1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP. HCM

60 414 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Đáp Ứng Nhu Cầu Lao Động Cho Các Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn TP.HCM
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 460,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giải pháp đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP. HCM

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, cùng với việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đảng và nhà nước vẫn luôn coi trọng vấn đề thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các doanh nghiệp mà cụ thể là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay Việt Nam chúng ta gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới ( WTO ) thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn Mặc dù số lượng lao động tại TP.HCM ngày càng tăng nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế

Xuất phát từ tầm quan trọng tính bức xúc của vấn đề đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp và thông qua đó cũng là giải quyết việc làm cho người lao động

trên địa bàn thành phố đã thôi thúc tác giả luận văn chọn đề tài “ Một số giải pháp

nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM đến năm 2010” với mong muốn tìm ra những vấn đề cốt lõi của vấn đề lao động việc làm,

và đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế – chính trị xã hội của TP.HCM

Như vậy đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là vấn đề lao động và nhu cầu lao động trên địa bàn TP.HCM

Luận văn cũng đặt ra mục tiêu nghiên cứu là :

động hỗ trợ đáp ứng nhu cầu này nhằm tìm ra những vấn đề tồn tại, nguyên nhân đưa đến những khó khăn và hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố trong thời gian qua

Trang 2

™ Đề xuất một số phương hướng, giải pháp đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp cho đến năm 2010 phục vụ cho sự phát triển của hệ thống các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố nói riêng và phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp nghiên cứu tài liệu có sẵn về lý thuyết và thực tiễn đáp giải quyết việc làm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp, các phương pháp tổng hợp, thống kê phân tích, quy nạp, diễn giải… để làm sáng tỏ và cụ thể hoá nội dung nghiên cứu Đặc biệt là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử được lấy làm nền tảng, chủ đạo toàn diện các vấn đề nghiên cứu trong luận văn này

Về kết cấu, ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM

nghiệp trên địa bàn TP.HCM đến năm 2010

Trang 3

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NHU CẦU LAO ĐỘNG CỦA

DOANH NGHIỆP 1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực lao động và việc làm

Hiện nay ở nước ta nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã hình thành trên đại thể song còn thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt, công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu gắn với hội nhập quốc tế sẽ vấp phải những trở lực do nhận thức chưa chuyển kịp bởi thói quen và cách làm ăn cũ còn in sâu vào tư duy của mỗi người Tình hình và điều kiện thực tế của đất nước cùng với bối cảnh quốc tế tạo khả năng, đồng thời đòi hỏi trong 10 năm đầu của thế kỷ 21 trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế chúng ta phải phát triển nhanh và bền những chủ động hội nhập quốc tế và đổi mới sâu rộng hơn nữa

Trong thời kỳ kế hoạch 10 năm ( 2001 – 2010 ) tư tưởng lớn nhất, cái gốc của

tư duy đổi mới trong lĩnh vực lao động và việc làm là phải đặt con người vào vị trí trung tâm khơi dậy tiềm năng của mỗi cá nhân và cả cộng đồng dân tộc, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân, coi phát triển kinh tế là cơ sở, là phương tiện và tiền đề để thưc hiện các chính sách xã hội vừa là động lực, vừa tạo sự ổn định về chính trị xã hội, làm cơ sở cho tăng trưởng kinh tế bền vững

Điều 13 chương II Bộ luật lao động của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa

Việt Nam đã ghi rõ “ Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật

cấm đều được gọi là việc làm” Tư tưởng này là cơ sở định hướng cho cuộc cách

mạng trong lĩnh vực lao động và việc làm, đã làm thay đổi căn bản tư tưởng bao cấp và cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây để chuyển sang nhận thức quan niệm mới về lao động và việc làm Từ chỗ quan điểm giải quyết việc làm là trách nhiệm của nhà nước và chỉ làm việc trong 2 thành phần kinh tế cơ bản : quốc doanh và hợp tác

Trang 4

xã mới được coi là có việc làm thì nay cùng với nhà nước mỗi công dân, gia đình, mỗi tổ chức đều có thể và được phép tạo mở việc làm trong các thành phần kinh tế ( nhà nước, tập thể, tư bản nhà nước, tư nhân, cá thể, liên doanh nước ngoài ) bao hàm mọi hình thức tổ chức kinh doanh, từ các doanh nghiệp lớn đến các loại quy mô vừa và nhỏ, kinh tế hộ gia đình, các hoạt động trong khu vực kinh tế phi kết cấu

Người lao động đã năng động và chủ động tự tạo việc làm cho mình và cho xã hội, không thụ động chờ sự bố trí của nhà nước Người sử dụng lao động được khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo việc làm Trong xã hội mọi người tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân mình, từ đó cần phát huy năng

lực sáng tạo trong việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống

1.2 Khái niệm về nhu cầu lao động của doanh nghiệp

1.2.1 Nhu cầu lao động của doanh nghiệp

Nhu cầu lao động hay nhu cầu về nhân lực là số lượng và cơ cấu lao động cần thiết để hoàn thành số lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc khối lượng công việc của tổ chức trong một thời kỳ nhất định

Khi xác định nhu cầu lao động cùa doanh nghiệp phải xem xét và tính đến ảnh hưởng của các yếu tố như : các nhân tố bên ngoài như cạnh tranh trong nước và ngoài nước; tình hình kinh tế; luật pháp; thay đổi kỹ thuật công nghệ

Các nhân tố bên trong tổ chức bao gồm hạn chế về ngân sách chi tiêu; mức sản lượng sẽ tiến hành sản xuất trong năm kế hoạch; số loại sản phẩm và dịch vụ mới; cơ cấu tổ chức

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu lao động trong doanh nghiệp

Các nhân tố bên ngoài và môi trường :

Các bước ngoặc của nền kinh tế có thể ảnh hưởng tới nhu cầu về lao động Trong giai đọan phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về lao động của doanh nghiệp có

Trang 5

động của doanh nghiệp có thể giảm xuống Ngoài ra, tình hình lạm phát, tình trạng thất nghiệp và lãi suất ngân hàng đều có ảnh hưởng đến nhu cầu lao động của doanh nghiệp Hơn thế nữa, những thay đổi về xã hội ( như có chiến tranh đột xuất ) có thể ảnh hưởng đến nhu cầu của một tổ chức

Những thay đổi về chính trị và luật pháp sẽ có ảnh hưởng đến nhu cầu tương lai của một tổ chức ( chẳng hạn như một bộ luật mới về lao động sẽ có tác dụng động viên hay hạn chế người lao động cung cấp sức lao động cho các doanh nghiệp )

