PHẦN MỞ ĐẦU1 1. Lí do chọn đề tài1 2. Lịch sử vấn đề2 3. Phạm vi nghiên cứu8 4. Phương pháp nghiên cứu8 5. Đóng góp của luận văn9 6. Cấu trúc luận văn9 PHẦN NỘI DUNG10 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM10 1.1. Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh10 1.2. Những tư tưởng chính của chủ nghĩa hiện sinh13 1.3. Sơ lược về sự biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học16 1.3.1. Trong văn học thế giới16 1.3.2. Trong văn học Việt Nam22 1.4. Những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện khá phổ biến của yếu tố hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện nay nói chung và tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nói riêng26 1.4.1. Điều kiện xã hội26 1.4.2. Sự thay đổi trong định hướng văn học27 1.4.3. Tình hình giao lưu văn học28 1.4.4. Những nỗ lực tìm tòi của Nguyễn Bình Phương30 *Tiểu kết:32 CHƯƠNG 2: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG THỂ HIỆN Ở CẢM QUAN VỀ HIỆN THỰC33 2.1. Hiện thực mang tính chất vô nghĩa, tẻ nhạt33 2.1.1. Hiện thực đơn điệu, nhàm chán lặp đi lặp lại33 2.1.2. Sự nhạt hóa các giá trị tinh thần37 2.2. Hiện thực mang màu sắc phi lý42 2.2.1. Không gian, thời gian mang tính bất định42 2.2.2. Hiện thực mang đậm màu sắc huyền thoại48 2.3. Hiện thực chứa nhiều bất trắc50 2.3.1. Hiện thực chứa đầy những yếu tố ngẫu nhiên, bất thường50 2.3.2. Những giá trị đời sống bị đảo lộn54 2.4. Hiện thực mang tính phân rã, hỗn loạn56 2.4.1. Sự đan xen giữa cõi dương và cõi âm 57 2.4.2. Sự lẫn lộn giữa cuộc sống của những con người bình thường với những người điên loạn62 * Tiểu kết:66 CHƯƠNG 3: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG THỂ HIỆN Ở CẢM QUAN VỀ CON NGƯỜI67 3.1. Con người lo âu, hoài nghi67 3.1.1. Con người lo âu, hoài nghi về sự tồn tại của bản thể67 3.1.2. Lo âu, hoài nghi về sự suy tàn của nhân tính, trí nhớ, danh vị71 3.2. Con người cô đơn, lạc loài77 3.2.1. Con người cô đơn trong không gian, thời gian78 3.2.2. Con người lạc loài với cộng dồng80 3.3. Con người tha hóa83 3.3.1. Con người tha hóa do môi trường sống83 3.3.2. Con người tha hóa do không chế ngự được dục vọng của bản thân89 3.4. Con người với khát vọng dấn thân92 3.4.1. Khát vọng muốn thoát khỏi cuộc sống thực tại bi đát.93 3.4.2. Khát vọng muốn khẳng định giá trị của bản thân96 *Tiểu kết:98 PHẦN KẾT LUẬN99 THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO102
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-o0o -DÊu Ên cña chñ nghÜa hiÖn sinh
trong tiÓu thuyÕt NguyÔn B×nh Ph¬ng
Chuyên ngành: Lý luận văn học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thị Hải Phương, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ emtrong quá trình hình thành, triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đồng thời, cho phép em gửi lời cảm ơn tới các thầy, các cô trong Tổ bộmôn Lý luận văn học, các thầy cô trong khoa Ngữ văn, phòng tư liệu thư việntrường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thờigian học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên,khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót, em kính mong nhận được sự chỉ dẫn góp ý của hội đồngkhoa học, các thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 7 năm 2015
Người viết
Phạm Thị Thắm
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 9
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 10
1.1 Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh 10
1.2 Những tư tưởng chính của chủ nghĩa hiện sinh 13
1.3 Sơ lược về sự biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học 16
1.3.1 Trong văn học thế giới 16
1.3.2 Trong văn học Việt Nam 22
1.4 NHỮNG TIỀN ĐỀ DẪN ĐẾN SỰ XUẤT HIỆN KHÁ PHỔ BIẾN CỦA YẾU TỐ HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY NÓI CHUNG VÀ TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG NÓI RIÊNG 26
1.4.1 Điều kiện xã hội 26
1.4.2 Sự thay đổi trong định hướng văn học 27
1.4.3 Tình hình giao lưu văn học 28
1.4.4 Những nỗ lực tìm tòi của Nguyễn Bình Phương 30
*TIỂU KẾT: 32
CHƯƠNG 2: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG THỂ HIỆN Ở CẢM QUAN VỀ HIỆN THỰC 33
2.1 Hiện thực mang tính chất vô nghĩa, tẻ nhạt 33
Trang 42.1.1 HIỆN THỰC ĐƠN ĐIỆU, NHÀM CHÁN LẶP ĐI LẶP LẠI 33
2.1.2 SỰ NHẠT HÓA CÁC GIÁ TRỊ TINH THẦN 37
2.2 Hiện thực mang màu sắc phi lý 42
2.2.1 KHÔNG GIAN, THỜI GIAN MANG TÍNH BẤT ĐỊNH 42
2.2.2 HIỆN THỰC MANG ĐẬM MÀU SẮC HUYỀN THOẠI 48
2.3 Hiện thực chứa nhiều bất trắc 50
2.3.1 HIỆN THỰC CHỨA ĐẦY NHỮNG YẾU TỐ NGẪU NHIÊN, BẤT THƯỜNG 50
2.3.2 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG BỊ ĐẢO LỘN 54
2.4 HIỆN THỰC MANG TÍNH PHÂN RÃ, HỖN LOẠN 56
2.4.1 SỰ ĐAN XEN GIỮA CÕI DƯƠNG VÀ CÕI ÂM 57
2.4.2 SỰ LẪN LỘN GIỮA CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG CON NGƯỜI BÌNH THƯỜNG VỚI NHỮNG NGƯỜI ĐIÊN LOẠN .62
* TIỂU KẾT: 66
CHƯƠNG 3: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG THỂ HIỆN Ở CẢM QUAN VỀ CON NGƯỜI 67
3.1 Con người lo âu, hoài nghi 67
3.1.1 CON NGƯỜI LO ÂU, HOÀI NGHI VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA BẢN THỂ 67
3.1.2 LO ÂU, HOÀI NGHI VỀ SỰ SUY TÀN CỦA NHÂN TÍNH, TRÍ NHỚ, DANH VỊ 71
3.2 Con người cô đơn, lạc loài 77
3.2.1 CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG KHÔNG GIAN, THỜI GIAN .78
3.2.2 CON NGƯỜI LẠC LOÀI VỚI CỘNG DỒNG 80
3.3 Con người tha hóa 83
3.3.1 CON NGƯỜI THA HÓA DO MÔI TRƯỜNG SỐNG 83
Trang 53.3.2 CON NGƯỜI THA HÓA DO KHÔNG CHẾ NGỰ ĐƯỢC DỤC
VỌNG CỦA BẢN THÂN 89
3.4 CON NGƯỜI VỚI KHÁT VỌNG DẤN THÂN 92
3.4.1 KHÁT VỌNG MUỐN THOÁT KHỎI CUỘC SỐNG THỰC TẠI BI ĐÁT 93
3.4.2 KHÁT VỌNG MUỐN KHẲNG ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA BẢN THÂN 96
*TIỂU KẾT: 98
PHẦN KẾT LUẬN 99
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Chủ nghĩa hiện sinh là một trào lưu triết học nở rộ ở phương Tây
vào đầu thế kỉ XX và gây hiệu ứng mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực của đời sốngcũng như khoa học, trong đó có văn học Franz Kafca, Jean-Paul Sartre,Albert Camus… là những gương mặt tác giả tiêu biểu mà tên tuổi gắn liền vớivăn chương hiện sinh Trào lưu văn học này đã có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đếnnền văn học của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Những tưtưởng về nhân vị, tự do, về đời sống nhiều bề bộn, lo âu của chủ nghĩa hiệnsinh đã được các nhà văn Việt Nam thể hiện khá sinh động trong các tácphẩm của mình
1.2 Quan sát văn học Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhận thấy bên cạnh
việc cách tân mạnh mẽ của thơ và truyện ngắn, thể loại tiểu thuyết đang có sựchuyển mình và tìm tòi những hình thức nghệ thuật mới tuy có vẻ chậm hơn,
dè dặt hơn Các nhà viết tiểu thuyết ý thức được rằng, bây giờ vấn đề quantrọng không phải là viết cái gì mà là viết như thế nào, không phải là kể nộidung mà là viết nội dung Và các nhà văn đã nỗ lực tìm hiểu, vận dụng những
kỹ thuật tự sự để nhằm khai thác tiềm năng của thể loại, để cách tân tiểuthuyết, góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam dần dần thoát khỏi quỹ đạo củatruyền thống, bước đầu hòa nhập với tiểu thuyết hiện đại của thế giới Gươngmặt tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây nở rộ những tên tuổi mới, trong
số đó có nhà văn Nguyễn Bình Phương Khởi nghiệp bằng tác phẩm đầu tay
“Bả Giời” (1991) như những bước chập chững đầu tiên vào làng tiểu thuyết
còn nhiều bỡ ngỡ, suốt những năm tháng đó cho đến ngày hôm nay NguyễnBình Phương lần lượt cho ra đời hàng loạt các đầu sách gây ấn tượng trong
lòng công chúng Đặc biệt với “Người đi vắng” (1999), tác giả vừa được vinh
danh bởi giải thưởng sách hay năm 2014 do viện nghiên cứu phát triển giáo
Trang 7dục (gọi tắt là viện IRED) tổ chức Hơn hai mươi năm vướng phải “Bả Giời”rồi đa mang vào tiểu thuyết với gần mươi đầu sách dù chưa phải là khối lượng
đồ sộ nhưng đặt trong bối cảnh thực tế của văn học nước nhà hôm nay có lẽ ítcây bút nào làm được như Nguyễn Bình Phương Không chỉ vậy, tác phẩmcủa Nguyễn Bình Phương còn có sự nhất quán trong đổi mới về nội dungcũng như cách viết Mỗi tác phẩm là một nét độc đáo riêng biệt nhưng đềuđược nảy sinh trong quá trình phát triển lao động nghệ thuật nghiêm túc vớikhát vọng cách tân thật sự của nhà văn
Với việc lựa chọn đề tài: “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, luận văn của chúng tôi hy vọng chỉ ra những
yếu tố hiện sinh thể hiện ở cảm quan về hiện thực và con người như một nétđộc đáo trong sáng tác nhà văn, từ đó nhìn ra những đóng góp của NguyễnBình Phương cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Đáng chú ý là bài viết “Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” của Phùng Gia Thế Tác giả cho rằng: “Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ám ảnh bởi sự khủng hoảng niềm tin của con người, của nhà văn vào cuộc đời,
sự đổ vỡ của những trật tự xã hội và gia đình, sự ngắc ngoải ngưng đọng của đời sống, sự đánh mất của bản ngã, phương hướng, sự băng hoại đạo đức, sự đau đớn bơ vơ, tình trạng bất an của con người” [85] Đây được coi
Trang 8như nhận định bao trùm cho toàn bộ chủ đề tư tưởng trong các tiểu thuyếtcủa nhà văn Nguyễn Bình Phương.
