MỞ ĐẦU1 II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU2 III. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU2 IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC3 V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU3 VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU4 VII. CẤU TRÚC LUẬN VĂN4 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄNCỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬTCHO HỌC SINH HỌC NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY5 1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC KĨ THUẬT5 1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực kĩ thuật ở nước ngoài5 1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực kĩ thuật ở trong nước8 1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN9 1.2.1. Khái niệm về năng lực kĩ thuật9 1.2.1.1. Khái niệm năng lực kĩ thuật9 1.2.1.2. Cấu trúc của năng lực kĩ thuật9 1.2.1.3. Đặc điểm của năng lực kĩ thuật11 1.2.2. Khái niệm về bài toán kĩ thuật12 1.2.2.1. Khái niệm bài toán kĩ thuật.12 1.2.2.2. Đặc điểm của bài toán kĩ thuật12 1.2.2.3. Phân loại bài toán kĩ thuật13 1.2.2.4. Yêu cầu của bài toán kĩ thuật15 1.3. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT TRONG DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT15 1.3.1. Các biện pháp phát triển năng lực kĩ thuật15 1.3.2. Phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy thông qua sử dụng bài toán kĩ thuật18 1.3.2.1. Vai trò của bài toán kĩ thuật18 1.3.2.2. Xây dựng bài toán kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy19 1.3.2.3. Sử dụng bài toán kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy20 1.4. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – HƯỚNG NGHIỆP HUYỆN VŨ THƯ – THÁI BÌNH20 1.4.1. Khái quát chương trình nghề sửa chữa xe máy20 1.4.2. Sơ lược về đội ngũ giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất21 1.4.3. Thực trạng về phát triển năng lực kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy22 Kết luận chương 124 CHƯƠNG II PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT CHO HỌC SINH TRONG DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY25 2.1 NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY Ở TRUNG TÂM GDTX-HN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH.25 2.1.1. Mục tiêu của nghề sửa chữa xe máy25 2.1.2. Nội dung, chương trình của nghề sửa chữa xe máy25 2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong dạy nghề sửa chữa xe máy theo định hướng phát triển năng lực26 2.1.3.1. Thuận lợi26 2.1.3.2. Khó khăn26 2.2. XÂY DỰNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT VỀ SỬA CHỮA XE MÁY27 2.2.1. Xây dựng bài toán kĩ thuật qua nguồn tài liệu27 2.2.2. Xây dựng bài toán kĩ thuật qua ý kiến chuyên gia kĩ thuật33 2.2.3. Xây dựng bài toán kĩ thuật qua tìm hiểu thực tiễn của học sinh….......41 2.3. SỬ DỤNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT VỀ SỬA CHỮA XE MÁY THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT CHO HỌC SINH49 2.3.1. Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu nghiên cứu kiến thức mới49 2.3.2. Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức51 2.3.3. Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu kiểm tra, đánh giá54 Kết luận chương II58 CHƯƠNG III KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ59 3.1. MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM59 3.1.1. Mục đích kiểm nghiệm59 3.1.2. Nội dung và phương pháp kiểm nghiệm59 3.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ TIẾN TRÌNH KIỂM NGHIỆM60 3.2.1. Đối tượng kiểm nghiệm60 3.2.2. Tiến trình kiểm nghiệm60 3.3. KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM62 3.3.2. Kết quả tổng hợp phiếu điều tra63 Kết luận chương III67 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ68 TÀI LIỆU THAM KHẢO70 PHỤ LỤC 73
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-HOÀNG NGỌC SƠN
PH¸T TRIÓN N¡NG LùC KÜ THUËT CHO HäC SINH TRONG D¹Y NGHÒ SöA CH÷A XE M¸Y T¹I TRUNG T¢M GI¸O DôC TH¦êNG XUY£N Vµ H¦íNG NGHIÖP
HUYÖN Vò TH¦, TØNH TH¸I B×NH
Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn Kĩ thuật công nghiệp
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN TRỌNG KHANH
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Lời cám ơn
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm Thông tin - Thư viện và các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kĩ thuật - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Trọng Khanh đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các Thầy, Cô ở Trung tâm GDTX-HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã quan tâm, tạo điều kiện, góp ý cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.
Toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ, động viên tác giả !
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Hoàng Ngọc Sơn
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NLKT : Năng lực kĩ thuật
TDKT : Tư duy kĩ thuật
BTKT : Bài toán kĩ thuật
GDTX-HN : Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
VII CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄNCỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬTCHO HỌC SINH HỌC NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY 5
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC KĨ THUẬT 5
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực kĩ thuật ở nước ngoài 5
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực kĩ thuật ở trong nước 8
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 9
1.2.1 Khái niệm về năng lực kĩ thuật 9
1.2.1.1 Khái niệm năng lực kĩ thuật 9
1.2.1.2 Cấu trúc của năng lực kĩ thuật 9
1.2.1.3 Đặc điểm của năng lực kĩ thuật 11
1.2.2 Khái niệm về bài toán kĩ thuật 12
1.2.2.1 Khái niệm bài toán kĩ thuật 12
1.2.2.2 Đặc điểm của bài toán kĩ thuật 12
1.2.2.3 Phân loại bài toán kĩ thuật 13
1.2.2.4 Yêu cầu của bài toán kĩ thuật 15
Trang 51.3 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT TRONG DẠY NGHỀ SỬA
CHỮA XE MÁY THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT 15
1.3.1 Các biện pháp phát triển năng lực kĩ thuật 15
1.3.2 Phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy thông qua sử dụng bài toán kĩ thuật 18
1.3.2.1 Vai trò của bài toán kĩ thuật 18
1.3.2.2 Xây dựng bài toán kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy 19
1.3.2.3 Sử dụng bài toán kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy 20
1.4 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – HƯỚNG NGHIỆP HUYỆN VŨ THƯ – THÁI BÌNH 20
1.4.1 Khái quát chương trình nghề sửa chữa xe máy 20
1.4.2 Sơ lược về đội ngũ giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất 21
1.4.3 Thực trạng về phát triển năng lực kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy 22
Kết luận chương 1 24
CHƯƠNG II PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT CHO HỌC SINH TRONG DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY 25
2.1 NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY Ở TRUNG TÂM GDTX-HN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH 25
2.1.1 Mục tiêu của nghề sửa chữa xe máy 25
2.1.2 Nội dung, chương trình của nghề sửa chữa xe máy 25
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong dạy nghề sửa chữa xe máy theo định hướng phát triển năng lực 26
2.1.3.1 Thuận lợi 26
2.1.3.2 Khó khăn 26
Trang 62.2 XÂY DỰNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT VỀ SỬA CHỮA XE MÁY 27
2.2.1 Xây dựng bài toán kĩ thuật qua nguồn tài liệu 27
2.2.2 Xây dựng bài toán kĩ thuật qua ý kiến chuyên gia kĩ thuật 33
2.2.3 Xây dựng bài toán kĩ thuật qua tìm hiểu thực tiễn của học sinh… 41
2.3 SỬ DỤNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT VỀ SỬA CHỮA XE MÁY THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT CHO HỌC SINH 49 2.3.1 Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu nghiên cứu kiến thức mới 49
2.3.2 Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức 51