Các thay đổi về kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tương lai của một tổ chức Một khi công nghệ được cải tiến, bản chất công việc trở nên phức tạp hơn, một số nghề mới xuất hiện, một số nghề cũ mất đi Và như thế, nhu cầu về lao động có sự thay đổi, các doanh nghiệp thường thiếu những công nhân có tay nghề cao và có nghề mới

Cuối cùng là sự cạnh tranh của các đối thủ cũng như sự cạnh tranh có tính chất toàn cầu tăng lên làm cho các doanh nghiệp, một mặt, phải không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp của nhân viên của mình, và mặt kia, phải giảm bớt chi phí lao động, phải tiết kiệm chi phí tiền lương để giảm giá thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh Điều đó làm cho các doanh nghiệp có chiến lược sử dụng lao động theo hướng chọn lọc hơn và tinh nhuệ hơn…

Các quyết định về chiến lược của doanh nghiệp :

Các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu lao động tương lai của nó Khi dự báo có sự tăng trưởng, có sự đầu tư mới mở rộng sản xuất hoặc tiến hành một công việc mới, một sản phẩm mới… thì nhu cầu về nguồn lao động sẽ tăng lên và ngược lại, khi có sự suy giảm, hay thu hẹp sản xuất – kinh doanh thì tất yếu dẫn đến nhu cầu về nhân lực sẽ giảm đi

Một sự đầu tư mới về công nghệ hay một sự thu hẹp về tài chính cũng làm cho doanh nghiệp xem xét lại nhân lực của mình

Trang 6

Hơn nữa, việc dự báo về bán hàng và sản xuất sản phẩm cũng quyết định đến nhu cầu lao động của doanh nghiệp ( ví dụ như nhu cầu về lao động tương lai của doanh nghiệp sẽ phát triển lên hay thu hẹp đi sẽ tương ứng với giai đoạn phát triển hay suy tàn của chu kỳ sống của sản phẩm doanh nghiệp )…

Sự thay đổi tự nhiên lực lượng lao động của doanh nghiệp :

Theo thời gian, lực lượng lao động của doanh nghiệp sẽ tất yếu thay đổi như có sự nghỉ hưu, có sự ra đi, thay đổi, thuyên chuyển và kết thúc hợp đồng lao động… các nhà quản lý nhân lực có thể dự báo trước được những thay đổi này Còn những thay đổi do sự vắng mặt, sự thiếu năng lực và tai nạn hoặc chết thì khó có thể biết trước được

1.2.3 Phương pháp dự báo về nhu cầu lao động

Thực chất việc dự báo việc làm là dự báo nhu cầu lao động Để dự báo nhu cầu lao động có thể sử dụng một trong các phương pháp sau :

Phuơng pháp năng suất lao động :

Để sử dụng phương pháp này trong dự báo ta cần làm 3 công đoạn : 1 DưÏ báo giá trị tăng tính theo giá cố định của các ngành như : nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; 2 Dự báo năng suất lao động theo ngành Các mức năng suất lao động tương lai được dự báo bằng phương pháp ngoại suy từ các số liệu về năng suất lao động trong quá khứ;

3 Tính số việc làm trong mỗi ngành Sau khi có giá trị dự báo GDP theo ngành và năng suất lao động theo ngành, số việc làm trong mỗi ngành được tính bằng cách chia giá trị GDP dự báo theo ngành cho năng suất lao động từng ngành

Phương pháp co giãn về việc làm và kết quả sản xuất ( giá trị sản lượng, giá trị tăng, GDP ) :

Phương pháp này cho biết khi tăng GDP ( hay giảm ) 1% thì số việc làm tăng hay giảm đi bao nhiêu lần Phương pháp này bao gồm 2 công đoạn : 1 Tính toán hệ số co

Trang 7

Phương pháp dự báo theo định mức kinh tế kỹ thuật :

Phương pháp này sử dụng các hàm sản xuất đặc thù của ngành, nghĩa là xây dựng các hàm số toán học mô tả mối quan hệ kỹ thuật giữa một hay nhiều yếu tố đầu vào ( như đất đai, lao động, vốn ) với kết quả sản xuất ( đầu ra ) với các giả thuyết là các yếu tố đầu vào được sử dụng có hiệu quả trong quá trình sản xuất

Cầu về lao động là số lượng chất lượng lao động cần tuyển dụng và thuê mướn để đáp ứng nhu cầu việc làm cho nền kinh tế quốc dân kỳ kế hoạch Mô hình dự báo tổng cầu trên phạm vi vĩ mô gồm 5 bước :

tế quốc dân, hoặc một vùng, một tỉnh nhất định

trong một vùng, một tỉnh

rộng – tăng lao động hay tăng chiều sâu – tăng năng suất lao động )

động và tăng GDP ( độ co giãn lao động hoặc co giãn về đầu tư ) để ước tính số cầu về lao động trong tương lai đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, một vùng, một tỉnh và các khu vực kinh tế

trong các ngành kinh tế, trong từng thời kỳ cũng như số người thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc nhu cầu việc làm bổ sung từ các chương trình khác để đạt tỷ lệ thất nghiệp như mong muốn

1.3 Phân loại lao động trong doanh nghiệp

Lao động là yếu tố cơ bản trong hoạt động sản xuất kinh doanh Không có lao động của con người thì hoạt động sản xuất kinh doanh không thể tiến hành được Cho nên dù trình độ khoa học kỹ thuật phát triển đến đâu, dù sản xuất hoàn toàn tự động

Trang 8

hoá đi nữa, vai trò lao động của con người trong hoạt động sản xuất kinh doanh không thể thiếu được

Toàn bộ lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, tuỳ theo chế độ tổ chức và quản lý sử dụng lao động của doanh nghiệp đối với họ có thể được phân thành các loại lao động như sau :

Lao động lãnh đạo : là những người làm công tác lãnh đạo, tổ chức quản lý

sản xuất, kinh doanh, công tác hành chính quản trị, bao gồm : giám đốc, các phó giám đốc, các trưởng phòng, quản đốc, các phó quản đốc phân xưởng

Lao động nghiệp vụ : bao gồm các cán bộ nhân viên công tác ở các phòng,

ban, bộ phận kế hoạch, thống kê, kế toán, tài vụ, lao động tiền lương, cung tiêu của doanh nghiệp, công tác tổ chức nhân sự, hành chính, văn thư, đánh máy, điện thoại, phát thanh, phiên dịch, lái xe con,…