Ngoài ra, Phạm Xuân Thạch với bài viết “Tiểu thuyết như là một trạng thái tìm kiếm ý nghĩa của đời sống” đã mở ra nội dung đáng chú ý về tác phẩm “Ngồi” như một nét độc đáo đưa sáng tác Nguyễn Bình Phương lên hàng “hiện tượng tiêu biểu” của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Ông nhận định: “Ngồi” là một cuộc mời gọi đặt vấn đề phản tư về đời sống và ý nghĩa
của đời sống
Trên khía cạnh ngôn ngữ, Hoàng Quỳnh Nga trong báo cáo khoa học năm
2004 đã đi sâu tìm hiểu phương diện “Lời câm của nhân vật Tính trong tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy” Đây là điểm khá ấn tượng và nổi bật xuyên suốt toàn bộ
sáng tác tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Tác giả chỉ ra hình thức của lời câm
là ngôn ngữ chắp dính, sự phá vỡ quan hệ logic giữa các câu, các câu ngắn, câuđặc biệt, câu bị khuyết thành phần hoặc bị bẻ gẫy không theo trật tự nào
Năm 2008, khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Trang Nhung bàn về “Ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” Từ việc nghiên cứu về đặc
điểm ngôn ngữ và các dạng thức tổ chức ngôn từ nghệ thuật trong tiểu thuyếtNguyễn Bình Phương, tác giả phát hiện ra thủ pháp nhại ngôn ngữ gắn liềnvới cảm hứng giải thiêng trong sáng tác của ông Đặc biệt Trang Nhung đãchạm tới vấn đề vô thức như là một bước đệm tạo sự độc đáo cho ngôn ngữnghệ thuật tác phẩm
Trên khía cạnh kết cấu, Phùng Gia Thế trong bài đối thoại với báo điện
tử Tổ quốc “Một cái nhìn về thực tiễn văn chương hậu hiện đại” đã nhận xét:
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn có nhiều tuyến chạy ngược – xuôitheo lối kết cấu song hành Để minh chứng cho điều này ông lấy bốn cuốn
tiểu thuyết nổi bật của tác giả đó là “Những đứa trẻ chết già”, “Thoạt kỳ thủy”, “Người đi vắng” và “Ngồi” làm ví dụ.
Trang 9Tác giả Trương Thị Ngọc Hân khi viết “Một số đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương” cũng cho rằng: Nguyễn Bình Phương và
một số cây bút đương đại khác không đi theo lối kết cấu cũ Ông đã phá tungmọi đường biên rào cản để tạo sự tự do tối đa cho tác phẩm Ở đó mạchchuyện đan xen, móc nối nhằng nhịt, có những tác phẩm có hai mạch chảysong song đến cuối tác phẩm đã hòa vào một mạch chung, có tác phẩm đượcxây dựng bởi rất nhiều mạch để tạo thành kiểu đa giọng điệu độc đáo
Tác giả Nguyễn Chí Hoan trong bài viết “Những hành trình qua trống rỗng” quan tâm tới kỹ thuật viết tiểu thuyết “Ngồi” Ông cho rằng Nguyễn
Bình Phương độc đáo ở lối kết cấu lập thể, kết cấu thời gian đồng nhất, lốihành văn với sự giản yếu của các câu văn
Đồng thời Trương Thị Ngọc Hân, Nguyễn Chí Hoan cũng đi vào phântích sự đổi mới của Nguyễn Bình Phương trong việc phá vỡ kết cấu tiểuthuyết truyền thống để thể nghiệm sự cách tân theo hướng kết cấu xoắn képnhiều mảng, kết cấu liên văn bản…
Trên khía cạnh nghệ thuật xây dựng nhân vật, đáng quan tâm là công
trình “Bàn về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”
(2009) của Nguyễn Thị Hồng Nhung Người viết chú ý tới sự xuất hiện củanhân vật điên trong sáng tác của nhà văn như một ý tưởng nghệ thuật táo bạo
Tác giả lý giải đó là kết quả mà “cái nhìn cuộc sống” của nhà văn mang lại,
“Nguyễn Bình Phương nhận ra cuộc sống còn nhiều mảnh đời không lành lặn, nhiều tâm hồn bị khuyết tật” [55] Dù chưa nhấn sâu vào tư tưởng nghệ
thuật của Nguyễn Bình Phương nhưng đây đã là sự tìm tòi đáng trân trọng củangười viết gợi ra hướng tiếp cận mới xung quanh vấn đề nhân vật của nhà văn
họ Nguyễn
Năm 2011, luận văn thạc sỹ của Đào Thị Dần nghiên cứu về “Nhân vật dị biệt trong sáng tác của Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương” Tác giả phát hiện
Trang 10nhân vật dị biệt là một phương thức khám phá đời sống vô thức của nhà văn Ở
đó con người hiện lên với những tâm lý dị biệt như luôn mang nỗi ám ảnh sợhãi, trong trạng thái điên và bản năng tính dục Đây được coi như biểu hiện củaviệc chối từ quan niệm điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực, là đóng góp củaNguyễn Bình Phương trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975.Bàn về giọng điệu trên trang sách Nguyễn Bình Phương, Hoàng Kim
Phượng có nghiên cứu khá ấn tượng “Chất giễu nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” (2011) Đi từ việc nhận định giễu nhại là tông giọng chủ đạo của
văn học sau 1975, tác giả đã phân tích một cách có hệ thống những biểu hiệncủa nó khi hòa nhập với trang viết nhà văn họ Nguyễn Từ đó, Hoàng Kim
Phượng đi tới kết luận đây là kiểu giọng điệu mang lại “tiếng cười hài hước”
[75], vạch trần bản chất nhân vật đằng sau tấm mặt nạ đẹp đẽ của con người.Nhìn chung, việc nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương khôngphải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Những bài viết và công trình về nhà văn nàyđược đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau song tựu chung đều không táchrời nội dung và hình thức Việc lược sử như trên của chúng tôi tất nhiênkhông thể bao quát hết các vấn đề trong sáng tác nhà văn, tất cả chỉ dừng lại ởnhận định cá nhân người nghiên cứu Tuy thế xét đến cùng, Nguyễn BìnhPhương đang thật sự thành công trên trên con đường khám phá nghệ thuậttiểu thuyết
2.2 Những nghiên cứu mang tính gợi mở về dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Nhà văn Nguyễn Bình Phương trên lộ trình sáng tạo của mình ở thể loại
tiểu thuyết đã trở thành một hiện tượng văn học hết sức độc đáo Bên cạnh
những công trình đi sâu tìm hiểu tác phẩm, đây đó các bài viết cũng bắt đầuđiểm diện biểu hiện gợi mở cho sự in dấu chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tácnhà văn dưới dạng những ý kiến, nhận định
Trang 11Thứ nhất, mảng hiện thực đời sống nhiều bề bộn trong sáng tác Nguyễn
Bình Phương được quan tâm chú ý
Trong “Cảm quan đời sống và những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, Phùng Gia Thế cho rằng: “Nguyễn Bình Phương
là nhà văn của cái đương đại Dầu có nói về quá khứ thì cảm quan đời sống của nhà văn vẫn tràn ngập hơi thở hôm nay: sự đổ vỡ, khủng hoảng niềm tin, những vùng đau… Tiểu thuyết của anh dung chứa và thể hiện sinh động bao câu chuyện tâm thức của con người thời đại” [86].
Bài viết “Sáng tạo văn học: giữa mơ và điên”, tác giả Đoàn Cầm Thi thông qua nghiên cứu cuốn tiểu thuyết “Thoạt kỳ thủy” đã chỉ ra sự xâm lấn
của vô thức vào thế giới hiện thực con người đang sống trong sáng tác NguyễnBình Phương Nhấn mạnh sự tồn tại của mơ và điên (vô thức) tác giả đã khẳngđịnh sự méo mó, bất toàn, thiếu hoàn thiện của đời sống mà tiểu thuyết của ông
đề cập Bà tìm kiếm những khám phá nghệ thuật của nhà văn trong việc so
sánh đối chiếu với “Thơ điên” Hàn Mặc Tử để thấy được bức tranh siêu thực
độc đáo được dựng lên trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
Trên “Những nhà văn khó đọc ba miền”, Nguyễn Hiệp đặt Nguyễn Bình
Phương bên cạnh hai nhà văn Nhật Chiêu (Sài Gòn) và Ngô Phan Lưu (Phú
Yên) để làm nổi bật “kiểu hiện thực lũy thừa” trong cách nhìn đời sống độc đáo của ông Thông qua việc khảo sát tiểu thuyết “Thoạt kỳ thủy” (Nxb Văn học, 2005), “Ngồi” (Nxb Đà Nẵng), tác giả cho rằng thế giới vong thân và sa đọa của hai tiểu thuyết là loại “hiện thực song song/ lũy thừa/ đa chiều được tách chẻ/ nghiền vụn thậm chí trộn hòa, nén co, làm mờ bóng, tan biến nhân vật đến có có không không Đó là hiện thực tạp loạn, trợt ám, trôi nổi của giai đoạn quán tưởng, giai đoạn đầu tiên bước vào công án thiền, nơi đó, con người không còn đứng được nữa Không đứng được nữa hay lùn hóa hay giam biệt hay tự diệt, cũng là ranh giới tạp niệm và xả bỏ tạp niệm Vì Nguyễn Bình Phương đã cân
Trang 12nhắc công án hiện tiền đó bằng tiêu chuẩn tri thức, nên các tiểu thuyết của anh
là những toàn cảnh đẫm đời, không giáo điều lại khá quyến dụ” [25].
Thứ hai, một số nhà nghiên cứu nhận định tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương xuất hiện con người cô đơn, lo âu mang nhiều ám ảnh
Phùng Gia Thế trong “Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương” đã đưa ra đánh giá: Nhân vật nơi sáng tác nhà văn họ Nguyễn “là một đám đông những con người hao hụt nhân tính, méo mó, đầy bản năng, dục vọng, nhiều thói tật, bệnh hoạn Họ miên man trong cõi sống mà không có lấy một điểm tựa Họ không có thủ lĩnh, sống trong sợ hãi, cô đơn và đáng thương”, “ngụp lặn miên man giữa hai bờ thực - ảo” [85].
Nguyễn Mạnh Hùng với “Người đi vắng, ai đọc Nguyễn Bình Phương hay nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế kỷ” cho rằng: “Nguyễn Bình Phương
là tiểu thuyết gia đầu tiên ở Việt Nam có ý thức tạo dựng nhân vật bằng một
hệ thống ám ảnh”, “nhân vật không có tiểu sử (lí lịch) cụ thể, không gắn bó với những sự kiện lịch sử, xã hội, không tồn tại trong một cốt truyện có đầu đuôi, huyền thoại hóa đời sống sinh hoạt”, “nhân vật của Nguyễn Bình Phương giấu kín những ám ảnh của mình và sống với nó” [35].
Trong “Tản mạn Nguyễn Bình Phương”, Phùng Văn Khai, một người bạn văn chương của nhà văn lại nhận định: “… luôn có một nỗi lo mơ hồ nào đó, nỗi
lo về những tai họa bí truyền, phi lí nhưng có thật có thể bất thần đổ ập xuống đầu” [36] con người đậm đặc trên trang văn tác giả Nguyễn Bình Phương.