2.3.3 Sử dụng bài toán kĩ thuật trong khâu kiểm tra, đánh giá 54
Kết luận chương II 58
CHƯƠNG III KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 59
3.1 MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM 59
3.1.1 Mục đích kiểm nghiệm 59
3.1.2 Nội dung và phương pháp kiểm nghiệm 59
3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ TIẾN TRÌNH KIỂM NGHIỆM 60
3.2.1 Đối tượng kiểm nghiệm 60
3.2.2 Tiến trình kiểm nghiệm 60
3.3 KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM 62
3.3.2 Kết quả tổng hợp phiếu điều tra 63
Kết luận chương III 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 73
Trang 7MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới trong đó có ViệtNam là nền kinh tế hội nhập để cùng tồn tại, cùng phát triển Với sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, với sự canh tranh gay gắt giữa các quốc gia,các tập đoàn, các đơn vị kinh tế trên nhiều phương diện hình thành nền kinhtri thức Trong xã hội xuất hiện thêm nhiều lĩnh vực ngành nghề mới, làm chobức tranh về ngành nghề trong xã hội rất da dạng và phong phú, vừa có tínhchuyên sâu cao lại vừa có sự giao thoa trong các ngành nghề Để đáp ứng yêucầu của nền kinh tế tri thức người lao động phải yêu thích, đam mê với nghề,sẵn sàng học tập và học tập suốt đời để nâng cao trình độ chuyên môn Để cóđược nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được sự phát triển của nềnkinh tế thì Đảng và nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu
Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" Trong sự phát triển
và đổi mới giáo dục thì công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đang làmột vấn đề cần phải chú trọng đổi mới
Dạy nghề phổ thông là một phần trong công tác giáo dục hướngnghiệp, nhiệm vụ của dạy nghề phổ thông là giúp các em học sinh làm quenvới một nghề mà các em lựa chọn, nội dung chương trình của một nghề phổthông nêu lên một cách ngắn gọn những tri thức, kĩ năng cơ bản của dạynghề, có chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng và thực hành tổng hợp gắn với sảnphẩm cụ thể theo chương trình quy định cho trường trung học cơ sở và trunghọc phổ thông
Trang 8Thực tiễn việc dạy nghề sửa chữa xe máy trong chương trình dạy nghềphổ thông tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp (GDTX –HN) huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cho thấy, đa số giáo viên chỉ quan tâm tớitruyền thụ kiến thức mà ít chú trọng đến việc phát triển năng lực cho ngườihọc, trong đó có năng lực kĩ thuật (NLKT) Do đó việc hình thành và pháttriển NLKT trong dạy nghề sửa chữa xe máy còn rất nhiều hạn chế, dẫn đếnchất lưọng đào tạo chưa cao Với đặc thù môn học, ngoài tìm hiểu cấu tạo,nguyên lí làm việc, điều quan trọng nhất đối với nghề sửa chữa xe máy làchăm sóc, bảo dưỡng, vận hành, phát hiện hỏng hóc, tìm hiểu nguyên nhân vàthực hiện sửa chữa được các hỏng hóc đó Có thể coi các hỏng hóc của xemáy như là các vấn đề, bài toán cần tìm lời giải nên để phát triển năng lực kĩthuật cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy thì cần chú trọng hơn đếnphần hướng dẫn các em giải quyết các vấn đề, bài toán đó.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm GDTX-HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng
dạy nghề phổ thông nói chung và dạy nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâmGDTX- HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nói riêng
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề xuất biện pháp phát triển NLKT cho học sinh khối lớp 8trong dạy học nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm GDTX- HN huyện VũThư, tỉnh Thái Bình nhằm giúp học sinh rèn luyện khả năng giải quyết cácvấn đề thực tế của nghề
III KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy nghề sửa chữa xe máy tại trung tâm Kĩ thuật tổng hợp –Hướng nghiệp, trung tâm Giáo dục thường xuyên
Trang 92 Đối tượng nghiên cứu
Lí luận về NLKT, bài toán kĩ thuật (BTKT), biện pháp phát triển NLKTcho học sinh trong dạy nghề; quá trình dạy học nghề sửa chữa xe máy tạitrung tâm Kĩ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp, trung tâm Giáo dục thườngxuyên
3 Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp phát triển NLKT cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xemáy thông qua xây dựng và sử dụng BTKT tại Trung tâm GDTX- HN huyện
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu trong quá trình dạy nghề sửa chữa xe máy, giáo viên tăng cường
sử dụng BTKT cùng với sự kết hợp đổi mới phương pháp dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực cho học sinh thì chất lượng dạy học sẽ được nânglên, học sinh sẽ có khả năng giải quyết vấn đề thực tế tốt hơn
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu lí luận về quá trình phát triển NLKT cho người học trongquá trình dạy học
2 Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phát triển NLKT cho học sinh trongquá trình dạy nghề sửa chữa xe máy Trong đó tập trung nghiên cứu lí luận vềBTKT, cách xây dựng và sử dụng chúng trong dạy học
3 Khảo sát thực tế việc dạy và học nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâmGDTX-HN huyện Vũ Thư, tỉnh Tháí Bình
4 Soạn thảo một số BTKT và sử dụng chúng trong dạy học nhằm phát triểnNLKT cho học sinh
5 Kiểm nghiệm và đánh giá các đề xuất để kiểm chứng giả thuyết của đềtài
Trang 10VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: gồm các phương pháp phân tích,tổng hợp, khái quát hoá, tổng kết kinh nghiệm
2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: gồm các phương pháp khảosát, điều tra thực tiễn, phương pháp chuyên gia
VII CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lí luận và thực tiễn của của việc phát triển năng lực kĩthuật cho học sinh học nghề sửa chữa xe máy
Chương II Phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy nghề sửachữa xe máy
Chương III Kiểm nghiệm và đánh giá
Trang 11CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT
CHO HỌC SINH HỌC NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC KĨ THUẬT
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực kĩ thuật ở nước ngoài
Người học nói chung và hoạt động học nói riêng là đối tượng nghiêncứu của nhiều ngành khoa học Năng lực của người học là một trong nhữngđối tượng nghiên cứu chính của tâm lí học, sinh lí học, giáo dục học và lí luậndạy học Nghiên cứu năng lực cá nhân của người học là điều không thể thiếutrong việc hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động vànăng lực giải quyết vấn đề
Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của ngườihọc đã và đang là vấn đề thời sự của nhiều quốc gia trên thế giới Nghiên cứacủa Boyatzis (1995) và các đồng sự về thực trạng giáo dục và đào tạo trên thếgiới và đã chỉ ra những tồn tại: (1) quá nặng về phân tích, không định hướngthực tiễn và hành động; (2) thiếu và yếu trong phát triển kĩ năng quan hệ qualại giữa các cá nhân; (3) thiển cận và hạn hẹp, không tiếp cận tổng thể nhữnggiá trị và tư duy của nó; (4) không giúp người học làm việc tốt trong cácnhóm làm việc
Nhất trí với ý kiến trên, Rausch, Sherman và Washbush (2001) chorằng: “Thiết kế một cách cẩn thận các chương trình giáo dục và đào tạo chútrọng vào kết quả đầu ra và dựa theo năng lực có thể xem là một giải pháp tựnhiên để giải quyết hầu hết, nếu không phải là tất cả những nhược điểm này” Paprok (1996) khi tổng kết các lí thuyết về tiếp cận dựa trên năng lựctrong giáo dục, đào tạo và phát triển đã chỉ ra 5 đặc tính cơ bản của tiếp cận
Trang 12này là: (1) dựa trên triết lí người học là trung tâm; (2) thực hiện những đòi hỏicủa chính sách; (3) định hướng cuộc sống thật; (4) linh hoạt và năng động; (5)những tiêu chuẩn của năng lực được hình thành rõ ràng
Dạy học theo tiếp cận năng lực còn có những ưu thế như cá thể hoá việchọc, phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh cá nhân; chú trọng vào kết quả đầu ra,xác định rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn đo lường thànhquả Vì vậy, tiếp cận năng lực còn là sơ sở, là công cụ để xây dựng nhiềuchương trình đào tạo khác nhau Các chương trình này có thể thực hiện theo babước: (1) xác định các năng lực; (2) phát triển chúng; (3) đánh giá chúng
Lí luận dạy học bộ môn đã vận dụng sáng tạo những cơ sở khoa họccủa các ngành liên quan, đặc biệt là triết học, tâm lí học, sinh lí học, lí luậndạy học đại cương và bản thân môn học Từ đó có những nghiên cứu vàhướng phát triển mới, làm phong phú và đóng góp cho khoa học nói chung và
lí luận dạy học bộ môn nói riêng
Năng lực kĩ thuật (NLKT) nói chung cũng là đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học như tâm lí học, sinh lí học, lí luận dạy học Nhữngnghiên cứu này đã phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá một cách có chọn lọcnhững quan điểm, luận điểm về NLKT Việc khái quát hoá các nghiên cứunày chính là trình bày rõ ràng về cơ sở khoa học nghiên cứu của luận văn
Thuật ngữ NLKT được xuất hiện và được nghiên cứu từ những nămđầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và tâm lí học laođộng Trên thực tế cho thấy: Khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển theodòng thời gian, đồng thời những tri thức ấy cũng dần dần được đưa vào giảngdạy trong nhà trường thì kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, tư duy, năng lựccủa người học cũng được biến đổi theo Như vậy nội dung của NLKT cũngbiến đổi theo và ngày càng được mở rộng và phát triển Chính vì vậy, việcnghiên cứu về NLKT là vấn đề còn đang tiếp diễn
Trang 13Trong các công trình nghiên cứu của tâm lí học về NLKT thì cấu trúccủa NLKT được tập trung nghiên cứu nhiều, trở thành vấn đề trung tâm Theocác nhà tâm lí học thì cấu trúc của NLKT gồm các yếu tố sau: Sự khéo tay, kĩnăng thủ công (Theo X.M Vaxilayxki); tư duy không gian và tư duy thao tác(theo L.X Iakimanxkaia); biểu tượng không gian, tưởng tượng hứng thú, hứngthú kĩ thuật (theo PM Iacôpson); tư duy không gian (theo B.P Lomôp, T.VCudriasep, N.P Lincova); trí thông minh, khả năng đánh giá, năng lực tínhtoán, vận dụng ngôn ngữ (theo Siphenbơc hay Thơctơn); cảm giác cơ, thờigian phản ứng, nhạy cảm xúc giác, chú ý, óc quan sát Người ta thường dùngphương pháp phân tích yếu tố để hiểu biết cấu trúc của NLKT Từ năm 1928,J.M.Cox đã tách ra một số yếu tố trong cấu trúc của NLKT là yếu tố (m) Đó
là khả năng hiểu và sử dụng các nguyên tắc và mối quan hệ cơ khí Năm
1953, E.Koussy đã chứng minh sự có mặt của yếu tố không gian (k) và xácđịnh đó là yếu tố quan trọng nhất trong cấu trúc của NLKT Cũng vào nămnày, W.P.Alexander đã tách ra yếu tố gọi là trí thông minh thực hành (f), ông
đã đối lập (f) với ngôn ngữ trừu tượng NLKT còn gắn với tư duy hình thức,nhưng yếu tố chỉ có sự hiểu biết thuần tuý dưới dạng lý thuyết, ngôn ngữ vàkiến thức kĩ thuật mà không gắn nó với thực tế thì cũng không giải quyếtđược những vấn đề nảy sinh về kĩ thuật khi gặp phải Trong một số tài liệu,khi phân nhóm các yếu tố trong NLKT, các nhà tâm lí học Liên Xô đã xácđịnh NLKT gồm ba yếu tố: Yếu tố chủ đạo là TDKT và tưởng tượng kỹ thuật;yếu tố điểm tựa là óc quan sát và trí nhớ trực quan; yếu tố bổ trợ là sự hứngthú và sự khéo tay
Như vậy, việc nghiên cứu về NLKT đã có nhiều tiến bộ, bổ sung, hỗ trợcho nhau, để ngày càng làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm này Tuy nhiênhiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, điều đó chứng tỏ sự phứctạp, biểu hiện đa dạng trong cấu trúc các thành phần của NLKT
Trang 141.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực kĩ thuật ở trong nước
Còn ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các nhà tâm lí học và tổ tâm
lí học lao động thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cũng đã quan tâmnghiên cứu về NLKT Dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học,giáo dục học ở nước ngoài, trên cơ sở phân tích đặc điểm, tâm - sinh lí củangười học, điều kiện, môi trường giáo dục của đất nước, một số nhà nghiêncứu về NLKT của nước ta đã vận dụng sáng tạo các biện pháp hình thành vàphát triển NLKT cho học sinh vào quá trình dạy học kỹ thuật, giáo dục kỹthuật tổng hợp,
Trong lĩnh vực nghiên cứu các biện pháp phát triển NLKT, có thể kểđến một số tác giả như Phạm Tất Dong, Phạm Ngọc Uyển,… Nhóm nghiêncứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam do GS Phạm Tất Dong chủ trìtrong quá trình nghiên cứu để xác định con đường hình thành và phát triểnnăng lực cho người lao động nói chung, cho học sinh nói riêng, sau khi xemxét cũng đã đồng nhất với quan điểm coi NLKT gồm ba yếu tố tạo thành là:yếu tố chủ đạo, yếu tố điểm tựa và yếu tố bổ trợ
Trong lĩnh vực giáo dục kĩ thuật phổ thông, khi nghiên cứu đề xuất cácbiện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Kĩ thuật công nghiệp (nay đổi tên
là môn Công nghệ) một số tác giả cũng đã đề cập tới lĩnh vực phát triểnNLKT như các tác giả Nguyễn Trọng Khanh, Trương Thúy Nga,…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong nước chưa bàn nhiều về việcphát triển NLKT cho học sinh học nghề phổ thông tại các Trung tâm GDTX -
HN Rõ ràng học sinh THCS có độ tuổi thấp; lượng kiến thức tiếp thu đượcchưa nhiều hơn; các tố chất về sinh lí và tâm lí và tư duy còn đang phát triểnthì chắc chắn biện pháp phát triển tư duy cho học sinh sẽ cũng có những điểmkhác biệt, đặc thù so với các đối tượng khác như sinh viên đại học, cao đẳng Như vậy không thể áp dụng máy móc các biện pháp phát triển NLKT cho
Trang 15sinh viên để phát triển NLKT cho học sinh THCS Cần phải có sự đầu tưnghiên cứu một cách khoa học, thiết thực, cụ thể và khả thi Đây chính là mộttrong những lí do khiến tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là tìmbiện pháp phát triển NLKT cho học sinh học nghề phổ thông trong quá trìnhgiảng dạy.
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Khái niệm về năng lực kĩ thuật
1.2.1.1 Khái niệm năng lực kĩ thuật
Hiện nay có khá nhiều quan điểm, quan niệm và cách phát biểu khácnhau về năng lực kĩ thuật
Theo quan điểm của Tổ tâm lí học lao động- viện KHGDVN: NLKT là
sự tương xứng giữa một bên là tổ hợp những thuộc tính tâm- sinh lí của conngười và bên kia là những yêu cầu của một dạng hoạt động kĩ thuật cụ thểđang đặt ra cho người sản xuất… NLKT phải được thể hiện trong kết quảhoạt động Tuy nhiên NLKT không chỉ là yêu cầu của một dạng hoạt động,
mà phải là bản thân của hoạt động kĩ thuật với đầy đủ cấu trúc của nó Sự tổhợp ở khái niệm trên là sự kết hợp, phối hợp các thuộc tính tâm lí, sinh lí của
cá nhân thành một NLKT trong hoạt động kĩ thuật
Khái niệm NLKT trong luận văn được hiểu và cụ thể hóa như sau:
NLKT là tổ hợp những thuộc tính tâm sinh lý của con người, giúp cho con người có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong hoạt động kĩ thuật.
1.2.1.2 Cấu trúc của năng lực kĩ thuật
Năng lực nói chung và NLKT nói riêng đều có cấu trúc phức tạp và việcxác định nó cũng chưa đồng nhất Hiện nay, nhiều tài liệu của nước ta chủyếu xác định cấu trúc năng lực theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu ởLiên Xô cũ Đó là khi nghiên cứu cấu trúc của NLKT, người ta phân tích,phân nhóm các yếu tố trong NLKT để tìm ra các đặc điểm, các dấu hiệu, các
Trang 16thuộc tính, các mặt biểu hiện của NLKT Theo đó, có thể phân tích cấu trúccủa NLKT bao gồm các yếu tố sau:
(1) Quan niệm NLKT bao gồm các yếu tố liên quan đến hoạt động trí tuệ:
tư duy không gian, tư duy hình thức, tư duy logic, tư duy thiết kế, tư duy kháiniệm (tư duy ngôn ngữ), tưởng tượng kĩ thuật, biểu tượng không gian, hứngthú kĩ thuật, năng lực tính toán, óc phán đoán, sự linh hoạt nhạy bén, óc đánhgiá, sự sáng tạo, kế hoạch hóa, hiểu các nguyên lí, kết cấu kĩ thuật, mối quan
hệ giữa các thành tố cấu thành hệ thống Như vậy các yếu tố cấu thành đềuthuộc về hoạt động nhận thức kĩ thuật, vận dụng kĩ thuật, sáng tạo kĩ thuật,xét trên phương diện các hành động trí óc hay chính là các cấu trúc tâm lí.Các yếu tố, dấu hiệu chủ yếu là tư duy kĩ thuật và tưởng tượng kĩ thuật, liênquan trực tiếp đến kiến thức kĩ thuật, và được gọi là yếu tố chủ đạo
(2) Quan niệm NLKT bao gồm các yếu tố liên quan đến hoạt động chântay, hoạt động của các giác quan như: sự khéo tay, kĩ năng thủ công, cảm giác
cơ, nhạy cảm xúc giác, thời gian phản ứng, khả năng hành động, trí thôngminh thực hành, các quá trình cảm giác – vận động và những yếu tố này đềuthuộc về các nhóm kĩ năng, kĩ xảo kĩ thuật, đó cũng chính là quá trình sinh lí.Các yếu tố, dấu hiệu này chủ yếu liên quan đến các hành động vật chất mà kếtquả của các hoạt động này đều làm biến đổi đối tượng và chủ thể thao tác, kếtquả của sự biến đổi này có thể nhận biết được, đánh giá, xác định được Đồngthời, qua hoạt động kĩ thuật này cũng làm biến đổi chủ thể hoạt động, haychính là hình ảnh và phát triển NLKT của chủ thể (xét trên phương diện hoạtđộng vật chất) Các yếu tố này được gọi là các yếu tố cơ sở làm điểm tựa (3) Quan niệm NLKT bao gồm trí nhớ trực quan, óc quan sát kĩ thuật, chú
ý, hứng thú kĩ thuật, tình cảm, thái độ đối với sự vật hiện tượng kĩ thuật Cácyếu tố này làm nền hỗ trợ cho yếu tố (1) và (2) phát triển Hay nó chính làmột thành phần của NLKT Cấu trúc của NLKT có thể thay đổi theo tỉ trọngcủa các yếu tố thành phần
Trang 171.2.1.3 Đặc điểm của năng lực kĩ thuật
Một cách khái quát, NLKT có 8 đặc điểm đặc trưng sau:
(1) Năng lực kĩ thuật mang tính hệ thống, đó là hệ thống của nhiều yếu
tố có liên hệ và quan hệ tương tác chặt chẽ nhau, các yếu tố này còn tương tácvới các yếu tố khác của hệ thống năng lực chung
(2) Năng lực kĩ thuật mang tính tổng hợp, khái quát, phản ánh đầy đủ,trọn vẹn hoạt động kỹ thuật của con người về các mặt: hứng thú, động cơ,mục đích, phương pháp, phương tiện, kết quả, chất lượng, tri thức, kĩ năng,thái độ
(3) Năng lực kĩ thuật mang tính tích hợp, mỗi cấp độ của năng lực kỹthuật là một mục tiêu tích hợp, đồng thời lại là phương tiện, là nền tảng đểphát triển mức cao hơn của năng lực kĩ thuật
(4) Năng lực kĩ thuật mang tính thực tiễn: hướng vào giải quyết các vấn
đề cụ thể của thực tiễn, có mục đích rõ ràng, nhằm đem lại các giá trị vật chất,tinh thần
(5) Năng lực kĩ thuật vừa ổn định, bền vững, vừa vận động, phát triển,phản ánh trình độ của khoa học, công nghệ đương đại
(6) Năng lực kĩ thuật mang tính cá thể, tính độc đáo, phụ thuộc vào đặcđiểm tâm sinh lí và xu hướng cá nhân
(7) Năng lực kĩ thuật có tính chất chuyên ngành phụ thuộc vào đặcđiểm riêng của từng ngành nghề kĩ thuật, công nghệ và phụ thuộc vào động
cơ nghề nghiệp
(8) Năng lực kĩ thuật là mục tiêu đạt được ở người học, là cơ sở, làthước đo đánh giá về trình độ, kiến thức, kĩ năng, khả năng tư duy, phươngpháp và định hướng hành động, khả năng hoạt động, giải quyết vấn đề, chấtlượng và hiệu quả công việc
Trang 181.2.2 Khái niệm về bài toán kĩ thuật
1.2.2.1 Khái niệm bài toán kĩ thuật.
Về khái niệm bài toán kĩ thuật cũng đã có một số tác giả nghiên cứu vàđưa ra các phát biểu khác nhau, thậm chí tên gọi cũng khác nhau Chẳng hạntác giả Nguyễn Văn Khôi dùng thuật ngữ “bài tập thực hành kĩ thuật” còn cáctác giả Mạc Văn Trang, Phạm Ngọc Uyển, Nguyễn Trọng Khanh lại dùngthuật ngữ “bài toán kĩ thuật”
Về định nghĩa bài toán kĩ thuật (BTKT), A.V.Xcatcun cho rằng: BTKT
là bài toán “có liên quan đến việc vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức,
kĩ năng và kĩ xảo trong phạm vi sản xuất” Còn theo T.V.Kudriasep thì:BTKT là: là bài toán bất kì, liên quan tới sự giải quyết các vấn đề kĩ thuật vàsản xuất – kĩ thuật, tới sự vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng và kĩ xảotrong lĩnh vực kĩ thuật và sản xuất” Tác giả Nguyễn Trọng Khanh đã đưa rađịnh nghĩa BTKT như sau: “BTKT là một bài toán, một vấn đề hay một tìnhhuống có giới hạn phạm vi tìm kiếm rõ ràng, thuộc lĩnh vực kĩ thuật, đòi hỏigiải quyết bằng phương pháp khoa học, dựa trên sự vận dụng tổng hợp cáckiến thức, kĩ năng và kĩ xảo” [12; tr76]
1.2.2.2 Đặc điểm của bài toán kĩ thuật
Ngoài đặc điểm của bài toán nói chung, BTKT còn có những đặc điểmmang đậm nét đặc thù, riêng biệt của nó Qua tham khảo sự phân tích củaT.V.Kudriasep, V.A.Xcatcun,… và của một số nhà nghiên cứu khác và đặcbiệt là phân tích đặc điểm của các dạng BTKT khác như bài toán điều khiển,bài toán chuẩn đoán kĩ thuật… Tác giả Nguyễn Trọng Khanh đã xác địnhnhững đặc điểm riêng của BTKT như sau [12; tr77]:
- Các BTKT thường không đủ dữ kiện, thậm chí thiếu hoàn toàn dữ kiệnhoặc dữ kiện không rõ ràng
- Các BTKT thường có nhiều cách giải, nhiều kết quả khác nhau phụthuộc vào trình độ người giải và điều kiện phương tiện để giải bài toán
Trang 19- BTKT có thể xuất hiện tức thời và đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng.
- Ngoài ra BTKT còn có một đặc điểm riêng nữa, đó là quá trình giảithường có thêm khâu đánh giá, lựa chọn kết quả tối ưu hoặc hợp lí nhất Việcđánh giá không chỉ căn cứ vào chất lượng của kết quả mà cón tính đến cácyếu tố khác như: cách giải, tính kinh tế, tính khả thi,…
Nhờ những đặc điểm này mà BTKT có tác dụng rất lớn trong việc pháttriển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người giải.Trong dạy học, BTKT góp phần quan trọng trong việc phát triển NLKT chongười học
1.2.2.3 Phân loại bài toán kĩ thuật
Dựa vào đặc điểm, vai trò, mục đích sử dụng… của BTKT trong quá trìnhdạy học có thể phân loại BTKT theo một số dấu hiệu đặc trưng sau: [12; tr81]:
* Dựa vào đặc điểm của dữ kiện bài toán:
- Bài toán thực tế: Là bài toán xuất hiện trong thực tế nghiên cứu, sảnxuất… thường là không đủ hoặc thiếu hoàn toàn dữ kiện
- Bài toán lí tưởng: Là bài toán có đủ dữ kiện, điều kiện để có thể giảiquyết được
* Dựa vào chức năng sư phạm (mục đích lí luận dạy học) của bài toán:
- Bài toán dùng trong khâu nghiên cứu kiến thức mới
- Bài toán dùng trong khâu củng cố - hoàn thiện – mở rộng kiến thức
- Bài toán dùng trong khâu kiểm tra – đánh giá
- Bài toán dùng trong khâu rèn luyện kĩ năng…
* Dựa vào lĩnh vực hoạt động kĩ thuật:
- Bài toán thiết kế kĩ thuật
- Bài toán công nghệ
- Bài toán nhận dạng kĩ thuật
- Bài toán chuẩn đoán kĩ thuật
Trang 20- Bài toán xử lí sự cố kĩ thuật.
- Bài toán phân tích kĩ thuật
- Bài toán điều khiển…
* Dựa vào đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn đề:
- Bài toán định tính
- Bài toán định lượng
* Dựa theo mức độ của hoạt động trí tuệ khi giải quyết bài toán:
Với đặc trưng này có thể chia ra 4 loại bài toán với mức độ tư duy vớitính sáng tạo của tư duy tăng dần như sau:
- Bài toán tái hiện: Là bài toán chỉ yêu cầu người học có trí nhớ tốt, táihiện nhanh, vận dụng đúng được những yêu cầu đã học
- Bài toán vận dụng tương tự: Là bài toán yêu cầu người học có khảnăng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề tương tự
- Bài toán vận dụng linh hoạt: Là bài toán yêu cầu người học có khảnăng sử dụng các thao tác và hình thức tư duy ở mức độ nhất định; có khảnăng nhìn thấy cái “mới” trong cái “cũ”, cái chung trong cái riêng, biết vạch
ra các thuộc tính bản chất, các mối quan hệ có tính quy luật, dự đoán được chiềuhướng phát triển và diễn biến của đối tượng nghiên cứu để nhận thức và cải tạochúng Khi giải các bài toán dạng này, tư duy của người học đã có tính sáng tạo
ở một mức độ nào đó Phần lớn các bài toán phân tích, nhận dạng, chuẩn đoán,
xử lí sự cố kĩ thuật… đều thuộc dạng bài toán vận dụng linh hoạt
- Bài toán sáng tạo: Là bài toán yêu cầu người học có khả năng tự đềxuất, thiết lập những vấn đề mới, phương án mới hoặc quy trình mới; có khảnăng đánh giá, phê phán đối tượng nghiên cứu, từ đó có những đề xuất cảitiến, hoàn thiện
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm nội dung kiến thức mônhọc, vào trình độ người học và nhất là vào mục đích, điều kiện sử dụng
Trang 21BTKT, người giáo viên nên tập trung nghiên cứu xây dựng và sử dụng các bàitoán thuộc loại lí tưởng, định tính, vận dụng tương tự và linh hoạt, thuộc cáclĩnh vực hoạt động kĩ thuật khác nhau.
1.2.2.4 Yêu cầu của bài toán kĩ thuật
Các BTKT được lựa chọn hoặc xây dựng để sử dụng trong quá trìnhdạy học cần phải thoả mãn các yêu cầu sau đây [12; tr 83]:
- Phù hợp với mục đích và nội dung dạy học
- Có tính khái quát cao, có thể làm cơ sở cho nhiều tình huống, vấn đềtương tự
- Đa dạng về cách giải, có thể huy động tối đa tính năng động và sángtạo của người học
- Có thể sử dụng linh hoạt để tổ chức cho người học giải quyết khinghiên cứu kiến thức mới, củng cố - hoàn thiện – mở rộng kiến thức, rènluyện kĩ năng hoặc kiểm tra – đánh giá
- Khi giải bài toán, người học nắm được kiến thức mới, được rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo cả về năng lực nhận thức và năng lực hành động thực tiễn
- Đảm bảo tính khả thi, tính vừa sức, lôi cuốn, hấp dẫn người học
- Thuận tiện cho việc kiểm tra – đánh giá khả năng nắm vững kiến thức,mức độ phát triển tư duy của người học
1.3 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT TRONG DẠY NGHỀ SỬACHỮA XE MÁY THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT
1.3.1 Các biện pháp phát triển năng lực kĩ thuật
Để hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật cho người học cần thực hiệnđồng bộ một số biện pháp sau:
a) Phát triển năng lực quan sát và trí nhớ :
Năng lực quan sát là khả năng nhìn thấy những vấn đề, hiện tượng,thuộc tính,… trong đối tượng nghiên cứu Muốn người học phát triển năng
Trang 22lực quan sát, giáo viên cần hướng dẫn người học xác định rõ mục đích quansát, phương pháp quan sát, kết hợp quan sát với tìm tòi các yếu tố, các khíacạnh, các mặt rồi phân tích, lựa chọn các sự kiện cần thiết để đưa ra kết luậnchính xác, chân thực.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về trí nhớ, giáo viên cần có biện pháp tạođiều kiện cho người học quan sát đối tượng thông qua thị giác, phát biểu vấn
đề và đặc biệt là thực hiện giải quyết vấn đề Rõ ràng, trong dạy học, nếu giáoviên tạo điều kiện cho người học tự làm và giảng giải cách làm của mình, tựtrình bày, tự diễn giảng các hoạt động của mình,… thì trí nhớ của họ sẽ tốthơn Năng lực quan sát và trí nhớ tốt sẽ tạo điều kiện cho NLKT được pháttriển
b) Phát triển hứng thú kĩ thuật cho người học :
Để tạo hưng thú kĩ thuật cho người học, giáo viên cần chú ý mấy điểm sau:
- Tạo cho người học sự quan tâm, ham muốn nghiên cứu, khám phá, giảiquyết các vấn đề kĩ thuật
- Đưa ra những nhiệm vụ đảm bảo tính vừa sức, có độ hấp dẫn nhất địnhkhiến người học tự tin, ham muốn giải quyết và rất phấn khởi, mãn nguyệnkhi giải quyết thành công
- Khi người học bế tắc cách giải quyết hoặc gặp thất bại, giáo viên cầnđộng viên, giúp người học phân tích nguyên nhân, khêu gợi cách giải quyết.Tránh thúc giục, trách mắng, chế giễu khiến người học chán nản, thất vọng,mất sự tự tin
c) Tổ chức các hoạt động kĩ thuật cho người học :
Trong quá trình dạy học kĩ thuật, hoạt động kĩ thuật không chỉ đơnthuần là các giờ lí thuyết hay thực hành Giáo viên nên tăng cường tổ chứccác hoạt động kĩ thuật khác như ra bài tập, thi thiết kế kĩ thuật, thi tay nghề kĩthuật, tổ chức nghiên cứu và trưng bày sản phẩm v.v… Chính các hoạt động
Trang 23này không chỉ tạo hứng thú kĩ thuật mà còn giúp người học phát huy tính sángtạo, hình thành và rèn luyện sự khéo léo,… Nhờ đó mà năng lực kĩ thuật củangười học được phát triển
d) Tổ chức cho người học hình thành và rèn luyện thao tác vật chất:
Cấu trúc của năng lực gồm hai yếu tố tâm lí và sinh lí nên có thể thấycấu trúc của NLKT cũng gồm hai yếu tố chủ yếu là tư duy kĩ thuật và kĩ năngthao tác vật chất (còn gọi là hoạt động chân tay) Chính vì vậy, để phát triểnNLKT cho người học thì một trong những biện pháp quan trọng là phải tổchức và tạo điều kiện cho người học hình thành và rèn luyện các thao tác vậtchất đạt đến mức kĩ năng và kĩ xảo Cần phân chia hoạt động kĩ thuật ra cácbước, các công đoạn, các phần việc cụ thể để người học hình thành và rènluyện kĩ năng
e) Hướng dẫn người học vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn:
Khoa học kĩ thuật phát triển và ngày càng có mặt ở khắp nơi, trong mọilĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội Chính vì thế, ngày càng có nhiều vấn đề
kĩ thuật nảy sinh trong thực tiễn Trong dạy học, giáo viên nên gợi ý để ngườihọc quan sát và nêu các tình huống, vấn đề trong thực tiễn rồi hướng dẫnngười học tìm cách giải quyết Mặt khác, chính bản thân giáo viên cũng phảiquan sát và phát hiện ra các vấn đề thực tiễn để đưa vào bài giảng Đây chính
là những BTKT sinh động có sức hấp dẫn người học cao
g) Thiết kế bài dạy theo hướng phát triển năng lực kĩ thuật cho người học:
Để thiết kế bài dạy theo hướng phát triển NLKT cho người học, giáoviên cần nghiên cứu kĩ các yếu tố và cơ chế hình thành NLKT Từ đó, căn cứvào mục tiêu, nội dung, đặc điểm và điều kiện dạy học để thiết kế bài dạy saocho tạo điều kiện cho người học rèn luyện năng lực quan sát, ham thích họctập, rèn luyện tay nghề, phát triển năng lực giải quyết vấn đề v.v…
Trang 24Đề tài này lựa chọn biện pháp thứ 5 để phát triển NLKT cho người học mà cụthể là xây dựng các BTKT chủ yếu nảy sinh từ thực tiễn để sử dụng trong dạyhọc nghề sửa chữa xe máy.
1.3.2 Phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa
xe máy thông qua sử dụng bài toán kĩ thuật
1.3.2.1 Vai trò của bài toán kĩ thuật
Nhiều nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục lao động kĩ thuật và tâm líhọc TDKT đều có chung sự đánh giá về vai trò to lớn của BTKT trong việcphát triển NLKT cho người học
Khi giải các BTKT, người học luôn luôn phải tìm tòi, suy nghĩ, tìm mốiliên hệ giữa điều kiện với yêu cầu của bài toán, vận dụng tổng hợp các kiếnthức đã có, các phương pháp hoạt động nhận thức khoa học, phải sử dụng hầuhết các thao tác và hình thức tư duy, phải sử dụng các kĩ năng thao tác vậtchất.Sự phối hợp thao tác trí tuệ và thao tác vật chất mà cụ thể là tư duy kĩthuật và kĩ năng, kĩ xảo, sự khéo tay một cách nhuần nhuyễn trong quá trìnhgiải quyết vấn đề, kĩ thuật chính là cơ sở để NLKT được phát triển
Tính chủ động, tích cực học tập của người học được phát huy nhờ sựhấp dẫn của bài toán và niềm vui sau mỗi khi giải quyết thành công Kết quảthu được sau mỗi lần giải bài toán không chỉ đem lại cho người học mộtlượng kiến thức mới mà còn đem lại cho họ một phương pháp tư duy, hànhđộng mới “Kết quả trực tiếp của việc giải các bài toán này là chủ thể nhậnđược những cái mới và độc đáo đối với họ ở sản phẩm của hoạt động trí tuệ,hoặc lĩnh hội nắm vững được các phương pháp làm việc mới, hoặc cùng lúcđạt được cả hai” Sử dụng BTKT trong dạy học sẽ giúp giờ học thêm sinhđộng, thu hút sự chú ý của người học, đưa người học từ vị trí thụ động nghe-ghi sang chủ động nghiên cứu: suy nghĩ, phát biểu, tranh luận… tự giành lấykiến thức (dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên).v.v…
Trang 25Vì thế có thể nói sẽ khó hoặc không thể phát triển NLKT cho người học nếunhư trong quá trình dạy học không sử dụng hoặc không biết sử dụng các BTKT.
Có thể tóm tắt vai trò của các BTKT trong dạy học kĩ thuật như sau:
- Tăng hứng thú nhận thức, rèn luyện tính tích cực, độc lập, kiên nhẫn
và tính khoa học
- Góp phần trang bị kiến thức mới cho người học
- Giúp cho người học nắm vững kiến thức một cách hệ thống
- Phát triển tư duy kĩ thuật
- Hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo trong thao tác vật chất
1.3.2.2 Xây dựng bài toán kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa xe máy
Việc lựa chọn BTKT hoặc xây dựng BTKT mới để sử dụng trong dạyhọc có nhiều cách khác nhau Trong đề tài này, tác giả tự xác định một kiểuxây dựng BTKT mới, đó là tìm hiểu các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn để từ
đó xây dựng thành bài toán Theo cách xây dựng này, có 3 cách như sau: a) Cáchthứ nhất: Nghiên cứu tài liệu, tìm các bài toán, vấn đề được nêutrong đó (đôi khi trong tài liệu không có lời giải mà chỉ nêu vấn đề, hiệntượng Trong trường hợp này, người xây dựng phải tự tìm lời giải qua tài liệuchuyên môn, dựa vào vốn kinh nghiệm thực tiễn hoặc tham khảo ý kiếnchuyên gia như các kĩ sư, các thợ sửa chữa xe máy)
b) Cáchthứ hai: Phỏng vấn, trao đổi với chuyên gia kĩ thuật xe máy như kĩ
sư, thợ lành nghề, thợ sửa chữa xe máy để xác định các vấn đề, các hiệntượng, diễn biến khi xe máy hoạt động cũng như bị hỏng hóc Trên cơ sở đótập hợp, biên tập lại thành hệ thống các bài toán
c) Cáchthứ ba: Tổ chức, hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu các hỏng hóc của
xe máy trong thực tiễn (Học sinh có thể hỏi người thân trong gia đình đã vàđang sử dụng xe máy, hỏi các chuyên gia kĩ thuật, thợ sửa chữa xe máy,…).Với kiểu xây dựng bài toán này thì giáo viên phải lập một mẫu phiếu điều tra,
Trang 26có thể bao gồm các cột: Tên hỏng hóc, nguyên nhân, cách khắc phục Riêngnguyên nhân và khắc phục có thể để để trống Mỗi hỏng hóc có thể nêu têngọi, hiện tượng, diễn biến, hậu quả …
Riêng với cách thứ ba, ngoài ưu điểm là sưu tập được nhiều bài toán,vấn đề trong thực tiễn còn có ưu điểm về dạy học là thông qua đó, chính bảnthân học sinh có hứng thú và hiểu biết về sửa chữa xe máy ngay trong quátình đi tìm hiểu thực tế
1.3.2.3 Sử dụng bài toán kĩ thuậttrong dạy nghề sửa chữa xe máy
Việc sử dụng BTKT trong dạy học nói chung và dạy nghề sửa chữa xemáy nói riêng tuân theo các quy trình chung và phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Đó là điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đặc điểm tâm sinh lí học sinh,trình độ kiến thức học sinh, thời lượng dành cho bài học và nghệ thuật sưphạm của giáo viên
Mặt khác, trong quá trình dạy học có nhiều khâu như nghiên cứu kiếnthức mới, ôn tập, kiểm tra đánh giá nên khi sử dụng BTKT cũng có thể chiachúng ra các loại theo các khâu của quá trình dạy học để sử dụng cho phù hợp
và hiệu quả
1.4 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY ỞTRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN – HƯỚNG NGHIỆPHUYỆN VŨ THƯ – THÁI BÌNH
1.4.1 Khái quát chương trình nghề sửa chữa xe máy
Chương trình nghề sửa chữa xe máy đang thực hiện tại Trung tâm Giáodục thường xuyên – Hướng nghiệp (GDTX – HN) huyện Vũ Thư tỉnh TháiBình dùng cho học sinh khối 8 học nghề phổ thông Tổng thời lượng củachương trình là 70 tiết, trong đó có 19 tiết lí thuyết, 42 tiết thực hành, 5 tiết ôntập và 4 tiết kiểm tra Nội dung cụ thể của chương trình được trình bày trongphụ lục 1 của luận văn
Trang 271.4.2 Sơ lược về đội ngũ giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất
a) Đội ngũ giáo viên:
Hiện nay tại Trung tâm GDTX – HN huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình có 2giáo viên giảng dạy nghề sửa chữa xe máy, trong đó có 1 giáo viên trong biênchế và một giáo viên thỉnh giảng (hợp đồng), cả hai đều là giáo viên trẻ nên
có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, tích cực tìm tòi
và áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tuy nhiên do ít kinh nghiệm giảngdạy nên còn lúng túng trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học, vì vậychưa chú trọng nhiều đến việc phát triển NLKT cho học sinh
b) Học sinh:
Học sinh học nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm GDTX – HN huyện
Vũ Thư là học sinh khối 8 của các trường THCS trong huyện Vũ Thư, tỉnhThái Bình Do học sinh mới ở bậc THCS nên gặp khó khăn trong việc tiếp thukiến thức cũng như việc hình thành và phát triển NLKT Mặt khác, các em ởlứa tuổi chưa được lái xe máy nên kinh nghiệm thực tiễn còn rất hạn chế Quathực tế giảng dạy nghề phổ thông có thể nhận thấy như sau:
- Đa số học sinh chưa nhận thức sâu sắc sự cần thiết và ý nghĩa của việchọc nghề này, nên sự hứng thú học tập với nghề còn chưa cao;
- Nhìn chung, học sinh chưa có phương pháp học hợp lí, khoa học, kể cảkhi học lí thuyết và học thực hành Việc học tập rất thụ động và còn mangtính đối phó
- Đa số học sinh còn gặp khó khăn về khả năng tư duy, khả năng quansát, phân tích, tổng hợp kiến thức; kĩ năng thực hành còn hạn chế
- Giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình để truyền thụkiến thức, ít sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, chưa chú ý đến việchướng dẫn cho học sinh tự học Việc phát triển NLKT cho học sinh chưađược quan tâm đúng mức
Trang 28Sách giáo khoa nghề sửa chữa xe máy giảng dạy khối THCS xuất bảnnăm 1998, đến nay nhiều nội dung đã lạc hậu so với công nghệ hiện hành,nhiều nội dung thực hành không có thiết bị cho học sinh thực tập, ví dụ như:
Hệ thống đánh lửa dùng vít lửa, các qui trình tháo lắp viết cho xe Simson, xeBabeta, xe Honda cup… do những thiết bị này đã quá cũ, quá lạc hậu Mặtkhác sách hoặc tài liệu tham khảo dành cho học sinh trong thư viện Trung tâmhầu như không có gây khó khăn cho việc tự nghiên cứu, tìm hiểu của học sinh
1.4.3 Thực trạng về phát triển năng lực kĩ thuật trong dạy nghề sửa chữa
xe máy
Giáo viên gặp khó khăn trong việc vận dụng lí luận và phương phápdạy học kĩ thuật vào môn học; nhận thức của giáo viên về NLKT và các biệnpháp hình thành, phát triển NLKT cho học sinh còn hạn chế Hầu như giáoviên chưa chủ động xây dựng các tình huốn, các vấn đề để giao cho học sinhgiải quyết Có thể nói BTKT gần như chưa được sử dụng trong dạy nghề sửachữa xe máy ở Trung tâm
Giáo viên cũng còn lung túng và gặp nhiều khó khăn trong việc thựchiện chuẩn kiến thức, kĩ năng; xác định và cụ thể hóa mục tiêu dạy học, cácmức độ về kiến thức, kĩ năng, phát triển tư duy, năng lực, thái độ Việc thiết
kế mục tiêu bài học chủ yếu là xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái
Trang 29độ theo từng bài, chưa chú trọng đến việc xâu chuỗi được các kiến thức, kĩnăng, thái độ theo lôgic khoa học, thành hệ thống giúp học sinh đạt được mộtmức độ nào đó về NLKT
Khó khăn trong việc tổ chức dạy học hình thành kiến thức, kĩ năng nhất
là các khái niệm khoa học và các kĩ năng nhận thức, kĩ năng vận dụng
Khó khăn cả về lí luận và thực tiễn trong việc phát triển TDKT, tưởngtượng kỹ thuật, sáng tạo kỹ thuật,… hay nói chung là NLKT
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc nghiên cứu về NLKT và việchình thành, phát triển NLKT cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy tạiTrung tâm GDTX – HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cần phải được quantâm đầu tư nghiên cứu để đảm bảo dạy học theo định hướng phát triển NLKTcho học sinh
Chính vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng một hệ thống cơ sở lí luận,thực tiễn về NLKT và đề xuất các biện pháp hình thành, phát triển NLKT chohọc sinh học nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm GDTX – HN là cần thiết
Trang 30Kết luận chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn của việc phát triển NLKT chohọc sinh trong dạy học nghề sửa chữa xe máy ở các Trung tâm GDTX – HNnói chung và Trung tâm GDTX – HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nói riêng
có thể rút ra một số kết luận như sau:
1 Nghề sửa chữa xe máy là một trong những nghề đòi hỏi người học phải
có NLKT tốt để có thể hiểu được cấu tạo, nguyên lý hoạt động cũng như hoànthành được các thao tác tháo lắp, kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa các cơ cấu,
hệ thống trong xe máy Do vậy, để giúp học sinh học tốt nghề sửa chữa xemáy, phát triển NLKT thì trong quá trình dạy học cần phải có các biện phápthích hợp
2 Phát triển NLKT cho học sinh trong quá trình dạy học là một trong nhữngnhiệm vụ chủ yếu của dạy nghề phổ thông Qua nghiên cứu lí luận về NLKT,các biện pháp phát triển NLKT cho học sinh có thể thấy một biện pháp hiệu quả
là xây dựng và sử dụng BTKT trong dạy học nghề sửa chữa xe máy
3 Với đặc điểm chương trình, nội dung, điều kiện dạy học và đặc điểm tâmsinh lí học sinh, biện pháp xây dựng và sử dụng BTKT nhằm góp phần pháttriển NLKT cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy là có tính khả thi
và hiệu quả
4 Thực tế trong quá trình dạy nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm GDTX– HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, việc sử dụng BTKT hầu như còn chưađược quan tâm chú ý nhiều Vì vậy nghiên cứu và thực hiện biện pháp xâydựng và sử dụng các BTKT nhằm phát triển NLKT cho học sinh trong quátrình dạy nghề sửa chữa xe máy là một việc cần thiết
Trang 31CHƯƠNG II PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT CHO HỌC SINH
TRONG DẠY NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY
2.1 NGHỀ SỬA CHỮA XE MÁY Ở TRUNG TÂM GDTX-HN HUYỆN VŨTHƯ, TỈNH THÁI BÌNH
2.1.1 Mục tiêu của nghề sửa chữa xe máy
Nghề sửa chữa xe máy trong chương trình đào tạo của Trung tâm giúphọc sinh sau khi học xong có khả năng:
Về kiến thức:
- Biết được nhiệm vụ, cấu tạo của các chi tiết, cơ cấu, hệ thống của xe máy
- Hiểu được nguyên lý hoạt động, vị trí lắp đặt của các chi tiết, cơ cấu,
hệ thống của xe máy
Về kĩ năng:
- Xác định được những hỏng hóc, đưa ra biện pháp sửa chữa khắc phục
- Thực hiện được việc kiểm tra, điều chỉnh, bảo dưỡng, sửa chữa các chitiết, cơ cấu, hệ thống hoặc tổng thành của xe máy
Về thái độ:
- Có tác phong làm việc khoa học, chính xác
- Rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mỉ, hình thành tác phong công nghiệp
2.1.2 Nội dung, chương trình của nghề sửa chữa xe máy
Chương trình nghề sửa chữa xe máy (70 tiết) cho học sinh THCS gồm 9chương:
Chương 1: Động cơ xe máy
Chương 2: Cơ cấu khuỷu trục – Thanh truyền
Chương 3: Cơ cấu phân phối khí
Chương 3: Hệ thống nhiên liệu
Trang 32Chương 5: Hệ thống bôi trơn, hệ thống làm mát.
Chương 6: Hệ thống điện
Chương 7: Hệ thống truyền động
Chương 8: Hệ thống điều khiển, hệ thống di động
Chương 9: Sử dụng và bảo dưỡng xe máy
Mục tiêu và nội dung chi tiết của từng chương được thể hiện trong bảngphụ lục 2 của luận văn
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong dạy nghề sửa chữa xe máy theođịnh hướng phát triển năng lực
2.1.3.2 Khó khăn
Về phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học tuy đã và đang đượcđổi mới tích cực, song giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng các phươngtiện dạy học để minh hoạ, cung cấp thông tin, trong khi đó chức năng điềukhiển hoạt động nhận thức của học sinh chưa được chú trọng Thêm vào đóthì các phương pháp kiểm tra – đánh giá chưa phong phú, chưa đánh giá chínhxác học lực của học sinh, yêu cầu của giáo viên về nhiệm vụ môn học đối vớihọc sinh chưa cao, chưa tạo được động lực và hứng thú cho học sinh trongquá trình học tập
Về người học: Học sinh chưa có phương pháp học hợp lý, không nắmvững được các kĩ năng học tập của nghề Đa số học sinh chưa xác định được
Trang 33kế hoạch học tập hợp lý, mà chỉ học theo kiểu tùy thích, thụ động (quan sátthụ động, ít đào sâu suy nghĩ, phân tích ứng dụng) Học sinh không thực sựnhiệt tình, không có biểu hiện học tập hăng say, chỉ hoàn thành những gì giáoviên yêu cầu, phần lớn học sinh học xong rồi để đấy mà không chịu tư duyliên hệ với thực tiễn, ít thấy được vai trò ý nghĩa của nghề, do đó không cóhứng thú học tập thực sự.
Lực lượng giáo viên còn mỏng nên các giáo viên ít có điều kiện trao đổi,học hỏi, hỗ trợ nhau trong nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học theohướng phát huy tính tích cực của học sinh nên việc đầu tư thời gian và côngsức để nghiên cứu tìm ra các biện pháp để phát triển năng lực kĩ thuật cho họcsinh thông qua môn học còn hạn chế
Sách và giáo trình chuyên cho môn học chưa có nhiều nên việc tìm tài liệu cónội dung phù hợp với phân phối chương trình và trình độ của người học cònkhó khăn dẫn đến việc tự học, tự nghiên cứu của học sinh chưa tốt Việc tiếpthu kiến thức môn học còn thụ động và phụ thuộc nhiều vào người dạy
2.2 XÂY DỰNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT VỀ SỬA CHỮA XE MÁY
2.2.1 Xây dựng bài toán kĩ thuật qua nguồn tài liệu
Để tiến hành phương án này, tác giả đã nghiên cứu các tài liệu sau đây:
1 - Phạm Đình Vượng, Nguyễn Văn Dương, Nghề sửa chữa xe máy, Nhà
Trang 34Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu nêu trên, tác giả đã tổng hợp lạicác thông tin để xây dựng bài toán như trong bảng 2.1.
Bảng 2.1 Tóm tắt nội dung các thông tin để xây dựng bài toán qua tài liệu
-Buzi bị hỏng-Mobin lửa bị hỏng
2 Xe bị đảo Đang chạy xe
thấy xe bị đảo , khó điều khiển
-Áp suất hơi thấp hơn qui định-Ổ bi trục bị rơ-Bánh xe lắp bị lệchtâm
-Cổ lái quá nặng
-Bổ sung thêm hơi-Thay ổ bi
-Căn chỉnh lại bánh xe
- Tra mỡ hoặc thay ổ bi cổ lái
3 Đèn pha bị
mờ
Khi bật đèn pha thấy không đủ ánh sáng
Do bộ sạc ắc qui không đúng tiêu chuẩn
Phải thay bộ sạc đúng tiêu chuẩn
4 Còi không
kêu
Khi bấm nút thấy còi không kêu hoặc chập chờn
-Điều chỉnh màng rung chưa đúng-Các giắc nối bị lỏng
-Còi bị rách màng rung
-Ắc qui hết điện
-Điều chỉnh lại-Kiểm tra lại các giắc nối còi-Thay còi mới-Kiểm tra ắc qui
- Điều chỉnh lại lyhợp
Trang 35-Mất công suất khi tải nặng-Có tiếng hú ở động cơ
không dứt khoát
- Các tấm ma sát bị mòn
-Cặp bánh răng ăn khớp trong bộ ly hợp bị rơ gây tiếng hú
- Thay lá côn, dánlại các tấm ma sát
- Thay cả bộ ly hợp (Phương án này tốn kém nhưng tối ưu nhất)
6 Truyền
động
Khi chạy xe thấy tiếng lách tách hoặc va đập phía hộp xích
-Do xích bị trùng-Đĩa và nhông bị mòn
-Căng lại xích-Thay bộ nhông xích mới
-Lò xo phuộc yếu-Dầu phuộc bị ô xi hóa mất độ trơn-Phớt dầu bị hỏng gây chảy dầu
- Thay lò xo-Thay dầu phuộc-Thay phớt và dầumới
8 Hư hỏng
động cơ
Xe nhanh bị nóng máy trên mức bình thường, máy nổ rung mạnh chỗ
Hư hỏng tại
hệ thống
Xe đang chạy bịchết máy, để nguội khoảng
Trang 36đã yếu, thậm chíkhi không sử dụng.
Do bề mặt ắc quy
bị bẩn tạo ra cầu nốigiữa 2 cực; bình chập mạch bên trong do kết tủa hoặc các tấm ngăn
bị lỏng; cũng có thể vật liệu làm ắc quy không đạt yêu cầu hoặc trong dung dịch có tạp chất
Vệ sinh, lau chùi
ắc quy hoặc súc rửa bình sạch sẽ, thay dung dịch mới và nạp lại điện cho bình
- Má phanh mòn hay chất lượng kém
- Má phanh bị chai cứng
- Má phanh dính dầu mỡ
- Rà lại-Tiện cho phẳng
Trang 37trong moay ơ khônghoàn toàn
- Mặt trong moay ơ
bị cày xước
- Má phanh mòn hay chất lượng kém
- Má phanh bị chai cứng,
- Má phanh dính dầu mỡ
- Vành tiếp xúc giữa
má phanh và mặt trong moay ơ khônghoàn toàn
- Mặt trong moay ơ
bị cày xước, cần tiện cho phẳng
-Phải thay mới
- Chà giấy ráp haycưa mặt võng.-Nếu nhẹ thì đánh sạch bằng giấy ráp, ngấm nhiều thì phải thay mới.-Rà lại
-Tiện cho phẳng
15 Tình trạng
của Buzi
Cực Buzi có màu trắng
Động cơ bị quá nhiệt do dùng Buzi không đúng loại, xăng có chỉ số ốc tan không phù hợp hoặc hệ thống làm mát bị hư hỏng
-Kiểm tra và thay Buzi đúng loại-Chọn xăng có ốc tan phù hợp
-Kiểm tra sửa chữa hệ thống làmmát
Tổng hợp các thông tin thu thập được qua nguồn tài liệu, tác giả xâydựng được một số bài toán như sau:
Bài toán 1: Hãy xác định nguyên nhân và biện pháp khắc phục khi xe đang
chạy bị chết máy
Trang 38Bài toán 2: Hãy xác định nguyên nhân và biện pháp khắc phục khi xay chạy
trên đường có hiện tượng bị đảo, lắc
Bài toán 3: Khi sử dụng đèn pha thấy bị mờ (không đủ ánh sáng), giải thích
nguyên nhân và đề xuất biện pháp khắc phục
Bài toán 4: Khi bấm nút còi thấy còi không kêu hoặc kêu chập chờn, hãy giải
thích nguyên nhân và đưa ra phương án sửa chữa
Bài toán 5: Khi sử dụng xe máy thấy hiện tượng xe tiêu hao xăng bất thường,
khó vào số hoặc mất công suất khi tải nặng Hãy giải thích nguyên nhân và đềxuất phương án khắc phục
Bài toán 6: Khi chạy xe thấy tiếng kêu lách tách hoặc tiếng va đập phía hộp
xích Hãy giải thích nguyên nhân và đề xuất phương án khắc phục
Bài toán 7: Hãy giải thích nguyên nhân và biện pháp khắc phục hiện tượng xe
máy khi đi vào đường sóc hoặc ổ gà thấy phuộc trước có tiếng kêu “cụp cụp”
Bài toán 8: Xe máy để qua đêm, khi khởi động thấy khó hoặc không khởi
động được bằng máy khởi động, còi kêu nhỏ hoặc không kêu, đèn xi nhanchập chờn Hãy giải thích hiện tượng trên và dề xuất phương án sửa chữa
Bài toán 9: Nêu các nguyên nhân làm cho hệ thống phanh tang trống hoạt
động không hiệu quả (phanh không ăn), từ đó nêu cách khắc phục đối vớitừng nguyên nhân đã nêu
Bài toán 10: Khi tháo buzi thấy cực buzi có màu trắng (Chế độ chuẩn phải có
màu gạch cua) Hãy giải thích nguyên nhân và phương án khắc phục hiệntượng trên
Bài toán 11: Khi xe chạy thấy nhanh bị nóng máy trên mức bình thường, máy
nổ rung mạnh chỗ để chân, giải thích hiện tượng trên và đề xuất phương ánkhắc phục
Bài toán 12: Xe đang chạy đột ngột chết máy, không khởi động lại được, hãy
giải thích nguyên nhân và đề xuất phương án khắc phục hiện tượng trên
Trang 39Bài toán 13: Xe đang chạy bị chết máy, để nguội khoảng 10 phút sau thì nổ
lại được, hãy giải thích nguyên nhân và đề xuất phương án khắc phục hiệntương trên
Bài toán 14: Khi khởi động bấm nút start máy đề không quay, kiểm tra ắc qui
vẫn bình thường, hãy giải thích nguyên nhân và đề xuất phương án khắc phụchiện tượng trên
Bài toán 15: Khi khởi động thấy máy khởi động yếu không kéo nổi vô-lăng,
kiểm tra sơ bộ thấy ắc qui vẫn bình thường, hãy giải thích nguyên nhân và đềxuất phương án khắc phục hiện tượng trên
Trong số các bài toán trên, có một số bài toán không có lời giải, tác giả
sẽ tìm lời giải khi thực hiện phương án phỏng vấn chuyên gia
2.2.2 Xây dựng bài toán kĩ thuật qua ý kiến chuyên gia kĩ thuật
Bằng phương án nghiên cứu tài liệu, tác giả đã xây dựng được 15 bàitoán về những hỏng hóc của xe máy, tuy nhiên trên các tài liệu không thểthống kê được hết thực trạng hỏng hóc của xe khi sử dụng trên thực tế Do đótác giả đã tiến hành gặp gỡ, phỏng vấn, trao đổi với các chuyên gia, các kĩthuật viên có chuyên ngành kiên quan đến xe máy để xây dựng thêm bài toán
Trang 404 Hoàng Văn Linh – Kĩ thuật viên dịch vụ bảo dưỡng, công ty THHHYAMAHA Hưng Thịnh – Số 3 Lý Bôn, Thành phố Thái Bình.
5 Vũ Tiến Lự - Chủ cửa hành dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa xe máy, số 37đường Hoàng Văn Thụ, Thành phố Thái Bình
6 Hoàng Xuân Tùng- Chủ cửa hành dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa xe máy,
số 113 đường Phan Bá Vành, Thành phố Thái Bình
7 Nguyễn Trọng Tuân – Chủ cửa hàng bán xe máy, số 87 mặt đường 10A,Thị trấn Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
8 Trần Trọng Điệp – Chủ cửa hàng sửa chữa xe máy, thôn Phúc Thượng,
xã Vũ Phúc, Thành phố Thái Bình
9 Lê Văn Trường – Tổ trưởng tổ lắp ráp - Công ty cổ phần liên doanhViệt Thái, Lô C5-1, C5-2 Khu công nghiệp Hòa Xá, xã Lộc Hòa, thành phốNam Định
10 Hoàng Thế Phương – Công nhân tổ lắp ráp - Công ty cổ phần liêndoanh Việt Thái,Lô C5-1, C5-2 Khu công nghiệp Hòa Xá, xã Lộc Hòa, thànhphố Nam Định
Trong quá trình trao đổi, phỏng vấn với chuyên gia, tác giả đã tập trungtrao đổi về các hỏng hóc phổ biến mà khách hàng của các đối tượng tác giảphỏng vấn đã phản ánh cũng như nguyên nhân, cách khắc phục một số bàitoán chưa có lời giải ở phương án nghiên cứu tài liệu Kết quả tác giả đã tổnghợp được một số thông tin để xây dựng bài toán như trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Tóm tắt nội dung các thông tin để xây dựng bài toán qua chuyên gia
-Rơ le hoặc chổi than
bộ đề bị hỏng
-Thay rơ le hoặc chổi than