Lao động kỹ thuật : là những người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công

tác kỹ thuật trong doanh nghiệp Được gọi là nhân viên kỹ thuật, phải là những người có đủ hai điều kiện :

nghiệp hoặc giấy chứng nhận từ bậc trung học trở lên Trường hợp những người qua thực tế công tác, đã có trình độ kỹ thuật tương đương thì phải được cấp trên có thẩm quyền công nhận ( bằng văn bản )

và hưởng theo thang lương, bảng lương kỹ thuật

Lao động kỹ thuật trong doanh nghiệp hường gồm những loại sau đây : giám đốc hoặc phó giám đốc xí nghiệp phụ trách kỹ thuật, quản đốc hoặc phó quản đốc phân xưởng phụ trách kỹ thuật, trưởng hoặc phó ngành phụ trách kỹ thuật, trưởng phó phòng kỹ thuật, các tổng công trình sư, kỹ sư, công trình sư, nhân

Trang 9

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, những người phụ trách các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ( đối với những việc đòi hỏi phải do nhân viên kỹ thuật đảm nhiệm )

Công nhân có tay nghề : là những người lao động có trình độ tay nghề trực tiếp sản

xuất sản phẩm hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm Cụ thể là :

động ) để tiến hành sản xuất; kể cả những người là cán bộ kỹ thuật trực tiếp làm công việc đó

thô sơ; kể cả những người sản xuất nguyên vật liệu hoặc sơ bộ chế biến nguyên vật liệu trước khi đưa vào dây chuyền sản xuất

thành phẩm gắn liền trong dây chuyền sản xuất

Lao động phổ thông : bao gồm :

doanh nghiệp

đốt lò; dọn vệ sinh ở các gian máy sản xuất, nơi làm việc của công nhân…

vận chuyển vật tư hàng hoá ngoài phạm vi doanh nghiệp, nhân viên thu mua…

1.4 Nhận dạng thị trường lao động TP.HCM trong giai đoạn hiện nay

Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ở Việt Nam đã hình thành các loại thị trường trong đó có thị trường lao động Tuy nhiên, đối với Việt Nam

Trang 10

thị trường lao động vẫn còn là một khái niệm còn mới mẻ và có nhiều tranh luận Có

thể hiểu khái niệm “ thị trường lao động” là toàn bộ các quan hệ kinh tế hình

thành trong lĩnh vực thuê mướn lao động Đối tượng bao gồm những người đang

tham gia và đang cố gắng tham gia vào quá trình thuê mướn lao động Như vậy không phải toàn bộ lực lượng lao động nằm trong thị trường lao động mà chỉ có những người thuê và những người đi làm thuê mới tham gia vào thị trường lao động

Thị trường lao động chính là nơi thể hiện quan hệ xã hội giữa người lao động làm thuê và người thuê mướn lao động thông qua sự điều chỉnh giá cả tiền công

TP.HCM không chỉ là địa phương có số lượng lớn về dân số và lao động mà còn là nơi đi đầu trong cả nước về phát triển quan hệ thị trường, đặc biệt là các quan hệ trong thị trường lao động Việc tìm hiểu thị trường lao động TP.HCM sẽ giúp cho việc tìm ra giải pháp nào là cần thiết để có thể điều tiết được quan hệ cung cầu sức lao động, nghĩa là góp phần đáp ứng được nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trên gốc độ quản lý

Thị trường lao động TP.HCM có một số đặc trưng chủ yếu sau :

Thứ nhất : Thị trường lao động thành phố vận hành và phát triển trên một nền kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường hình thành khá sớm, cho nên mối quan hệ

cung cầu ở đây khá phong phú đa dạng, phong phú cả nguồn cung ứng lao động và

khả năng tạo nhu cầu để thu hút lao động trên thị trường

Thứ hai : Thị trường lao động chưa hoàn hảo còn bị ức chế và chưa kiểm soát được Thị trường lao động thành phố vừa có lực lượng lao động dồi dào, lại đến từ

nhiều nguồn, nhiều địa phương trong cả nước, nhiều nước trên thế giới, đa phần là lực lượng trẻ có khả năng thích ứng nhanh trong những ngành nghề mới Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy trong thị trường lao động thành phố còn hình thành sự phân biệt

Trang 11

gồm :

soát và rất khó quản lý các nguồn cung ứng, luồng di chuyển nhân công, khó điều tiết trong sự bố trí sử dụng dẫn đến thị trường phát triển tự phát thiếu định hướng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội nói chung và nguồn nhân lực nói riêng

Thứ ba : Do nhà nước chưa kiểm soát được thị trường nên sự phát triển tự phát của thị trường đã gây ra sự mâu thuẫn rất lớn giữa cung và cầu lao động Những

mâu thuẫn đó thể hiện ở chỗ :

mới ra đời liên tục đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới

nước đều có kế hoạch mở rộng thị phần, tăng quy mô sản xuất, kinh doanh nên cần tuyển thêm số lượng lớn lao động vào làm việc Trong khi đó, do thiếu chuẩn

bị và đầu tư đúng hướng từ trước nên nguồn nhân lực của thành phố vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng Điều đáng lo ngại là có một bộ phận lao động tuy thất nghiệp nhưng không chịu tham gia thị trường lao động, một số khác lại có tâm lý “ kén cá chọn canh”

mặt với thực tế mất lao động hàng loạt

cầu phát triển của thành phố hiện tại và tương lai nói chung và nhu cầu lao động của các doanh nghiệp nói riêng

Trang 12

trình độ, cơ cấu ngành nghề phân bổ chưa hợp lý, có ngành đào tạo nhiều nhưng không sử dụng hết, ngành lại quá thiếu, đặc biệt là đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu hầu hết ở các ngành, các khu vực kinh tế

nhưng ở dạng thất nghiệp trá hình, làm việc năng suất thấp Số người trong biên chế nhà nước còn quá nhiều so với yêu cầu công việc, việc phát triển các thành phần kinh tế chưa ổn định, tạo tình trạng thất nghiệp thường xuyên

Thứ tư : Thị trường lao động thành phố đã bước đầu thể hiện tính cạnh tranh của các loại hàng hoá lao động

Cạnh tranh giữa nguồn cung ứng lao động tại chỗ với nguồn lao động nhập cư, nhập khẩu

Cạnh tranh lao động thông qua đòi hỏi tiêu chuẩn tình độ chuyên môn giữa các dòng lao động và ngay trong một bộ phận lực lượng lao động

Cạnh tranh giữa hàng hoá sức lao động và hàng hoá dưới dạng tư liệu sản xuất Cạnh tranh này diễn ra trong xu hướng chuyển giao công nghệ ngày càng cao, sử dụng lao động ngày càng ít, sử dụng chất xám tay nghề ngày một cao