Nguyễn Bình Phương là nhà văn rất “kín tiếng” cả trong đời sống riêng tưlẫn đời sống văn học nhưng những sáng tạo của ông trong văn chương thì rất
giống với lời nói nổi tiếng của Aragon: “Tôi viết ra là để nói ngược lại
tôi”-mạnh mẽ và lôi cuốn, thu hút sự chú ý của dư luận, bạn đọc Tác phẩm của ônggiống như một hiện tượng “lạ” trên văn đàn Đó là hệ quả của quá trình nhàvăn không ngừng mạo hiểm cách tân tìm tòi và tiếp thu có chọn lọc ảnh hưởngcủa các trào lưu ngoài nước nhằm hiện đại hóa văn học nước nhà
Trang 13Từ những gì đã trình bày, chúng tôi nhận thấy rằng vấn đề hiện sinh là vấn
đề có ý nghĩa với việc nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương bởi dấu ấncủa nó có một tần suất nhất định trong sáng tác nhà văn Hơn nữa qua khảo sátchúng tôi nhận ra nó chưa được quan tâm thỏa đáng mà chỉ xuất hiện rải rác quamột số đánh giá với mục đích minh chứng cho vấn đề nghiên cứu khác chứ chưaphát triển thành một luận điểm lớn Vì những lí do trên chúng tôi nhận định cầnthiết phải phát triển nó thành một đề tài độc lập để có góc nhìn toàn diện về sángtác Nguyễn Bình Phương
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như trên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là
Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát chính của luận văn là một số tiểu thuyết tiêu biểu của
nhà văn Nguyễn Bình Phương, cụ thể là: “Bả giời”, “Vào cõi”, “Những đứa trẻ chết già”, “Người đi vắng”, “Trí nhớ suy tàn”, “Thoạt kỳ thủy”, “Ngồi” và
“Mình và họ”.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp cận, phân tích các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương đểlàm rõ dấu ấn hiện sinh trong văn học đương đại, chúng tôi thực hiện luận vănbằng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp hệ thống cấu trúc
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh
Trang 145 Đóng góp của luận văn
Luận văn làm rõ Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương qua cảm quan về hiện thực và con người biểu hiện trong sáng tác nhà
văn Đây là một hướng tiếp cận có khả năng nhìn ra một trong những đặcđiểm quan trọng nhất góp phần tạo nên nét riêng biệt trong thế giới nghệ thuậtcủa ông
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tư liệu tham khảo, mục lục,; luận văncấu tạo gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và sự biểu hiện của yếu tốhiện sinh trong văn học Việt Nam
Chương 2: Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết NguyễnBình Phương thể hiện ở cảm quan về hiện thực
Chương 3: Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết NguyễnBình Phương thể hiện ở cảm quan về con người
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trên thế giới trong tư cách là một trào lưutriết học phương Tây hiện đại Tư tưởng của nó tác động tới nhiều lĩnh vựctrong đời sống, đặc biệt là văn học Phạm vi ảnh hưởng của chủ nghĩa hiệnsinh không chỉ đóng khung ở châu Âu nơi nó ra đời mà còn bao quát toàn cầu.Ngay cả khi đã thoái trào vào những năm 60 của thế kỷ trước thì những thuyết
lý mà chủ nghĩa hiện sinh mang lại vẫn luôn sống động cho tới tận ngày nay,được tái sinh mỗi khi gặp bối cảnh phù hợp
1.1 Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh
Cũng như các trào lưu khác, chủ nghĩa hiện sinh hình thành dựa trênnhững điều kiện nhất định Nhìn một cách tổng quan, nó là sản phẩm của bayếu tố sau: lịch sử xã hội, nhận thức và tư tưởng
Thứ nhất, xét về mặt lịch sử xã hội, chủ nghĩa hiện sinh ra đời là hệ quả
tất yếu của hai cuộc đại chiến thế giới Cuộc thế chiến I và II nổ ra khắp châu
Âu có sức tàn phá vô cùng ghê gớm mọi mặt của đời sống từ kinh tế tới xãhội đã tạo nên chấn động mạnh trong tinh thần của con người Khủng hoảngcùng những hệ lụy chiến tranh đưa lại cảm giác bất an, tâm trạng bi quan,tuyệt vọng, sự “vô nghĩa” của cuộc đời… ngay trong mỗi cá thể sống Hoàncảnh thế giới chao đảo như chất xúc tác tới tâm hồn nhạy cảm của một lớpngười trong xã hội Nó tạo tâm thế mong muốn và sẵn sàng đón nhận mộtluồng tư tưởng mới có khả năng lấp đầy những khoảng trống thiếu hụt trongtâm hồn Đó là mảnh đất cho chủ nghĩa hiện sinh đơm hoa, kết trái
Thứ hai, xét về mặt nhận thức, chủ nghĩa hiện sinh ra đời gắn liền với sự
phản ứng lại chủ nghĩa duy lý của một nền tư bản hiện đại đang tồn tại Thế kỉ
Trang 16XX, nhân loại chứng kiến những thành tựu của cách mạng công nghiệp vàcách mạng khoa học công nghệ Tiến bộ của nền sản xuất xã hội được coi làthành quả của chủ nghĩa duy lý Xã hội thể hiện ý thức lấy công nghệ làm nềntảng Khoa học kỹ thuật được con người coi là chìa khóa vạn năng giải quyếtmọi vấn đề về nhân sinh Với chủ nghĩa duy lý, phương Tây hiện đại đã đạttới đỉnh điểm của sự phồn vinh nhưng cũng chính tại đó nó bộc lộ mặt trái vàlâm vào khủng hoảng nghiêm trọng Chủ nghĩa duy lý kỹ thuật khiến conngười bị phi nhân vị hóa Con người bị coi như “một lực lượng vật chất đơnthuần” tương tự như máy móc, một trong những yếu tố của khoa học kĩ thuật,không được chú ý đến chiều sâu nội tâm và mất đi ý nghĩa nhân văn sâu sắc.Yếu tố này đặt cơ sở cho tư tưởng hiện sinh nảy nở Chủ nghĩa hiện sinh rađời là vấn đề tất yếu mang tính nhận thức, là sự phản ứng lại chủ nghĩa duy lýgóp phần đòi lại nhân vị độc đáo, giải phóng tự do cá nhân, hướng con người
về với thế giới tinh thần, đời sống của nội tâm sống động và cụ thể
Thứ ba, chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện còn là kết quả của những mảnh tư
tưởng hiện sinh có thể được tìm thấy trước đó trong lịch sử Để tiện theo dõi,chúng tôi tạm chia ra làm hai nhóm nguồn ảnh hưởng: nhóm thứ nhất lànguồn ảnh hưởng bởi tư tưởng triết học của S Kierkegaard, triết học đời sốngcủa A Schopenhuaer, F Nietzsche, hiện tượng luận E Husserl Nhóm thứ hai
là nguồn ảnh hưởng từ A Augustin, B Pascal, F M Dotstoevsky, đạo tinlành, đạo do thái, I Kant, chủ nghĩa lãng mạn Đức đầu thế kỷ XIX, F.Kafka… Trong đó, đáng chú ý hơn cả là nhóm nguồn ảnh hưởng thứ nhất bởi
nó có tác động chủ yếu và trực tiếp tới tư tưởng chủ nghĩa hiện sinh sau này.Kierkegaard (1813 - 1855) và F Nietzsche (1844 - 1900) là những triếtgia thuộc thế kỷ XIX được xem là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh Mặc dùhoàn toàn đối lập nhau trong quan điểm về sự tồn tại của Thượng đế, dẫn tớiviệc sau này chính hai ông đã mở đường cho hai nhánh triết học hiện sinh
Trang 17khác nhau: Hữu thần (Kierkegaard) và vô thần (Nietzsche) nhưng các ôngcũng gặp nhau ở một số điểm chung Đó là: Họ chú trọng vào con người vớinhững trải nghiệm chủ quan hơn là những chân lý khách quan của khoa học.
Họ quan tâm tới sự đấu tranh thầm lặng của mỗi cá nhân với sự vô nghĩa củacuộc sống và việc sử dụng sự giải trí để chống buồn chán Họ xem xét vai tròcủa sự lựa chọn tự do và những lựa chọn đó theo đuổi bản chất của người lựa
chọn như thế nào Với Kierkegaard, tư tưởng triết học của ông “là một suy tưởng sâu xa về cuộc đời vì thế nó mang tên là triết học hiện sinh, triết học về cuộc đời con người” (theo Trần Thái Đỉnh) Khái niệm “hiện sinh” mà triết
gia này đưa ra sẽ trở nên quan trọng về nguyên tắc trong triết học hiện sinhthế kỷ XX Với Nietzsche, tư tưởng triết học của ông là giá trị tính chủ thể
của con người “đời sống là giá trị cao nhất, hiện sinh là giá trị uyên nguyên làm nền tảng cho các giá trị khác” Bằng triết học của mình, ông đã chuẩn bị
đầy đủ hành trang về giá trị con người để một triết học mang tên chủ nghĩahiện sinh nhân vị ra đời
Bên cạnh triết học Kierkegaard, Nietzsche, triết học đời sống của A.Schopenhuaer cũng có một tầm ảnh hưởng nhất định tới sự sinh thành của chủnghĩa hiện sinh Một số yếu tố như phương pháp chú giải học để nhận thứccái tinh thần của Dilthey; thái độ hạ thấp coi thường khoa học và tư duy khoahọc khi nhận thức đời sống bất tận của Nietzsche… trong triết học đời sốngsau này đều tồn tại trong chủ nghĩa hiện sinh Thậm chí, chủ nghĩa hiện sinhcòn đi xa hơn triết học đời sống khi khẳng định sự bất lực của tư duy khoahọc trong việc giải quyết vấn đề tồn tại của con người
Song chủ nghĩa hiện sinh chủ yếu tiếp nhận những quan điểm tư tưởng
từ Hiện tượng luận, nhiều nhà nghiên cứu xem đây như một giai đoạn pháttriển mới của Hiện tượng luận Chủ nghĩa hiện sinh kế thừa hầu hết tư tưởngcủa Edmund Husserl (1859 – 1938) cho rằng không có gì “bên dưới” hiện
Trang 18tượng cả Mọi sự vật không “che giấu” thứ gì bên trong, nó là chính nó Theoông, cần mô tả đối tượng như chúng đã xuất hiện trước ý thức chứ khôngđược suy diễn, nghĩa là chỉ nhận thức cái bản chất mà con người đã ý thức về
sự vật, không nên đặt vấn đề lý giải khái quát E Husserl được coi là ngườiđặt nền móng lý luận cho chủ nghĩa hiện sinh Tuy nhiên, E Husserl chỉ nhấnmạnh những hiện tượng của ý thức và cái tôi thuần túy chứ không phải cái tôi
cụ thể, cái tôi kinh nghiệm… nên khó tránh khỏi màu sắc duy tâm Hiệntượng luận, tức giai đoạn Edmund Husserl chấm dứt, mở đầu cho giai đoạnhai của Hiện tượng luận, tức là giai đoạn của chủ nghĩa hiện sinh từ cuốinhững năm hai mươi đến cuối những năm năm mươi thịnh hành ở Pháp
Như vậy, chủ nghĩa hiện sinh đã sinh thành trong một điều kiện hết sứcđặc biệt của phương Tây, chống lại chủ nghĩa duy lý với những mặt tồn tại của
nó và có mầm mống hạt nhân từ rất nhiều mảnh tư tưởng của những nhà triếthọc vĩ đại Kinh qua một lộ trình dài, tới thế kỉ XX, chủ nghĩa hiện sinh đã thực
sự trở thành một trào lưu đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con ngườihiện đại, gây hiệu ứng to lớn đối với nhiều lĩnh vực và quốc gia trên thế giới
1.2 Những tư tưởng chính của chủ nghĩa hiện sinh
Vấn đề tư tưởng là vấn đề có tính chất lý luận sâu sắc, mở ra tầm nhìn chotoàn bộ một trào lưu chủ nghĩa Và thường những tư tưởng xuất hiện dựa trêncác quan điểm của một số “thủ lĩnh” đại diện cho trào lưu đó Chủ nghĩa hiệnsinh là sự hội tụ của nhiều gương mặt những nhà triết học lớn thuộc hai nhánhhữu thần (Karl Jaspers, Gabriel Marcel…) và vô thần (Martin Heidegger, JeanPaul Sartre…) dù có những khác biệt và bất đồng nhất định nhưng điều nàykhông làm ảnh hưởng nhiều tới tư tưởng chung mà trào lưu triết học này hướngtới khi cùng quan tâm tới hiện hữu cá nhân như một chân lý nền tảng Nhìn mộtcách tổng quan nhất, chủ nghĩa hiện sinh đặc trưng bởi những tư tưởng sau:
Một là, các nhà hiện sinh gặp nhau ở tư tưởng coi con người như một
“nhân vị”.
