mà lãng quên đi quá khứ của dân tộc, Vì thế,quay trở về tìm hiểu những giá trị tư tưởng truyền thống của dân tộc là bànđạp vững chắc cho sự phát triển trong thời kì hội nhập Nó không đơn thuầnchỉ là sự tìm về quá khứ, để phục cổ, hoài cổ mà là để hiểu rõ hơn quá khứcủa dân tộc để từ đó định hướng cho sự phát triển trong tương lai của dân tộcViệt Nam nói riêng và nhân dân thế giới nói chung Bên cạnh đó, nó còn gópphần giáo dục đạo đức con người trong thời đại mới
Trong tiến trình phát triển lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đãsản sinh ra biết bao nhà tư tưởng, nhà chính trị, quân sự, tài ba Trong số rấtnhiều các vị anh hùng kiệt xuất từ trước đến nay, ở thế kỉ XV Nguyễn Trãixuất hiện như ngôi sao khuê tỏa sáng Nguyễn Trãi không chỉ là môt nhàchiến lược quân sự, nhà chính trị, ngoại giao mà còn là một nhà văn hóa tưtưởng lớn Có thể nói, tư tưởng Nguyễn Trãi đạt đến đỉnh cao của thời đại và
Trang 8ông đã có những đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung vàlịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nói riêng Với nội dung tư tưởng tiến bộ,lòng yêu nước thương dân, ý thức độc lập tự chủ, lòng nhân ái và ước vọngthái bình, quan hệ hòa chiến giữa các dân tộc đã ăn sâu vào trong tâm thứccủa Nguyễn Trãi
Từ những lí do trên tôi nhận thấy việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng ViệtNam mà cụ thể là tư tưởng triết học Việt Nam là điều cần thiết và quan trọng.Bên cạnh việc nghiên cứu tư tưởng triết học dân tộc còn phải chỉ ra những giá
trị của nó trong xã hội ngày nay, vì thế tôi quyết định lựa chọn đề tài “Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi và giá trị của nó trong xã hội ngày nay”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Nguyễn Trãi là một vĩ nhân vào loại hiếm có, tiêu biểu nhất cho các giátrị tinh thần của dân tộc ta trong lịch sử hàng ngàn năm dưới chế độ phongkiến Tư tưởng của Nguyễn Trãi nói chung và tư tưởng triết học của ông nóiriêng rất đa dạng và phong phú, có giá trị nên được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm tìm hiểu Số lượng các công trình nghiên cứu về tư tưởng củaNguyễn Trãi rất đồ sộ với những bài viết, những công trình khoa học đượcđăng trên các sách, báo, tạp chí Cụ thể:
“Bàn thêm về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi (nhân đọc bài thử tìm hiểu tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi của Trần Nghĩa)”, Bùi Văn
Nguyên, Tạp chí Triết học, số 3, 10/1964 Trong bài viết tác giả bước đầu đãchỉ ra việc Nguyễn Trãi có tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Mạnh trênhai khía cạnh Một là, Nguyễn Trãi có tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa qua sáchTống nho không Hai là, nhận định mức độ tiến bộ trong tư tưởng nhân nghĩacủa Nguyễn Trãi như thế nào Như vậy, bài viết đã phần nào chỉ ra được nguồngốc tư tưởng triết học mà cụ thể là tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Trang 9Luận án tiến sĩ Triết học “Tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh
hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi”, Triệu Quang Minh Luận án đã
trình bày một cách cụ thể nhất về tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, từ đó điđến khẳng định sự ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi Nhưng sựtiếp thu của Nguyễn Trãi không phải là sự dập khuôn, máy móc mà nó có sựtiến bộ, sáng tạo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước ta Đồng thời,luận văn còn chỉ ra những giá trị trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãiđối với việc giáo dục đạo đức con người trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên,luận văn chỉ mới dừng lại khai thác một khía cạnh trong tư tưởng triết học củaNguyễn Trãi đó là tư tưởng nhân nghĩa
“Mấy nét tổng quát về Nho giáo trong lịch sử Việt Nam”, Lê Sĩ Thắng,
“Nho giáo và tư tưởng “nhân nghĩa” nửa đầu thế kỉ XV”, Nguyễn Sĩ
Cẩn, Tạp chí Triết học, số 1 (24), 1/1979
“Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi với thời đại của ông”, Bùi Văn
Nguyên, Nội san nghiên cứu Đại học Sư phạm Hà Nội, số 3, 1970
“Nhân cách nhà nho trong con người Nguyễn Trãi”, Nguyễn Văn Bình,
Trang 10giá trị của tư tưởng đó trong thời đại Nguyễn Trãi cũng như trong thời đạingày nay Tuy nhiên, chưa có một bài viết hay công trình khoa học nào trìnhbày cụ thể toàn bộ tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi
Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy, bên cạnh những bài viết về
tư tưởng nhân nghĩa cũng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tưtưởng thân dân, quan niệm về con người, tự nhiên của Nguyễn Trãi
“Bàn thêm về tư tưởng “nhân dân” của Nguyễn Trãi”, Nguyễn Anh,
Nghiên cứu Lịch sử, số 84, 3/1966
“Vài nét về quan niệm chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Trãi”, Nguyễn
Đổng Chi, Nghiên cứu Lịch sử, số 132, 5 và 6/1970
“Thử tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi”, Hoài
Phương, Nghiên cứu Lịch sử, số 8, tháng 11/1965
Trên cơ sở khảo sát chúng tôi nhận thấy các bài viết, công trình khoa họcnghiên cứu về tư tưởng thân dân, yêu nước của Nguyễn Trãi tương đối phongphú và đạt được những giá trị nhất định Nhưng đó mới chỉ là một nội dung
cơ bản trong tư tưởng triết học Nguyễn Trãi, chưa khái quát hết được tư tưởngcủa ông Ngoài ra còn một số bài viết, nghiên cứu về tư tưởng của Nguyễn
Trãi như: “Con người trong tư tưởng Nguyễn Trãi”, Nguyễn Bá Cường, Tạp chí Triết học, Viện Triết học, số 7 “Quan niệm của Nguyễn Trãi và Nguyễn
Bỉnh Khiêm về tính người”, Kỷ yếu hội thảo khoa học cán bộ trẻ các trường
Đại học Sư phạm toàn quốc lần 1, 2011, Nxb Đại học Sư phạm “Nguyễn
Trãi - người anh hùng dân tộc”, Phạm Văn Đồng, Báo Nhân dân số 3099,
19/9/1962 “Kỉ niêm 600 năm sinh Nguyễn Trãi”, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1982 Như vậy, Nguyễn Trãi là một đề tài thu hút nhiều người quan tâmnghiên cứu để hiểu hơn về một con người vĩ đại đã sống hết mình vì dân vìnước Toàn bộ tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi còn là mảnh đất màu mỡcho nhiều nhà nghiên cứu muốn khám phá, lĩnh hội và phát triển Trong quátrình khảo sát tôi nhận thấy có một số bài viết đã bước đầu nghiên cứu về tư
Trang 11tưởng triết học của Nguyễn Trãi một cách toàn diện như bài viết “Về tư tưởng
triết học của Nguyễn Trãi”, Doãn Chính, Tạp chí Triết học, số 9 (220), tháng
9/2009 Bài viết đã chỉ ra tiền đề lí luận cho việc hình thành tư tưởng triết họccủa Nguyễn Trãi Tiếp đó, nghiên cứu tư tưởng triết học Nguyễn Trãi trên banội dung chính là: quan điểm của Nguyễn Trãi về thiên mệnh, về trời đất vàcon người; tư tưởng của Nguyễn Trãi về nhân nghĩa, đặc biệt là tư tưởng vềdân và vai trò của dân; quan niệm của Nguyễn Trãi về thời Mặc dù có nhữngluận điểm nhất định về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi nhưng bài viết mớichỉ dừng lại ở việc liệt kê, chưa đi vào phân tích sâu sắc từng nội dung để cóthể bao quát toàn bộ tư tưởng Nguyễn Trãi
Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học ít nhiều đã đềcập đến tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi ở những cấp độ nhất định, tuynhiên chưa có sự bao quát nhất định mà chỉ đi vào nội dung cụ thể Vấn đề tưtưởng triết học của Nguyễn Trãi và giá trị của nó chưa được khai thác mộtcách triệt để và đúng mức trong tình hình xã hội ngày nay Dựa trên sự khảosát và đánh giá lịch sử nghiên cứu vấn đề, trên tinh thần kế thừa có chọn lọc