Tóm lại, việc tìm hiểu các khái niệm về nhu cầu lao động, phân loại lao động, và

nắm vững một số đặc trưng của thị trường lao động TP.HCM chính là những điều kiện và tiền đề hết sức căn bản cho việc khai thác và sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu lao động hết sức cấp thiết của các doanh nghiệp hiện nay Cung – cầu lao động TP.HCM vẫn có nhiều nghịch lý, diễn biến phức tạp nhưng nếu có những chủ trương chính sách phù hợp sẽ đưa thị trường lao động vào phát triển ổn định Thực tế cho thấy, thị trường lao động ổn định thì kinh tế mới phát triển bền vững Bởi lẽ con người – nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp

Trang 13

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM VÀ TÌNH HÌNH NHU CẦU LAO ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN TP.HCM 2.1 Dân số và nguồn lao động tại TP.HCM

317 phường-xã, gồm 19 quận nội thành, 5 huyện ngoại thành

Thành phố đạt mức tăng trưởng sản phẩm xã hội nội địa bình quân 11%/năm, tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước

- Tăng trưởng trong khu vực công nghiệp và xây dựng luôn có tốc độ tăng nhanh, bình quân 12,6%/năm

- Tăng trưởng trong khu vực dịch vụ bình quân là 8,9%/năm

- Nông nghiệp tăng bình quân 6%/năm

Đây là những thuận lợi cơ bản trong vấn đề thu hút lao động, tạo việc làm

Cơ cấu kinh tế thành phố hiện nay là dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp với cơ cấu như sau:

Biểu 1 : Cơ cấu kinh tế TP.HCM

Cơ cấu kinh tế Đơn vị tính Năm 2001 Năm 2005

- Nông nghiệp % 2 1,7

- Công nghiệp % 45,4 48,47

- Dịch vụ % 52,6 50,08

(Trích báo cáo chính trị của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII)

Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch khá nhanh sang các ngành công nghiệp và dịch vụ, lao động trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp hiện chỉ còn 6,3% tổng số lao động đang làm việc trên địa bàn thành phố và chỉ chiếm 25% số lao động đang sinh

Trang 14

sống ở nông thôn Năng suất lao động chung của các ngành kinh tế của thành phố tăng bình quân 8,5%/năm

Để đánh giá thực trạng nguồn lao động của thành phố cần phải xét giữa sự phát triển nguồn lao động và tăng trưởng kinh tế tạo nguồn nhu cầu trong thị trường lao động

2.1.1 Sự biến động dân số thành phố:

- Tốc độ tăng bình quân dân số thành phố từ năm 1999 đến 2004 cao hơn hẳn tốc độ tăng dân số các thời kỳ trước

Đến ngày 1/10/2004 dân số thường trú trên địa bàn thành phố là 6.117.251 người, bao gồm 5.140.417 người ở nội thành và 976.839 người ở ngoại thành Mật độ

5,5 năm dân số thường trú thành phố tăng trên 1.080.096 người Mức tăng dân số từ

1999 - 2004 bằng mức tăng trong 10 năm 1989 - 1999 và bằng xấp xỉ 2 lần mức tăng dân số trong 10 năm 1979 - 1989

- Tốc độ tăng dân số của thành phố chủ yếu là tăng cơ học 2,33%/năm Điều này hoàn toàn phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế trong những năm qua, đó là tốc độ tăng

cơ học của dân số tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của thành phố GDP tăng liên tục, bình quân 11,2%/năm

Năm 2001 có 960.018 dân từ các tỉnh, thành phố khác đến TP.HCM chiếm 17,62% dân số sinh sống thì đến năm 2004 đã có 1.844.548 người diện tạm trú, chiếm 30,1% dân số, đại bộ phận dân nhập cư là người lao động (trên 70% dân số) Tỉ lệ tăng cơ học càng lúc càng cao Năm 2005 dân số tăng cơ học chiếm hơn 63% dân số Điều này chứng minh TP.HCM có sức cuốn hút, lôi kéo lực lượng dân cư ở các địa phương khác vốn là những người đang thất nghiệp do thiên tai lũ lụt, do quá trình đô thị hoá

Trang 15

quan trọng, bổ sung trực tiếp vào nguồn cung thị trường lao động TP.HCM

Từ lao động nhập cư cho thấy cĩ sự thay đổi trong vấn đề nguồn lao động, cứ 3 người đang làm việc trong các doanh nghiệp thì cĩ 1 người là lao động ngoại tỉnh Riêng trong các KCX-KCN, chủ yếu trong ngành da giày, may mặc, xây dựng số lao động nhập

cư chiếm tỉ lệ rất cao Cứ 10 lao động làm việc trong ngành này thì cĩ 8 người là lao động ngoại tỉnh

- Biến động dân số của Thành phố có xu hướng giảm dân số ở các quận

Trung tâm, quận nội thành, tăng nhiều ở các quận mới, các quận ven ngoại thành và các huyện

Khu vực nội thành có xu hướng giảm nhanh trong giai đoạn 2001-2005

nguyên nhân là người dân di dời do các dự án nâng cấp đô thị Mặc khác do nhu cầu cho thuê nhà để kinh doanh nên có sự giảm dân ra các quận ven để sinh sống

- Các quận mới, quận ven dân số tăng cao do phát triển kinh tế thành phố và đầu tư cho các KCX-KCN đã thu hút một lượng lao động nhập cư từ các tỉnh thành trong cả nước Việc gia tăng dân số của Thành phố tác động mạnh đến tổng nguồn cung của thị trường lao động

Biểu 2 : Tình hình dân số và nguồn lao động TP.HCM giai đoạn 2001-2005

Thực hiện Chỉ tiêu Đơn vị

2001 2002 2003 2004 2005

Dân số 1.000

người 5.449,20 5.659,00 5.867,50 6.109,49 6.153,94Lực lượng lao động 1.000

người 3.604,19 3.723,13 3.816,03 3.953,41 4.164,16Tỷ lệ lao động so với dân số % 66,14 65,79 65,04 64,71 67,67 Tổng số lao động có việc

làm

1.000 người 2.260,91 2.335,70 2.503,21 2.561,10 2.821,22

- Trong đó Nữ " 1.184,26 1.234,18 1.303,92 1.333,05 1.467,88

Trang 16

Lao động cần giải quyết

việc làm

1.000 người 244,36 250,19 251,10 242,34 245,69 Tỷ lệ lao động cần giải

quyết việc làm so với người

trong tuổi lao động

% 6,78 6,72 6,58 6,13 5,90

Nguồn : Sở LĐ – TBXH TP.HCM

2.1.2 Chất lượng lao động Thành phố:

Lực lượng lao động Thành phố tăng dần qua các năm, năm 2001 lao động trong độ tuổi là 3.604 triệu người, chiếm tỉ trọng 66,14%, đến năm 2005 lao động trong độ tuổi chiếm 67,67% dân số Điều này cho thấy lao động có tốc độ tăng cao hơn dân số

do đại bộ phận dân nhập cư là người trong độ tuổi lao động Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng dần qua các năm: năm 2001 là 33,17%; năm 2002 là 45,48% đến năm 2005 chiếm 48,31% trong tổng số lao động đang làm việc