Trang 19“Nhân vị của con người chính là hiện sinh của nó, mang bộ mặt riêng biệt, đặc thù, xa lạ với mọi tính cách phổ quát.
Chủ nghĩa hiện sinh chỉ quan tâm đến cái gì hiện sinh, hay nói cách khác về sự hiện sinh của cái gì hiện sinh, mà hiện sinh chỉ có ở con người, không có ở bất cứ vật nào” (Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở
Việt Nam, Nguyễn Tiến Dũng)
Cái mà chủ nghĩa hiện sinh hướng về là con người nhưng đó không phảicon người phổ quát, con người viết hoa của Aristot, mà là con người như mộtnhân vị, là tôi, là anh, là ông A, bà B, chứ không phải con người vô danh, vô
vị Đề cao chủ thể tính, con người tách khỏi loài vật, tự ý thức về sự hiện sinh
của mình, về thân phận mình trong thế giới hiện tại Con người hiện sinh luônnhìn thẳng vào sự vật với nhãn quan của mình chứ không phải Thượng đế,thần linh Và để được hiện sinh, con người luôn tham vọng đạt tới cái màngười ta muốn trở thành
“Nhân vị”, theo các nhà hiện sinh bao giờ cũng gắn liền với “tự do” “Tự do” đó không ai ban bố cho con người mà con người tự lựa chọn khi hành động, dám là mình Cao hơn nữa, “tự do” còn là chọn lấy một lối sống riêng, không bắt
chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác Sự
tự lựa chọn đó của con người cũng là một giá trị hiện sinh tạo nên một “nhân vị độc đáo”, vượt khỏi một cuộc sống tầm thường, sống chỉ để sinh tồn.
Hai là, con người với vị trí trung tâm của sự khám phá luôn trở nên độc
đáo, thú vị đối với chính con người (ý của Empedocl, nhà tư tưởng Hy Lạp
cổ) vì vậy khi coi bản thân con người là một “nhân vị” xung quanh chủ nghĩa
hiện sinh tồn tại rất nhiều phạm trù liên quan, sau này cũng là đề tài cho cácnhà văn hiện sinh hướng đến
Trước hết, chủ nghĩa hiện sinh nhắc tới phạm trù “buồn nôn” như một thái
độ triết học về sự trầm tư của con người trước cái phi lý của thế giới, là những
Trang 20tình cảm nặng nề khó chịu không lý giải được trước cái hiện hữu chưa thành
hiện sinh của con người (theo Nguyễn Tiến Dũng) Hoặc có thể hiểu “buồn nôn”
là ý thức sâu xa về giá trị nhân vị của con người, là trạng thái sinh hoạt lầm lì củathường nhật, là cảnh sống của những con người chưa vươn lên tới mức đíchthực, còn cam chịu sống như cây cỏ, động vật (theo Trần Thái Đỉnh)
Thứ hai, chủ nghĩa hiện sinh lưu tâm tới phạm trù “cô đơn” Con người
“cô đơn” vì tự mình làm nên mình, làm nên thế giới, sống với tư duy của
mình không dựa vào ánh sáng lý luận nào
Nhưng cũng chính vì sống với sự cô đơn mà con người có thể kết thúc
bằng phạm trù thứ ba đó là “cái chết” Các triết gia hiện sinh coi cái chết có một ý nghĩa đặc biệt đối với sự sống: “Tôi chỉ hiện sinh khi tôi không hiện sinh nữa” Cái chết là kết thúc cho con người khỏi bi kịch, thoát khỏi vướng
mắc khó giải thoát Đó là sự cố trong cuộc đời bi thảm, gắn liền với nhân vị
Thứ tư, các nhà hiện sinh đều gặp nhau ở phạm trù “lo âu”, một cung bậc cảm xúc thể hiện sự bất an, tiêu cực Nó xuất phát từ “tự do” (theo Sartre), bởi vậy người khước từ “tự do” thì chẳng còn “lo âu” Kierkegaad nhìn “lo âu”
như một cơn choáng váng, như khi người ta đứng từ trên cao nhìn xuống
không trung và không tránh khỏi cơn chóng mặt Bởi thế “lo âu” cũng tiềm
tàng sự hấp dẫn
Thứ năm, phạm trù “tha hóa” được chủ nghĩa hiện sinh đề cập đến như một biểu hiện tự đánh mất mình của con người “Tha hóa” có thể biến cá thể thành kẻ
khác Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này của con người đó là sự thụ động tôn thờ
một lý tưởng đã được xác lập Để thoát khỏi sự “tha hóa”, con người phải tự tạo
ra những quy chuẩn cho mình, tự mình phát minh ra mình, đồng nghĩa với việc
mỗi cá nhân phải “tìm thấy cái tôi của mình” rồi sống theo nó.
Thứ sáu, chủ nghĩa hiện sinh còn hướng tới các phạm trù “vươn lên”, “nhập cuộc” như một thái độ sống, hành vi đầy trách nhiệm không thể thiếu của con người
Trang 21hiện đại Tư tưởng này được Thánh Augustin, ông tổ triết học hiện sinh thể hiện rất
rõ: “Không tiến là lùi rồi!” Còn Sartre chủ trương con người phải luôn tiến lên và tiến lên mãi: “con người phải hành động, và chính nhờ hành động mà tự tác thành lấy mình”, dừng lại ở một trạng thái nào đó là có nguy cơ trở thành sự vật.
Ngoài những phạm trù trên, chủ nghĩa hiện sinh còn nêu ra nhiều đề tàikhác nữa mang tính tư tưởng sâu sắc
Như vậy chủ nghĩa hiện sinh với đối tượng hạt nhân là con người đã tập
trung khám phá bảng màu sặc sỡ xung quanh về vấn đề “nhân vị” Những vấn
đề mà hiện sinh chủ nghĩa đề cập tới về cơ bản đều nằm trong tư tưởng, cácthuyết lý, quan điểm của các nhà triết học lớn Dù mỗi nhà triết thuyết có mộtcách lí giải, một cách biểu hiện nội dung của nó dưới những dạng thức khácnhau, có khi là tiếp thu ảnh hưởng, có khi là phản đối không đồng tình nhưngcuối cùng đều đem lại cho trào lưu triết học này một hệ thống khái niệmtương đối thống nhất như đã trình bày ở trên
1.3 Sơ lược về sự biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học
Chủ nghĩa hiện sinh về cơ bản là một trào lưu triết học nhưng sức lan tỏacủa nó thì vô cùng rộng lớn, ảnh hưởng và thấm sâu vào toàn bộ các mặt củađời sống như tôn giáo, đạo đức… nhất là văn học Triết học thường gắn liềnvới văn học vì chúng cùng có một đối tượng chung nhất để hướng tới đó làcon người Những tư tưởng mà triết học hiện sinh đề cập bởi vậy xâm nhậpvào văn chương một cách tự nhiên và lôi cuốn
1.3.1 Trong văn học thế giới
Trên thế giới, ngay từ thế kỷ XX, các tác phẩm văn học như: truyện ngắn,tiểu thuyết, kịch, nghiên cứu văn học đã được các nhà hiện sinh sử dụng để trìnhbày quan điểm cá nhân Điều này lí giải vì sao châu Âu, nơi là cội nguồn củatriết học hiện sinh gần như cùng một lúc văn chương hiện sinh đã hình thành.Dòng văn hiện sinh xuất hiện đầu tiên ở Pháp Sau đó, tiếp tục lan rộng ra nhiều
Trang 22nền văn học khác trên thế giới như Tây Ban Nha, Anh, Tây Đức… Sức mạnhcủa nó bao trùm lên cả những quốc gia phương Đông xa xôi như Nhật Bản, ViệtNam… và tạo ra những dấu ấn nhất định trong văn học.
Nhìn một cách tổng thể, tinh thần của chủ nghĩa hiện sinh gây tác động
và được hấp thu khá đa dạng, đặc sắc ở nhiều quốc gia dân tộc, song cơ bảnvẫn xoay quanh những trụ chung như miêu tả đời sống giống một tấn bi kịch,nhiều mê lộ, phi lý và bất ổn; ở đó bức tranh tâm lý con người hiện lên là nỗi
cô đơn, sự tha hóa, thậm chí đầy nổi loạn trước những điều bất hợp lý, khaokhát tìm kiếm tự do, lối thoát cho bản thân…
Nhằm chuyển tải những nội dung cơ bản trên, dòng văn chương hiện sinh
có một hệ thống đề tài tương đối rộng song nổi bật nhất ở “cái phi lý”, “lo âu”
và “tự do” Trong đó, “cái phi lý” đi liền với những thảm họa do chủ nghĩa
phát xít gây ra Con người không giải thích được cuộc sống khi tồn tại trướcmặt họ là những cảnh đổ nát hoang tàn Thế giới là một sự phi lý, con người
luôn trăn trở: mình đi về đâu?, tồn tại thế nào? và tương lai ra sao? “Buồn nôn” của Sartre, ông viết: “Tôi đã tìm thấy chìa khóa của hiện sinh, chìa khóa buồn nôn của tôi, của chính cuộc đời tôi: cái tuyệt đối hay là cái phi lý” “Sự lo âu”
nảy sinh khi con người nhận thức được sự phi lý của thế giới nhưng không thểgiải thích nổi do đó nó vừa khủng khếp, vừa thu hút, vừa tạo nên sự hưng phấn
kinh sợ, một sự đau khổ, dày vò con người Và, “tự do” theo Sartre: “con người bị kết án phải tự do, con người phải tự do trong bất cứ hoàn cảnh nào”,
tức là tự do là do mình tự quyết định theo lương tri của mình, tự trách nhiệmmỗi lựa chọn của chính mình Chính cái tự do quyết định ấy dẫn đến nhữnghoang mang, khắc khoải, lo sợ siêu hình, cô đơn trong cuộc sống
Có thể nói, văn học hiện sinh quan tâm tới con người, đối kháng lại xãhội bất công phi lý đương đại có lúc tỏ ra bi quan, tiêu cực về số phận Nhưngkhi cho rằng tồn tại có trước bản chất, nó nhấn mạnh sự hoạt động tích cực
Trang 23của mỗi cá thể Con người không đứng yên bất động, tồn tại như cái gì đó đãđược xác định mà luôn sống động, phải lựa chọn và có ý thức chịu trách
nhiệm với bản thân Nói cách khác, vũ trụ và con người chỉ là hữu thể Vũ trụ
chỉ tồn tại khi có ý nghĩa đối với cuộc sống con người Mỗi cá nhân chỉ hiệnsinh khi kinh qua việc thử nghiệm cuộc sống, bản thân ý thức được, lúc ấy họmới hiện hữu Do vậy con người không chỉ như anh ta quan niệm, mà cònnhư anh ta muốn sau khi đã ao ước sống; con người không là gì khác ngoàicái mà bản thân anh ta tự làm nên (ý của Sartre) Đó là nguyên tắc đầu tiên
của thuyết hiện sinh Đó cũng là cái mà người ta gọi là tính chủ thể.