và phát triển các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã có, tôi tiến hành
nghiên cứu vấn đề “Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi và giá trị của nó trong xã hội ngày nay” nhằm góp phần đem lại cái nhìn hệ thống, toàn diện
hơn về tư tưởng triết học Nguyễn Trãi, đồng thời đánh giá những giá trị hiệnthời của những tư tưởng đó trong việc phát triển xã hội ngày nay, đặc biệt làviệc giáo dục đạo đức con người trong thời đại mới
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: làm rõ những tư tưởng triết học cơbản của Nguyễn Trãi, từ đó đánh giá những giá trị của nó đối với việc giáodục con người và phát triển đất nước trong thời đại ngày nay
Trang 12- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi và giá trịcủa nó trong xã hội ngày nay
- Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, giá trị của nó
đối với giáo dục con người và phát triển xã hội ngày nay
4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
* Những luận điểm cơ bản:
- Lịch sử tư tưởng Việt Nam là một kho tàng đồ sộ và có giá trị, mang
đậm tính nhân văn, nhân đạo
- Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi đã đạt đến đỉnh cao trong lịch sử
tư tưởng Việt Nam thế kỉ XV
- Tư tưởng triết học Nguyễn Trãi chứa đựng những giá trị to lớn, góp phầngiáo dục, xây dựng con người mới, hướng tới xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
* Đóng góp mới của luận văn:
- Góp phần nghiên cứu làm sâu sắc thêm lịch sử tư tưởng Việt Nam, góp
phần khẳng định thêm Việt Nam có tư tưởng triết học
- Luận văn góp phần nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng triết học
của Nguyễn Trãi
- Luận văn chỉ ra những giá trị tích cực trong tư tưởng triết học của
Nguyễn Trãi, ý nghĩa của nó đối với giáo dục, xây dựng con người mới vàphát triển xã hội
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luân văn là phương phápcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chútrọng kết hợp các phương: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương phápquy nạp, diễn dịch; phương pháp lịch sử - logic, phương pháp so sánh
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 2 Chương, 6 tiết
Trang 13NỘI DUNG
Chương 1
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA NGUYỄN – CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN 1.1 Nguyễn Trãi – con người và sự nghiệp
1.1.1 Tiểu sử của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380 ở kinh đô Thăng Long, concủa Nguyễn Ứng Long và Trần Thị Thái Trần Nguyên Đán – ông ngoại củaNguyễn Trãi, một vị tôn thất nhà Trần, cháu 4 đời của Trần Quang Khải TrầnNguyên Đán thời Trần Duệ Tông làm đến chức Nhập nội kiểm hiệu Tư đồBình Chương Quốc Thượng Hầu
Nguyễn Ứng Long (sau đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh) nguyên làngười làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, là một người học trò thông minhhọc giỏi, biết làm thơ từ năm mười một tuổi, lớn lên đến mở trường dạy học ởlàng Nhị Khê rồi sau nhập tịch vào làng Nhị Khê Nguyễn Ứng Long có tiếnghay chữ được Trần Nguyên Đán biết đến và đón về dạy kèm con gái Trần ThịThái Nguyễn Ứng Long được Trần Nguyên Đán rất yêu trọng và thường gọi
là “ thầy kiểm Nhị Khê”
Năm 1385, Trần Nguyên Đán cáo quan về hưu ở động Thanh Hư trên núiCôn Sơn Lúc này cậu bé Nguyễn Trãi cũng về Côn Sơn ở với ông ngoại Ở CônSơn được ít lâu mẹ Nguyễn Trãi mất, đến năm 1390, ông ngoại Nguyễn Trãi làTrần Nguyên Đán cũng mất Nguyễn Trãi về làng Nhị Khê sống với cha làNguyễn Phi Khanh Ở đây, Nguyễn Trãi cùng với ba em là Nguyễn Phi Hùng,Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Báo nhận được sự giáo dục trực tiếp của cha làNguyễn Ứng Long Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi mở ra cho Nguyễn ỨngLong một con đường tiến thân Nguyễn Ứng Long đổi tên là Nguyễn PhiKhanh ra làm quan cho nhà Hồ và tới đời Hồ Hán Thương được thụ chức Đại
Trang 14lý tự khanh, kiêm Thị lang tòa Trung thư, Học sĩ viện Hàn lâm, lại lĩnh chức
Tu nghiệp ở trường Quốc tử Năm 1400, Nguyễn Trãi đi thi, ông đậu Thái họcsinh (tiến sĩ) sau đó được nhà Hồ cử giữ chức Ngự sử đài chánh trưởng.Nguyễn Trãi cùng cha là Nguyễn Phi Khanh làm quan cho nhà Hồ được 6năm thì quân Minh xâm lược nước ta Năm 1407, cuộc kháng chiến của nhà
Hồ thất bại Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần, trong đó có Nguyễn PhiKhanh bị bắt, đưa về Trung Quốc Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Trung Quốc
ít lâu thì mất do không hợp thủy tổ Từ năm 1407 đến năm 1417, Nguyễn Trãi
bị giam lỏng 10 năm ở thành Đông Quan dưới sự kiểm soát của quân Minh.Tuy bị giam cầm, song chí hướng của ông vẫn rất mãnh liệt Không nhữngnghiền ngẫm sách vở, ông còn quan tâm đến thời cuộc bên ngoài với nhữngcuộc khởi nghĩa đang diễn ra trong nước Năm 1417, khi nghe tin người anhhùng Lê Lợi đang tập hợp hào kiệt để đánh đuổi quân Minh, Nguyễn Trãi đãtìm đến với Lê Lợi Tham gia vào hàng ngũ nghĩa quân, Nguyễn Trãi được LêLợi tin dùng và phong cho là Tuyên phụng đại phu hàn lâm thừa chỉ, có địa vịnhư một quân sư trong màn tướng Sau khi nước nhà giành được độc lập,trước lời dèm pha của lũ nịnh thần, Nguyễn Trãi không còn được nhà vua tindùng như trước nữa Từ đó ông sinh ra chán nản vì không thể cống hiến được
gì để xây dựng xã hội vẫn còn đang đầy rẫy những rối ren, biến động Sốngtrong cảnh nhàm chán ở triều đình nên Nguyễn Trãi quyết định cáo quan về ở
ẩn tại Côn Sơn Dưới triều vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi lại tiếp tục ra làmquan và cống hiến cho triều Lê Cũng vì vậy, ông lại rơi vào thảm án Lệ Chi
Viên Sau vụ án Lệ Chi viên, ông bị giáng tội “chu di tam tộc” Cái chết của
dòng họ nhà Nguyễn Trãi đã gây nên một niềm tiếc thương vô hạn trong lòngdân chúng cho một gia đình đại anh hùng dân tộc Sau này khi nói về NguyễnTrãi, Phạm Văn Đồng đã nhận định nguyên nhân dẫn đến thảm án của gia đình
Nguyễn Trãi là “Đối với triều đình nhà Lê lúc bấy giờ, sau khi “bốn biển đã yên
Trang 15lặng”, Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm án vô cùng đau thương của Nguyễn Trãi bị “tru di” ba họ là ở đó” [21] Nữ sĩ Yveline Feray (Pháp) đã có lời phát biểu: “Tấn bi kịch của Nguyễn Trãi là tấn bi kịch của một người khổng lồ sống giữa đám người lùn”.
Cái xã hội quá bé nhỏ ấy không đủ sức chứa đựng một anh hùng, một thiên tàilớn lao như Nguyễn Trãi nên kết cục là vị thiên tài, anh hùng ấy phải đi đến mộtthế giới khác
Năm Kỷ Mão (1459) Lê Tư Thành lên ngôi vua, tức Lê Thánh Tông.Năm Giáp Thân (1464) Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho NguyễnTrãi Cảm phục trước tài năng và cái tâm vì dân vì nước của Nguyễn Trãi, vua
Lê Thánh Tông đã có một câu thơ nói về Nguyễn Trãi: “ Ức Trai tâm thượng
quang khuê tảo”
1.1.2 Sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Cuộc đời Nguyễn Trãi gắn liền với công cuộc bảo vệ và xây dựng đấtnước Ông không chỉ là nhà quân sự, nhà chính trị kiệt xuất, mà còn là mộtnhà văn, nhà thơ với nhiều tác phẩm đồ sộ Đặc biệt những tác phẩm của ôngmang tính bút chiến cao góp phần không nhỏ vào công cuộc đánh bại kẻ thù
và nâng cao ý chí chiến đấu của quân và dân ta Sau khi bị quân Minh giamlỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã tìm đến Lê Lợi Năm 1423, Nguyễn Trãi
dâng “Bình Ngô sách” lên Lê Lợi Năm 1428 chống Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi được vua giao soạn Chiếu cầu hiền tài, “Hậu tự huấn” để răn bảo thái tử.