Số người làm việc của thành phố tăng qua các năm và đạt 2.821.219 lao động vào năm 2005, chiếm 45,84% dân số và 67,75% nguồn lao động Cơ cấu lao động

chuyển dịch rõ nét theo hướng tăng lao động trong lĩnh vực dịch vụ là 58,77%; khu vực công nghiệp - xây dựng : 34,92%, cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp giảm còn 6,31%

Người lao động làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 2,4%/năm, chiếm tỷ trọng 25,08%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng bình quân 9% chiếm tỷ trọng 59,49%, các doanh nghiệp tư nhân tăng bình quân 2,3% chiếm tỷ trọng 15,43% trong tổng số lao động đang làm việc

Nguồn lao động của thành phố năm 2005 được phân bổ như sau :

- Số lao động đang làm việc là 2.821.219 người chiếm 67,75% nguồn lao động thành phố

Trang 17

- Số lao động dự trữ là 1.025.634 người chiếm tỷ trọng 24,63%, bao gồm lao động đang đi học, nội trợ gia đình chiếm tỉ trọng cao

- Số lao động không có việc làm là 245.685 người chiếm tỷ trọng 5,9% tổng số người trong độ tuổi lao động Trong tổng số người không có việc làm, có 191.220 người có nhu cầu tìm việc làm chiếm 77,87%; số lao động còn lại có việc làm không ổn định hoặc có thu nhập nên không có nguyện vọng đăng ký tìm việc làm là 22,17%

- Số người trong độ tuổi mất sức lao động là 71.623, chiếm tỷ lệ 1,72% người trong độ tuổi lao động

Về tình trạng làm việc của những lao động trong độ tuổi cho thấy số lao động đang làm việc kể cả đã đào tạo và chưa qua đào tạo tăng cả về lượng và kết cấu

2.2 Tình hình lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố

Biểu 4 : Tỷ lệ thất nghiệp TP HCM giai đoạn 2001-2005

Trang 18

Phân bố thất nghiệp theo địa bàn quận huyện ( xem phụ lục 1)

Số lao động thất nghiệp cao nhất là ở Quận Bình Thạnh ( 24.166 người ) kế đến là quận Gò Vấp

Nơi có số lao động thất nghiệp thấp nhất là : Quận 11 ( 1.904 người ), kế đến là Quận

10

Nhìn chung tình hình thất nghiệp năm 2005 của thành phố có những đặc điểm cơ bản sau :

thực tế do quá trình đô thị hoá cùng với sự hình thành của các chế xuất, khu công nghiệp và khu dân cư mới làm cho dân vùng ven tăng Ngoài ra còn do sự di cư tự phát của dân từ các tỉnh thành phố khác đến

không có việc làm ổn định Một bộ phận khoảng 20% do có thu nhập thấp nên không muốn tìm việc làm ( thất nghiệp tự nguyện )

2.3 Tác động của lao động nhập cư trong lĩnh vực lao động và việc làm trên địa bàn TP.HCM

Tình hình lao động nhập cư ( xem phụ lục 2 )

Trong những năm qua số người nhập cư đến TP.HCM ngày càng cao, bình quân 163.000 người/năm, điều này tác động rất lớn đến sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của thành phố

Theo số liệu của CATP, lực lượng lao động nhập cư vào thành phố có đủ cả 63 tỉnh thành trong cả nước, trong số đó chỉ 25% được nhập hộ khẩu thành phố là số lao động mà thành phố cần thu hút và có việc làm Chính vì vậy, trong số người di cư đến thành phố chỉ 50% có nhà ở ổn định, còn lại phải thuê Từ năm 2000 đến năm 2005, số người từ các tỉnh, thành phố khác đến cư trú tăng 825.517 người (bình quân tăng

Trang 19

163.000 người/năm); trong đó năm 2004 tăng 236.745 người, năm 2005 tăng 139.393 người

Hiện nay TP.HCM có khoảng 1,84 triệu người đến từ các tỉnh, thành phố trong cả nước, chiếm trên 30% dân số thành phố So với người thành phố, lao động nhập cư thường linh hoạt và tích cực hơn trong việc làm, chấp nhận các công việc nặng nhọc, độc hại, công việc có thu nhập thấp mà người thành phố không muốn làm Lao động nhập cư chiếm 70% lao động trong các khu công nghiệp, 44% lao động hoạt động phương tiện xe 2 – 3 bánh công cộng, 43% hoạt động vỉa hè và 55% người buôn bán lưu động

Đặc điểm lao động nhập cư là :

chọn công việc có thu nhập cao Chính vì thế đã làm gia tăng mức độ cạnh tranh về chỗ làm việc với lao động thành phố

việc giản đơn, các ngành nghề có thu nhập thấp mà lao động thành phố không làm, từ đó đã làm cho thị trường lao động thực hiện linh hoạt hơn các hoạt động việc làm của thành phố

công nghiệp và xây dựng, thương mại, nhà hàng, khách sạn, công nghiệp chế biến Nhu cầu bổ sung lao động ở các ngành này rất lớn Nếu chỉ dựa vào nguồn nhân lực tại chỗ của TP.HCM sẽ không bảo đảm được nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nói riêng và cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố nói chung

2.4 Nhu cầu lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM

Với nguồn cung của thị trường lao động TP.HCM hết sức đa dạng và phong phú, tổng nguồn cầu của thị trường lao động thành phố trong những năm vừa qua cũng hết sức

Trang 20

phong phú và đa dạng, với sự cho phép tồn tại, phát triển kinh tế háng hoá nhiều thành phần và hàng loạt các chính sách kinh tế đúng đắn Chủ trương đổi mới chính sách kinh tế đã được thể chế hoá bằng các Nghị định, Luật của Chính phủ Cụ thể là năm 1988, Hội đồng bộ trưởng nay là Chính phủ đã ban hành các nghị định số 27, 28,