Lịch sử văn học hiện sinh thế giới gắn liền với một loạt những tên tuổi lớnhoặc đồng thời là những triết gia hiện sinh, hoặc tác phẩm của họ mang đậm tínhluận đề triết học hiện sinh như: J P Sartre, Simone de Beauvoir, Merleau Ponty,Hermann Hesse, A Camus, F Kafka, Alfred Doeblin, Iris Murdoch, JamesBaldwin, Abe Kobo, Norman Mailer, Samuel Becket, Ionexco… Trong đó, F.Kafka là người đầu tiên sáng tác những tác phẩm mang đậm chất hiện sinh và J
P Sartre, A Camus được coi là ba tác giả văn học hiện sinh “chính thống” nhất
F Kafka (1883 – 1924) được coi là con chim đầu đàn của văn học hiệnsinh Đức Các sáng tác của ông đều thấm đẫm tư tưởng hiện sinh, nhưng biểu
hiện tập trung nhất qua hai cuốn “Vụ án”, “Lâu đài” Cặp đôi tiểu thuyết này
phản ánh một đời sống hiện thực nhiều phi lý bao quanh con người Ở đó, xãhội không khế ước, không có sự đảm bảo, con người bị buộc tội bất kì thờiđiểm nào, không có quyền được khiếu nại hay xét xử Thậm chí, xã hội ấyđường phố không tên, con người không tên hoặc chỉ là những chữ cái viết tắt
và hầu như chẳng nhân vật nào làm công việc của mình tất cả bao trùm bởibầu không khí ảm đạm và khó hiểu Josef K và K là hình ảnh tượng trưng chothân phận con người trong thế giới phi lý ấy Họ luôn sống trong bất lực và lẻloi, cô đơn và mang nặng tâm trạng lo âu, bất an khôn cùng trước bể đời dầydẫy những điều phi logic
Trang 24J P Sartre (1905 – 1980) và A Camus (1913 – 1960) chính là hai gươngmặt nòng cốt của triết học hiện sinh Pháp Trong vai trò những nhà văn, hai ông
chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm Kafka về vấn đề cái “phi lý” Từ cái phi lý, J P Sartre còn tìm đến với phạm trù “tự do” và ở A Camus là chủ đề “nổi loạn” Hai sáng tác văn học “Buồn nôn” (tiểu thuyết, 1938), “Ruồi” (kịch,
1943) của J P Sartre đều như một phương tiện hữu hiệu giúp ông thể hiện tư
tưởng triết học của mình “Buồn nôn” được viết dưới dạng nhật ký đã “mở
đầu một thời đại hiện sinh ở châu Âu” Tác giả phân tích tâm lý, trí tưởngtượng và những trạng thái cảm xúc con người trên bình diện hiện tượng học,
có phản biện lại Husserl để đưa ra quan điểm của riêng mình Nhân vậtRoquentin “nôn mửa” trước sự vật im lìm bất động (cảnh trong vườn, nhữngđám mây…), trước cuộc đời quẩn quanh những lối mòn Anh dũng cảm vénbức màn nhận thức giả dối bấy lâu che lấp con người với thế giới để nhậnthức ra rằng: hiện sinh không phải là sự tất yếu, đó chẳng qua là những sựtrùng hợp ngẫu nhiên hay bản chất của thế giới là vô thường, vô đích và hoàntoàn phi lý, nó có đấy nhưng không nguyên nhân, không lý do và không thể lýgiải Hiện thực và con người chẳng có gì ràng buộc nhau cả, con người có tự
do, nó thuộc về tương lai, nó tự tạo nên bản chất của mình qua “dự phóng”
Phạm trù “tự do” tiếp tục được Sartre triển khai trong vở kịch “Ruồi” Hoàng tử Oreste tiêu biểu cho triết lý tự do của thuyết hiện sinh: “Tôi là tự do của chính tôi” Chàng không chịu khuất phục trước thần quyền và thế quyền,
không sợ bị chị gái và đám dân chúng ghét bỏ, không sợ những con ruồi báothù bao vây đuổi đốt, tự mình đảm nhận trách nhiệm chiến đấu chống lại cái ác:
“… ta là một con người, và mỗi con người phải tìm ra con đường của mình”.
Với hai tác phẩm này nền văn nghệ thời mới đã thực hiện được cuộc hônphối toàn bích với khoa triết lý Văn chương là minh chứng cụ thể cho những
Trang 25tư tưởng hiện sinh triết học, là lời giải nghĩa xác đáng nhất cho hàng loạtnhững lý thuyết mà Sartre nêu ra.
Với A Camus, văn học cũng thực hiện nhiệm vụ của triết học Viết “Kẻ
xa lạ” (tiểu thuyết, 1942) và “Dịch hạch” (tiểu thuyết, 1947) ông xây dựng
nhân vật Merseau và Bernard Rieux, Jean Tarrou để chỉ ra sự vô nghĩa củacuộc sống, sự nổi loạn của con người, điều xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng
cũng như lý luận của chủ nghĩa hiện sinh mà ông theo đuổi Merseau (“Kẻ xa lạ”), coi tình mẫu tử, tình yêu đôi lứa, giết người, cái chết… chẳng có gì quan
trọng cả Anh ta khước từ các chuẩn mực xã hội áp đặt lên hành vi của bảnthân và muốn sống đích thực với chính con người mình Bởi thế, Merseau là
kẻ lạc loài, xa lạ với xã hội và anh ta bị xã hội kết án Bernard Rieux (bác sĩ),
Jean Tarrou (trí thức) (“Dịch hạch”) cùng sống trong thành phố Oran bị dịch
chuột lan rộng, mất kiểm soát Nhưng họ không giống như phần đông nhữngcon người còn lại của thành phố vì sợ bệnh dịch mà hoặc sống trong hãi hùng,
hoặc tìm những thú vui quên nỗi lo âu, hoặc “thản nhiên lợi dụng cảnh khốn chung” để làm giàu Họ can đảm, không tuyệt vọng, bằng những phương tiện
ít ỏi mà chống lại sự hoành hành của bệnh Rieux có suy nghĩ đơn giản nhưng
quyết liệt: “nếu không điên thì cũng mù, không mù thì cũng hèn nhát mới cam chịu buông tay trước dịch hạch”, “sức lực tôi đến đâu thì tôi bảo vệ họ đến đó…” Những lời nói, hành động của Rieux đã thuyết phục được nhiều người,
trong đó có Jean Tarrou đã tình nguyện đứng lên chống lại bệnh dịch
“Kẻ xa lạ”, “Dịch hạch” đã thể hiện rất rõ những tư tưởng của A Camus
về cái “phi lý” và sự “nổi loạn”, nhân vật trong hai tiểu thuyết chính là con
người xa lạ trong xã hội phi lý, nhưng họ luôn có ý thức chống lại cuộc sốngmáy móc, mờ nhạt, sống không mục đích, không nhận thức được cả ngaychính bản thân mình A Camus một mặt tiếp tục Kafka là người đẩy quanniệm về cái phi lý lên đến đỉnh điểm, mặt khác ông đề cập tới sự nổi loạn như
Trang 26một phạm trù tất yếu khẳng đinh giá trị hiện sinh của con người Ông làngười nghệ sĩ trong phong trào hiện sinh Ở Việt Nam, thanh niên, trí thứcmiền Nam trước 1975 biết đến chủ nghĩa hiện sinh phần lớn qua sáng táccủa A Camus.
Như vậy hầu hết những triết gia hiện sinh, họ đồng thời cũng là nhữngnhà văn lớn của thời đại Tư tưởng mà họ đề cập trong triết học hiện sinh đivào văn chương một cách tự nhiên, độc đáo, thể hiện rõ tinh thần của họ, cũng
là của thời đại Sau này hầu hết tác phẩm của các nhà triết thuyết ấy đều cóảnh hưởng tới một bộ phận không nhỏ những nhà văn ở châu Âu mà cảphương Đông Nếu tìm đọc bất kì triết thuyết nào về chủ nghĩa hiện sinh, say
mê với nó và tìm cho mình một người “bảo hộ tinh thần”, người thủ lĩnh màbản thân tâm đắc để đi theo thì điều hiển nhiên văn chương của nhà văn nào,của dân tộc nào cũng nhận ra rõ rệt một nhà hiền triết trong bản thân mỗi tácphẩm của mình Bởi đó là hấp thu, là tiếp nhận từ triết học vào văn học, đểvăn học phát triển một tư tưởng triết thuyết nào đó của người có quyền uytinh thần mà mỗi nhà văn tâm đắc đi theo Tuy vậy sáng tạo là không giớihạn, tư duy hiện sinh ở một nhà tư tưởng có thể tác động tới nhiều nhà vănkhác nhưng cách mỗi nhà văn lĩnh hội tư tưởng đó, lựa chọn và thể hiện làkhông giống nhau Chẳng có gì ngạc nhiên khi từ phương Tây, sang phươngĐông chủ nghĩa hiện sinh đã mang trong lòng nhiều sắc thái, nó tồn tại ở NhậtBản và thậm chí gây dấu ấn mạnh mẽ ở nhiều quốc gia khác trong đó có ViệtNam Đi vào văn học, các tác phẩm mang hơi thở hiện sinh nhất quán ở chỗ
nó thể hiện đây là một hình thức chủ nghĩa phi duy lý phản ứng lại chủ nghĩaduy lý nhưng có sự tương hỗ tạo nên ý thức hệ của xã hội
Tóm lại, con đường đến với văn chương của chủ nghĩa hiện sinh đã trải quamột lộ trình nhất định Đó là sự lồng ghép tư tưởng hiện sinh vào nghệ thuật tạo
ra các tác phẩm độc đáo Chủ nghĩa hiện sinh từ khi xâm nhập vào văn học đã
Trang 27tạo nên một dòng văn chương mang tên trào lưu này ở phương Tây với nhữnggương mặt tác gia lớn Nó có sức lan tỏa mạnh mẽ trở thành một dấu ấn đậm néttrong văn chương khi đến với nhiều quốc gia dân tộc trên thế giới.