Sau khi phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, Nguyễn Trãi được vua Lêtin tưởng giao cho ông nhiều trọng trách, giúp nhà Lê xây dựng đất nước.Nhưng vì được vua tin tưởng nên Nguyễn Trãi không tránh khỏi có kẻ ghenghét, đố kị Bọn gian thần trong triều đình luôn gièm pha khiến Nguyễn Trãikhông được vua tin dùng như trước nữa Trước tình hình đó, Nguyễn Trãi đãxin cáo quan về ở ẩn tại quê nhà Năm 1434, ông lại được nhà vua triệu ra làm
Trang 16quan, được cử vào điện kinh diên dạy cho vua học tập, soạn sách “Dư địa
chí” để giáo dục về địa lý, phong tục và soạn lễ nhạc cho triều đình Trong tác
phẩm này Nguyễn Trãi đã phần nào khẳng định được chủ quyền độc lập củadân tộc trên nhiều mặt như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, Nguyễn Trãi
để lại nhiều tác phẩm có giá trị nhưng theo thời gian thì số lượng tác phẩm bịthất lạc cũng khá nhiều Đến giữa thế kỉ XIX, Dương Bá Cung sưu tầm lại cáctác phẩm của Nguyễn Trãi và in thành bộ “Ức Trai di tập” Các tác phẩm tiêubiểu của Nguyễn Trãi bao gồm: “Quân trung từ mệnh tập”, “Bình Ngô đạicáo”, “Dư địa chí”, “Ức Trai thi tập”, “Lam Sơn thực lục”, “Văn bia VĩnhLăng”, “Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh”, Các tác phẩm của Nguyễn Trãiđều chứa đựng những giá trị to lớn về giáo dục đạo đức con người, đặc biệt làgiáo dục lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa Có thể nói, sự nghiệp sángtác của Nguyễn Trãi với nhiều tác phẩm lớn đã thể hiện hầu hết các tưtưởng triết học của ông Bên cạnh đó, trong thời gian kháng chiến chốngquân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi đã có nhiều đóng góp vào chính sáchquân sự của dân tộc Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với nhân dân ViệtNam nói riêng và thế giới nói chung là không thể phủ nhận Năm 1980, tổchức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc (UNESCO) côngnhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa thế giới và tổ chức các hoạt độngtôn vinh ông ở nhiều nước trên thế giới Việt Nam và UNESCO đã tổ chứctrọng thể lễ kỉ niệm lần thứ 600 năm ngày sinh của ông Mặc dù sống cáchđây nhiều thế kỉ nhưng những gì Nguyễn Trãi để lại còn giá trị rất lớn cả vềmặt tinh thần lẫn vật chất đối với nhân dân Việt Nam và nhiều nước trênthế giới Nhân cách cao đẹp và những tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi đãđem lại những giá trị to lớn, đáng để cho thế hệ trẻ kế thừa, học tập trongquá trình xây dựng và phát triển đất nước
Trang 171.2 Tiền đề cho sự ra đời tư tưởng triết học Nguyễn Trãi
1.2.1 Tình hình kinh tế, chính trị
Nguyễn Trãi sinh trưởng trong giai đoạn nhà Trần đang trên đà suyvong, vua quan nhà Trần không quan tâm đến việc xây dựng đất nước Trướctình hình đó mọi vấn đề trong xã hội đều nằm trong tay Hồ Quý Ly Cuối thế
kỉ XIV, tức cuối thời Trần, chế độ đại điền trang và chế độ nô tỳ khủng hoảng
dữ dội, cản trở nghiêm trọng sức sản xuất của xã hội Trong lúc nền kinh tếđại điền trang của tầng lớp quý tộc bị lung lay thì nền kinh tế của tầng lớp địachủ mới với chế độ mua bán ruộng đất ngày càng phát triển Trong xã hộihình thành: mâu thuẫn giữa tầng lớp địa chủ mới và quý tộc, mâu thuẫn giữaquý tộc và nô tỳ Cuối thời Trần, nền kinh tế địa chủ không những có khảnăng làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển mà còn tạo điều kiện cho sảnxuất công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển Sản xuất công nghiệp và thủcông nghiệp phát triển là tiền đề cho thương nghiệp phát triển
Cuối thế kỉ XIV, trước sự suy vong của nhà Trần, Hồ Quý Ly với tưcách là Tể tướng đã tiến hành các biện pháp cải cách về kinh tế, chính trị, vănhóa, giáo dục nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của chính quyền trungương nhưng vẫn không giải quyết được tình trạng suy thoái của đất nước vàkhông cải thiện được đời sống khốn khổ của nhân dân Năm 1400, Hồ Quý
Ly lên ngôi vua, họ Hồ thay thế họ Trần nhưng cuộc khủng hoảng xã hội vẫndiễn ra gay gắt Cải cách của nhà Hồ quá táo bạo và nôn nóng nên gặp nhiềukhó khăn Trong những chính sách cải cách của họ Hồ thì chính sách hạn điền
và hạn nô là đáng chú ý Hồ Quý Ly đã nhìn thấy căn bệnh của xã hội nhưngông không dưạ hẳn vào tầng lớp địa chủ mới là một lực lượng xã hội mới Do
đó, cải cách của ông không có hiệu quả lâu dài Năm 1406, giặc Minh xâmlược nước ta Tháng 6 năm 1407 cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, nước
ta chịu ách đô hộ của nhà Minh Dưới ách thống trị của nhà Minh khiến nhân
Trang 18dân ta rơi vào cảnh lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra đấu tranh giành độclập dân tộc Năm 1427, khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi mở ra một giai đoạnmới trong lịch sử phát triển dân tộc Dưới thời Lê sơ (1428 – 1527) nhà nướcphong kiến đưa ra nhiều chính sách cải cách mọi mặt của đời sống kinh tế, xãhội Về kinh tế, thực hiện chế độ lộc điền, quân điền, quy định chia lại ruộngđất công của làng xã
Nhà Lê đã lợi dụng một cách khôn khéo chế độ công xã để phục vụ lợiích của nhà nước phong kiến Với chế độ quân điền, nhà Lê một mặt vẫn bảotồn công xã, mặt khác biến công xã thành cơ sở bóc lột của chính quyềnphong kiến, biến thành viên của công xã thành những người nông dân lệthuộc vào nhà nước phong kiến Chính sách ruộng đất của nhà Lê về căn bản
là sự phân phối lại quyền sử hữu ruộng đất trong nội bộ giai cấp phong kiếnnhằm củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền, đảm bảo lợi ích củagiai cấp địa chủ Nhìn chung, chính sách ruộng đất thời kì này đã giải quyếtnhững mâu thuẫn kinh tế, xã hội đặt ra cuối thời Trần, khách quan thúc đẩy sựphát triển nền kinh tế nông nghiệp, tuy nhiên cũng chứa đựng mầm mốngnhững mâu thuẫn nội tại nảy sinh trong xã hội sau này
Về chính trị, triều đình tuyển lựa quan lại thông qua quân công và khoa
cử để xây dựng bộ máy quan liêu hành chính Chế độ quan chế được quy định
cụ thể Hình luật được đề cao Triều đình chia thành 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh,Hình, Công do các thượng thư đứng đầu, giúp việc có hai thí lang, bên cạnh
có sáu khoa kiểm soát các bộ Nhà vua trực tiếp điều khiển triều đình Để đềcao quyền lực tối thượng của nhà vua, chức tể tướng và một số chức danh đạithần khác bị bãi bỏ, nghiêm cấm quan lại và giới quý tộc thành lập quân độiriêng Bộ máy hành chính các cấp được cải tổ theo hướng tăng cường sự chiphối của triều đình và hạn chế quyền lực địa phương
Trang 19Xã hội thời Lê tương đối ổn định và phát triển, có 2 đẳng cấp chính làquan liêu và thứ dân Các quan hệ giai cấp đã đan xen vào quan hệ đẳng cấp.Trong đó quan liêu là đẳng cấp cầm quyền, cai trị đồng thời được coi là tầnglớp ưu tú của xã hội, có trách nhiệm yêu nuôi và giáo hóa dân chúng; thứ dân
là giai tầng bị cai trị gồm 4 tầng lớp là: sĩ, nông, công thương Nho sĩ thời Lê
là cầu nối giữa bình dân và quan liêu Dưới thời Lê, Nho giáo được độc tôn,trở thành hệ tư tưởng chính thống Đạo Phật và đạo Lão vẫn tồn tại trong đờisống nhân dân nhưng những tư tưởng bi quan, định mệnh chỉ thoảng quahoặc vắng bóng trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng Những đặc điểmchính trị nêu trên đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của Nguyễn Trãi Cuộcđời của Nguyễn Trãi luôn gần gũi nhân dân, tiếp thu những tinh hoa trongđời sống tư tưởng của nhân dân, hiểu rõ nguyện vọng của nhân dân, chịu ảnhhưởng những giá trị tích cực của Nho giáo Vì vậy, Nguyễn Trãi có những tưtưởng thân dân, tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng hòa bìnhrất độc đáo và phong phú trong thời đại mà ông trưởng thành và hoạt động
1.2.2 Tình hình văn hóa, tư tưởng
Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên giữa những ngày đen tối nhất của đất nước
Đây được coi là “thời kì bản lề của hai chặng đường văn hóa Việt Nam” Có
thể nói, trước Nguyễn Trãi là một nền văn hóa Đại Việt được cấu trúc theo môhình Phật giáo, sau Nguyễn Trãi là một nền văn hóa Đại Việt được cấu trúctheo mô hình Nho giáo [68;727 – 728] Trước tình hình xã hội có nhiều biểnchuyển cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, Nguyễn Trãi đã kế thừa những tinhhoa của nhân loại làm nền tảng cho những tư tưởng triết học của ông
Trong lịch sử phát triển tư tưởng của Việt Nam, Nho giáo, Phật giáo,Đạo giáo đều du nhập vào theo những cách khác nhau và có tầm ảnh hưởngtrong đời sống tư tưởng của người dân Đại Việt ở những mức độ khác nhautùy vào từng giai đoạn lịch sử nhất định Giai cấp thống trị Đại Việt đã sử
Trang 20dụng Nho giáo có chọn lọc tùy theo điều kiện cụ thể để tổ chức và xây dựng
xã hội Nếu như thời Lý – Trần, Phật giáo giữ vị trí độc tôn thì đến thời Lê sơ,Nho giáo trở thành quốc giáo, chi phối mọi mặt của đời sống xã hội, phục vụcho lợi ích của giai cấp thống trị Các vua Lê đã tiếp thu tư tưởng Tống Nho,coi đây cơ sở ý thức chính trị và đạo đức trong quá trình xây dựng triều đại.Tuy nhiên, với nền tảng văn hiến đã được tạo dựng từ thời Lý – Trần, giai cấpthống trị đã kế thừa Nho giáo một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điềukiện kinh tế - xã hội của đất nước Điều đó được thể hiện ở một số nét như: tưtưởng trung quân gắn liền với ái quốc; tư tưởng thân dân, tôn dân, dân bản; tưtưởng nhân nghĩa, nhân văn mang tinh thần Đại Việt; tư tưởng khoan dung,khoan hòa của dân tộc; tư tưởng xây dựng một xã hội hòa bình, thịnh trị,trường tồn ngang hàng với phương Bắc, được giải thích theo khuynh hướngtích cực, tiến bộ và mang tính biện chứng sâu sắc Nhận thức đúng đắn và sâusắc về độc lập dân tộc, sức mạnh của nhân dân và tinh thần nhân nghĩa là đặcđiểm nổi bật nhất trong tư tưởng Nguyễn Trãi Dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽcủa Nho giáo thì Phật giáo và Đạo giáo không còn chiếm ưu thế trong xã hộinhư trước Tuy nhiên các tư tưởng này vẫn tiếp tục được bảo tồn trong đờisống xã hội và có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh của nhân dân laođộng
Về giáo dục – khoa cử: nhà Lê sơ đặc biệt coi trong vấn đề giáo dục, thi
cử, xây dựng một chế độ đào tạo nho sĩ và quan lại rất chính quy, thi hànhtriệt để chính sách trọng sĩ Quốc Tử Giám hay Thái Học viện ở kinh thành là
cơ quan giáo dục cao nhất trong nước Chế độ thi cử rất quy củ với các kì thihương ở địa phương và thi hội ở kinh thành, tiến hành 3 năm một lần thu hútnhiều sĩ tử cả nước Để đề cao tầng lớp nho sĩ, nhà Lê đặt ra lễ xướng danh,vinh quy và đặc biệt là lễ khắc tên tuổi người đỗ tiến sĩ vào bia đá Văn Miếu.Nội dung giáo dục chủ yếu là kinh học và sử học nên các kỳ thi đề ra chủ yếu
Trang 21lấy từ các sách kinh điển Nho giáo Năm 1442, triều đình tổ chức kì thi tiến sĩ,nền giáo dục, khoa cử được quan tâm phát triển cho đến thời Lê Thánh Tông
đã đạt được những thành quả to lớn Chế độ khoa cử và thi cử thời Lê được
mở rộng hơn trước Về nguyên tắc, không những con em quý tộc, quan lại màcon em bình dân đều được đi học và tham gia thi cử, không phân biệt thânphận sang hèn, giàu nghèo Tuy nhiên, để đảm bảo mục đích là đào tạo ratầng lớp quan lại cho chế độ phong kiến, thực tế việc lựa chọn, bổ sung quanlại vẫn tuân theo những quy tắc chặt chẽ Vua Lê Thánh Tông cho lập bia tiến
sĩ trong Quốc Tử Giám, trong bia có nêu Lê Thái Tông lấy việc “trọng đạo
Nho làm việc hàng đầu, coi kén chọn anh tài tôn trọng hiền sĩ làm mưu lược tốt” [69;25].Nguyễn Trãi là người có tác động không nhỏ trong việc thúc đẩy
sự thâm nhập của Nho giáo vào nước ta dưới triều Lê Chính ý thức hệ tưtưởng này đã góp phần tích cực củng cố nhà nước phong kiến tập quyền quanliêu, củng cố nền thống nhất của xã hội nông nghiệp, tạo ra một kỉ cương xã
hội theo lễ và pháp Một nền thống nhất mà cơ sở kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp phải dựa vào biện pháp quản lý hành chính là chính thì hệ tư tưởngNho giáo có ý nghĩa hỗ trợ tích cực nhất
Trong bối cảnh chính trị - xã hội, văn hóa – tư tưởng Đại Việt cuối thế kỉXIV đầu thế kỉ XV, Nguyễn Trãi xuất hiện với tầm vóc một cá nhân kiệt xuất
có nhiều cống hiến to lớn trên các lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn học, triếthọc, địa lý, Tư tưởng triết học của ông chịu ảnh hưởng khá nhiều từ NhogiáoNói cách khác, nhưng luôn có ý thức Việt hóa những nội dung tư tưởng
có yếu tố nguồn gốc Trung Quốc Ông đã góp phần đưa lịch sử phát triển tưtưởng, văn hóa của dân tộc sang một giai đoạn mới, giai đoạn đỉnh cao của tưduy lý luận
1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi
Theo con đường xâm lược của phong kiến phương Bắc và sau này là con
Trang 22đường giao lưu văn hóa, Nho giáo từ khi du nhập vào Việt Nam đã trải qua mộtquá trình biến đổi lâu dài và đầy khó khăn để có thể tồn tại, “ăn sâu bám rễ” vàođời sống xã hội của dân tộc Việt Tuy nhiên đến thời kì xây dựng nhà nướcphong kiến độc lập tự chủ thì Nho giáo mới được tiếp biến và dần trở thành hệ tưtưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng của xã hội Việt Nam suốt nhiều thế
kỉ sau đó Vị trí quan trọng này đã đưa Nho giáo với hệ thống những nguyên tắcchính trị - xã hội và các tín điều đạo đức khắt khe lan tỏa, thâm nhập và ảnhhưởng đến mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là các nhà Nho, những người đượcxem là tầng lớp có vai trò và uy tín nhất trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng Nho gia, trực tiếp làNho giáo Khổng - Mạnh Biểu hiện cụ thể là sự vận dụng sâu sắc, linh hoạtcác tư tưởng này trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộcxây dựng đất nước thời kỳ đầu Lê sơ Nguyễn Trãi luôn được coi là nhà Nhotiêu biểu thời kỳ này Ông được sinh ra trong một gia đình Nho học Cha ông
là Nguyễn Phi Khanh, tài đức vẹn toàn, đỗ đạt tiến sĩ, có nhiều cống hiến chođất nước Ông ngoại là Trần Nguyên Đán, mệnh danh là người đọc vạn quyểnsách Do đó, ngay từ khi còn rất nhỏ, Nguyễn Trãi đã được dạy dỗ, tiếp cậnvới tri thức Nho học Nguyễn Trãi tiếp cận với Nho học và trở thành một nhàNho, một nhà chính trị, nhà tư tưởng tài ba nhất thời đại
Ngay từ khi còn nhỏ Nguyễn Trãi đã tỏ ra là một người thông minh, hamđọc sách, có tài, có đức Nguyễn Phi Khanh rất hài lòng trước sự thông minh,
chăm chỉ của Nguyễn Trãi: “ Lục tuế nhi đồng phả ái thư” (Gia viên lạc).
Trần Nguyên Đán cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến tuổi thơ của Nguyễn Trãi
với hình ảnh một con người “ nếp nhà thi lễ, nòi giống thần minh, có hoài
bão một lòng vì nước vì dân” (Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh) Trong khi
ông và cha giảng văn, dạy chữ, Nguyễn Trãi cũng học được ở hai người đómột tâm hồn cao đẹp, thanh tao của những nhà Nho Học ở ông tấm lòng
Trang 23thương dân đến bạc đầu “Bạch đầu không phụ ái dân tâm” (Nhân dân lục nguyệt tác) Học ở cha trong những ngày giá rét “muốn thổi cơn gió ấm vào
lòng mọi người” (Nguyễn Phi Khanh – Xuân hàn) Với quan niệm học để “ trọn niềm trung hiếu” để biết “lo trước vui sau”để giữ tâm hồn “thanh cao trong sáng”, Nguyễn Trãi đã say mê trong “vườn chư tử, bể lục kinh” và đã
sớm nổi danh trong rừng Nho: “Thanh niên phương dự ái Nho lâm” (Mạn thành I, số 79) Năm 20 tuổi Nguyễn Trãi đỗ tiến sĩ và từ đó ông vẫn tiếp tục
học tập và nghiên cứu Ông luôn nói đến trách nhiệm của nhà Nho, sống thì
phải làm thế nào cho đúng “Nho phong”, làm quan thì nghĩ đến tư cách của
“Nho thần”, được ơn vua thì mừng cho “chiếu nhà Nho” được ấm Nguyễn
Trãi không đơn thuần chịu ảnh hưởng của Nho giáo trong các sáng tác thơvăn và trong tư tưởng chính trị xã hội mà còn chịu ảnh hưởng của Phật giáo,Đạo giáo Từ đó, Nguyễn Trãi đã tìm ra hướng đi của lịch sử, hiểu rõ đượcđâu là đúng - sai, mạnh - yếu để từ đó xác định thái độ và hành động củamình
Khi nghiên cứu về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, có lẽ tư tưởngnhân nghĩa là nội dung cơ bản và quan trọng nhất Tư tưởng ấy có phạm virộng lớn, vượt ra ngoài đường lối chính trị thông thường, đạt tới mức độ kháiquát, trở thành nền tảng, cơ sở của đường lối và chuẩn mực của quan hệ chínhtrị, là nguyên tắc trong việc quản lý, lãnh đạo quốc gia Tư tưởng nhân nghĩatuy là khái niệm của Nho gia nhưng trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, nhânnghĩa có sự khác biệt so với Khổng Mạnh và hoàn toàn khác với Tống Nho.Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với tư tưởng thân dân, tinh thần yêunước, tư tưởng hòa bình Nhân nghĩa còn được thể hiện là mơ ước xây dựngmột xã hội lý tưởng cho nền thái bình muôn thuở: xã hội Nghiêu Thuấn củaNguyễn Trãi Mặc dù ước mơ của ông là không tưởng nhưng Nguyễn Trãi đãgiúp con người mà đặc biệt là nhân dân lao động có thêm niềm tin vào cuộc
Trang 24sống, tin vào một xã hội tốt đẹp hơn sẽ đến trong tương lai Theo NguyễnTrãi, yêu nước chính là yêu dân, phải giúp cho dân được ấm no, hạnh phúc vàmuốn yên dân thì phải trừ bạo Như vậy, sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân vănNho giáo đến tư tưởng Nguyễn Trãi không phải là sự ảnh hưởng một chiều,dập khuôn máy móc Nguyễn Trãi bằng tài năng và trí tuệ của mình đã vậndụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước Việt Nam Ông đã
kế thừa và phát triển tư tưởng nhân văn của Nho giáo ở một số nội dung cơbản sau: tư tưởng coi trọng sinh mệnh và sự sống của con người, tư tưởng về
lẽ sống của con người, tư tưởng về tính tương liên giữa ý thức của cá nhân với
ý thức về gia đình và cộng đồng, tư tưởng chấp nhận và tìm cách đáp ứngnhững khát vọng hạnh phúc của con người Nguyễn Trãi đã kế thừa và pháttriển tư tưởng của Nho giáo lên cấp độ cao hơn, đưa nó trở thành hệ tư tưởngcủa Đại Việt trong thời đại đó
Bên cạnh tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng về mệnh trời của Nho giáo cũng
có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trãi Khổng Tử tinrằng, trời là một lực lượng siêu hình nhưng có sức mạnh, ý chí, quy định trật
tự xã hội, tự nhiên và số phận con người đó gọi là “thiên mệnh” Trong “Luận
ngữ” Khổng Tử viết: “Đắc tội với trời, không thể cầu vào đâu được”, “sống
chết do số mệnh, giàu sang tại trời” (sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên)
[64] Khổng Tử khuyên: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc
đại nhân, sợ lời thánh nhân”, “không biết mệnh không thể là người quân tử được” Khác với tư tưởng của Nho giáo, Nguyễn Trãi đưa ra quan niệm về
mệnh trời: ông cho rằng “trên có trời đất quỷ thần” và vạn vật sinh sôi là do
“ơn tạo hóa của trời đất” Nguyễn Trãi tin vào Trời và coi trời là đấng tạo
hóa sinh ra muôn vật Cuôc đời của mỗi con người đều do mệnh trời sắp đặt
Vận nước, mệnh vua cũng là do trời quy định Theo Nguyễn Trãi, “trời đất
đa tình” trời không chỉ là đấng sinh thành, mà còn có tình cảm, tấm lòng
Trang 25giống như cha mẹ: “Thành thực yêu vật là lòng trời đất; thành thực yêu con
là lòng cha mẹ Nếu yêu vật thành thực thì cơ sinh hóa có lúc đình, yêu con không thành thực thì niềm từ ái có khi thiếu Vì thế nên trời đất đối với muôn vật, cha mẹ đối với con cái, chẳng qua chỉ một chữ “thành” mà thôi”
[66;511] Lòng hiếu sinh và đạo trời lại rất hòa hợp với tâm lý phổ biến và
nguyện vọng tha thiết của lòng người, đó là hạnh phúc, ấm no và thái bình.Đối với các nhà Nho xưa nói chung và Nguyễn Trãi nói riêng, mọi việc diễn
ra từ lớn đến nhỏ của xã hội hay của cá nhân con người đều do trời chi phối.Với Nguyễn Trãi, sự biến đổi của một triều đại, sự suy thịnh của một đất nướcđều liên hệ đến trời Không chỉ vận nước hay mệnh vua mà cả sự thành bại,
giàu sang hay đói rách của con người, theo Nguyễn Trãi đều do trời quy định:
“Đời muôn việc thảy do trời”, “mới biết doanh hư là có số, ai mà cãi được lòng trời” Chính vì thế ông luôn tâm niệm “Sang cùng khó bởi chưng trời, lăn lóc làm chi cho nhọc hơi” hay “vắn dài, được mất dầu thiên mệnh, Trãi quái làm chi cho nhọc nhằn”[66] Như vậy, nếu con người biết tuân theo lẽ trời,
mệnh trời thì có thể biến yếu thành mạnh, chuyển bại thành thắng Ngược lại,nếu con người không theo ý trời, lòng trời thì sẽ chuyển yên thành nguy và tựrước họa vào thân Nguyễn Trãi khuyên con người ta nên tu thân theo các tiêuchuẩn Nho giáo: sống “trung dung”, tuân theo “tam cương ngũ thường”, đặc biệt
là trọng đạo hiếu và đạo trung Không thể phủ nhận ảnh hưởng của Nho giáo đếnviệc hình thành tư tưởng của Nguyễn Trãi Có thể nói, Nho giáo như một mảnhđất màu mỡ mà trong đó Nguyễn Trãi tìm thấy những giá trị tích cực làm nềntảng cho việc xây dựng tư tưởng của ông Bàn về sự ảnh hưởng của Nho giáođến tư tưởng Nguyễn Trãi, Trần Đình Hượu cho rằng: Về hệ thống, tư tưởngnhân sinh của Nguyễn Trãi vẫn thuộc Nho giáo nhưng là một Nho giáo khoángđạt, rộng rãi, không câu nệ và vì vậy không chỉ là gần gũi mà còn là phong phúhơn, cao hơn lối sống thuộc dân tộc trước đó
Trang 26Tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi không được trình bày thành một họcthuyết có tính hệ thống hay chứa đựng trong một trước tác cụ thể nào màđược thể hiện rải rác qua các tác phẩm của ông, hoặc thông qua các công trìnhnghiên cứu của các nhà khoa học xã hội hiện đại Nét nổi bật trong tư tưởngNguyễn Trãi là sự hòa quyện, chắt lọc những tinh hoa của Nho giáo và sự kếthợp đan xen của Phật giáo, Đạo giáo và còn là sự kết hợp chặt chẽ với hoàncảnh thực tiễn của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Bên cạnh ảnh hưởng sâu sắc
từ đạo lý Nho giáo, Nguyễn Trãi còn thấm nhuần triết lý đạo Phật với đức
hiếu sinh, khoan dung, từ bi, bác ái: “Thân đã hết lụy thân nên nhẹ; Bụt ấy là
lòng bụt há cầu” (Quốc âm thi tập, Mạn thuật) Tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi là không giết và tình thương:“thần vũ không giết”, “tỏ lòng
hiếu sinh” Nguyễn Trãi đã xin Lê Lợi tha cho mười vạn quân Minh khi
chúng thua trận Trong “Bình Ngô đại cáo”, cùng với việc lên án những tội ác
dã man của quân địch, Nguyễn Trãi còn thể hiện tấm lòng nhân ái, yêuthương không chỉ đối với con người mà còn đối với cả loài vật Nguyễn Trãiviết:
Nhiễu dân đào hầm bẫy hươu đen
Hại vật, chăng lưới bắt chim trả
Cây cỏ, sâu bọ không loài nào được thỏa sống còn
Quan khả khốn cùng chẳng mộ ai được yên ổn.
Tuy nhiên trong Nho giáo không có tư tưởng nào kết hợp giữa khônggiết với tư tưởng thương cả sinh vật cho đến cỏ cây Phải chăng tư tưởng nhânnghĩa của Nguyễn Trãi có xuất phát từ Phật giáo Việt Nam và truyền thốngdân tộc Do ảnh hưởng của Phật giáo nên Nguyễn Trãi tin vào thuyết luân hồi,
nghiệp báo của nhà Phật Ông viết: “Kẻ thời nên Bụt, kẻ nên tiên Tượng thấy
ba thân đã có duyên” Nguyễn Trãi cũng tin rằng Phật pháp vô biên, không
những con người mà cả loài vật cũng có thể cảm ứng được phật pháp Và
Trang 27Nguyễn Trãi nói đến thuyết “sắc không”: “Chiều mai nở, chiều hôm rụng Sự
lạ cho hay thuyết sắc không”
Cùng với Nho và Phật, Nguyễn Trãi còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng
Lão Trang, thể hiện ở lòng “thanh tĩnh vô vi”, nhàn tản, ung dung tự tại,
không màng danh lợi Quan niệm của Nguyễn Trãi về công danh, cuộc đời rất
gần với tư tưởng Lão Trang: “nhãn trung phù thế, tổng phù vân” (Cõi trần mắt thấy thực phù vân); “Tùng cúc do tồn quy vị mãn Lợi danh bất tiển ẩn
phương chân”; “Thế thượng hoàng lương nhất mộng dư” (Cuộc đời là một
giấc mơ thôi); “Phú quý treo sương ngọn cỏ” Song, Nguyễn Trãi không phải
là người “công toại danh thoái” như Lão Trang, con người Nguyễn Trãi
không vì mối sầu xa nhà mà sút hào khí cũ Do đó, ông không tìm cái an nhàních kỷ, càng không dễ chôn mình trong bi quan, hay đắng lòng an phận nhưquan niệm của người đời Con người Nguyễn Trãi lúc nào cũng đau đáu việcquốc gia và vì thế mà suốt đời ôm mãi lòng lo trước Nguyễn Trãi khuyên conngười ta không coi trọng vật chất mà nên sống với chữ đức, coi trọng danh dự
và sự giàu có về tâm hồn hơn là sự giàu có về tiền bạc Danh lợi là sắc không,đạo đức mới là của chầy Đạo đức ở đây là làm điều thiện, sống có hiếu, cókhí tiết, không uốn mình, không cầu xin danh lợi, không oán thán, biết tha thứcho người khác, sống trong sạch lành mạnh, nhận phần thiệt thòi về mình Như vậy, nền tảng làm nên hệ tư tưởng của Nguyễn Trãi chính là sự kếthừa có tính chọn lọc tư tưởng của Nho giáo và sự kết hợp sáng tạo giữa Nhogiáo, Phật giáo, Đạo giáo trong đó Nho giáo là chủ yếu Sự kết tinh các hệ tưtưởng với nhau và nhân tố thời đại đã làm nên thiên tài Nguyễn Trãi hết lòng
vì dân, vì nước Tuy chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo và một phần củaPhật Giáo, Đạo giáo nhưng Nguyễn Trãi đã tiếp thu một cách có chọn lọc,không dập khuôn máy móc, một sự kết hợp mềm mại, uyển chuyển biến những
tư tưởng lễ giáo cứng nhắc của Nho giáo thành những tư tưởng phù hợp với đời
Trang 28sống văn hóa tư tưởng của người Việt Để hình thành nên tư tưởng triết học củaNguyễn Trãi thì không chỉ có yếu tố Nho giáo mà còn là sự ảnh hưởng củatruyền thống dân tộc, gia đình và đặc biệt là nhân cách, trí tuệ Nguyễn Trãi
1.2.4 Ảnh hưởng của truyền thống gia đình, văn hóa dân tộc đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi
Nho giáo đã góp một phần không nhỏ vào việc hình thành nên tư tưởngtriết học của Nguyễn Trãi Từ những quy chuẩn về đạo và lễ giáo của Nho gia
mà Nguyễn Trãi đã xây dựng những quy chuẩn cho riêng mình và cho xã hội
mà theo ông là nên làm theo Mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho,Phật, Lão mà chủ yếu là Nho giáo nhưng tư tưởng của Nguyễn Trãi vẫn mangtinh thần của người Việt Không thể bỏ qua yếu tố thời đại, truyền thống vănhóa của dân tộc và gia đình trong việc hình thành nên tư tưởng Nguyễn Trãi.Dựa vào những tinh hoa của các nền văn hóa khác nhau, ông đã sáng tạo vàkhéo léo đưa chúng trở thành tư tưởng của người Việt Nam, phù hợp với nếpsống của dân tộc ta từ xưa đến nay Chính nhờ vào truyền thống của dân tộc
và gia đình mà tư tưởng về nhân nghĩa, thân dân, yêu nước, của NguyễnTrãi khác với Nho giáo
Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên khi xã hội rối ren, biến động, đất nước bị
đô hộ, xâm lược Tổ quốc độc lập được xây dựng từ bao đời với bao xươngmáu của cha ông đã biến thành quận huyện của nước người Đồng bào trênkhắp mọi miền đang rên xiết dưới sự tàn bạo của kẻ thù Nền văn minh rực rỡcủa dân tộc Đại Việt hùng cường đang đứng trước nguy cơ bị đồng hóa Hàngvạn con em ưu tú của dân tộc đã bỏ mình trong chiến đấu vì lí tưởng giành lạiđộc lập cho dân tộc, cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân Người trí thức ViệtNam cùng toàn thể nhân dân đang đứng trước những thử thách lớn nhất củalịch sử và từ đó nảy sinh những chiều hướng khác nhau trong suy nghĩ vàhành động Bao người đã ngã xuống, bao người đã tuyệt vọng khi nợ nước
Trang 29chưa xong đầu đã bạc Là cháu ngoại của dòng họ anh hùng, Nguyễn Trãi từ
ngày còn nhỏ đã sống giữa những truyền thuyết và di tích anh hùng “ Đoạt
sáo Chương Dương độ, cầm Hồ Hàm Tử quan” Câu thơ đầy khí phách ấy
của Trần Quang Khải đã sớm vang trong đầu Nguyễn Trãi trước khi ông đọc
chữ thánh hiền Có thể nói, Nguyễn Trãi là kết tinh của dân tộc, là “người
đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam, tâm hồn lộng gió thời đại”.
Đứng trước vận mệnh của dân tộc Nguyễn Trãi không nguôi ý chí trả nợ nướcbáo thù nhà Cùng với khí thế của dân tộc và những truyền thống tốt đẹp củadân tộc được hun đúc từ bao đời, Nguyễn Trãi đã hình thành nên cho mìnhtinh thần yêu nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Dân ta có một lòng nồng nànyêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổquốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìmtất cả lũ bán nước và lũ cướp nước Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩđại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta Truyền thống anh hùng củadân tộc ta bắt nguồn từ tinh thần yêu nước nồng nàn, từ lòng yêu dân vô hạn,
từ khí phách anh hùng bất khuất, từ ý chí dũng cảm hi sinh quên mình vìnghĩa lớn của cả dân tộc và đã thể hiện từ hàng nghìn năm xưa, trong muôn vànhành động kiên cường chiến đấu chống xâm lược và trong truyền thống quân
sự ưu tú tuyệt vời của nhân dân ta Việt Nam là một nước nhỏ, nhỏ hơn rấtnhiều so với các quốc gia khác trên thế giới, nhưng tinh thần yêu nước, ý thức
tự tôn dân tộc thì không phải là nhỏ Nhân dân Đại Việt yêu nước theo cáchcủa dân tộc mình, chẳng thế mà biết bao kẻ xâm lược to lớn hơn chúng ta gấpnhiều lần đã phải khiếp sợ trước tinh thần, ý chí quật cường của dân tộc ta.Truyền thống đó được bồi đắp ngay từ thuở mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng vàngày càng phát triển mạnh mẽ trong lịch sử dân tộc Từ đời này qua đời khác
Trang 30nhân ta phát huy truyền thống này của dân tộc, giữ vững độc lập chủ quyền Khi thấy vua Trần hoang mang, lo ngại trước sự xâm lăng tàn bạo của
giặc Nguyên, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nói: “Bệ hạ hãy chém đầu
tôi trước rồi sẽ hàng”, cũng như lời Trần Bình Trọng đã dõng dạc nói với
quân giặc: “Thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” khi ông bị
giặc bắt và dụ hàng Đây chính là sự thể hiện rực rỡ khí phách anh hùng,truyền thống yêu nước của dân tộc ta Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ khôngchịu mất nước, không chịu làm nô lệ dưới ách thống trị của quân xâm lược,không chịu đánh mất đi bản sắc văn hóa dân tộc Hào khí giết giặc cứu nước
ấy không chỉ của riêng một ai mà là việc làm của tất cả tầng lớp nhân dântrong cả nước Lịch sử dân tộc ta đã ghi lại biết bao hành động anh hùng, baonhiêu lời nói đầy khí phách của những người phụ nữ, những cụ già, em nhỏ
Từ hơn một nghìn năm trước Nguyễn Trãi, lời Bà Triệu: “Tôi quyết cưỡi lên
gió mạnh, đạp trên sống dữ, đánh đuổi giặc Ngô, lập lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ chứ không thể làm tỳ thiếp người” [9;5], một lời nói
tiêu biểu cho khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam còn vọng mãi đến
muôn đời sau Lời hô “quyết chiến” của các bô lão thay mặt nhân dân thời
Trần họp tại điện Diên Hồng bàn việc nước đã là tiếng trống thúc giục mọingười đồng tâm xông lên đánh thắng quân Nguyên Khí phách đó, tinh thần đó
đã tạo nên biết bao sự nghiệp anh hùng làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang, oai hùngcủa dân tộc ta Từ gần hai nghìn năm trước, Hai Bà Trưng là những người anhhùng cứu nước đầu tiên của dân tộc đã giương cao ngọn cờ giải phóng cho cảnước noi theo, làm rạng rỡ khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam đã khôngngại hi sinh thân mình để tô thắm những trang đầu lịch sử chiến thắng huyhoàng của dân tộc Đại Việt Hai mươi năm sau đó, Bà Triệu vùng lên đánh choquân giặc phải khiếp sợ Tướng giặc đã phải than rằng:
Trang 31Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan
(Múa giáo đánh hổ dễ Đối địch với Vua Bà thật khó)
Trang 32Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của trận mạc, có lẽ vì thế màtinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm luôn sục sôi trong lòng mỗi ngườidân Đại Việt Trong nửa đầu thế kỉ X, với ý chí quyết chiến để giành độc lậpcủa nhân dân ta và với chiến lược, chiến thuật tài tình cùng với lòng quả cảmcủa các tướng sĩ, Ngô Quyền đã nhấn chìm quân Nam Hán xâm lược xuốngdòng sông Bạch Đằng, dựng nền độc lập lâu dài cho nước nhà từ đây
Cuối thế kỉ X, nhà Tống diệt nhà Nam Hán và tiếp tục âm mưu xâm lượcnước ta Bằng sự lãnh đạo tài giỏi của Lê Hoàn, nhân dân ta đã dẹp tan được
âm mưu của quân giặc Sang nửa cuối thế kỉ XI, quân Tống lại một lần nữaquyết tâm xâm lược nước ta Quân dân nhà Lý đã không chịu khuất phụctrước sức mạnh của kẻ thù, quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước Lý ThườngKiệt đã lãnh đạo nhân dân chống lại quân Tống Tại đây Lý Thường Kiệt đãtruyền tới toàn quân bài thơ với những câu thơ hùng hồn, đanh thép khẳngđịnh chủ quyền của nước ta và cái giá phải trả cho những kẻ dám xâm phạmvào chủ quyền đó, góp phần khích lệ ý chí của quân dân và cũng khiến quângiặc phải khiếp sợ
Nam quốc sơn hà, Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tai thiện thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Nam quốc sơn hà)Nước ta từ ngàn xưa, vô tình hay hữu ý mà đất nước ta được thiên nhiên
ưu ái với ruộng đất phì nhiêu, tài nguyên phong phú, vị trí địa lý, giao thôngđều thuận lợi Vì thế Việt Nam luôn là miếng mồi ngon cho bọn xâm lược cómong muốn bành chướng thuộc địa Đến thế kỉ XIII, là giai đoạn mà nhân dân
ta phải gồng mình lên chống lại sự xâm lược của quân Nguyên, chúng liên tụckéo quân sang nước ta với tham vọng mở rộng thuộc địa Ba lần chống quân
Trang 33Nguyên thành công đã khiến cho cả thế giới phải khiếp sợ trước tinh thần củanhân dân Đại Việt
Truyền thống anh hùng, tinh thần yêu nước của nhân ta được thể hiện rathành hành động, ý thức dân tộc và tinh thần làm chủ đất nước của nhân dân
ta, đã trở thành một truyền thống lâu đời của dân tộc ta: truyền thống anhdũng bất khuất, kiên cường chiến đấu cho độc lập thống nhất của Tổ quốc.Tất cả những truyền thống đó dường như đã được Nguyễn Trãi lĩnh hội mộtcách đầy đủ nhất dù nó cách xa thời đại của Nguyễn Trãi sống, thậm chí làđến hàng thế kỉ Có lẽ đây chính là cơ sở, nền tảng để Nguyễn Trãi xây dựngchủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng của ông sau này Không chỉ thế, ông cònhọc hỏi được rất nhiều từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc Như vậy, khôngphải đến Nguyễn Trãi mới có tư tưởng yêu nước, thương dân, ý thức tự tôndân tộc mà nó xuất hiện trước đó từ rất lâu Nguyễn Trãi chỉ là người kế thừa
và phát triển nó lên một tầm cao mới
Ngay từ xa xưa, khi nước ta mới được hình thành dưới sự lãnh đạo củacác vua Hùng nhân dân ta đã sống trong tình yêu thương, bình đẳng, đùm bọclẫn nhau Trong những cuộc chiến tranh của dân tộc tinh thần dân chủ, thândân được thể hiện rất rõ, đặc biệt là trong thời nhà Trần Dưới thời nhà Trần,tinh thần thân dân được nâng cao, các vua quan nhà Trần luôn chú tâm giữvững đoàn kết nhất trí trong nội bộ các vua chúa, thủ lĩnh, vương hầu Bêncạnh đó, không quên chăm lo đến đời sống của nhân dân, mọi vấn đề quantrọng của đất nước đều hỏi ý dân Thực hiện dân chủ là một nhân tố quantrọng để nâng cao tinh thần dân tộc và kết hợp chặt chẽ dân tộc với dân chủ
đã đem lại cho nhân dân ta một sức mạnh vô địch, đánh thắng quân Nguyên ởthời Trần cũng như đánh thắng quân Tống ở thời Lý Chính tinh thần dân chủ,mọi vấn đề đều dựa vào sức mạnh của dân đã khiến cho nước ta dành đượcnhiều thắng lợi trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm Nhận thức đượcđiều này mà Nguyễn Trãi đã hình thành nên cho mình tư tưởng thân dân, yêu
Trang 34thương dân chúng trong mọi hoàn cảnh Đối với ông muốn yên dân thì phảitrừ bạo, mục đích cuối cùng Nguyễn Trãi hướng đến cũng là vì dân, dân có
ấm no, hạnh phúc thì nước mới yên được Trên bước đường tiến lên của lịch
sử, trong điều kiện của xã hội có giai cấp và trong khuôn khổ của chế độphong kiến, truyền thống dân chủ của nhân dân vẫn được phát huy, ý thức dânchủ vẫn được tôn trọng, dù chỉ trong chừng mực nhất định Đây là một điểmđộc đáo trong tiến trình phát triển của dân tộc ta và đã được lịch sử chứngminh rất rõ Cùng với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Nguyễn Trãicòn ảnh hưởng mạnh mẽ những tinh hoa của nền văn hóa thời Lý – Trần với
tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân đạo, điều này thể hiện rất rõ trong cácsáng tác văn chương của ông, qua đó khái quát nên hệ tư tưởng chung củaNguyễn Trãi trong thời đại ấy Như vậy, muốn hiểu được tư tưởng củaNguyễn Trãi, muốn lý giải đến ngọn nguồn về thiên tài Nguyễn Trãi, danhnhân văn hóa dân tộc thì phải đặt Nguyễn Trãi trong tiến trình phát triển củalịch sử để xem xét quá trình tiếp thu, kế thừa và sáng tạo của ông
Để làm nên một Nguyễn Trãi tài hoa ở thời đại đó không chỉ nhờ vào sựảnh hưởng của các nền văn hóa, của truyền thống dân tộc mà còn là sự ảnhhưởng của truyền thống và cách giáo dục từ gia đình Nguyễn Trãi xuất thântrong một dòng tộc, nhiều đời là võ quan cao cấp dưới nhiều triều đại Mộtdòng họ có truyền thống cương trực, khảng khái, khí tiết, lập trường thân dân,luôn đứng lên bảo vệ những người nghèo khổ, chống lại bọn cường quyền,bạo lực Ông ngoại Nguyễn Trãi là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, một ngườihọc vấn uyên thâm, nổi tiếng thơ văn, giỏi lịch pháp, độn số và có nhiều cốnghiến trong việc thành lập nhà Trần Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanhcũng là một người tài đức vẹn toàn Có lẽ, cha và ông ngoại là hai người cóảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách và tư tưởng của NguyễnTrãi Ngay từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã sống với ông ngoại nên ông đã thừa hưởngđược phong cách thanh cao, tài trí hơn người của Trần Thủ Độ
Trang 35Tóm lại, nền tảng gia đình đã hun đúc cho Nguyễn Trãi những tư tưởngcao đẹp nhất, có giá trị nhất để có thể đem lại cho nhân dân cuộc sống ấm no,hạnh phúc, hướng tới một xã hội tốt đẹp không có áp bức, bóc lột
Trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành tư tưởng triết họcNguyễn Trãi, chúng ta không thể không đề cập đến nhân tố chủ quan củanhân tài Nguyễn Trãi – nhân tố giữ vai trò quyết định trong việc hình thành tưtưởng của ông Bởi vì, tư tưởng bao giờ cũng là sản phẩm của tư duy conngười trên cơ sở con người phản ảnh sáng tạo và khái quát hiện thực kháchquan Nguyễn Trãi sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho, ông đã học được
ở ông và cha những kiến thức sâu rộng và tâm hồn cao đẹp Ông cũng tiếp thunhiều tư tưởng tiến bộ của các nhà Nho trước đó và cùng thời ông với tưtưởng suốt đời báo quốc, an dân Sự thiên tài của Nguyễn Trãi còn thể hiện ởchỗ ông biết tự đổi mới mình theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nguyễn Trãidưới thời phong kiến vốn dòng dõi thế tộc, chịu sự chi phối của hệ tư tưởngphong kiến lúc bấy giờ, đã từng hấp thụ kiến thức qua sử sách cổ như qua
“Tứ thư”, “Ngũ kinh” nhưng vốn là người có bản lĩnh, biết tư duy độc lậpcho nên ông đã biết chắt lọc, tiếp thu những nhân tố tích cực trong tư tưởngNho – Phật – Lão Tất nhiên, Nguyễn Trãi không thể thoát ly hoàn cảnh ôngđang sống, không thể đoạn tuyệt với tất cả những ràng buộc trong xã hội lúcbấy giờ nhưng ông vẫn tìm ra lối thoát khỏi những ràng buộc của khuôn khổphong kiến để trở thành một tâm hồn lộng gió thời đại
Như vậy, Nguyễn Trãi không chỉ thừa hưởng những nhân tố tích cựccủa các nền văn hóa khác nhau, tiêu biểu là ảnh hưởng của Nho giáo mà ôngcòn chịu ảnh hưởng từ truyền thống gia đình, dòng họ; được tiếp thu mộtnền giáo dục có hệ thống và uyên bác cùng tư tưởng thân dân của ông ngoại
và cha; từng sống một đời sống thanh bạch, giản dị, gần gũi với nhân dânthấu hiểu nỗi niềm và khát vọng của dân chúng Nhưng như thế chưa đủ để
Trang 36làm nên một Nguyễn Trãi vĩ đại như thế Ông còn chịu ảnh hưởng từ nhữngtruyền thống quý báu, cao đẹp của dân tộc từ hàng nghìn năm dựng nước vàgiữ nước Ở Nguyễn Trãi là sự kết tinh những tinh hoa của thời đại, bằng tàinăng của mình, ông đã đưa nó lên một tầm cao mới trong lịch sử phát triểncủa nhân loại
1.3 Tư tưởng triết học cơ bản của Nguyễn Trãi
1.3.1 Tư tưởng nhân nghĩa
Tư tưởng nhân nghĩa là một trong những nội dung quan trọng của tưtưởng triết học Nguyễn Trãi Xuất phát từ tình yêu thương dân chúng cũngnhư nhận thức được sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ và xâydựng đất nước, Nguyễn Trãi đã đề xướng tư tưởng nhân nghĩa - nguyên lí cơbản trong tư tưởng chính trị của ông Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãithực sự đã trở thành nguồn gốc của sức mạnh dân tộc, sức mạnh của tiềmnăng, của chính nghĩa Đối với Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa vừa làphương tiện, vừa là mục đích cuối cùng
Có thể khẳng định rằng, “nhân nghĩa” là tư tưởng xuyên suốt trong hầuhết các tác phẩm, trong suy nghĩ và hành động của Nguyễn Trãi Mở đầu bài
“Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.
Trong tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” chữ “nhân” xuất hiện ba lần, chữ
“nghĩa” xuất hiện bốn lần Khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Trãi thì chữ
“nhân” xuất hiện 59 lần, chữ “nghĩa” 81 lần, tổng cộng hai chữ “nhân,nghĩa” được ông sử dụng 140 lần Qua đó, có thể thấy tư tưởng nhân nghĩa
có vai trò và vị trí rất quan trọng trong hệ tư tưởng của Nguyễn Trãi, nó tạonên nét riêng trong con người Nguyễn Trãi Từ trước đến nay có rất nhiều ýkiến khác nhau khi tìm hiểu về nhân nghĩa của Nguyễn Trãi Một số nhà tríthức dân tộc trước đây chịu ảnh hưởng nhiều từ Nho giáo nên thường đồngnhất chữ nhân và chữ nghĩa của Nguyễn Trãi với chữ nhân của Khổng Tử và
Trang 37chữ nghĩa của Mạnh Tử Một số ý kiến lại phủ nhận sự ảnh hưởng của Nhogiáo đến tư tưởng của Nguyễn Trãi vì họ cho rằng Nho giáo có nhiều yếu tốphản động, không phù hợp với truyền thống của người Việt Nam Nhưngcũng có ý kiến cho rằng, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi bắt nguồn từnhững yếu tố tích cực của Nho giáo Tuy nhiên có thể khẳng định rằng,Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Nho giáo bởi ngay từ nhỏ ông đãđược giáo dục theo những chuẩn mực của Nho gia Mặc dù chịu ảnh hưởngcủa Nho giáo nhưng Nguyễn Trãi đã vượt ra ngoài ảnh hưởng của Nho giáo
và hơn nữa Nguyễn Trãi đã đi ngược lại tôn chỉ của Nho giáo để có đượcnhững tư tưởng và hành động cao cả Nhân và nghĩa vốn là những khái niệm
có tính chất chính trị và đạo đức của Nho giáo do Khổng Tử đề xướng vàMạnh Tử phát triển thêm Quan niệm của Khổng Tử và Mạnh Tử về nhân vànghĩa có tính chất bảo thủ và phản động Quan niệm của Nguyễn Trãi vềNhân và nghĩa có ý nghĩa tích cực hơn rất nhiều, phù hợp với đời sống tinhthần của nhân dân Đại Việt Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi có phần rộng lớn,vượt ra ngoài chủ trương, đường lối, vượt lên trên những vấn đề cụ thể trởthành cơ sở của đường lối và chuẩn mực của đối xử, nguyên tắc trong giảiquyết sự việc Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thực sự khác xa với tư tưởngnhân nghĩa của Khổng Mạnh thể hiện ở phạm vi của sự vận dụng , ở mức độ
tư duy và chiều sâu của tư tưởng
“Nhân nghĩa” ở Nguyễn Trãi trước hết là một đường lối chính trị, mộtchính sách cứu nước, dựng nước “Nhân” theo Nguyễn Trãi là lòng thươngngười, trước hết là thương dân “Nhân” đồng nghĩa với nhân đạo, bác ái, độlượng, nó trái ngược với bạo tàn, ích kỉ, hẹp hòi: “Lấy chí nhân để thaycường bạo” “Nghĩa” là tinh thần, trách nhiệm đối với người, trước hết là đốivới dân với nước Nó đồng nghĩa với nghĩa vụ, công lý; trái với giảo quyệt,bất công: “Phải liều thân tàn để dựng nghĩa lớn” Trong các bức thư gửi bọn
Trang 38tướng giặc, Nguyễn Trãi luôn nhắc đến quan điểm nhân nghĩa của ông Ông
viết: “nước mày nhân lúc họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng “điếu dân phạt tội” kỳ
thực là làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý,dân mọn xóm làng không được sống yên Nhân nghĩa mà lại thế ư?” Ở đây, Nguyễn Trãi đã nhận thấy được âm mưu
tàn ác của quân giặc, ông chỉ ra những tội ác chúng đã làm đối với nhân dân
ta Nội dung tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được thể hiện dưới nhiều
khía cạnh khác nhau, qua đó tạo ra sự khác biệt, sự tiến bộ trong tư tưởngcủa Nguyễn Trãi so với tư tưởng Khổng Mạnh
Nguyễn Trãi nhiều lần gắn nhân với nghĩa với “an dân” Trong “Bình Ngô đại cáo” ông viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân” Mà muốn “an dân”
thì trước hết phải đánh đuổi quân Minh xâm lược Chỉ khi quét sạch đượcquân xâm lược thì mới có thể mở nền thái bình muôn thuở, cho nhân dâncuộc sống thái bình, ấm no, hạnh phúc Nhân nghĩa là yêu nước, đánh giặc
Trong bức thư gửi Vương Thông, ông viết: “Dùng quân nhân nghĩa cứu
dân khổ đánh kẻ có tội” Trong bức Thư dụ hàng các tướng sĩ trong thành
Bình Than (số 3, bổ sung) ông viết: “Ta nghe: đại đức hiếu sinh, thần vũ
bất sát.đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân” Trong bức thứ hai
Thư gửi Liễu Thăng (số 7, bổ sung) ông viết: “Ta nghe quân của vương giả
chỉ có dẹp yên mà không có đánh chém Việc làm nhân nghĩa cốt để an dân” Hay trong bài Biểu gửi vua Minh (số 22) ông viết: “Đánh kẻ có tội, cứu vớt dân, là thánh nhân làm việc đại nghĩa” Trong Thư dụ hàng thành
Xương Giang (số 4, bổ sung) ông viết: Kể ra, thích cho người sống mà ghétviệc giết người là một vị tướng có nhân nghĩa; xét biết thời cơ mà biết lượngsức mình là một vị tướng có tri thức Ta kính vâng mệnh trời, lấy đại nghĩachuyên việc đánh dẹp Nghĩ đến cơ đồ tổ tông bị nguy đổ, thương nỗi đờisống của dân phải lầm than, đánh thành lấy đất không giết một người Cho
Trang 39nên đánh đông dẹp tây không nơi nào không phục Trong tờ tấu cầu phong
gửi vua Minh, ông đã kể tội bọn quan lại nhà Minh tham lam tàn ác: tulượm, bóc lột lương dân, bắt kiếm ngọc, tìm vàng, kiệt chằm, trơ núi, đòihỏi, nhặt nhạnh, không còn sót thứ gì, đục khoét của dân, cướp việc mùamàng để bắt dân xây dựng nhà cửa cao đẹp càng ngày càng tệ, dân sốngkhông yên Như thế, yên dân theo Nguyễn Trãi là làm cho dân không phảikhổ cực về nạn cướp bóc, thuế má, lao dịch nặng nề, được sống và lao độngtrong hòa bình, được hưởng hạnh phúc Qua đó ta thấy, trong tư tưởng củaNguyễn Trãi chữ ‘nhân” và “nghĩa” không những gắn với “an dân” mà còngắn liền với chữ “dân” “Nhân” và “nghĩa” là chăm lo cho dân, là cùng dânvui hay buồn, là gắn bó làm một với dân Đối với Nguyễn Trãi, mọi suy nghĩ
và hành động của ông nhất nhất đều hướng đến nhân dân và đất nước Suốtcuộc đời ông luôn trăn trở làm thế nào để an lòng dân, lấy việc nghĩa để cảmhóa quân xâm lược Đến đây ta thấy rõ được tư tưởng của Nguyễn Trãikhông dập khuôn máy móc theo Nho giáo mà nó có nhiều điểm sáng tạo tiến
bộ hơn Nếu như “nhân nghĩa” của Khổng - Mạnh chủ yếu nhằm phục vụcho lợi ích của giai cấp thống trị thì “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi hướngtới dân và phục vụ dân
Muốn yên dân phải trừ bạo: “Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Nguyễn Trãi coi an dân là mục đích của “nhân nghĩa” và trừ bạo là đốitượng, là phương tiện của nhân nghĩa Vì vậy, người “nhân nghĩa” phải lotrừ bạo, tức lo diệt quân cướp nước Người nhân nghĩa phải đấu tranh sao
cho hợp trời, thuận theo lòng người: “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều,
lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” “Nhân nghĩa”
là đấu tranh cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển “Nhân nghĩa” làm
cho “càn khôn đã bĩ mà lại thái, trời trăng đã mờ mà lại trong” Tư tưởng
nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vì vậy mang đậm sắc thái của tinh thần yêu
Trang 40nước truyền thống của người Việt Nam Ở đây có thể thấy rõ, tư tưởng
“nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi đã vượt lên trên tư tưởng Khổng - Mạnh,được phát triển và trở nên sáng tạo khi đặt trong điều kiện cụ thể của ViệtNam thế kỉ XV
“Nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi không chỉ dừng lại ở “an dân” và “trừbạo” mà nó còn là tư tưởng biết trọng dân, biết ơn dân Trong các tác phẩmcủa mình, Nguyễn Trãi luôn tỏ lòng quan tâm sâu sắc đến nhân dân Bêncạnh việc dùng những từ của cổ văn để gọi dân như “xích tử”, “manh lệ”,
“sinh linh”, “bách tính”, “thương sinh” , ông đã dùng đến 155 chữ dân.Nguyễn Trãi đã liên hệ dân với “nhân” và “nghĩa” Có thể thấy, ông hiểu
“nhân”, “nghĩa” là bổn phận đối với dân Điều này khác với quan điểm củaKhổng Tử và Mạnh Tử khi cho rằng “nhân” và “nghĩa” là bổn phận đối với
bề trên, trực tiếp là đối với vua Dân luôn nhận được sự quan tâm củaNguyễn Trãi dù trong kháng chiến hay ngay cả sau kháng chiến đã thànhcông, đất nước dành độc lập, bước vào xây dựng cuộc sống mới NguyễnTrãi nhìn thấy được sức mạnh của quần chúng nhân dân trong việc đấutranh, xây dựng và bảo vệ đất nước Ông nhận thức được rằng lực lượng làm
ra thóc gạo, cơm ăn, áo mặc là nhân dân; rằng điện ngọc cung vàng của vua
chúa cũng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra: “thường nghĩ quy
mô lớn lao, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân” [66;135] Xuất phát
từ những suy nghĩ như vậy nên khi làm quan trong triều đình, được hưởnglộc vua ban, Nguyễn Trãi nghĩ ngay đến nhân dân, những người đã dãi nắngdầm mưa, những người đã cùng ông góp sức xây dựng nền thái bình Ông
viết : “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày” Ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Trãi đã có
cuộc sống gần gũi, gắn bó với nhân dân, hòa mình vào nhân dân Do đó, ông
đã nhận thấy được những đức tính cao quý của nhân dân, hiểu được nguyện