29 ban hành quy định đối với chính sách kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kinh tế tập thể và kinh tế gia đình Cùng với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm

1987, năm 1990 Quốc Hội đã thông qua 2 Luật về doanh nghiệp tư nhân và Luật công

ty, theo đó các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( liên doanh, 100% vốn nước ngoài ) các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được hình thành và hoạt động tại Việt Nam Hơn thế nữa với sự ra đời của Luật doanh nghiệp mới đã khuyến khích sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp trong thời gian gần đây Như vậy, song song với thành phần kinh tế nhà nước ( doanh nghiệp nhà nước ) ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng đã hình thành các loại hình tổ chức kinh tế thuộc khu vực kinh tế cá thể, tư bản tư nhân trong và ngoài nước

Các loại hình tổ chức doanh nghiệp theo các thành phần kinh tế trên địa bàn TP.HCM hiện nay bao gồm :

hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước được gọi là doanh nghiệp nhà nước

nghiệp, hộ kinh doanh cá thể trong kinh doanh thương mại dịch vụ đăng ký theo NĐ 66/HĐBT

doanh, theo NĐ 66/HĐBT và Luật hợp tác xã ( HTX )

Trang 21

sau khi có Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty là xí nghiệp tư nhân, công

ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần

nhà nước với vốn tư nhân ( trước đây còn là xí nghiệp hợp doanh ) theo NĐ 28/HĐBT, xí nghiệp liên doanh vốn của tư nhân trong nước, công ty tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam 100% vốn ( theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam )

Sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ( xem phụ lục 3 và 4 )

Trong các năm 2001-2005 các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tiếp tục phát triển thu hút lao động, bình quân mỗi năm thu hút trên 215.000 người lao động Trong vòng 5 năm qua nhu cầu lao động tại TP.HCM tăng lên rất nhanh Tổng số nhu cầu lao động từ 2001 – 2005 là 1.005.415 người Đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ như : Thương nghiệp, khách sạn nhà hàng; vận tải, kho bãi, bưu điện; tài chính, tín dụng; khoa học công nghệ, kinh doanh tài sản… nhu cầu lao động lên tới 535.195 người, kế đến là các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, khai thác và xây dựng…369.837 người, các doanh nghiệp trong ngành nông lâm thủy sản là 100.393 người

Biểu 5 : Nhu cầu lao động TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2005

Ngành nghề Nhu cầu lao động

Nông lâm sản 82.006

Công nghiệp khai thác 31.878

Công nghiệp chế biến 255.591

CNSX và phân phối điện nước 46.722

Thương nghiệp 124.367

Trang 22

Khách sạn & nhà hàng 68.994

Vận tải, kho bãi, bưu điện 29.146

Tài chính, tín dụng 12.237

Khoa học công nghệ 15.551

Kinh doanh tài sản & tư vấn 23.478

Các họat động dịch vụ khác 261.422

CNKT, NVNV TCCN CĐ, ĐH Sau ĐH Tổng cộng

Nông, lâm, thủy

CN và XD

Các ngành dịch vụ

51.123181.615319.686

4.00530.14545.294

3.89545.34422.249

214 5.014 5.018

59.237262.118

392.247Tổng cộng 552.424 79.444 71.488 10.246 713.602Nguồn : Sở LĐ – TBXH TP.HCM

Nguyên nhân chủ yếu là do tốc độ tăng trưởng của TP.HCM trong vòng 5 năm qua là khá cao, tốc độ tăng GDP hằng năm đạt trên dưới 10,5% Cơ cấu GDP có xu hướng dịch chuyển dần sang các ngành công nghệ cao và các ngành thương mại dịch vụ Đặc biệt, TP.HCM là một trung tâm kinh tế của cả nước nên phát triển mạnh loại hình hoạt động kinh doanh, dịch vụ cá thể, kinh tế hộ gia đình, bình quân hàng năm có thêm 50.000 người có việc làm trong lĩnh vực này Trong khu vực nông thôn ngoại thành, nhiều ngành nghề được khôi phục và phát triển đã tạo việc làm ổn định cho lao động ngoại thành

Tình hình biến động lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố : Trong

năm 2005 số lao động trong các doanh nghiệp tăng 166.518 người chiếm tỷ lệ 33,7%

so với tổng số lao động làm việc năm 2004; số lao động giảm 123.890 người chiếm tỷ

Trang 23

đang làm việc năm 2004 là 8,63%; thực tế biến động lao động trong các doanh nghiệp rất lớn nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bình quân tuyển mới 03 lao động thì có 02 lao động đang làm việc trước đó di chuyển đến nơi khác, tỷ lệ biến động lao động bình quân 40-50% Đặc biệt, biến động lao động tại các đơn vị sản xuất thuộc ngành may rất cao, bình quân 20%/năm (di chuyển qua lại trong các đơn vị sản xuất may khoảng 40.000 người/năm), đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước có những đơn vị biến động lao động 50-60%/năm Từ đó tỉ lệ lao động thôi việc, bỏ việc, chuyển chỗ làm việc và tỉ lệ tuyển dụng lao động mới cũng rất cao bình quân 18-20%/năm/doanh nghiệp Sự chuyển dịch lao động cao giữa các ngành kinh tế hoặc giữa các khu vực là do có sự chênh lệch về tiền lương thu nhập, nhất là đối với lao động nhập cư

Tình hình tuyển dụng lao động : Trong giai đoạn 2001- 2005, lao động tại các doanh

nghiệp được tuyển dụng thông qua hệ thống giới thiệu việc làm của nhà nước và một số ít các doanh nghiệp dịch vụ việc làm chiếm 25% trong tổng số lao động tìm được việc làm hàng năm trên địa bàn thành phố, đại bộ phận là do doanh nghiệp tự tuyển hoặc các kênh thông tin riêng (qua mạng internet, báo chí, người quen….)