1.3.2 Trong văn học Việt Nam
Đối với văn học nước ta, yếu tố hiện sinh đã xuất hiện từ những năm
1930 – 1945 trong sáng tác của Nhất Linh Cuốn tiểu thuyết “Bướm trắng” là
một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa Nhất Linh và Camus trong việc triển khai
các chủ đề “về tính chất phi lý của cuộc đời, về vấn đề tự tử, về sự ngộ nhận,
về tính sa đọa của con người” (theo Thụy Khuê) Tuy vậy, dấu ấn của chủ
nghĩa hiện sinh trong văn học thật sự trở nên đậm nét trong bộ phận văn học
đô thị Miền Nam vào giai đoạn 1954 – 1975 Trong bối cảnh một Việt Nam bịchia cắt, các tư tưởng của trào lưu này nhanh chóng được giới thiệu ở đô thịMiền Nam khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, kéo theo sự ra đi của chủnghĩa duy linh nhân vị
Biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh ám ảnh ngay từ nhan đề của nhiều tácphẩm văn học Nó thể hiện sự buồn thảm, hư vô trong cuộc sống con người
Ví dụ, tác giả Duyên Anh có những tiểu thuyết mang tên: “Điệu ru nước mắt”, “Nước mắt lưng tròng”, “Sa mạc tuổi trẻ”, “Ảo vọng tuổi trẻ”, “Luật hè phố”… Tác giả Nguyễn Thị Hoàng có các sáng tác: “Bóng tối cuối cùng”,
“Buồn như đời người”, “Vực nước mắt”, “Cuộc tình trong ngục thất”… Nhà văn Nhã Ca có các tác phẩm: “Bóng tối thời con gái”, “Cô hippy lạc loài”…
Quan trọng hơn, dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh biểu hiện một cách thốngnhất trong nội dung sáng tác của các nhà văn Đời sống được miêu tả như mộtthảm kịch, một hư vô, phi lý Ở đó con người bé bỏng, kiếp người mongmanh chới với trong ngập tràn đau khổ, cô đơn, chia lìa Nhiều khi họ muốnnổi loạn để trốn thoát hiện thực bế tắc
Soi chiếu vào thực tiễn sáng tác có thể thấy ảnh hưởng của chủ nghĩa
hiện sinh qua nhiều cây bút cụ thể Các nhà văn nói nhiều đến sự “phi lý”, “cô
Trang 28đơn” và “nổi loạn” Nguyễn Thị Hoàng ví cuộc sống như một “thành lũy hư vô” Ở đó “Không có ánh sáng rực rỡ của sửng sốt ngạc nhiên và nồng nàn của xôn xao rung cảm”, mọi cảm xúc đã bị lịm chìm, chỉ còn lại con người
kéo lê thân xác trong cõi hồng trần mà thôi Còn Thanh Tâm Tuyền nhìn đời
như một “bãi cát lầy” Ở đó chỉ có những kiếp sống nhày nhụa, lầm lỗi trong tuyệt vọng và “tôi không tìm thấy tôi Tôi không tìm thấy mình ở ngoài không gian và thời gian, ở ngoài cơ thể tôi Ngông cuồng và tự ái nhốt chặt tôi vào
hư vô ảo tưởng” Trong tác phẩm “Tuổi Sài Gòn” Nguyễn Thị Hoàng viết:
“Mỗi tuổi trẻ là một vũ trụ cô đơn khác để rồi chỉ còn một mình kêu thương không ai đoái hoài, chỉ còn một mình trong bóng tối như lũ mèo hoang chuyển mình lầm lũi từ mái nhà này sang mái nhà khác để kiếm tìm cái gì hơn tiếng kêu thê thảm của mình” Duyên Anh trong “Sa mạc tuổi trẻ” lại lên tiếng: “Tôi muốn nổi loạn tức thì, đi chơi, phá phách, khiêu vũ, ăn uống, nói cười thật điên cuồng mê mải, để trong một lúc có thể nhấn chìm con người tôi xuống đáy biển quá khứ tối tăm, cho tôi quên đi, quên tôi đang sống, nghĩa là đang đến gần cái chết”.
Có thể nói, sự tác động của xã hội, cùng với những ảnh hưởng của chủnghĩa hiện sinh đã đưa lại cho văn chương đô thị miền Nam 1954 – 1975 mộtmàu sắc mới Các tác phẩm này đã thể hiện được một cách khá sinh động,chân thực về tâm trạng lo âu của con người trong một hoàn cảnh lịch sử đặcbiệt Tuy nhiên, các sáng tác này cũng có những hạn chế nhất định khi đôi lúclên án tô đậm sự bi quan, bế tắc của con người
Từ sau năm 1975, đất nước được hoàn toàn độc lập Đặc biệt, từ sau năm
1986, đại hội Đảng VI cùng đường lối đổi mới toàn diện đã tạo điều kiện thuậnlợi cho chủ nghĩa hiện sinh và các trào lưu tư tưởng phương Tây hiện đại dunhập và lan tỏa ảnh hưởng ở nước ta Đến cuối những năm 80, vấn đề con ngườilại thu hút những người cầm bút, âm hưởng hiện sinh lại dấy lên trong sáng tác
Trang 29các nhà văn Những day dứt hiện sinh trong khung cảnh một đời sống hòa bìnhvới nhiều nghịch cảnh đã trở lại bằng con đường hình tượng.
Nhiều gương mặt tác giả nổi lên với những ám ảnh hiện sinh trong từngtrang sách Đó là thế hệ đi trước như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp vànhững thế hệ nối tiếp như Nguyễn Việt Hà, Đoàn Minh Phượng, Tạ Duy Anh,Nguyễn Bình Phương…
Trong đó, tác phẩm Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp mang cảm quan
về tính “phi lý” của đời sống hiện đại nhiều biến động Ở đấy, con người luôn
tồn tại cảm giác bất an, sự “lệch pha” giữa cá nhân với cộng đồng đẩy họ vào
trạng thái hoang mang và cô đơn Tiểu thuyết “Thiên sứ”, Phạm Thị Hoài mở
ra một xã hội không yên bình, cái đẹp bị bao vây, nhiều mâu thuẫn, bất công
như một khởi nguồn của cái “phi lý” Sống trong hiện thực ấy, nụ cười hài nhi
thánh thiện, nụ cười cầu thân với tất cả của bé Hon trở nên lạc lõng và là mộtthứ “xa xỉ” Nỗi cô đơn của bé Hon được cô đặc lại, lắng sâu trong tiềm thứcmỗi con người như giọt nước mắt rơi lặng lẽ trong bóng tối quạnh vắng Giọtnước mắt ấy chính là giọt cô đơn giữa biển cả cuộc đời trong trái tim của mộtcon người khao khát mang đến tình yêu giữa thế giới đang bị phủ vây bởi sựghẻ lạnh, tục tằn
Tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện thế giới “không có vua”, “biển không có thủy thần” Con người mê mải đi tìm điều thiện và cái đẹp nhưng càng đi càng thấy mình cô đơn Ông Thuấn trong “Tướng về hưu” là niềm
vinh dự tự hào của cả dòng họ vì lối sống ngay thẳng, trong sạch, không vụlợi của một người đã từng được luyện rèn trong quân đội Nhưng bước ra khỏichiến tranh, trở về với đời thường, ông không hòa hợp được với cuộc sốngthực dụng Ông khóc khi chứng kiến những nhau thai nhi trong nồi cám,luống cuống khổ sở trong một đám cưới ngoại ô lố lăng, dung tục, ngán ngẩm
trước việc đứa con dâu ngoại tình… Một khối cô đơn khổng lồ đè nặng lên
Trang 30tâm hồn ông Thuấn Nó xuất phát từ sự mâu thuẫn của lý tưởng cao đẹp trong
“bầu không khí vô trùng” một thời với sự thật trần trụi tới phi lý của thời này.
Những năm 90 trở lại đây, yếu tố hiện sinh in dấu trong sáng tác củanhững nhà văn trẻ Tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà luôn phảng phất một cảm
thức cô đơn, xa lạ về con người Nhân vật Hoàng trong “Cơ hội của chúa”
lang thang từ Hà Nội đến Sài Gòn, từ những khách sạn sang trọng đến khu ổchuột nhưng không nơi nào anh hòa nhập được Hoàng lạc lõng và xa lạ vớithế giới của đồng tiền, quyền lực, thế giới của công sở trong hiện tại và mù
mịt về tương lai Bản chất của nhân vật Hoàng trong “Cơ hội của Chúa” là
trong trắng nhưng khi anh ta phải đối diện với cuộc đời nhiều hoen ố và tệ bạcthì “bị ăn đòn” (theo Nguyễn Việt Hà) Nói như Nguyễn Văn Dân: Nhân vậtHoàng có sự giống các nhân vật cô đơn, không hòa nhập với cộng đồng củavăn học phi lý
Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng xuất hiện nỗi buồn như một ám ảnh của
kiếp nhân sinh Trong “Và khi tro bụi”, cái chết trở thành một tác nhân của
nỗi buồn trong cuộc đời nhân vật An Mi Nó lặp lại trong nhiều thân phận:người chồng, Anita, người cha nuôi, người mẹ và em gái từ thời ấu thơ của
cô An Mi cố tìm và lí giải về cái chết nhưng càng tìm càng thấy bản thânmình vô minh, có một nỗi buồn mơ hồ cứ tan loãng, trải dài suốt cuộc đời cô.Khi An Mi nhận ra ý nghĩa của nó cũng là lúc cô phải lìa đời
Tiểu thuyết Tạ Duy Anh xuất hiện con người mang nỗi ám ảnh, sợ hãi
như một sản phẩm phi lý của hoàn cảnh “Thiên thần sám hối” viết về nỗi đau
làm người và chưa được làm người của một hài nhi đang lựa chọn có nên làm
người hay không Trong cảm nhận của bào thai, cuộc sống ngoài kia “như một cái lò mổ sát sinh” Ở trong bện viện ba ngày, nó theo chân mẹ đi khắp
nơi giúp đỡ mọi người và nghe được bao nhiêu chuyện về nhân tình thế thái
Toàn là những chuyện “tàn ác, liêm xỉ và vô lương” khiến “quỷ khốc thần
Trang 31sầu” Bào thai hoài nghi về sự sống của con người: “Tôi cảm nhận cuộc sống ngoài kia như một cái gì khủng khiếp đang diễn ra hằng ngày” Từ suy nghĩ
ấy, nó quyết định dừng cuộc hành trình đến với trần gian để quay về làm thiênthần vĩnh viễn
Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương cũng làm xuất hiện những nhân vậtluôn trong trạng thái như hoài nghi, cô độc, lo âu giữa vòng xoáy cuộc đời.Theo chúng tôi, đó là những mảnh ưu tư hiện sinh thường trực trong mỗi cáthể mà bằng tài năng và những cảm nghiệm già dặn trước hiện thực nhiềuphức tạp, Nguyễn Bình Phương đã khéo léo đưa vào trang viết của mình
1.4 Những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện khá phổ biến của yếu tố hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện nay nói chung và tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nói riêng
1.4.1 Điều kiện xã hội
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước củadân tộc ta đã giành được thắng lợi, non sông liền một dải Bước ra từ đauthương súng đạn, Việt Nam tiến tới thời kỳ khôi phục và phát triển Tuynhiên, từ thời chiến sang thời bình; từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh
tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa; từ quan hệ chính trị, kinh tế hầunhư khép kín trong các nước xã hội chủ nghĩa sang mở cửa hội nhập toàn cầu
đã tất yếu kéo theo nhiều chuyển biến về mặt xã hội
Chiến tranh là một trạng thái đời sống “bất bình thường”, con người phảithu hẹp cuộc sống cá nhân riêng tư nhường chỗ cho đời sống chung tập thể.Nhưng nay hòa bình trở lại, con người trở về với đời thường, cái đời thườngphức tạp, muôn màu muôn vẻ, pha trộn tốt xấu, trắng đen, bi hài… Ý thức cánhân với mọi nhu cầu của con người như một cá thể, một thực thể sống đượcthức tỉnh trở lại Các chuẩn mực, giá trị về xã hội, đạo đức, nhân cách… bềnvững trước đây, lúc này có đôi chỗ đã không còn phù hợp, có nguy cơ lung
Trang 32lay rạn nứt Trong khi đó các chuẩn giá trị mới chưa thực sự khẳng định đượcchỗ đứng bền vững của mình.
