1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai nhân tạo.pdf

7 1,9K 33
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật Nuôi Cấy Ngọc Trai Nhân Tạo
Trường học Trường Đại Học Thủy Sản
Chuyên ngành Kỹ Thuật Nuôi Cấy Ngọc Trai
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 348,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai nhân tạo.

Trang 1

KỸ THUẬT NUÔI CẤY NGỌC TRAI NHÂN TẠO

Ngọc Trai là vật trang sức được ưu chuộng từ lâu Thời xa xưa con người đã biết thu hoạch ngọc

Trai ở biển và cho tới nay dù trãi qua nhiều thế kỷ Trai ngọc vẫn là nguồn lợi vô cùng to lớn Do việc

khai thác đơn thuần dựa vào tự nhiên đã không thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng mà có nơi còn làm cho

nguồn lợi ngày càng cạn kiệt, nên việc nuôi cấy ngọc Trai nhân tạo đã được áp dụng ở nhiều quốc

gia trên thế giới Mặc dù ở nước ta có nhiều loài Trai có khả năng tạo ngọc như: Trai cánh

(Sinohyriopsis), Trai không răng (Anodonta), Trai ngọc (Pinctada) nhưng sản lượng ngọc trai còn

quá thấp Để tăng sản lượng chúng ta không thể dựa vào khai thác mà phải chủ động nuôi Trai để

sản xuất ngọc nhân tạo

Lịch sử nuôi Trai lấy ngọc đã có từ lâu đời và phát triển qua ba giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: trước 1853 là giai đoạn khai thác ngọc tự nhiên Giai đoạn này người ta bắt Trai

tự nhiên về thả nuôi ở một nơi nhất định sau 3-4 năm thì khai thác lấy ngọc Con người chỉ có vai trò giữ giống còn quá trình hình thành ngọc là tự nhiên, cong người hoàn toàn không có tác động gì đến quá trình tạo ngọc của Trai

Giai đoạn 2: từ 1853-1925 là giai đoạn sản xuất ngọc bán cầu Giai đoạn này người ta cấy một

dị vật vào giữa vỏ và màng áo Trai và nuôi trong các lồng Sau một thời gian Trai sẽ tiết ra xà

cừ bao lầy dị vật tạo nên ngọc hình bán cầu Phương pháp này do Kokichi Mikimoto đề xuất

Giai đoạn 3: Từ 1925 đến nay là giai đoạn sản xuất ngọc tròn nhờ cải tiến kỹ thuật của Tokisi Nisicavo

Ngọc tự nhiên và ngọc nhân tạo chỉ khác nhau tác nhân tạo ra ngọc mà không khác nhau về chất

lượng nên giá trị sử dụng là như nhau

1 Thuyết nội nhân.

Theo thuyết này, nguyên nhân tạo ngọc là do yếu tố bên trong gây ra Khi màng áo bị mắc bệnh,

một phần tế bào biểu bì của màng áo bị bong ra và chìm dần vào mô liên kết Các tế bào này tiết ra

ngọc tạo thành túi ngọc

2 Thuyết ngoại nhân.

Thuyết ngoại nhân cho rằng nguyên nhân tạo túi ngọc là do bên ngoài gây ra một cách ngẫu nhiên

Khi có một dị vật (cát, ký sinh trùng) từ bên ngoài xâm nhập vào khoảng giữa màng áo và vỏ rồi

chìm dần vào mô liên kết cùng một phần tế bào biểu bì của màng áo Các tế bào này tiết ra ngọc

bao lấy dị vật tạo thành túi ngọc Thuyết này là cơ sở khoa học cho việc cấy ngọc nhân tạo

Trang 2

Hình 1: Quá trình tạo ngọc tự nhiên Hình 2: Cơ sở khoa học của cấy ngọc nhân tạo

3 Thuyết mô phân tiết ngọc.

Khi mô phân tiết ngọc bị một kích thích ngoại lai sẽ tạo ra sinh sản dị trạng tạo thành túi ngọc Như

vậy sự hình thành túi ngọc chỉ là việc kích thích các tế bào tiết ngọc (kích thích vật lý hay hóa học)

tạo ra sinh sản dị trạng mà không cần dị vật

4 Cơ chế hình thành tầng xà cừ (ngọc trai)

Các tế bào biểu bì mặt ngoài màng áo (thượng bì) có chức năng vận chuyển protein, đường đa

(polysaccaride), các ion kim loại và gốc muối đến xoang giữa màng áo Tại đây sẽ xảy ra các phản

ứng:

Ca2+ + CO32- = CaCO3

Ion kim loại + gốc muối = Muối kim loại

CaCO3 và muối kim loại kết hợp với nhau tạo thành phiến đá vôi sắp xếp có trật tự Polysaccaride và

protein kết hợp lại tạo thành chất kết nối các phiến đá vôi lại với nhau Chính sự sắp xếp xen kẻ

giữa hai thành phần hữu cơ (protein và polysaccarid) và vô cơ (phiến đá vôi) tạo nên màu sắc óng

ánh cho ngọc trai

Hình 3: Cơ chế hình thành tầng xà cừ

5 Các loại ngọc

Trang 3

Dựa vào vị trí hình thành và hình dạng của ngọc người ta chia ngọc thành các loại như sau:

5.1 Ngọc tròn: Loại này thường có dạng tròn được hình thành bên trong các mô của cơ thể Trai và

ngọc không cố định vào vỏ Dựa vào vị trí và sắc thái có thể chia làm 4 loại:

Ngọc túi: hình thành ở mép màng áo, kích thước to, chất lượng tốt nhất

Ngọc tai: hình thành ở tai vỏ phía dưới bản lề nên còn gọi là ngọc nề Loại này có thể hình thành 2-3 viên cùng một nơi, chất lượng không tốt lắm

Ngọc thịt: hình thành trong các sợi cơ, có thể có hàng chục đến hàng trăm viên cùng một chổ, kích thước nhỏ, chất lượng không tốt nên chỉ dùng làm thuốc

Ngọc bụng: hình thành gần nội tạng, chất lượng không tốt

5.2. Ngọc bán cầu: Loại ngọc này dính vào mặt trong của vỏ nên còn gọi là ngọc dính, hình dạng

bán cầu, chất lượng tương đối tốt

II ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC TRAI NGỌC

Việt Nam Trai phân bố ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Thuận, Khánh Hòa, Quảng

Nam-Đà Nẵng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc Trai sống ở vùng dưới triều độ sâu khoảng

15-20m nơi có nồng độ muối khoảng 25-30%o, chất đáy là cát, sỏi pha vỏ động vật thân mềm vá ít

sóng gió Mùa vụ sinh sản từ tháng 4-10 Thức ăn chủ yếu của Trai là thực vật phù du Trai có tầng

xà cừ ở giữa vỏ dày, nhẵn bóng, mép màu vàng nhạt Là loài dùng để sản xuất ngọc nhân tạo

Tây Bắc Úc, Indonesia, Philippines, Vịnh Thái Lan, Ấn Độ, Đài Loan Ở nước ta Trai môi vàng có ở

đảo Bạch Long vĩ, Phú Quí, Phú Quốc Chúng sống ở độ sâu 25-35m, nơi có đáy sỏi, cát Mặc

ngoài vỏ của Trai có màu nâu, mặt trong có màu ánh bạc, xung quanh mép vỏ có màu ánh vàng

Chúng là đối tượng để sản xuất ra loại ngọc quí Hiện nay có một số cơ sở nuôi cấy ngọc ở Vũng

Rô (Phú Yên)

đăng, Tahiti Ở nước ta có ở Thanh Hóa, Sông Cầu (Phú Yên, Phan Thiết (Bình Thuận), Nha Trang

và Cam Ranh (Khánh Hòa) Trai sống ở độ sâu khoảng 50-60m, nơi có nồng độ muối 30%o

Khi tuyến sinh dục của Trai thành thục chúng phóngsản phẩm sinh dục (trứng và tinh trùng) vào

môi trường nước Trứng thụ tinh sẽ phát triển qua các giai đoạn ấu trùng phù du (tương tự như ở

Hầu) Khoảng 25 ngày sau ấu trùng biến thái chuyển sang giai đoạn sống bám Ấu trùng bám

thường tiết ra 3-4 rễ tô chân để bám vào giá thể Trai 1 tuổi bắt đầu sinh sản, thời gian sinh sản từ

tháng 4-10

Thức ăn của Trai chủ yếu là tảo ngoài ra Trai còn ăn các chất lơ lững trong nước như xác bã hữu

cơ có kích thước nhỏ Trai bắt mồi theo theo phương thức thụ động nhưng có chọn lọc theo kích

Quá trình chọn lọc thức ăn cũng tương tự như cách chọn lọc thức ăn của Hầu (xem chương 2)

Tuổi thọ của Trai khoảng 12 năm

Trang 4

III KỸ THUẬT CẤY NGỌC.

Trước khi tiến hành cấy cần chuẩn bị trai mẹ bằng cách nuôi Trai trong các lồng bằng tre hay lưới

Việc cấy nhân chỉ được thực hiện khi Trai đạt tiêu chuẩn về kích thước, thời gian và tình trạng của

tuyến sinh dục Nếu khi cấy nhân mà tuyến sinh dục của trai đang ở giai đoạn thành thục thì Trai dể

bị chết hay bị rơi nhân hoặc ngọc được tạo thành không đạt chất lượng Vì vậy cần chọn Trai mẹ có

tuyến sinh dục không thành thục để cấy nhân

1 Chuẩn bị Trai mẹ.

Có hai cách chuẩn bị Trai mẹ:

Cách thứ nhất: ức chế tuyến sinh dục, thường được tiến hành vào đầu mùa sinh sản Thời gian này nhiệt độ bắt đầu tăng sau mùa Đông lạnh nhưng tầng nước sâu nhiệt độ vẫn còn thấp Nuôi Trai ở tầng nước sâu, với điều kiện nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự phát triển của tuyến sinh dục

Cách thứ hai: kích thích tuyến sinh dục phát triển nhanh, thường được áp dụng vào mùa Trai

đẻ rộ Kích thích sự phát triển của tuyến sinh dục bằng cách nuôi trai ở tầng nước mặt có nhiệt độ cao (28-32oC) Sau một thời gian ngắn Trai sẽ thành thục và sinh sản Sau khi Trai đã sinh sản thì chúng ta có thể tiến hành cấy nhân Tuy nhiên sau khi sinh sản Trai thường yếu

đi nên hiệu quả của việc cấy nhân sẽ không cao

2 Chọn lọc Trai mẹ.

Chọn Trai mẹ có kích thước phù hợp cho vào bể, đặt bụng Trai ngửa lên trên và duy trì nhiệt độ

nước khoảng 28-30oC Khoảng 1 giờ sau Trai sẽ mở vỏ, dùng kẹp mở miệng vỏ Trai (khoảng

1-1,5cm) để kiểm tra tuyến sinh dục Nếu đạt yêu cầu thì chèn miệng vỏ và đưa về phòng thí nghiệm

để tiến hành cấy nhân

3 Cắt màng áo.

Trai dùng để cấy ngọc gồm hai loại, Trai kỹ thuật và Trai nguyên liệu Trai kỹ thuật là Trai dùng để

cấy nhân vào còn Trai nguyên liệu là Trai dùng để lấy mảnh màng áo Tỉ lệ của hai loại này là

2:1-5:1 Trai nguyên liệu là loại khoảng 1-2 tuổi, Trai càng to càng tốt nhưng không nên vượt quá

5-6 tuổi Việc chọn Trai nguyên liệu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian tạo ngọc và chất lượng sản

phẩm sau này

Lớp xà cừ của vỏ trai do toàn bộ biểu bì mặt ngoài màng áo (mặt tiếp xúc với vỏ) tiết ra, nhưng chất

lượng tùy theo vị trí của màng áo mà quá trình hình xà cừ nhanh hay chậm và chất lượng của lớp

xà cừ cũng khác nhau Theo kết quả thí nghiệm bằng đồng vị phóng xạ Ca45 thì mép màng áo là

nơi hấp thu nhiều Ca45 nhất (trao đổi chất mạnh nhất) Vì vậy, hiện nay trong kỹ thuật cấy ngọc đều

dùng lớp tế bào ở mép màng áo để cấy Tuy nhiên, trên mép màng áo ở từng vị trí khác nhau cũng

cho chất lượng xà cừ khác nhau Một thí nghiệm khác cũng cho thấy mép màng áo ở phần bụng có

khả năng phục hồi nhanh nhất và cho chất lượng ngọc tốt nhất

Dùng dao mổ luồn vào cát đứt cơ khép vỏ, chú ý không nên để dao đụng vào màng áo nếu không

Trang 5

màng áo sẽ co lại Lật vỏ ra cắt lấy phần bụng của màng áo, tẩy sạch chất nhầy rồi đặt lên giá tế

bào Khi đặt màng áo lên giá tế bào, lật mặt tiếp xúc với vỏ quay lên trên sẽ thấy có một đường

vàng nâu cách mép màng áo khoảng 3-4mm chạy song song với mép vỏ Dùng kéo cắt theo đường

đó và loại bỏ phần mép rồi cắt màng áo thành từng miếng khoảng 2-3mm2 Khi cắt màng áo cần

chú ý đến những điểm sau:

Phần mép ngoài màng áo là các tế bào tiết ra chất sừng chứ không tiết ra ngọc cho nên cần loại bỏ phần này

Khi cắt màng áo xong thì phải tiến hành cấy ngay

Trai dùng để lấy màng áo phải khỏe, không bị tổ thương hay dị tật

Dụng cụ phải sạch sẽ

Thao tác nhanh và chính xác

4 Cấy màng áo.

Khi cấy đặt Trai lên giá cấy, bụng ngửa lên trên Dùng móc móc lấy phần giữa chân kéo về phía sau

cho chân giãn rộng ra Cắt lấy một lỗ nhỏ ở giữa gốc chân, kích thước của vết cắt phải tương ứng

với đường kính nhân cấy (lỗ mở hơi nhỏ hơn nhân cấy) rồi dùng kim thọc qua lỗ mở đó thông đến

vị trí đặt nhân tạo thành một đường ống Có ba vị trí cấy là nội tạng, trước xoang bao tim, và gốc

xúc biện Sau khi đã thông đường thì dùng kim đưa màng áo ghim lên mép của miếng màng áo đã

cắt sẵn và đưa thẳng vào cuối đường ống Khi cấy chú ý mặt ngoài của mảnh màng áo phải quay về

phía nhân cấy

5 Cấy nhân.

Nhân thường dùng là vỏ trai nước ngọt hoặc thủy tinh đã được mài tròn, nhẵn bóng, đường kính

của hạt từ 2-9mm (tùy theo kích thước của Trai kỹ thuật) Sau khi cấy màng áo xong thì tiến hành

cấy nhân Đặt nhân cấy vào đầu lõm của kim đưa nhân và đưa nhân vào tiếp xúc với miếng màng

áo vừa mới cấy Thao tác đưa nhân cũng giống như khi cấy màng áo

Mỗi Trai kỹ thuật ta có thể cấy 5 nhân, một ở nội tạng, hai ở gốc xúc biện, hai ở trước xoang bao

tim Khi cấy ở trước xoang bao tim và gốc xúc biện thì thao tác cấy ở vị trí bên phải và bên trái là

như nhau Khi cấy màng áo và nhân ở nội tạng cố gắng tránh làm tổn thương đến cơ co rút chân

và ống tiêu hóa, cấy ở vị trí trước xoang bao tim thì tránh việc cấy quá sâu dễ làm chết Trai

Trang 6

Hình 4: dụng cụ cấy ngọc trai Hình 5: Thao tác cấy ngọc trên cơ thểTrai.

6 Nuôi thành ngọc.

nuôi vổ phải yên tĩnh và điều kiện môi trường ít dao động Sau một tuần nuôi vỗ vết thương sẽ lành

và lớp biểu bì mặt ngoài màng áo sẽ phát triển bao lấy nhân cấy Biểu bì mặt trong sẽ bị mô liên kết

hấp thụ trong 2 ngày

ngọc Bãi nuôi thành ngọc có nồng độ muối 25-30%o, nhiệt độ từ 20-30oC Nuôi Trai bằng lồng tre

hay lưới, thời gian nuôi thường từ 1-4 năm tùy theo yêu cần ngọc to hay nhỏ

Hình 6: Các dạng lồng nuôi Trai ngọc

7 Chăm sóc quản lý.

Trong quá trình nuôi Trai công việc chăm sóc chủ yếu là giữ cho lồng Trai sạch và tránh những bất

lợi cho Trai Lồng Trai thường bị các sinh vật sống bám làm ảnh hưởng đến sinh trưởng Nên định

kỳ tẩy rửa khi thấy trên vỏ Trai có nhiều sinh vật bám, nhất là sinh vật bám trên bản lề của Trai nếu

không Trai sẽ không mở vỏ được Trong điều kiện môi trường bất lợi phải di dời đi nơi khác Trai

cũng có nhiều địch hại như Hải miên, Cua, Sao biển cần có biện pháp phòng trừ

8 Nuôi gây màu.

Ngọc trai được ưa chuộng có màu trắng hồng Loại ngọc này có thể được tạo thành ở những vùng

biển nhất định mà nơi khác không tạo ra được Vùng biển như vậy được người ta dùng để nuôi gây

màu Điều kiện môi trường cụ thể để tạo màu cho ngọc trai thì chưa được xác định rõ, nhưng theo

kinh nghiệm thì khu vực này có thức ăn dồi dào, các điều kiện môi trường như nhiệt độ, nồng độ

muối, khí hậu biến đổi theo mùa rõ rệt Vì vật trước khi thu hoạch ngọc người ta chuyển Trai đến

vùng biển gây màu để nuôi, sau vài tháng nuôi gây màu thì có thể tiến hành thu hoạch

9 Thu hoạch.

Trang 7

Ngọc trai được thu hoạch vào mùa nhiệt độ thấp thì chất lượng ngọc tốt hơn thu ở mùa có nhiệt độ

cao Thời kỳ thu hoạch rộ thường vào tháng 8-10 hàng năm

Tách vỏ Trai, thu lấy ngọc sau đó rửa sạnh và tiến hành phân loại Trai không đạt tiêu chuẩn như

hạt không tròn, có nhiều vết bẩn sẽ được xử lý tiếp Có thể tẩy bẩn cho ngọc bằng dung dịch H2O2

2% từ 10-15 phút, sau đó rửa lại bắng xà phòng và ngâm vào cồn 40o trong 6 giờ Có thể dùng

sóng siêu âm để tẩy vết bẩn Ngọc không tròn có thể được mài tròn và đánh bóng Nếu màu sắc

không đẹp có thể dùng phẩm nhuộm để nhuộm màu

Ngày đăng: 25/09/2012, 09:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1:  Quá trình tạo ngọc tự nhiên Hình 2: Cơ sở khoa học của cấy ngọc nhân tạo - Tài liệu Kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai nhân tạo.pdf
Hình 1 Quá trình tạo ngọc tự nhiên Hình 2: Cơ sở khoa học của cấy ngọc nhân tạo (Trang 2)
Hình 3: Cơ chế hình thành tầng xà cừ - Tài liệu Kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai nhân tạo.pdf
Hình 3 Cơ chế hình thành tầng xà cừ (Trang 2)
Hình 4: dụng cụ cấy ngọc trai Hình 5: Thao tác cấy ngọc trên cơ thể - Tài liệu Kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai nhân tạo.pdf
Hình 4 dụng cụ cấy ngọc trai Hình 5: Thao tác cấy ngọc trên cơ thể (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w