Do đòi hỏi của nền kinh tế, các doanh nghiệp có nhu cầu về lao động qua đào tạo là khá cao Tổng số nhu cầu lao động qua đào tạo là 713.602 người Điều đáng chú ý là nhu cầu về lao động được đào tạo sau đại học chiếm số lượng đáng kể lên đến 10.246 người Nhu cầu về công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ vẫn chiếm chủ yếu, trong vòng 5 năm qua là 552.424 người; nhu cầu lao động về trung cấp chuyên nghiệp là 79.444 người, nhu cầu về lao động có trình độ cao đẳng đại học là 71.488 người Trong tổng số lao động tuyển cho năm 2005, tỉ lệ về trình độ chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 17,27%; trung học chuyên nghiệp: 6,99%; công nhân

kỹ thuật : 21,69% trong đó công nhân kỹ thuật từ bậc 3 trở lên chiếm 16,33% (Nguồn

Trang 24

số liệu: Báo cáo tình hình sử dụng lao động năm 2005 của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố)

Các ngành nghề có nhu cầu tuyển nhiều lao động là dệt - may - giày da : 37,37%; xây dựng : 15,86%; cơ khí: 4,17%; công nghệ thông tin: 4,32%; điện - điện

tử: 2,12%; kế toán - tín dụng - kinh doanh : 9,12% (Nguồn số liệu: Báo cáo nhu cầu tuyển mới lao động năm 2005 của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố)

Khảo sát của Sở LĐ – TBXH thành phố về tình hình sử dụng lao động và nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp cho thấy 40% số doanh nghiệp hài lòng về lao động qua đào tạo 60% chưa hài lòng Lý do chưa hài lòng bao gồm : thiếu kinh nghiệm chuyên môn : 38%, thiếu hiểu biết về các khía cạnh kinh tế vào điều kiện sản xuất kinh doanh : 15%, kiến thức ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu : 20%, kiến thức phổ thông hạn chế : 20%, kiến thức kỹ thuật hạn chế : 8%, lý do khác ( ít động lực làm việc, năng suất lao động thấp, không có tinh thần trách nhiệm…) : 14%

Các doanh nghiệp ở TP.HCM đã hết sức khó khăn trong việc tuyển dụng đối với một số chưc danh vị trí như giám đốc nhân sự; giám đốc tài chính; các chức danh tổng quản lý, điều hành các chương trình, các dự án; giáo viên dạy nghề…Các nghề, nghiệp vụ như: thiết kế quảng cáo, nghiên cứu thị trường, thiết kế mẫu, đầu bếp… Dường như việc tìm kiếm cử nhân kinh tế , quản trị kinh doanh hiểu biết về luật pháp kinh tế, soạn thảo được các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại… cử nhân luật hiểu cặn kẽ cách tính thuế của các luật thuế, cách tính tiền lương, phụ cấp trong luật lao động… kỹ

sư kỹ thuật, công nghệ hiểu biết rõ ràng các quy định về môi trường, đọc được các tài liệu kỹ thuật nước ngoài… ngày trở nên hiếm hoi, khó khăn vô cùng Đó lại là một bằng chứng khác về sự nghịch lý của thị trường lao động TP.HCM

Kết quả điều tra của người viết về nhu cầu lao động của các doanh nghiệp ( xem phụ lục 5 – 11 ) :

Trang 25

Kết quả điều tra nhu cầu lao động tại 50 doanh nghiệp mới đây của người viết cho thấy hiện nay tình trạng sử dụng lao động của các doanh nghiệp có những đặc điểm như sau :

chuyên gia kỹ thuật thiếu trên 21%, trong đó doanh nghiệp nhà nước thiếu đến 44,98%, khu vực ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài thiếu trên 21% Công nhân kỹ thuật thiếu trên 25%, trong đó doanh nghiệp nhà nước thiếu trên 42,56%, khu vực ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài thiếu trên 25%… trong đó lao động phổ thông không có tay nghề ở các doanh nghiệp nhà nước thừa đến 1,67%

nơi khác vào thành phố chiếm đến 55% và lao động có nguồn gốc tại chỗ TP.HCM chỉ chiếm có khoảng 45% Cụ thể như sau :

Biểu 7 : Phân loại nguồn gốc lao động

Khu vực quốc doanh

Ngoài quốc doanh Khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài

lao động có trình độ chuyên môn, mà chủ yếu là lao động có trình độ chuyên môn cao Cụ thể khó khăn nhất là ở khối các doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 58,04%

giữa đào tạo và nhu cầu lao động của doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp đều phải đào tạo lại cho người lao động mà tập trung chủ yếu các doanh nghiệp nhà nước Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu chỉ đào tạo lại cho cán bộ nghiệp vụ và công nhân trực tiếp sản xuất là chiếm tỷ trọng cao

Trang 26

9 Tình hình chung các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển mới lao động tập trung cao nhất ở nhu cầu về công nhân trực tiếp sản xuất có trình độ chuyên môn kỹ thuật ( trên 70 % ), riêng khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có nhu cầu về cán bộ nghiệp vụ ở mức độ khá cao ( khoảng 17,67% )

Nguyên nhân của những tình trạng trên là do :

làm, tác động đến cầu lao động ngày càng tăng

nhanh trong các năm vừa qua thu hút nhiều lao động làm việc

số doanh nghiệp đã bổ sung thêm vốn đầu tư mở rộng sản xuất, thu hút thêm nhiều lao động

tạo nhưng khả năng của các địa phương chưa đáp ứng kịp

lại và tiêu dùng cá nhân đã không hấp dẫn đối với người lao động

Như vậy, theo tôi tình trạng khan hiếm lao động của các doanh nghiệp ở TP.HCM không hẳn là do mất cân đối giữa cung và cầu lao động trong toàn bộ nền kinh tế mà chủ yếu là do sự mất cân đối cục bộ về ngành nghề đào tạo, về nội dung và chất lượng đào tạo, về sự thích ứng của người lao động trên thị trường lao động…

2.5 Kết quả các chương trình hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp

2.5.1 Kết quả giải quyết việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp

Với việc thực hiện quản lý lao động và giải quyết việc làm cho người lao động thành phố, cân đối cung cầu lao động bằng những chương trình việc làm gắn với chương trình phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, trong thời gian qua kết quả

Trang 27

những kết quả cụ thể như sau :

Biểu 8 : Kết quả giải quyết việc làm trong độ tuổi lao động giai đoạn 2001 - 2005

Đơn vị : Người

Năm

2001

Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005

Số người được giới thiệu việc

làm

198.329 208.134 212.964 222.437 230.586

1 Việc làm ổn định

a Khu vực nhà nước

b Khu vực ngoài nhà nước

và khu vực đầu tư nước

ngoài

174.566 9.321 165.254

183.158 5.865 177.293

187.646 6.274 181.372

195.745 5.865 189.880

204.270 5.483

198.787

2 Việc làm tạm thời 23.763 24.976 25.318 26.692 28.141

3.Cơ cấu lao động

Khu vực công nghiệp và xây

74.251 12.134 121.749

82.204 12.800 117.960

93.833 5.481 123.123

106.303 2.329

121.954

4 Số chỗ làm việc mới - - 73.603 82.810 93.169

Nguồn : Sở LĐ – TBXH TP.HCM

Theo số liệu trên chúng ta nhận thấy :

Thành phố đã tập trung nhiều nỗ lực giải quyết việc làm cho nhân dân : số lượng người được giải quyết việc làm tăng liên tục qua các năm Do sự thực hiện có hiệu quả các biện pháp quản lý nguồn lao động phù hợp định hướng phát triển kinh tế xã hội cùng với các chương trình việc làm Đây là một thành tích đáng khích lệ

2.5.2 Tăng cường hoạt động tư vấn, dạy nghề gắn với giới thiệu việc làm và cung ứng lao động

2.5.2.1 Về hoạt động giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho các doanh

nghiệp

z Hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm :

Số lượng các đơn vị hoạt động

Trung tâm, chi nhánh

Trang 28

Trên địa bàn thành phố có 7 trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập theo Nghị định 72/CP ngày 31/10/1995 của Chính phủ và 41 chi nhánh trực thuộc Trung tâm

Hiện nay phát sinh các trường hợp như văn phòng hoạt động giới thiệu làm của một số trường Đại học, Cao đẳng, các trường dạy nghề cũng hoạt động giới thiệu việc làm cho sinh viên, học sinh của trường nhưng không được cấp giấy phép hoạt động

Các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có chức năng giới thiệu việc làm :

Theo thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố, hiện có 2.494 doanh nghiệp hoạt động theo luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp Nhà nước đăng ký chức năng dịch vụ việc làm, giới thiệu việc làm Qua khảo sát trên địa bàn quận huyện (tính đến ngày 15/12/2005) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 373 doanh nghiệp, chi nhánh đang hoạt động giới thiệu việc làm, 53 doanh nghiệp chuyển đi không để lại địa chỉ và 2.068 doanh nghiệp không tổ chức hoạt động giới thiệu việc làm

Kết quả hoạt động:

Hoạt động giới thiệu việc làm :

Trong giai đoạn 2001-2005, bình quân mỗi năm các đơn vị dịch vụ việc làm nhà nước đã tư vấn, giới thiệu việc làm cho 190.726 người lao động tìm việc làm, trong đó có 125.829 lao động có việc làm chiếm tỷ lệ 65,97% Đạt kết quả này là do các đơn vị dịch vụ việc làm nhà nước đã thực hiện được quan hệ về cung ứng lao động với các tổ chức, doanh nghiệp, tổ chức thường xuyên các hội nghị khách hàng và chú trọng tăng cường hiệu quả công tác tư vấn, giới thiệu việc làm Đặc biệt các trung tâm và một số chi nhánh thường xuyên tham gia Hội chợ việc làm, các ngày hội việc làm nhằm mở rộng quan hệ và tăng cường hoạt động giới thiệu việc làm

Trang 29

2.5.2.2 Về hoạt động dạy nghề và đào tạo công nhân kỹ thuật - TP.HCM :

Khảo sát việc làm và nguồn nhân lực tại thành phố cho thấy mức độ đào tạo nghề và điều kiện làm việc như sau :

Biểu 9 : Đào tạo nghề và điều kiện làm việc

Lao động không có nghề chuyên môn

Đã đào tạo nghề chuyên môn kỹ thuật

Cao đẳng, đại học và trên đại học

Thất nghiệp 8,1 4,0 7,0

Lao động gia đình 8,0 2,5 0,5

Làm công ăn lương 44,2 66,5 82,0

Tự tạo việc làm 34,4 24,2 8,1

Chủ gia đình và hộ

Thực tế phát triển kinh tế xã hội TP.HCM đặt ra nhu cầu ngày càng cao về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp Trước nhu cầu học nghề ngày càng tăng, hệ thống dạy nghề của thành phố đã phát triển mạnh và đa dạng, bao gồm các cơ sở dạy nghề công lập và ngoài công lập

Trang 30

Nhiều trường ĐH, CĐ, THCN cũng tham gia vào công tác dạy nghề Số cơ sở dạy nghề ngoài công lập phát triển nhanh và đa dạng Nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cơ sở dạy nghề ở nhiều quy mô và trình độ đào tạo; khuynh hướng xã hội hoá hoạt động dạy nghề ngày càng mạnh, kể cả đầu

tư nước ngoài Chỉ tính riêng giai đoạn 2001 – 2004 đã phát triểm thêm gần 100 cơ sở dạy nghề ( tăng 40% so với năm 2000 ) Đến tháng 4 năm 2005, thành phố có 271 cơ sở dạy nghề chính thức đăng ký hoạt động, phân bố khắp 24 quận huyện, bao gồm :

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống các cơ sở dạy nghề, lượng tuyển sinh tăng nhanh cụ thể qua từng năm, cụ thể :

Số tuyển mới dài hạn ( CNKT) : năm 2001 là 18.774 HS; các năm 2002 – 2004 tăng dần lên 23.203; 25.863 và 27.000; năm 2005 vào khoảng 29.000 HS

Số tuyển mới hệ ngắn hạn : năm 2001 là 177.162 lượt người; các năm 2002 – 2004 là : 198.162; 211.295 và 270.000; năm 2005 vào khoảng 290.000 lượt người

Với kết quả trên, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của thành phố cũng tăng dần : 2001 đạt 27,35%; 2002 : 32%; 2003 : ; 2004 : 38%; 2005 khoảng 40%

Bên cạnh việc đào tạo theo chương trình của các trường, việc đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ, bồi dưỡng chuyên đề, lớp học buổi tối cho công nhân, cán bộ, lớp bồi dưỡng nâng bậc thợ,… được tổ chức rộng rãi hơn đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú của người lao động cũng như của các doanh nghiệp Các hình thức đào tạo chủ yếu hiện nay là : đào tạo tập trung theo kế hoạch tại trường theo chương trình chính quy và các chương trình ngắn hạn phục vụ yêu cầu đa dạng

Ngày đăng: 16/04/2013, 21:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

9  Hình thức xí nghiệp liên doanh là các công ty, xí nghiệp liên doanh giữa vốn  nhà nước với vốn tư nhân ( trước đây còn là xí nghiệp hợp doanh ) theo NĐ  28/HĐBT, xí nghiệp liên doanh vốn của tư nhân trong nước, công ty tư bản tư  nhân nước ngoài đầu tư - Một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn TP. HCM
9 Hình thức xí nghiệp liên doanh là các công ty, xí nghiệp liên doanh giữa vốn nhà nước với vốn tư nhân ( trước đây còn là xí nghiệp hợp doanh ) theo NĐ 28/HĐBT, xí nghiệp liên doanh vốn của tư nhân trong nước, công ty tư bản tư nhân nước ngoài đầu tư (Trang 21)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w