Trong tình hình ấy, đời sống văn hóa - tư tưởng cũng có diện mạo và diễnbiến khá phức tạp Có khi sự phê phán những hạn chế, bất cập của một thời đãqua được đẩy lên thành sự phủ định sạch trơn, thành thái độ cắt lìa, quay lưnglại với mọi giá trị truyền thống Trong khi đó lại không ít người rơi vào tình thếlưỡng nan, trở thành những kẻ lạc thời, không tìm thấy chỗ đứng trong xã hội
mới Cơ chế thị trường thời kỳ đổi mới cùng những tác động từ toàn cầu hóa
cũng đã làm biến đổi những căn rễ trong tâm hồn người Việt Xã hội xuấthiện một bộ phận dân cư, nhất là lớp trẻ có tâm lý thực dụng, sùng ngoại, lốisống chạy theo hưởng thụ vật chất mà coi nhẹ giá trị tinh thần vô giá
Có thể nói, những điều kiện xã hội nói trên là một trong những tiền đềquan trọng dẫn đến sự xuất hiện khá phổ biến của yếu tố hiện sinh trong vănhọc Việt Nam hiện nay
1.4.2 Sự thay đổi trong định hướng văn học
Văn học Việt Nam sau 1975 chỉ thực sự có bước chuyển mình mạnh mẽkhi nhận được sự khuyến khích từ những chủ trương, chính sách của Đảng vềvăn hóa văn nghệ Đây thực sự là nguồn cổ vũ to lớn, là định hướng bước đầucho người nghệ sĩ dấn thân vào con đường cách tân góp phần làm thay đổidiện mạo văn học nước nhà
Ngày 15 tháng 4 năm 1986, Ban bí thư ra chỉ thị về công tác tư tưởng
mở rộng dân chủ Hai tháng sau đó, tiếp tục ra thông báo tuyên truyền trênbáo chí về phê bình và tự phê bình (đợt 1, ngày 20 tháng 5 năm 1986; đợt 2,ngày 21 tháng 6 năm 1986) Đến tháng 12 năm 1986, Đại hội Đảng VI đượctiến hành Ba dấu mốc đó đã thể hiện sự đổi mới của Đảng về tư duy, nhậnthức khi nhìn thẳng vào sự thật, phát huy tinh thần dân chủ trong xã hội.Chính điều này đã góp phần tạo nên bầu không khí mới cho sáng tạo văn học
Trang 33Ngày 28 tháng 11 năm 1987, nghị quyết 05 của Bộ chính trị đề ra yêucầu nền văn hóa văn nghệ phải đổi mới trong tư duy, cách nghĩ, cách làm.Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo và yêu cầu có những thểnghiệm mạnh bạo trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loạihình, thể loại nghệ thuật cũng như các hình thức biểu hiện Chỉ thị 31 của Ban
bí thư về thực hiện nghị quyết 05 của Bộ chính trị cũng nhấn mạnh: các cấp
ủy Đảng cần nâng cao trình độ quản lý văn hóa, văn nghệ, khai thác mọi tiềmnăng sáng tạo, phát triển sự nghiệp văn hóa, văn nghệ một cách thuận lợi,chống lối gò ép, thiếu dân chủ Những quan điểm mới mẻ về văn hóavăn nghệ của Đảng đã tác động tới các cơ quan, tổ chức và công chúng làmthay đổi quan niệm nhận thức về văn học
Mặt khác, giai đoạn này, chúng ta cũng tiến hành nhiều hoạt động nhằmkhơi lại ý thức cá nhân, phục dựng những giá trị văn hóa trước đây bị giai đoan
1945 – 1975 bỏ qua Đó là việc giới thiệu lại Hoài Thanh thông qua tái bản cuốn
“Thi nhân Việt Nam” của ông Đó là việc in lại tác phẩm của Tự lực văn đoàn,
đề cao Thơ Mới, đưa một số sáng tác của Tự lực văn đoàn và Thơ Mới vàochương trình sách giáo khoa Bên cạnh đó, một số tác giả trước đây vì nhiều lý
do chưa được nhìn nhận thỏa đáng như Trần Dần, Lê Đạt,… cũng được Đảngtiến hành xem xét lại Đây được đánh giá như những bước chuyển tích cực chovăn học nghệ thuật, là nguồn động lực tạo ra sự phấn khích cho người cầm bút.Như thế, những đường lối lãnh đạo của Đảng đã tạo nên cơ hội cho văn họcvươn mình đổi mới Trong môi trường dân chủ hóa, người nghệ sĩ có cơ hội thểhiện mình, được nói thẳng nói thật những trăn trở của mình, thỏa sức sáng tạo,tìm tòi tạo nên những tác phẩm để lại nhiều dấu ấn trong lòng công chúng
1.4.3 Tình hình giao lưu văn học
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) là dấu mốc đáng ghi nhớ trong lịch sửdân tộc nói chung và trong lịch sử văn học nói riêng Văn học được mở ra một
Trang 34thời đại mới – thời đại của nền dân chủ, các nhà văn đã có một môi trườngmới nhằm thỏa mãn những thử nghiệm, những tìm tòi cách tân của mình Đây
là sự động viên, khích lệ đối với giới văn nghệ sĩ trên con đường sáng tạo.Hòa chung bầu không khí dân chủ, văn học Việt Nam có cơ hội tiếp xúc vớivăn chương thế giới Chính sự giao lưu đa chiều đã làm cho bức tranh văn họcnước nhà trở nên sôi động hơn bao giờ hết
Những trào lưu cùng những bậc thầy văn học của thế giới đã theo sáchbáo, dịch thuật vào trong nước Sự tiếp xúc với văn học phương Tây, đặc biệt
là tiểu thuyết hiện đại nước ngoài tác động mạnh mẽ vào văn học Việt Namtạo nên những chuyển biến trong ý thức người cầm bút Tất nhiên đó khôngphải là học tập một cách máy móc mà là học tập để phát huy và làm giàuthêm những gì mình đã có Đây là lí do vì sao chủ nghĩa hiện sinh ở Tâyphương cùng với những thành tựu khác của thế giới có cơ hội lan rộng, tạoảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống văn hóa văn học ở nước ta
“Sau chiến tranh, hoàn cảnh xã hội đã thay đổi, chủ nghĩa hiện sinh không còn chỗ đứng trong sinh hoạt trí thức” (theo PGS TS Huỳnh Như
Phương) vì đường lối xây dựng văn hóa quá nhấn mạnh vào đấu tranh giaicấp Mặc dù vậy, trước đấy nó gây ảnh hưởng khá rầm rộ trong đời sống vănhóa văn học đô thị miền Nam nên không thể chối bỏ rằng trào lưu này đã trởthành một phần của đời sống tâm hồn người Việt Những năm 80 – 90, trongkhung cảnh một đời sống hòa bình với nhiều nghịch cảnh, vấn đề con ngườinổi lên, chủ nghĩa hiện sinh một lần nữa gõ cửa nước ta
Một mặt, các sáng tác của J P Sartre, A Camus,… được hòa nhập vàovăn học như những thành tựu khác của văn chương thế giới Nó thu hút tới
mức: “người được gọi là trí thức phải có một bản dịch cuốn “Buồn nôn” của Sartre gối đầu giường, và phải là cuốn phô tô từ cuốn của Thư viện Quốc gia” (Nguyễn Tiến Dũng).
Trang 35Mặt khác, người ta có nhu cầu đọc lại chủ nghĩa hiện sinh trên bình diện
lý luận Đó là lí do dẫn đến việc xuất bản, tái bản những cuốn sách kinh điển
của thuyết hiện sinh, đặc biệt là cuốn “Văn học là gì?” của J P Sartre.
Ngoài ra bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa
hiện sinh đã tác động vào quá trình “nhà văn nắm bắt hiện trạng phi lý của thế giới duy lý hóa hiện đại, thấy được thân phận nhỏ bé của con người trước nền văn minh kỹ thuật của thế giới hiện đại” Điều đó thể hiện rõ trên các
trang viết “nổi sóng” của nhiều nhà văn như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm ThịHoài, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương,…Trên thực tế, các nhà văn Việt Nam không đồng thời là những tư tưởnggia của triết hiện sinh kiểu J P Sartre hay A Camus, họ cũng không là kẻphục chế những ý tưởng kinh điển của chủ nghĩa hiện sinh Nhưng trong sángtác của họ, ở một chừng mực nhất định, đã bộc lộ tri giác về thực tại và conngười mang hơi thở của triết học hiện sinh mà chúng tôi tạm gọi là dấu ấnhiện sinh Dấu ấn ấy hoặc được tác giả chủ động tiếp nhận và đưa vào tácphẩm, hoặc là sự thẩm thấu của vô thức Nhưng tựu chung lại, cái đích màdấu ấn hiện sinh hướng tới bao giờ cũng là thân phận con người cụ thể trongmột hoàn cảnh cụ thể Nó thấm đẫm tinh thần bi quan, màu sắc bi đát của conngười khi nhìn nhận, cảm nghiệm đời sống Con người vốn khao khát là mộtnhân vị độc đáo nhưng đồng thời họ phải chấp nhận những giới hạn nhậnthức, sự “dòn ải” của cuộc sống
1.4.4 Những nỗ lực tìm tòi của Nguyễn Bình Phương
Thuộc thế hệ nhà văn xuất hiện trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Namhiện đại từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây, Nguyễn Bình Phương “nhận diện” thời đạimình Đó là thời đại của con người trong guồng quay công nghiệp hóa, xã hộihiện đại với nhiều biến chuyển tích cực nhưng cũng không ít thách thức vớinhững xáo trộn, rạn vỡ thậm chí là tha hóa trong đời sống con người Chính điềunày đã dẫn tới quan niệm mới mẻ trong cách viết trên trang sách của ông
Trang 36Trước hết, tác giả quan niệm rằng nên “có thêm những bước mạo hiểm” để
“tiểu thuyết thêm phần phong phú” Thực tế, sản phẩm sáng tạo của ông đã thể hiện sự “dấn thân” mạnh mẽ của nhà văn trên lộ trình đầy gian nan ấy Tác giả
mạo hiểm thăm dò cái vô thức bản năng trong mỗi con người; mạo hiểm thửnghiệm những hình thức, biện pháp nghệ thuật mới (cấu trúc lập thể, lời câmnhân vật, kết hợp từ lạ, tách rời và lắp ghép các chữ cái, ); mạo hiểm khi xâydựng những nhân vật trần tục với những góc khuất lấp, phản ứng lại những điềuvẫn được coi là đức tin, tình yêu vốn cao thượng và trong sáng theo nhiều sắcthái Dù khi ra đời những đứa con tinh thần của tác giả nhận được không ít
những lời khen, tiếng chê nhưng quả thực “Trong bộn bề tiểu thuyết Việt Nam hôm nay, đã có một phong cách Nguyễn Bình Phương không hề trộn lẫn”.
