MỞ ĐẦU1 1. Lí do chọn đề tài:1 2. Lịch sử vấn đề:2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:5 5.Những đóng góp mới của luận văn8 6. Bố cục luận văn:8 NỘI DUNG9 Chương 1: NGƯỜI MƯỜNG Ở THẠCH THÀNH VÀ DIỄN XƯỚNG NGHI LỄ “ BÀI CA LÀM VÍA” CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA9 1.1. Tổng quan về tộc người Mường9 1.1.1. Quá trình hình thành dân tộc Mường9 1.1.2. Nền kinh tế- văn hóa- xã hội Mường Thạch Thành11 1.1.2.1. Kinh tế:12 1.1.2.2. Hôn nhân gia đình:13 1.1.2.3. Văn hóa14 1.2.2 Giới thiệu chung về nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành19 1.2.2.1. Vai trò của ông Mo19 1.2.2.2. Diễn xướng các nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành22 1.2.2.2.1. Làm vía cho trẻ nhỏ ( gọi vía lạc)22 1.2.2.2.2 Làm vía hết năm27 1.2.2.2.3 Làm vía kéo si31 Chương 2: NỘI DUNG CỦA NHỮNG BÀI CA LÀM VÍA42 2.1. Bài ca làm vía phản ánh nhận thức về thế giới của người Mường xưa42 2.1.1.Quan niệm về vía con người42 2.1.2. Quan niệm về các tầng vũ trụ45 2.1.2.1. Mường Trời:46 2.1.2.2. Thế giới bên Âm:46 2.1.2.3. Thế giới Âm Phủ:48 2.1.2.4. Thế giới Dương Gian:49 2.2. Bài ca làm vía phản ánh cuộc sống, phong tục tập quán của người dân bản Mường52 2.2.1.Bài ca làm vía phản ánh cuộc sống lao động của người dân bản Mường.52 2.2.2. Cuộc sống sinh hoạt, phong tục tập quán của người dân bản Mường57 2.2.2.1. Cuộc sống sinh hoạt57 2.2.2.2. Phong tục tập quán60 2.3. Bài ca làm vía thể hiện ước mong về sự an lành của vía, ước mong về sức khỏe và sự trường tồn.70 Tiểu kết chương 279 Chương 3: NGHỆ THUẬT CỦA NHỮNG BÀI CA LÀM VÍA80 3.1. Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong lối biểu hiện80 3.2. Kết cấu:83 3.3.Ngôn ngữ87 3.3.1Cách dùng từ giàu tính biểu cảm với cách diễn đạt rất riêng88 3.3.2. Hình ảnh ví von, so sánh độc đáo89 3.3.3. Ngôn từ thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người Mường91 3.3.4. Ngôn từ thể hiện lối tư duy vừa huyền bí vừa trực cảm của người Mường93 3.4. Thể thơ95 3.5 .Biểu tượng và hình ảnh99 3.5.1.Biểu tượng cây si100 3.5.2.Hình ảnh cây mía mật:103 3.5.3.Hình ảnh con gà trống chân lớn, cổ dài:104 Tiểu kết chương 3106 PHẦN KẾT LUẬN107 TÀI LIỆU THAM KHẢO110
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-o0o -KHẢO SÁT BÀI CA LÀM VÍA CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Văn học dân gian
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Xin cảm ơn văn phòng khoa Văn; phòng Sau Đại học trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội; gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn.
Tác giả luận văn
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang 42.Tìm hiểu về văn hóa Mường đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng
nghiên cứu về nghi lễ và bài dân ca làm vía vẫn đang còn là một mảnh đất sơ khai, mới mẻ chưa được chú ý Dân ca làm vía là một hiện tượng độc đáo gắn với phong tục và nghi lễ làm vía của người Mường Chính vì vậy việc đi tìm hiểu về văn học dân gian của người Mường nói chung cũng như những “Bài ca làm vía”
của người Mường Thạch Thành nói riêng là công việc hữu ích, góp phần phát huybản sắc văn hóa và giữ gìn những nét văn hóa cổ xưa của dân tộc
Khi đi tìm hiểu về vấn đề này một số nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở góc
độ là một nghi lễ phục vụ cho đời sống tín ngưỡng mà chưa thực sự quan tâm đếnnhững giá trị văn học được lưu giữ trong bài dân ca Vì vậy người viết quyết định
chọn đề tài " Khảo sát Bài ca làm vía của người Mường ở huyện Thạch Thành,
tỉnh Thanh Hóa”để tập trung làm nổi bật lên những giá trị đặc sắc của cả nghi lễ và
của cả 3 bài dân ca nghi lễ này
Trang 53.Tìm hiểu dân ca nghi lễ làm vía , chúng tôi muốn tìm hiểu thế giới tâm
hồn, tình cảm của người Mường và hiểu sâu sắc hơn những giá trị nghệ thuật của nó
trong kho tàng dân ca dân tộc Mường Hơn thế nữa Dân ca làm vía là một loại hình
tổng hợp của nghệ thuật ngôn từ và phương thức diễn xướng dân gian gắn với phongtục nghi lễ làm vía của người Mường, trong đó thành tố đóng vai trò quan trọng là nghệthuật ngôn từ Khi thực hiện đề tài, người viết có thuận lợi là được sinh ra trên mảnhđất Thạch Thành và là một người con của dân tộc Mường Nói được tiếng nói của dântộc Mường và đặc biệt là từ nhỏ đã được lớn lên trong một nền văn hóa Mường vớinhững nghi lễ và lễ hội đặc biệt.Với việc triển khai đề tài này người viết hi vọng có thểđem đến cho mọi người những hiểu biết cụ thể về một nghi lễ mang những nét văn hóacủa địa phương mình, và hơn thế nữa làm nổi bật lên những giá trị văn học về cả nội
dung và nghệ thuật trong bài dân ca Làm vía - Mường Với việc triển khai đề tài này
người viết mong muốn có thể đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc nghiên cứucũng như sưu tầm nét văn hóa làm Vía đặc sắc của người Mường Thạch Thành
2 Lịch sử vấn đề:
Dân tộc Mường trên đất nước Việt Nam là một tộc người mang những nétvăn hóa đặc sắc Những nét văn hóa đó hiện nay đang được Đảng và nhà nước quantâm sưu tầm, phát triển và lưu giữ
Hội văn nghệ dân gian Việt Nam được thành lập ( 01/01/1976) chính là một tổ
chức của nhà nước giữ trọng trách này Mục đích của hội là “ Sưu tầm nghiên cứu,
phổ biến và truyền dạy vốn văn hóa, văn nghệ dân gian các tộc người Việt Nam”.
Nền văn hóa Mường đã được tìm hiểu từ rất lâu, ở cả những người nghiêncứu sưu tầm trong nước và cả những người nghiên cứu nước ngoài Vùng đất màcác nhà dân tộc học quan tâm khảo sát đó là Hòa Bình, bởi vùng đất này được mệnhdanh là đất cổ, là cái nôi sinh ra họ
Tuy nhiên người Mường không chỉ cư trú ở Hòa Bình mà còn sống ở rất nhiềucác vùng đất khác đó là Phú Thọ,Thanh Hóa,Sơn La Thanh Hóa là một trong những nơi tập trung đông người Mường với những nét văn hóa riêng so với người Mường ởHòa Bình hay Phú Thọ Và cho đến giai đoạn hiện nay, bắt đầu từ những năm 1980 bảnsắc văn hóa của người Mường Thanh Hóa mới được quan tâm, tìm hiểu
Trang 6Nghi lễ làm vía và “ bài ca làm vía” của người Mường ở Thanh Hóa thuộc
tín ngưỡng vía của dân tộc Mường Khi nghiên cứu về vấn đề này đã có một số côngtrình như sau:
1 Năm 2010, nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân của Hội văn nghệ dân gian
Việt Nam đã cho xuất bản cuốn “ Tín ngưỡng vía trù của người Mường” ( do nhà
xuất bản Dân Trí in năm 2010) Đây là cuốn sách giới thiệu về nghi lễ “ Vía trù” củangười Mường, bên cạnh phần lễ là bài dân ca được sử dụng trong nghi lễ đặc biệtnày Cuốn sách đã cho chúng ta thấy quan niệm của người Mường về “Vía” Theo
sự tìm hiểu của Hoàng Anh Nhân : “ Vía là một thứ vô hình, phi vật chất, sống trong
cơ thể của mọi sinh vật, vía có sức mạnh siêu nhiên, có khả năng chi phối mọi ý nghĩa, hành vi sự sống, sự chết của sinh vật (trong đó có con người) vía là tinh thần,
là trí tuệ của con người” Trong cuốn sách này ông cũng phân biệt quan niệm “ ma” và “ vía” Khi con người ta chết đi vía thoát khỏi xác người , xác ấy được đặt trong quan tài gỗ và được chôn vào lòng đất, thì xác trở thành cát bụi hòa tan vào đất trời, sông núi còn vía vẫn là một cơ thể sống nhưng vô hình, thường xuất hiện thoáng qua như bóng ma và từ đây Ma làm ăn sinh sống ở thế giới Mường Ma Vậy
“ Ma” chính là vía sau khi đã thoát khỏi xác người chết.
2 Công trình thứ hai mà người viết tìm hiểu được đó là công trình “ Văn hóa
dân gian Mường” của nhà nghiên cứu Bùi Thiện ( do nhà xuất bản Văn hóa Dân
Tộc phát hành vào năm 2010) Cuốn sách này là một công trình nghiên cứu đồ sộ,cho người đọc những hiểu biết về văn hóa dân gian của dân tộc Mường Tác giảchia công trình nghiên cứu của mình thành năm mục lớn với rất nhiều mục nhỏ
Ông nghiên cứu từ thiên nhiên, đất nước, con người của vùng Mường cho đến những nét huyền thoại, vũ trụ quan – thế giới quan , về văn hóa vật chất cũng như tinh thần của người Mường Vì vậy nghi lễ “ Làm vía kéo si” là một phần rất nhỏ
trong công trình nghiên cứu này Có khoảng hai trang giấy viết về nghi lễ , chochúng ta biết những hiểu biết sơ bộ về nguồn gốc, về các thủ tục khi ông Mo thựchiện nghi lễ Tuy nhiên đây mới chỉ là những hiểu biết rất chung về một nghi lễ cònnhiều nét đặc sắc mà chúng ta phải bàn đến
Trang 73.Công trình thứ ba và thứ tư mà người viết tìm hiểu được cũng là của nhànghiên cứu Bùi Thiện, có thể nói đây là một nhà nghiên cứu rất tâm huyết với văn
hóa Mường Cuốn sách này tác giả đưa đến người đọc những bài “ Dân Ca
Mường” với những nét đặc sắc riêng có của dân tộc Mường Công trình nghiên cứu
được nhà xuất bản Văn Hóa Dân tộc in thành hai quyển sách “ Dân Ca Mường,
phần Tiếng Việt” và “ Dân Ca Mường, phần tiếng Mường” “ Bài ca làm Vía kéo
si” hay còn gọi là “ vía Mụ” được nhà nghiên cứu Bùi Thiện xếp vào phần Dân Cahát Mo khấn phong tục Công trình nghiên cứu này cho ta biết phần văn bản bài canghi lễ “ Vái Mụ” Phần văn bản này gồm có bài “ Mo vái Mụ” và bài “ Thức Sidậy” cùng với 15 bài Khu làm trò
4 Công trình thứ năm mà theo người viết công trình này đã phần nào thể hiệnđược những nét đặc sắc trong tín ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa Đó là công
trình “ Tín ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa” phần “ Tín ngưỡng Vía” của tác
giả Hoàng Anh Nhân Công trình này đã giới thiệu ba nghi lễ và ba bài ca làm víacủa người Thanh Hóa:
- Thứ nhất đó là lễ gọi vía trẻ bị lạc
- Thứ hai là lễ cầu vía hết năm
- Thứ ba là lễ cầu vía cho con gái
Các nghi lễ này được giới thiệu về cả phần lễ và phần lời ca, cả phần TiếngMường và phần Tiếng Việt Tuy nhiên nghi lễ làm vía vẫn chưa thực sự cụ thể Đâychính là lí do để người viết lựa chọn nghiên cứu nghi lễ cũng như bài ca làm vía kéo
si để triển khai làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
5 Công trình thứ 6 chính là Khóa luận tốt nghiệp của tác giả vào năm 2012với đề tài: “ Khảo sát bài ca làm vía kéo si” của người Mường ở huyện ThạchThành, tỉnh Thanh Hóa Trong công trình này người viết đã giới thiệu khá cụ thể về
nghi lễ làm vía kéo si và phân tích những nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của “ bài ca làm vía kéo si”.
Thông qua quá trình đi khảo sát thực tế người viết nhận thấy rằng nghi lễ “
và bài ca làm vía ” đã tồn tại rất lâu đời trong đời sống tín ngưỡng của người dân
Mường Thạch Thành chứng tỏ nét tâm linh này đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân
Trang 8dân Nhìn nhận vấn đề, người viết thấy rằng cần phải bảo lưu những nét văn hóa tinhthần mang đậm bản sắc dân tộc ở địa phương.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần vào việc bảo tồn, lưu giữ các giá trị của dân ca làm vía của người
Mường ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về bài ca làm vía và các nghi lễ làm vía: làm vía cho trẻ em, làm vía hết năm và làm vía kéo si của người Mường Thạch Thành, Thanh Hóa.
- Khảo tả cách tổ chức và hình thức diễn xướng cơ bản của các nghi lễ vàbài ca nghi lễ làm vía ở huyện Thạch Thành
- Vận dụng các phương pháp nghiên cứu để chỉ ra giá trị, ý nghĩa về mặt nộidung và nghệ thuật của các bài ca làm vía Từ đó hiểu được giá trị của những nghi
lễ làm vía trong đời sống tinh thần của người Mường và thấy được hết những cáihay, cái đẹp của tiểu loại dân ca nghi lễ làm vía khi đặt trong tổng quan nền vănhọc dân gian dân tộc Mường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Ba tiểu loại nghi lễ làm vía trong tín ngưỡng vía của người Mường : làm vía
cho trẻ em, làm vía hết năm và làm vía kéo si.
- Ba bài dân ca gắn với 3 tiểu loại nghi lễ kể trên của dân tộc Mường Thạch Thành
4.2 Phạm vi tư liệu nghiên cứu:
Khi bắt tay vào thực hiện đề tài, chúng tôi đã có quá trình khảo sát trong cảmột năm từ tháng 5/ 2014 đến tháng 5/2015 Sau một thời gian dài nghiên cứu thực
tế, chúng tôi nhận thấy rằng, những nghi lễ diễn xướng và bài ca làm vía vẫn tồn tại
Trang 9rất nhiều trong đời sống tinh thần của người dân Mường Thạch Thành Chúng tôi đãtiến hành khảo sát 2 nghi lễ làm vía cho trẻ em, 2 nghi lễ làm vía hết năm và 2 nghi
lễ làm vía cho người già, cụ thể như sau:
- Làm vía cho trẻ em:
1 Nghi lễ làm vía tại gia đình cháu: Quách Thị Anh Thơ, 7 tháng tuổi, ởthôn Sơn Để, xã Thành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, do thầy Mo BùiVăn Dung thực hiện ( diễn ra vào 15/10/2014)
2 Nghi lễ làm vía tại gia đình cháu Nguyễn Văn Nam, 4 tuổi, ở thôn YênLão, xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa.( 30/11/2014)
- Làm vía hết năm:
1 Nghi lễ làm vía hết năm tại gia đình ông Quách Văn Quyền, thôn Phù Bản
xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa ( 25/12/2014 âm lịch)
2 Nghi lễ làm vía hết năm tại gia đình ông Bùi Văn Quân thôn Yên Lão, xãThành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (28/12/2014 âm lịch)
- Làm vía cho người già( làm vía kéo si)
1 Nghi lễ làm vía kéo si tại gia đình ông Bùi Văn Mợ, ở thôn Tiên Quang,
xã Thành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa ( 25/3/2015)
2 Nghi lễ làm vía kéo si tại gia đình bà Bùi Thị Tám ở thôn Sồi, xã ThànhMinh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa ( 26.5/2015)
- Chúng tôi đã tiến hành ghi âm, quay phim và chụp ảnh các nghi lễ diễn ra
là công trình: “Tư liệu tín ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa, Tín ngưỡng vía
NXB Lao động” - Cụ thể là chúng tôi nghiên cứu hai bài ca “ Làm vía gọi trẻ lạc
và làm vía hết năm” và những nghi lễ cụ thể diễn ra tại huyện Thạch Thành.
- “Bài ca làm vía kéo si” và nghi lễ làm vía cho người già được chúng tôi
tiến hành ghi âm, chụp ảnh Phần lời chúng tôi nhờ ông thầy Mo Bùi Văn Dungdịch lại sang tiếng Việt
Trang 10- Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu thêm một số tài liệu viết về dân ca của dântộc Mường để so sánh về nội dung và một số phần trong kết cấu văn bản của các
bài ca làm vía, cụ thể là:
1 Dân ca Mường Phần tiếng Mường
2 Dân ca Mường Phần tiếng Việt
3 5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Trên cơ sở quan sát thực tế các buổi lễ của người Mường, tìm hiểu đặc điểmcủa bài ca trong quá trình diễn xướng và tìm hiểu văn bản của bài ca, chúng tôi sửdụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu Ở đây chúng tôi áp dụng các phương phápnghiên cứu văn học với phương pháp nghiên cứu một hiện tượng văn học nóichung: Lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng…
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Chúng tôi đi vào phân tích từng khía cạnh trong nội dung và nghệ thuật của “ Những bài ca làm vía”, từ đó tổng hợp lại để có
cái nhìn toàn diện về quan niệm và cuộc sống của những người dân ở bản Mường
- Phương pháp so sánh- đối chiếu: Phương pháp so sánh- đối chiếu được vận
dụng trong luận văn nhằm làm nổi bật lên sự khác nhau ở mỗi nghi lễ: về cách thức
tổ chức, về trình tự diễn ra mỗi nghi lễ, về kết cấu của những bài ca làm vía Ngoài
ra chúng tôi còn so sánh những phong tục tập quán của người Mường với nhữngdân tộc khác để thấy rõ được nét bản sắc độc đáo riêng của dân tộc Mường
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa học- dân tộc học.
Dựa trên nền tảng kiến thức về văn hóa học, dân tộc học cụ thể là nhũng phong tục,tập quán, tín ngưỡng của người Mường để nghiên cứu văn học, nghĩa là xuất phát từnhững hiểu biết về những đặc điểm đặc trưng nhất của dân tộc Mường để tìm hiểu
về tiểu loại dân ca nghi lễ: cụ thể là nội dung của những bài ca làm vía.
Trang 11Tuy nhiên các phương pháp trên cũng chỉ là tương đối, không phải phươngpháp nào cũng là tối ưu Chúng tôi nhận thấy rằng việc vận dụng linh hoạt, phối hợpcác phương pháp sẽ mang lại hiệu quả tối ưu trong quá trình nghiên cứu bài ca này.-
5.Những đóng góp mới của luận văn
- Lần đầu tiên bài dân ca nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành
được nghiên cứu một cách độc lập và hệ thống dựa vào tính nguyên hợp của nó, vàmột số phương diện về nội dung và nghệ thuật
- Luận văn đang và sẽ bước đầu lí giải được mối quan hệ trong nội dung củabài ca làm vía với những quan niệm về thế giới, về phong tục tập quán của ngườiMường trong đời sống thực tế
Chương II: Nội dung của những Bài ca làm vía
Chương III: Nghệ thuật của những Bài ca làm vía
Trang 12
NỘI DUNG Chương 1 NGƯỜI MƯỜNG Ở THẠCH THÀNH VÀ DIỄN XƯỚNG NGHI LỄ
“BÀI CA LÀM VÍA” CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN
THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
1.1 Tổng quan về tộc người Mường
1.1.1 Quá trình hình thành dân tộc Mường
Huyền thoại khởi nguyên luận của người Việt Nam là truyền thuyết “ ConRồng- Cháu Tiên”, “ Con Lạc- Cháu Rồng” được ghi lại lần đầu tiên thành truyện
họ Hồng Bàng trong sách “ Lĩnh Nam chích quái”
Theo huyền thoại này thì tổ tiên của người Việt được kể lại rằng: Mẹ Tiên
Âu Cơ là tiên trên núi xuống đã kết duyên với Bố Rồng Lạc ( Lạc Long Quân) từdưới biển lên, sinh trăm trứng, nở trăm con trai Sau chia đôi, năm mươi con theo
mẹ lên núi và tôn người con trai trưởng lên làm vua( Vua Hùng), lập ra nước VănLang Còn Năm mươi người con trai khác theo cha xuống lập nghiệp ở vùng sôngbiển Núi – Biển, Mẹ - Bố tạo nên một quốc gia Văn Lang Thịnh Vượng
Huyền thoại của người Mường thì nói rằng nàng Hưu Cơ ( Âu Cơ) kết duyênvới chàng Cá ( Long Vương) sinh ra một trăm con, sau năm mươi con theo mẹ lênnúi sinh ra dòng vua áo Chàm ( người Mường), năm mươi con theo cha xuống biểnsinh ra dòng vua áo vàng ( người Kinh)
Trong thời Pháp thuộc và trong thời gian gần đây đã xuất hiện một số tácphẩm nghiên cứu tộc Mường và mối quan hệ Mường - Việt Tuyệt đại bộ phận cácnhà nghiên cứu đều cho rằng Việt và Mường vốn xưa là một tộc và họ gọi chung đó
là “Tiền Việt”
Dân tộc Mường cư trú trên một địa bàn rộng lớn suốt từ phía tây Hoàng LiênSơn , Vĩnh Phú, Sơn La, Hòa Bình, Hà Nam vào đến tận phía tây Thanh Hóa vàNghệ An Căn cứ vào nhiều tài liệu khoa học, dân tộc học, người Mường vàngười Kinh vốn là anh em cùng chung một ông tổ trực tiếp, là người Lạc Việtthời Hùng Vương Đồng bào Mường có cuộc sống của một cư dân nông nghiệp
Trang 13vùng bán sơn địa.Họ có cuộc sống giản dị, thiết thực, ưa thích những biểu hiệnchất phác Những nét đặc trưng ấy thể hiện ngay trong phong cách âm nhạc
Mường, được giáo sư Tô Ngọc Thanh nhận xét: “ Giản dị mà không đơn sơ, thiết thực nhưng không thực dụng, rõ ràng, khúc chiết nhưng không thô thiển, chất phác mà không nông cạn” (55,tr40-43)
Về nhân chủng hai nhóm Việt Mường cùng chung những đặc điểm nhânchủng trong nhóm Nam Á thuộc chủng Mongoloit phương Nam Tuy vấn đề vềnguồn gốc Việt Mường hiện nay còn được tiếp tục nghiên cứu song hầu hết các nhàkhoa học đều cho rằng: Họ là những cư dân bản địa, tổ tiên của người Việt- Mường
là người Lạc Việt, chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng Do đó có cơ sở để chorằng: vào thời các vua Hùng hoặc vào thời đại đồng thau, và cả giai đoạn tiếp theoViệt Mường còn là một khối thống nhất
Căn cứ vào các tài liệu ngôn ngữ, lịch sử thì từ thế kỉ VIII trở về trước haidân tộc Việt- Mường có một tiếng nói chung Vào đầu thê kỷ X, khi kinh đô chuyển
từ trung tâm Mường là Hoa Lư về Thăng Long ( năm 1010) thì tiếng Việt lúc ấymới tách khỏi tiếng Mường thành hai ngôn ngữ riêng
Nhà dân tộc học J.Cuisinier trong tác phẩm chuyên khảo về người Mường đãkết luận rằng hai dân tộc Mường và Việt cùng chung một nguồn gốc: cả về mặt vănhóa vật chất lẫn về mặt văn hóa tinh thần, giữa hai tộc Mường và Việt không có sựcách biệt nào lớn Sự khác nhau trong sinh hoạt chỉ là tiểu tiết ( 37, tr 30)
Người Mường tự gọi tộc danh của mình là Mol, Mon, Moan, Mual ( nghĩa làngười) Người Mường tập trung chủ yếu ở phía Tây Thanh Hóa thuộc các huyệnmiền núi Khảo sát về nguồn gốc người Mường ở Thanh Hóa, Robequain viết:
"Trong nhóm người Mường ở Thanh Hoá, có một bộ phận tự cho là cư dân bản địa,tuy vậy cũng phân biệt được trong nhóm người Mường ở Thanh Hoá một vài yếu tốBắc kỳ vào nhất là từ Thạch Bi hay phổ biến hơn là Lạc Thổ Cũng theo tác giả thì hìnhnhư người Mường Bắc kỳ di cư vào tỉnh này bắt đầu từ một thời kỳ khá xa Nhà thổ typhủ Môn (huyện Cẩm Thuỷ - tổng Cư Lữ) thuộc họ Trương cho rằng tổ tiên họ đã bịmột trận lụt ghê gớm đuổi từ phủ Nho Quan (tỉnh Ninh Bình) chạy vào đây từ lâu lắm,
ít ra cũng từ hai thế kỷ rồi Tuy nhiên không có một tài liệu nào ở nước ta khẳng định
Trang 14rằng tất cả người Mường Bắc Thanh Hoá đều gốc ở Bắc kỳ, như đôi khi đã có ngườinghĩ như vậy Người Mường Bắc Thanh Hoá hiện là một khối có nền tảng lâu đời sovới các cư dân ở miền núi trong tỉnh" [37, tr40] Còn trong quan niệm của ngườiMường ở Thanh Hóa, bộ phận người Mường có mặt từ lâu đời ở vùng núi xứ Thanhgọi là "người Mường Trong", bộ phận người Mường từ các tỉnh khác di cư vào gọi là
"người Mường Ngoài " Người Mường xứ Thanh được cấu thành ít nhất từ ba dòngchính: gốc người Mường từ tỉnh Hoà Bình di dân vào tràn vào đất Thanh Hoá hầu hếtgồm các tộc hệ ở đất Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động là các Mường lớncủa "bà con Hoà Bình" Tất nhiên chủ yếu vẫn là dân vùng Mường Bi, được gọi làMọiBi hoặc MonBi Bộ phận thứ hai là quá trình vận động của người Việt hoá, hoặcThái hoá Bộ phận đáng chú ý nhất và cũng là cái lõi của vùng Mường xứ Thanh là tộcMường bản địa, tính bản địa của một bộ phận đáng kể này không pha tạp, không lẫnlộn vào hai dòng trên từ tiếng nói, trang phục của bộ nữ phục" [37, tr60]
Người Mường tập trung khá đông đúc ở huyện Thạch Thành của tỉnh ThanhHóa, chiếm 50,4 % dân số trên địa bàn toàn huyện ( 1999) Trong quá trình giaolưu, tiếp xúc văn hóa với các dân tộc khác, người Mường vẫn giữ nguyên đượcnhững nét văn hóa đặc sắc của mình
1.1.2 Nền kinh tế- văn hóa- xã hội Mường Thạch Thành
Huyện Thạch Thành thành lập năm Minh Mạng thứ 16 (1835) Từ ngày 5tháng 7, 1977, Thạch Thành hợp nhất với huyện Vĩnh Lộc thành huyện Vĩnh Thạch;
từ 30 tháng 8, 1982, Vĩnh Thạch lại được chia thành 2 huyện cũ
Thạch Thành là một huyện miền núi phía bắc của tỉnh Thanh Hóa Phía Bắc
giáp với Ninh Bình, phía Tây giáp với Cẩm Thủy và Hòa Bình, phía Đông giápVĩnh Lộc, phía Nam giáp với Hà Trung và Bỉm Sơn
Với diện tích tự nhiên 558,11km2, Thạch Thành có 26 xã (Thạch Lâm,Thạch Quảng, Thạch Tượng, Thạch Tân, Thạch Cẩm, Thạch Sơn, Thạch Bình,Thạch Định, Thạch Đồng, Thạch Long, Thành Mỹ, Thành Yên, Thành Vinh, ThànhMinh, Thành Công, Thành Tân, Thành Trực, Thành Vân, Thành Tâm, Thành An,Thành Thọ, Thành Tiến, Thành Long, Thành Kim, Thành Hưng, Ngọc Trạo), 2 thịtrấn (Vân Du, Kim Tân)
Trang 15Là một huyện miền núi cho nên địa hình chủ yếu của Thạch Thành là đồinúi Vùng đất này có những dãy núi đá rất cao tạo nên địa hình đặc biệt Sự vậnđộng của tự nhiên đã khiến vùng quê này có sông núi hữu tình Con sông Bưởi uốnlượn vươn mình ôm lấy cả vùng đất.
Thạch Thành là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng Trong hai cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Thạch Thành là căn cứ địa của cách mạng,
là nơi đã nuôi dấu cán bộ Vùng đất Thạch Thành anh hùng, nhân dân Thạch Thànhkiên cường Mảnh đất đã ghi dấu biết bao chiến công với chiến khu Ngọc Trạo,hang Treo Tất cả những địa danh đó đã đi vào lịch sử dân tộc góp phần làm nênnhững chiến thắng vẻ vang của đất nước Ngày nay dưới sự dìu dắt của Đảng bộhuyện Thạch Thành, vùng quê ngày càng đổi mới và giàu đẹp thêm
1.1.2.1 Kinh tế:
Người Mường Thạch Thành làm ruộng từ lâu đời và sống định canh, định
cư Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thựcchính.Người dân trồng lúa ở các thung lũng bên dưới các chân đồi Đây là nhữngruộng lúa màu mỡ, đem lại nguồn lương thực chính cho nhân dân trong huyện
Bên cạnh việc làm ruộng, người dân còn trồng rừng, đây là cũng là mũi nhọnkinh tế của vùng đất này Cây trồng chủ yếu thường là cao su, keo, cây sao đen Nhữngrừng cây đã góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế cho nhân dân trong huyện
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành kinh tế chính trong huyện Về chăn nuôingười dân đã biết phát triển các loại vật nuôi như trâu, bò, lợn, gà, vịt vừa đảmbảo sức kéo cho nông nghiệp vừa đảm bảo nhu cầu thực phẩm cho người dân trongcuộc sống hằng ngày Săn bắn là hoạt động phổ biến trong đời sống của ngườiMường Săn bắn kết hợp với sản xuất để chống thú rừng và bảo vệ mùa màng Sănbắn không những là một nguồn lợi cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui Đánh cá
là một nghề phụ trong gia đình và tương đối phát triển ở những khu vực ven các consông suối lớn Các công cụ đánh cá khá đa dạng: lưới, vó, đơm, đó, đăng… J
Cusinier nhận xét về nghề đánh cá và săn bắn như sau: “Nghề đánh cá tuy không có giá trị to lớn đối với người dân Mường, song lại đem đến cho họ nguồn lợi thu nhập ổn định hơn nghề săn” (34,tr45).
Trang 16Người Mường hái lượm theo mùa Mỗi mùa có những loại rau khác nhau.Theo thống kê mùa xuân có trên 60 loại rau, mùa hè trên 40 loại, mùa thu trên 20loại và mùa đông khoảng 10 loại Họ nắm vững chu kỳ sinh trưởng và phát triển củatừng loại cây trong rừng.
“Tháng sáu gặp nhau ở hố củ mài
Tháng chín dâu da đều chín”
Nghề thủ công trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi, dệt vải đặc biệt phát triển ởngười Mường Các mặt hàng thổ cẩm, mặt gối, mặt chăn, cạp váy của người Mườngrất nổi tiếng
Đặc trưng cơ bản trong nền kinh tế của người Mường Thạch Thành là: Tronglĩnh vực nông nghiệp, cây lúa giữ vai trò chủ đạo, chăn nuôi là nghề phụ nhưng cóquan hệ khăng khít với trồng trọt Quy mô chăn nuôi tùy thuộc vào hoàn cảnh củatừng gia đình Hoạt động thủ công nghiệp đóng khung trong phạm vi gia đình Háilượm và đánh cá vẫn đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế, trong khi đó vaitrò săn bắn giảm đi nhiều Kinh tế của người Mường huyện Thạch Thành đã có một
số tiến bộ song vẫn mang tính tự cung tự cấp, nhỏ lẻ
1.1.2.2 Hôn nhân gia đình:
Gia đình người Mường là gia đình phụ quyền, tính chất gia trưởng được thểhiện rõ: người đàn ông là chủ gia đình, có vai trò quan trọng trong nhiều mặt củađời sống, có quyền hành, quyết định mọi việc: làm ăn, cưới xin, tang ma…và thựchiện các nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng Họ còn là người thay mặt gia đình quan hệvới làng xóm, họ hàng, với các tổ chức xã hội, chính quyền địa phương Mọi tài sảntrong nhà đều do người chủ gia đình nắm giữ
Những tài sản đó chỉ có con trai mới được quyền thừa kế Địa vị người phụ
nữ thấp kém, họ không được tham gia vào những cuộc họp của làng xóm, khôngđược hưởng quyền thừa kế Người phụ nữ khi lấy chồng là bắt đầu cuộc sống hoàntoàn phụ thuộc vào chồng Họ không có quyền bình đẳng với nam giới trong cáclĩnh vực Quan niệm truyền thống của người Mường cũng như của người Việt, xemtrọng con trai “Một trai là có, mười gái là không” Hôn nhân của người Mường làhình thái hôn nhân một vợ một chồng và cư trú bên nhà chồng Do tính chất phụ
Trang 17quyền của gia đình kiểu gia trưởng nên hôn nhân của con cái chủ yếu do cha mẹquyết định Người Mường còn tồn tại chế độ đa thê nhưng chỉ có trong tầng lớplang đạo và những người giàu có.Phần lớn người Mường kết hôn với người đồngtộc Trong những năm gần đây, đời sống kinh tế, văn hóa Mường đã có những bướcphát triển mới làm cho những quan niệm cổ hủ, khắt khe đã mất dần đi, thay vào đó
là một xã hội phát triển với những quan niệm tiến bộ: đó là sự bình đẳng, việc hônnhân không còn bó hẹp trong khuôn khổ cộng đồng Mường và mở rộng ra cả vớinhững dân tộc khác, đặc biệt là dân tộc Kinh
1.1.2.3 Văn hóa
Franz Boas, nhà nhân chủng học người Mỹ đã từng khẳng định: “Mỗi nền văn hóa là một tồn tại độc đáo, hơn thế là một của báu độc đáo; sự biến mất của bất cứ nền văn hóa nào cũng làm cho chúng ta nghèo đi” [17, tr.12] Di sản văn
hóa dân tộc là cơ sở để dân tộc hòa nhập với tiến trình giao lưu quốc tế về mọimặt nhưng không tự tha hóa mình mà còn làm phong phú, sâu sắc cho chínhmình trong sự đối thoại với những nền văn hóa khác, góp phần làm phong phúcho kho tàng di sản chung của nhân loại.Ý thức cộng đồng trong dân tộc Mườnghình thành rất sớm, ý thức ấy là linh hồn của chủ thể sáng tạo xây dựng xã hội
Nó định vị các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, con người với conngười, con người với thần linh
Trong văn hóa ứng xử giữa con người với thiên nhiên người Mường luôn coitrọng việc bảo vệ chăm sóc kho nguyên liệu ăn uống mà thiên nhiên ban tặng đã trởthành ý thức của cả cộng đồng Người Mường muốn ăn măng nứa, măng giang,măng luồng nhưng rừng chưa mở cửa thì dù măng có mọc ngang sau nhà, họ cũngkhông bao giờ hái.Sông và suối là nguồn nước sinh hoạt: nước tưới cho lúa, chomàu, nước ăn uống, nước tắm giặt nên các dòng nước được mọi người tự nguyệngiữ gìn.Người Mường tâm niệm rằng: Nước là thứ nuôi sống con người, ai làm bẩnnguồn nước là có tội Người Mường rất có ý thức trong việc giữ gìn nguồn tàinguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho họ Vì đó là nguồn sống của họ, nềnkinh tế của họ chủ yếu dựa vào thiên nhiên
Trang 18Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Mường cho phép trai gái giao lưutình cảm, bày tỏ lời thương tiếng nhớ với nhau Chợ là nơi trao đổi hàng hóa vừa lànơi giao lưu tình cảm Trai gái đi chơi chợ gặp nhau trò chuyện, mời nhau về nhà ăncơm, uống rượu, đến cuối ngày mới về nhà Trai gái Mường quan niệm:
“Thương nhau nằm gốc cà cũng ấm, nằm đống đá cũng êm.
Không thương thì chín lần đệm, mười hai lần chăn nửa đêm nằm vẫn còn kêu lạnh”.
Nguyên tắc và nghệ thuật ứng xử của người Mường thể hiện rõ nhất khi cókhách đến nhà Bất luận khách quen hay lạ, người Mường tiếp khách rất chu đáo
Hễ thấy khách đến chân cầu thang nhà thì cả nhà đều đon đả ra chào
Trước là uống nước, sau đó chủ nhà mang rượu ra mời khách Trước tiên làphải hỏi han sức khỏe của bố mẹ, con cái khách Sau đó nhất thiết phải dùng cơm,tục ngữ Mường có câu: “Trâu ra đồng ăn cỏ, người đến nhà ăn cơm” Trước bữa ăn,uống rượu cần súc miệng, trong bữa ăn uống rượu mộng (loại rượu ủ men từ nếp cáikhông qua chưng cất) Chủ khách nói chuyện vui vẻ bên mâm cơm nhưng chủ nhàbao giờ cũng khiêm tốn nói: “Chỉ có tí cơm đãi khách, chút rượu nhạt mời khách”
Khi ăn cơm uống rượu, khách cũng phải có lời khen lại cơm rượu của chủnhà cho đẹp lòng chủ:
“ Ăn cơm không khen cơm Mất lòng người giã gạo Uống rượu không khen rượu Mất lòng người ủ men”
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình người Mường tương đối bìnhđẳng, thể hiện rõ những quan niệm đạo đức Con cái phải yêu quý cha mẹ, chăm sócphụng dưỡng Khi cha mẹ về già, con cái có trách nhiệm nuôi dưỡng Anh em ruột
thịt sống có trách nhiệm với nhau:“ Anh em như dòng nước dù chém cũng không đứt, dù chặt cũng không lìa”.
Người Kinh cho rằng dâu là con, rể là khách Trong xã hội Mường, vai tròngười rể cả rất được tôn trọng Khi nhà có công việc, bố mẹ đều gọi anh rể cả và chịgái cả để bàn tính công việc Người Mường coi con dâu như con gái nên việc đối
Trang 19xử với con dâu cũng bình đẳng như con gái Người con gái về làm dâu nhà chồngđược bố mẹ, anh em nhà chồng quý mến Xã hội Mường ít xảy xa mâu thuẫn giữa
mẹ chồng và nàng dâu như người Kinh.Quan hệ huyết thống họ hàng chi phối sâunặng trong các hộ gia đình Mường Mọi công việc to lớn của gia đình Mường đều
có sự giúp đỡ của họ hàng, nhất là cưới xin, tang ma, làm nhà Mọi người coi đó lànghĩa vụ, trách nhiệm cao cả của mình với dòng họ
Tang lễ là việc lớn cả xóm mường, ai cũng phải có trách nhiệm Đặc biệt, khigia chủ phát tang thì bất kể người trong huyết thống hay hàng xóm đều đội khăntang Họ quan niệm rằng: cùng chung một xóm mường với nhau thì là người thân
Lễ hội cồng chiêng ra đời, tồn tại và phát triển trên nền tảng của nông nghiệplúa nước Lễ hội được tổ chức hàng năm vào mùa xuân với ý nghĩa cầu phúc bảnmường, cầu cho mưa gió thuận hòa, mùa màng tốt tươi Chiêng được xem là vậtgia bảo truyền đời của người Mường, chiêng càng được truyền qua nhiều đời thìcàng quý Cái quý là ý nghĩa của sự tiếp nối dòng đời, một tinh thần huyết thống giađình Tết Nguyên Đán, Tết Cơm Mới… họ đánh chiếc chiêng cha ông truyền lạiđểmời tổtiên về Chiêng là phương tiện “thông quan” giữa thế giới người sống vớithế giới người đã khuất
Cũng như dân tộc Kinh, người Mường ở Thạch Thành đón tết Nguyên Đán
là lớn nhất trong năm Vào dịp tết đến họ cũng gói bánh chưng và nấu bánh chưngnhư những dân tộc khác trên đất nước Việt Nam Tết là dịp để mọi người nghỉ ngơisau những ngày lao động vất vả, là dịp để mọi người đến thăm hỏi nhau, đặc biệt làcon cái đi tết bố mẹ Vào dịp lễ tết người dân khắp các bản Mường vẫn còn giữđược những nét văn hóa truyền thống với những trò chơi dân gian lâu đời đặc biệt là
trò “ đánh mảng”, người tham gia trò chơi này không phân biệt già, trẻ, gái, trai hễ
ai có hào hứng đều tham gia Đây là một trò chơi thu hút được rất đông người cổ
vũ “ Mảng” dùng để chơi là một loại hạt mọc ở ngoài rừng, có màu đen, tròn và rất
mịn, loại hạt này khi già đi sẽ tự khô và đen lại, mọi người mang về dùng vào tròchơi Sự cổ vũ hào hứng của mọi người đã làm cho không gian bản Mường ngày tếtrộn vang tiếng cười, tiếng nói, tạo nên khúc ca xuân tràn đầy vui tươi
Trang 20Ngoài lễ tết, người Mường còn ăn Rằm tháng giêng, tổ chức những trò chơivui nhộn như đánh còn, hát đối đáp Những trò chơi này đã gắn kết cộng đồngMường lại với nhau khiến họ đoàn kết hơn, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau hơn.
Vào các ngày lễ khác nhau trong một năm, như ngày rằm tháng bảy, rằmtháng tám, người Mường thường làm những món ăn khác nhau đó là những đặc sảncủa người Mường ở miền núi để cả gia đình cùng thưởng thức, quây quần bên nhau
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đời sống kinh tế xã hội nước ta cónhững chuyển biến lớn tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa của người Mường.Tính cộng đồng xóm mường được phát huy cùng với việc khơi dậy
vai trò của cá nhân người Mường, vai trò của từng hộ gia đình trong chủđộng sản xuất kinh doanh và tổ chức sinh hoạt văn hóa Trình độ dân trí nâng caođánh vào những hủ tục lạc hậu, tạo cho người Mường sự lựa chọn khôn ngoan hơnđối với các giá trị ứng xử truyền thống
1.2.Giới thiệu chung về văn học dân gian Mường và các nghi lễ làm vía 1.2.1 Về nền văn học dân gian Mường và dân ca nghi lễ Mường.
Dân tộc Mường chưa có chữ viết nhưng ngôn ngữ cơ bản là thống nhất và cómột nền văn học nghệ thuật dân gian rất phong phú Tất cả kho tàng văn họcMường còn lại đến ngày nay đều dựa vào truyền miệng Hoàn cảnh đó đã gây nênnhiều khó khăn cho việc truyền bá và gìn giữ văn học, nhưng đồng thời cũng là mộtminh chứng cho sức sống mạnh mẽ của nền văn học đó Nó không ngừng sàng lọc
và loại bỏ đi những cái gì không hợp với tâm lý dân tộc hay tâm lý của tập thểngười cùng chung sống trên một vùng đất khá rộng Nền văn học nghệ thuật dângian Mường không những đồ sộ về khối lượng mà còn phong phú về thể loại
Trường ca “Đẻ đất đẻ nước”, một áng văn học truyền miệng kể chuyện từ khitrời đất chưa phân chia “Đẻ đất đẻ nước” đã trở thành tang ca mỗi khi có một ngườichết thì lại được ngâm đọc lại như nhắc nhở những người đang sống biết mà ăn ởcho hợp lẽ Cho nên những đêm mo chẳng phải là để cho người chết mà để chongười sống lắng nghe nhận biết để xử thế làm người
Người Mường có một hệ thống truyện cười không kém phần sắc sảo, dí dỏm,
đó là truyện Cuội Chú Cuội đóng vai nhân vật thấp hèn (con ở) nhưng luôn luôn
Trang 21tìm mọi cách đá ngược lên các quan lang làm cho các quan đau điếng Người
Mường sáng tạo nên truyện “Bè bưởi nổi, bè đá chìm” để kết liễu cuộc đời bọn
thống trị ăn bám, tàn ác và ngu ngốc Tác giả Lê Chí Quế đã nhận xét truyện cười
rất hình tượng: “Một khi nhân dân cười thì mặt đất rung chuyển và cái ác bị đạp nhào xuống”[35,, tr 155].
Tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm quý báu trong lao động sản xuất Tục ngữphản ánh phong tục, tập quán và ứng xử trong giao tiếp:
“Đàn bà mài dao không sắc
Đàn ông hái rau không ngon”
“Rượu trong thì ngọt, rượu bọt thì chua”[33, tr.47-50]
Bác Hồ đánh giá cao vai trò của tục ngữ trong đời sống: “Những câu tục ngữ,
ca dao, vè… rất hay là sáng tác của quần chúng… Những sáng tác là những viênngọc quý”[44, tr 38]
Ca dao - dân ca Mường nổi tiếng với những bài hát cầu chúc vào dịp đầuxuân, đặc biệt là hát sắc bùa (có nơi gọi là xéc - bùa) Có lẽ loại dân ca này xuấthiện từ lúc người Việt và người Mường chưa tách ra thành người Kẻ Chợ với người
ở rừng núi Tác giả Phan Đăng Nhật khẳng định: “sắc bùa, một sinh hoạt Tết phổ biến ở nhiều dân tộc nước ta” Sắc bùa phổ biến rộng rãi ở các vùng người Mường Thanh Hóa, Hòa Bình, Lạng Sơn [43, tr 155].
Bên cạnh nét đặc sắc ấy văn học dân gian Mường còn có những bài dân canghi lễ gắn liền với tín ngưỡng và đời sống sinh hoạt của người dân NgườiMường từ bé đã có cảm xúc mạnh mẽ với dân ca của mình bởi từ tấm bé đến lúclớn lên và khi cao tuổi lúc nào cũng tiếp xúc với dân ca Họ thưởng thức, sángtạo, lưu giữ và truyền bá dân ca cho nhau, do đó đã thành tiềm thức ăn sâu vàotâm hồn của mỗi người
Tuy chỉ là một phần nhỏ trong văn học dân gian Mường nhưng những bàidân ca này có ý nghĩa rất lớn với người dân Mường Mỗi bài ca mang một nộidung khác nhau nhưng tất cả đều là tiếng nói trữ tình cất lên những ước nguyện củanhân dân về cuộc sống, mong cho cuộc sống được bình yên, con người được sốnglâu mãi mãi Những bài ca ấy còn thể hiện quan niệm cũng như lòng kính trọng củamọi người với tổ tiên và các vị thần linh
Trang 22Những bài dân ca nghi lễ mà chúng tôi nghiên cứu gồm có: “ Bài ca gọi vía trẻ lạc”, “ Bài ca làm vía hết năm”, “ Bài ca làm vía kéo si” chúng được nhà
nghiên cứu Bùi Thiện xếp vào thể loại “ Hát Mo” khấn phong tục- hay còn có têngọi khác là “ dân ca nghi lễ”
Dân ca nghi lễ của các dân tộc thiểu số nói chung và của người Mường nói
riêng ra đời cùng lúc với thần thoại và không phải ngẫu nhiên mà các thiên thầnthoại của các dân tộc thiểu số là nội dung của nhiều bài dân ca nghi lễ Chính vì vậy
mà chúng ta có thể nói rằng dân ca nghi lễ là bộ phận cổ xưa nhất trong kho tàngdân ca các dân tộc nói chung Dĩ nhiên trong những giai đoạn về sau, loại dân canghi lễ - phong tục cũng được các nghệ sĩ dân gian tiếp tục sáng tác, bổ sung vàhoàn chỉnh, như là quy luật phát triển và vận động của bất cứ hình thức nào kháctrong văn học dân gian nói chung Kho tàng dân ca nghi lễ - phong tục của dân tộcMường rất phong phú Tuỳ theo chức năng của chúng, có thể chia các bài dân ca
này thành nhiều nhóm khác nhau: Những bài ca nông lễ, những bài ca tang lễ, những bài ca hôn lễ….
Những bài ca làm vía là những bài hát được dùng trong các nghi lễ thuộc tín
ngưỡng vía của người Mường Loại dân ca nghi lễ này mang phong cách tự sự, kể
lể, ta có thể bắt gặp ngay ở từng bài và xuyên suốt cả hệ hát dân ca, hát kể theo trình
tự từ đầu đến cuối để tự giới thiệu lí do, hoàn cảnh, công việc và những diễn biến.Tất cả những bài hát ấy đều có nguồn gốc từ hiện thực cuộc sống, do đó càng làmcho nó thấm sâu lắng đọng trong tâm trí mọi người
1.2.2 Giới thiệu chung về nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành
1.2.2.1 Vai trò của ông Mo
Người Mường theo tín ngưỡng đa thần giáo và có tục thờ cúng tổ tiên .Trong cuộc sống sinh hoạt họ quý trọng thầy Mo Họ cho rằng thầy Mo chính là sứgiả giữa thế giới thần linh và nhân gian Trong bản, thầy Mo chính là người giữtrọng trách thực hiện một số công việc liên quan đến tín ngưỡng, tâm linh của cánhân, gia đình và cộng đồng Ông Mo - được ví như những người “giữ lửa” cho dântộc Mường.Vì theo quan niệm của người Mường, ông Mo là người có uy tín, amhiểu phong tục, luật lệ của bản Mường nên được người dân coi trọng, tin tưởng và
Trang 23thường tới xin ý kiến về những việc cần phải khuyên nhủ, phân xử trong cuộc sốngthường ngày.Để thực hiện nhiệm vụ của mình thầy Mo sẽ phải chuẩn bị rất kĩ lưỡngnhững vật dụng, để nhằm đạt được hiệu quả cao trong nghi lễ.Những vật dụng củathầy là những đồ rất quý, chúng được truyền đi truyền lại từ đời này qua đời khác
và được giữ gìn cẩn thận
Những vật dụng ấy gồm có: một khánh vía giống như một cái chuông nhỏ đểgọi hồn vía, một chầm sét là đồ cổ bằng đồng có niên đại rất lâu năm, một cái nanhcủa con lợn lòi, một nanh hùm, một con dao lười ươi Ngoài ra còn rất nhiều nhữngvật dụng khác nữa Mỗi vật có một vai trò và ý nghĩa khác nhau Mỗi ý nghĩa tạonên sự thành công cho toàn nghi lễ
Thầy mo không chỉ có trí nhớ tốt để thuộc hàng trăm bài cúng, mà còn có giọngđọc truyền cảm, nắm vững nghệ thuật diễn xướng từ cử chỉ, điệu bộ đến giọng điệu
mo, lời mo có khi hùng hồn, thiêng liêng, nhưng có lúc buồn đau bi thảm đến nãolòng Lời mo giàu tính nhân văn, phù hợp với cuộc sống, gây được sự cảm động, sẻchia không chỉ đối với người đã khuất mà còn đối với cả những người còn sống
Người làm cun làm đạo Phải có sổ có sách Người làm mo có cách Làm cảo bằng cây nứa, cây dang Cây nứa trong rừng, cây dang trên rẫy Cây nứa hai ngọn hãy còn nguyên Truyện cảo mới tin
( Bài ca làm vía hết năm, 33, tr 32)
Thầy mo không chỉ thông thạo văn tự cổ, lưu giữ được nhiều sách cổ, phongtục tập quán, những lễ nghi của dân tộc, mà còn là người có khả năng giao tiếp vàcầu xin các đấng siêu nhiên phù hộ cho con người có cuộc sống ấm no hạnh phúc.Cũng nhân đó thầy mo còn hướng dẫn con người cách thức ứng xử với các thế lựcsiêu nhiên sao cho phù hợp với đạo lý và truyền thống văn hóa dân tộc và quy luậtcủa cuộc sống Ông C.Robequain, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Pháp
nhận xét: “Người Mường ở Hòa Bình và Thanh Hóa, đặc biệt nổi tiếng nhờ có những thầy mo cao tay nhất, rất được tôn kính mỗi khi nhắc đến Từ họ như toát ra
Trang 24một hương vị vẻ bí ẩn qua tập tục cổ truyền còn được nguyên vẹn của một thời đã qua, có thể cho đó là trái tim thực sự của xứ Mường và quanh nó dường như đã hun đúc nên tình yêu xứ sở Mường” {20; 17}
Ông Dung- một thầy Mo của vùng Mường Thạch Thành cho biết: “NgườiMường có rất nhiều bài cúng Những bài cúng toàn bằng tiếng Mường Mỗi bàicúng phải cúng mất một tiếng Nội dung bài cúng như cúng thần đất thổ công chẳng
hạn: “ hôm này nhà làm tết cuối năm, có thịt, xôi rượu mời các ông xuống ăn Năm
cũ qua, năm mới đến làm sao để gia đình làm ăn phát triển, nhiều gà nhiều lợn”.
Trong đời sống của người Mường có nhiều lễ cúng như: cúng bản, cúngmường, cầu cho bản mường bình yên no ấm Lễ cúng rừng là cầu cho thần rừng phù
hộ cho núi rừng, bản mường bình yên, trù phú Cúng đưa hồn người qua đời lêntrời, cúng khi đau ốm, lên nhà mới, đám cưới, xuống đồng, mừng cơm mới, cúngvía… Thầy mo giúp cho cộng đồng rất nhiều trong việc củng cố đời sống tinh thần,làm tăng niềm tin và nghị lực sống cho mỗi con người trước những thử thách củacuộc sống, giúp con người biết hướng thiện, biết đối nhân xử thế và làm theo nhữngđiều ông bà dạy và luật tục của bản mường
Có thể nói vai trò của ông Mo gắn liền với vòng đời của người dân Mường
Từ khi sinh ra cất tiếng khóc chào đời, ông Mo cầu cho trẻ hay ăn, chóng lớn Khiđau yếu, lạc vía, mo làm vía mụ sao cho trẻ được khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thôngminh Tuổi trưởng thành khi đau yếu, mo làm vía giải hạn, trừ tà ma Vai trò củaông Mo còn thể hiện qua đám cưới, trong lễ cúng gia tiên hai họ đến đón dâu Đếntuổi già sức cạn, Mo làm lễ kéo si mong ông bà có sức khỏe, sống lâu cùng concháu Khi nhắm mắt xuôi tay về với Mường trời, ông Mo đóng vai trò là đại diệncho người chết tiến hồn ma sang thế giới bên kia
Bà Bùi Thị Biên, ở xã Thành Minh cho rằng các bài mo được thể hiện trongcác nghi lễ, tâm linh thực sự là liều thuốc cần thiết trong đời sống tinh thần củađồng bào Mường từ bao đời nay: “Theo phong tục người Mường có thầy mo cúngthì mới mát mẻ, năm mới gặp nhiều may mắn Hết năm mình làm mời thầy mo.Thầy mo chỉ làm phúc thôi chứ không làm gì ảnh hưởng đến người dân”
Trang 25Thầy mo được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang bản sắc vănhóa riêng của người Mường Thầy mo cũng chính là người biểu đạt những tinh hoa vănhóa dân tộc Mường, giúp cộng đồng hướng tới đích chân, thiện, mỹ trong cuộc sống.
1.2.2.2 Diễn xướng các nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành
Trong tín ngưỡng dân gian của người Mường Thạch Thành tồn tại rất nhiềunghi lễ làm vía: như làm vía cầu an lành, làm vía cho trẻ nhỏ, làm vía hết năm, làm víakéo si Mỗi loại nghi lễ có một chức năng và tính chất riêng, vì vậy mỗi bài dân cachính là một nội dung độc đáo làm nên nét đặc sắc cho những tín ngưỡng dân gian
Qua quá trình khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy:
Ba nghi lễ làm vía: làm vía cho trẻ em ( gọi vía trẻ lạc); làm vía hết năm; làmvía kéo si vẫn tồn tại thường xuyên trong đời sống của người Mường Thạch Thành
Chúng tôi tiến hành khảo sát 6 buổi lễ ở 6 gia đình Mường Thạch Thành, vớiniềm tự hào dân tộc sâu sắc mỗi nghi lễ truyền thống này ăn sâu trong đời sống tâmthức của bản làng Mường Chúng tôi khảo sát quá trình diễn xướng của mỗi nghi lễlàm vía, trong quá trình khảo sát chúng tôi có sự so sánh, đối chiếu giữa cách thứctiến hành nghi lễ của mỗi thầy Mo
Với tấm lòng thành kính thiêng liêng, mỗi gia đình đều chuẩn bị rất chu đáo,
kĩ lưỡng đồ lễ và lễ vật cho nghi lễ Mỗi thành viên trong gia đình đều ý thức được
sự quan trọng của nghi lễ diễn ra trong gia đình mình, vì vậy ai cũng tất bật vớicông việc mình được giao
1.2.2.2.1 Làm vía cho trẻ nhỏ ( gọi vía lạc)
Lí do làm vía
Xuất phát từ cuộc sống đời thường, trong sinh hoạt, với quan niệm cho rằnghồn vía của con người là một thực thể siêu hình vô cùng quan trọng, luôn gắn bóvới thân xác của con người bắt đầu từ lúc sinh đến khi trở về cõi vĩnh hằng Đànông thì có 7 vía, đàn bà có 9 vía, nếu như hồn vía lìa khỏi xác thì người sẽ chết,hoặc lạc đi vài vía thì người luôn ốm đau bệnh tật và không may mắn trong cuộcsống Vì vậy, khi đến nhà của đồng bào Mường , bước chân lên cầu thang nhà sàn
sẽ thấy một chiếc giỏ đan bằng mắt cáo Đó chính là “giỏ đựng vía”, nơi để vía từngthành viên trong gia đình trú ngụ
Trang 26Người Mường quan niệm mỗi người có 90 vía, phân bổ ở hai bên dọc theo
cơ thể con người “ Bốn mươi vía bên trái, năm mươi vía bên phải”, chín mươi vía
ấy được phân ra mười hai nơi trong cơ thể con người là:
Dạ dày- gan- tim -phổi- ngực- bụng
Đầu- mắt- tai- chân- tay- lưng
Mười hai nơi này gọi là mười hai túi vía, đều là những nơi liên quan mậtthiết đến sự sống của con người Với trẻ con, người Mường cho rằng: vía còn ngâythơ, dại dột, ham chơi, nghịch ngợm hay hờn dỗi Trẻ thường hay nô đùa quá trớn,đánh nhau, đuổi nhau, hoặc trẻ đi chăn trâu, bò ở ven rừng, hay đi tăm suối, vàorừng hái quả, ngã xuống đất, lăn xuống suối làm cho vía lạc Hoặc vía mải chơi bời,thoát khỏi xác đi chơi xa mà không kịp về với xác
Khi bố mẹ thấy trẻ quấy khóc, ốm đau, hay nóng sốt, trong giấc ngủ la hét, giậtmình, biếng ăn, không chịu chơi Đó chính là hiện tượng vía trẻ bị lạc Khi đó ông bàhoặc bố mẹ sẽ đến nhà Ông Mo, nhờ ông xuống để làm lễ gọi vía cho em bé Quá trìnhkhảo sát thực tế người viết đã thu nhận được kết quả : đó là lễ gọi vía trẻ em cũngchính là nghi lễ cầu an cho vía trẻ nhỏ và cầu an cho cả gia đình bằng hình thức “ buộcvía”
Không gian của nghi lễ làm vía gọi trẻ lạc không chỉ diễn ra ở gia đình giachủ mà còn diễn ra ở cả nơi mà vía có thể lạc đến: chủ yếu là bờ sông, bờ suối, bờhón Ông Mo làm lễ ở nơi vía lạc, rồi mới đón vía trở về nhà Mỗi buổi lễ diễn ratrong vòng khoảng 2 tiếng đồng hồ Tất cả nghi lễ, nghi thức được gói gọn trongkhoảng thời gian này Sau khi thực hiện xong nghi lễ, ông Mo cùng cả gia đình giachủ ngồi lại ăn bữa cơm ấm cúng
Khảo sát thực tế với 2 buổi lễ ở 2 gia đình khác nhau, chúng tôi thấy 2 nghi
lễ làm vía có những nét tương đồng, nhưng cũng có điểm khác nhau Gia đình cháuQuách Thị Anh Thơ ( 7 tháng tuổi) tổ chức buổi lễ gọi vía khi cháu bị ốm và trở vềsau khi điều trị khỏi ở bệnh viện Gia đình cháu quan niệm rằng: vía cháu khôngđược lành, hay ốm đau vì vậy gia đình cháu mời thầy Mo về thực hiện cuộc làm víalành, buổi lễ cúng vía với mục đích cầu cho sự an lành, mạnh khỏe của cháu bé.Không gian buổi lễ chỉ diễn ra trong gia đình gia chủ Ông Mo ngồi trên chiếu giữa
Trang 27nhà và tiến hành toàn bộ nghi lễ.
Nghi lễ làm vía ở gia đình cháu Nguyễn Văn Nam, tại thôn Yên Lão chínhthức là một cuộc lễ gọi vía lạc Cháu Nam đã 4 tuổi, cháu hay đi chơi theo anh chị
đi chăn trâu ở trên đồi Gia đình thấy cháu về đêm ngủ hay mơ, khóc và la hét, vìvậy mới mang quả trứng gà lên hỏi ông Thầy Mo, ông Mo Bùi Văn Dung xem quảtrứng và nói rằng: cháu bị lạc vía Gia đình cháu đã nhờ ông xuống tiến hành nghi lễgọi vía cho cháu Nam
Nghi lễ không chỉ diễn ra trong không gian gia đình gia chủ, mà ông Mo cònphải đi lên đồi gọi vía cháu trở về nhà, bởi cháu đi chơi nên vía đã lạc ở trên đó
Đồ lễ
Đồ lễ và lễ vật có ý nghĩa quan trọng trong diễn xướng của các nghi lễ làmvía Nó biểu hiện cho lòng thành của gia chủ trong việc thờ cúng tổ tiên và lòngthành với những đấng linh thiêng
Đồ lễ và lễ vật trong nghi lễ làm vía gọi trẻ lạc có những mâm lễ và đồ lễnhư sau:
Một mâm lễ bày hoa quả, bánh kẹo bởi trong nghi lễ phải có cả cỗ chay và cỗ mặn.Một mâm cơm dành mời tổ tiên gồm có: xôi nếp đồ với những màu khácnhau, đỏ, trắng, xanh, thịt gà, thịt lơn, một đĩa đựng trầu cau, tiền và rượu
Một mâm lễ giành riêng cho vía em bé trở về ngồi ăn: gồm có một bát xôi
đỏ, cắm trên đó một chiếc đùi gà to Bởi trong quan niệm của dân Mường trẻ emtrong gia đình bao giờ cũng là đối tượng được yêu thương và chiều chuộng nhất vìvậy chiếc đùi gà là phần ngon nhất được để giành lại cho trẻ Một đĩa hoa đỏ, chính
là đồ để dỗ dành em bé, vía trẻ con trở lại nhà chơi bông, chơi hoa, đừng lạc nơiMường ma, đừng la cà gốc lau, gốc sậy.Một đĩa đựng quần áo của trẻ con, một đĩagạo muối, một đĩa trầu cau và tiền
Ngoài những mâm lễ trên, gia chủ còn chuẩn bị một đĩa gạo, muối.Và đặcbiệt phải kể đến những dây buộc vía được kết từ sợi chỉ đỏ buộc vào giữa là một túivía nhỏ xíu, trong gia đình có bao nhiêu thành viên thì chuẩn bị bấy nhiêu dây vía,Một bát nước vía mát lành: gồm nước tinh khiết và một loại lá cây đặc biệt củangười dân Mường nhằm chữa cho vía khỏi đau ốm
Trang 28Tiến trình thực hiện một nghi lễ gọi vía trẻ lạc:
1.Gọi vía về
Sau khi gia chủ bày biện đầy đủ những mâm lễ,Ông Mo bắt đầu công việccủa mình, trước tiên ông báo cáo với tổ tiên gia chủ về việc vía con cháu bị lạc, saukhi xin được âm dương trong nhà,ông bắt đầu quá trình gọi vía của mình
Ông đến nơi mà vía trẻ em có thể bị lạc và gọi vía ở đó, ông làm lễ ma Tỵđất, rồi gọi vía:
Hỡi ời vài Ơi hỡi vía
Là vài con xôôn nì Cái vía con cháu này
Ti xôồn càng pháo Đi tắm bờ sông
Ti chao cáng hón teènh pổ Đi vòng bờ khe trượt bổ
Nhám hổc pồ, rôố mế Khóc gọi bố gọi mẹ
Pơi pôổc hôổc lếễ vài(33,109) Nghe gọi vía hãy quay trở lại(33, tr16)
Ông Mo gọi cho đủ đầy 12 túi vía, gọi vía ở những nơi mà vía có thể lạc tới:
Vến vài!Vến vài Ơi hỡi vía
Vài nó trỏt lạc xuống raảc ôống tán ma khù Vía xuống nước với đàn thuồng luồng Phải lảc chồn rì mà vến nhá ha Nghe Mo gọi tìm đường về lại nhà ta Vài nó tấm tiếu xiêu xảc Hỡi vía bỏ quê xiêu lạc
Lạc ở rừng tôông Pòn pòn, Lạc ở rừng, bón hón
Nấm hoa, nấm hẻp Lạc bờ hón, bờ khe
Măng xiềng ôông mo hôổc phải trở lái, pao pán pô xổ là Nhà Mo gọi hãy mau về lại
(33, tr 170) (33, tr 111)
2.Lời dặn vía trên đường trở lại nhà
Sau khi gọi vía, ông Mo cất lên những tiếng ca tha thiết, dặn dò vía :
Kỉa ăn cơm chăng àn nhà Thấy cơm khoan hãy phá
Ăn cơm vái khà Thấy cá khoan hãy ăn
Ăn cà vái táng Cơm ăn ngoài xá, ngoài đường
Máng vé kẻ rô, người rái Người cho là điên dại
Hồi ẻ cùn, ẻ kha Thối phân lợn phân gà
Trang 29Ha trở vến nhá Hãy trở về nhà ta
Ăn cơm bàn voóng Mà ăn cơm bên vóng
Ỏong rác vàn trêênh(33, tr 17) Uống nước trên nhà(33, tr 113)
3.Mời vía ăn cơm và an ủi gốc vía
Ông Mo dẫn vía trở về nhà, bước lên bậc thang nhà sàn, để vía trở về với bố
mẹ, với anh chị em.Mâm cơm bố mẹ đã dọn sẵn với những món ăn ngon, vía trở về
và được ông Mo dẫn vào ngồi ăn cơm vía:
Pơn chứ ní nhá vài tà vến Bây giờ vía đã về
Ngồi pán trôờng trăng chắng óa Ngồi bàn trứng trăng tròn
Cò cổ cơm tò khá, cà tòn táng Bên cỗ cơm đón xá
Tể nhá vài hôổc vài ới ái, vái xôn Nhà vía gọi vía chị vía em
Lái ôống phố mà ăn, mà oòng Sang cùng ăn cùng uống
Tể pêênh lế poỏc, lế mếếnh (23, tr110) Để giữ xác, giữ mình(23, tr18)
Với bát nước mát đã chuẩn bị Ông Mo vừa nói vừa đổ bát nước vào đĩa cơm xôi và dặn vía:
Nhá vài tà ăn pao tùa chăn rào Vía đã ăn đũa que rào
Chẳng àn ti pố, tì khề ôống tán con ma Thì chẳng còn ngày nào được đi với con ma
……
Phải ở pêênh poỏc, pêênh mếnh Phải giữ xác, giữ mình
Măng ăn lằng ở liêng Cho lành, cho liêng
Ăn xiêng ở lènh (33,tr111) Cho thiêng, cho khỏe(33, tr19)
Nghi lễ kết thúc Ông Mo phát cho mỗi thành viên trong gia đình một dâyvía, mọi người sẽ buộc vào tay mình để cầu mong sức khỏe, sự an lành, mỗi ngườiuống một chút nước trong bát nước mát đã được chuẩn bị Sau đó cả nhà quây quầnbên mâm cơm cùng ăn, cùng uống
Sau vài ngày trở về từ buổi lễ, chúng tôi có gọi điện lại cho bố mẹ hai cháu
và được biết rằng: Cháu Quách Thị Anh Thơ cháu đã khỏe mạnh và chơi ngoan Bố
mẹ cháu cho biết, sau khi cuộc vía hoàn thành, mọi lo lắng của cả bố mẹ và cả gia
Trang 30đình đã hoàn toàn tan biến Gia đình cháu Bùi Văn Nam, sau khi tổ chức cuộc gọivía lạc cháu đã không còn ngủ mơ, khóc mơ nữa.
1.2.2.2.2 Làm vía hết năm
Lí do làm vía
Vào khoảng tháng 11, tháng chạp tức là những tháng gần hết năm cũ, dù trong gia đình không có ai ốm đau hoạn nạn, nhưng trong năm có người đi làm ăn nơi rừng rú xa xôi, có thể vía của họ còn chưa trở về hoặc bị lạc vào Mường Ma nào đó nên gia đình vẫn tổ chức lễ cầu vía, để khi tết đến xuân về, cả gia đình được đoàn tụkhông thiếu một vía nào:
Pố khinh khẻ, mế tẻ xa Bố sinh, mẹ đẻ ra
Măng tợt nhá vài hơn vàng Bố mẹ quý con hơn vàng
Khang hơn ngoọc Sang con hơn ngọc
Chẳng cho vài nó ti doọc, ti gia Không muốn vía nào đi dọc, đi ngang
Pổ vến ma, cha vến mãn(33,tr 113) Đi sang bên ma, về bên phía
khác(33,tr25)
Nếu có vía nào đó đã trót làm cho vía ốm, vía đau thì phải tìm cách làm cho mất cái đau, cái ốm
Lấy lá củ mà mài
Lấy lá khoai mà chùi
Cho mất đi cái đau
Cho tan mau cái ốm
Cái ốm vứt về bãi lau
Cái đau đem đi nơi khác
Cho xác cho mình lành như cũ(33, tr27).
Đó là những lời căn dặn vía vào cuối năm hay lời chúc đầu năm mới Cầucho gia đình làm ăn phát đạt, vía các thành viên trong gia đình được phấn chấn
Ngày xưa khi người dân Mường còn cư trú chủ yếu nơi nhà sàn, nghi lễ làmvía hết năm thường diễn ra tại gian bếp ấm cúng, với bếp lửa nồng đượm, biểutrưng cho sự gắn kết của tình cảm gia đình Ngày nay một bộ phận người dânMường đã chuyển xuống nhà thấp thì buồi lễ diễn ra trong gian chính của ngôi nhà
Trang 31Chúng tôi tiến hành khảo sát nghi lễ làm vía hết năm ở 2 gia đình: Gia đình ôngQuách Văn Quyền, Gia đình ông Bùi Văn Quân ở xã Thành Vân, huyện Thạch Thành).
Sau thời gian tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy nghi lễ làm vía hết năm đều diễn
ra vào những ngày cuối năm, cũng chính là dịp cả gia đình quây quần sum họptrong năm cũ, con cái trong mỗi gia đình dù đi học hay đi làm đều trở về nhà để đóntết, con gái đi lấy chồng xa đều trở về nhà bố mẹ đẻ trong ngày diễn ra buổi lễ này.Không khí trong nghi lễ làm vía hết năm ở cả hai gia đình mà chúng tôi khảo sátđều vô cùng vui vẻ, ấm cúng
Tiến trình thực hiện nghi lễ làm vía hết năm
Sau khi điền dã và tìm hiểu thực tế ở hai gia đình, chúng tôi xin được giớithiệu tiến trình thực hiện một nghi lễ làm vía hết năm như sau:
1.Lí do làm vía
Ông Mo được gia đình gia chủ mời về, làm nghi lễ cầu an cho cả gia đình,ông đưa ra lí do làm vía và bắt đầu cất lễ ca:
Măng cúng năm hế kháng Thấy cùng năm hết tháng
Măng rưởi voong tấn, vài tiếu Càng sợ vong thấm vía thiếu
Voong xiêu, vài xác Vong xiêu vía lạc
……
Trang 32Cân xa ngay hoong Chọn một ngày rạng
Cân troong, ngáy sổch xàng, ráng leénh(33,tr113) Tìm một ngày lành(33, tr25)
Vía gắn với sức khỏe, với sinh mệnh của con người nên trong phần đầu tiêncủa bài ca bao giờ ơng Mo cũng cất lên những tiếng hát tha thiết trình lên nguyệnvọng của cả gia đình gắn với mong muốn sum vầy, mạnh khỏe
2.Lời mời vía về
Hành trình gọi vía về là phần quan trọng nhất trong nghi lễ làm vía hết năm,ơng Mo vừa phẩy quạt vừa cất tiếng hát Lúc này thầy Mo đĩng vai trị là một vịthần linh đi đến mọi chốn, mọi ngả, ơng lên rừng, lên đồi, xuống sơng, xuống suối,tìm đến những nơi mà vía lạc đến Ơng tìm đến mọi nhà anh em: nhà chú mạndưới, nhà dì mạn trên xem vía cĩ lạc, cĩ rong chơi ở đĩ hay khơng Mục đích cuốicùng là tìm gọi vía về nhà, về với bố mẹ, với anh với em
3.Lời chào vía
Sau khi đã gọi vía trở lại nhà, ơng Mo bắt đầu điểm tên họ của từng thành viêntrong gia đình, cất lời chào, lời mời tha thiết
Ơơng ( mú) chào xa nhã vài Ơng bà chào vía
Mà phui lõng khoong tá (33, tr115) Cho vía vui lịng
Mong vía mừng trong dạ(33, tr33)
4 Lời dặn vía trước khi ăn cỗ
Kéo ơ tơ lắng nhơ khơồng chim cơởc Tiếng Mo như tiếng chim quốc
Ngọocch xiềng leénh nhơ khơồng chim vá Lời mo như khiếu hĩt trong rừng
Lời hát của ơng Mo cất lên đầy tha thiết, vì sợ vía lạc, vía đau, vía ốm nên ơng
Mo phải dặn dị vía, lời dặn ấy cũng như lời cầu chúc sức khỏe:
Vài nĩ hay teènh ồm vua kha nhà cơổc Vía nào làm cho xác ốm thì phải vào bênh Cày nị tau chân Trĩt làm đau chân
Dấn phơi phả cho tả cày nấu tâu chân Vào bỏ tật đau chân
Hay troỏt teènh ồm cày nấu tâu xay Trĩt làm đau tay vào bỏ tật đau tay
Dấn tả nẫu tâu xay
Hay tâu troong pàng Hay làm đau bụng, hay làm đau xương Tâu dàng troong xương
Trang 33Tau rương, tâu rôồng Đau trong xương sống
Tâu rôống ốm chà
Vả raảc ho hen Sốt rét ho hen
Quen teènh vua kha nhà côổc Thói quen làm đau đến xác
Nấu nó dẫn phơi phả cho tả nấu rì Bỏ ngay tức khắc cho được yên lành
… (33, tr117) (33, tr35)
5.Lời mời ăn
Nghi lễ lại tiếp tục diễn ra, vía đã về đầy đủ, Ông Mo mới mời vía ăn cơm
Và ăn, vá oòng Vừa ăn vừa uống
Cơm hơ ráo khâu Cơm trước rượu sau
Ăn cơm oóng rào Ăn cơm uống rượu
Rủ ráy phay ro (33, tr123) Say no đủ đầy(33, tr36)
Lời mời ăn cất lên , ông không chỉ mời một lần mà mời đến bảy tám lần, đểcho vía ăn đủ, uống đủ thì thân xác mời lành mới khỏe
Ăn cơm xong ông Mo mời vía ăn trầu:
Cón trú căm chàng, nang căm trày Rạch lá trầu, bổ cau nguyên trái Pái pôổc rôổc xa Bổ lấy cho vừa
Nang non pửa pa, rá pửa răm Lựa miếng mà ăn
Ăn trù càm phàn, nhàn trú càn phở Nhai trầu nhồm nhoàm, nhá nang nhớm nhở
(33, tr125) (33, tr38)
Bữa cơm vía vui vẻ trong tiếng cười, tiếng nói Sau bữa ăn ông Mo ru cho gốc vía ngủ:
Nhá vái ăn cơm rối hôm ní ti nắm Nhà vía ăn cơm rồi đêm nay đi nằm
…
Nhá ní nhá vài ở Vía phải ở nhà này
Ở cho reẻch nhơ vunh Cho rách, cho cùn, như tro như cám
Cúnh như càm (33, 127) (33, tr39)
Lời ru êm đềm vang khắp bản Mường, vía hỡi hãy nằm mơ những điều tốt lành:
Troong loòng nhớ lế Trong tâm nhớ lấy
Phắc phảy têm pao Thoạt thấy chiêm bao
Àn khỏt chán, khỏt lài Được chân chì, chân chài
Trang 34Àn tru tực vến tanh tố rõng Được trâu đực về buộc cột chái
Àn tru toĩng tanh tố cài Được trâu cái về buộc cột nhà
Àn voong cơm vài lĩ Được vong cơm vía lúa
Vến tầy tún, tầy sang Về đầy đụn, đầy sang.
Lang Cun Cần têm pao tếu rì Lang Cun Cần chiêm bao điều đĩ
Mấn cun hơ mời khang Làm cun mới sang
Mấn lang mời dấu, mời cĩ (33, tr129) Làm lang mới giàu mới cĩ(33, tr41)
6.Lời mời vua nhà ăn cơm vía
Gia chủ chuẩn bị mâm lễ, phải để dành để riêng đồ lễ để mời cho đến ơng bà,
tổ tiên, ơng bà, ơng vải về chung vui bữa cơm vía Lời mời chính là sự thể hiện tấmlịng thành kính thiêng liêng của người dân Mường với cội nguồn của mình.Buổi lễkết thúc trong sự vui vẻ, phấn chấn của tất cả các thành viên trong gia đình
Nĩi chuyện với mọi người trong gia đình gia chủ sau buổi lễ kết thúc, chúngtơi nhận thấy những khuơn mặt tươi vui, với họ khi nghi lễ kết thúc, khi dây víađược buộc vào tay là khi trong lịng họ đã cảm thấy yên tâm vơ cùng
Trong khơng khí rộn ràng của mùa xuân tết đến, xuân về, “nghi lễ làm víahết năm” như củng cố thêm cho những người dân Mương niềm tin và niềm yêuthương cuộc sống, làm cho họ cảm thấy cần phải cố gắng, cần phải phấn đấu để cĩcuộc sống tốt đẹp hơn
1.2.2.2.3 Làm vía kéo si
Lí do làm vía
Cây si chính là biểu tượng cho linh hồn con người Mỗi cành si trên cây siđược mụ Chự Khi trơng coi chăm sĩc tương ứng với số mệnh của một con người, vìvậy khi trong gia đình cĩ người già ốm đau, bênh tật cũng là lúc cành si bị héo úa
Vì Vậy gia chủ mời ơng Mo về làm nghi lễ làm vía để thức si dậy, để cành si trở lạixanh tốt, để vía người già khơng đi lạc mất, cho xác tươi lành,mạnh khỏe như xưa
Theo quan niệm của Mường Thạch Thành, trong nhà cĩ người già như ơng,
bà bị ốm nặng cĩ nghĩa là số phận sắp hết Số phận của con người là do bà mụ trên
trời chiếm giữ Vì vậy họ nhờ đến thầy Mo thực hiện một nghi lễ là “làm vía kéo si
” Trong tín ngưỡng tâm linh của người Mường Thạch Thành “ Vía” cĩ sức mạnh
Trang 35siêu nhiên, chi phối đến sự sống, cái chết của con người, cho nên khi ông bà ta bị
ốm có nghĩa là “ Vía” sắp rời khỏi thân xác Nghi lễ “làm vía kéo si” có thể diễn ravào bất kì thời điểm nào trong năm, cứ khi nào có người già bị ốm nặng thì gia chủ
sẽ mời thầy cúng về thực hiện nghi lễ này Một buổi làm vía “ xin khố” có thể diễn
ra trong vòng từ 6 - 7 tiếng, thầy cúng sẽ được đón đến nhà trước để cùng gia chủchuẩn bị đồ lễ
Qua quá trình khảo sát thực tế, chúng tôi đã được tiếp cận với hai buổi lễ,một là :Nghi lễ làm vía kéo si tại gia đình ông Bùi Văn Mợ ( 86 tuổi), ở thôn YênLão, xã Thành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa ( 25/3/2015)
2 Nghi lễ làm vía kéo si tại gia đình bà Bùi Thị Tám ( 76 tuổi) ở thôn Sồi,
xã Thành Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa ( 26.5/2015)
Hai buổi lễ này đều kéo dài từ sáng đến chiều, bắt đầu từ 8 giờ sáng cho đến
3 giờ chiều và được thực hiện bởi ông Mo Quách Văn Dung ở thôn Phù Bản, xãThành Tân, Huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Trong suốt thời gian diễn ra buổi
lễ, ông Mo thực hiện những nghi thức như gọi vía trở về, mời bà Mụ xuống, mời tất
cả mọi người cùng ngồi lại ăn cơm để bênh hộ cho gốc vía người già được bình an,khỏe mạnh ở lại mãi cùng con cháu
Không gian diễn xướng của nghi lễ làm vía “ kéo si” có phạm vi hẹp, tại nhàgia chủ Người già bị ốm trong gia đình thường ngồi hoặc nằm trên giường, ông
Mo ngồi trên chiếu giữa nhà, con cháu trong gia đình gia chủ ngồi xung quanh cùngông Mo thực hiện những nghi thức của buổi lễ làm vía cho ông bà mình Đây là mộttín ngưỡng đã ra đời và tồn tại rất lâu trong đời sống tâm linh của người Mường,ngay từ khi hình thành cộng đồng dân tộc Mường nghi lễ đã diễn ra Và cho đến tậnbây giờ nghi lễ này vẫn còn tồn tại Điều đó cho thấy sức sống lâu bền của nghi lễ
và bài ca “ làm vía kéo si” Khi ông Mo cất tiếng hát cũng là lúc tất cả mọi người
cùng chú ý, lắng nghe Những câu hát lúc trầm lúc bổng, khi mời mọc, khi thì dặn
dò của ông Mo cuốn hút tất cả mọi người Không gian của buổi nghi lễ vừa thiêngliêng vừa gần gũi
Đồ lễ
Trang 36Lễ vật trong nghi lễ làm vía kéo si được chuẩn bị rất công phu, đồ lễ cũng có
sự khác nhau giữa các vùng, nếu như ở huyện Ngọc Lạc chỉ có 2 mâm lễ: đó làmâm bà si và mâm làm vía thì với người Mường Thạch Thành họ chia thành 4
mâm Theo khảo sát của người viết đồ lễ cụ thể trong nghi lễ “ làm vía kéo si” của
người Mường Thạch Thành gồm có những mâm lễ như sau:
Mâm tổ sư: Với lòng thành kính thiêng liêng người Mường Thạch Thạch
bày mâm lễ này để dâng lên tổ tiên Đây là một mâm nhôm có các lễ vật để cúng tổtiên, ở giữa mâm là đĩa thịt luộc và xôi trắng Xung quanh mâm lễ bày một đĩa trầucau, một cút rượu, vàng hương và một đĩa hoa quả
Mâm mụ: Đây là mâm cơm để tiến dâng, để mời bà mụ ăn cơm người đã
sinh thành và nuôi dưỡng gốc vía của con người Trên mâm lễ có thịt gà, thịt lợn, có
ba đĩa cơm nếp, cơm nhuộm ba màu, màu đỏ, màu vàng, màu trắng Với mục đích
là mời bà mụ ở trên Mường trời cao xanh xuống ăn cơm để bênh án cho gốc vía chonên con cháu trong gia đình chuẩn bị đồ lễ rất cẩn thận Sự chu đáo này cũng chứng
tỏ lòng hiếu kính của con cháu với ông bà, mong cho ông bà có thể được thêm tuổimới, sống trăm tuổi cùng với con cháu
Mâm vía: Quần áo của ông hoặc bà gấp lại đặt vào mâm, nếu là làm vía cho
người đàn ông thì là quần áo đỏ, nếu là làm vía cho người phụ nữ thì mâm vía này
có váy và áo còng đỏ ( một loại áo truyền thống của người phụ nữ Mường) Theoquan niệm của người Mường bản mệnh của con người nằm trong quần áo vì vậynghi lễ làm vía diễn ra chính là gọi gốc vía đang lạc lõng ở những nơi xa xôi trở về
để nhập vào quần áo Khi gọi được gốc vía trở về cũng có nghĩa là gốc vía ấy sẽ ởlại mãi cùng con cháu
Mâm “kéo khi” (mâm kéo si): Đây là mâm lễ để thực hiện nghi thức kéo
si Mâm này gồm có: một con gà trống , hai cây mía và hai cành si, có bốn sợi chỉ
đỏ buộc vào cành si được kéo ra bốn góc và có bốn que đũa để chống cây si Mâm
lễ này thể hiện rõ quan niệm của người Mường Thạch Thành về nghi lễ “ kéo si”.Mỗi lễ vật trong mâm kéo si này đều có một ý nghĩa tượng trưng cụ thể
Qua việc khảo sát chúng ta thấy rằng những vật phẩm để dâng lên tổ tiên và bà
mụ đều rất gần gũi với cuộc sống của con người Từ đồ ăn, thức uống cho đến quần áo
Trang 37đều gắn với cuộc sống của nhân dân Mường Mỗi mâm lễ có một ý nghĩa tượng trưngriêng, nó vừa biểu hiện cho lòng thành kính của gia chủ đối với tổ tiên, đồng thời nócũng thể hiện cho những quan niệm trong thế giới tâm linh của dân tộc Mường Đồ lễ
là gắn với cuộc sống nơi dương gian, ở dưới hạ giới, còn thế giới tưởng tượng đó làtrên Mường trời cao xanh, mà con người ta phải mượn gốc thang để trèo lên trời caoấy.Những lễ vật cùng với bài ca được sử dụng trong nghi lễ đã làm nên một bức tranh
toàn cảnh về nghi lễ “ làm vía kéo si” của dân tộc Mường ở Thạch Thành Nghi lễ tồn
tại trong cuộc sống của người Mường, bởi trong đó có niềm tin tín ngưỡng sâu sắc, mọingười tin vào sự huyền bí của nghi lễ, tin vào sự hiện hữu của những đấng linh thiêng
sẽ giúp cho cuộc sống của con người được bình yên và hạnh phúc
Trình tự một buổi lễ “làm vía kéo si”
Qua khảo sát thực tế, chúng tôi giới thiệu cụ thể trình tự nghi lễ “làm vía kéosi” của người Mường Thạch Thành như sau:
1 Trình nguyện vọng cũng như lí do làm vía lên tổ tiên và Thân Thư
Ở phần đầu tiên của bài ca, ông Mo sẽ cất lên tiếng hát gửi nguyện vọng cũngnhư mong muốn của mình lên các thầy trên nổ nương giường cao chiếu rộng: có tổtiên gia chủ và tổ tiên của ông Mo Ông xưng tên người đang bị ốm đau trong giađình để cho các đấng thần linh biết tên, biết quê quán Như nhiều dân tộc khác trênđất nước Việt Nam, người Mường cũng có tục thờ cúng tổ tiên, nó có nguồn gốc từđạo hiếu, thể hiện sự biết ơn của thế hệ sau với thế hệ trước
A nay chắp tay khấn lạy
Cho đến các thầy trên nổ nương giường cao chiếu rộng
Quân lai thầy tớ nhà thầy đi vào trong đụn cùng nhà
Rồng rộc bố con cái dông ông bà cái nhà chẽm …( tên gia chủ)
Để nhà chẽm ……….( tên gia chủ) nhà nó còn bố trong đụn cùng nhà
( Bài ca làm vía kéo si, phụ lục)
Sau khi đã trình nguyện vọng lên các thầy, ông Mo nói về lí do của buổi làm vía:
Để mà nay hết số
Lấy cây si cây sanh
Cây mía mật trong vườn cùng nhà mang ra
Trang 38Để mà gọi lấy gốc vía nhà bố nhà mình
( Bài ca làm vía kéo si, phụ lục)
2 Lời mời bà Si và Thân Thư các thầy về:
Sau khi đã trình bày lí do và xin sự giúp đỡ của Tổ tiên, ông Mo gọi bà Si ởtrên Mường trời cao xanh về dưới lương gian, hạ giới với mục đích:
Lúc đó Trương tôi đi vào gọi đến
Bà mụ bà miếm chiếm nuôi trên Mường trời cao xanh
Cây si cây sanh cho nó tốt lá
Đừng để cho nó đổ lá rạ cành
Là đổ đấng si (BCLVKS,PL)
Ngoài mời bà si, ông Mo còn mời Thân Thư, chính là tổ tiên của ông Mo về giúpmột tay cho nghi lễ thành công
3 Lời mời gọi vía và dặn dò gốc vía, bà Si trên đường về nhà:
Theo quan niệm của người Mường Thạch Thành, nhà bà Si ở trên Mườngtrời, và gốc vía của con người cũng được nuôi dưỡng ở trên đó Vì vậy khi ông Momời gốc vía và bà Si về, cũng có nghĩa họ phải vượt qua một chặng đường rất xa để
về đến hạ giới Cho nên khi mời họ xuống ông Mo phải dặn dò họ trên đường trở vềphải đi cẩn thận, chọn con đường đi thuận lợi nhất để thật nhanh về đến nhà
Đây là lời ông Mo dặn dò gốc vía nhà bố nhà mình ( tức là người già ốmtrong gia đình)
Khắp bốn phương tôi mời cho qua mười vuông đất
Mời cho đến gốc vía nhà bố nhà mình
Đi hết con đường quang đãng
Đường lành sớm sáng, chiều sáng
Nhà người đừng đi đường đất mà lâu
Biến nên con bướm đen bay qua cáng nước
Bướm bạc bay qua cáng bến, cáng giếng
Bước chân vào cái duông mái nhà (BCLVKS, Pl)
Ngoài dặn gốc vía người ốm, ông Mo còn dặn dò bà Si trên đường xuống lương
gian, hạ giới
Trang 39Để đi theo trương tôi Bay biến như con chim sáo Nháo nhẻ như đàn sáo trăm Năm mươi màn đụn tôi mời
Bà không phải trẻ con còn nhỏ
Đi đường đất mà lâu Biến nên con bướm đen bay qua cáng nước Bướm bạc bay qua cáng bến, cáng giếng
Đi gãy lá vông
Đi trông lá dặm
Đi lượn bằng rắn
Đi vặn bằng ong Như đàn chim chong
Về đến bưa đến bãi
Về đến cái Mường này(BCLVKS,PL).
Trong khi ông Mo đi mời bà Si và gốc vía thì con cháu ở nhà cùng với quânbinh thầy Mo đang nhộn nhịp chuẩn bị những mâm lễ, sẵn sàng cho bữa cơm củađông đủ mọi người Có thể thấy rằng sự chuẩn bị của con cháu trong gia đình thểhiện rất đầy đủ trong bài ca Điều đó cho thấy lòng thành kính cũng như ước mongchân thành của con cháu gửi tới bà Mụ cũng như các đấng thần linh khác
4 Lời dặn dò vía trước lúc ăn cơm:
Sau khi đã mời tất cả cùng về nhà, ông Mo thực hiện công việc của mình,
đó là điểm mặt mọi người Trước bữa cơm, ông thể hiện mong muốn của mình: khi
ăn bữa cơm này, mọi người phải chung tay góp sức để bênh án cho ông đá nhàmình: “ sống xa già lâu” Bà Si giữ nhiệm vụ phải bảo vệ gốc vía:
Đừng cho con sâu nó ăn vào gốc
Đừng cho con ốc nó ăn vào rễ cùng lá
Hay là đổ lá rạ cành (BCLVKS, PL)
Sau khi dặn dò xong, ông Mo mời gọi tất cả gia đình gia chủ, từ người lớn đến trẻ
em cùng ngồi lại ăn uống bữa cơm vía
5 Lời mời ăn cơm:
Trang 40Trong không khí ấm cúng, đông đủ, ông Mo cất lên những lời hát thân tình,đậm đà tình nghĩa, đó vừa là lời mới, lời hát thắm đượm tình nghĩa, như những câuchuyện trong bữa ăn Bà Mụ là người quan trọng nhất trong nghi lễ cho nên bà đượcxếp ngồi cao nhất
Mụ ăn trên ngồi trước
Còn gốc vía nhà con nhà cháu
Gốc vía ông bố nhà ta ăn dưới(BCLVKS, PL)
Những lời hát cất lên là những câu chuyện về cuộc sống lao động của ngườidân bản Mường Bài ca ấy mang đậm âm hưởng sử thi tạo nên không khí vừa thiêngliêng vừa ấm áp tình nghĩa cho nghi lễ này
6 Bài ca đồng lòng kéo cây si:
Có thể nói rằng đây là phần tạo nên không khí vui vẻ và thể hiện rõ nhấtmục đích của toàn bộ buổi lễ Con cháu trong gia đình dưới sự dẫn dắt của ông Mo,cùng nhau “hò dô” kéo cây si đứng thẳng lại cho ngay ngắn Nếu như người đượclàm lễ là đàn ông thì sẽ thực hiện kéo bảy lần, còn nếu là phụ nữ thì sẽ kéo chín lần.Mỗi lần kéo mọi người đều đồng thanh hô vang tạo nên sức mạnh để kéo cây si.Cũng là sức mạnh để làm cho người già trở nên khỏe mạnh, vui vẻ
7 Ru cho gốc vía ngủ ngon.
Sau khi gốc vía của ông bà đã về nhà, được bảo vệ bởi bà si và vía con cháu Ông Mo sẽ ru cho vía ngủ để gốc vía ở lại mãi dưới nhân gian cho ông bà đượcsống lâu trăm tuổi
Đi vào ngủ đi hỡi ơi hỡi vía
Ru ru ra ra ngủ đi vong hỡi
Vía ngủ đi hỡi ơi êm ả
Chim cộ đã ăn no về đến bãi
Vía ăn no vía hãy đi nằm (BCLVKS, PL)
Lời hát ru như những tiếng an ủi và động viên, cho gốc vía an lành
Khi ông Mo thực hiện xong nghi lễ này cũng có nghĩa là buổi lễ đã kết thúc
1.2.2.3.Bài ca làm vía mang tính chất diễn xướng tổng hợp: văn học - âm
nhạc-mỹ thuật