Thứ hai, trên con đường nghệ thuật, một khi đã quyết đinh “mạo hiểm” dấn
thân để đạt tới tự do trong sáng tạo, người nghệ sĩ luôn luôn phải đối mặt vớinhững cô đơn, cũng có khi là tuyệt vọng Nói như Nguyễn Mạnh Hùng: Nguyễn
Bình Phương mang trong mình “nỗi cô đơn của tiểu thuyết cuối thế kỷ”, bởi trên
lộ trình của mình ông phải đối mặt với những tâm thức tiếp nhận khác nhau Song
với Nguyễn Bình Phương, ông có quan điểm “Viết văn là một sự giải tỏa”, viết là
để cho độc giả thưởng thức nhưng cũng để xoa dịu mình, quên đi nỗi cô đơn.Nguyễn Bình Phương có một niềm tin, dù văn mình khó đọc nhưng những ngườicùng tâm trạng sẽ hiểu điều ông muốn nói (lấy ý tác giả khi kể về quá trình viết
tiểu thuyết “Thoạt Kỳ Thủy”) và ông cũng sẽ vẫn sẽ “viết theo hướng mình đã chọn” trung thành với văn phong của mình nhưng không lặp lại chính mình vì theo ông “không có sự sáng tạo nhà văn sẽ tự tiêu diệt mình” Bằng chứng là các
cuốn tiểu thuyết của ông khi ra đời được tiếp nhận với nhiều hướng khác nhau, dùkhông dễ đọc nhưng lại cuốn hút bởi văn phong mới lạ, gây hứng thú
Thứ ba, có một sự thật đó là văn chương Nguyễn Bình Phương rất giàu sức
ám ảnh Nỗi ám ảnh gây ra từ hiện thực đầy lạ lẫm và một hệ thống những nhân
Trang 37vật chẳng giống ai, ấn tượng nhất là những người điên Nhân vật điên nằm rảirác trong hầu khắp các tiểu thuyết của ông, điều này có liên đới tới quan niệm
của nhà văn: “Ai cũng có một người điên trong chính mình”, họ chính là phần vô thức trong mỗi chúng ta, là cội nguồn của sáng tạo nghệ thuật, “họ làm cho thế giới con người đột nhiên sâu thẳm, làm choáng váng đời sống vốn tỉnh táo của chúng ta” Riêng với người nghệ sĩ, “điên” là cái khiến họ thăng hoa trong cảm
xúc để đạt tới sáng tạo Những gì mà Nguyễn Bình Phương viết ra, có lẽ ít nhiềucũng được thăng hoa từ “con người điên” đặc biệt này
Nhưng trên hết, Nguyễn Bình Phương cho rằng: “Văn chương bản thân nó
là chân trời tự do” Quan niệm như vậy đã giúp cho nhà văn tìm được lối đi riêng
trong rất nhiều lối đi khác Nguyễn Bình Phương viết với tinh thần cách tân hăngsay, tạo ra nhiều tác phẩm xuất sắc ghi được dấu ấn riêng trong lòng công chúng.Như vậy, phác thảo một vài vấn đề cơ bản về Nguyễn Bình Phương cùngnhững quan niệm của nhà văn về cách viết là cách giúp chúng tôi đi sâu hơn
vào khám phá “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”.
*Tiểu kết:
Trong chương I, chúng tôi đã trình bày những vấn đề khái quát về chủnghĩa hiện sinh và sự biểu hiện của yếu tố hiện sinh trong văn học Việt Namnói chung Bên cạnh đó ở chương này, chúng tôi có giới thuyết qua một vàivấn đề liên quan tới bối cảnh thời đại và cá tính sáng tạo của Nguyễn BìnhPhương để thấy được đây là những tiền đề quan trọng góp phần tạo nênnhững trang văn mang cảm quan hiện sinh của tác giả
Trang 38CHƯƠNG 2: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG THỂ HIỆN Ở CẢM QUAN
VỀ HIỆN THỰC
Đọc những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, từ “Bả giời”, “Vào cõi”, “Những đứa trẻ chết già”, “Người đi vắng", “Trí nhớ suy tàn”, “Thoạt
kỳ thủy”, “Ngồi” đến “Mình và họ” ta đều bắt gặp một cái nhìn về đời sống
mang đậm tính chất hiện sinh Đó là một hiện thực mang tính chất vô nghĩa,
tẻ nhạt; đó là một hiện thực mang màu sắc phi lý; đó là một hiện thực chứanhiều bất trắc; và đó còn là một hiện thực mang tính phân rã, hỗn loạn
2.1 Hiện thực mang tính chất vô nghĩa, tẻ nhạt
2.1.1 Hiện thực đơn điệu, nhàm chán lặp đi lặp lại
Cuộc sống là một bảng màu đa sắc, bên cạnh những gam màu tươi tắncòn có những mảng màu trầm Văn chương thế giới, đặc biệt là văn học hiệnsinh nói nhiều về tình trạng đời sống thiếu vắng sự sống động, một đời sốngdường như ngưng đọng, ở đó con người kìm hãm sự chủ động, bị trói chặttrong khuôn đời tẻ nhạt, giống một cái máy hơn một sinh vật bậc cao Nhữngsáng tác của F Kafka, J.P Sartre, A Camus… đã giúp ta nhận ra rằng từ quálâu loài người vẫn luôn phải đối diện với sự vô nghĩa, những thói quen lặp lạinhàm chán của cuộc sống nhưng ít khi để ý Và một khi đã phải đối diện vớichúng, con người ta sẽ có các xu hướng ứng xử: hoặc không làm gì cả hoặcmuốn vượt thoát, mà vượt thoát cũng theo nhiều hướng khác nhau hoặc tiếnlên, hoặc thụt lùi
Trong những tiểu thuyết của mình, Nguyễn Bình Phương cũng đã đi vàomiêu tả một hiện thực cuộc sống đơn điệu, nhàm chán, nhạt nhẽo từ môitrường sinh hoạt hàng ngày của con người Đó là môi trường sống khôngphân biệt thành thị, nông thôn đều có sự lặp lại đến buồn tẻ, bực bội Đó là
Trang 39đời sống tâm hồn nghèo nàn khiến con người bị xoáy vào thú vui tầm thường,làm khô cạn khả năng yêu thương, gắn kết cùng thế giới Cuộc đời mỗi cá thể
vì thế giống như một chiếc cầu thang cuốn chỉ có một đường lên và xuốngđơn điệu, tẻ ngắt Kiếp nhân sinh nhòe mờ, có nguy cơ bị phủ bụi và vĩnhviễn chìm sâu không chỉ vì hành động như một chiếc máy đã được lập trình
mà còn bởi con người sống theo bản năng, đánh mất đi ý nghĩa cuộc sống.Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, ta thấy dù nhà văn viết vềnhịp sống ở thôn quê hay thành thị thì ở đâu người đọc cũng thấy nhữngmảnh hiện thực hao hao nhau, môi trường sống khép kín, con người chấpnhận công việc lặp đi lặp lại như một điều tất yếu, yên ổn với những thứ đang
có là đủ
Trong “Vào cõi”, thôn quê hiện lên qua cái nhìn của Vang ngay từ cảnh vật đã nhuốm màu tẻ nhạt: “Nắng cạn tận cuối làng và chân trời dậy lên một màu tím kỳ quái Những nóc nhà tím sẫm lẫn với màu tím khô của những cành cây tóa lên nền trời Một màu tím thoáng trông, cảm giác không vui cũng chẳng buồn” [63;40] Ngôi làng vắng vẻ và buồn thảm đến độ Vang cảm nhận chỉ có hai con người “Bà Đông điên và mẹ tạo thành làng”[63;46] Làng
nghèo như không thể nghèo hơn lại thêm cả những định kiến khắt khe khiếncuộc sống của con người nơi đây cứ trở nên trầm uất, u ám và mỏi mệt
“Thoạt kỳ thủy” lại hướng người đọc đến vùng thôn quê với những gia
đình sống bằng nghề đập đá, mổ lợn, trồng rau Ở đó cũng có những người
ôm mộng văn chương và cũng có những kẻ nát rượu Thoạt trông đó là thứhiện thực bình thường thậm chí là bình ổn, ngôi làng nào ở nông thôn ViệtNam cũng có thể sẽ tồn tại những hình ảnh như vậy Nhưng thâm nhập sâuvào tác phẩm, ta mới thấy đằng sau bức tranh yên bình là cả một thế giới hỗnloạn, thế giới ấy là sự tập hợp của những tạp âm khó hiểu đến lạnh gáy củanhững người điên Ở đó cuộc sống con người trở nên vô nghĩa và buồn tẻ
Trang 40Những kẻ đàn ông sống bằng bản năng nhiều hơn lý trí, những kẻ bìnhthường nhất cũng có khi cư xử với nhau theo cách bất thường Và nhữngngười đàn bà quanh năm nhốt mình sau lũy tre làng chỉ biết lầm lũi sống nhưnhững con rùa bên gã đàn ông điên loạn, thích rượu Kì lạ ở chỗ, tất cả nhómngười của ngôi làng Linh Sơn nghèo đói đó, không ai có phản ứng chống lạihiện thực ù lì, buồn chán, tẻ ngắt vì lặp đi lặp lại những hoạt động sống đơnđiệu Những người điên cứ điên, thậm chí cộng đồng những con người ấycàng ngày càng dày lên như một điều bình thường; những người say cứ say;công việc đập đá trên núi vẫn diễn ra thường nhật dù có phần nhàm tẻ; vàngười ta vẫn sống trong máu, trong vô thức như câu chuyện hàng ngày, chẳngghê tởm, chẳng lấy gì phản ứng.
Trong “Những đứa trẻ chết già” Nguyễn Bình Phương biểu đạt một đời
sống vô hướng, một hành trình trống rỗng không biết đích đến là nơi nao củacon người qua sự lặp lại tiếng kêu chiếc xe trâu Ước tính có tới bảy lần hai từ
“lọc cọc” xuất hiện ở các chương “Vô thanh”, khi vang lên ở đầu, khi vang
lên ở cuối cũng có khi chen vào giữa cuộc hành trình của bốn nhân vật từ cõichết và quá khứ Âm thanh đều đều đó ngoài việc gợi ra một hiện thực mỏimệt, một hành trình rệu rã, vô đích của con người, nó còn làm cho buổi chiềutrung du càng thêm rề rà chậm chạp, nhiều ám ảnh Chính âm thanh đều đặn
này lại làm ta nhớ tới nhịp điệu của cả tác phẩm “Trí nhớ suy tàn” từ đầu tới
cuối hầu như chung một chất giọng bình bình trần thuật về cuộc sống của cácnhân vật Một cuộc sống cứ lặng lẽ trôi qua, không có gì là mới mẻ, không có
gì là bước ngoặt, ngày nào cũng như ngày nào gây cảm giác mệt mỏi chánnản về hiện thực
Trong “Vào cõi”, “Bả giời”, “Trí nhớ suy tàn”, Nguyễn Bình Phương sử
dụng kỹ thuật lặp cấu trúc câu như một cách nhấn mạnh đời sống nhàm tẻ, vô
vị bao phủ vây bọc lấy con người: